top of page

C1

20 giờ trước
40 phút đọc

1. Đóng cửa lại, rời xa sự chân thực


Thế giới bên ngoài tràn ngập địch ý, thế giới bên ngoài quá đỗi xấu xa, vì vậy, tôi đóng chặt cánh cửa lòng mình lại… Thế nhưng, nếu vấn đề không được giải quyết, bạn sẽ ngày càng thu mình cô độc, cảm thấy thế giới bên ngoài cùng cuộc đời mình ngày một tối tăm. Kỳ thực, điều bạn thực sự cần đối diện và xử lý, lại chính là sự địch ý từ nơi nội tại và việc không chấp nhận chính bản thân mình. Những kẻ cô độc khép kín hỡi, trừ phi bạn thực sự tận hưởng nỗi cô đơn, bằng không, nhất định phải mở toang cánh cửa lòng mà bước ra ngoài. Điều đáng sợ nhất khi cô độc là bạn sẽ tự huyễn tưởng người khác và thế giới ngoài kia ra sao, từ đó càng rời xa sự chân thực. Mở rộng cánh cửa lòng, tương tác với tha nhân và thế giới, ắt sẽ đem nội tâm bạn phóng chiếu ra thế giới bên ngoài, rồi đi nghiệm chứng, để rồi lại “hút” thế giới chân thực ấy ngược trở về nội tâm mình. Chính trong các mối quan hệ, trong sự tương tác, tâm tính của con người mới nhận được sự tôi luyện thực sự. Đương nhiên, lời này là dành cho đại đa số mọi người.


Chủ nghĩa hoàn mỹ đến tột cùng luôn gắn liền với một cái “Tôi” cô độc.


Khi bạn chỉ có thể cảm nhận được cái “Tôi”, tức là bạn đang sống trong một thế giới nhất nguyên. Có lẽ xét về căn bản, thế giới này vốn hoàn mỹ, mà người sống trong thế giới nhất nguyên lại đem cái “Tôi” đánh đồng với “thế giới”, thế là vô thức cho rằng cái “Tôi” cũng phải hoàn mỹ. Khi ấy, bạn tả xung hữu đột, vẫy vùng dường như làm gì cũng chẳng đặng, thế nào cũng thấy sai.


Bạn cần phải cảm nhận được sự tàn khuyết trước đã. Song khi bạn cảm nhận được cái “Tôi” vốn tàn khuyết, cũng đồng nghĩa với việc bạn nhìn thấy rằng ngoại trừ “Tôi” ra, vẫn còn có những người khác đang cùng tồn tại. Lúc này, thế giới mới bước vào thế giới nhị nguyên. Bạn không cần phải hoàn mỹ, cũng không thể nào hoàn mỹ. Thứ hoàn mỹ, chính là mối quan hệ — tức khi “Tôi và Bạn” hoàn toàn tương ngộ, sự hoàn mỹ mới thực sự hiển hiện.


“Tôi” là thế giới nội tâm của một con người, còn toàn bộ thế giới bên ngoài có thể xem như là “Bạn”. Vậy thì về mặt bản chất, “Tôi” và “Bạn” đều hoàn mỹ. Thế nhưng muốn thể nghiệm được điều ấy, con người ta phải đi qua muôn dặm non sông. Mà trước khi đạt tới đó, phải trải nghiệm qua đủ mọi nỗi tàn khuyết.


Một mối quan hệ không hoàn hảo còn tốt hơn là sống cô độc trong sự hoàn hảo


Những người sống trong thế giới nhất nguyên luôn mang đủ cảm giác bị bức bách, đối với chính mình, và đối với cả người khác. Phải rồi, dẫu sao họ cũng chỉ cảm nhận được bản thân là trung tâm duy nhất của thế giới, vậy thì cớ sao vạn sự vạn vật (bao gồm cả chính mình) lại không thể thuận theo ý chí của họ? Chỉ khi bước vào thế giới nhị nguyên, họ mới vỡ lẽ rằng: người khác là người khác, bản thân mình chẳng thể cưỡng cầu.


Cho nên dẫu có khó khăn đến mấy, cũng hãy thử bước ra ngoài. Thảng hoặc cô đơn một chút cũng chẳng sao, nhưng nếu cứ mãi duy trì trạng thái cô độc, nỗi cô độc ấy có chăng chỉ vỗ về bạn thuở ban đầu, còn càng về lâu về dài, bạn sẽ nhận ra cục diện bế tắc này càng đi sẽ càng gian nan.


Lối sống tự bế khép mình, hay còn gọi là “ru rú trong nhà” (trạch), chính là việc hoàn tất mọi thứ trong một vòng tuần hoàn nội tại — để mặc những tưởng tượng của đầu não, nghìn trùng cảm xúc cùng những đợt sóng tình cảm sục sôi đều nằm lại trong thế giới của riêng mình, tự tiêu hóa, tự lên men, và rồi thối rữa. Sự liên hệ với thế giới bên ngoài chỉ vỏn vẹn thông qua sự tưởng tượng của đầu não, hoặc qua những cú nhấp chuột máy tính — hai thứ “não” này thực chất là một, đều là sự lẩn tránh những “va chạm” với thế giới hiện thực. Tựa như sự sinh sản đơn tính (vô tính), có điều những sản vật tạo ra rốt cuộc vẫn chỉ luẩn quẩn tuần hoàn và thối rữa trong chính thế giới của riêng mình.


Bạn ngày càng yêu thích đầu não của mình, tin tưởng đầu não của mình… Dần dà, đầu não hoàn toàn khống chế bạn. Một sai lầm thường thấy là: bạn ngỡ rằng đầu não là của bạn, kỳ thực đầu não lại có sinh mệnh của riêng nó. Tình cảm là chuyện của hai người; còn đầu não, chỉ là trò chơi độc diễn của một người. Đầu não phát triển, con người dễ trở nên ưu tú. Bởi lẽ đầu não có thể xử lý êm đẹp những việc mà một cá nhân tự mình cáng đáng được, chẳng hạn như chuyện học hành. Thế nhưng nếu dùng đầu não để diễn giải tình cảm, ắt sẽ nảy sinh vấn đề lớn, sẽ rơi vào sự phỏng đoán chủ quan, nghiêm trọng nhất là phát triển thành chứng hoang tưởng bị hại. Kẻ chỉ dùng đầu não để nhìn thế giới, tư duy trông có vẻ cẩn mật kín kẽ, nhưng thực chất lại hoàn toàn không thể dung nạp thông tin từ người khác, cho nên thứ họ thấy chỉ là thế giới do chính mình huyễn tưởng ra. Vào thuở sơ khai của sinh mệnh, nếu tình cảm quá đỗi thiếu thốn, bản thân quá mực cô độc, thì bất kỳ một kích thích tiêu cực nào cũng đều vô cùng đáng sợ. Dẫu sao, một đứa trẻ sơ sinh chẳng thể tự thỏa mãn bất kỳ nhu cầu nào của mình. Nó sẽ đối đãi với từng kích thích tiêu cực này đến kích thích tiêu cực khác ra sao? Dùng đầu não! Nhiều người nói rằng, ngoảnh nhìn lại quá khứ đau thương, chính đầu não đã giúp họ sống sót. Đây chính là giá trị của đầu não, nhưng đầu não quả thực chỉ là trò chơi của một cá nhân, điều này kìm hãm việc kiến tạo các mối quan hệ. Vì thế, hãy cảm ơn đầu não, nhìn thấu đầu não, và buông bỏ đầu não.


Thế giới chân thực vốn dĩ hỗn độn, dẫu có trật tự, cũng là trật tự tự nhiên thuần khiết (hồn nhiên thiên thành), chỉ có thể ngầm hiểu chứ không thể dùng lời diễn đạt; trong khi thế giới do đầu não tưởng tượng ra lại thường cực kỳ rõ ràng, cực kỳ có trật tự. Nhưng trật tự càng rõ ràng và càng đơn giản, lại càng đồng nghĩa với sự thiên chấp đến đáng sợ. Mọi suy nghĩ xoay quanh tốt và xấu, nếu quá đỗi giản đơn, rành mạch và ngăn nắp, thì thường ẩn giấu một thứ bạo lực rùng mình. Những kẻ quá cô độc, không thể kiến lập mối quan hệ tình cảm với người khác, sẽ dùng đại não để giải mã mọi sự vật bên ngoài. Kết quả là, thế giới mà họ nhìn thấy bị hệ thống hóa quá mức, và cũng tràn đầy địch ý quá mức. Tình cảnh này khi phát triển đến tột cùng sẽ trở thành chứng hoang tưởng bị hại — tức cho rằng có cả một hệ thống mang đầy địch ý đang bức hại mình. Người có hoang tưởng hoặc khuynh hướng này sẽ cho rằng mọi sự vật đều có nguyên nhân rõ ràng hiển hiện, mà thực chất đó chỉ là sự diễn giải quá đà của chính đầu não họ mà thôi.


