Tại sao gia đình lại gây tổn thương
20 CÂU HỎI VỀ “GIA ĐÌNH NGUYÊN SINH”
Lời tòa soạn
Cuốn Tại sao gia đình lại gây tổn thương xuất bản lần đầu tại Trung Quốc vào năm 2007. Mười tám năm trôi qua, cuốn sách vẫn bán chạy bền bỉ, vẫn là lựa chọn hàng đầu của đông đảo độc giả khi muốn hồi quy về gia đình nguyên sinh để nhận thức tự ngã. Nhân dịp tái bản lần này, chúng tôi đã thu thập và chỉnh lý những câu hỏi điển hình của độc giả suốt những năm qua xoay quanh cuốn sách, cũng như các vấn đề liên quan đến gia đình nguyên sinh và mối quan hệ thân mật, để kính mời thầy Vũ Chí Hồng lần lượt giải đáp.
Từ những câu hỏi này, chúng tôi cảm nhận được một sự cấp bách và âu lo muốn “thay đổi”. Thầy Vũ đã mẫn cảm chỉ ra rằng, rất nhiều câu hỏi thực chất chỉ quy về một vấn đề: vừa có vọng niệm muốn thay đổi người khác, lại vừa có sự nóng vội muốn thay đổi chính mình.
Thế nhưng chúng ta cần phải hiểu rằng, thấu hiểu và tiếp nhận còn khó hơn thay đổi rất nhiều. Thấu hiểu và tiếp nhận là tâm lý của người trưởng thành, là tâm lý của sự chín muắn. Chúng ta quá đỗi nóng vội, mong muốn trở thành một người thật ưu tú, thậm chí là một người hoàn hảo, và cũng mong thế giới này sẽ hồi đáp mình một cách hoàn hảo. Nhưng bản thân điều này đã là một ảo tưởng tự luyến toàn năng, mà ảo tưởng này chắc chắn sẽ phải vỡ mộng.
Tiền đề của sự thay đổi là “giác sát” (nhận biết tỉnh thức). Trước tiên, chúng ta phải có sự giác tri đối với các mô thức tâm lý, mô thức hành vi cố hữu vốn được hình thành từ gia đình nguyên sinh, nhưng tuyệt đối không phán xét. Khi sự tự giác sát diễn ra, sự thay đổi cũng sẽ tự nhiên đến vào lúc ta không ngờ nhất.
Mong rằng quý độc giả sẽ coi cuốn sách này như một sự khởi đầu. Còn việc đi về phương nào, quyền quyết định thuộc về chính bạn.
Vấn đề 1: Tôi đưa cuốn sách này cho bố mẹ xem, nhưng phản hồi của bố mẹ là “Mấy cái này toàn là tẩy não”, tôi phải làm sao?
Vũ Chí Hồng: Có lẽ chúng ta có thể nghĩ theo hướng này: đưa cho bố mẹ xem, bố mẹ không tiếp nhận. Vậy thì không tiếp nhận thôi. Phải thừa nhận sự thật này, đúng không? Chúng ta phải tiếp nhận một sự thật rằng bố mẹ không hề muốn thay đổi bản thân họ.
Trong tâm lý học, việc chúng ta đặt kỳ vọng quá mạnh mẽ lên người khác chính là nguyên nhân phổ biến dẫn đến đau khổ, dẫu cho đối phương có là cha mẹ ruột của mình đi chăng nữa. Nếu bố mẹ không muốn đọc cuốn sách này, chúng ta chỉ có thể tôn trọng phần đó của họ. Bản thân chúng ta nhìn rõ chân tướng, tự mình thức tỉnh, như vậy là đủ rồi.
Cuốn sách này thực chất là viết cho chính chúng ta, chúng ta không cần phải dùng nó để mưu cầu sự tán đồng của cha mẹ nhằm giúp bản thân trưởng thành.
Nhưng tôi nghĩ vị độc giả này khi nói ra câu đó, có lẽ là đang hy vọng bố mẹ sau khi đọc sách xong sẽ thừa nhận trong quá khứ từng gây ra một số tổn thương cho mình, thậm chí còn hy vọng bố mẹ sẽ xin lỗi mình.
Song Tại sao gia đình lại gây tổn thương ban đầu không được viết ra vì mục đích đó, mà là để giúp độc giả tự nhận thức và tự thức tỉnh.
Nếu bố mẹ không có bất kỳ sự chuẩn bị tâm lý nào mà bạn trực tiếp đưa sách cho họ đọc, họ thực sự rất khó tiếp nhận. Đặc biệt là những bậc cha mẹ thiên về tự luyến, họ càng không muốn thừa nhận vấn đề của chính mình. Vậy thì làm sao để biểu đạt với bố mẹ? Trong cuốn Những bậc cha mẹ độc hại có đề cập đến một phương pháp mang tính hệ thống, đó là viết cho bố mẹ một bức thư dài, kể lại toàn bộ những tổn thương mà mình từng phải gánh chịu cho bố mẹ lắng nghe.
Vấn đề 2: Nhận thức được những ảnh hưởng mà gia đình nguyên sinh tác động lên mình, tôi rơi vào sự thất vọng và oán trách bố mẹ. Nhưng rồi sao nữa? Tiếp theo tôi phải làm gì?
Vũ Chí Hồng: Tôi cho rằng cuốn sách này là một sự khởi đầu. Nếu trong quá trình đọc, bạn cảm thấy có những phần đặc biệt quan trọng, bạn có thể tiếp tục học hỏi sâu hơn, đọc có định hướng một số chuyên khảo tâm lý học, thậm chí có thể tham gia một vài khóa học tâm lý. Làm các công việc liên quan đến tâm lý học ngần ấy năm, tôi nhận thấy trưởng thành là một quá trình rất dài lâu, nhưng quá trình này hoàn toàn xứng đáng. Cho nên, một khi đã bắt đầu rồi thì hãy cứ tiếp tục bước đi.
Vào dịp Tết năm nay, tôi có cảm nhận đặc biệt sâu sắc về điều này. Dù là trong chính gia đình tôi hay khi tiếp xúc với đủ loại người thân họ hàng, tôi đều nhìn thấy một hiện tượng vô cùng phổ biến: rất nhiều người không học tâm lý học vẫn đang duy trì một sách lược sinh tồn, hay nói cách khác là sách lược tâm lý mà đại đa số mọi người ngoài kia vẫn dùng. Họ cứ dùng một bộ sách lược đó để xử lý các sự việc khác nhau, nhưng điều này thực ra sai lầm nghiêm trọng. Lối hành xử ấy đã mang lại tổn thương rất sâu sắc cho chính họ và những người xung quanh.
Điều đáng tiếc là, dường như họ hoàn toàn không có năng lực tự phản tư. Trong số đó thậm chí có cả những người vô cùng thông minh, chỉ số IQ có thể rất cao, bề ngoài tưởng như thấu suốt nhân tình thế thái, nhưng dường như lại không có chút năng lực tự phản tư nào. Tôi nghĩ đây chính là sự khác biệt rất lớn giữa việc có học và không học tâm lý học.
Sau khi học tâm lý học, chúng ta học được cách tự phản tư, có nhận thức sâu sắc về bản thân, nhận thức sâu sắc về những người xung quanh. Lúc này, chúng ta có thể gặt hái được một chút trí tuệ. Điều khó nhất trên đời chính là sự tự biết mình (tự tri chi minh). Sau khi học tâm lý học, hiểu mình hơn một chút, mọi sự sẽ trở nên rất khác.
Rất nhiều người đã ở tuổi năm, sáu mươi nhưng vẫn vô cùng ngoan cố bám víu lấy một cách sống đầy vấn đề, vẫn không hề có sự phản tư về cuộc đời mình. Đã vậy họ còn thấy mình rất khổ, tự hỏi “tại sao người khác không hiểu tôi”, “tại sao tôi làm thế mà người khác lại thấy tổn thương”. Điều đó thực sự vô cùng đáng tiếc.
Người bạn đưa ra câu hỏi này có lẽ đang nghĩ: Đọc cuốn sách này xong, liệu tôi có thể lập tức tạo ra bước chuyển biến to lớn hay không? Thực ra, chúng ta cứ coi nó là một sự khởi đầu là được. Đôi khi bạn thấy dường như mình chưa thu hoạch được nhiều, nhưng một khi bạn đã bắt đầu học tâm lý học, một năm trôi qua, nhìn lại bạn sẽ thấy bản thân và những người xung quanh đã rất đỗi khác biệt.
Khi bạn đang ở trong đau khổ, bạn hoàn toàn mù tịt không biết nỗi đau khổ này rốt cuộc từ đâu mà ra; nhưng học tâm lý học sẽ giúp bạn dần dần tỏ tường căn nguyên của nó. Nhiều người cảm thấy “Tôi chỉ mới biết thôi chứ chưa thay đổi được gì”. Kỳ thực, giữa việc bạn biết và bạn không biết đã là một khoảng cách rất lớn, bản thân điều đó đã là một sự đổi thay to lớn rồi.
