top of page

CHƯƠNG 1: CHÂN TƯỚNG CỦA BỆNH TÂM LÝ

13 giờ trước
79 phút đọc

Đã cập nhật: 3 giờ trước

Ở giữa hữu hạn và vô hạn, tìm kiếm một kết cục khiến tâm an, là một sự lựa chọn sáng suốt và tao nhã; nó có thể bù đắp nỗi sợ hãi của chúng ta đối với những điều chưa biết, mang lại cho chúng ta một sự ung dung vượt lên trên sinh tử.   

1. Bất mãn là sự tự công kích bản thân


Phía trên bầu trời của một xã hội đang phát triển với tốc độ chóng mặt, có một bóng ma đang lảng vảng, tên của bóng ma ấy là "bất mãn".   


Bóng ma này quấn lấy bất kỳ ai mà nó có thể bắt gặp. Nó khiến cho rất nhiều phương diện của một con người đều nhuốm phải phong vị của sự bất mãn: diện mạo, làn da, vóc dáng, học vấn, tri thức, tính cách, của cải, địa vị, thanh danh, hoàn cảnh, vân vân. Khi một con người như thế xuất hiện trước mặt bạn, bạn sẽ phát hiện ra rằng anh ta đã bị chính sự bất mãn của bản thân đối với chính mình đánh gục.   


Sự tiêu hao lớn nhất của đời người không đến từ việc thấu chi trí lực hay thể lực, cũng chẳng đến từ sự đấu tranh với tự nhiên hay đồng loại, mà đến từ cuộc chiến giữa bản thân với chính mình. Bởi lẽ trong cuộc chiến tranh này, từ binh sĩ, súng ống, đạn dược cho đến chiến thuật của cả "hai bên địch – ta" đều do chính một mình mình cung cấp, thế nên chẳng một ai có thể cầm cự cho nổi.   


Con người sinh ra vốn dĩ là tự hài lòng với chính mình. Hãy nhìn những đứa trẻ sơ sinh, thần thái an tường, trầm tĩnh ấy của chúng chính là biểu hiện của sự tự mãn nguyện đạt đến mức tột cùng. Chúng cũng có tư cách để hài lòng với chính mình: Là sản phẩm kiệt xuất nhất của Đấng tạo hóa, không hài lòng với bản thân thực chất là sự bất kính đối với Đấng tạo hóa.   


Quan sát lại những đứa trẻ tập đi, bạn sẽ thấy chúng vĩnh viễn luôn vịn vào tường, vào ghế hoặc người lớn để đứng vững trước, rồi mới bước về phía trước. Lúc ban đầu, bước chân ấy bước ra thà bảo là để ngã còn hơn là để đi cho vững, một cú ngã dứt khoát mà tráng liệt. Chúng tuyệt đối không bao giờ vì vấp ngã mà sinh lòng bất mãn với bản thân; chúng sẽ tiếp tục tìm một người hoặc một vật thể để bám vịn, vẫn cứ là đứng vững trước, rồi mới cất bước. Ngã hết lần này đến lần khác, rồi lại đứng vững hết lần này đến lần khác, cho đến khi không còn dễ ngã như thế nữa mới thôi.


Chúng ta khó lòng tưởng tượng được một đứa trẻ chưa từng đứng vững lại có thể dần dần học được cách bước đi. May mắn thay, ông trời không cài cắm sẵn sự tự công kích vào tâm trí của trẻ thơ, thế nên chúng không vì những chỗ khiếm khuyết của mình mà tự trách cứ. Đáng tiếc là, trong quá trình lớn lên từng ngày, do ảnh hưởng từ hoàn cảnh xung quanh, người lớn đều đã học được cách tự giày vò chính mình chỉ vì những khiếm khuyết cỏn con. Dưới sự giày vò ấy, ngay cả việc đứng cho vững cũng đã thành vấn đề, vậy nên mỗi một bước chân bước ra đều lộ rõ vẻ hoảng loạn, nông nổi và ti tiện.


Người không hài lòng với bản thân, người bức thiết muốn thay đổi chính mình, người muốn mình phải "thoát thai hoán cốt", thảy đều là những kẻ đã đem sự bất mãn của người khác hoặc của hoàn cảnh cấy sâu vào nội tâm mình. Yêu cầu của thế giới bên ngoài biến thành yêu cầu của bản thân đối với chính mình; sự công kích từ bên ngoài biến thành sự tự công kích của bản thân đối với chính mình.   


Gạt bỏ các phân loại chuyên môn sang một bên, con người đại để có thể chia làm hai loại. Một loại là trước khi bước chân ra khỏi cửa, trước tiên tự "nện" cho mình một trận nhừ tử về mặt tâm lý, rồi sau đó ủ rũ cụp đuôi, nét mặt mang đầy dấu hiệu nếu không phải là có bệnh thì ắt cũng là có tội. Nếu một người như thế đi gặp bác sĩ tâm lý, bác sĩ tâm lý gần như có thể cảm nhận được họ đang cầm dao kề cổ ép bác sĩ phải tháo tung họ từ trong ra ngoài, thay vào những linh kiện mới toanh. Bác sĩ đương nhiên sẽ không làm thế. Điều bác sĩ hứng thú là: Rốt cuộc họ đã biến thành kẻ hà khắc với bản thân đến mức độ này bằng cách nào?   


Loại người thứ hai là trước khi ra cửa thì đứng trước gương tự tâng bốc mình một trận tơi bời. Câu danh ngôn của Lý Ngao: "Nếu tôi muốn tìm một người khiến mình khâm phục, tôi sẽ soi gương." Xem ra ông là nhân vật điển hình của loại người này. Có người có thể sẽ lo lắng: Liệu làm thế có khiến bản thân tự tâng bốc đến phát điên trước khi bước ra cửa không? Đương nhiên là không. Những kẻ phát điên trước và sau khi ra cửa, trái lại chính là những kẻ trước khi ra cửa đã tự "nện" mình. Trên cõi đời này chẳng có ai bị tâng bốc mà phát điên, chỉ có sự tự công kích bản thân mới khiến người ta phát rồ.   


"Khiêm tốn giúp người ta tiến bộ, kiêu ngạo khiến người ta tụt lùi" là một câu danh ngôn rất dễ gây hiểu lầm. Sự ngộ nhận sâu sắc đến mức mọi người cứ hễ thấy người khác đạt được thành tích là lại tụng niệm câu này như một lời răn dạy. Lãnh đạo đối với cấp dưới như thế, thầy cô đối với học trò như thế, cha mẹ đối với con cái cũng như thế, dường như không nói như vậy thì có lỗi với người ta vậy. Rất nhiều người keo kiệt lời khen ngợi dành cho người khác, ở tầng ý thức mục đích là sợ người ta kiêu ngạo rồi thụt lùi, nhưng ở tầng tiềm thức, lại có thể là vì thành công của người khác đã khơi dậy nỗi âu lo trong lòng chính mình, cho nên mới bủn xỉn đến vậy.   


Tôi từng hỏi rất nhiều người: Người khác tán thưởng bạn, bạn có trở nên kiêu ngạo không? Hầu như chẳng có ai gật đầu nhận là có. Kỳ thực, sự tiếp nhận và tán dương của bản thân đối với chính mình cũng sẽ không thực sự dẫn đến tự mãn và thoái bộ. Sự tự tán thưởng và tiếp nhận này là sự thừa nhận đối với tạo hóa của ông trời, là lòng tôn kính đối với gen di truyền và công dưỡng dục của cha mẹ, là sự khẳng định đối với tất cả những ai hữu quan đến mình, và cũng là món quà tuyệt vời nhất gửi tặng đến tất cả những người yêu thương mình. Nhìn từ ý nghĩa này, không có phương thức nào mang đặc tính "phản xã hội", "phản thân hữu" đậm nét hơn phương thức bất mãn với chính bản thân mình.   


Bản thân lý tưởng muốn trở nên tốt hơn là điều không thể chê trách, nhưng điều cần ghi nhớ là: Trước hết chúng ta phải cơ bản nhìn nhận rằng mình đã là tốt rồi, sau đó mới có thể trở nên tốt hơn. Nếu chúng ta nhận định mình vốn chẳng ra gì, thiếu đi sự hài lòng căn bản đối với bản thân, thì chính cái nguyện vọng muốn trở nên tốt hơn ấy lại là thứ tồi tệ nhất trong tất cả những điều chẳng ra gì của chúng ta. Nếu nhất định phải bất mãn với một điều gì đó, thì điều đó nên là: Bất mãn với chính sự bất mãn của bản thân mình. 


2. Bạn có biết hưởng lạc không?


Trên các phương tiện truyền thông điện tử lẫn báo giấy, đầy rẫy những tin tức muôn màu muôn vẻ về giới danh nhân. Chẳng hạn như mua biệt thự xa hoa, tìm nhân tình, hay cạo đầu xuất gia quy y, vân vân. Thoạt nhìn, ba điều kể trên dường như phong mã ngưu bất tương cập (chẳng chút can hệ gì với nhau), nhưng nghĩ kỹ lại thì cả ba đều có chung một đặc điểm: Đó là theo đuổi sự "hưởng lạc".   


Con người trước hết là một thực thể mang tính sinh vật. Đối với mọi sinh vật, kích thích ngoại giới mà các cơ quan cảm giác thu nhận được có thể khiến nội bộ hoặc nội tâm của chúng sinh ra trải nghiệm khoái lạc hoặc đau đớn. So với các sinh vật khác như chim muông và cá lội, cơ quan cảm giác của con người đặc biệt phát triển, vì thế phạm vi kích thích có thể trải nghiệm được cũng rộng lớn hơn rất nhiều. Cộng thêm bộ não thu thập và xử lý thông tin phát triển, những trải nghiệm khoái lạc hay thống khổ do kích thích dẫn tới cũng tăng lên gấp bội.   


Con người là loài động vật đã vận dụng các giác quan của mình tới mức tột cùng. Cả năm hệ thống cảm giác lớn đều có những nguồn kích thích phi tự nhiên chuyên biệt do chính con người tạo ra, không ngừng không nghỉ tác động vào chúng.


Tai – cơ quan thính giác, có âm nhạc cổ điển hoặc thịnh hành kích thích. Nếu không có nhã hứng nghe nhạc thì nó cũng chẳng rảnh rỗi: tiếng gầm rú của xe cộ, tiếng cãi vã của nhà hàng xóm sát vách có thể bảo đảm cho nó không bị thoái hóa vì bỏ không.   


Mắt – cơ quan thị giác, 80% kích thích của con người đều đến từ nó. Những cảnh tượng đèn hoa rực rỡ, tú sắc khả xan (sắc đẹp mê hồn) sẽ khiến bạn bảo vệ nó vượt xa bất kỳ bộ phận nào khác trên thân thể, thế nên mới có cách nói trịnh trọng là phải "bảo vệ... như bảo vệ con ngươi của mắt mình".   


Mũi – cơ quan khứu giác. Lợi nhuận kếch xù của các tiệm hoa tươi và cửa hàng nước hoa, cùng nghi thức phải tắm gội, đánh răng kỹ càng trước những cuộc hẹn quan trọng, có thể phản ánh khái quát tần suất sử dụng của nó.   


Da – cơ quan xúc giác. Những từ ngữ tuyệt diệu vô ngần như trơn nhẵn, tinh tế, ấm mềm... thảy đều do nó dạy chúng ta nói ra. Thử nghĩ xem, nếu không có sự cống hiến kiệt xuất của làn da, ngôn ngữ nhân loại sẽ trở nên thô ráp và lạnh tanh dường nào; đáng buồn hơn là ở trạng thái ấy, chúng ta chắc chắn sẽ chẳng còn cảm nhận được thế nào là thô ráp và lạnh tanh nữa.   


Cuối cùng là lưỡi – cơ quan vị giác thần thánh và vĩ đại. Kích thích nó, khiến nó hoan lạc là nhiệm vụ quan trọng nhất trong tất cả các nhiệm vụ kích thích cảm quan, quan trọng đến mức liên quan tới sinh tử tồn vong, quan trọng tới độ ngồi ngang hàng với việc duy trì nòi giống của nhân loại, thế nên mới có lời răn xưa: "Thực, sắc, tính dã" (Ăn uống và tình dục là bản tính con người). Nếu người ngoài hành tinh nhìn xuống Trái Đất từ không gian bao la, đại để sẽ xem những quán ăn tửu lầu nhiều như lông bò trên địa cầu chính là những nụ vị giác phát triển của loài người.   


Con người là sinh vật phát triển cao độ như thế, nên vĩnh viễn chẳng bao giờ thỏa mãn với việc hưởng thụ thuần túy mô thức hưởng lạc mà ông trời ban tặng. Nếu như việc nhân tạo ra các kích thích cảm quan chưa bị coi là nghịch thiên mà hành, thì việc cố ý tiết chế, thậm chí triệt tiêu một kích thích cảm quan nào đó lại mang đậm ý vị muốn đối đầu trực tiếp với ông trời. Có một số quan niệm y học hoặc tín ngưỡng bảo với người ta rằng, bớt kích thích cảm quan sẽ giúp người ta trường thọ, quá nhiều kích thích cảm quan sẽ dẫn tới bệnh tật. Nhưng đứng từ góc độ tâm lý học mà nói, một con người bình thường sẽ không bao giờ có nhu cầu kích thích cảm quan đến mức "quá độ".   


Mua nhà sang, nếu gạt bỏ sự thỏa mãn của thói hư vinh, thuần túy là hưởng lạc về mặt sinh lý hoặc vật chất; tìm nhân tình, hưởng lạc về cả cảm quan lẫn tinh thần đều có; còn rũ bỏ mọi kích thích cảm quan nơi trần thế để xuất gia quy y, thì lại là thuần túy tinh thần. Chẳng hạn, người ta thường nói khi nghe được những lời tuệ giác diệu vợi thì hỷ lạc vô biên, thậm chí mừng vui rơi lệ; đó thực sự là sự miêu tả về cảnh giới hưởng lạc cao nhất.   


Một sự thật có lẽ sẽ khiến một số người thất vọng là: Sự hưởng lạc thuần túy tinh thần bắt buộc phải được xây dựng trên nền tảng của sự hưởng lạc cảm quan từng có trong quá khứ. Bởi vì nếu không có đủ kích thích cảm quan, "số lượng" hoặc "quy mô" của thế giới tinh thần sẽ không đủ đầy, không thể tổ chức nên những cảnh tượng tinh thần hoành tráng và hài hòa, và đương nhiên cũng không thể đem lại cảm giác mỹ cảm cho con người.   


Kẻ đắm chìm trong thanh sắc và người xuất gia khi nhìn nhau, đều sẽ thấy đối phương thật đáng thương. Kẻ trước cho rằng người sau chịu kích thích quá độ mà phát điên, buông bỏ bao nhiêu chuyện vui chơi, hưởng lạc trên đời mà không hưởng; người sau lại cảm thấy kẻ trước vẫn chưa phát hiện và chưa đủ năng lực thưởng thức những thứ hưởng lạc kỳ thú hơn. Ai đúng ai sai, có lẽ vĩnh viễn chẳng một ai hay.   


Bất luận đứa trẻ lớn lên sau này có xuất gia, rời xa chốn thanh sắc dung tục hay không, thì ít nhất ở hiện tại, hầu như cổng của mọi nhà trẻ đều rực rỡ sặc sỡ. Đây thực sự là một niềm an ủi cực kỳ to lớn; bởi vì lũ trẻ đã mở mắt chào đời, chúng ta nên cho đôi mắt ấy đủ đầy kích thích. Chúng ta không tin rằng một đứa trẻ chưa từng trải qua đầy đủ kích thích cảm quan lại có thể có được một bộ não hoặc nội tâm phong phú. Còn về tương lai, chúng lựa chọn sự chấn động do độ tương phản màu sắc cực lớn mang lại, hay thưởng thức sự tĩnh lặng do nét đạm bạc giản đơn mang đến, đó là chuyện của chính bản thân chúng. Một sự thật khác là, không có cánh cổng trường đại học nào lại "sặc sỡ muôn màu" cả. Điều này chứng minh rằng, sau khi kích thích cảm quan đạt tới một mức độ nhất định, việc quay về với sự đạm bạc tương đối cũng là một lẽ tự nhiên nhi nhiên.   


Chu Đức Dung từng nói: "Con người không thể làm chủ chính mình, nhưng có thể 'thịt' chính mình." Tôi không rõ lắm ý ông nói "thịt" chính mình là thế nào, mạo muội suy đoán, có hai cách "thịt" khả dĩ: Hoặc là liều mạng kích thích năm hệ thống cảm giác lớn cho đến khi chúng mất hết cảm giác mới thôi; hoặc là hạ thấp kích thích đối với chúng xuống mức tối thiểu, cho đến mức có thể xem như không có.   