“Động cơ luận” là một vấn đề thường gặp trong các mối quan hệ giữa người với người. Tức là đối với hành vi do bạn khởi xướng, tôi sẽ xét nét xem động cơ của bạn có thuần khiết hay không. Tương ứng như vậy, tôi cũng sẽ soi xét hành vi và động cơ của chính mình liệu có trong sạch. Thế nhưng nếu quá đỗi bận lòng về động cơ, điều đó đồng nghĩa với việc tôi vô cùng khắt khe với người khác, và cũng vô cùng hà khắc với bản thân. Hậu quả là, có thể tôi đã làm rất nhiều việc, giao tế với người ta không ít, nhưng lại kiệt quệ vô cùng. Hoặc giả, tôi dứt khoát tự cô lập mình, chẳng làm việc gì, cũng chẳng màng giao tiếp với ai.


Cốt lõi của “động cơ luận” chính là: Động cơ của bạn có thuần khiết, tôi mới tiếp nhận bạn kiến lập mối quan hệ với tôi; động cơ của tôi có trong sạch, tôi mới có thể cùng bạn dựng xây mối quan hệ. Sự truy cầu cái “tốt tuyệt đối” này, thực chất là để bài trừ cái xấu. Người mang sự truy cầu ấy sẽ cảm thấy, chỉ cần gợn một chút xấu xa thôi, quan hệ liền không thể nào thiết lập được nữa. Đặc biệt là, nếu động cơ của đối phương vốn xấu, thì bất luận đối phương làm điều gì tốt, người đó cũng đều cảm thấy là giả tạo, đều nhằm mục đích mưu hại người khác.


Sự tự kiểm soát đôi khi sẽ ngăn trở cõi lòng ta một cách trầm trọng, ngăn trở ta mở rộng thế giới của mình để kiến tạo mối quan hệ thân mật cùng người khác. Hiện tượng thường thấy nhất của sự tự kiểm soát chính là: một người sẽ hữu ý hoặc vô ý cài đặt sẵn những “tiến trình”, rồi tự mình theo đúng tiến trình ấy mà từng bước an phận sống qua ngày. Nếu tiến trình bị phá vỡ, họ sẽ thấy vô cùng khó chịu. Kiểu người này nhằm bảo hộ tiến trình không bị xáo trộn, sẽ giảm thiểu việc giao tiếp giữa người với người xuống mức thấp nhất. Song người thân lại sớm tối sống chung, sự giao tiếp chẳng thể cắt giảm, thế là họ có xu hướng kéo luôn người thân vào trong cái tiến trình này, rốt cuộc biểu hiện ra thành sự khống chế từ bên ngoài. Những biểu hiện như “ru rú trong nhà”, khép kín, ít giao du qua lại… thảy đều bắt nguồn từ đây. Để duy trì sự ổn định của tiến trình, họ muốn giảm thiểu sự kích thích, mà kích thích từ các mối quan hệ giữa người với người lại là thứ dễ làm chao đảo tính ổn định của tiến trình nhất, bởi thế họ đành phải cắt giảm giao tiếp với xung quanh.

2. Nơi không có sự hồi ứng, chính là tuyệt cảnh


Không phải mọi sự mệt mỏi đều có thể xoa dịu bằng nghỉ ngơi. Sự mệt mỏi của cô độc, chủ yếu là nội hao — là do trong lòng bạn phân liệt ra một cái “Tôi” trong tưởng tượng và một cái “Bạn” trong tưởng tượng, rồi cả hai không ngừng tranh đấu lẫn nhau mà thành. Sự mệt mỏi như thế không cách nào xoa dịu bằng việc nghỉ ngơi, bởi khi nghỉ ngơi, bạn vẫn chỉ có một mình, thứ mệt mỏi sinh ra từ sự phân liệt nội tâm này vẫn cứ tiếp diễn.


Làm tư vấn tâm lý lâu năm, tôi đúc kết từ các ca tham vấn của thân chủ và nhận thấy một quy luật thế này: Khó liệu trị nhất là những người thiếu vắng các mối quan hệ nhân tế cơ bản, thậm chí dứt khoát cô độc triệt để; khó nhì là những người mà các mối quan hệ chủ yếu mang tính tổn hao; thường thấy nhất là những người sở hữu các mối quan hệ bình thường, tức vừa có tính tẩm bổ, nuôi dưỡng lại vừa có tính tổn hao. Khi bạn sở hữu một trường quan hệ bình thường như vậy, việc tư vấn thực sự tương đối dễ phát huy tác dụng. Khi thân chủ thiếu đi các mối quan hệ cơ bản, họ sẽ xem mối quan hệ tư vấn quan trọng khôn cùng, thậm chí mối quan hệ tư vấn trở thành mối liên kết duy nhất trong sinh mệnh họ. Lúc này, độ khó của việc tư vấn sẽ lớn hơn rất nhiều. Đương nhiên lý tưởng nhất vẫn là sở hữu một trường quan hệ nhân tế lấy các mối quan hệ mang tính nuôi dưỡng làm chủ đạo.


Tại sao lại như vậy? Bởi lẽ người cô độc thì bóng tối nơi nội tâm là nhiều nhất. Có thể nói, người cô độc triệt để, nội tâm về cơ bản đều bị nhân tính hắc ám lấp đầy. Một người như vậy dẫu trên tầng ý thức có nỗ lực đến đâu, trông có vẻ lương thiện thế nào, thì trong tiềm thức của họ vẫn tràn ngập thứ nhân tính hắc ám ấy.


Bạn nhất định phải hiểu rõ quy luật này: Chất lượng mối quan hệ nhân tế mà bạn kiến tạo, cơ bản tương xứng với tỷ lệ giữa bóng tối và ánh sáng nơi nội tâm bạn.


Cô độc triệt để là vì bạn cảm nhận được rằng, nếu kiến tạo mối quan hệ, bạn chỉ có thể dựng nên những mối quan hệ hoàn toàn tăm tối, thế nên bạn dứt khoát chẳng buồn kiến tạo nữa.


Nếu bạn bước ra kiến tạo mối quan hệ, điều đó sẽ hình thành một hệ thống tương tác qua lại (giao hỗ). Bạn đem ánh sáng và bóng tối từ nội tại phóng chiếu ra ngoài, rồi lại đem ánh sáng và bóng tối của thế giới bên ngoài nội nhiếp trở về. Cứ như thế, cõi nội tâm bạn mới có cơ hội được thế giới bên ngoài chiếu rọi.


Trong mối quan hệ có sự lợi dụng, dụ dỗ, tư tâm cùng lòng đố kỵ, nhưng khi mối quan hệ thực sự được kiến lập, tình yêu và điều thiện liền sinh khởi. Ngược lại, cô độc và phong bế lại dẫn tới bóng tối, sự cô độc và phong bế triệt để sẽ sản sinh ra một màn đêm tăm tối toàn phần. Người phong bế tự ngã, kỳ thực là đang phong bế hai thứ: vừa khóa chặt con quỷ bên trong chính mình, đồng thời cũng “cắt đứt” sự tấn công của con quỷ bên ngoài nhắm vào bản thân. Hơn nữa, con quỷ bên ngoài ấy vốn dĩ cũng chính là con quỷ nội tại đang phóng chiếu ra ngoài.


Kết nối là thiện, tâm linh hô ứng và sống trọn vẹn trong hiện tại là chí thiện, còn “cắt đứt” liên kết sẽ chuốc lấy bóng tối. Người càng cô độc, bóng tối nơi nội tâm càng nhiều. Họ vì khiếp sợ bóng tối nội tại mà quay sang làm người tốt. Thế nhưng một người tốt cô độc một khi đã “bộc phát” bóng tối ra, thì rất dễ mang tính hủy diệt.


Nếu bạn cô độc triệt để, đồng nghĩa với việc bạn đã vùi dập cho sinh mệnh lực của mình bị “ủ thối” hoàn toàn; ánh sáng trong lòng chỉ dựa vào tưởng tượng, còn bóng tối nội tại lại mất đi cơ hội tương tác với bên ngoài. Động lực sinh mệnh của bạn nếu không nhận được sự hồi ứng cơ bản, sẽ biến thành năng lượng đen tối. Thế là, khi bạn chìm đắm trong cô độc, chẳng những ánh sáng không tăng thêm, mà năng lượng đen tối của bạn cũng ngày một chất chồng.