Vấn đề 3: Đáng sợ nhất là tôi dần phát hiện bản thân kế thừa một số lối tư duy và hành vi của gia đình nguyên sinh. Mỗi khi đột ngột nhận ra điều này trong một hoàn cảnh nào đó, tôi cực kỳ chán ghét bản thân, cả con người giằng xé và đau khổ vô cùng. Tôi phải làm sao để thoát khỏi vòng luẩn quẩn này?
Vũ Chí Hồng: Điều quan trọng là chúng ta phải hiểu rằng tự giác tri (nhận biết mình) và tự công kích (tự tấn công mình) rất khác nhau. Tự giác tri là việc chúng ta nhìn nhận vấn đề hoặc đặc điểm của bản thân một cách trung lập, khách quan, như thật, như thị. Chúng ta nảy sinh sự chán ghét sâu sắc đối với bản thân, thực chất là vì chúng ta đã có sự tự đánh giá quá nặng nề. Tức là, vừa nhìn thấy một sự việc, ta liền lập tức dán lên nó cái nhãn “tốt” hoặc “không tốt”, sau đó mong muốn mình phải là phần tốt, còn đối với phần không tốt thì vô cùng căm ghét. Điều này dẫn đến tình cảnh như trong câu hỏi.
Phương thức học tâm lý học không phải như vậy. Không phải cứ hễ phát hiện bản thân có vấn đề là lập tức mong muốn tiêu diệt vấn đề đó ngay. Khi nhận thấy mình không làm được, bạn sẽ nảy sinh cảm xúc tiêu cực, lúc nghiêm trọng sẽ biến thành sự tự căm ghét sâu sắc. Sự chán ghét này cũng có thể dịch chuyển: ví dụ dịch chuyển sang cha mẹ, hoặc dịch chuyển sang người khiến bạn nhận ra vấn đề — chẳng hạn như những tác giả viết sách tâm lý học như tôi. Bạn sẽ nghĩ: Tại sao chỉ điểm thứ này cho tôi mà lại không thể giúp tôi thay đổi?
Thực ra, giác tri và phán xét rất khác nhau. Giác tri thì rất trung lập, khách quan, như thật, như thị; còn phán xét là nhanh chóng phân chia tốt - xấu, đồng thời mong mình chỉ giữ lại cái tốt, vứt bỏ cái xấu, thậm chí hận không thể lập tức trừ khử cái xấu ngay tức khắc. Nhưng điều này căn bản là không thể làm được, dẫu bạn có công cụ tâm lý học tốt đến đâu cũng không thể làm nổi.
Đòi hỏi quá nóng vội rất dễ dẫn đến tự luyến toàn năng, từ đó biến thành sự chán ghét và tự công kích bản thân sâu sắc. Trong cuốn sách mới Mối quan hệ sâu sắc của tôi có nói về hiện tượng này, gọi đó là “sự bạo chính của đầu óc”.
Vấn đề 4: Tình cảm của tôi dành cho mẹ rất phức tạp, có lúc thấy mẹ vô cùng cay đắng tội nghiệp, có lúc lại thật sự muốn rời xa mẹ. Tôi thường xuyên cảm thấy cắn rứt và tự dằn vặt mình. Tôi nên xử lý cảm xúc này thế nào?
Vũ Chí Hồng: Việc chúng ta có thứ tình cảm phức tạp này đối với mẹ, thực ra ở một mức độ nhất định là do về mặt tâm lý, chúng ta vẫn còn phần nào đó cộng sinh với mẹ. Ta cảm giác như mẹ là một phần của chính mình, mong bản thân có thể gánh vác bớt những nỗi khổ của mẹ. Tôi muốn nói rằng, trong xã hội chúng ta, đây có lẽ là một tâm lý cực kỳ phổ biến. Bởi vì trước đây tình trạng trọng nam khinh nữ diễn ra khắp nơi, ngày nay đã đỡ hơn rất nhiều. Trước kia, người phụ nữ khi bước vào một gia tộc trong hôn nhân thường bị ngó lơ, kỳ thị, thậm chí bị ngược đãi. Gia tộc nhà chồng thường bắt người phụ nữ phải hy sinh quá mức, con cái gần như do một tay người mẹ chèo chống nuôi lớn. Trong hoàn cảnh đó, con cái rất dễ nảy sinh lòng đồng cảm sâu sắc với mẹ.
Nhưng đồng thời điều này lại sinh ra một vấn đề khác: làm phận con cái rất muốn thay đổi hiện trạng này, muốn hóa giải nó. Thế nhưng họ sẽ nhận thấy rằng, dẫu điều kiện bên ngoài đã đổi khác, người mẹ dường như có thể sống tốt hơn, nhưng rất nhiều khi bà lại cứ khăng khăng bám chặt lấy lối sống khổ cực trước đây. Chúng ta gọi hiện tượng này là “không khổ mà cố chịu khổ”. Lúc này tình hình trở nên vô cùng mâu thuẫn: bạn cảm thấy dường như có thể thay đổi được mẹ, nhưng lại thay đổi không nổi; bạn thấy chuyện này quá đỗi dễ dàng, nhưng mẹ nhất quyết không chịu biến chuyển. Khi ấy, bạn có thể cũng sẽ nảy sinh cảm xúc bực bội đối với mẹ.
Trong hoàn cảnh này, điều đặc biệt quan trọng chính là thấu hiểu và tiếp nhận. Tức là chúng ta phải có một sự thấu hiểu sâu sắc đối với mẹ, cũng phải tiếp nhận tiết tấu của riêng bà, tiếp nhận chính dáng vẻ vốn có của bà. Nếu thấy mẹ như vậy mà chúng ta lập tức muốn đi thay đổi bà, thì ta lại quay về tình huống của mấy câu hỏi trước. Giống hệt như khi nhìn thấy trên người mình có vấn đề liền muốn thay đổi ngay, làm không được thì chán ghét bản thân; nhìn thấy mẹ có vấn đề cũng muốn lập tức uốn nắn, làm không xong thì đâm ra chán ghét mẹ. Nhưng làm sao có thể chán ghét mẹ mình được? Thế là bạn lại cảm thấy tội lỗi, cắn rứt. Tất cả những điều này thực chất đều xuất phát từ một tâm lý: quá đỗi nóng vội.
Nếu muốn mối quan hệ với mẹ chuyển từ cộng sinh sang phân tách, chúng ta phải ý thức sâu sắc rằng: mẹ là mẹ, mình là mình. Việc chúng ta muốn thay đổi một người khác, ở một mức độ nào đó cũng là muốn kiểm soát người đó, thậm chí có thể biến tướng thành một hình thức ngược đãi khác. Chúng ta cần hiểu rằng, thay đổi một con người là vô cùng khó. Chính bản thân chúng ta muốn thay đổi mình còn khó khăn muôn phần, đúng không? Khi nghĩ đến việc thay đổi người khác, ta luôn nghĩ nó dễ dàng, dường như đối phương chỉ cần làm chút gì đó là xong. Nhưng thực tế khi ta tự thay đổi bản thân — ví dụ như cai thuốc, cai rượu, bỏ thói lười biếng hay điều chỉnh giờ giấc sinh hoạt thất thường — ta sẽ thấy nó chẳng hề dễ dàng chút nào, huống chi là đòi thay đổi người khác?
Vấn đề 5: Thật mâu thuẫn, một mặt trong lòng trách móc bố mẹ, một mặt muốn cứu vãn bản thân, một mặt lại túm chặt lấy những tổn thương đó không buông. Làm sao để thoát khỏi “tâm lý nạn nhân” này?
Vũ Chí Hồng: Chúng ta học tâm lý học, đặc biệt là phần về gia đình nguyên sinh, là để giúp chúng ta nhìn thấy tự ngã của mình đã được hình thành như thế nào, bản thân đã lớn lên thành hình hài hiện tại ra sao. Rồi bạn sẽ nhận ra, bản thân hiện tại, tự ngã của bạn, quả thực có mối liên hệ khổng lồ với gia đình nguyên sinh, với sự nuôi dưỡng của cha mẹ, thậm chí sẽ cảm thấy giữa đôi bên tồn tại một mối nhân quả nào đó.
Trước tiên chúng ta phải thừa nhận đây là sự thật, nó đã xảy ra rồi. Chúng ta không thể ảo tưởng rằng chỉ cần bố mẹ thay đổi cách đối xử với mình thì mình sẽ không phải chịu những nỗi khổ này nữa. Đó cũng là một ảo tưởng của tâm trí.
Nghĩ rằng nếu bố mẹ có thể thay đổi thì tự ngã của mình cũng lập tức đổi thay — tôi nghĩ đây thực chất đều là vọng tưởng, sự tự thay đổi của bản thân không dễ dàng đến thế đâu.