Thế nhưng xin chớ quên rằng, cả hai cách "thịt" ấy thực chất đều là đang hưởng lạc.


3. Vì sao người khác không thấu hiểu bạn


Nỗi khó khăn trong giao lưu, nỗi nhọc nhằn trong thấu hiểu giữa người với người, ai nấy đều có thể hiểu sâu sắc. Gạt sang một bên năng lực lĩnh hội và vấn đề nội tại của người khác, nếu bạn thường xuyên cảm thấy người khác không thể hiểu mình, bạn nên suy ngẫm xem liệu có phải nguyên nhân nằm ở chính bản thân mình hay không.   


Những nguyên nhân này, phân tích ra cũng chẳng khó, từ nông vào sâu không ngoài bốn điều sau:   


Trước hết, là do bạn chưa nói suy nghĩ của mình cho người khác biết, hoặc bạn đã nói nhưng nói không rõ ràng. Tình huống này gặp rất nhiều. Chẳng hạn như cô gái đang yêu thường hay giận dỗi bạn trai, cảm thấy anh ta chẳng hiểu rốt cuộc mình cần gì. Chàng trai phân trần: Em không nói cho anh biết, sao anh biết được? Cô gái lại càng giận dữ: Đã yêu em thì anh phải tự biết em cần gì chứ! Rồi chúng ta có thể tưởng tượng ra nét mặt của chàng trai, có lẽ còn kinh ngạc hơn cả khi nhìn thấy động vật thời tiền sử.   


Một người phụ nữ thành thục từng chia sẻ: "Trước và sau khi kết hôn, tôi cứ ngỡ tôi và chồng yêu thương nhau tha thiết thì anh ấy đương nhiên phải biết tôi muốn gì, nhưng trạng thái thường thấy là anh ấy chẳng hề hay biết, thế là tôi đùng đùng nổi giận, khiến anh ấy lại càng thêm hồ đồ và bực tức. Tôi đã mất tới mười lăm năm trong hôn nhân mới thấu hiểu được một điều: Đàn ông là loài động vật không hề có sẵn năng lực thấu hiểu phụ nữ. Nếu bạn không nói, anh ta sẽ không biết, và cũng chẳng làm. Cho nên hiện giờ tôi muốn gì, tôi nói thẳng một cách rõ ràng, cụ thể với anh ấy, kết quả là anh ấy có thể làm khiến tôi vô cùng hài lòng. Điều này tuy bớt đi đôi phần huyền bí và lãng mạn của sự phỏng đoán, nhưng lại tăng thêm rất nhiều sự thấu hiểu và hòa hợp."   


Thứ hai, là do tiềm thức của bạn vốn dĩ chẳng muốn người khác hiểu mình. Tiềm thức của con người là một thứ rất kỳ quặc, nó thường hay đi ngược lại với những suy nghĩ mà ý thức bạn có thể phát giác. Dưới đây là câu chuyện tình yêu và hôn nhân của một cô gái.   


Cô gái này có hai người bạn trai thanh mai trúc mã là A và B. Lớn lên đi làm, cả hai chàng trai đều âm thầm bày tỏ thiện cảm với cô. Ngay khi cô gái định bụng nói cho họ biết người cô yêu trong lòng là A, thì vào một đêm nọ, trên đường tăng ca về nhà, cô đã bị kẻ xấu tấn công và làm nhục. Sau biến cố, cô gái đau đớn đến chết đi sống lại không thể đối diện với cuộc sống tương lai của mình, chính hai người bạn ấy đã thay phiên nhau kề cận, an ủi, giúp cô trở lại với công việc và thắp lại hy vọng với cuộc đời. Một cách vô thức, cô bắt đầu dần dần né tránh, thậm chí lạnh nhạt với A, nhưng đối với B thì vẫn giữ sự nhiệt tình. Kết quả đương nhiên là A ngậm ngùi rời bước, còn B cùng cô dắt tay bước vào lễ đường. Thế nhưng nhiều năm sau, cô gái dẫu dốc lòng kinh doanh cuộc hôn nhân ấy vẫn cùng B chia tay trong hòa bình; bởi đến cuối cùng, cả cô và B đều hiểu ra rằng bấy lâu nay, người cô gái yêu sâu sắc nhất vẫn luôn là A.   


Chỉ là vào thời điểm ấy, tiềm thức của cô mang đầy mặc cảm tự ti, không có cách nào đối diện với một A mà mình yêu sâu đậm, nên cô mới vô thức lẩn tránh, né tránh tình cảm của chính mình dành cho A. Ban đầu cô vốn có hảo cảm với A, nhưng hành vi của cô lại hoàn toàn trái ngược: Cô lạnh lùng trừng mắt với A, nhưng lại niềm nở ân cần với B. Điều này khiến A – người vốn cũng có tình cảm với cô – dần dần rời xa, còn B thì bắt đầu săn đón nhiệt tình. Cả hai người đều hiểu lầm tín hiệu mà cô phát ra. Sai lầm trong thấu hiểu này đã đẩy cô trượt dài vào một cuộc hôn nhân ngoài dự tính, kết quả ra sao có thể đoán được. Về sau, khi A biết được hóa ra cô gái từng yêu mình, anh hận thấu xương sự ngu ngốc của bản thân. Nhưng chuyện này thực sự không thể trách anh, bởi vì tiềm thức của cô gái lúc bấy giờ vốn không hề muốn A biết được tình yêu của mình.   


Nguyên nhân thứ ba khiến người khác không hiểu bạn là: Ngay cả chính bạn cũng chưa từng hiểu nổi bản thân mình. Bất kỳ ai cũng sẽ đồng tình với quan điểm này: Xét về khía cạnh tự nhận thức bản thân, dù bạn có nỗ lực đến nhường nào, đạt được thành quả lớn lao ra sao, bạn cũng không thể nào thấu hiểu trọn vẹn chính mình. Vẫn luôn có những phần thuộc về bạn mà bạn chẳng hề hay biết. Ngay cả bạn còn không biết, làm sao có thể để người khác biết cho được?   


Sau cùng, còn có một tình huống nữa: Người khác thực ra đã thấu hiểu bạn rồi, thậm chí ở một số phương diện, sự thấu hiểu của họ đối với bạn còn toàn diện, sâu sắc hơn chính bạn; thế nhưng bạn lại không hay biết, vẫn ở đó đau lòng vì ngỡ người ta không hiểu mình. Có một câu chuyện kể rằng, một con ngựa nghĩ mình chỉ là một con ngựa tầm thường, nhưng Bá Lạc lại bảo nó là thiên lý mã, bấy giờ nó mới biết thì ra mình là tuấn mã hiếm có có thể phi nước đại ngàn dặm không biết mệt mỏi. Nếu con ngựa ấy vì thấy cách nhìn của Bá Lạc xung đột với cách nhìn của bản thân mà cho rằng Bá Lạc không hiểu nó, thì chẳng khác nào nó tự từ bỏ cơ hội làm thiên lý mã của chính mình. Do đó, đối với những nhận định của người khác, dẫu thoạt nhìn có vẻ giống như một "sự hiểu lầm", ta cũng rất cần suy ngẫm kỹ càng một phen; và biết đâu sự suy ngẫm ấy lại mang đến cho bạn niềm kinh hỷ bất ngờ.


Tuy nhiên, nếu bạn quá để tâm đến sự thấu hiểu của người khác, thì đó cũng là một vấn đề. Sự thấu hiểu giữa người với người là thứ không thể cưỡng cầu; cưỡng cầu sự thấu hiểu là một trạng thái ranh giới bất phân và đầy tự luyến (narcissism). Nếu có thể thấu hiểu lẫn nhau, điều đó dĩ nhiên là điều tốt. Còn nếu với một số người mà ta thực sự không đạt được trạng thái thấu hiểu nhau, thì cũng chẳng sao cả, cứ để cho không thấu hiểu đi. Thực ra khi bạn đã nghĩ được như vậy, tức là bạn đã thấu hiểu mối quan hệ không thể thấu hiểu này rồi. Nhìn từ ý nghĩa này, không thấu hiểu cũng chính là sự thấu hiểu.   


4. Kẻ thụ ân vì sao lại hận bạn


Chẳng biết từ bao giờ, tôi đã làm việc trong ngành này được hai mươi mốt năm; cũng chẳng hay từ lúc nào, tôi lại được từng tốp, từng tốp nam thanh nữ tú chẳng biết từ đâu xuất hiện gọi là "tiền bối". Hai chữ "tiền bối" hàm chứa sự tôn trọng, nhưng đồng thời cũng truyền đi một thông điệp rõ ràng không thể chối cãi: Bạn không còn trẻ nữa. Thuở trước, bên bàn ăn tròn to lớn, tôi thường là người nhỏ tuổi nhất, còn bây giờ, tôi lại thường xuyên là kẻ cao tuổi nhất. Lại thêm vị thế của một người thầy, nên rất dễ dàng thu nhận được chút cảm giác "đức cao vọng trọng" vừa mừng vừa lo từ thái độ của người khác đối với mình.   


Trong một bữa liên hoan sau giờ giảng dạy, tôi là người thầy duy nhất, cũng là "tiền bối" lớn tuổi nhất. Ngồi bên phải tôi là một cô nghiên cứu sinh trẻ trung xinh đẹp. Mọi người vừa ăn vừa trò chuyện. Tôi sơ ý một cái làm lật úp tách trà đầy ắp trước mặt. Theo bản năng, tôi đứng bật dậy, đỡ tách trà lên rồi dùng khăn giấy lau nước trà trên bàn; cảm giác được ánh mắt của cả bàn đều đổ dồn vào mình, trong lòng có chút tự trách bản thân bất cẩn. Thu dọn xong bãi chiến trường do nước trà gây ra, ngồi xuống trở lại, tôi hồi tưởng lại những việc đã xảy ra và cảm giác tương ứng trong hai ba phút ngắn ngủi ấy, thấy có vài điều rất đáng để nghiền ngẫm. Nghĩ ngợi một lát, tôi quay sang nói với cô nghiên cứu sinh: "Cảm ơn em lúc nãy đã không giúp tôi đỡ tách trà và lau bàn nhé."   


Cô nghiên cứu sinh vô cùng kinh ngạc, tưởng tôi đang nói lời châm chọc. Cô giải thích rằng ngay từ lúc bắt đầu bữa ăn, vì ngồi cạnh một người thầy giỏi phân tích tâm lý người khác như tôi nên cô đã thấy hơi căng thẳng; sau khi tách trà đổ, cô lại càng thêm lúng túng luống cuống, nên mới không ra tay giúp đỡ. Tôi bảo: "Tôi đã nghĩ rồi, nếu lúc ấy em giúp tôi, tôi sẽ cảm thấy không thoải mái đâu." Cô tò mò hỏi vì sao, tôi đáp: "Ngày mai lên lớp, chúng ta sẽ đem chuyện này ra nói nhé."   


Hôm sau, trong lớp đào tạo tâm lý học, tôi đã miêu tả lại sự việc này rồi bình luận: Có người có lẽ sẽ cho rằng đây là sự nhạy cảm đầy tính loạn thần kinh chức năng (neurotic) của một gã đàn ông sắp già, nhưng thực ra không phải. Sự vi diệu của lòng người là thứ mà những ai dấn thân vào ngành trị liệu tâm lý như chúng ta bắt buộc phải hiểu cho thật thấu đáo. Trong mối quan hệ giữa người ban phát sự giúp đỡ và người tiếp nhận sự giúp đỡ, có rất nhiều điều vô cùng tế vi. Thông thường, người nhận giúp đỡ sẽ có lòng cảm kích đối với người giúp đỡ, sự thực quả đúng như vậy. Thế nhưng, điều bị rất nhiều người bỏ qua là: Đi kèm với lòng cảm kích, lẽ ra còn có một thứ tình cảm hoàn toàn trái ngược, đó chính là hận thù.   


Ban phát sự giúp đỡ cho người khác, người cho đi sẽ thấy tâm trạng vui vẻ, lại kèm theo cảm giác ưu việt về mặt đạo đức và địa vị. Chẳng có ai lại tự nguyện và hoan hỷ rơi vào vị thế của kẻ được người khác giúp đỡ; bởi vì được giúp đỡ đồng nghĩa với sự bất tài, yếu ớt và thấp kém của bản thân. Sâu thẳm trong nội tâm con người luôn có một nguồn sức mạnh tự nhiên thúc đẩy việc mưu cầu bình đẳng, thậm chí mưu cầu sự vượt trội. Khi bị đặt vào thế nhận giúp đỡ, nguồn sức mạnh này liền bị đè nén vào tận đáy lòng, rồi biến tướng thành một thứ địch ý đối với người ra tay cứu giúp.


Tục ngữ có câu: "Nhất oản mễ dưỡng ân nhân, nhất đại mễ dưỡng cừu nhân" (Một bát gạo nuôi nên ân nhân, một bao gạo nuôi thành kẻ thù). Thật đúng là chí lý danh ngôn! Các bậc tiền bối của chúng ta thực sự đã nhìn thấu tận đáy tim người. Trong việc bố thí một bát gạo, do ảnh hưởng từ các quy tắc nhân tế cơ bản, người nhận tự nhiên sẽ nảy sinh tâm lý mang ơn; sự chênh lệch địa vị giữa người cho và người nhận do một bát gạo gây ra không quá lớn, thế nên mối hận thù sinh ra đi kèm cũng không đáng kể. Mối hận ấy rất dễ bị cảm thức đạo đức và lương tri của người nhận đè nén, thành thử giữa đôi bên trông như chẳng hề nảy sinh chút thù hận nào. Thế nhưng, khi "liều lượng" ban phát đạt tới mức độ mang tính biểu tượng của một bao gạo, thì ân tình đã nặng mà hận thù cũng sâu, sâu nặng đến mức không thể bị đạo đức và lương tri đè nén nổi nữa, thế là hóa thành cừu nhân.   


Từ chuyện này liên tưởng tới việc xã hội hiện đại giúp đỡ người nghèo khó. Bản thân những sự giúp đỡ ấy là biểu hiện của lương tri nhân loại, mang ý nghĩa vô cùng tích cực. Song, những phương thức hành vi phụ trợ gắn liền với sự giúp đỡ ấy lại rất đỗi thiếu khôn ngoan. Chẳng hạn như: áp đặt điều kiện phải mang ơn lên người nhận, sắp xếp cho hai bên gặp mặt và để truyền thông đưa tin công khai danh tính; báo chí đăng tải hình ảnh hai bên đứng chung, công khai khiển trách hoặc tán dương lời ăn tiếng nói của vài người được giúp đỡ; vân vân. Những biện pháp này, bề ngoài là đang giữ gìn chuẩn mực luân lý cơ bản của xã hội, nhưng thực chất là đang giáng một đòn nặng nề vào nhân tính căn bản nhất, rốt cuộc sẽ mang lại tổn thương cho cả người giúp, người nhận lẫn toàn xã hội. Trên thế gian này, không có thứ gì mang tính hủy diệt ghê gớm hơn một mối hận thù không được phát giác.   


Cứu giúp người khác thực sự, hay làm từ thiện chân chính, không đơn thuần là giúp người ta có được sự hỗ trợ về kinh tế và vật chất để vượt qua cơn nguy khốn, mà còn phải bao hàm cả việc khiến người thụ ân không đánh mất tôn nghiêm, không vì nhận sự giúp đỡ mà đồng thời phải gánh lấy nỗi nhục nhã của kẻ thấp kém hơn người. Làm được như vậy chính là đang thực thi một thứ từ thiện cao hơn hẳn từ thiện vật chất: Đó là từ thiện về mặt tinh thần.   


Mấy ngày gần đây, vì một khóa đào tạo chuyên môn, tôi luôn ở cạnh một đồng nghiệp kém tôi vài tuổi. Trong mấy năm qua, tôi đã dành cho anh ấy một số sự nâng đỡ khá quan trọng về mặt chuyên môn, nhưng anh chưa từng một lần nói tiếng cảm ơn. Hôm nay, tại bữa tiệc tối kết thúc khóa học, khi nâng chén chúc rượu tôi, anh nói: "Bởi vì anh đã giúp em quá nhiều, cho nên sớm muộn gì em cũng phải giết chết anh." Lời nói khiến cả bàn cười òa. Mọi người đều là những kẻ đam mê tâm lý học tầng sâu, đều thấu triệt nhân tính nơi ân và thù luôn đồng hành sóng bước. Sự biểu đạt bộc trực đến nhường ấy của người bạn này đã khiến ân oán vốn nặng nề bỗng chốc trở nên nhẹ bẫng, tựa như hương hoa mai thoang thoảng mơ hồ từ ngoài khung cửa sổ khẽ bay vào.   


5. Lười biếng là lòng trung thành ngầm hiểu


Nhân chi sơ, rốt cuộc tính bản cần hay tính bản lười, đó là một câu hỏi. Có nhà tâm lý học bảo rằng bản tính con người là lười biếng, thích nhàn hạ ghét lao động. Kết luận này rất cần được đem ra thảo luận cặn kẽ.   