Nơi không có sự hồi ứng, chính là tuyệt cảnh. Những người lớn lên trong tuyệt cảnh ấy, khi mối quan hệ thiếu vắng sự hồi ứng (chẳng hạn đối phương không kịp thời phản hồi lại mình), sẽ theo quán tính mà nhận định rằng đối phương không thích mình. Nhưng phần lớn điều đó không phải là thật, chỉ cần đi câu thông sẽ nhận ra, đối phương chẳng qua chỉ đang bận việc riêng của họ mà thôi. Nếu thời thơ ấu của bạn từng trải qua nhiều hoàn cảnh thiếu vắng sự hồi ứng, thì việc tự nhắc nhở bản thân điểm này là vô cùng quan trọng: Bạn rất dễ đem việc đối phương không kịp thời hồi ứng quy chụp thành việc đối phương ghét bỏ mình.


“Bạn tồn tại, cho nên tôi tồn tại.” Ý nghĩa nguyên bản của câu triết ngôn này là: Thượng đế tồn tại, cho nên tôi tồn tại. Nó có thể mở rộng thành: Thanh âm tôi phát ra nhận được sự hồi ứng mang tính hiện diện (lâm tại tính) của bạn, thế là tiếng nói của tôi đã tồn tại, và tôi cũng có được cảm giác tồn tại. Chất lượng của sự hồi ứng chính là căn bản cho chất lượng của mối quan hệ nhân tế.


Bất luận bạn tốt đẹp đến đâu, hy sinh vì người khác nhiều dường nào, tài hoa ra sao, lắm tiền nhiều của bực nào, năng lực xuất chúng bao nhiêu… chỉ cần bạn không thể trao đi một sự hồi ứng có chất lượng, mối quan hệ nhân tế của bạn — đặc biệt là quan hệ thân mật — tất sẽ xảy ra vấn đề lớn. Cho nên, hãy thử tu tập điều này. Đồng thời, việc phát ra tiếng nói có cảm xúc của chính mình, bộc lộ dục cầu của bản thân cũng quan trọng không kém gì việc trao đi một sự hồi ứng chất lượng.


3. Phương thức thực sự để xoa dịu mệt mỏi, là bước vào mối quan hệ


Quá nhiều người cảm thấy thế giới bên ngoài tăm tối hơn nội tâm mình, thậm chí cho rằng nội tâm mình lương thiện, quang minh, còn thế giới bên ngoài lại xấu xa, đen tối. Khi nghĩ như vậy, chính là sự tự luyến đang phát huy tác dụng, đó là một sự tự vệ (tự khi dối mình) to lớn. Khi bạn dần dần dấn sâu vào thế giới bên ngoài, đồng thời cũng ngày càng thấu hiểu thế giới nội tâm của chính mình, bạn sẽ thấy rằng thế giới hiện thực bên ngoài vốn mang tính trị liệu, hơn nữa độ sáng dường như còn tốt hơn cả cõi lòng bên trong bạn.


Tóm tắt giản đơn là: Người quá cô độc chớ nên tùy tiện thốt ra rằng: “Mối quan hệ nhân tế khiến tôi thất vọng, bởi lẽ giao tế giữa người với người thảy đều mang tính tổn hao, nên tôi muốn ở lại một mình.”


“Bạn tồn tại, cho nên tôi tồn tại.” Căn bản của mối quan hệ chính là bạn có được một tấm gương, có thể soi tỏ mình là ai, rồi mượn tấm gương ấy mà nhận biết bản thân, mở rộng chính mình. Mối quan hệ với tư cách là tấm gương vốn dĩ chân thực; trong khi sự tự nhận thức trong cô độc thường chỉ là tưởng tượng, lại còn là do tự mình vẽ ra, hoàn toàn thiếu đi tác dụng tương tác hỗ trợ.


Cho nên, phương thức thực sự để xoa dịu mệt mỏi, chính là bước vào mối quan hệ. Mối quan hệ ở đây gồm hai loại: quan hệ giữa bạn với con người, và quan hệ giữa bạn với công việc, sự vụ. Sự mệt mỏi nảy sinh trong mối quan hệ hoàn toàn có thể xoa dịu thông qua nghỉ ngơi. Song, dẫu là mệt mỏi trong mối quan hệ, thường cũng không thể chỉ cậy nhờ vào việc đơn độc nghỉ ngơi mà nguôi ngoai. Khi nghỉ ngơi, bên cạnh bạn vẫn cần có những người đáng tin cậy. Con người là động vật của các mối quan hệ, lời này quả không sai.


Bạn nhất định phải dốc hết sức lực ra, bất luận là trong mối quan hệ với người mình yêu, hay trong mối quan hệ với công việc sự vụ.


Sinh mệnh khởi hành từ tự luyến, rồi sau đó là một quá trình không ngừng phá vỡ tự luyến (phá tự luyến). Điều này nói thì dễ, làm được mới muôn vàn khó khăn. Cảm giác như sự trưởng thành của quá nhiều người lại là không ngừng tích tụ tự luyến, để rồi ngày càng tự cảm thấy mình tốt đẹp, rốt cuộc lại bị vây khốn trong nỗi cô đơn. Thậm chí, họ còn có thể chẳng hề hay biết gì về điều đó.


4. Toàn năng tự luyến ngăn trở mối quan hệ


Tự luyến là mưu cầu kéo người khác vào trong hệ thống của mình; yêu người là tình nguyện đặt mình vào trong hệ thống của đối phương; còn chân ái, là khi hai con người cùng bước ra khỏi hệ thống của riêng mình để tương ngộ.


Mỗi một đứa trẻ sơ sinh, thuở ban đầu đều ngỡ mình là thần linh, vạn vật đều cùng mình hòa làm một thể, mọi sự đều vận chuyển theo ý chí của mình. Tình yêu giúp đứa trẻ bước ra khỏi phần tự luyến nguyên thủy ấy, bắt đầu nhìn thấy những người khác cũng là những tồn tại độc lập giống như mình, từ đó mới bắt đầu thực sự tôn trọng ý chí của người khác. Yêu, chính là liên kết; còn những kẻ luôn đắm chìm trong nỗi cô độc nguyên thủy, có thể coi là những kẻ đứt gãy liên kết (thất liên). Mức độ thất liên càng trầm trọng, họ lại càng cảm thấy bản thân mình tựa như thần thánh.


Kẻ mang thứ tự luyến tựa thần linh, ngoại giới bắt buộc phải thuận theo ý chí của họ, bằng không họ sẽ nảy sinh cảm giác mất kiểm soát và bị mạo phạm nghiêm trọng. Là những kẻ thất liên, họ không thể nghĩ cho đối phương, không thể thấu hiểu hay lượng thứ cho người khác, mà chỉ cảm thấy đối phương đang cố tình đối đầu với mình, để rồi từ đó trở nên bạo nộ, hận không thể hủy diệt đối phương, thậm chí là hủy diệt tất cả. Rất nhiều hành vi bạo lực đều bắt nguồn từ điểm này.


Những kẻ quá mức đè nén bản thân, thậm chí quá đỗi thật thà nhút nhát, thực chất cũng thường là những người ôm ấp thứ tự luyến tựa thần linh. Họ cũng thường trực những cảm xúc bạo nộ, nhưng vì giao tế nhân sinh, cũng vì chính họ cũng khiếp sợ cơn thịnh nộ này, nên đã chọn cách đè nén sự bạo nộ xuống. Để rồi một khi mất kiểm soát, họ có thể gây ra những hành vi bạo lực mang tính hủy diệt.


“Có qua có lại, không nợ ân tình của ai”, đây cũng là một trong những vấn đề do sự thất liên gây ra. Có những người khách sáo đến quá mức, thâm tín vào câu “ơn một giọt nước, trả một dòng suối”. Ít nhất thì người ta cho đi một phần, bản thân cũng phải canh cánh trả lại một phần, bằng không sẽ bức bối khó chịu đến cùng cực. Sự khó chịu ấy thực chất là do tự luyến bị tổn thương: Người tốt, đặc biệt là thần linh, thì tuyệt đối không được nợ nần ai cái gì, nợ là không còn hoàn hảo nữa rồi. Thứ khách khí này sinh ra từ cô độc, để rồi lại tiếp tục giam cầm họ trong chính sự cô độc.


Không hề có một đứa trẻ sơ sinh đơn độc, chỉ có mối quan hệ mẹ - con (mẫu anh quan hệ). Nếu đứa trẻ ở trong một mối quan hệ mẹ - con tốt đẹp, thì khi nhìn nhận vấn đề, nó sẽ xem mẹ và con là một chỉnh thể. Nhưng nếu quá mực cô độc, họ sẽ cắt lìa mối quan hệ mẹ - con ấy ra, cảm thấy mình và mẹ là hai cá thể tách biệt, phải có qua có lại sòng phẳng, như thế bản thân mới là một “người tốt cô độc”.


