top of page

Viết Cho Đến Khi Gục Ngã

Một nhà văn khi tìm kiếm đề tài không hỏi xem mình yêu điều gì nhất, mà hỏi xem điều gì chỉ có riêng mình yêu mà thôi.


Tác giả: Annie Dillard | The New York Times (28/05/1989)



Con người ta hầu như đều thích những thứ giống nhau. Nhưng một người cầm bút khi đi tìm đề tài lại không đi tìm thứ mình thích nhất, mà là thứ chỉ riêng mình mới có thể yêu. Chúng ta thường bị chiếm hữu bởi những nỗi ám ảnh kỳ lạ. Frank Conroy mê mẩn những trò biểu diễn yo-yo; Emily Dickinson say đắm một vệt sáng xiên; Richard Selzer lại yêu cái bóng bẩy của màng bụng; còn Faulkner thì nhớ mãi cái đáy quần lấm lem bùn đất của cô bé lộ ra khi đang trèo cây lê. Tôi từng đọc được ở đâu đó một câu thế này: "Mỗi người nghiên cứu dương xỉ đều có riêng cho mình một danh mục các loài cây, mà vì lý do này hay lý do khác, luôn làm dấy lên trong họ những rung động khôn nguôi."


Tại sao bạn chẳng bao giờ thấy ai viết về những suy nghĩ lập dị mà bạn hằng ấp ủ, hay về sự mê đắm của bạn đối với một điều mà chẳng ai khác hiểu nổi? Bởi vì đó là việc của bạn. Có một điều gì đó khiến bạn thấy thú vị, vì một lý do thật khó gọi tên. Nó khó giải thích là bởi bạn chưa từng thấy nó xuất hiện trên bất kỳ trang sách nào; và đó chính là nơi bạn bắt đầu. Bạn được tạo ra và đặt vào cuộc đời này là để cất tiếng cho nỗi kinh ngạc của riêng mình.


Hãy viết như thể bạn đang cận kề cái chết. Đồng thời, hãy coi như bạn đang viết cho một độc giả mà tất cả đều là những bệnh nhân nan y. Mà suy cho cùng, sự thật đúng là như vậy. Bạn sẽ bắt đầu viết gì nếu biết mình sắp sửa lìa đời? Bạn có thể nói điều gì với một người đang hấp hối mà không làm họ phẫn nộ vì sự tầm thường của nó?


Hãy viết về mùa đông khi đang giữa mùa hè. Hãy miêu tả Na Uy từ một chiếc bàn làm việc ở Ý như Ibsen đã làm; hãy tả Dublin từ một góc bàn ở Paris như James Joyce. Willa Cather viết những cuốn tiểu thuyết về vùng thảo nguyên ngay giữa lòng New York; Mark Twain viết “Huckleberry Finn” tại Hartford. Gần đây, các học giả mới phát hiện ra rằng Walt Whitman hiếm khi bước chân ra khỏi căn phòng của mình.


Người viết nghiên cứu văn chương, chứ không nghiên cứu thế giới. Cô ấy sống trong thế giới này; cô ấy không thể bỏ lỡ nó. Nếu cô ấy từng mua một chiếc hamburger hay đi một chuyến bay thương mại, cô ấy sẽ không làm phiền độc giả bằng một bài tường thuật về trải nghiệm đó. Cô ấy cẩn trọng với những gì mình đọc, vì đó chính là thứ cô ấy sẽ viết ra. Cô ấy cẩn trọng với những gì mình học, vì đó chính là thứ cô ấy sẽ hiểu biết.


Một người viết hiểu rõ lĩnh vực của mình — những gì đã được làm, những gì có thể làm, và những giới hạn — giống như cách một tay vợt tennis thuộc lòng từng góc sân. Và như một chuyên gia, cô ấy cũng chơi ở những đường biên. Đó là nơi cảm xúc thăng hoa nhất. Cô ấy đánh bóng dọc vạch biên. Trong văn chương, người viết có thể thách thức các giới hạn. Vượt quá ranh giới này, người đọc sẽ rụt rè tháo lui. Lý trí khựng lại, thơ ca đứt đoạn; sự điên rồ hoặc sự gượng ép chen vào. Giờ đây, một cách thận trọng, liệu cô ấy có thể mở rộng ranh giới đó, liệu cô ấy có thể nhích nhẹ lề đường? Và thu vào trong đó một nguồn năng lượng hoang dại nào?