Ngoài ra, mối quan hệ tương hỗ nhân quả giữa cha mẹ và con cái cũng có thể ẩn chứa những ràng buộc số phận rất sâu xa, cùng nhiều bối cảnh phức tạp khác. Vừa nhìn thấy vấn đề đã muốn lập tức thay đổi, một khi không làm được thì hoặc là trách mình, hoặc là trách bố mẹ, hoặc là trách người đã vạch ra vấn đề — tất cả thực chất đều do quá nóng vội muốn thay đổi mà thôi.
Vấn đề 6: Sau khi nhận thức được tổn thương bố mẹ gây ra cho mình, làm sao để hòa giải với họ? Nếu phát hiện căn bản không thể hòa giải thì phải làm sao?
Vũ Chí Hồng: Bạn thấy đấy, tất cả những câu hỏi này thực ra đều là một vấn đề: đều là nóng vội thay đổi bản thân, nóng vội thay đổi cha mẹ, nóng vội muốn đưa mối quan hệ đi tới trạng thái không còn tì vết. Ta ảo tưởng rằng chỉ cần học tâm lý học là có thể lập tức khiến tự ngã của mình viên mãn, khiến người khác viên mãn, khiến mối quan hệ giữa mình và bố mẹ viên mãn. Trên đời này làm gì có chuyện dễ dàng đến thế?
Hòa giải cần một quá trình, thậm chí là một quá trình đằng đẵng.
Phía trước tôi đã nói, tình yêu chính là sự thấu hiểu và tiếp nhận sâu sắc. Sự thấu hiểu và tiếp nhận sâu sắc đối với cha mẹ là tình yêu, sự thấu hiểu và tiếp nhận sâu sắc đối với chính mình cũng là tình yêu, và thấu hiểu, tiếp nhận chân tướng sự thật cũng là điều tối quan trọng. Nếu cảm thấy từ đầu đến cuối không thể hòa giải được, vậy thì hãy thừa nhận rằng tạm thời chưa thể hòa giải đi thôi.
Vấn đề 7: Trong mối quan hệ thân mật, dường như tôi rất dễ vô lý, tức là cái gọi là “tác” (作 - làm mình làm mẩy, kiếm chuyện vô cớ), đôi khi còn dùng lời lẽ gây tổn thương đối phương, thậm chí đối phương càng bao dung thì tôi lại càng lấn tới. Đây là tâm lý gì? Làm sao để thay đổi?
Vũ Chí Hồng: Khi đang “tác”, chúng ta sẽ nhận biết rất rõ ràng rằng lúc này mình không còn là một người lớn, thậm chí ngay cả một đứa trẻ lớn cũng không phải, mà hệt như một đứa bé sơ sinh. Đứa trẻ sơ sinh chỉ muốn đòi hỏi một thứ duy nhất từ người mẹ, đó chính là điều chúng ta gọi là tự luyến toàn năng cộng sinh. Điểm này trong cuốn Tại sao gia đình lại gây tổn thương tôi chưa nói nhiều, bởi vì thời điểm đó tôi hiểu về tự luyến toàn năng và cộng sinh chưa sâu sắc bằng bây giờ; đến cuốn Mối quan hệ sâu sắc, nhận thức đã sâu hơn rất nhiều.
Tự luyến toàn năng cộng sinh thể hiện ở chỗ: Tôi vừa mở lời là bạn phải biết tôi đang nghĩ gì, thậm chí tôi không cần nói bạn cũng phải biết tôi nghĩ gì, rồi bạn có thể lập tức thỏa mãn tôi — đó chính là cộng sinh. Còn tự luyến toàn năng có thể diễn đạt thế này: Tôi vừa nảy sinh một ước muốn, bạn phải lập tức, ngay tức khắc hồi đáp tôi một cách hoàn hảo.
Bởi vậy, những lúc đang “tác”, thực ra bạn giống như một đứa trẻ sơ sinh đang đi tìm mẹ, dường như hai người lúc này vẫn là một thể cộng sinh mẹ - bé: bạn chính là đối phương, đối phương chính là bạn, chỉ cần bạn biểu đạt, thậm chí bạn chẳng buồn nói ra thì đối phương cũng phải hiểu, phải đáp ứng bạn. Kẻ đang “tác” thực chất là đang đòi hỏi một thứ như vậy. Hơn nữa, vì điều này bắt nguồn từ tự luyến toàn năng, nên một khi tự luyến toàn năng bị tổn thương, con người rất dễ chuyển sang cơn thịnh nộ toàn năng (toàn năng bạo nộ), tính khí trở nên vô cùng tệ hại, thậm chí quay sang công kích đối phương.
Tuy nhiên, chúng ta cũng phải ý thức được rằng, ngay cả đối với cái tính “tác” của mình, ta cũng cần có sự tiếp nhận nhất định. Có thể đôi khi bạn không kìm chế nổi mà cứ “tác”, nhưng những lúc ấy đừng cho rằng cái sự “tác” của mình là chân lý, là nhất định đúng. Khi biểu đạt, hãy chừa lại cho đối phương một khoảng không gian, thậm chí đôi lúc có thể nói với bạn đời của mình rằng: “Ôi, em/anh xin lỗi, vừa nãy anh/em thực sự không nhịn được, chỉ muốn ‘làm mình làm mẩy’ một chút, muốn gây sự với em/anh một chút thôi. Em/Anh chắc cũng khó chịu lắm nhỉ. Thỉnh thoảng anh/em cứ hay nổi cơn vô lý như vậy, mong em/anh thông cảm cho anh/em nhé.” Tôi nghĩ làm được như vậy thì mọi chuyện sẽ ổn hơn rất nhiều, phải không?
Vấn đề 8: Trong sách nói “Hôn nhân sở dĩ dễ trở thành nấm mồ của tình yêu, một nguyên nhân vô cùng quan trọng là vì hôn nhân chỉ là sự sao chép mô thức gia đình trong quá khứ của chúng ta”. Làm sao để thoát khỏi sự sao chép mô thức này?
Vũ Chí Hồng: Tôi nghĩ có một điểm cực kỳ quan trọng: việc chúng ta nhìn thấy sự sao chép này và việc không nhìn thấy nó là hai trạng thái hoàn toàn khác biệt.
Khi chưa nhìn thấy, chúng ta sẽ ngỡ rằng mọi ân oán tình thù của mình với bạn đời đều phát sinh thuần túy trong mối quan hệ ở hiện tại. Lúc đó, con người ta sẽ cực kỳ cố chấp soi xét, coi suy nghĩ của mình là chân lý. Nhưng sau khi học tâm lý học, chúng ta sẽ biết mô thức quan hệ hiện tại thực chất là sự lặp lại của mô thức quan hệ trong quá khứ. Nói cách khác, mô thức trong mối quan hệ yêu đương hiện tại chính là một sự luân hồi của mối quan hệ với cha mẹ thời thơ ấu. Một khi nhìn thấu điều này, chúng ta sẽ bớt đi một phần chấp niệm đối với mối quan hệ hiện tại.
Đầu tiên, khi nhìn lại xem gia đình nguyên sinh thời thơ ấu có ảnh hưởng thế nào đến mối quan hệ hiện tại của mình, trọng tâm không nằm ở việc trách móc cha mẹ, trách họ tại sao lại tạo ra cái mô thức quan hệ tồi tệ như vậy cho chúng ta. Điều chúng ta cần nhìn thấy là: mối quan hệ dưỡng dục thời thơ ấu ấy đang trú ngụ bên trong nội tâm chúng ta, nó cấu thành nên tự ngã của ta, rồi thông qua tự ngã đó tác động lên mô thức quan hệ hiện tại. Sau khi nhìn thấy phần này, bạn sẽ nhận ra mọi thứ đều đang vận hành thông qua tự ngã của chính mình; vậy thì điều tiếp theo bạn cần đặc biệt lưu tâm chính là điều chỉnh tự ngã của mình, điều chỉnh mô thức quan hệ giữa bạn và bạn đời.
Thứ hai, khi ý thức được đây là một sự lặp lại, thì đó cũng chính là một sự phóng chiếu. Khi chung sống với người yêu hiện tại theo cách đó, thực chất chúng ta đang đem rất nhiều hình bóng của cha mẹ mình, bao gồm cả một phần tự ngã của mình, phóng chiếu vào mối quan hệ này. Chúng ta không thực sự biết đối phương là ai, không hiểu được dáng vẻ chân thật của đối phương; do đó nếu mô thức quan hệ toàn là phóng chiếu, điều đó đồng nghĩa với việc thứ chúng ta nhìn thấy toàn là ảo ảnh, một mối quan hệ đầy ảo giác.
Khi nhìn thấy những chấp niệm của mình đối với cha mẹ trong quá khứ, những chấp niệm đối với bản thân, rồi ta lại trút những chấp niệm đó lên người bạn đời, thậm chí phóng chiếu cả hình tượng cha mẹ lên người họ, thì ta căn bản không thể nào thực sự nhìn thấy người bạn đời của mình được nữa.