Mối quan hệ mẹ - con sinh động và dồi dào năng lượng lưu chuyển sẽ khiến đứa trẻ cảm thấy mình và mẹ hòa làm một, và điều cốt yếu là có thể khiến đôi bên cùng vui vẻ, như vậy đã là đủ tốt. Nhưng nếu thiếu đi sự lưu chuyển và liên kết, đứa trẻ sẽ phớt lờ đi mấu chốt dòng chảy năng lượng trong mối quan hệ, mà quay sang truy cầu cái “tốt” bề ngoài: tức bạn cho đi, tôi cũng phải đền đáp.


Người chưa từng thể nghiệm trọn vẹn sức sống lưu chuyển trong các mối quan hệ sẽ rất lo âu khi thiết lập quan hệ, và ra sức dò xét, nắm bắt thông tin của đối phương — điều này đôi khi lại khiến phản ứng của họ trở nên có phần trì trệ, rồi sau đó họ lại căng thẳng suy tính xem mình phải ứng đối ra sao. Khi chưa tự giác tri được điều này, rất nhiều người thậm chí còn không hề hay biết bản thân đang căng thẳng.


Xem sắc mặt, dò ý tứ (sát ngôn quan sắc) hoàn toàn không phải là thấu cảm (cộng tình), mà chỉ là sự suy đoán của đầu não. Nó hầu như không chạm tới được cảm xúc của đối phương, bởi lẽ đương sự chủ yếu sử dụng logic tư duy. Thứ tình cảm trong đó thực chất là sự lo âu và sợ hãi của chính bản thân đương sự, họ còn rất dễ hướng sự việc theo chiều hướng tồi tệ. Đó thực ra là do thuở nhỏ đương sự phải sống trong sự bất an cao độ hoặc cô độc, khó kiến lập mối liên kết tình cảm với người khác, thành thử chuyển sang dùng tư tưởng để thiết lập quan hệ với đối phương. Vì thế, cái gọi là “phán đoán” thảy đều là tưởng tượng, thậm chí là hoang tưởng.


Trong mối quan hệ, chúng ta ắt sẽ đưa ra phán đoán về người khác, điều này dẫn tới một vấn đề: Bạn tin chắc đến mức nào về những phán đoán của mình đối với người khác? Quá tin chắc sẽ mang lại cảm giác chắc chắn và cảm giác khống chế, nhưng cũng bóp chết các khả năng. Hơn nữa, điều đó đồng nghĩa với việc cưỡng ép áp đặt lên người khác, là một sự xâm nhập. Vì thế, dẫu cho phán đoán của bạn có đúng, đối phương cũng sẽ nảy sinh chán ghét. Huống chi, phán đoán của bạn rất có thể là sai lầm.


Đối lập với sự chắc chắn chính là sự mơ hồ. Mơ hồ dễ khiến người ta bất an và lo âu, nhưng nó cũng hàm chứa những tiềm năng. Một thước đo quan trọng của sức sáng tạo chính là năng lực dung nạp sự mơ hồ. Bởi lẽ chắc chắn đồng nghĩa với tự luyến, đồng nghĩa với việc sống rúc trong đầu não của chính mình, điều này tự nhiên sẽ “làm tổn thương” sức sáng tạo. Còn mơ hồ lại là để cho bản chất của sự vật và con người được tự nhiên hiển hiện, điều này dĩ nhiên bao hàm năng lực sáng tạo.


Nếu quá đốc định vào phán đoán của mình, điều đó đồng nghĩa với việc bạn chỉ đang liên hệ với chính đầu não của mình, chứ không hề kiến lập mối quan hệ với một con người chân thực. Vậy thì phải làm sao? Nguyên tắc ở đây là: câu thông và làm rõ. Hãy nhớ rằng phán đoán của bạn dù thế nào đi nữa cũng chỉ là giả thuyết, những suy nghĩ của bạn về người khác nhất định phải nhận được sự xác nhận từ đối phương, khi ấy nó mới có thể là sự thật. Điều này gọi là “năng lực kiểm nghiệm hiện thực”. Nếu không kiểm nghiệm mà đã vội xem là thật, sẽ rất dễ biến thành hoang tưởng.


Việc bản thân quá tin chắc vào phán đoán về người khác chính là tàn dư tâm lý từ thời sơ sinh. Thời kỳ ấu thơ sớm có hai tâm lý trọng yếu: “toàn năng tự luyến” và “ngươi - ta bất phân” (không phân biệt mình và người khác); tức là đứa trẻ cảm thấy mình không gì không làm được, đồng thời lại không cảm nhận được sự dị biệt giữa bản thân và mẹ, nó cảm thấy mình và mẹ hòa làm một thể. Mẫu anh nhất thể kết hợp cùng toàn năng tự luyến sẽ biến thành suy nghĩ: “Bạn nghĩ gì, tôi chẳng cần hỏi cũng biết tỏng.”


Nếu bạn rất vụng về trong giao tế nhân sinh, hãy quan sát kỹ chính mình, bạn sẽ thấy ẩn giấu một thứ logic thế này: Tôi bộc lộ một khát khao đối với bạn, nếu bạn thỏa mãn khát khao ấy của tôi, vậy thì quá tốt; nếu không được thỏa mãn, khát khao của tôi lập tức sẽ biến thành bạo nộ. Tôi không dám bộc lộ sự bạo nộ ra ngoài nhắm vào bạn, thế là liền quay sang công kích nội tại chính mình: “Nhìn mày xem cái đồ ngốc này (hoặc đồ ngu xuẩn này, hay đồ không biết trời cao đất dày là gì), sao mày lại trơ trẽn không biết xấu hổ thế hả!”


Tự luyến tính bạo nộ (cơn thịnh nộ tự luyến) mới chính là sự biểu đạt chân thực của tính yếu đuối mong manh. Bạo nộ hướng ra ngoại giới sẽ biến thành sức phá hoại nhắm vào thế giới bên ngoài; hướng vào nội tại sẽ biến thành sự tự tàn phá chính mình, tức là sự yếu đuối. Kẻ bạo nộ và kẻ yếu đuối thực ra đều chung một lối nghĩ cứng nhắc một chiều. Năng lượng khi họ phát ra khát vọng chỉ có thể “đi trên cầu độc mộc”: hoặc là được thực hiện, khi ấy trải nghiệm được sinh mệnh; bằng không sẽ là bị cự tuyệt, khi ấy liền biến thành sức mạnh của cái chết, tức dục vọng phá hoại. Trong sự bạo nộ ẩn giấu tự luyến: “Thế giới phải vận hành theo ý muốn của ta, bằng không, đi chết hết đi!”


Rất nhiều người sau khi bị tổn thương tình cảm sẽ chấp niệm truy cầu: “Bạn nhất định phải xin lỗi tôi, hơn nữa phải tràn đầy thành ý, phải đạt đến kỳ vọng trong lòng tôi, rồi tôi mới ở thế trên cao mà rộng lòng tha thứ cho bạn.” Đây chính là thứ mang tính sát thương ghê gớm nhất trong một mối quan hệ.


Con người ta ai cũng vừa tự luyến vừa mong manh yếu đuối. Người chấp niệm bắt người khác phải xin lỗi là để bảo vệ sự tự luyến của bản thân; nhưng người khác nhằm bảo vệ lòng tự tôn của họ, cũng sẽ chẳng đời nào chịu cúi đầu tạ lỗi với bạn theo kiểu ấy. Cho dù đối phương có xin lỗi đi chăng nữa, cũng không thể nào đạt tới trạng thái tràn đầy thành ý như bạn hằng mong đợi. Hãy tôn trọng sự tự luyến của người khác y như cách bạn tôn trọng chính mình; hãy bao dung sự yếu đuối của người khác y như cách bạn bao dung chính mình.


Vì tình cảm bị tổn thương sâu sắc mà chấp niệm bắt đối phương xin lỗi hoặc muốn trả thù đối phương, điều này đều dễ hiểu; thế nhưng thường thấy là, có những người chỉ vì một chút cãi vã nhỏ nhặt mà đòi hỏi đối phương phải chân thành tạ lỗi, đó là do nội tâm của chính họ quá đỗi mong manh yếu đuối mà ra. Dường như chỉ gặp một xung đột cỏn con, cả con người họ liền bị xé toạc, thế nên mới đòi đối phương phải nhận sai và cam đoan lần sau không tái phạm, ngỡ như làm vậy thì vết rách toạc kia mới có thể được khâu vá lại.