Một trong những con đường tốt nhất để thấu hiểu nhân tính chính là quan sát trẻ nhỏ. Hễ chưa ngủ say, đứa trẻ bao giờ cũng phải nhìn cái này cái kia, nghe ngóng điều nọ, hỏi han hay nghịch ngợm một thứ gì đó. Bắt một đứa trẻ ngồi yên chẳng làm gì, bắt chúng phải bớt cái này giảm cái kia như những bậc tu hành trưởng thành, e rằng còn khó hơn dùng thìa tát cạn biển đông. Điều đó chứng minh rằng: Chăm chỉ, siêng năng gần với thiên tính của con người hơn là lười biếng.   


Xét từ góc độ sinh vật học và vật lý học, con người là một khối tích tụ năng lượng. Con người nạp vào đủ loại thức ăn, tiêu hóa và hấp thu chúng, biến chúng thành nguồn năng lượng cho suy nghĩ và hành động của mình. Nguồn năng lượng này ắt phải có một khuynh hướng tự nhiên: Đó là không ngừng tiêu hao và không ngừng bổ sung. Quá trình tiêu hao năng lượng chính là một quá trình siêng năng. Năng lượng của sinh mệnh xưa nay chẳng bao giờ cam chịu bị kìm kẹp, mà sẽ ngoan cường tìm kiếm sự giải phóng và biểu đạt. Vì thế, siêng năng là một quá trình thuận theo tự nhiên, còn lười biếng lại là một quá trình phản tự nhiên, phản lại sinh mệnh.   


Sự lười biếng quan sát thấy trong cuộc sống hiện thực là một hiện tượng đầy quái đản. Nhiệm vụ của chúng ta là lột sạch lớp da vẽ bề ngoài để nhìn thấu sự chân thực của tâm hồn. Ngay cả nhìn từ bề mặt, cũng thấy rõ những kẻ được gọi là lười biếng ấy chỉ lười biếng ở một vài phương diện nào đó, còn ở những phương diện khác họ lại vô cùng chăm chỉ; tính theo tổng lượng năng lượng tiêu hao, họ chẳng hề thua kém những người siêng năng. Chẳng hạn, những kẻ tạo ấn tượng lười biếng trong học tập, công việc thì nhan nhản khắp nơi, nhưng những người này trong chuyện chơi bời, ăn uống hay làm tình thì chưa chắc đã lười, trái lại có khi còn siêng năng hơn người bình thường. Cho nên, cần phải thêm vào cho sự lười biếng một định ngữ, gọi là "sự lười biếng cục bộ có chọn lọc", điều này hoàn toàn đồng nghĩa với "sự siêng năng cục bộ có chọn lọc". Không một ai là "kẻ lười biếng hay siêng năng toàn diện không chọn lọc", trừ phi kẻ đó không phải là con người.   


Nhìn sâu hơn nữa, bản thân sự lười biếng cục bộ có lẽ lại chính là một kiểu siêng năng, hơn nữa còn là sự siêng năng ngấm ngầm, ẩn giấu trong chính cái cục bộ ấy. Giới làm công tác tâm lý từng cùng nhau vạch ra một kế hoạch khôi hài nhằm cưỡng chế cai nghiện mạt chược. Cái gọi là nghiện một hoạt động nào đó, thực chất chính là siêng năng quá độ ở hoạt động đó. Kế hoạch cụ thể như sau: Bốn con nghiện mạt chược bị nhốt trong một tòa nhà nhỏ, nhiệm vụ mỗi ngày là dưới sự cưỡng ép của "cảnh sát" phải ngồi đánh mạt chược. Sáu giờ sáng thức dậy, đánh hai tiếng mạt chược mới được ăn sáng; ăn xong lại tiếp tục đánh cho tới bữa trưa; sau giấc nghỉ trưa ngắn ngủi, lại bị ép ngồi vào bàn mạt chược; sau bữa tối tiếp tục đánh như thường lệ, mãi đến nửa đêm mới được đi ngủ. Đề tài bàn tán của bốn người chỉ được phép xoay quanh mạt chược. Tường nhà, ga trải giường, mặt bàn và quần áo của họ đều in hoa văn các quân Đồng, Sách, Vạn; ngay cả đồ ăn cũng là bánh bao, cơm nắm và thịt tảng nặn hình quân bài mạt chược. Theo ước tính lạc quan, cứ thế sau hai tháng, bốn người này chỉ cần nhìn thấy hoặc nghe thấy hai chữ "mạt chược" là đã buồn nôn, nói chi tới chuyện chơi. Thế là trong chuyện chơi mạt chược, họ đã biến từ siêng năng thành lười biếng. 


Sự lười biếng này là có ẩn ý; bởi vì sâu thẳm trong lòng, họ sẽ lờ mờ cảm thấy hễ cứ đánh mạt chược là đang nằm dưới sự kiểm soát của viên "cảnh sát" ép họ chơi, nên để đối kháng lại "cảnh sát", họ quyết định không chơi nữa. Mà đối kháng là một trạng thái hao tổn năng lượng, thế nên nó cũng chính là một trạng thái siêng năng.   


Một người đàn ông trưởng thành từng hỏi tôi: "Từ nhỏ tôi đã lười, cha mẹ, thầy cô nói tôi suốt mấy chục năm trời mà tôi không sao sửa được, anh bảo tôi phải làm sao?" Tôi mỉm cười đáp: "Thực ra anh rất siêng năng đấy chứ; anh kiên trì bền bỉ duy trì sự lười biếng suốt mấy chục năm ròng rã, điều đó thực sự cần một nghị lực rất lớn và rất nhiều năng lượng. Lười một ngày thì dễ, lười cả đời mới khó; hay nói cách khác, anh vẫn luôn lười biếng một cách đầy siêng năng. Vả lại, nếu có một ngày anh bỗng nhiên không còn lười nữa, thì chẳng phải là anh đã 'phản bội' lại lời phê chuẩn cả đời của cha mẹ và thầy cô dành cho anh hay sao?"   


Nhân chi sơ, tính bản cần. Việc biệt giam sở dĩ là một hình phạt tàn khốc, là vì nó tước đoạt mất khả năng siêng năng của con người. Trong hoàn cảnh thân thể và tâm hồn đều tự do, ở mọi phương diện, vào mọi thời khắc, con người đều có xu hướng tự nhiên là nới rộng phạm vi và gia tăng số lượng của sự sống.   


6. Tin tưởng người khác chính là tin tưởng bản thân

   

Có một trò chơi tâm lý về lòng tin. Trong một nhóm, người ta yêu cầu một người dùng khăn bịt kín mắt rồi ngả người ra phía sau, đồng thời nói trước với anh ta rằng có hai người đang đứng phía sau đỡ lấy anh, tuyệt đối không để anh ngã chạm đất bị thương. Một bộ phận có thể chẳng chút đắn đo mà ngửa người ngã ra sau; một bộ phận khác phải kéo khăn bịt mắt ra nhìn xem phía sau có người hay không, hơn nữa người đó có phải là kẻ cường tráng khỏe mạnh đang sẵn sàng đỡ mình hay không, rồi mới yên tâm ngả người; lại có một bộ phận, dẫu đã xác định chắc chắn phía sau có người đỡ, vẫn không tài nào ngả người ra được, rốt cuộc biến thành động tác lùi lại vài bước.   


Trong trò chơi này, người có thể ngả người ra sau là người sở hữu năng lực tin tưởng người khác; còn người hoàn toàn không thể ngả ra sau lại là kẻ thiếu hụt năng lực tin tưởng người khác. Đồng thời, qua trò chơi này, chúng ta có thể thấy rằng: Tin tưởng người khác đòi hỏi phải dám mạo hiểm một chút. Bởi vì hoàn toàn có một phần vạn khả năng là khi bạn ngả người ra sau, người ta lại né sang một bên, không tuân thủ quy tắc trò chơi để bảo vệ bạn; hoặc giả họ rất muốn bảo vệ bạn nhưng lại không đủ sức để đỡ lấy bạn. Hậu quả của cả hai tình huống này là bạn sẽ bị thương.   


Trên thế gian này, không có con người hay sự việc nào xứng đáng để tin tưởng một cách tuyệt đối. Do đó, hễ có lòng tin là ắt sẽ luôn song hành với một mức độ rủi ro nhất định. Người có tâm lý lành mạnh sẽ xử lý vấn đề này theo lối mờ hóa: Chỉ cần có phần lớn nắm chắc, họ sẽ lựa chọn hoàn toàn tin tưởng, và dựa trên nền tảng lòng tin ấy để làm những việc cần làm; còn người tâm lý không mấy lành mạnh lại quá xem trọng cái phần cực nhỏ mà sự vật không nắm chắc được kia, để rồi trong hành vi trở nên do dự bất quyết, được mất lo âu.   


Tin tưởng không phải là một thái độ, mà là một loại năng lực. Xét từ căn bản, sự tin tưởng của một người đối với người và việc bên ngoài chính là kết quả của việc phóng chiếu (projection) lòng tự tin của chính mình ra thế giới ngoại tại. Quay trở lại ví dụ trò chơi bên trên: Những người an tâm ngả người ra sau đã phóng chiếu phần đáng tin cậy của bản thân lên người bảo vệ phía sau lưng mình; một người như thế khi sắm vai kẻ bảo vệ cũng sẽ tận tâm tận trách. Ngược lại, những kẻ không thể ngả ra sau đã phóng chiếu phần không đáng tin cậy của chính mình lên người bảo vệ; người như thế mà làm kẻ bảo vệ thì hậu quả thực sự đáng lo. Có lẽ một ví dụ đơn giản hơn có thể nói rõ vấn đề này: Trong mắt kẻ trộm, tất cả mọi người đều có thể là kẻ trộm. Nhìn từ ý nghĩa này, tin tưởng người khác chính là tin tưởng bản thân.   


Xét từ một góc độ khác, bản thân sự tin tưởng có đôi chút phong vị của canh bạc, đương nhiên là một canh bạc lành mạnh và vô hại. Bởi vì nếu bạn tin tưởng một ai đó, điều đó trên thực tế đồng nghĩa với việc bạn từ bỏ sự giám sát, kiểm soát và cảnh giác đối với anh ta; mà làm như vậy chắc chắn hàm chứa một mức độ mạo hiểm nhất định. Tục ngữ có câu "Đổ tràng thượng tuyển nữ tế" (Chọn rể trên chiếu bạc), ý muốn nói nhìn vào thái độ khi đối mặt với rủi ro có thể nhìn ra tố chất tâm lý căn bản của một con người; những ai dám mạo hiểm ở mức độ vừa phải rõ ràng có mức độ lành mạnh tâm lý cao hơn.   


Từng có lần tôi hỏi một người cha: "Nếu anh không còn quản thúc đứa con trai đang học lớp mười hai của mình nữa thì sẽ ra sao?" Người cha lập tức đáp: "Thế thì nó chẳng lật tung trời lên à?" Lại hỏi tiếp: "Ở tuổi của cháu ngày trước, có ai quản anh không?" Đáp rằng: "Chẳng ai quản cả, nhưng tôi tự giác hơn nó, nên không lật trời." Rõ ràng là người cha này thiếu cảm giác tin tưởng căn bản đối với con trai mình; điều ông ta tin là hễ không quản thì thằng con chắc chắn sẽ đi giết người phóng hỏa.   


Các nhà tâm lý học nhận định rằng: Tin tưởng một con người đồng nghĩa với việc kiên định tin rằng khuynh hướng tự nhiên của mỗi cá nhân là mong muốn được xã hội chủ lưu đón nhận; nói cách khác, không một ai "tâm cam tình nguyện" đi làm những chuyện phản xã hội, phản đạo đức cả. Quả thực có một số ít người đã làm như vậy, nhưng đó tuyệt đối không phải là lý do để chúng ta phải nghiêm ngặt phòng bị đối với từng người một. Tiêu chuẩn của một xã hội lành mạnh cũng là lòng tin: Tức là tin tưởng mỗi một công dân trong hoàn cảnh bình thường đều sẽ tuân thủ kỷ cương pháp luật.


Lòng tin giữa người với người xưa nay luôn mang tính tương hỗ. Khi chúng ta không tin tưởng người khác, thứ "hồi báo" nhận lại cũng là sự bất tín. Sống trong một mối quan hệ thiếu vắng lòng tin lẫn nhau, chẳng ai có thể cảm thấy dễ chịu. Nhưng nếu chúng ta trao đi sự tin tưởng, "hồi báo" nhận về cũng sẽ là lòng tin; và mỗi một con người sống trong mối quan hệ như thế đều sẽ nhận được sự nuôi dưỡng và thăng hoa về mặt nhân cách.   


7. Bệnh tật và suy nhược là tự mình dọa mình


Sức khỏe của con cái là điều mà bất kỳ ai làm cha, làm mẹ cũng quan tâm nhất. Làm như vậy đương nhiên là đúng đắn, bởi vì chỉ khi có sức khỏe thì mọi thứ khác mới trở thành khả dĩ. Không còn sức khỏe, tất cả những thứ khác đều có nguy cơ mất sạch. Thế nhưng, việc lo lắng quá mức cho sức khỏe, hoặc đánh giá quá thấp tình trạng thể chất của con đến mức căng thẳng kiểu loạn thần kinh chức năng, chẳng những không thể bồi dưỡng nên một đứa trẻ khỏe mạnh, mà trái lại còn khiến đứa trẻ từ nhỏ đã phải sống dưới sự ám thị "có bệnh", để rồi rốt cuộc cả thân lẫn tâm đều chịu tổn hại khôn lường. Những ca bệnh như thế này, trên lâm sàng hay ngay xung quanh cuộc sống của chúng ta, đều vô cùng phổ biến.   


Trưa nọ, tôi đang dùng bữa tại căng-tin phòng khám. Nữ y tá trực bước vào báo có điện thoại tìm tôi. Tôi vội vã bước vào phòng trực, nhấc máy xưng tên, đầu dây bên kia vang lên giọng nói đầy âu lo của một phụ nữ; đại ý là con trai chị cả thân thể lẫn tâm lý đều có vấn đề, hơn nữa vấn đề hết sức trầm trọng, mong tôi dù thế nào cũng phải cứu lấy con chị. Tôi xem lại lịch hẹn, thấy chiều mai còn trống một tiếng nên hẹn chị vào giờ đó. Đặt ống nghe xuống, tôi thầm nghĩ: Cả thể xác lẫn tâm lý đều có vấn đề nghiêm trọng, ca này xử lý e có phần hóc búa đây.   


Trưa hôm sau, tôi gặp một phụ nữ trung niên lạ mặt ở hành lang phòng khám. Chị chủ động bước tới niềm nở chào hỏi, nói rằng hôm qua có hẹn tư vấn với tôi và hôm nay đã đưa con trai tới cùng. Tôi nhìn đồng hồ, thấy còn gần hai tiếng nữa mới tới giờ hẹn. Tôi bảo mình còn vài việc cần giải quyết, buổi tư vấn chỉ có thể bắt đầu đúng giờ. Chị liên tục bảo không sao không sao, bác sĩ cứ bận việc trước đi. Rời khỏi chị, tôi tự hỏi: Người mẹ này và cậu con trai, rốt cuộc ai mới là người để tâm đến buổi tư vấn hơn? Chẳng lẽ mẹ thì quá để tâm, còn con trai thì dửng dưng vô thưởng vô phạt?   


Đúng giờ hẹn, tiếng gõ cửa vang lên. Hai mẹ con trước sau bước vào. Ngồi xuống, người mẹ chỉ vào cậu thiếu niên tầm mười lăm mười sáu tuổi bảo: "Đây là con trai tôi." Tôi quan sát cậu bé: dáng người tầm thước, trắng trẻo và gầy gò, toát lên cảm giác vô cùng suy nhược, toàn bộ thần thái có phần nhút nhát, sợ sệt. Thấy tôi chú ý, cậu cất giọng rất lễ phép nhưng cũng đầy e dè chào tôi: "Cháu chào chú." Sau khi đáp lại một tiếng "chào cháu", tôi nhận ra mình khá có thiện cảm với cậu bé này; có lẽ vì trong sự nghiệp của mình, tôi đã gặp quá nhiều đứa trẻ như thế.   


Người mẹ bắt đầu trình bày tình hình, tốc độ nói rất nhanh, ngập tràn lo âu. Chị giới thiệu mình họ Phan, con trai tên là Đoan Đoan, vì cậu chào đời vào đúng buổi trưa Tết Đoan Ngọ. Dù sinh ra vào một ngày lễ được vạn người chúc tụng, nhưng với Đoan Đoan và gia đình này, đó lại chẳng phải điềm lành; bởi ngày dự sinh của chị Phan lẽ ra phải là tròn ba tháng sau Tết Đoan Ngọ ấy. Đoan Đoan sinh non, vừa lọt lòng đã phải đưa vào lồng ấp; công nghệ hiện đại đủ sức giữ cho những đứa trẻ sinh non như vậy sống sót. Nằm lồng ấp hai tuần, Đoan Đoan mới được bế ra ngoài.   