Một khi đã ý thức được đây là một sự luân hồi, chúng ta có thể bước ra khỏi những ảo ảnh ấy, nhìn nhận thật kỹ xem bạn đời là người như thế nào, để từ đó thiết lập một mối quan hệ chân thực với con người chân thật của họ. Khi làm được điều này, chúng ta sẽ nhận ra mối quan hệ yêu đương thực chất mới chỉ vừa bắt đầu.
Vì vậy, trong giai đoạn nồng nhiệt, dù bề ngoài trông hai người tràn trề say đắm, vô cùng cuồng nhiệt, giao tiếp thấu suốt với nhau, nhưng trong giai đoạn nồng nàn ấy, bạn thường chỉ đang phóng chiếu những ảo ảnh trong quá khứ lên người yêu mà thôi. Ảo ảnh này rồi sẽ có lúc lụi tàn. Đến lúc đó, bạn có thể sẽ cảm thấy sao tự nhiên mọi thứ lại trở nên nhạt nhẽo vô vị đến thế, nhưng thời điểm ấy thường lại chính là lúc ta bắt đầu nhìn thấy sự tồn tại chân thật của người bạn đời.
Cái gọi là “khủng hoảng năm thứ bảy” (thất niên chi dưỡng), theo quan sát của tôi, thường lại nhen nhóm vào năm thứ sáu. Trong giai đoạn này, bạn sẽ nảy sinh một nỗi tuyệt vọng sâu sắc: bạn phát hiện dẫu mình có nỗ lực thế nào thì đối phương vẫn cứ trơ trơ như vậy, anh ấy/cô ấy không hề thay đổi. Đó là bởi vì từ thuở nhỏ, chúng ta đã ấp ủ một giấc mộng cải tạo cha mẹ — bạn xem, những câu hỏi phía trước chẳng phải đều xoay quanh việc muốn cải tạo bản thân, cải tạo cha mẹ đó sao? Giấc mộng cải tạo này đồng nghĩa với việc ta muốn nhanh chóng đưa bản thân, cha mẹ và mối quan hệ giữa mình với cha mẹ đạt tới sự hoàn mỹ, nhưng thực chất đó đều là tự luyến. Chúng ta đều cần nhận thức được giấc mộng cải tạo của mình, và buông bỏ chấp niệm đó xuống.
Rất nhiều người không trụ nổi qua cái mốc 7 năm, thực ra mấu chốt nằm ở năm thứ sáu. Khi bước sang năm thứ sáu, người ta bắt đầu nghĩ xem phải làm sao, để rồi sang đến năm thứ bảy thì rơi vào một trạng thái dường như có phần tuyệt vọng. Có người nhìn rõ bộ mặt chân thật của đối phương, không muốn chấp nhận hoặc thấy không còn phù hợp nữa, họ sẽ chọn quay lưng rời đi; nhưng cũng có người nhìn thấy và cuối cùng chấp nhận được con người thật của đối phương, quyết định tiếp tục đồng hành cùng con người này, lúc đó mối quan hệ trái lại sẽ bước sang một giai đoạn mới, tiến vào một trạng thái chân thực hơn.
Vấn đề 9: Tôi còn chưa thành niên, chưa thể độc lập về kinh tế để thoát ly khỏi gia đình nguyên sinh và sự kiểm soát của cha mẹ. Trong hoàn cảnh này, làm sao để giữ được tính độc lập của mình?
Vũ Chí Hồng: Điều này liên quan đến một nền tảng cốt lõi được nhắc đến trong sách của chúng tôi: Phước lành lớn nhất mà gia đình nguyên sinh ban tặng cho một con người là giúp người đó ngay từ thời thơ ấu đã học được cách tôn trọng cảm giác của chính mình; còn lời nguyền lớn nhất của gia đình nguyên sinh đối với một con người là bắt người đó ngay từ thơ ấu đã phải xa rời cảm thụ của bản thân, để rồi suốt một đời cứ mãi tha hương khỏi những cảm nhận ấy.
Bởi vậy, đối với những người chưa thành niên, tôi muốn nhắn nhủ rằng: đừng quá coi lời nói của cha mẹ là chân lý tuyệt đối. Cần phải biết rằng điều quan trọng nhất chính là cảm thụ của chính mình, hãy dùng cảm thụ của bản thân để cảm tri vạn sự vạn vật, để phán đoán vạn sự vạn vật. Khi một người chưa thành niên làm được điều đó, thực chất em ấy đang phát triển tự ngã của chính mình. Dĩ nhiên, trong một hoàn cảnh đau khổ, việc tự mình làm điều đó vẫn có thể giúp phát triển tự ngã rất tốt. Dẫu tuổi thơ có phải trải qua nhiều đắng cay, và trong lúc sử dụng cảm thụ, em có thể thấy mình phải nếm trải quá nhiều khổ sở, có thể nghĩ rằng như vậy thật tệ; nhưng sau khi trưởng thành, em sẽ nhận ra rằng chính trong quá trình nếm trải những đắng cay ấy, năng lực cảm thụ của em đã tích lũy một giá trị vô cùng to lớn. Tôi nghĩ đây là một điểm cực kỳ trọng yếu.
Thế nên, việc thoát ly gia đình nguyên sinh về mặt kinh tế không phải là con đường duy nhất để bảo tồn tính độc lập. Dù tạm thời chưa dứt ra khỏi sự lệ thuộc ấy, bạn vẫn hoàn toàn có thể duy trì sự độc lập và phát triển tự ngã thông qua việc dùng chính cảm thụ của mình để tri nhận vạn sự vạn vật.
Vấn đề 10: Có một quan điểm cho rằng: “Đừng có chuyện gì cũng đổ lỗi cho gia đình nguyên sinh, nếu đã ý thức được vấn đề mà không chịu thay đổi thì đó là do năng lực cá nhân, là đang tìm cớ trốn tránh, là nhu nhược”. Thầy nhìn nhận thế nào về điều này?
Vũ Chí Hồng: Điều này thực ra cũng giống như các vấn đề trước. Khi chúng ta quan sát xem tự ngã của mình được hình thành thế nào, tâm lý của mình hình thành ra sao một cách như thật, như thị, trung lập và khách quan, cũng như đối với các quan điểm về gia đình nguyên sinh này, bạn có thấy nó thực sự có lý hay không? Nếu thấy có lý thì tiếp nhận; thấy không có lý thì không tiếp nhận. Sự giác tri vốn mang tính trung lập, chứ không phải dựa vào hiệu quả sử dụng để vội vã đưa ra kết luận.
Hiện nay có rất nhiều người phản cảm với “thuyết gia đình nguyên sinh”, tôi cho rằng đây vẫn có thể coi là một dạng tự luyến xét trên bình diện tổng thể. Người ta sẽ nghĩ: Biết vấn đề của gia đình nguyên sinh thì đã sao chứ? Tôi cũng đâu thể lập tức thay đổi bản thân, cũng chẳng thay đổi được người khác, lúc này mà còn quay sang oán trách cha mẹ thì chẳng phải là đang ngụy biện, đang có vấn đề hay sao?
Tâm lý ngấm ngầm ẩn đằng sau đó là: Tôi mong muốn mình phải là một người cao cấp, cừ khôi, xuất chúng. Đây thực chất là một sự tham cầu đối với tính tự luyến. Một khi sự tham cầu này bị tổn hại, nó sẽ sản sinh ra cảm giác xấu hổ, nhục nhã. Cảm giác xấu hổ này nếu quay vào trong sẽ biến thành sự quy tội và tự công kích chính mình; nếu hướng ra ngoài cha mẹ sẽ biến thành sự quy tội và công kích cha mẹ; còn nếu hướng về lý thuyết tâm lý học thì sẽ trở thành sự quy tội và công kích lý thuyết tâm lý học.
Bản chất của nó vẫn là quá đỗi nóng vội với việc thay đổi, và đánh giá độ khó của sự việc quá thấp.
Những người dùng lời lẽ công kích người khác, bề ngoài trông như đang hà khắc đòi hỏi người khác phải thay đổi, nhưng thực chất mũi dùi có thể đang chĩa vào chính cảm giác xấu hổ bên trong họ, hoặc đó là thái độ của họ đối với thế giới. Chẳng hạn, ban đầu họ kỳ vọng thông qua một lý thuyết tâm lý nào đó có thể nhanh chóng và triệt để hoàn thành sự thay đổi; nhưng nếu bạn hỏi họ thế nào mới tính là thay đổi, thay đổi cái gì, và sau khi thay đổi xong thì sẽ đi về đâu, có khi chính bản thân họ cũng hoàn toàn mờ mịt.
Vấn đề 11: Nếu cha mẹ tôi đang chìm trong đau khổ, hoặc rơi vào hoàn cảnh kinh tế rất tồi tệ, tôi luôn cảm thấy mình không thể nào một mình hưởng thụ hạnh phúc vui vẻ, thậm chí còn nảy sinh cảm giác tội lỗi vì niềm vui của bản thân, rồi không kìm được muốn đi giải cứu họ. Nhưng làm như vậy liệu có thực sự khiến tình hình của đôi bên tốt lên không?