Đối với những người đang mắc kẹt trong toàn năng tự luyến, xin lỗi đồng nghĩa với sự sụp đổ của cảm giác toàn năng, đồng nghĩa với sự tan rã của tự ngã, thế nên họ rất khó chủ động nói lời xin lỗi. Hơn nữa, bất kỳ biến cố ngoài ý muốn nào, bất kể lớn nhỏ, họ đều phải tìm người để quy tội. Mà đứa con lại chính là đối tượng dễ bị cha mẹ quy tội nhất: an toàn, và chẳng cần phải lo sợ bị trả thù.


5. Tự luyến trong mối quan hệ thân tử (cha mẹ - con cái)


Đối với trẻ sơ sinh và ấu nhi sống sâu sắc trong toàn năng tự luyến, chúng có một niềm khát khao mãnh liệt: Tôi làm thế nào cũng đều đúng cả. Chúng cần một tấm gương soi chiếu cho mình điều ấy — dường như con hoàn hảo về mọi phương diện. Nhà phân tâm học Kohut gọi đây là “kính ánh” (soi gương / phản chiếu). Điểm này người mẹ tương đối dễ làm được; khi người mẹ làm được điều đó, cũng đồng nghĩa với việc mẹ và con ở một mức độ tương đối đã hòa làm một thể (dung hợp).


Mấu chốt không nằm ở chỗ hòa làm một thể, mà là trong tình huống này, động lực của đứa trẻ mới có thể tùy ý bung tỏa, vươn dài ra mà không hề sợ hãi. Điều này có nghĩa là năng lượng của chúng không còn bị uất nghẹn bên trong tự thể (Self), mà đã có thể tuôn chảy sang phía khách thể (Object). Đây chính là sự khởi đầu của mọi thứ.


Đây là một giai đoạn quý báu, nhưng sinh mệnh sẽ không dừng lại ở nơi này. Cùng với năng lực ngày càng lớn mạnh, đứa trẻ sẽ càng lúc càng khao khát độc lập. Và dần dà, người cha cũng bước vào trong mối quan hệ này. Lý tính, cảm giác về trật tự của người cha tựa như một lực lượng mang tính chia cắt, sẽ tách mở mối liên kết mang tính dung hợp giữa mẹ và con ra, thậm chí đôi khi còn “cắt đứt”. Lúc này, giữa mẹ và con xuất hiện khe hở, rồi dần dần biến thành có được không gian.


Sự trưởng thành của tâm lý là một quá trình phức tạp, nó không đơn thuần dừng lại ở một chỗ. “Soi chiếu” mang tính dung hợp ban đầu là vô cùng quan trọng. Thiếu đi điều này, động lực của đứa trẻ căn bản không thể vươn tỏa ra được. Đó là khởi đầu quý giá, nhưng cũng chỉ là bước đầu của sự trưởng thành; tâm lý còn cần phải hướng tới sự phân ly, hướng tới sự phức tạp, và hướng tới sự độc lập.


Giữa cha mẹ và con cái, nếu nói về tình yêu, phát triển chủ yếu trên bình diện (duy độ) tình cảm, thì bình diện tình cảm vốn dĩ bình đẳng. Thế nhưng, điều chúng ta nhấn mạnh lại là sự “thuận”, con cái phải nghe lời cha mẹ. Điều này lại nhấn mạnh vào bình diện sức mạnh, tức quan hệ quyền lực dựa trên mạnh yếu. Làm tư vấn lâu năm, tôi nhận thấy trong một số mối quan hệ gia đình của xã hội chúng ta, đấu tranh quyền lực lại là tuyến chính, còn tình cảm thì quá đỗi thiếu thốn.


Quá nhiều người không thể đánh giá bản thân một cách khách quan, như thực; tấm gương nội tại của họ dường như không thể soi chiếu được họ rốt cuộc là ai, họ ra sao. Điều này thường là do ngay từ thuở ấu thơ, cha mẹ và những người nuôi dưỡng họ đều sống trong sự tự luyến nồng đậm, căn bản không có hứng thú, cũng chẳng có năng lực để nảy sinh sự quan tâm hứng thú thực sự đối với con cái.


Những bậc cha mẹ và người nuôi dưỡng quá mức tự luyến vẫn còn đang mải miết mưu cầu sự phản chiếu và hồi ứng của người khác đối với chính mình, đặc biệt là sự chú ý và hồi ứng tích cực từ những đứa con mà họ có thể khống chế; thế nhưng đứa trẻ tự thân nó là người ra sao, họ lại không có năng lực nhìn thấy, thậm chí thiếu vắng cả sự quan tâm cơ bản.


Cha mẹ cùng những người nuôi dưỡng là tấm gương ban đầu của đứa trẻ, song nơi những kẻ quá đỗi tự luyến, bạn không thể trông mong tấm gương ấy soi rõ hình dung của bạn. Bởi thế, bạn cũng khó lòng nội hóa được một tấm “gương nội tại” phẳng lặng, sáng tỏ.


Những bậc cha mẹ như vậy khi cái gọi là “giáo dục con cái”, thực chất là răn dạy, giáo huấn để truyền đạt cảm giác quyền lực của mình: chuyện của mày, tao định đoạt, bằng không sẽ giáng xuống chút lôi đình thịnh nộ. Cho nên, cái sai lớn nhất của đứa trẻ chính là đã mạo phạm cảm giác uy nghiêm — tức sự tự luyến — của kiểu phụ huynh này. Những bậc phụ huynh ấy ngỡ rằng mình có thể làm thần, chí ít là trước mặt đứa con nhỏ bé yếu ớt. Những phụ huynh quá dễ nổi giận với con cái rất nên nhìn nhận lại điểm này ở chính mình.


6. Tranh cao thấp với người khác trong mối quan hệ


Đứa trẻ đối với cha mẹ, đặc biệt là trẻ sơ sinh đối với bầu vú mẹ, có một sự tật tiện (ghen tị / đố kỵ ngưỡng mộ) nguyên thủy: mẹ sở hữu mọi kho báu, còn con thì bắt buộc phải nương tựa vào mẹ. Đây chính là vấn đề ai cao ai thấp nguyên thủy nhất. Vài tháng đầu sau khi chào đời, đứa trẻ sống trong toàn năng tự luyến và sự cộng sinh. Khi được mẹ chăm sóc chu đáo, nó tự đại vô cùng, cảm thấy mình là thần linh. Nhưng sự ngông cuồng vô điều kiện ấy lại được xây dựng trên ảo giác cộng sinh rằng mẹ và nó là một thể. Một khi đã có năng lực hiện thực, nó nhận ra mẹ là mẹ, bản thân là bản thân, ảo giác này lập tức vỡ vụn. Đứa trẻ sẽ nhận thấy mẹ thật phi phàm, mẹ tựa như thần linh. Lúc này, nó sẽ ý thức được sự nhỏ bé hèn mọn của mình, còn người mẹ thì vô cùng cường đại.


Ý thức được người mẹ cường đại tựa thần linh, đứa trẻ liền đối diện với một lựa chọn mấu chốt: nếu mẹ là vị thiện thần yêu thương nó, nó tình nguyện chủ động cúi đầu trước mẹ; còn nếu mẹ là ác thần, dẫu nó có cúi đầu thừa nhận mẹ cường đại thì cũng chỉ là bị ép buộc, trong khi thâm tâm nó vẫn muốn giữ lại cảm giác tự luyến nguyên thủy — ta mới là kẻ đỉnh nhất, cừ khôi nhất.


Sau khi cúi đầu trước người mẹ thiện thần, đứa trẻ học được lòng biết ơn, và nhờ kiến lập được mối quan hệ tràn ngập tình cảm với mẹ, sai biệt cao thấp liền không còn rõ rệt nữa. Cứ như thế, cảm giác bình đẳng thỏa đáng cũng bắt đầu được thiết lập. Nhưng nếu khi chăm sóc con cái, người mẹ tỏ ra miễn cưỡng, hoặc chăm sóc vô cùng tắc trách, sơ sài, mà đứa trẻ lại biết rõ bản thân buộc phải nương tựa vào mẹ, nó sẽ nảy sinh lòng tật hận (ghen ghét, căm hận) đối với sự cường đại của mẹ.


Những người nuôi dưỡng như cha hoặc mẹ nói ra những câu thế này là vô cùng chí mạng: “Bố mẹ nuôi sống mày đấy.” Câu nói này cứ liên tục nhắc nhở đứa trẻ: “Mày không những nợ bọn tao, mà còn chẳng mạnh bằng bọn tao, mày bắt buộc phải nghe lời bọn tao”. Đứa trẻ sẽ học cách cúi đầu trước sức mạnh và quyền thế của cha mẹ, nhưng hễ có cơ hội, nó cũng sẽ tạo phản.