Chị Phan kể tiếp: Vì sinh non nên cháu tiên thiên bất túc, từ nhỏ đã yếu ớt hơn những đứa trẻ khác. Cháu đặc biệt dễ ốm, tiêu chảy, sốt, hen suyễn... như cơm bữa, trừ ở nhà ra thì thời gian ở bệnh viện là nhiều nhất. Dĩ nhiên cũng có lúc không ốm đau, nhưng những lúc đó so với những đứa trẻ sinh đủ tháng vẫn kém xa: sức lực, độ dẻo dai, thậm chí lượng ăn, cân nặng, chiều cao đều không thể bì được. Lâu dần, những yếu thế về thể chất này dẫn tới các vấn đề tâm lý ở đứa trẻ, chẳng hạn như tự ti, nhút nhát, cô độc. Lên cấp hai, các bạn thấy dáng vẻ ấy của Đoan Đoan bèn đặt cho cậu biệt danh là "nữ Lâm Đại Ngọc", khiến Đoan Đoan càng xa lánh bạn bè hơn nữa.   


Tôi hỏi: "Thế Đoan Đoan có phương diện nào có thể so bì được với người khác không?" Nét mặt chị Phan thoáng qua một tia nhẹ nhõm và tự hào. Chị nói về mặt học tập, Đoan Đoan rất cừ; toàn khối, trừ một nam sinh được công nhận là dạng thiên tài ra, thành tích của Đoan Đoan hoàn toàn vững vàng ở vị trí số một, nghĩa là chỉ kém cậu bạn kia một chút xíu. Nghe xong tôi rất mừng, vì cảm thấy mình đã tìm được điểm đột phá cho buổi tư vấn. Nhưng trước khi tiến hành can thiệp, vẫn còn vài câu hỏi bắt buộc phải làm rõ.   


Tôi hỏi: "Đoan Đoan hiện tại trông khá suy nhược, gần đây có đi kiểm tra gì không? Có phát hiện ra vấn đề gì không?"   


Chị Phan đáp: Vì thường xuyên đi viện nên hầu như mọi xét nghiệm làm được đều đã làm hết rồi, chẳng phát hiện ra vấn đề gì cả. Nhưng đi khám Đông y, các thầy thuốc luôn chẩn đoán là tiên thiên bất túc, các đợt ốm đau làm tổn thương nguyên khí, thận hư, âm thịnh dương suy...; uống bao nhiêu thuốc bắc cũng không bổ lại được.   


Tôi hỏi tiếp: "Chị có tin vào những lời của Đông y không?"   


Chị Phan bảo rất tin, vì ông nội chị là danh y Đông y nổi tiếng, ảnh hưởng rất sâu đến quan niệm sức khỏe của cả dòng họ.   


Tôi hỏi: "Thế chồng chị nhìn nhận tình trạng của cháu thế nào?"   


Sắc mặt chị Phan hơi đổi, dường như có phần bực bội: "Anh ấy thường xuyên vắng nhà, mà dẫu có ở nhà cũng chẳng mấy khi quan tâm đến con, lại còn luôn miệng bảo con chẳng có bệnh tật gì, có bệnh cũng là do nuông chiều mà ra; thậm chí lúc tôi đi công tác, bảo anh ấy cho con uống thuốc bắc anh ấy cũng không chịu. Trong vấn đề dạy dỗ và chăm sóc con, vợ chồng tôi bất đồng ý kiến dữ dội."   


Tôi bắt đầu chuyển hướng câu hỏi sang chính Đoan Đoan: "Bản thân cháu có cảm thấy thể chất của mình rất kém không?"   


Phản ứng của Đoan Đoan rất đáng nghiền ngẫm; cậu ậm ừ mấy tiếng rồi buông một câu nước đôi: "Có lẽ vậy ạ."   


Thời gian buổi tư vấn đã hết. Chúng tôi hẹn gặp lại vào đúng giờ này tuần sau. Hai mẹ con đến đúng hẹn. Sau vài lời chào hỏi, tôi bắt đầu hỏi chị Phan: "Tại sao thành tích học tập của Đoan Đoan lại tốt như vậy?"   


Chị Phan gần như chẳng cần suy nghĩ đáp ngay: "Bởi vì trí tuệ của tôi và bố cháu đều khá tốt, thời phổ thông thành tích đều xuất sắc, lại cùng học đại học danh tiếng; cháu di truyền trí tuệ từ chúng tôi." Có thể nhận thấy chị Phan vô cùng tự hào về điều này.   


Tôi lại hỏi: "Sức khỏe của chị và anh nhà thế nào?"   


Chị Phan đáp: "Cũng rất tốt ạ, hiện tại hai vợ chồng vẫn lần lượt là vận động viên đội bóng đá và đội bóng bàn của cơ quan."   


Câu hỏi tiếp theo bắt đầu mang tính thách thức. Tôi hỏi: "Vậy tại sao về mặt sức khỏe thể chất, Đoan Đoan lại không di truyền những đặc tính ấy của anh chị?"   


Chị Phan phân trần: "Bởi vì cháu sinh non, nên tình trạng sức khỏe bị tổn hại; dẫu tầng gen là tốt, nhưng cháu không được phát triển trọn vẹn trong tử cung."   


Tôi vặn lại: "Vậy tại sao việc sinh non lại không ảnh hưởng đến trí lực của Đoan Đoan? Theo lẽ thường, trí lực cũng phải bị ảnh hưởng chứ?"   


Chị Phan dường như chưa từng nghĩ tới câu hỏi này bao giờ, nên nhất thời lúng túng không biết trả lời ra sao.   


Căn phòng im lặng một hồi, sau đó tôi bắt đầu "diễn thuyết": "Gần đây tôi có đọc một báo cáo nghiên cứu đăng trên tạp chí y học hàng đầu thế giới; các tác giả đã tiến hành đo đạc và thống kê chính xác các chỉ số sinh lý, tâm lý của 28.000 trẻ sinh non, sau đó đem so sánh với các trẻ sinh đủ tháng cùng lứa tuổi, thì phát hiện cơ năng sinh lý và tâm lý của trẻ sinh non ưu việt hơn hẳn so với trẻ sinh đủ tháng. Thế nên các nhà y học mới suy đoán rằng: Có lẽ vì trẻ sinh non đến với thế giới này sớm hơn, nên thân tâm dễ thích nghi hơn với một thế giới hoàn toàn khác biệt so với tử cung. Các nhà y học thậm chí còn kiến nghị: Sau này chúng ta không nên đợi đến ngày 'dưa chín cuống rụng' nữa, mà nên thống nhất mổ đưa trẻ ra ngoài sớm trước hai tháng, để các cháu sớm được nếm trải phong ba bão táp, sớm va chạm sự đời."   


Khi nghe tôi nói những lời này, trên mặt chị Phan liên tục hiện lên vẻ hoài nghi; nhưng thấy tôi nói với vẻ cực kỳ nghiêm túc, chị liền chìm vào suy tư sâu sắc. Tôi biết, một vài chuyển biến quan trọng đã bắt đầu diễn ra trong nội tâm chị. Nhìn sang Đoan Đoan, cậu bé dường như cũng đầy hứng thú với nghiên cứu này. Tôi rất hiểu cảm giác ấy: Một cậu thiếu niên tuổi dậy thì chịu đủ mọi phiền toái vì bệnh tật, bỗng nhiên nghe được tin "bình phục oan sai" rằng tiên thiên của mình chẳng những không khiếm khuyết mà trái lại còn "tiên thiên vượt trội", ắt hẳn chẳng khác nào nghe thấy thanh âm an ủi của đất trời.   


Chị Phan hỏi: "Vậy làm thế nào để sức khỏe của cháu tốt lên? Tôi phải làm gì?"   


Vì thời gian buổi này đã hết, tôi bảo lần sau sẽ trả lời. Một tuần sau gặp lại, câu đầu tiên tôi nói là: "Báo cáo nghiên cứu tôi kể với chị lần trước là do tôi bịa ra đấy, tôi chưa từng đọc bài báo nào như thế cả." Chị Phan lập tức lộ vẻ giận dữ, ngoảnh mặt đi không nhìn tôi; nhưng một lát sau chị quay lại, mỉm cười bảo: "Làm bác sĩ như anh quả thực có chút 'xấu tính' đấy nhé." Tôi cũng cười lớn theo.   


Tôi giải thích: Sở dĩ tôi bịa ra "báo cáo" ấy là vì muốn chứng minh một điều: Cùng một sự việc, bạn có thể lợi dụng nó theo cách này, cũng có thể lợi dụng nó theo cách khác. Cụ thể trên người Đoan Đoan, bạn có thể "lợi dụng" chuyện sinh non để làm nguyên nhân cho sự suy nhược của cháu, nhưng cũng có thể "lợi dụng" chuyện sinh non để chứng minh rằng cháu khỏe mạnh hơn người bình thường. Khác nhau một niệm, kết quả một trời một vực.   


Chị Phan vặn lại: "Chẳng lẽ ý anh là Đoan Đoan vốn dĩ chẳng có vấn đề gì, chỉ vì tôi luôn nghĩ cháu có vấn đề, nên cháu mới thực sự có vấn đề sao?"   


Tôi không trực tiếp trả lời câu hỏi ấy mà hỏi ngược lại: "Ở cơ quan, nếu chị gặp một vị lãnh đạo luôn cho rằng chị vừa ngốc vừa lười, ngày nào cũng tỏ ý mong chị thông minh hơn, chăm chỉ hơn; sau vài năm, chị sẽ biến thành bộ dạng thế nào?"   


Chị Phan ngẫm nghĩ rồi bảo: "Thế thì chắc chắn tôi sẽ càng ngốc hơn, càng lười hơn; không làm thế thì sao 'xứng' với cách nhìn nhận của ông ta về tôi được!"   


Dứt lời, phòng trị liệu vang lên tiếng cười. Tiếng cười của ba người, mà giòn giã nhất lại đến từ Đoan Đoan – cậu bé nãy giờ ngồi bên cạnh rất ít khi mở miệng.   


Tôi bảo: "Đến lúc đúc kết lại rồi. Thứ nhất, từ nay về sau, nếu qua các phương tiện y học hiện đại kiểm tra mà không phát hiện ra Đoan Đoan có bệnh gì, thì chúng ta cùng nhau kiên quyết tin rằng cháu hoàn toàn khỏe mạnh. Còn những thuyết Đông y kia là nhìn nhận vấn đề từ một góc độ khác, tôi không hiểu lắm, nên tạm thời chúng ta gác sang một bên; hai mẹ con có đồng ý không?" Đoan Đoan lập tức đồng ý; chị Phan hơi ngập ngừng một thoáng, dường như có chút "tiếc nuối", nhưng sau đó dứt khoát bảo: "Tôi đồng ý."   


Tôi nói tiếp điều thứ hai: "Bắt đầu từ hôm nay, hễ không bị y học hiện đại kết luận có bệnh, Đoan Đoan tuyệt đối không uống bất kỳ loại thuốc nào, bao gồm cả cái gọi là 'thuốc bổ'. Khuyến khích Đoan Đoan mạnh dạn làm tất cả những việc mà các bạn cùng trang lứa làm, như đá bóng, bơi lội, ăn kem, ăn ma lạt thang (canh cay tê)..." Lời còn chưa dứt, Đoan Đoan đã đứng bật dậy reo to: "Tuyệt quá! Cháu đồng ý!" Sống mũi tôi hơi cay cay, biết rằng cậu bé ở những phương diện này đã phải "nhịn" quá lâu rồi. Có lẽ trong lòng chị Phan còn xót xa hơn, bởi tôi thấy rõ mắt chị đỏ hoe, khóe mắt đã đọng lại những giọt lệ lấp lánh dưới ánh đèn phòng trị liệu.   


Tôi hẹn một tháng sau sẽ trò chuyện riêng với chị Phan. Khi gặp lại, tôi gần như không còn nhận ra người mẹ đầy vẻ lo âu bất an của hai tháng trước nữa. Cử chỉ ung dung, nét mặt điềm đạm, rất phù hợp với thân phận một trí thức nữ có học thức cao và giữ vị trí công tác quan trọng. Chị rành mạch kể cho tôi nghe: Do hai vợ chồng đã đạt được sự đồng thuận trong việc đối xử với con, nên không khí gia đình trở nên vô cùng hòa thuận; Đoan Đoan đã trút bỏ thân phận "người bệnh", thể lực ngày càng tốt lên, mỗi tuần đá bóng ít nhất hai trận, kỹ thuật tiến bộ rõ rệt, được bạn bè chào đón, mối quan hệ nhân tế tự nhiên cũng cải thiện vượt bậc.   


Nói xong những điều đó, chị Phan nghiêm nét mặt bảo: "Tôi biết các anh luôn giữ bí mật cho thân chủ, nhưng với gia đình tôi thì không cần đâu. Tôi mong anh hãy đem câu chuyện của gia đình chúng tôi kể cho tất cả các bậc cha mẹ và con cái trong thiên hạ nghe, để họ hiểu rằng: Xin đừng bao giờ đem những bệnh tật và suy nhược do mình tự tưởng tượng ra giáng xuống người khác như một lời nguyền rủa."   


Nghe xong, tôi dâng lên lòng kính trọng sâu sắc và trịnh trọng đáp: "Tôi nhất định sẽ làm như vậy."   



8. Đừng nói những lời quá đỗi đúng đắn (别说太正确的话)


Có một người sau khi biết Trái Đất hình tròn, ngày nào đi trên phố cũng gặp ai là lặp đi lặp lại với người đó câu: "Trái Đất hình tròn." Chẳng bao lâu sau, người này bị cưỡng chế đưa vào bệnh viện tâm thần.   


Lời người này nói tuy chẳng sai chút nào, nhưng nếu những lời không sai ấy bị lặp đi lặp lại quá độ, thì bản thân cách làm đó đã là có vấn đề. Trên thực tế, chúng ta thường xuyên bắt gặp những kẻ luôn mồm nói những lời đúng đắn, và không ngừng nhai đi nhai lại những lời đó. Chẳng hạn như lãnh đạo đối với cấp dưới, cha mẹ đối với con cái, vân vân. Đáng tiếc là những người này vì nhiều lý do khác nhau mà chưa bị tống đi điều trị.   


Những kẻ thích nói lời quá đúng đắn làm vậy là có nguyên do. Trước hết, là vì họ không tự tin. Nếu nói những lời mang tính sáng tạo độc mở của riêng mình, họ sợ sẽ sai sót, sợ bị người khác nắm thóp. Vì thế, họ đem những lời lẽ hoàn hảo không chút tì vết, giọt nước không lọt làm thành lời của mình, dùng nó để gia cố chút tự tôn đáng thương của bản thân.   


Thứ hai, những người này có thiên hướng ngược đãi người khác bẩm sinh. Giao tế giữa người với người, điều quan trọng nhất là sự giao lưu về mặt tình cảm. Nhưng những kẻ này vì muốn ngược đãi người khác, lại sợ người ta không chịu, bèn biến tướng đổi trò. Nói những lời quá đỗi đúng đắn chính là phương thức để họ ngược đãi tha nhân. Bởi vì đặc điểm của những lời này là: người nói càng nói càng hả hê, càng đã nếp nghĩ; còn người nghe càng nghe càng khó chịu; mà điều khó chịu nhất là dẫu bức bối đến nghẹt thở cũng chẳng có lấy một kẽ hở để phản kích lại. Điểm này chứng minh rằng: Những kẻ nói lời quá đúng đắn, bản thân những lời nói ấy không phải là mục đích của họ, khiến người khác khó chịu mới chính là mục đích thực sự.   


Có lần ngồi ăn trong tiệm cơm, bàn bên cạnh tôi là hai cha con, người con tầm mười một tuổi. Trong suốt hơn một tiếng đồng hồ dùng bữa, tôi nghe thấy người cha lật qua lật lại, biến tấu đủ kiểu, thực chất cũng chỉ quy về một ý: Con học hành không khắc khổ, không dụng tâm, không dốc sức. Cậu con trai nghe mà khổ sở, tìm đủ mọi cách đánh trống lảng để chuyển sự chú ý của bố, nhưng ông bố cứ túm chặt lấy vấn đề này không buông. Cuối cùng, cậu bé cúi gằm mặt, cơm cũng chẳng buồn ăn nữa. Người cha vẫn giữ vẻ mặt làm như thấm thía dặn dò: "Đừng có hễ người ta nói điểm chưa tốt của mình là xị mặt ra, phải dũng cảm thừa nhận khuyết điểm và dũng cảm sửa đổi, thuốc đắng mới dã tật chứ!"   