Vũ Chí Hồng: Tâm lý này rất phổ biến, bản thân tôi cũng thấm thía điều này sâu sắc, bởi vì trong gia đình tôi cũng chỉ có duy nhất mình tôi bước ra được và phát triển rất tốt. Gia đình nguyên sinh của tôi từng vô cùng nghèo khó, nên sự thể nghiệm của tôi về điều này lại càng sâu sắc hơn.
Những lúc thế này, bạn phải ý thức được rằng, giữa bạn và gia đình là mối quan hệ “bạn là bạn, tôi là tôi”. Khi muốn giúp đỡ người nhà, bạn cũng phải cân nhắc xem phương thức nào mới thực sự giúp được họ. Cho người nhà tiền một cách vô hạn độ tuyệt đối không phải là một cách hay.
Muốn trao đi sự giúp đỡ thực sự, đòi hỏi phải có một trí tuệ nhất định.
Xét trên bình diện tập thể của cả một gia tộc, việc có một người bứt phá vươn lên từ gia đình đó, bước chân ra ngoài thế giới, tuyệt đối là một phước lành to lớn cho toàn bộ gia tộc. Ngay cả khi bạn không giúp đỡ gia đình nguyên sinh quá nhiều về mặt kinh tế, bạn cũng sẽ nhận thấy sau khi bạn bước ra được, toàn thể gia tộc đều sẽ được hưởng lợi rất lớn. Điều này mang giá trị khổng lồ.
Ngoài ra, chúng ta cần phải chú ý phân biệt giữa chủ nghĩa cá nhân và chủ nghĩa tập thể. Thông qua sự trưởng thành của chính mình để phát triển vươn xa, bạn có thể giúp đỡ bản thân rất tốt. Còn nếu bạn muốn toàn bộ tập thể, toàn bộ gia đình đều cùng bước ra được, đó lại là chủ nghĩa tập thể, và độ khó của nó là vô cùng lớn. Nếu làm được thì dĩ nhiên là tốt nhất, nhưng trong đại đa số trường hợp là không làm nổi, vậy thì ta phải thừa nhận giới hạn năng lực của chính mình.
Vấn đề 12: Tôi vẫn luôn nghĩ sự tự ti và nhạy cảm của mình là bẩm sinh, mãi cho đến sau này đọc cuốn Tại sao gia đình lại gây tổn thương, tôi mới phát hiện ra những lời cha mẹ nói với tôi thời thơ ấu đã in hằn sâu sắc trong tâm trí, thậm chí ảnh hưởng đến nhận thức của tôi về bản thân. Làm sao để xoay chuyển nhận thức sai lầm này?
Vũ Chí Hồng: Ban đầu bạn tưởng tự ti, nhạy cảm là tự thân mình có sẵn; học tâm lý học rồi, đọc Tại sao gia đình lại gây tổn thương rồi, biết đến “gia đình nguyên sinh” rồi, bạn mới phát hiện ra hóa ra sự tự ti và nhạy cảm của mình được hình thành trong mối quan hệ nuôi dưỡng với cha mẹ.
Biết được điều này đã là một phát hiện vĩ đại, một bước tiến vĩ đại. Trước hết, bạn phát hiện ra tự ngã của mình là một thứ được tạo thành — vậy thì hãy tôn trọng sự thật rằng tự ngã của bạn được tạo thành đã, rồi sau đó hãy nhìn nhận thật kỹ xem nó đã được hình thành như thế nào; chứ đừng vừa phát hiện ra là lập tức nảy sinh đòi hỏi muốn thay đổi bản thân ngay, muốn lập tức dập tắt sự tự ti và nhạy cảm “sai trái” ấy. Chúng ta cần phải có sự thấu hiểu và tiếp nhận sâu sắc đối với sự tự ti và nhạy cảm của chính mình, thậm chí dành cho chúng một tình thương yêu. Làm được như vậy, mọi thứ sẽ trở nên rất khác.
Chúng ta có thể thấy, mọi vấn đề thực chất đều bắt nguồn từ việc vừa phát hiện ra một hành vi tâm lý không tốt là lập tức muốn tiêu diệt nó ngay. Nhà tâm lý học Carl Rogers từng nói: Tình yêu là sự thấu hiểu và tiếp nhận sâu sắc. Nhưng ông không hề nói tình yêu là sự thấu hiểu, tiếp nhận sâu sắc và thay đổi ngay lập tức. Rất nhiều khi, thay đổi khó hơn chúng ta tưởng rất nhiều. Nhiều người nghĩ việc thay đổi quá đỗi dễ dàng. Nhiều người mong mình có sự thay đổi nghiêng trời lệch đất, và tốt nhất là phải thay đổi ngay lập tức, đó là vì họ chưa nhận ra rằng trạng thái hiện tại của mình thực ra có tính hợp lý rất sâu xa.
Việc bạn trở thành dáng vẻ như hiện tại có tính hợp lý rất sâu sắc của nó, thậm chí hành vi ngược đãi của cha mẹ cũng có tính hợp lý sâu sắc của nó — nhưng tính hợp lý ở đây không có nghĩa là sự ngược đãi của cha mẹ là đúng đắn, mà là nó có những nguyên nhân sâu xa tạo thành. Chúng ta hãy tôn trọng tính hợp lý trong trạng thái hiện tại của bản thân trước, dành một tình yêu và lòng trắc ẩn cho dáng vẻ hiện tại của mình, sau đó mới nhìn xem nó đã được hình thành ra sao. Sau khi biết nó được tạo thành như thế nào, chúng ta mới có khả năng dần dần hóa giải nó, từng bước tạo ra những chuyển biến.
Vấn đề 13: Làm thế nào để đối phó với cha mẹ hoặc bạn đời thường vô tình buông lời hạ thấp mình trong giao tiếp?
Vũ Chí Hồng: Nếu sự hạ thấp của đối phương khiến bạn cảm thấy đau khổ, vậy thì hãy phản kháng, hãy để cho đối phương biết rằng bạn không chấp nhận điều đó. Về điểm này, tôi đã viết rất nhiều bài về “ranh giới”, cũng mở các khóa học liên quan, trong đó chia sẻ rất nhiều phương pháp.
Chẳng hạn, có một tuyệt chiêu đặc biệt thích hợp áp dụng giữa những người thân với nhau, gọi là sự kiên quyết không chứa thù địch (bất hàm địch ý đích kiên quyết). Hãy bắt đầu làm từ những việc nhỏ. Ví dụ, cha mẹ và bạn đời dùng lời lẽ hạ thấp bạn, bạn hãy nắm lấy chính những câu nói họ hay thốt ra để làm rõ trắng đen, hoặc phản kích lại. Khi bạn làm điều này, đối phương có thể sẽ tìm đủ mọi cách ngụy biện, đưa ra đủ lý lẽ, nhưng bạn hãy cứ bám chặt lấy sự việc đó không buông, lặp đi lặp lại một cách kiên trì, liên tục làm rõ, dẫu cho đôi khi phải mất tới một tháng, ba tháng. Khi bạn có thể giành được sự tôn trọng của họ trong một việc nhỏ, khiến họ không còn hạ thấp bạn theo quán tính nữa, khi bạn đã dạy được họ cách tôn trọng bạn, bạn sẽ phát hiện ra: ban đầu bạn ngỡ mình chỉ thay đổi một chuyện cỏn con, nhưng kết quả lại tạo ra một ảnh hưởng vô cùng to lớn.
Chúng ta trong việc bảo vệ ranh giới của mình, phải bắt đầu từ những việc nhỏ để dạy người khác biết tôn trọng chúng ta.
Tất nhiên, tôi nghĩ cũng cần phải làm rõ sự phân định: chúng ta cũng phải có sự đánh giá lý tính, đánh giá xem đối phương có thực sự đang nói những lời ác ý, đang chê bai bạn kém cỏi, không ra gì hay không, chứ không phải do bản thân quá mức nhạy cảm. Về điểm này, trước tiên chúng ta có thể đứng ở góc độ người ngoài cuộc để quan sát một chút. Nếu đối phương nói những lời trung lập, tương đối ôn hòa, thậm chí là khích lệ, nhưng bạn cứ một mực cho rằng lời họ có hàm ý mỉa mai, nghĩ rằng họ đang hạ thấp mình, vậy thì có thể bạn cần phải tự phản tư lại. Lại có một trường hợp khác: đối phương thực sự đang nói những lời miệt thị, ác ý, nhưng khi bạn chỉ ra thì họ lại chối rằng họ không hề cố ý, chỉ là vô tình thôi — tuyệt chiêu “kiên quyết không chứa thù địch” mà chúng ta nhắc tới ở trên chính là nhắm vào tình huống này.
Nếu bạn phát hiện ra mình không chỉ quá để tâm đến lời nói của bạn đời, của cha mẹ, mà ngay cả trong công việc, trước mặt bạn bè, khi qua lại với đồng nghiệp hay người khác, bạn cũng luôn cảm thấy người ta đang ác ý nhắm vào mình, vậy thì bạn phải ý thức được rằng vấn đề có thể đang nằm ở chính bạn rồi.