Nhằm duy trì sự tự luyến, đứa trẻ cần một cảm giác có phần “lang tâm cẩu phế” (vô tâm vô phế /vô ơn): Con là con của bố mẹ, thế nên con ăn của bố mẹ, uống của bố mẹ, con chẳng thấy mình thấp kém, ai bảo con là máu mủ của bố mẹ cơ chứ. Nuôi gửi ở nhà người khác, đứa trẻ sẽ rất khó có được cảm giác này, bởi vậy mới sinh ra cảm giác thấp kém vì phải sống cảnh ký nhân ly hạ (ăn nhờ ở đậu). Bất luận đối phương đối đãi với nó tốt đến đâu, cảm giác ấy vẫn luôn tồn tại.


Sự tự luyến của đứa trẻ nếu trầm trọng hơn sẽ dẫn tới cảm giác này: Tôi ăn của các người, uống của các người, nhưng tôi còn phải ngồi cưỡi trên đầu trên cổ các người. Đây chính là cái gọi là “tiểu hoàng đế”. Đứa trẻ đương nhiên biết mình vô lý, bởi một khi không còn ảo giác cộng sinh, nó biết mình phụ thuộc vào cha mẹ, thế nên nó buộc phải tự khí (tự dối lòng) mới có thể tiếp tục tự đại. Phần tự dối lòng này sẽ biến thành vấn đề tâm lý.


Chúng ta xưa nay không chuộng bình đẳng, ngược lại có thể hiểu là, trong các mối quan hệ của chúng ta đâu đâu cũng giấu giếm chuyện ai cao ai thấp, ai là người định đoạt, ai nắm giữ quyền lực, ai là kẻ phải phục tùng. Khi bị tri giác này chi phối, nhưng về cơ bản lại chẳng thể sống ở vị thế cao ngoài xã hội, một số bậc cha mẹ đặc biệt cần phải thông qua việc ức hiếp con cái để tìm kiếm cảm giác tồn tại, thế nên họ không thể rời bỏ đứa con.


Bản chất vẫn là vì tự luyến. Khi quá đỗi tự luyến, người ta sẽ khát khao thế giới bên ngoài phải hồi ứng lại mọi âm thanh mình phát ra, mà việc nắm giữ quyền lực lại có thể bảo đảm cho điều này được hiện thực hóa ở mức độ lớn nhất, bởi thế con người mới đuổi theo sự cao thấp trong các mối quan hệ, tức quyền lực.


Khi không thể thể nghiệm được tình yêu, con người sẽ tranh cao thấp trong các mối quan hệ, và cố gắng duy trì cảm giác kiểm soát (khống chế cảm) cùng ý thức chủ thể (chủ thể cảm) nơi vị thế bề trên. Có rất nhiều cách để tranh giành điểm cao chế ngự trong mối quan hệ, chẳng hạn như “Tôi rất giỏi giang”. Lại có những phương thức tranh đoạt vi tế hơn, như là “Tôi là người tốt”.


Có một người phụ nữ, mỗi khi đến một môi trường làm việc mới đều cảm thấy sếp và đồng nghiệp bắt tay nhau ức hiếp mình, song hễ thực sự có ai đối tốt với cô, cô lại cảm thấy rất không quen. Cho nên, thứ cô mưu cầu hoàn toàn không phải là người khác đối xử tử tế với mình, mà là một cảm giác ưu việt: Các người là kẻ xấu, tôi là người tốt, vì vậy tôi mạnh hơn các người.


Rất nhiều người trong mối quan hệ chẳng bao giờ đưa ra bất kỳ yêu cầu nào, họ dùng chính phương thức ấy để duy trì tính chủ thể của mình trong mối quan hệ.


Lại có những người mãi mãi không chịu bỏ qua lỗi lầm của đối phương, hễ cãi vã là lôi lỗi lầm trong quá khứ của người kia ra nói. Làm vậy là nhằm phá hủy lòng tự tôn của đối phương ngay tại thời khắc ấy, để duy trì cảm giác ưu việt của chính mình.


Chỉ khi cảm nhận được trong mối quan hệ có nhiều tình yêu và niềm vui, thì trò chơi quyền lực mới thuyên giảm. Nếu một người chỉ cảm thấy mối quan hệ tràn ngập sự tranh giành quyền lực, họ sẽ bất chấp tất cả để tranh đoạt chủ thể cảm, khống chế cảm hoặc cảm giác ưu việt. Nếu tranh không được, họ sẽ cảm thấy vô cùng xấu hổ nhục nhã.


Mối quan hệ thân tử là một cơ hội học tập vô cùng tuyệt vời. Cha mẹ dĩ nhiên mạnh hơn con cái, đứa con cũng nợ cha mẹ quá nhiều; nếu cha mẹ có thể để đứa trẻ thể nghiệm được tình yêu cùng niềm vui trong mối quan hệ thân tử, thì đứa trẻ có thể buông bỏ sự tranh đoạt này. Song nếu cha mẹ quá say mê tranh giành quyền lực, đứa trẻ sẽ chẳng thể nào vượt qua được cửa ải ấy.


Việc truy cầu tự luyến, cao thấp và quyền lực, căn bản vẫn là vì nỗi lo âu về cái chết (tử vong tiêu lự). Khi vị thế của tôi cao hơn bạn, sức mạnh của tôi lớn hơn bạn, thì khả năng tôi trừ khử bạn sẽ lớn hơn khả năng bạn trừ khử tôi.


Có tình yêu thì mới có sự bình đẳng (không phải trên bình diện vật chất hay khách quan, mà là về mặt tình cảm). Thiếu vắng tình yêu, tất yếu sẽ tranh cao thấp, và sự bình đẳng về mặt tình cảm cũng theo đó mà không còn sót lại chút gì. Trong gia đình nếu thiếu thốn tình yêu, ắt sẽ xuất hiện tình trạng tranh cao thấp vô cùng trầm trọng. Như thế sẽ sinh ra ba kiểu người cha: kẻ thất bại không dám tranh, nhu nhược; kẻ bá đạo dám tranh giành; và kẻ tổng hòa cả hai: bên ngoài nhu nhược, về nhà bá đạo.


Tranh cao thấp là vì tự luyến, cũng là cuộc tranh giành quyền lực. Khi trở nên trầm trọng, nó sẽ rất nguy hiểm. Một xã hội như vậy sẽ có quá nhiều người mang nhân cách lấy lòng (thảo hảo hình nhân cách). Đó là việc đem cái sức tranh cao thấp của mình giấu kín đi, cam lòng chịu thua ngay từ ban đầu để sống cho an toàn hơn chút đỉnh; song hễ có cơ hội bước lên vị thế bề trên, kiểu người này sẽ tự luyến hơn bất kỳ ai.


7. Nhân cách lấy lòng (Thảo hảo hình nhân cách)


Người mang nhân cách lấy lòng khi mới vừa thiết lập quan hệ với bạn sẽ biểu hiện siêu cấp nhiệt tình, siêu cấp chịu hy sinh cống hiến, hoặc đưa ra những đánh giá tốt đẹp tột cùng về bạn. Nếu gặp phải người như vậy, tốt nhất nên có đôi chút phòng bị, bởi vì họ rất dễ chuyển sang cực kỳ thất vọng về bạn, đưa ra những lời phán xét tệ hại cùng cực, thậm chí nảy sinh nỗi oán hận ngút ngàn.


Hàm ý sâu xa của tầng logic này là: Tôi cực kỳ tốt, nên bạn không thể cự tuyệt tôi; bạn cực kỳ tốt, nên không thể cự tuyệt tôi. Đó chính là nỗi sợ hãi bị cự tuyệt. Một khi trong mối quan hệ xuất hiện thông điệp mang tính cự tuyệt, cái “xấu” liền lộ diện; mà cái “xấu” thì bắt buộc phải bị tiêu diệt, từ đó phái sinh ra tính phá hoại.


Lúc này, bạn cần phải giữ khoảng cách thích hợp với họ, để họ ngay từ đầu đã cảm nhận được sự tồn tại của khoảng cách. Bằng không, nếu bạn hùa theo họ, tạo cho họ ảo giác khiến họ ngỡ rằng bạn và họ đã vô cùng thân thiết, thậm chí như người nhà, thì đến lúc bạn muốn giữ khoảng cách, họ sẽ rất dễ tổn thương, thậm chí bạo nộ.