Tôi thử cảm nhận tâm trạng của người làm cha này, đại khái là thế này: Con trai ngày một lớn khôn, bản thân mình thì ngày một tụt hậu. Nếu không lên mặt dạy bảo con được điều gì đó, rõ ràng là chuyện mất thể diện. Nhất định phải nói điều gì đó, vậy thì cứ nói những lời vĩnh viễn đúng đắn đi. Về phương diện học hành phải nỗ lực, phải khắc khổ, có lẽ chưa một ai làm được tới mức thập toàn thập mỹ, cho nên nói điều này là không bao giờ sai. Trong tình huống ấy, nói cái gì vốn chẳng còn quan trọng nữa, mấu chốt là phải được nói; thế là những lời nhảm nhí đúng đắn cứ thế được lặp đi lặp lại không ngừng. Nghĩ kỹ lại, hạng người này cũng thật đáng thương.   


Triết gia thời Minh là Trương Đới từng nói: "Nhân vô phích bất khả dữ giao, dĩ kỳ vô thâm tình dã; nhân vô si bất khả dữ giao, dĩ kỳ vô chân khí dã" (Người không có tật xấu thì không thể kết giao, vì người đó không có thâm tình; người không có sự si mê thì không thể kết giao, vì người đó không có chân khí). Ý tứ là đừng có chơi với những kẻ trông có vẻ không tì vết. Những kẻ lúc nào cũng chỉ nói lời quá đúng đắn chính là những kẻ trông như chẳng có khuyết điểm gì; giao thiệp với họ, ngoài việc khiến mình mệt chết, tức chết ra, e rằng chẳng có kết cục nào khác.   


Tâm lý học hiện đại cho rằng: Luôn luôn nói lời đúng đắn là một phương thức tự bảo vệ bản thân. Tự bảo vệ dĩ nhiên không sai, nhưng nếu sự tự bảo vệ ấy được xây dựng trên cái giá là nỗi đau khổ của người khác, thì đó lại là vấn đề. Xét về hiệu quả thực tế, kẻ luôn bảo vệ mình theo cách này sớm muộn cũng ứng nghiệm vào câu nói xưa: Lấy đá ghè chân mình. Nghĩa là: làm ra những chuyện khiến người khác bức bách, sớm muộn gì chính mình cũng sẽ bị người khác làm cho khốn đốn.   


Đúng hay sai đều là những thứ thuộc về tầng diện lý trí, còn sự giao vãng giữa con người với con người phần nhiều lại nằm ở tầng diện tình cảm. Tình cảm và lý trí đa phần chẳng can hệ gì tới nhau. Sau khi đã mở toang cánh cửa van tình cảm, tự nhiên ta sẽ không còn quá bận tâm đến việc mình đúng hay sai nữa, bởi vì cảm xúc vốn dĩ chẳng liên quan gì đến đúng và sai. Chỉ trong tình huống dòng chảy tình cảm được lưu thông thông suốt, con người mới thoát khỏi nỗi cô độc. Còn cảnh tượng sau khi tình cảm được giao lưu sẽ ra sao, điều đó ắt có quy luật tự nhiên của nó; bất luận kết quả thế nào, đó cũng là thứ chúng ta bắt buộc phải tiếp nhận. Xét ở mức tối thiểu, kết quả tồi tệ nhất sau khi giao lưu tình cảm vẫn tốt đẹp hơn ngàn lần mối quan hệ bạo hành và chịu bạo hành (thi ngược và thụ ngược) ở tầng diện lý trí giả tạo.   



9. Dùng tâm thái du hý để làm việc mưu sinh (以游戏之心,做养家糊口之事)


Con người là loài động vật của trò chơi (du hý). Muôn sự muôn vật trên cõi đời này đều có thể lấy thái độ du hý để đối đãi và tham gia.   


Thái độ chơi trò chơi của con trẻ là cực kỳ nghiêm túc. Đối với chúng, bản thân trò chơi đã mang ý nghĩa cứu cánh tối hậu; chúng dốc trọn toàn bộ trí lực, tinh lực và tình cảm của mình vào trò chơi. Kết quả của cuộc chơi, dẫu thắng hay bại, đều làm rung chuyển toàn bộ hệ thần kinh của chúng.   


Đối với người lớn, trò chơi chẳng qua chỉ là trò chơi mà thôi. Khi chơi, họ ôm giữ tâm thái của kẻ bàng quan: thắng chẳng quá mừng, thua chẳng quá lo, không động tình cảm, không tổn thương gân cốt, trông có vẻ vô cùng tiêu sái tự tại.   


Sự biến đổi ấy ở người lớn thực chất là một sự thoái hóa. Con người lớn dần lên, sự việc phải đối mặt ngày càng nhiều, nỗi lo âu trong nội tâm cũng theo đó mà trở nên mãnh liệt. Để giảm bớt âu lo trong lòng, người ta buộc phải áp dụng một số biện pháp; một trong những biện pháp đó là phân loại các sự việc gặp phải để đối đãi theo những cách khác nhau. Chẳng hạn như chia sự việc thành việc nghiêm túc và việc không nghiêm túc; vế trước có thể là sự nghiệp, tình yêu, hôn nhân, tình bạn... còn vế sau có thể là đủ loại trò chơi. Phân môn phân loại xử lý như thế sẽ khiến mọi thứ trông có vẻ ngăn nắp, có trật tự hơn. Hơn nữa, sự chuyển hóa giữa nghiêm túc và không nghiêm túc, dấn thân và không dấn thân, để tâm và không để tâm, trông như có thể giúp dây thần kinh được co giãn nhịp nhàng.   


Thế nhưng, bản thân sự chuyển hóa ấy lại tiêu hao rất nhiều năng lượng. Hãy thử nghĩ xem có biết bao người sau khi trải qua một kỳ nghỉ cuối tuần chơi bời xả láng, sáng thứ Hai lại phải lê bước đi làm, rồi cả tuần lễ sau đó đều sống trong sự ngóng trông mòn mỏi ngày cuối tuần kế tiếp; bấy nhiêu thôi cũng đủ biết sự hoán chuyển này đau đớn đến nhường nào.   


Sự đánh mất tinh thần du hý của trẻ thơ bắt nguồn từ giáo dục. Một trong những phương thức giáo dục con cái của nhiều người lớn là bắt trẻ phải tách rời việc học "chính kinh đàng hoàng" với trò chơi "bất chính kinh", yêu cầu trẻ lúc chơi ra chơi, lúc học ra học. Lâu dần, điều đó tạo nên thế đối đầu nước lửa giữa việc học và việc chơi. Đây rõ ràng là người lớn đã đem nỗi lo âu của chính mình truyền sang cho con trẻ, và nó sẽ còn tiếp tục truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác trong dòng tộc.   


Có một câu chuyện kể rằng: Một người bắt đầu có đức tin nơi Thượng đế, anh ta hỏi vị mục sư: "Lúc cầu nguyện con có được hút thuốc không?" Mục sư gần như nổi giận đáp: "Đương nhiên là không được!" Người này ngẫm nghĩ một lát rồi lại hỏi: "Vậy lúc đang hút thuốc con có được cầu nguyện không?" Mục sư nghe xong hoan hỷ đáp: "Đương nhiên là được chứ!" Người sáng suốt chỉ cần nghĩ một chút là hiểu ra hai cách hỏi thực chất chỉ là một chuyện. Ước chừng các bậc phụ huynh sẽ chẳng bao giờ cho phép con vừa học vừa chơi; nhưng liệu con trẻ có thể vừa chơi vừa học được không?   


Người lớn cần phải học lại tinh thần du hý của trẻ nhỏ. Hay nói cách khác, học cách không phân loại vạn sự vạn vật trên đời thành du hý và phi du hý. Vạn vật thảy đều là trò chơi: công việc, cuộc sống, tình yêu, hôn nhân. Có lẽ khi người lớn nhắc tới hai chữ "trò chơi", nó thường vướng chút sắc thái thiếu nghiêm túc; nhưng xin chớ quên rằng, khi chúng ta còn là những đứa trẻ, chơi trò chơi chính là việc nghiêm túc nhất trần đời. Xem trò chơi là thứ không còn nghiêm túc nữa, đó chính là căn bệnh của người trưởng thành.   


Nếu đời người như một trò chơi, thì cuộc chơi ấy cũng có sự phân định ranh giới về mặt cảnh giới.   


  • Cảnh giới thấp nhất là: Xem tất cả mọi thứ trên đời đều là nghiêm túc, không thể xem như trò chơi. Người như thế ắt sẽ mang một bộ mặt thiên chấp cố chấp, một thân thể cứng đờ, và toàn bộ thế giới tinh thần chỉ là một mảnh hoang vu thê lương.   


  • Cảnh giới cao hơn một chút là: Phân chia rạch ròi việc học hành, công tác với trò chơi; lúc thì liều mạng học tập làm việc, lúc thì tận tình vui chơi giải trí, và có ý thức biến trò chơi thành quá trình hồi phục thể lực và tinh lực đã tiêu hao trong những việc nghiêm túc. Cách này thoạt nhìn có vẻ cao minh, nhưng thực chất chẳng cao minh tới đâu. Chiếu theo cách nói của nhà Phật, đây vẫn nằm ở cảnh giới thấp hèn của "tâm phân biệt". Nói một cách hình tượng, người như thế đang sống một cuộc đời như vầy: một khoảng thời gian sống trên thiên đàng, và một khoảng thời gian sống nơi địa ngục. Suốt năm suốt tháng lúc nào cũng chỉ chực ngóng trông ngày nghỉ lễ, chính là hạng người này.   


  • Cảnh giới cao nhất là: Trong nội tâm không còn ranh giới phân biệt giữa du hý và phi du hý nữa. Dùng tâm thái du hý để làm việc mưu sinh nuôi gia đình, và cũng dùng tâm thái làm đại sự để chơi trò chơi; tâm thần không còn vì sự việc mà bị chia cắt phân ly, sự tiêu hao năng lượng tự nhiên giảm bớt, và tình trạng mệt mỏi rã rời sẽ hiếm khi xảy ra.   


Thử hình dung một khung cảnh thế này: Sáng thứ Hai thức dậy, trước tiên sửa soạn cho mình một tinh thần sảng khoái, sau đó đến văn phòng, trong lòng áng chừng sơ lược mọi rắc rối cần phải xử lý trong năm ngày tới, giống hệt một cao thủ game đang ngắm nghía độ khó của một cửa ải nào đó; ngay sau đó tinh thần phấn chấn, ngấm ngầm mừng thầm: "Càng rắc rối càng tốt, không thế thì sao thể hiện được trình độ của ta?"   


Hoàn toàn có thể tưởng tượng được rằng, trong một trò chơi như thế, năm ngày làm việc theo lối du hý sẽ trôi qua rất đỗi nhẹ nhàng. Hơn nữa, đối với những kẻ biết lấy tâm thái du hý để đi qua cõi nhân sinh, điều nuối tiếc gần như duy nhất chỉ là: Đời người vì quá đỗi nhẹ nhõm, quá đỗi hạnh phúc, mà dường như trở nên quá ngắn ngủi.   



10. Có hy vọng là có thể có tất cả (有希望就可能拥有一切)


Bất kỳ ai từng trải qua huấn luyện y khoa đều biết: Sự biến đổi sinh hóa trong não bộ chính là cơ sở vật chất sản sinh ra các biến đổi về mặt hành vi, cảm xúc và nhận thức. Đây là một bằng chứng rất quan trọng cho thấy vật chất quyết định tinh thần. Ngược lại, sự biến đổi của tinh thần cũng có thể dẫn tới sự biến đổi cơ sở vật chất của bộ não. Lấy ví dụ, một người khi phải chịu sự kích thích từ những biến cố mang tính sang chấn trọng đại như tai nạn xe cộ, người thân qua đời... sẽ rơi vào trạng thái trầm uất, căng thẳng kéo dài. Nếu dùng một loại thiết bị tinh vi để kiểm tra, trạng thái sinh hóa não bộ của người này thực tế đã bị những kích thích tâm lý đến từ bên ngoài làm cho biến đổi.   


Kích thích tâm lý ngoại giới có thể làm thay đổi cơ sở vật chất của não bộ, đây là một kết luận cực kỳ trọng đại. Kết luận này đồng nghĩa với việc: Nếu chúng ta luôn mang lại cho con người những kích thích tâm lý tốt đẹp, thì cấu tạo vật chất của bộ não sẽ phát triển theo chiều hướng tốt. Đây cũng chính là lời giải thích khoa học cho lý do vì sao trị liệu tâm lý lại có thể tạo ra hiệu quả tốt tương đương thuốc men, thậm chí còn ưu việt hơn cả điều trị bằng thuốc.   


Kích thích tâm lý tốt đẹp cũng có thể do chính bản thân chúng ta tự trao cho mình. Chẳng hạn, ngay cả trong một hoàn cảnh vô cùng tồi tệ, khi người khác không thể đưa tay cứu giúp, còn bản thân chúng ta cũng bó tay hết cách, thì dù thế nào đi nữa, chí ít chúng ta vẫn có thể tự tặng cho mình một món quà mang ý nghĩa sống còn: Hy vọng.   


Hy vọng không phải là một thực thể vật chất; nó nhìn không thấy, sờ không được, nhưng lại có thể sản sinh ra nguồn sức mạnh vô cùng chân thực. Vì thế, đôi khi nó cũng chẳng khác biệt gì so với sự tồn tại của vật chất. Có người bảo rằng, dùng thứ hư vô mờ mịt như hy vọng để chấn hưng tinh thần thì luôn phảng phất phong vị của sự tự dối mình lừa người. Những người này đã quên mất rằng, mọi hoạt động tinh thần đều có thể là hư vô mờ mịt, nhưng điều đó tuyệt đối không đồng nghĩa với việc hoạt động tinh thần là thứ có cũng được mà không có cũng chẳng sao đối với loài người.   


Luôn giữ cho bản thân niềm hy vọng cũng tương đương với việc luôn tạo cho bộ não của mình những kích thích lành tính; bộ não khi ấy sẽ ở trong trạng thái có lợi cho sự sản sinh những cảm xúc tích cực. Cảm xúc tích cực sẽ dẫn tới nhận thức tích cực, và cũng sẽ dẫn tới hành vi tích cực; vì thế, người có niềm hy vọng trong lòng sẽ có tâm trạng vui vẻ, nhìn nhận sự vật lạc quan, hành vi ung dung mà ngăn nắp. Trong một trạng thái tinh thần như thế, còn có chuyện gì mà không thể làm được?   


Ngược lại, không có hy vọng lại hoàn toàn là một chuyện khác. Ngay cả khi hoàn cảnh bên ngoài không đến mức quá tồi tệ, người dễ đánh mất hy vọng cũng sẽ chủ động từ bỏ nỗ lực, để rồi bỏ lỡ hết cơ hội này đến cơ hội khác nhằm thay đổi cảnh ngộ của mình. Đến khi kết quả biến chuyển tới mức tồi tệ nhất, anh ta thậm chí có thể buông một câu: "Ngay từ đầu tôi đã biết chắc tình hình thế nào cũng nát bét thế này mà." Điều anh ta không hề hay biết là: Chính cái gọi là "đã biết trước" thuở ban đầu ấy đã khiến anh ta đánh mất hy vọng, cũng đánh mất luôn tinh thần phấn chấn do hy vọng thúc đẩy, để rồi biến kết quả trở nên tồi tệ đúng như vậy.   


Trong y học, có rất nhiều ví dụ về việc hy vọng tạo nên kỳ tích. Chẳng hạn như trong việc điều trị cho bệnh nhân ung thư. Số liệu thống kê cho thấy: Những bệnh nhân ôm giữ hy vọng được sống tiếp có thời gian sinh tồn dài hơn rất nhiều so với những bệnh nhân đã hoàn toàn tuyệt vọng. Trong những ví dụ như thế, tác dụng mà hy vọng tạo ra là: khiến con người có tâm trạng vui vẻ, điều này giúp gia tăng khả năng miễn dịch của cơ thể, khiến bệnh nhân có thể chủ động, tích cực phối hợp với các biện pháp y tế mà bác sĩ áp dụng, vân vân.   


Ngoài ra, tôi vẫn luôn ngoan cố tin rằng: Những lợi ích mà hy vọng mang lại cho chúng ta vẫn chưa được khám phá hết. Tôi không phải là một người theo thuyết hữu thần, nhưng tôi tin rằng Mẹ Tự Nhiên từ thuở ban sơ cho đến muôn đời sau sẽ luôn săn sóc loài người chúng ta, giống như vạn vật đều tắm mình dưới ánh dương, để tâm hồn chúng ta được tắm mát trong ánh sáng rực rỡ của niềm hy vọng.   