Vấn đề 14: Vì sao có những lúc tôi cảm thấy hận cha mẹ, nhưng lại mong cầu sự công nhận của họ, dựa dẫm vào họ đến vô cùng?
Vũ Chí Hồng: Một mối quan hệ như vậy chắc chắn là một mối quan hệ cộng sinh. Trong một mối quan hệ quá mức gần gũi, giữa đôi bên hoặc một bên đối với bên kia sẽ có rất nhiều đòi hỏi; những đòi hỏi này là những đòi hỏi không có ranh giới, là đòi hỏi của một đứa trẻ sơ sinh đối với mẹ mình. Người đưa ra yêu cầu tự cảm thấy điều đó là lẽ dĩ nhiên, nhưng thực chất không hề tôn trọng ranh giới của mỗi bên. Việc đặt ra quá nhiều yêu cầu “dĩ nhiên” lên một người khác, kỳ thực đã cấu thành một dạng bạo lực đối với họ. Rất nhiều đòi hỏi căn bản là không thể nào đáp ứng nổi, nhưng bạn lại cho rằng yêu cầu đó hợp lý vô cùng, là hoàn toàn đúng đắn, thế nên bạn mới quay sang hận đối phương. Bản thân nỗi hận này mang tính cộng sinh. Khi ở trong trạng thái này, điều đó đồng nghĩa với việc bạn vẫn chưa hoàn thành sự phân tách cơ bản với cha mẹ, cũng chưa hoàn thành sự phân tách cơ bản với gia đình nguyên sinh.
Vừa muốn có được những cái lợi từ mối quan hệ cộng sinh, lại vừa muốn trút nỗi hận thù của mình một cách vô kiêng kỵ vào gia đình nguyên sinh — đó chính là một mối quan hệ cộng sinh điển hình.
Vấn đề 15: Vô ý làm những chuyện dại dột gây tổn thương cho con cái, nhưng mãi đến khi bản thân trưởng thành mới giác sát nhận ra, phải làm sao để bù đắp?
Vũ Chí Hồng: Rất nhiều khi thực sự rất khó bù đắp. Tuy nhiên, khi bậc cha mẹ có thể nhận thức được như vậy, mọi sự thực ra đã trở nên rất khác.
Khi gặp phải tình huống trên, rất nhiều bậc cha mẹ có tính tự luyến sâu sắc sẽ phản ứng thế này: khi phát hiện ra vấn đề của mình, họ sống chết không chịu thừa nhận, tìm mọi cách để bảo vệ lòng tự luyến của bản thân. Theo cách nói của tôi, bậc cha mẹ sẵn sàng thừa nhận mình có vấn đề, lại sẵn lòng muốn thay đổi — dẫu cho không thay đổi nổi — thì đã là những bậc cha mẹ rất tuyệt vời rồi. Nếu cha mẹ sẵn lòng thừa nhận tổn thương đã gây ra cho con, vậy thì có thể trực tiếp nói trước mặt con, có thể bảo với con rằng: “Bố/Mẹ đã nhận ra những tổn thương từng gây ra cho con, bố/mẹ cảm thấy rất áy náy, rất muốn bù đắp cho con.”
Nhắc đến việc bù đắp, chúng ta cũng cần phải ý thức được rằng, đây cũng là một dạng tâm lý muốn lập tức thay đổi. Thực ra, chúng ta có thể ở lại trong trạng thái vừa phát hiện ra vấn đề này thêm một lúc. Khi thừa nhận đã làm tổn thương con, khi cảm thấy cắn rứt hay nảy sinh những cảm xúc khác, hãy để những dòng cảm xúc ấy được tuôn chảy thêm một lát, đó cũng là một dạng yêu thương. Rất nhiều khi đối với con cái, việc cha mẹ chịu thừa nhận lỗi lầm đã là một điều vô cùng vĩ đại rồi.
Vấn đề 16: Khi gặp người rất tốt, tôi luôn cảm thấy đó là ảo tưởng, nghĩ rằng sớm muộn gì cũng không duy trì được, nhất định phải nhìn thấy những mặt tiêu cực thì mới cảm thấy chân thực, thấy an tâm. Tâm lý này là do đâu?
Vũ Chí Hồng: Đằng sau điều này ẩn chứa một tâm lý phóng chiếu rất sâu sắc, nguyên nhân là vì thế giới nội tâm của người mang tâm lý này chứa đầy bóng tối và đau khổ. Họ đang cố chấp giữ chặt lấy một niềm tin: “Phán đoán nội tâm của mình mới là đúng”. Do đó, khi gặp gỡ những điều tốt đẹp bên ngoài, họ không muốn thừa nhận cái tốt đẹp ở ngoại cảnh là chân thật. Bởi vì nếu thừa nhận điều tốt đẹp bên ngoài là thật, điều đó đồng nghĩa với việc sự cố chấp bên trong nội tâm họ bấy lâu nay là sai lầm. Họ không chấp nhận được điều này, thế là họ tiếp tục cố thủ với ý nghĩ rằng bóng tối nội tâm mới là chân thực; từ đó họ liên tục đem bóng tối nội tâm ụp lên những điều tốt đẹp bên ngoài, cho đến khi phá nát sự tốt đẹp đó mới thôi. Khi ấy, họ trái lại còn có cảm giác như trút được gánh nặng: “Thấy chưa, tôi đoán có sai đâu!”
Dĩ nhiên, bên trong đó còn ẩn giấu một tầng thứ hai, đó là nỗi sợ hãi của họ: “Tôi đã trải qua quá nhiều tăm tối và đau khổ, bây giờ bảo tôi thừa nhận tình yêu thương bên ngoài là thật, là tốt đẹp, thì đó là một sự mạo hiểm. Lỡ như tôi thừa nhận rồi, nhưng đến một ngày nào đó tình yêu này lại biến mất, tôi sẽ cảm thấy mình bị đem ra làm trò hề, từ đó sinh ra nỗi nhục nhã sâu sắc và vô cùng sợ hãi”. Để trốn tránh nguy cơ này, họ thà không thèm mạo hiểm, cứ thế tiếp tục ẩn mình trong bóng tối.
Tôi có một thân chủ, là một ca bệnh vô cùng điển hình. Trong một giai đoạn tư vấn, vị thân chủ này liên tục hơn hai mươi buổi, mỗi lần buổi tư vấn bắt đầu đều nhìn tôi cười một tràng quái dị, nụ cười có phần dữ tợn. Lần nào chúng tôi cũng cùng nhau đào sâu xem nụ cười đó rốt cuộc là vì sao. Cho đến lần cuối cùng, anh ta đột nhiên nổi trận lôi đình, gào thét vào mặt tôi, nói thẳng thừng: “Mẹ kiếp, ông tưởng ông đồng cảm với tôi một chút là tôi phải thiết lập mối quan hệ với ông chắc? Tôi rẻ rúng thế à? Ông có biết ngày xưa tôi đã phải sống trong bóng tối bao lâu không? Ông thấu cảm tôi được một lần mà đã muốn kéo tôi ra khỏi bóng tối, ông tưởng mình vĩ đại lắm sao? Ông quá coi trọng bản thân mình rồi đấy, đồ ngu xuẩn!”
Trong khi đó, tôi vẫn điềm tĩnh nhìn anh ấy. Kết quả là ngay sau đó anh ta bỗng òa khóc nức nở, nói lời xin lỗi, nói rằng thực ra sâu trong lòng anh ta giấu một nỗi sợ hãi tột cùng: sợ rằng nếu anh ta tin tôi, nhưng tôi lại đem anh ta ra làm trò cười thì phải làm sao; ngày xưa anh ta hết lần này đến lần khác tin tưởng mẹ mình, kết quả là bà đều quay lưng bỏ đi; nếu anh ta tin chúng tôi, nhưng chúng tôi lại hết lần này đến lần khác làm tổn thương anh ta thì phải làm thế nào.
Bởi vậy, hơn hai mươi lần cười điên dại phía trước thực chất đều là những phép thử đối với tôi. Nhưng suốt hơn hai mươi lần đó, tôi luôn vững vàng, kiên định thấu hiểu anh ấy. Tiếp sau đó mới diễn ra cơn bộc phát gầm thét, chửi bới mang tính the chốt này; nhưng khi chửi bới xong, trút hết phẫn nộ và oán hận xong, anh ấy bắt đầu òa khóc nức nở, cảm nhận được nỗi bi thương. Rồi cuối cùng anh ấy cũng chịu thừa nhận sự tốt đẹp mà tôi dành cho anh, và mối liên kết giữa tôi với anh ấy đã được thiết lập như thế.