Một nhà văn nổi tiếng từng bị một sinh viên đại học tiếp cận và hỏi: "Thưa thầy, thầy có nghĩ em có thể trở thành nhà văn không?"


Nhà văn trả lời: "À, ta không biết nữa... Em có thích các câu văn không?"


Nhà văn có thể nhìn thấy sự ngỡ ngàng của người sinh viên. Câu văn ư? Mình có thích các câu văn không? Mình đã 20 tuổi rồi và liệu mình có thích các câu văn không? Tất nhiên, nếu cậu ta thích các câu văn, cậu ta đã có thể bắt đầu, giống như một họa sĩ tràn đầy niềm vui mà tôi từng biết. Tôi hỏi anh ấy làm sao lại trở thành họa sĩ. Anh ấy bảo: "Vì tôi thích mùi của sơn."


Hemingway đã nghiên cứu các tiểu thuyết của Knut Hamsun và Ivan Turgenev để làm phác thảo cho mình. Trùng hợp thay, Isaac Bashevis Singer cũng chọn Hamsun và Turgenev làm chuẩn mực. Ralph Ellison học hỏi từ Hemingway và Gertrude Stein. Thoreau yêu Homer; Eudora Welty mê Chekhov. Faulkner thừa nhận món nợ ân tình với Sherwood Anderson và Joyce; E. M. Forster thì mang nợ Jane Austen và Proust. Ngược lại, nếu bạn hỏi một nhà thơ 21 tuổi rằng cậu ta thích thơ của ai, cậu ta có thể đỏ mặt mà nói: "Chẳng ai cả." Cậu ta vẫn chưa hiểu rằng nhà thơ thì phải yêu thơ, và tiểu thuyết gia thì phải mê tiểu thuyết; bản thân cậu ta chỉ thích cái danh xưng, thích cái hình ảnh mình đội chiếc mũ nhà văn mà thôi.


Rembrandt và Shakespeare, Bohr và Gauguin, họ sở hữu những trái tim mãnh liệt chứ không phải những ý chí sắt đá. Họ yêu chất liệu mà họ sử dụng. Những tiềm năng của công việc kích thích họ; sự phức tạp của lĩnh vực khơi dậy trí tưởng tượng của họ. Chính sự tận tụy đã gợi mở những nhiệm vụ; và những nhiệm vụ lại định hình nên lịch trình. Họ thấu hiểu lĩnh vực của mình rồi mới yêu nó. Họ làm việc một cách kính cẩn bằng tình yêu và tri thức, từ đó tạo nên những tác phẩm đồ sộ, trường tồn với thời gian. Chỉ đến lúc đó, và chỉ khi đó, người đời mới quấy rầy họ bằng một chiếc "mũ danh vọng" tồi tệ nào đó, thứ mà nếu còn sống, họ sẽ gạt phăng đi để tiếp tục công việc của mình.


Viết một cuốn sách lớn — một cuốn tiểu thuyết hay một tác phẩm phi hư cấu — hợp lý hơn nhiều so với việc viết nhiều truyện ngắn hay tiểu thuyết ngắn. Vào một dự án dài hơi và đầy tham vọng, bạn có thể dồn hết hoặc đổ vào đó tất cả những gì mình sở hữu và học được. Một dự án kéo dài 5 năm sẽ tích lũy những phát kiến và sự phong phú của ngần ấy năm trời. Phần lớn những gì bạn đọc trong những năm đó sẽ nuôi dưỡng tác phẩm. Hơn nữa, viết nên những câu văn là điều vô cùng gian nan, bất kể đề tài là gì. Viết một câu văn trong công thức nấu ăn cũng chẳng dễ dàng hơn một câu văn trong “Moby-Dick”. Vậy thì thà rằng bạn viết “Moby-Dick” luôn cho xong. Tương tự, vì mỗi tác phẩm nguyên bản đòi hỏi một cấu trúc duy nhất, nên việc vật lộn với kết quả của chỉ một phác thảo — một tác phẩm dài — sẽ khôn ngoan hơn là vật lộn với vô vàn hình thức của một tuyển tập.


Mỗi cuốn sách đều chứa đựng một điều bất khả thi cốt lõi, điều mà người viết sẽ nhận ra ngay khi niềm hứng khởi ban đầu lụi tàn. Vấn đề nằm ở cấu trúc; nó nan giải; đó là lý do tại sao không ai có thể viết nổi cuốn sách này. Các truyện ngắn, tiểu thuyết và bài thơ phức tạp cũng gặp phải vấn đề đó — một khuyết tật cấu trúc mang tính ngăn trở mà người viết ước gì mình chưa từng nhận ra. Nhưng họ vẫn viết bất chấp điều đó. Họ tìm cách giảm thiểu khó khăn; họ củng cố các điểm mạnh khác; họ treo toàn bộ mạch truyện ra giữa không trung bằng một cấu trúc dầm chìa và nó vẫn đứng vững.