Có hy vọng là có khả năng có được tất cả. Hay nói cách khác, dẫu cho chúng ta hai bàn tay trắng chẳng có thứ gì, chỉ cần chúng ta có hy vọng, thì chúng ta tuyệt đối không phải là những kẻ bần cùng thực sự.   



11. Ăn uống cũng là một trạng thái "thị nhược" (吃,也是一种“示弱”的状态)


Trong tất cả mọi tập tính của con người, không có gì bộc lộ tính động vật rõ rệt hơn chuyện ăn uống. Bất luận có phải là quý ông lịch lãm, thục nữ đoan trang hay không, và bất kể người đó có tuân thủ nghiêm ngặt các quy tắc trên bàn ăn đến mức nào, thì việc ăn uống xét cho cùng vẫn phải tính là một hành vi không mấy thanh nhã. Cứ thế nhét những thứ thể lỏng, thể rắn, thể bán rắn, đủ loại sắc màu, đồ mặn đồ chay, hình thù kỳ dị, lớn nhỏ bất nhất vào cái lỗ thịt nằm dưới mũi được gọi là "miệng", rồi sau đó còn phải dùng mấy chục vật thể đóng vai trò như cối xay được gọi là "răng" để nghiền nát, nhào trộn chúng cho thật đều, lại còn phải tiết thêm những chất nhờn đầy vẻ mờ ám như nước bọt; toàn bộ quá trình ấy dằng dặc, phiền toái và nhơm nhớp, nghĩ đến thôi cũng đủ khiến người ta cảm thấy khó chịu.   


Nhìn từ góc độ này, con người kém xa chiếc điện thoại do chính họ chế tạo ra: Vật nhỏ bé tinh xảo ấy ở một góc nào đó có một cái lỗ còn tinh xảo hơn, cắm vào đó một sợi dây điện sạch sẽ thanh thoát, nó chỉ việc nằm yên lặng ở đó một cách an tĩnh, sau một khoảng thời gian nhất định là đã "ăn no" một cách vô cùng tao nhã.   


Dẫu không mấy thanh nhã, nhưng không ăn không uống thì không xong. So với việc sạc pin của điện thoại, cái sự ăn của con người đã vượt xa khỏi phạm vi thu nạp năng lượng. Trong một xã hội có giai cấp, một người có thể kiếm được thứ gì để ăn có mối liên hệ rất lớn với năng lực của người đó. Ăn uống có ngon hay không can hệ trực tiếp tới địa vị, thân phận, thậm chí là lòng tự tôn của anh ta.   


Một khi chuyện ăn đã dính líu tới lòng tự tôn, thì thông qua việc ăn để thỏa mãn lòng tự tôn liền trở thành một chuyện hết sức bình thường. Biểu hiện điển hình nhất là việc ăn thịt động vật quý hiếm. Động vật quý hiếm xét về mặt dinh dưỡng học liệu có giá trị đặc thù gì hay không vốn dĩ chẳng còn quan trọng nữa; điều quan trọng là ở tầng diện tưởng tượng, việc nuốt những con vật quý vì hiếm ấy vào bụng sẽ khiến bản thân dường như cũng được lây nhiễm đôi chút phẩm chất độc đáo và trân quý. Logic phái sinh từ lối nghĩ này chính là: Bản thân con người vốn chẳng trân quý, chỉ khi ăn động vật quý hiếm thì con người mới trở nên trân quý.   


Để biểu đạt thứ tình cảm tột cùng, người ta cũng thường dùng chuyện ăn. Người phụ nữ nói với người đàn ông: "Em yêu anh đến mức hận không thể nuốt chửng anh vào bụng", mà khi nói lại còn kèm theo vẻ mặt nghiến răng nghiến lợi. Trong tất cả những lời thề non hẹn biển gắn liền với tình yêu, cách biểu đạt này mang đậm đặc tính muốn cùng đối phương đồng quy vu tận nhất sau khi tình yêu đạt đến đỉnh điểm; bởi vì ăn thịt người là phạm pháp.   


Thú vị thay, đối với kẻ mình căm hận nhất, người ta cũng dùng việc ăn để bộc lộ tâm can. Chẳng hạn như câu: "Tráng chí cơ xan Hồ lỗ nhục" (Chí lớn đói ăn thịt giặc Hồ). Ăn thôi chưa đủ, mà còn phải ăn lúc đang đói khát, thế mới càng hả mối căm hờn.   


Từng có nghiên cứu chỉ ra rằng: Toàn bộ các nguyên tố hóa học cấu thành nên cơ thể con người sẽ được thay mới hoàn toàn sau khoảng năm năm. Nói cách khác, bạn của thời điểm này so với bạn của năm năm trước đã được cấu thành từ những vật chất hoàn toàn khác biệt. Giả sử bạn sống thọ một trăm tuổi, bạn sẽ "thoát thai hoán cốt" như thế hai mươi lần. Những vật chất cấu thành nên con người mới của bạn lúc này thảy đều đến từ những thứ bạn đã ăn vào trong năm năm gần nhất.   


Một liên tưởng thú vị: Nếu trong năm năm qua bạn ăn rất nhiều vịt quay Bắc Kinh, thì dưới một đôi mắt nhìn theo lăng kính khoa học thuần túy, bạn hoàn toàn có thể bị xem là một con vịt đang lạch bạch bước đi và quàng quạc kêu to. Cứ thế suy ra, bạn có thể bị xem là lợn, bò, dê, ngựa, vân vân.   


Ý của người say không nằm ở rượu, mà ý của thực khách cũng chẳng nằm ở món ăn. Ngay cả đối với một đứa trẻ sơ sinh vừa chào đời, việc ngậm mút đầu vú mẹ không đơn thuần là để ăn cho no, mà còn để thỏa mãn nhu cầu về cảm giác gắn bó thân mật và cảm giác an toàn.   


Một thí nghiệm khoa học nổi tiếng: Người ta nhốt một chú khỉ con vào chuồng; trong chuồng có một "khỉ mẹ" làm bằng khung sắt có gắn bình sữa trước ngực, và một "khỉ mẹ" khác làm bằng vải nhung mềm mại nhưng không có bình sữa. Kết quả thí nghiệm là: Chú khỉ con khi đói bụng sẽ chạy tới bú bình sữa trước ngực khỉ mẹ bằng sắt, nhưng phần lớn thời gian còn lại, nó lại nép mình nép chặt vào bên cạnh khỉ mẹ bằng vải nhung. Thí nghiệm này chứng minh rằng: Có sữa chưa chắc đã là mẹ, hay nói cách khác, ăn uống tuyệt đối không phải là chuyện quan trọng nhất trên thế gian.   


Ăn uống là một trạng thái thỏa mãn bản năng. Nhìn từ ý nghĩa này, vài ba người ngồi ăn cơm cùng nhau thực chất là đang nhìn nhau thỏa mãn nhu cầu bản năng, cho nên đây cũng là một trạng thái tương hỗ "thị nhược" (示弱 – phơi bày điểm yếu, hạ mình bộc lộ sự mềm yếu). Điều đó tương đương với việc ngầm nói với người khác rằng: "Tôi cũng là con người, tôi cũng có những nhu cầu cơ bản của một con người", vân vân. Vì thế, bầu không khí ăn uống thông thường sẽ rất thư thái và an toàn. Đương nhiên, những bữa tiệc kiểu Hồng Môn Yến không nằm trong số này. Nếu một người cả đời bữa nào cũng phải ăn Hồng Môn Yến, thì độ dài tuổi thọ của anh ta thực sự rất đáng để lo ngại.   


Thích ăn ngon cũng có thể là một đức hạnh căn bản của một con người. Bởi vì tổng lượng vận động của miệng mỗi người đại khái là ngang nhau; nếu phần lớn hoạt động vùng miệng của một người được cống hiến cho việc ăn, thì anh ta tự nhiên sẽ không còn dùng cái miệng ấy để lải nhải buông lời bạo hành người khác nữa. Đối với những kẻ nhiều lời, lảm nhảm và nghiện gieo rắc tin đồn, liệu pháp trị liệu tốt nhất không gì bằng lấy thức ăn nhét cho đầy miệng họ.   


"Thực như kỳ nhân" (Ăn uống thế nào thể hiện con người thế ấy), có lẽ còn sâu sắc hơn cả những câu như "văn như kỳ nhân". Chúng ta cứ thế ăn ăn uống uống, đem vật chất của tự nhiên nạp vào thân thể mình, và có lẽ còn đem cả tinh thần của tự nhiên nạp vào tâm hồn mình. Nhìn từ ý nghĩa này, ăn uống chính là một nỗ lực để chúng ta dung hợp làm một thể với trời đất.   



12. Tình thân và tình yêu đều nên dung nạp phẩm chất của tình bạn (亲情与爱情都应该加入友情的品质)


Sợi dây liên kết tình cảm giữa người với người đại để có thể chia làm ba loại: tình thân, tình yêu và tình bạn.   


Tình thân là thứ tình cảm được xây dựng trên nền tảng sinh vật học, mang một "tính sâu sắc" không thể vượt qua; cái gọi là "máu đậm hơn nước" chính là để chỉ ý này. Thế nhưng, máu dẫu đậm hơn nước cũng không có nghĩa là trong mọi hoàn cảnh, "đậm" nhất định sẽ tốt hơn "nhạt". Trong vô số mối quan hệ ruột thịt, thường là do thứ tình cảm quá đỗi nồng đậm ấy mà dẫn tới việc người sống bên trong mất đi sự tự do, tâm lý phải chịu sự giam cầm và tổn thương sâu sắc. Tâm lý học hiện đại nhận định: Các chứng bệnh tâm thần nghiêm trọng phần nhiều chính là kết quả của việc phải chịu sang chấn bên trong tình thân.   


Hơn nữa, tình thân dựa trên huyết thống mang tính chất bất khả gián đoạn (không thể cắt đứt), điều này tạo nên tiền đề để những người thân thích có thể "tùy tiện làm càn" với nhau; ngụ ý là: Tôi đối xử với anh thế nào cũng được, bởi vì dù thế nào đi chăng nữa cũng chẳng thể thay đổi được sự thật anh và tôi là người nhà. Rõ ràng, thứ tình cảm không có ranh giới và quy tắc ước thúc này là vô cùng nguy hiểm.   


Tình yêu, cùng với cuộc hôn nhân vốn là sự kéo dài của tình yêu, ở một mức độ nào đó cũng mang tính "bất khả gián đoạn" giống như tình thân. Chẳng có ai kết hôn là để ly hôn cả. Những lời thề non hẹn biển trong tình yêu, tờ giấy đăng ký kết hôn mang thuộc tính hợp đồng nhưng lại không ghi rõ thời hạn hiệu lực, những lời chúc phúc "bách niên giai lão" nhận được trong hôn lễ... thảy đều phủ lên hôn nhân một lớp màu sắc lừa mị về sự "vĩnh thùy bất hủ". "Muốn làm gì thì làm" bèn trở thành chuẩn tắc căn bản của một số người trong mối quan hệ này. Khi ái tình phai màu, tổn thương ngày một sâu, thời hạn hiệu lực của bản "hợp đồng" hôn nhân mới bị đặt lên bàn thảo luận; bất luận kết quả ra sao, phẩm chất của tình cảm cũng đều đã bị hao tổn nặng nề.   


Tình bạn, ngay từ đầu đã phẳng lặng, đạm bạc hơn tình thân và tình yêu. Nó vừa không có cơ sở sinh vật học của tình thân, lại vừa không có cơ sở sinh vật học cộng xã hội học của tình yêu, rõ ràng là mang nét "tiên thiên bất túc". Hơn nữa, việc duy trì nó là có điều kiện; khi những điều kiện ấy không còn tồn tại, việc chấm dứt nó cũng đơn giản hơn việc chấm dứt tình thân hay tình yêu (hôn nhân) rất nhiều, và "di chứng" để lại cũng nhẹ nhàng hơn rõ rệt.   


Tương đối mà nói, đây là một kiểu liên kết tình cảm vô cùng tiêu sái: vừa có thể nồng đậm như máu, lại vừa có thể bình đạm như nước. Trong tình bạn, bạn hoàn toàn có thể nói: "Ngã túy dục miên khanh thả khứ, minh triêu hữu ý bão cầm lai" (Ta say muốn ngủ bác về đi, mai sớm nếu vui ôm đàn lại). Bạn bè của bạn sẽ không mảy may có chút bất mãn nào, anh ta nên đi thì cứ đi, hôm sau muốn đến thì lại đến. Nhưng nếu lời này mà nói với người nhà hoặc người tình, thì bạn cứ việc chuẩn bị sẵn tinh thần để đối phó với những trận đòn lên án đạo đức ngập trời ngập đất, hoặc những cú đấm móc moi tim và chưởng phong khóa họng chẳng biết từ phương nào bay tới.   


Có người bình luận về Freud, nói rằng liệu pháp phân tâm học do ông sáng lập – mỗi lần năm mươi phút, tổng số lần cũng được thỏa thuận trước – chính là một trong những cống hiến vĩ đại nhất mà ông để lại cho thế giới. Bởi vì ông đã thiết lập nên một mối quan hệ có thể chấm dứt; mối quan hệ này có thể "gây áp lực" một cách thỏa đáng để kẻ ở bên trong phải tuân thủ các quy tắc nhân tế cơ bản, và có được cảm giác cấp bách để trưởng thành. Đây đích thực là sự thấu hiểu và phán đoán của bậc cao nhân dành cho bậc cao nhân.   


Rất nhiều nghiên cứu khoa học đã chứng minh: Sự biểu đạt tình cảm với nồng độ quá cao giữa các thành viên trong gia đình sẽ khiến tỷ lệ phát bệnh rối loạn tâm lý gia tăng rõ rệt. Con người thực sự là một loài động vật như thế: không có tình cảm thì bị "đói" chết, tình cảm quá nhiều thì bị "bội thực" mà chết; không nhiều không ít mới là tuyệt nhất. Xét từ điểm này, cả tình thân lẫn tình yêu đều nên xích lại gần hơn với phẩm chất của tình bạn.   


Tình thân nếu mang được phẩm chất của tình bạn thì sẽ không nồng đậm đến mức khiến người ta nghẹt thở. Chuyện đau lòng nhất trên cõi đời này chẳng gì bằng những tiếng than vãn ai oán trong tình thân thế này: "Tôi vì anh mà dốc hết tâm can rút ruột rút gan, thế mà anh lại hận tôi!" Những ai có cảm giác này cần phải hiểu rằng: Chính vì sự dốc hết tâm can của bạn đã tạo ra sự biểu đạt tình cảm quá mức ngột ngạt, cho nên đối phương mới hận bạn; người ta hận bạn vì bạn muốn làm cho người ta "đậm đặc" đến nghẹt thở mà chết!   


Trong tình yêu cũng rất cần dung nạp phẩm chất của tình bạn. Nếu bạn nghĩ đến việc tình yêu rồi sẽ phai màu, tự khắc bạn sẽ tìm cách giữ gìn sắc màu ban sơ của nó; nếu "bản hợp đồng" kết hôn của bạn có thời hạn nhất định, bạn cũng sẽ luôn canh cánh nghĩ cách làm sao để có thể tái ký bản hợp đồng ấy. Một khi mục tiêu đã được xác định rõ ràng, lời ăn tiếng nói và hành vi tương ứng tự nhiên sẽ không thể làm bừa được nữa.   



13. Lấy danh nghĩa thiện ý, làm chuyện độc ác (以善意之名,行恶毒之实)

   


Một số vị thuốc ở dạng nguyên thủy như mật rắn, hoàng liên... khi uống vào miệng rất khó nuốt là một sự thật không ai bàn cãi. Vào thời kỳ kỹ thuật bào chế thuốc chưa phát triển, con người đành phải cắn răng chịu đựng cái đắng cay nhỏ bé do vị thuốc mang lại để đối kháng với nỗi đau khổ lớn hơn do bệnh tật gây ra; đó quả thực là một hành động sáng suốt. Thế nhưng, sau khi viên nang hoặc thuốc bọc đường xuất hiện, đủ thứ đắng cay đã được ngụy trang và bọc kín lại; lúc uống thuốc, người ta chẳng còn phải làm ra vẻ mặt nhăn mày, bĩu môi, trợn mắt đầy khổ sở nữa. Thay vào đó là sự tao nhã hệt như uống tiên đan: tay trái cầm thuốc, tay phải bưng ly nước, một cú cúi đầu, một cái ngửa cổ, viên thuốc đắng ngắt đã chui tọt vào bụng. Bệnh có chữa khỏi được hay không đã là chuyện tính sau; dù sao thì thuốc tốt cũng đã vào vị trí, quá trình chịu ngược đãi cũng đã hoàn tất, hòn đá tảng trong lòng xem như đã được đặt xuống.   