Người bạn đặt câu hỏi này có lẽ cũng đang chờ đợi một người có thể hồi đáp mình như vậy. Nhưng chúng ta phải nói rõ rằng, trong thế giới hiện thực, ngay cả trong phòng tư vấn tâm lý, điều này cũng vô cùng khó khăn. Bởi vì chuyên viên tư vấn chưa chắc đã chịu đựng nổi những điều đó, mà dẫu có chịu đựng được thì chuyên viên cũng chưa chắc có đủ trí tuệ để giác tri ra được điểm này.
Cho nên, những ai đang chìm trong bóng tối cần phải hiểu rằng, thứ bạn muốn là sự tiếp nhận này. Nếu đòi được thì đương nhiên rất tốt; nhưng nếu không đòi được, bạn cũng phải chủ động thử cho phép mình mạo hiểm, tin tưởng vào ánh sáng của thế giới bên ngoài, để nó bước vào nội tâm bạn, chứ đừng mãi cố thủ trong bóng tối.
Đôi khi trong mối quan hệ thân mật cũng ẩn giấu một logic như thế này: Nếu anh là kẻ xấu, anh không xứng đáng để tôi yêu, vậy thì tôi sẽ không yêu anh, tôi hận anh. Lúc này, tôi hận anh, anh hận tôi, như thế là công bằng, và nó sẽ không khơi dậy cảm giác nhục nhã, lại còn tạo ra được cảm giác kiểm soát — tôi đã biết tỏng từ lâu là anh đáng hận rồi, anh chẳng đáng được yêu. Nhưng giả sử tôi trao tình yêu cho anh, mà anh lại ném cho tôi một thứ tồi tệ, hoặc anh phụ bạc tình yêu của tôi, lúc đó tôi sẽ thấy vô cùng nhục nhã, sẽ thấy mình là một kẻ ngu ngốc: sao mình lại có thể tin rằng anh xứng đáng được yêu, tin rằng anh sẽ yêu mình cơ chứ?
Khi chúng ta biểu đạt lòng hận thù, không hề có mối nguy cơ này; nhưng khi biểu đạt tình yêu, mối nguy hiểm lại vô cùng lớn — tôi trao đi tình yêu, kết quả lại bị anh đâm cho một nhát chí mạng.
Vấn đề 17: Thế hệ 8x có hai luồng tâm thái: Một là thế hệ chúng tôi hiểu ra vấn đề quá sớm nhưng lại bất lực không thể thay đổi, điều này gây ra đau khổ, phải làm sao? Hai là chúng tôi lớn lên dưới phương thức giáo dục truyền thống, nhưng lại tiếp nhận sự gột rửa của tư tưởng mới, vừa truyền thừa vừa phản tư, trong sự không ngừng đập vỡ và tái cấu trúc, vừa cứu lấy mình vừa cứu lấy con cái; sự giằng xé này có phải là con đường tất yếu của sự trưởng thành không?
Vũ Chí Hồng: Đương nhiên rồi, đó chính là con đường tất yếu của sự trưởng thành. Những lúc thế này, tôi buộc phải nói một câu: Con người ta ở trong phúc thì phải biết là mình đang có phúc. Đừng nghĩ rằng việc phát hiện ra vấn đề nhưng bất lực không thể thay đổi là một nỗi đau khổ. Đau khổ thì có đau khổ đấy, nhưng so với thời kỳ trước — thời mà ai nấy đều ra rả “thiên hạ không có cha mẹ nào sai”, cha mẹ làm gì cũng đúng; dẫu cha mẹ có ngược đãi con cái, thậm chí khiến đứa trẻ mất mạng thì truyền thông đưa tin cũng chỉ bảo là “phương pháp giáo dục của cha mẹ chưa thỏa đáng” — thì hiện tại đã tốt hơn rất nhiều rồi, đúng không?
Kỳ thực, hoàn cảnh chúng ta đang sống đã có sự đổi thay vô cùng to lớn, đã có độ bao dung và sự tự do rất lớn. Việc chúng ta có thể nhìn thấy, có thể thừa nhận một số vấn đề của cha mẹ đã là một sự biến chuyển vĩ đại. Nỗi đau khổ ở hiện tại hoàn toàn khác so với nỗi đau khổ của thế hệ 7x hay 6x. Thử quay về thời của thế hệ 6x, 7x xem, cha mẹ đánh bạn thừa sống thiếu chết, bạn vẫn cứ phải bảo với cha mẹ rằng “Bố mẹ làm đúng, là do con bất hiếu, là con sai”. Cái nào đau khổ hơn, nhìn qua là thấy ngay thôi.
Vấn đề 18: Thầy từng nói gia đình nguyên sinh chia làm 5 tầng bậc, cụ thể là 5 tầng bậc nào?
Vũ Chí Hồng: Nhà phân tâm học người Anh Wilfred Bion từng nói, bản chất của mối quan hệ giữa người với người là: ai chế tạo âu lo, và ai dung nạp âu lo.
Theo góc nhìn của tôi, đứa trẻ sinh ra vốn dĩ đã có sẵn một “dung khí” (vật chứa tâm lý), đó chính là tự ngã của nó. Xoay quanh việc dung khí này trở nên lớn hơn hay bị thu nhỏ lại, ta có thể phân định ra 5 tầng bậc khác nhau của gia đình nguyên sinh: Cha mẹ làm cho dung khí của đứa trẻ lớn lên, đó là số phận tốt lành; cha mẹ tạo ra cho đứa trẻ vô vàn âu lo, làm cho dung khí của con teo tóp lại, đó là số phận tồi tệ.
Gia đình nguyên sinh bậc 1: Cha mẹ dung nạp đứa trẻ, mở rộng dung lượng tự ngã của con, giúp con làm mọi việc đạt tới cảnh giới tột cùng. Họ còn cung cấp cho con nguồn tài nguyên phong phú, tạo cơ hội cho con tiếp xúc với những bậc cao thủ trong các lĩnh vực, để con thể nghiệm thế nào là cảnh giới của đỉnh cao. Nhờ vậy, đứa trẻ sẽ hình thành được động lực nội tại, và biết cách thiết lập mối quan hệ sâu sắc với công việc, sự vụ.
Gia đình nguyên sinh bậc 2: Cha mẹ có thể không có năng lực dạy con làm mọi việc tới mức tột đỉnh, nhưng về cơ bản họ làm cho dung khí của đứa trẻ lớn rộng ra. Con cái tạo ra âu lo, cha mẹ dung nạp âu lo, đem lại điểm tựa vững chãi cho con. Đứa trẻ có thể cảm nhận sâu sắc rằng ở bên cha mẹ là nơi hoàn toàn có thể thả lỏng.
Gia đình nguyên sinh bậc 3: Đứa trẻ tự mình dung nạp âu lo. Cha mẹ không đủ sức giúp đỡ, nhưng cũng không can thiệp hay chỉ trích quá đà, không đi công kích, tàn phá hay cướp bóc không gian tâm lý của con, để con tự chịu trách nhiệm về cuộc đời mình. Đứa trẻ có thể tự mình dần dần tạo dựng nên một không gian tâm lý, rồi chủ yếu dùng nó để dung nạp các đề bài sinh mệnh của chính mình.
Gia đình nguyên sinh bậc 4: Cha mẹ là người chế tạo âu lo, luôn soi mói, bới lông tìm vết đứa con của mình, chẳng hạn như đem con so sánh với “con nhà người ta”.
Gia đình nguyên sinh bậc 5: Cha mẹ dùng bạo lực thể xác để đánh gục đứa trẻ, hoặc dùng lời lẽ lăng mạ con cái một cách vô kiêng kỵ. Có người bảo bạo lực tinh thần nghiêm trọng hơn bạo lực thể xác, nhưng thực ra chỉ có bạo lực tinh thần dạng cực đoan mới vượt qua bạo lực thể xác; trong tình huống thông thường, bạo lực thể xác khủng khiếp hơn nhiều, nó sẽ xé nát dung khí của đứa trẻ. Đã vậy tình trạng này còn diễn ra thường xuyên, đồng nghĩa với việc dung khí của đứa trẻ không thể duy trì, liên tục bị đập tan, bị đánh sập, khiến đứa trẻ rơi vào trạng thái hoàn toàn bất lực vì nhận ra mọi cơ chế phòng vệ của mình đều vô tác dụng.
Đối với những bậc cha mẹ bình thường, việc bạn không phá hủy dung khí của con thì thực chất đã là đang giúp đứa trẻ trưởng thành rồi.
Vấn đề 19: Cuốn Tại sao gia đình lại gây tổn thương xuất bản lần đầu trong nước vào năm 2007. Đến nay đã trôi qua 18 năm, cuốn sách vẫn bán chạy không suy giảm. Cuốn sách này đã giúp hàng triệu độc giả dũng cảm đối diện với quá khứ, sống trọn vẹn với bản thân. Giờ đây sách sắp ra bản mới, đối với thế hệ độc giả mới hôm nay, thầy có điều gì muốn nhắn nhủ tới họ không?