Chúng ta đọc sách để làm gì, nếu không phải vì hy vọng cái đẹp được phơi bày, cuộc sống được nâng tầm và những bí ẩn sâu thẳm nhất của nó được khai phá? Liệu người viết có thể tách biệt và làm sống dậy tất cả những trải nghiệm lay động tâm can và trí tuệ của chúng ta nhất không? Liệu người viết có thể thắp lại hy vọng của chúng ta vào các hình thức văn học? Chúng ta đọc sách để làm gì, nếu không phải với hy vọng rằng người viết sẽ phóng đại và kịch tính hóa những ngày tháng của chúng ta, sẽ soi sáng và truyền cảm hứng cho chúng ta bằng trí tuệ, lòng can đảm cùng niềm hy vọng về một cuộc sống có ý nghĩa, và khắc sâu vào tâm trí ta những bí ẩn thâm sâu nhất, để ta có thể một lần nữa cảm nhận được sự uy nghiêm và quyền năng của chúng?


Có quyền năng nào cao quý hơn cái quyền năng đôi khi chiếm trọn cuộc sống của ta, và đột nhiên soi tỏ chính ta như những sinh vật ngơ ngác bị ném xuống cõi đời này? Tại sao cái chết lại khiến ta bất ngờ đến thế, và tình yêu cũng vậy? Chúng ta vẫn luôn và mãi mãi cần một sự thức tỉnh. Nếu chúng ta đọc sách vì những điều này, thì tại sao có người lại đi đọc những cuốn sách chứa đầy khẩu hiệu quảng cáo và tên thương hiệu? Tại sao lại có người viết những cuốn sách như thế? Chúng ta thà cởi trần nối đuôi nhau thành hàng dài như những thổ dân, lắc những quả bầu khô vào mặt nhau để thức tỉnh; thay vào đó, chúng ta lại ngồi xem tivi và bỏ lỡ mất buổi diễn cuộc đời.


Trong một tác phẩm nghệ thuật, không có chỗ cho sự chiêu trò, sắp đặt, nhưng mọi phép màu đều có thể xảy ra. Những nghệ sĩ dấn thân vào cõi vĩnh hằng, hoặc những người không bao giờ muốn thêu dệt mà chỉ muốn phơi bày những sự thật trần trụi, đã quen với những phép màu. Sự kiên định của họ phải đổi bằng một giá rất đắt. "Cho tôi một tấm toan lớn," Veronese nói, "tôi sẽ làm nó phong phú theo cách tôi thấy phù hợp."


Cảm giác viết một cuốn sách giống như cảm giác quay cuồng khi bị mù quáng bởi tình yêu và sự liều lĩnh. Đó là cảm giác của một phi công biểu diễn đang lộn vòng trên không trung, hay như một chú sâu đo mù quáng vươn mình từ một chiếc cuống lá để tìm đường. Lúc tồi tệ nhất, nó giống như cuộc vật lộn với cá sấu, ngay ở cấp độ của từng câu chữ.


Lúc thăng hoa nhất, cảm giác viết lách giống như một ân huệ thiêng liêng mà ta không xứng đáng nhận được. Nó được trao tận tay bạn, nhưng chỉ khi bạn chịu tìm kiếm nó. Bạn tìm kiếm, bạn đấm vỡ cả nắm tay, đau cả lưng, nát cả óc, và rồi — chỉ đến lúc đó — nó mới được trao cho bạn. Từ góc mắt, bạn thấy một chuyển động. Có thứ gì đó đang lao đi trong không trung và hướng về phía bạn. Đó là một bưu kiện được thắt dải băng và những chiếc nơ; nó có hai chiếc cánh trắng. Nó bay thẳng về phía bạn; bạn có thể đọc thấy tên mình trên đó. Nếu đó là một quả bóng chày, bạn sẽ vụt nó bay khỏi sân vận động. Đó là một cú ném bóng trong một nghìn cú mà bạn thấy ở chế độ quay chậm; đôi cánh của nó đập chậm rãi như cánh chim ưng.