Tin chắc rằng trên đời ắt có những bậc tính tình cương liệt, thà chịu chết vì bệnh chứ quyết không nuốt thuốc đắng. Ít nhất là hầu như mọi đứa trẻ đều có thứ khí phách anh hùng "thà làm ngọc vỡ" như thế; còn người lớn lại là một câu chuyện hoàn toàn khác. Con người lớn dần lên khó tránh khỏi việc nhiễm phải cái thói quen chịu nhịn để cầu toàn: biết rõ là đắng cay mà vẫn cứ cắn răng nuốt vào; dẫu cũng là vì muốn chịu thiệt thòi nhỏ để chiếm món hời lớn, nhưng chung quy vẫn khó tránh khỏi cái hiềm nghi của kẻ cẩu thả sống thừa.   


Có một số vị thuốc tốt có vị đắng, nhưng tuyệt đối không phải tất cả thuốc tốt đều đắng. Cam thảo, la hán quả... ngọt ngào đến mức ai ai cũng thích. Bốn chữ "lương dược khổ khẩu" (thuốc đắng dã tật) ẩn chứa một sự ám thị ngầm rằng "hễ là thuốc tốt thì ắt phải đắng", rõ ràng là đã phạm phải sai lầm logic theo kiểu lấy cái bộ phận để quy chụp cho toàn thể.   


Lấy thuốc đắng dã tật làm đầu câu chuyện là để dẫn ra lời răn dạy: "Trung ngôn nghịch nhĩ" (Lời thật mất lòng). Sự gieo rắc độc hại của câu nói này chỉ có thể dùng hai chữ "thảm liệt" mới hình dung nổi.   


Cũng giống như thuốc đắng dã tật, câu "trung ngôn nghịch nhĩ" ngầm chứa một ngụy biện rằng: Đã là lời nói trung thực thì tất yếu phải khó nghe, chướng tai. Những kẻ bị che mắt bởi câu nói này bèn mang trong mình cái hoài bão và hành vi theo kiểu "ngữ bất thương nhân tử bất hưu" (lời nói chưa làm tổn thương người khác thì chết chưa nhắm mắt). Thời phong kiến ở Trung Quốc, không ít kẻ dâng lời can gián lên bậc thống trị chỉ chăm chăm để ý xem lời mình nói ra có phải là lời can trái tai hay không, thậm chí chỉ cốt sao cho nó chướng tai (vì chướng tai thì ắt là trung thần), mà chẳng thèm đếm xỉa xem người ta có nghe lọt tai hay không, để đến nỗi đầu rơi xuống đất lúc nào cũng chẳng hay.   


Một ví dụ khác chính là các bậc cha mẹ đối với con cái. Một số bậc phụ huynh trong lòng ngập tràn lo âu, hoàn toàn thiếu vắng khiếu hài hước, cứ hễ mở miệng nói chuyện với con là lại bới lông tìm vết, vạch lá tìm sâu, dường như không làm thế thì không thể hiện được rằng mình yêu con. Rốt cuộc, những lời trung ngôn nghịch nhĩ ấy đã nhào nặn ra hết đứa trẻ thiếu tự tin này đến đứa trẻ tự ti khác. Theo thống kê, ở nước ta hiện nay, những đứa trẻ gặp khó khăn trong học tập chỉ có một tỷ lệ cực kỳ nhỏ là do thiểu năng trí tuệ gây ra, tuyệt đại đa số đều do thái độ tồi tệ của cha mẹ và thầy cô "chế tạo" nên.   


Điều này thực sự chẳng khó để thấu hiểu: Một người trưởng thành dẫu được coi là "da dày thịt béo", nhưng nếu lãnh đạo cơ quan ngày nào cũng áp dụng cái chiêu bài "trung ngôn nghịch nhĩ" lên bạn, liệu bạn có làm việc tốt nổi không? Trẻ con vốn "mình hạc xương mai", da thịt non nớt, ngày ngày phải sống trong môi trường ác liệt của "lời thật trái tai", thành tích học tập kém cỏi đã là chuyện phụ, hậu quả nghiêm trọng hơn là nhân cách của chúng sẽ trở nên ti tiện, co quắp và méo mó.   


Học sinh muốn đạt được thành tích tốt rất cần một chút "khí thế quyết liệt" (狠劲 – ngận kính, dũng khí ngoan cường) trong nhân cách; bởi vì nhìn từ một góc độ nào đó, thi cử là bài kiểm tra kép đối với cả trí lực lẫn cường độ nhân cách của học sinh. Nếu chỉ có trí thông minh mà không có dũng khí và sức mạnh để chiến thắng mọi gian khó, thì không thể nào đối diện được với những "làm khó làm dễ" đầy dụng tâm của thầy cô; mà những lời trung ngôn nghịch nhĩ lại vừa vặn đánh bẹp và bẻ gãy cái luồng "khí thế quyết liệt" ấy trong nhân cách của đứa trẻ.   


Cái gọi là "nghịch ngôn" (lời chướng tai), bất luận xét từ hình thức hay nội dung, thảy đều có thể là ác ý. Sự ác ý về mặt hình thức thì chẳng cần bàn cãi nhiều, chỉ một chữ "nghịch" thôi cũng đã lột tả sạch sẽ và triệt để cái hiệu quả gây khó chịu bức bối của nó rồi. Sự ác độc về mặt nội dung thì ẩn giấu tinh vi hơn.   


Lấy ví dụ: Cùng một nội dung lời nói, một người có thể nói ra một cách ôn hòa, uyển chuyển; còn một người khác lại nói với vẻ mặt giận dữ, giọng điệu gay gắt. Phần cảm xúc thừa mứa ra trong lời nói của người sau thực chất là thứ cảm xúc đã lắng cặn, dồn nén từ tận đáy lòng của chính anh ta, vốn chẳng liên quan gì đến sự việc hay nhân vật mà anh ta đang nhắm vào tại thời điểm đó. Nếu anh ta đem thứ "oán hận tích tụ" ấy mượn cớ một chuyện cỏn con dưới danh nghĩa "trung ngôn nghịch nhĩ" để xả vào mặt bậc quân vương phong kiến, thì hành vi ấy có sẵn một cái tên gọi đích danh: Đó là "tìm đường chết".   


Những lời nghịch nhĩ sở dĩ khó lọt tai người ta, ngoài việc bản thân nó có thể ngầm chứa ác ý ra, còn có một nguyên nhân khác: Đứng trước những lời nói chướng tai công kích vào lòng tự tôn và sự tự tin của mình, bất kỳ ai cũng có bản năng tự bảo vệ, và phương thức bảo vệ chính là bịt chặt tai để những lời nghịch ngôn ấy hoàn toàn không lọt vào trong. Ngược lại, những lời lẽ ôn hòa sẽ không kích hoạt bản năng tự vệ của con người, nhờ đó nó có thể thẩm thấu tốt hơn vào sâu trong tâm khảm người nghe và tạo ra những ảnh hưởng như kỳ vọng.   


Freud từng nói: Kể từ khi phân tâm học được khai sinh, cha mẹ đánh con không còn bất kỳ một lý do chính đáng nào nữa. "Nghịch ngôn", bản chất của nó chính là thực thi hành vi bạo hành về mặt cảm xúc đối với người khác; điều này còn tồi tệ hơn nhiều so với việc đánh đập về mặt thể xác. Nghiên cứu tâm lý học chỉ ra rằng: Những người thời thơ ấu từng phải gánh chịu sự bạo hành cảm xúc từ "nghịch ngôn", khi trưởng thành sẽ tự mình thực thi hành vi bạo hành thể xác lên chính bản thân mình, như tự rạch tay tàn hại thân thể, nghiện rượu, nghiện ma túy, vân vân.   


Điểm này có thể lý giải thế này: Một người nếu luôn phải sống trong những lời lẽ ác độc, anh ta sẽ vô thức bị tiêm nhiễm niềm tin rằng mình không phải là một con người tốt đẹp và có giá trị, cho nên anh ta cần phải trừng phạt chính mình thông qua việc tự ngược đãi bản thân. Xét về mặt hình thức, còn có một phương thức tự ngược đãi bản thân khác bề ngoài trông có vẻ chẳng có vấn đề gì to tát, nhưng trên thực tế lại giết người trong vô hình: Đó chính là phong cách làm việc tự ngược đãi bản thân vốn dĩ quá đỗi quen thuộc – làm việc trong thời gian siêu dài, làm việc với cường độ siêu tải. Nghĩ tới những người ra đi khi tuổi đời còn quá trẻ, bạn sẽ hiểu ra rằng thì ra tự sát cũng có thể ẩn giấu một cách tinh vi và "vinh quang" đến thế; ẩn giấu đến mức ngay cả chính bản thân họ cũng không hề hay biết, và "vinh quang" đến độ hàng triệu người phải nghiêng mình thở dài và vỗ tay tán thưởng cho vụ "tự sát" của họ.   


Nếu nhất định phải tìm một từ trái nghĩa cho câu "trung ngôn nghịch nhĩ", nghĩ đi nghĩ lại, có lẽ dùng bốn chữ "trọng thoại khinh thuyết" (重话轻说 – lời nặng nói nhẹ) là thỏa đáng hơn cả. Có thể biến một lời nặng nề thành một lời nói nhẹ nhàng, chí ít cần phải có hai điều kiện:   


  • Một là trí tuệ: Kẻ ngốc nghếch có cấu trúc não bộ đơn giản, không đủ năng lực gia công ngôn ngữ cho trở nên ôn hòa, lời nói thốt ra tự nhiên sẽ chướng tai gai mắt. Hơn nữa, người thông minh đều hiểu rằng một lời kiến nghị hòa nhã bao giờ cũng dễ được người khác tiếp nhận hơn những lời lẽ cay độc; sử dụng một phương pháp mà mình biết rõ là không có hiệu quả, chẳng khác nào dùng đũa để múc canh, cũng là biểu hiện của mức trí tuệ dưới 80 điểm.   


  • Hai là sự siêng năng: Kẻ lười biếng một khi đã lười thì việc gì cũng lười, không chịu bỏ công tốn sức để suy nghĩ nhiều; trong đầu nghĩ cái gì thì phun ra cái nấy cho đỡ tốn công.   


Môi trường nhân tế của một con người, phần lớn đều do chính ngôn ngữ của người đó tạo nên. Nếu một người luôn xử thế làm người bằng những lời lẽ chướng tai, mối quan hệ giữa người với người của anh ta chắc chắn chẳng thể nào tốt đẹp nổi. Còn nếu một người luôn biết cách "trọng thoại khinh thuyết", điều đó đồng nghĩa với việc anh ta luôn luôn nâng niu, che chở cho người khác; và như một sự hồi đáp, anh ta cũng sẽ nhận lại vô vàn sự che chở ấm áp từ cuộc đời.   



14. Tâm thái đối với bệnh tật là một phần của bệnh tật (对待疾病的心态,是疾病的一部分)


Chuyến hành trình của đời người, tất yếu phải đi qua những dãy núi và dòng sông do bệnh tật tạo thành. Đối với một số người, núi có thể thấp hơn một chút, sông có thể hẹp hơn một chút; đối với một số người khác, núi là ngọn núi hiểm trở, sông là dòng sông mênh mông cuộn sóng; còn đối với một bộ phận thiểu số hơn nữa, cả đời họ có thể đều chìm trong trạng thái của một hoặc nhiều chứng bệnh nào đó, một chuyến hành trình như thế hoàn toàn chẳng có lấy một đại lộ bằng phẳng để đi. Nhìn từ bề mặt, bệnh tật là một sự thật và chân tướng đóng đinh bất di bất dịch — nó sờ sờ ở đó. Rất nhiều căn bệnh gây ra những tổn thương cơ quan hoặc tổ chức có thể nhìn thấy bằng mắt thường; một số căn bệnh khác gây ra tổn thương mà mắt thường không thấy được, phải dùng đến các thiết bị chuyên biệt mới quan sát nổi; lại có không ít bệnh tật, mức độ tổn hại do chúng gây ra đến nay chưa một thiết bị tối tân nào có thể phát hiện được, nhưng nỗi đau đớn, sợ hãi và bi thương mà chúng tạo ra thì đương sự lại có thể cảm nhận vô cùng rõ rệt.   


Thế nên, dùng việc phủ nhận sự tồn tại của bệnh tật để trốn tránh bệnh tật tuyệt nhiên không phải là một nước đi sáng suốt. Đôi khi, làm như vậy thậm chí còn nguy hiểm. Tôi từng nói chứng đau bụng kinh ở nữ giới phần lớn do các vấn đề tâm lý gây nên, và điều đó đã làm dấy lên sự phản đối của không ít cô gái. Họ ngộ nhận rằng tôi đang phủ nhận nỗi đau đớn của chứng thống kinh. Điều này khiến tôi buộc phải giãi bày: Nỗi đau của chứng đau bụng kinh là có thực, nhưng nguyên nhân của nó đa phần lại thuộc về tâm lý; sự hiểu biết này có thể dẫn lối chúng ta triệt tiêu những nguyên nhân tâm lý dẫn đến thống kinh, từ đó hóa giải nỗi đau đớn chân thực mà nó mang lại.   


Thế nhưng, bệnh tật với tư cách là một chân tướng vẫn tồn tại rất nhiều điểm đáng để hoài nghi. Chẳng hạn như bệnh ung thư. Cùng một vị trí, cùng một cấp độ ác tính, nhưng đối với những con người khác nhau, tiên lượng thực sự lại hoàn toàn khác nhau. Điều này dĩ nhiên có can hệ tới thể chất cá nhân, tình trạng dinh dưỡng, điều kiện y tế cùng nhiều yếu tố khác; nhưng có một điều chúng ta vĩnh viễn không thể ngó lơ, đó là nó còn liên quan mật thiết tới nhân cách hay nói cách khác là tâm thái của người đó. Y học hiện đại ngày nay đã xem tâm thái của một bệnh nhân khi đối diện với bệnh tật chính là một phần của căn bệnh.   


Trước hết, xét từ nguyên nhân phát bệnh, sự xuất hiện của hầu hết mọi chứng bệnh (có lẽ ngoại trừ các bệnh thuần túy về mặt di truyền học) đều ít nhiều có sự tham gia của các yếu tố tâm lý. Ví như cảm cúm do virus, thoạt trông chẳng chút can hệ gì tới yếu tố tâm lý; nhưng chẳng ai có thể phủ nhận rằng nếu một người trường kỳ chìm đắm trong cảm xúc u uất, công năng của hệ miễn dịch suy giảm, thì khả năng nhiễm virus và phát bệnh đương nhiên sẽ tăng lên rõ rệt.   


Thứ hai, thái độ đối mặt với bệnh tật sau khi mắc bệnh có liên quan trực tiếp tới hành động đối phó: Kẻ bi quan có thể chọn buông xuôi từ bỏ, người lạc quan có thể chọn phản kháng chiến đấu.   


Sau cùng, tâm thái khác nhau dẫn đến những hậu quả tự nhiên cũng chẳng giống nhau. Một báo cáo nghiên cứu về tiên lượng ở bệnh nhân cao huyết áp cho thấy: Tỷ lệ tử vong sau 10 năm của nhóm bệnh nhân được kết hợp trị liệu tâm lý chỉ bằng một nửa so với nhóm không làm trị liệu tâm lý.   


Có người từng thống kê rằng: 70% bệnh nhân đến khám ngoại trú tại các bệnh viện đa khoa lẽ ra phải đồng thời đi gặp bác sĩ tâm lý. Con số này thực sự là vô cùng lớn. Đáng tiếc thay, số người thực sự tìm đến bác sĩ tâm lý ước chừng chưa đầy một phần nghìn. Vô số người khi đứng trước bệnh tật đã chọn làm "người hùng đơn độc" (cô đ膽 anh hùng), tự mình tước bỏ cơ hội quý báu được kiếm tìm sự trợ giúp chuyên môn.   


Cái gọi là chân tướng của nhân sinh đối với mỗi người đều không giống nhau, thế nên thứ chân tướng ấy rất đáng để người ta hoài nghi. Bệnh tật cũng vậy; chân tướng của bệnh tật có lẽ quả thực có một phần nằm sờ sờ ở đó, nhưng vẫn còn một phần khác không phải chân tướng, mà là thứ hư ảo do thế giới nội tâm của mỗi người tự kiến tạo nên.   


Nhà phân tâm học người Anh Wilfred Bion từng nói: Mục tiêu của trị liệu tâm lý chính là đem cái vô hạn biến thành cái hữu hạn. Nguyên tắc này khi ứng dụng vào việc trị liệu tâm lý cho bệnh nhân mắc bệnh thực thể chính là đem những ảnh hưởng tưởng chừng vô hạn của bệnh tật lên con người thu nhỏ lại tới một mức độ hữu hạn.   