Vũ Chí Hồng: Tôi đặc biệt muốn nói rằng, chúng ta cần nhìn thấy sự biến chuyển của thời đại. Cuốn sách này tôi bắt đầu chắp bút từ năm 2005 và viết liên tục cho đến năm 2007. Tôi nghĩ các bạn thế hệ 8x, 9x, 00x hiện nay không hiểu được bối cảnh thời đó, thậm chí nhiều người thuộc thế hệ 6x, 7x có lẽ cũng đã quên mất môi trường trước kia ra sao rồi.
Thực tế là trước năm 2010, môi trường dư luận của chúng ta như thế này: quan điểm chủ lưu là “thiên hạ không có cha mẹ nào sai”, cha mẹ làm gì cũng đúng. Tôi cho rằng đó là một thái cực cực đoan nghiêm trọng, dư luận chủ lưu khi ấy đã trao cho cha mẹ một thứ đặc quyền: Cha mẹ dù có làm tổn thương con cái thế nào đi nữa thì vẫn là đúng.
Trong hoàn cảnh đó, cuốn sách tôi xuất bản mang một sức mạnh chấn động kinh thiên động địa, bởi vì khi ấy chưa từng có ai đứng ra phân tích một cách có hệ thống rằng: “Thiên hạ không có cha mẹ nào sai chính là lời nói dối lớn nhất trần đời”. Kể từ thời điểm đó, người bàn về những chủ đề này ngày càng nhiều, đến nay dường như đã hình thành nên một sự đồng thuận chung.
Nhưng sau khi đã trở thành nhận thức chung, một số người lại đẩy nó sang một thái cực khác, biến thành luận điểm “cha mẹ đều là tai họa”, làm như thể bất cứ vấn đề gì cũng đều do cha mẹ gây ra. Trong bối cảnh ấy, mọi người nảy sinh ác cảm với luồng thanh âm này cũng là điều hoàn toàn dễ hiểu. Nhưng tôi đặc biệt muốn nói rằng, xã hội này phải có nhiều luồng tiếng nói khác nhau, như vậy mới là tốt. Nếu chỉ có độc một tiếng nói bảo “thiên hạ không có cha mẹ sai”, đó là cực đoan; nếu chỉ có độc một tiếng nói bảo “mọi vấn đề đều do cha mẹ tạo thành”, đó cũng là cực đoan. Hiện nay các luồng tiếng nói khác nhau cùng đồng thời tồn tại, tôi nghĩ đây là một trạng thái rất tốt. Lúc này, giữa muôn vàn tiếng nói, mỗi người tự đi lựa chọn âm thanh mà mình muốn lắng nghe, âm thanh phù hợp với bản thân, tôi thấy như vậy là rất tuyệt. Thời đại không ngừng biến chuyển, chúng ta có thể nhìn thấy sự biến chuyển ấy, nhìn thấy sự phát triển ấy, tôi cho rằng đó đã là một bước tiến rất lớn.
Vấn đề 20: Trong suốt 18 năm cuốn sách được phát hành, căn cứ theo những phản hồi nhận được từ độc giả, thầy cảm thấy có sự biến chuyển rõ rệt nào không?
Vũ Chí Hồng: Sự biến chuyển này chắc chắn là có. Chẳng hạn, trước năm 2015, hoặc nói là trước giai đoạn 2016 - 2017, những bạn đọc tiếp cận cuốn sách này, đặc biệt là những người lần đầu tiên tiếp xúc với thuyết gia đình nguyên sinh, nhiều người cảm kích vô cùng. Bởi vì thời điểm đó mọi người phải sống trong một môi trường dư luận thế này: không những cha mẹ đều đúng, mà ngay cả những đau khổ của bản thân cũng đều do chính mình chuốc lấy; tự ngã nát bấy tồi tệ đều là do bản thân không ra gì, không tự xây dựng tốt tự ngã của mình. Lúc đó mọi thứ đều quy về bản thân: cha mẹ không tốt cũng là do tôi không tốt, bản thân tôi kém cỏi lại càng là do tôi không tốt. Thứ tiếng nói ấy quả thực tra tấn con người ta đến cùng cực. Đợi đến khi đọc cuốn Tại sao gia đình lại gây tổn thương, hiểu được thuyết gia đình nguyên sinh rồi họ mới vỡ lẽ: hóa ra tự ngã được hình thành trong mối quan hệ với cha mẹ. Khi ấy họ lập tức nhận được một sự giải phóng khổng lồ; lúc đó rất nhiều độc giả đã cảm nhận sâu sắc điều này và chia sẻ cảm xúc đó với tôi.
Còn hiện tại, rất nhiều bạn khi tiếp cận cuốn sách có lẽ đã hiểu biết khá nhiều về thuyết gia đình nguyên sinh, nên sẽ không còn cảm giác kinh ngạc, thảng thốt như những người lần đầu tiên nghe thấy luồng tiếng nói này trước kia nữa. Bây giờ có rất nhiều người, không chỉ độc giả mà gồm cả một số nhà phê bình, lên tiếng phê phán cuốn sách đã quy quá nhiều trách nhiệm lên cha mẹ, thậm chí là đổ tội cho cha mẹ.
Tôi cho rằng những tiếng nói phê bình này có lý, nhưng trong sách của tôi chưa từng viết như vậy; nếu đọc sách của tôi một cách nghiêm túc, người ta sẽ biết trong đó không hề có lấy một câu nào là quy tội cho cha mẹ cả.
Bởi vì tôi trước sau như một luôn nỗ lực miêu tả mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái đã ảnh hưởng đến tự ngã của đứa trẻ như thế nào một cách như thật, như thị, trung lập và khách quan. Thế nhưng, tôi cảm thấy quá nhiều người dường như đang ở trong một trạng thái tâm lý muốn tìm bằng được một đối tượng để đổ tội: Ban đầu đối tượng họ quy tội là chính mình, do đó họ căm ghét bản thân sâu sắc; tiếp đến đọc được cuốn sách này, nhìn thấy quan điểm như vậy, họ lập tức quay ngoắt sang quy tội cho cha mẹ; về sau phát hiện ra quy tội cho cha mẹ là không tốt, quy tội cho mình cũng chẳng xong, thế là họ lại quay sang quy tội cho tác giả cuốn sách, hoặc quy tội cho mớ lý thuyết này. Những lúc như vậy chúng ta cần phải nhìn nhận lại: nhìn xem tại sao bản thân mình lại dễ dàng đi đổ tội đến thế?
Vừa nhìn thấy một thứ tốt đẹp liền muốn lập tức sở hữu, vừa nhìn thấy điều không tốt liền muốn lập tức thay đổi — đây thực chất là một dạng tự luyến toàn năng. Tâm lý tự luyến toàn năng sẽ dẫn đến sự tổn thương tính tự luyến; mà một khi tính tự luyến bị tổn thương, nó sẽ lập tức biến thành cơn thịnh nộ tự luyến, tiếp tục diễn hóa thành cảm giác nhục nhã xấu hổ, rồi biến tướng thành hành vi đổ tội. Đặc điểm cơ bản của tự luyến toàn năng chính là quá đỗi nóng vội: vừa thấy một thứ tốt đẹp là muốn sở hữu ngay, lập tức và hoàn hảo. Nói thẳng ra, những ai thích đổ lỗi thực sự chỉ mang tâm lý của một đứa trẻ sơ sinh.
Chúng ta cần phải hiểu rằng, thấu hiểu và tiếp nhận còn khó hơn thay đổi rất nhiều. Thấu hiểu và tiếp nhận là tâm lý của người trưởng thành, là tâm lý của sự chín muồi. Chúng ta nhận thấy tất cả những tâm lý thích đổ lỗi, thích tìm kẻ gánh tội kia thực chất đều bắt nguồn từ việc chúng ta quá đỗi nóng vội. Chúng ta quá vội vàng muốn trở thành một người ưu tú, thậm chí muốn thành một người hoàn hảo, và cũng muốn thế giới này phải hồi đáp mình một cách hoàn hảo. Bản thân điều này đã là một ảo tưởng tự luyến toàn năng, mà ảo tưởng này chắc chắn sẽ phải vỡ mộng.
Nếu giữa việc phát hiện vấn đề và thay đổi vấn đề không hề có lấy một khoảng cách nào, điều đó đồng nghĩa với việc hoàn toàn không có một không gian để sáng tạo, cũng không có một không gian mơ hồ; tức là tôi tuyệt đối không chấp nhận sự tồn tại của vấn đề này, cứ muốn lập tức thay đổi nó ngay. Tôi cho rằng một biểu hiện quan trọng của năng lực sáng tạo cao chính là chấp nhận việc từ lúc xác lập mục tiêu cho đến khi thực hiện được mục tiêu là một quá trình đằng đẵng; bởi vì chính trong quá trình đằng đẵng ấy, tôi mới có thể nỗ lực, có thể phát huy, có thể kiến tạo. Những người có sức sáng tạo cao là những người có thể bao dung và tận hưởng trạng thái mơ hồ này, bởi vì chính trong trạng thái mơ hồ, trong trạng thái trung gian ấy, ta mới có thể mặc sức sáng tạo.
Bình luận