Một câu thơ, nhà thơ nói — chỉ một câu thôi, nhưng tạ ơn Chúa vì một câu thơ đó — rơi xuống từ trần nhà. Thornton Wilder từng dẫn lời một nhà viết thơ sonnet vô danh: một câu thơ sonnet rơi xuống từ trần nhà, và bạn dùng chiếc búa của thợ kim hoàn để gõ nhẹ các câu khác xung quanh nó. Chẳng có ai thì thầm vào tai bạn cả. Nó giống như một thứ bạn từng học thuộc lòng rồi quên bẵng đi. Giờ đây nó quay trở lại và làm bạn nghẹt thở. Bạn tìm thấy và chạm vào từng cụm từ một; bạn đặt nó xuống như thể dùng kẹp, kìm nén sức lực của mình, và chờ đợi trong sự lơ lửng và dữ dội cho đến khi cụm từ tiếp theo tìm đến bạn: đúng rồi, chính là cái này; và vâng, lạy Chúa, tiếp theo là cái này.


Einstein từng ví việc nảy ra một ý tưởng mới giống như một con gà đẻ trứng: "Kieks — auf einmal ist es da." Chiếp — và bỗng nhiên nó ở đó. Tất nhiên, Einstein cũng không ngần ngại chiều lòng đám đông bằng cách nói như vậy.


Hãy dấn tới. Hãy xem xét mọi thứ một cách mãnh liệt và không ngừng nghỉ. Hãy dò xét và tìm kiếm từng chi tiết trong một tác phẩm nghệ thuật; đừng rời bỏ nó, đừng lướt qua nó như thể đã hiểu rõ, mà thay vào đó hãy đi sâu xuống cho đến khi bạn nhìn thấy nó trong sự huyền diệu của tính đặc thù và sức mạnh của riêng nó. Những bức vẽ và bức họa của Giacometti cho thấy sự hoang mang và lòng kiên trì của ông. Nếu ông không thừa nhận sự hoang mang của mình, ông đã không kiên trì đến thế. Một bậc thầy hội họa, Rico Lebrun, đã phát hiện ra rằng "người họa sĩ phải tấn công; chỉ bằng sự công kích không ngừng nghỉ, hình ảnh sống động mới chịu khuất phục và tiết lộ bí mật của nó cho một nét vẽ kiên cường." Ai ngoài một nghệ sĩ khát khao muốn biết — chứ không phải khát khao tỏ ra mình biết — lại giả định rằng một hình ảnh sống động sở hữu một bí mật? Người nghệ sĩ sẵn sàng cống hiến tất cả sức lực và cuộc đời mình để dò dẫm bằng những công cụ thô sơ vào chính những bí mật mà không ai có thể mô tả bằng cách nào khác ngoài những vệt mờ nhạt mà công cụ đó để lại.


Hãy ngưỡng mộ thế giới vì nó không bao giờ bỏ rơi bạn, giống như cách bạn ngưỡng mộ một đối thủ, mà không rời mắt khỏi họ, hoặc quay lưng bỏ đi.


Một trong số ít điều tôi biết về viết lách là thế này: hãy dốc hết, tung hết, chơi hết, thua hết, tất cả, ngay lập tức, mọi lúc. Đừng tích trữ những gì có vẻ tốt cho một phần sau của cuốn sách, hoặc cho một cuốn sách khác; hãy cho đi, cho đi tất cả, cho đi ngay bây giờ. Ý nghĩ muốn để dành một điều gì đó hay ho cho một chỗ tốt hơn sau này chính là dấu hiệu bảo bạn phải dùng nó ngay bây giờ. Một điều gì đó khác sẽ nảy sinh cho phần sau, một điều gì đó tốt hơn. Những điều này chứa chan từ phía sau, từ phía dưới, như nước giếng khơi. Tương tự, ý nghĩ giữ lại cho riêng mình những gì bạn đã học được không chỉ là điều đáng hổ thẹn, mà còn là sự hủy hoại. Bất cứ điều gì bạn không cho đi một cách tự do và dồi dào sẽ bị mất đi đối với bạn. Bạn mở két sắt của mình ra và chỉ thấy tro tàn.


Sau khi Michelangelo qua đời, người ta tìm thấy trong xưởng vẽ của ông một mảnh giấy mà ông đã viết một dòng lưu ý cho người học việc của mình, bằng nét chữ của tuổi già: "Vẽ đi Antonio, vẽ đi Antonio, vẽ đi và đừng lãng phí thời gian."

Bình luận


bottom of page