Cuốn sách Bài học của tình yêu (《爱的功课》) đã phơi bày ra bức tranh: Dưới sự trợ giúp của những người làm chuyên môn, ảnh hưởng của bệnh tật đã được hữu hạn hóa ra sao, hay nói cách khác là làm thế nào để giam hãm nó trong một phạm vi nhỏ nhất. Khi đã vạch ra được ranh giới hoạt động nhỏ nhất của bệnh tật mà ta không thể triệt tiêu hoàn toàn, chúng ta sẽ giành lại được sức khỏe và sự tự do trong một không gian khoáng đạt hơn rất nhiều.   


Một đời người cũng luôn cất bước giữa lằn ranh của hữu hạn và vô hạn. Đối với đứa trẻ, sinh mệnh dường như dài đằng đẵng đến vô tận; lớn dần lên, người ta mới cảm nhận được tính hữu hạn của kiếp người. Sự biến chuyển nhận thức này chính là một phần của sự trưởng thành. Lại như những sự việc trong đời: Lúc trẻ tuổi, ta cảm thấy mình có thể làm được muôn vàn việc lớn; đến khi không còn trẻ nữa mới thấu suốt rằng, một đời người chỉ cần làm trọn vẹn được một hai việc thôi đã là quá đỗi cừ khôi.   


Nếu nhất định phải tìm ra một thứ cần đi từ hữu hạn đến vô hạn, tôi sẽ chọn chủ đề mà cuốn sách này chạm tới: Tình yêu. Từ yêu chính mình đến yêu người khác, từ yêu người thân đến yêu bạn bè, từ yêu người khỏe mạnh đến yêu thương cả bệnh nhân. Tất cả những hướng đi bước về phía vô hạn ấy, xét một cách trực tiếp, cũng chính là phương hướng trưởng thành trong nhân cách của một con người.   


Trong cuốn sách này, điều chúng ta chứng kiến được chính là: Bệnh tật lùi về sau, lùi vào cõi hữu hạn; tình yêu tiến về trước, bước tới chốn vô hạn. Có được một đời nhân sinh như thế, khi cái đại hạn sinh tử không thể nào né tránh kia ập đến, chúng ta mới có thể ngẩng đầu không chút hối tiếc.   



15. Bạn không hề có bệnh (你没有生病)


Một năm ba trăm sáu mươi lăm ngày, ngày ngày đều là ngày lành. Nhằm gia tăng cảm giác vận động và tính tầng thứ cho đời sống, người ta còn gán cho một số ngày đặc thù — như ngày sinh nhật, các ngày lễ hội — những ý nghĩa riêng biệt, khiến chúng trở nên tốt đẹp hơn những ngày bình thường. Đáng tiếc là chúng ta cũng vô tình hay cố ý biến một vài ngày trở thành ngày xấu. Những ngày xấu này rải rác khắp trong năm, xé nát cuộc sống vốn dĩ phải trôi chảy và tự do.   


Lật mở cuốn hoàng lịch của Trung Quốc, ngày lành và ngày dữ đan xen xuất hiện. Kẻ tin vào những thuyết này tự nhiên sẽ không dám làm những việc không nên làm vào ngày hung. Nếu tuân thủ nghiêm ngặt những quy củ ấy, rất nhiều ngày trong năm gần như chẳng thể làm nổi việc gì. Điều đáng mừng là trong xã hội hiện đại, những kẻ động chút là tra hoàng lịch ngày càng ít đi. Thế nhưng, vẫn còn đó những điều kiêng kỵ không hề có căn cứ khoa học đang ngày ngày chi phối cuộc sống của biết bao người.   


Trên lâm sàng, có thể bắt gặp rất nhiều phụ nữ gặp phải các triệu chứng khó chịu trong thời kỳ kinh nguyệt; biểu hiện cụ thể là đau bụng, mỏi lưng, đau đầu, ăn uống không ngon, cảm xúc tồi tệ, vân vân. Những triệu chứng này biểu hiện vô cùng nghiêm trọng trên cơ thể của một lượng lớn phụ nữ, đến mức gây ảnh hưởng nặng nề tới đời sống và công việc. Khảo sát kiến thức vệ sinh sinh lý của những phụ nữ này, phần đông đều cho rằng kỳ kinh nguyệt là một thời kỳ đặc thù, sức đề kháng của cơ thể suy giảm, rất dễ mắc bệnh, vì thế không được ăn đồ cay nóng, sống lạnh, không được đụng vào nước lạnh, không được vận động, vân vân. Đúc kết lại những quan niệm ấy thực chất chỉ quy về một câu: Đến kỳ kinh tức là đã bị ốm, phải đối đãi với bản thân hệt như đối đãi với một người bệnh.   


Quan điểm như vậy rõ ràng là sai lầm. Kinh nguyệt tuyệt đối không phải là bệnh tật, mà là một hiện tượng sinh lý hoàn toàn bình thường. Phụ nữ trưởng thành có tới một phần năm thời gian cuộc đời nằm trong kỳ kinh nguyệt; nếu xem đây là bệnh tật, thì căn bệnh này mắc phải cũng có phần quá dài rồi. Dưới uy thế tàn bạo của những điều kiêng kỵ, tiến trình sinh mệnh khỏe mạnh đã bị lưỡi dao của căn bệnh hư vô bắn tỉa cho tan tác; bản thân những điều kiêng kỵ kỳ quặc vô căn cứ trong kỳ kinh nguyệt mới chính là thủ phạm đầu sỏ dẫn đến những đau đớn khổ sở trong kỳ kinh.   


Những điều kiêng cữ ấy mang theo một sự ám thị ngầm: Hiện tại bạn đang ốm yếu, cho nên cần phải hết sức cẩn thận; nếu bạn vẫn sinh hoạt như ngày thường, bạn sẽ mắc phải những căn bệnh vô cùng nguy hiểm. Dưới sự ám thị ấy, một cơ thể vốn dĩ khỏe mạnh buộc phải phát ra những phản ứng mang tính bệnh lý; những cơn đau nhức không hề tìm ra tổn thương thực thể chính là bắt nguồn từ cơ chế đó mà ra.   


Nếu một cô gái trong kỳ kinh nguyệt nghiêm ngặt tuân thủ những điều cấm kỵ kia, điều đó tương đương với việc mỗi tháng có vài ngày cô ta tự ép mình phải sống trong một môi trường "bất bình thường"; sự hoán chuyển đột ngột giữa môi trường bình thường và môi trường bất thường này tự nó cũng có thể trở thành một nguồn cơn gây bệnh. Cứ thế tuần hoàn lặp đi lặp lại, đến mức rất nhiều cô gái hễ linh cảm thấy kinh nguyệt sắp tới là cơ thể đã tự động phát ra các phản ứng đau đớn.   


Muốn giải quyết vấn đề khó chịu trong kỳ kinh nguyệt, có thể chia làm hai bước:   


  1. Điều chỉnh nhận thức: Đem quan điểm "kỳ kinh là bệnh tật" đổi thành quan điểm "kỳ kinh là một trạng thái hoàn toàn khỏe mạnh".   


  2. Tạo lập một môi trường sống y hệt như những ngày không có kinh: Muốn ăn gì cứ ăn nấy, muốn làm gì cứ làm nấy. Môi trường sống bình thường này hàm chứa một lời tuyên ngôn cực kỳ mạnh mẽ: Bạn không hề có bệnh!   


Tôi từng trò chuyện với một nữ y tá người Đức về cái gọi là "ý thức bảo dưỡng sức khỏe" trong kỳ kinh nguyệt của các cô gái Trung Quốc. Nghe xong cô ấy hoàn toàn không thể hiểu nổi. Cô ấy bảo bản thân mình trong kỳ kinh nguyệt chẳng có bất kỳ điều kiêng kỵ đặc biệt nào, ví như muốn đi bơi là cứ đi, chỉ cần sử dụng băng vệ sinh dạng que (tampon) là xong; còn việc ăn kem trong kỳ kinh lại là chuyện diễn ra như cơm bữa, xưa nay chưa từng cảm thấy khó chịu bao giờ.   


Xã hội càng nguyên thủy, lạc hậu thì những điều cấm kỵ lại càng nhiều. Trong một xã hội như thế, kẻ có tri thức chính là những kẻ biết nhiều điều kiêng kỵ hơn. Điệp khúc "bạn không được làm cái này, không được làm cái kia" đã biến thành pháp bảo để họ khoe khoang kinh nghiệm và thao túng, khống chế người khác. Cùng với sự tiến bộ của khoa học và xã hội, pháp bảo của họ sẽ không còn đất dụng võ nữa. Bởi vì ngày nay chúng ta đều đã hiểu ra rằng: Rất nhiều thứ từng bị cấm kỵ lại chính là những điều mà sức khỏe của chúng ta đang bức thiết cần đến. Chúng ta cũng đã biết cách dùng tri thức đúng đắn để tái tổ hợp lại một cuộc sống từng bị những điều cấm kỵ băm vằn xé nát.   



16. Kỳ vọng quá mức chính là thi ngược (过度期望就是施虐)

   


Một người được kẻ khác kỳ vọng sẽ trở thành một ai đó, đạt được những thành tựu nào đó, hoặc ở vào một trạng thái nào đó, thông thường mà nói là một trải nghiệm dễ chịu. Bởi vì điều đó chứng tỏ bạn không hề cô độc, có người đang quan tâm đến bạn, lại còn truyền đi một tín hiệu rành rành không thể chối cãi: Người ta rất coi trọng bạn; điều này rõ ràng có thể làm thỏa mãn tột độ tính tự luyến (narcissism) của bạn. Lúc này, bạn hệt như một cổ phiếu phát hành lần đầu được người ta đặt trọn niềm tin, được những kẻ nắm giữ kỳ vọng ngày nào cũng chạm trần tăng kịch biên độ.   


Thế nhưng, bị kỳ vọng quá mức thì lại chẳng còn là chuyện dễ chịu nữa. Bản thân sự kỳ vọng quá độ đã là một thứ áp lực khổng lồ, đủ sức đẩy cả thân thể lẫn tâm trí của bạn rơi vào trạng thái căng thẳng ứng kích (stress). Xét về mặt bản chất, việc đặt kỳ vọng quá mức lên người khác thực chất là một phương thức chuyển giao nỗi âu lo của chính mình sang cho người khác, nói một cách nôm na chính là đùn đẩy trách nhiệm.   


Lấy ví dụ: Bạn và người bạn của mình gặp một con hổ dữ trong rừng sâu, người bạn bèn vỗ vai bảo bạn: "Tớ thấy cậu cừ lắm đấy nhé, cậu nhất định sẽ đánh thắng con hổ này cho xem!" Nói đoạn, anh ta lùi tọt ra một góc ẩn nấp. Rõ ràng, anh ta đang dùng sự kỳ vọng đối với bạn để biến bản thân thành kẻ ngoài cuộc, trút toàn bộ nỗi âu lo, sợ hãi lên đôi vai của bạn. Trong ví dụ cực đoan này, kỳ vọng đã biến tướng thành một vụ mưu sát.   


Sự kỳ vọng quá mức trong đời sống thường nhật dĩ nhiên chưa đến mức cấu thành tội mưu sát, nhưng hoàn toàn đủ tư cách để trở thành hành vi thi ngược (ngược đãi, bạo hành). Cha mẹ kỳ vọng con cái thành tài, người vợ kỳ vọng người chồng kiếm được nhiều tiền hơn, thầy cô kỳ vọng học trò đạt nhiều thành tựu hơn, ông chủ kỳ vọng nhân viên nỗ lực hơn nữa... những kỳ vọng giăng mắc khắp nơi này một khi vượt quá giới hạn sẽ biến thành sự ngược đãi; mức độ ngược đãi tỷ lệ thuận với độ lớn của sự kỳ vọng. Điều chúng ta thường xuyên chứng kiến trong đời là: Rất nhiều mối quan hệ thân mật rốt cuộc đã bị sự kỳ vọng mãnh liệt xé toạc ra thành từng mảnh vụn.   


Đằng sau sự kỳ vọng ẩn giấu sự bất mãn. Khi kỳ vọng không quá lớn, mức độ bất mãn cũng tương đối nhỏ, nên không dễ bị phát giác, và cũng không dễ gây ra tổn thương. Cùng với sự gia tăng của kỳ vọng, nỗi bất mãn cũng theo đó mà leo thang; khi nó tăng đến một mức độ nhất định, người ta có thể nhận biết được nó, và nó sẽ gây ra những thương tổn về mặt tâm lý.   


Xét từ tâm lý học tầng sâu, mọi sự kỳ vọng quá độ ở tầng diện tiềm thức đều có thể hàm chứa nội dung và tác dụng hoàn toàn trái ngược. Chẳng hạn: Một cặp vợ chồng tốt nghiệp từ trường đại học danh tiếng rất mong muốn con cái mình cũng học giỏi, có thể thi đỗ vào ngôi trường đại học năm xưa họ từng theo học. Ngay từ khi đứa trẻ còn rất nhỏ, họ đã dốc cạn tâm lực để hiện thực hóa lý tưởng này. Đáng tiếc thay, thời tiểu học thành tích của đứa trẻ còn tàm tạm, lên cấp hai bắt đầu tụt dốc, lên cấp ba lại càng tệ hại hơn, và cuối cùng điểm thi đại học thậm chí còn không chạm nổi điểm chuẩn hệ cử nhân.   


Qua phân tích sâu sắc mới phát hiện ra rằng: Trong tiềm thức của cặp vợ chồng này có rất nhiều nỗi sợ hãi đối với sự sa đọa, thất bại và bất tài; những nỗi sợ hãi ấy đã nhân danh "kỳ vọng" để truyền sang người đứa trẻ. Đứa trẻ tiếp nhận một cách thụ động, và đúng như sở nguyện trong tiềm thức của cha mẹ, nó đã tự biến mình thành một kẻ thất bại. Nói một cách cô đọng: Mọi sự kỳ vọng quá mức, rốt cuộc đều sẽ đẩy sự việc vận động theo chiều hướng ngược lại.   


Một người sẵn sàng tự gánh vác trách nhiệm sẽ không đặt kỳ vọng quá mức lên người khác, và tự nhiên cũng sẽ không dùng kỳ vọng để thi ngược tha nhân. Mà tiền đề căn bản để một con người có thể gánh vác trách nhiệm chính là việc anh ta phải có đầy đủ tự do. Kẻ nô lệ không cần phải gánh vác trách nhiệm, bởi vì nô lệ không có quyền tự do thân thể. Nếu một người bị kẻ khác kỳ vọng quá mức, anh ta liền biến thành nô lệ cho sự kỳ vọng của kẻ đó; mục tiêu sống của anh ta chẳng qua chỉ là để thỏa mãn sự kỳ vọng của người khác mà thôi. Rõ ràng, sự kỳ vọng quá mức ở đây đã trực tiếp xóa sổ giá trị tồn tại của một con người.   


Làm sao mới biết được mình có đang kỳ vọng quá mức hay không? Rất đơn giản, hãy thử hỏi cảm nhận của người đang gánh vác kỳ vọng là khắc biết. Đáng tiếc là một việc đơn giản đến thế lại có biết bao nhiêu người không chịu làm. Bởi vì khi áp đặt kỳ vọng quá mức lên người khác, họ không hề hay biết — hoặc có lẽ là không muốn biết — rằng đối phương cũng là một con người bằng xương bằng thịt, cũng sẽ có những gánh nặng kỳ vọng không thể nào kham nổi.   


Trong tình huống này, chúng tôi khích lệ sự thức tỉnh của những kẻ đang bị kỳ vọng quá đè nặng. Thức tỉnh để có thể dõng dạc nói với những kẻ đang dùng kỳ vọng để thi ngược mình rằng: "Tôi có lẽ sẽ vĩnh viễn không bao giờ tốt đẹp được như bạn kỳ vọng, nhưng tôi hy vọng tôi có thể làm tốt được như chính bản thân tôi kỳ vọng — bấy nhiêu đó thôi đã là quá đủ rồi."   

 
 
 

Bài đăng gần đây

Xem tất cả
CHƯƠNG 1

CHƯƠNG 1 Làm, hay không làm — đó là một vấn đề Nhà văn Đài Loan Dư Quang Trung từng viết một bài tản văn có nhan đề Bốn kẻ địch giả tưởng của tôi. Trong bài viết, ông kể mình có bốn cô con gái và ông

 
 
 
Chương 6: Vô thường

Sự sinh diệt của bản ngã Từ "tự do", nghe thật êm tai, nhưng nó còn có một từ gần nghĩa — "vô thường". Tự do có nghĩa là năng lượng của "Tôi" được duỗi mở, được tuôn chảy, vì vậy "Tôi" có cảm giác tự

 
 
 
Chương 5: Tự do

Chúng ta vẫn luôn nói về việc “sở hữu một cuộc đời do chính mình định đoạt”, và kể từ khi bước chân vào nghề đến nay, tôi cũng luôn rao giảng về việc “hãy trở thành chính mình”. Những người thực sự tr

 
 
 

Bình luận


bottom of page