Hào phóng mù quáng cũng chẳng đổi lại được sự tôn trọng. Bởi lẽ khi ấy, bạn đang cho phép đối phương bóc lột mình, mà mối quan hệ bóc lột và bị bóc lột lại rất dễ khiến kẻ bóc lột tri giác thành “tôi mạnh hơn bạn”. Ví như, một phụ nữ quá đỗi khao khát bóc lột người khác từng nói: “Ai đối tốt với tôi, tôi sẽ khinh bỉ kẻ đó.” Về sau ngẫm lại, cô ấy nói vô cùng có lý, bởi vì những kẻ đối tốt với cô ấy thường mặc cho ranh giới (biên giới) của mình bị xâm nhập, lòng tự tôn của mình bị chà đạp. Thứ lòng tốt như vậy quả thực yếu ớt và thiếu đi sức mạnh, khiến người ta coi khinh. Cho nên, nếu bạn đối đãi với người khác bằng lòng tốt nhu nhược, thì đừng trông mong đổi lấy tình yêu và sự tôn trọng của đối phương. Trái lại, bạn rất dễ bị miệt thị và bóc lột.


Người quá mức lấy lòng bạn, rốt cuộc đa phần đều rất khó sống cùng. Họ tựa như đang cho vay nợ, sẽ tìm cách đòi lại; hơn nữa bởi vì họ phóng đại giá trị của bản thân, nên đôi khi còn biến thành những kẻ “cho vay nặng lãi”.


Quy tắc, ranh giới (biên giới) và ước định là vô cùng trọng yếu. Sống trong một khế ước với ranh giới rõ ràng, cảm giác ấy sẽ nhẹ nhõm, thanh thoát hơn biết bao. Ngược lại, phàm là thứ gì mượn danh nghĩa đạo đức, thường lại là để bóc lột, lại còn nhơm nhớp, hỗn độn.


Kẻ dễ dàng thỏa mãn yêu cầu của người khác thường lại là kẻ chẳng dám đưa ra dẫu chỉ một chút yêu cầu cho riêng mình. Nơi nội tâm họ có một “đứa trẻ nội tại” luôn luôn bị khước từ; điều này khiến họ không dám mở lời đòi hỏi, bởi bị cự tuyệt sẽ khơi dậy cảm giác xấu hổ nhục nhã mãnh liệt, thậm chí muốn chết đi cho xong. Một cách vô hình trung, họ cũng phóng chiếu đứa trẻ nội tại này lên người khác. Cho nên, việc không thể từ chối người khác, một mặt là thương hại người ta, mặt khác lại cảm thấy một khi cự tuyệt đối phương, ắt sẽ dấy lên mối cừu hận khôn cùng.


Thế nên, sự đời luôn xuất hiện theo từng cặp tương ứng. Một kẻ luôn đóng vai thánh nhân sẽ tìm kiếm một kẻ luôn đưa ra đòi hỏi và hiếm khi biết ơn. Cứ như thế, mâu thuẫn nội tâm của kẻ đóng vai thánh nhân liền biến thành mâu thuẫn ngoài hiện thực. Thông qua việc điều chỉnh mâu thuẫn hiện thực, người ta có thể điều chỉnh lại nội tâm, dẫu cho điều này chẳng hề dễ dàng.


Mối quan hệ này có thể duy trì được là bởi ngoài việc dính mắc lẫn nhau, dày vò lẫn nhau ra, thì kẻ dễ dàng đưa ra đòi hỏi có thể xông pha ra ngoài, đòi hỏi từ thế giới để mở ra cục diện cho cả hai; còn kẻ đóng vai thánh nhân lại có thể thu dọn tàn cuộc tương đối êm thấm, trở thành chất ổn định trong thế giới của họ.


“Hiểu chuyện” (ngoan ngoãn, hiểu chuyện), có lẽ lại là một nỗi tuyệt vọng sâu sắc — là sự tuyệt vọng sinh ra khi đứa trẻ cảm thấy cha mẹ (ban đầu là người mẹ hoặc người chăm sóc đầu tiên) dù thế nào cũng chẳng hề lắng nghe tiếng lòng của mình; hoặc giả đó là nỗi sợ hãi thẳm sâu trước lời răn của cha mẹ: “Đừng để xảy ra chuyện, đừng chuốc lấy chuyện, gây chuyện ra là bố mẹ không dọn dẹp nổi đâu”.


Nếu đứa trẻ ra ngoài gặp phải trắc trở, về nhà cũng vấp phải trắc trở y như vậy, nó sẽ cảm thấy không còn nơi nào để đi, rơi vào tuyệt vọng. Trong một số rất ít trường hợp, tuyệt vọng sẽ khiến cõi lòng nó sắt đá như bàn thạch. Sự cứng rắn chai lỳ ấy có thể giúp nó sinh tồn ngoài xã hội, nhưng đối với một đứa trẻ, đó lại là một vết thương sâu hoắm.


Quá dễ dàng xin lỗi, quá dễ dàng cắn rứt nội cữu, quá dễ buông lời “xin lỗi”, công năng của nó chính là tránh bị đối phương công kích. Thế nhưng điều này cũng “phong tỏa” luôn không gian bộc lộ sự bất mãn của đối phương, trong khi một mối quan hệ chân thực, sung mãn lại đòi hỏi đôi bên cùng kiên trì lập trường của mình, và tiến hành câu thông trên nền tảng ấy. Cho nên, nếu bạn là kiểu người như vậy, bạn có thể thử không vội vàng xin lỗi, để cho mối quan hệ trở nên có thêm sức căng (trương lực), để cho sự bất mãn và địch ý giữa bạn cùng đối phương có không gian để lưu chuyển.


Nơi thất bại nhất của một “siêu cấp người tốt” chính là trong mối quan hệ lứa đôi. Người tốt luôn cất giấu thứ logic này: “Tôi đã hy sinh mọi thứ vì bạn, bạn phải yêu tôi”. Sự khát khao tình yêu này tự nhiên sẽ đạt đến đỉnh điểm trong mối quan hệ bạn đời. Thế nhưng, logic căn bản của mối quan hệ bạn đời lại là sự thân mật. Thân mật chỉ có thể đạt được thông qua sự chân thực và mở lòng (rộng mở), còn hy sinh cống hiến lại chẳng hề có công hiệu ấy.


Hơn nữa, lòng tốt của người tốt kỳ thực còn che giấu một sự phòng ngự mang tính căn bản: Cái tôi chân thực vốn dĩ “xấu xa”, là chẳng có ai yêu thương; nếu tôi muốn có được tình yêu, tôi bắt buộc phải vứt bỏ bản thân chân thực của mình để trở thành một người tốt. Nhưng người tốt ấy lại là kẻ giả tạo. Đối diện với một kẻ giả tạo, chúng ta không có cách nào nảy sinh tình yêu và sự thân mật với họ được. Bởi thế, người tốt càng tốt bao nhiêu, mối quan hệ giữa họ với bạn đời lại càng xa cách bấy nhiêu. Chúng ta nhất định phải khắc ghi điểm này: Đối tốt với người khác có thể đổi lấy sự công nhận và tôn trọng, nhưng nếu muốn trở nên thân mật với người ta, chỉ có duy nhất một con đường — chân thực và mở lòng.


8. Bản chất của mối quan hệ, là ai gánh chịu lo âu cho ai


Nhân tính vốn phức tạp và đầy mâu thuẫn. Theo lý mà nói, một người muốn hoàn tất quá trình xã hội hóa thì phải thích ứng và tận hưởng những mối quan hệ nhân tế bình thường. Nhưng người quá thích ứng với các mối quan hệ nhân tế, vì đem toàn bộ sự chú ý đặt vào mối quan hệ, lại biến logic của các mối quan hệ xung quanh thành tiêu chuẩn, nên trái lại rất dễ đánh mất đi sự phản tư về nó. Mối quan hệ nhân tế này sẽ trở thành chiếc lồng giam của họ. Ngược lại, những người không thể thích ứng, thông qua việc không ngừng phản tư, lại có thể nhìn thấu được những điều huyền bí bên trong nó.


Người thích ứng tốt với các mối quan hệ nhân tế thường sẽ thiếu đi sự phản tư về chúng — thực ra đây là một món quà được ban tặng từ gia đình gốc. Bạn tưởng rằng logic của ý thức quyết định năng lực giao tiếp xã hội của mình, nhưng sự thích ứng này vốn đã ăn sâu vào tận xương tủy. Cho nên, hoàn toàn có một khả năng thế này: những người nguyên thủy có năng lực thích ứng tốt thì ngồi trong hang đá chuyện trò, còn những người tự kỷ ở các mức độ khác nhau lại đang đau đớn tiến bước.


“Bản chất của mối quan hệ, là ai phóng chiếu lo âu lên ai, hoặc là ai vì ai mà gánh chịu lo âu.” Nhà phân tâm học người Anh Bion từng nói như vậy. Người có chức năng tự ngã tốt có thể đỡ lấy nỗi lo âu của đối phương. Chẳng hạn, giữa nhà trị liệu và thân chủ, giữa cha mẹ và đứa con thơ, trong tình huống bình thường, là người sau phóng chiếu lo âu lên người trước, còn người trước sẽ đón nhận và chuyển hóa nỗi lo âu ấy. Thế nhưng trong rất nhiều gia đình, lại thường là cha mẹ tạo ra âu lo cho con cái, mà đứa trẻ thơ dại thì không thể nào đỡ nổi mối lo âu đó, chỉ đành nén chịu một mình.


Hứng chịu nỗi lo âu do người khác ném tới mà không thể hóa giải, điều này sẽ khiến một người phát triển nên phụ ái, phụ hận và phụ tri thức. Đây là những khái niệm của Bion, tương phản với việc đi yêu, đi hận và tri thức liên quan. Phụ ái, phụ hận là chỉ việc bởi vì yêu và hận không nhận được hồi đáp, thế nên đành chặn đứng nguồn năng lượng này lại. Còn những hiểu biết về việc làm sao để ngăn chặn tình yêu và sự thù hận, chính là phụ tri thức.


Cách diễn đạt phụ ái, phụ hận nghe có phần trúc trắc khó đọc, chi bằng nói thẳng ra thành không yêu, không hận. Nếu như không yêu, không hận và phụ tri thức quá nhiều, năng lượng sẽ rất dễ bị dồn ứ tắc nghẽn, từ đó mà sức sống cũng dễ bề khô cạn. Về điều này, một người bạn từng nói một câu cực kỳ thấm thía: “Phải hòa vào biển lớn, mới không cạn khô.”


9. Không làm phiền nhau, sẽ không có mối quan hệ


Không làm phiền lẫn nhau, mối quan hệ cũng chẳng thể nào được thiết lập. Kỳ thực, việc xem những động lực bên trong mối quan hệ là một sự phiền hà, tự thân điều đó đã có nghĩa rằng, một người từng trải qua nỗi thất vọng sâu sắc đến nhường nào trong các mối quan hệ. Người đó hiểu rằng bàn tay mình đưa về phía người khác vốn không được chào đón, nên mới gọi đó là “làm phiền người khác”. Người mang trong mình triết lý sợ phiền hà này, ắt hẳn sẽ thu mình quay về với cô độc.


Người không dám làm phiền người khác, cũng sẽ dần dà không muốn người khác làm phiền mình. Lâu dần, họ sẽ sống trong nỗi cô độc chí mạng, như thể bị nhốt trong một chiếc lồng chụp hay một lớp màng mỏng. Kỳ thực bản chất của mối quan hệ, nằm ở chỗ làm phiền lẫn nhau. Không có phiền hà, sẽ chẳng có tình cảm.


Từ “làm phiền” ngụ ý rằng, bạn cảm thấy việc hướng về người khác để cầu viện, thậm chí là để thiết lập quan hệ, là điều không hề được hoan nghênh. Khi mang logic này, bạn bước vào mối quan hệ tất nhiên sẽ không thể tự nhiên, thoải mái. Chỉ khi cảm thấy mọi động lực của bản thân trong mối quan hệ đều là điều tốt đẹp, bạn mới có thể tự tại bộc lộ — lúc này sự biểu đạt mới mang tính người, và bạn cũng có thể thanh thản đón nhận việc bị cự tuyệt.


Nếu trong lòng cha mẹ chan chứa yêu thương và nhiệt tình, họ sẽ mang theo niềm hoan hỷ mà đáp ứng đứa trẻ. Như vậy đứa trẻ sẽ hình thành nên lối tư duy tích cực, mang theo sự tự tin và một chút khí thế đàng hoàng, dõng dạc để đòi hỏi sự giúp đỡ, đòi hỏi tình yêu. Nhưng nếu cha mẹ vốn không có lòng nhiệt tình, việc đối tốt với con cái chỉ là nỗ lực gượng ép làm ra, thì đứa trẻ dẫu có được thỏa mãn, vẫn sẽ cảm thấy như thể mình vừa làm tổn thương cha mẹ vậy. Từ đó, đứa trẻ sẽ hình thành nên triết lý sợ làm phiền.


Người thiếu hụt nhiệt tình có thể gắng gượng đối xử tốt với người khác, nhưng khi đó, trong lòng họ sẽ sinh ra cảm giác hy sinh, trả giá. Họ không có được sự tận hưởng và niềm vui sướng, họ sẽ cảm thấy đối tốt với ai đó chẳng khác nào như đang cắt từng miếng thịt trên người mình. Cho nên, mấu chốt là phải sống bật ra được nguồn nhiệt tình ấy, để rồi khi đi yêu, ta sẽ không còn thấy đó là sự trả giá hay hy sinh nữa.


Dục vọng, gào thét, phẫn nộ, hoan hỷ, yêu, hận, cuồng loạn… tất thảy đều là nhiệt tình. Ban đầu là dòng nhiệt tình tăm tối tuôn trào, sau khi được ôm ấp chở che, bạn sẽ nhận ra hóa ra đây chính là sinh mệnh lực! Khi nhiệt tình bắt đầu luân chuyển, bạn mới có thể tận hưởng được vẻ đẹp từ cảm giác nhiệt tình tuôn chảy giữa người với người. Lúc này, bạn sẽ thể nghiệm được rằng, cho đi hay nhận lại, đúng hay sai đều chẳng còn quá đỗi quan trọng. Cho nên mấu chốt là, hãy tận hưởng sự luân chuyển ấy.


Khi những động lực như dục vọng, cảm xúc có thể được đón đỡ trong mối quan hệ, chúng đã nhận được sự chúc phúc, và rồi sau đó chúng có thể được biểu đạt bằng một phương thức đầy nhân tính. Còn khi không được đón đỡ, chúng sẽ bị nguyền rủa. Lúc bấy giờ, nếu muốn biểu đạt chúng, ta sẽ dùng phương thức mang tính hủy hoại. Trong trường hợp sau, chúng ta sẽ đè nén động lực của bản thân, và khi không kìm nén nổi mà bộc phát ra, sẽ trở nên gượng gạo, thiếu đi sự mềm mại và ấm áp của tính người.


Bạn có thể thử cuồng nhiệt trong mối quan hệ với một người, một việc, hoặc với một vật; tức là bạn hoàn toàn, không giữ lại chút nào mà giải phóng hết nguồn nhiệt tình vào nơi ấy, cùng người, việc hoặc vật đó kiến tạo nên mối quan hệ thật sâu sắc, để thể nghiệm sự tròn đầy viên mãn, thể nghiệm một trạng thái không còn tiếc nuối.


Thực ra, đó chính là việc thiết lập mối quan hệ sâu sắc. Vốn dĩ định nói rằng, thiết lập mối quan hệ sâu sắc với vật là dễ nhất, với việc thì tương đối khó, còn với người là khó nhất — bởi vì giữa người với người, đặc biệt là những mối quan hệ thâm sâu như tình yêu, tri kỷ, là điều không thể cưỡng cầu — nhưng kỳ thực việc nào cũng chẳng hề dễ dàng. Dẫu sao, trên cõi đời này, những ai có thể thiết lập nên mối quan hệ siêu sâu sắc với sự vật, đều là những nhân vật cực kỳ cừ khôi, và ắt hẳn luôn là thiểu số.



 
 
 

Bài đăng gần đây

Xem tất cả
Chương 1: Chân tướng của bệnh tâm lý

Ở giữa hữu hạn và vô hạn, tìm kiếm một kết cục khiến tâm an, là một sự lựa chọn sáng suốt và tao nhã; nó có thể bù đắp nỗi sợ hãi của chúng ta đối với những điều chưa biết, mang lại cho chúng ta một s

 
 
 
CHƯƠNG 1

CHƯƠNG 1 Làm, hay không làm — đó là một vấn đề Nhà văn Đài Loan Dư Quang Trung từng viết một bài tản văn có nhan đề Bốn kẻ địch giả tưởng của tôi. Trong bài viết, ông kể mình có bốn cô con gái và ông

 
 
 
Chương 6: Vô thường

Sự sinh diệt của bản ngã Từ "tự do", nghe thật êm tai, nhưng nó còn có một từ gần nghĩa — "vô thường". Tự do có nghĩa là năng lượng của "Tôi" được duỗi mở, được tuôn chảy, vì vậy "Tôi" có cảm giác tự

 
 
 

Bình luận


bottom of page