top of page

C5

3 giờ trước
49 phút đọc

TỪ PHÂN LIỆT ĐẾN CHỈNH HỢP


Hành trình của người hùng (tức quá trình tự hoàn thiện bản thân) là một tiến trình đi từ phân liệt đến chỉnh hợp. Thuở ban đầu, bản ngã của chúng ta quá đỗi mong manh. Để bảo vệ cái tôi yếu ớt ấy, ta buộc phải phân liệt và đẩy những nội dung tâm linh không thể chịu đựng nổi ra bên ngoài — chẳng hạn như sự yếu đuối của tự thể, hay nỗi thù hận trong các mối quan hệ.


Đồng thời, chúng ta sẽ phóng chiếu những cái “xấu” vốn khởi nguồn từ sâu thẳm nội tâm mình ra thế giới bên ngoài. Trước tiên, ta cần xây dựng một mối quan hệ nhị nguyên, cần có một “bạn” để dung chứa những cái “xấu” ấy. Khi nhận thấy chừng đó vẫn chưa đủ, ta tiếp tục thiết lập mối quan hệ tam nguyên, cần thêm một “nó” để tiếp nhận những cái “xấu” này.


Nhân tính và thế giới sở dĩ phức tạp đến vậy, theo tôi thấy, chính là kết quả của việc cái “xấu” không ngừng bị phân liệt và phóng chiếu. Cùng với sự lớn mạnh dần lên của bản ngã, một “tự ngã nội tụ” được xây dựng trên nền tảng niềm tin “về cơ bản tôi là người tốt” rốt cuộc cũng được định hình. Sau đó, con người mới bắt đầu làm một công việc trái ngược: chỉnh hợp lại những nội dung tâm linh từng bị phân liệt đẩy ra ngoài và bị coi là “xấu”. Bởi vậy, dấu mốc cho sự trưởng thành về mặt nhân tính của một con người chính là: có thể đối diện, xử lý, dung nạp và chuyển hóa cái “xấu” bên trong chính mình cũng như trong các mối quan hệ.


Nếu quan sát kỹ lưỡng, bạn sẽ nhận ra rằng những thứ từng bị xem là “xấu” ấy lại thường chính là bản thân sức sống. Chẳng hạn như: tự luyến, tính dục, tính công kích và tiền bạc. Vì phân liệt, bạn sẽ trở nên đơn giản, nhưng đồng thời cũng trở nên suy nhược; vì chỉnh hợp, bạn sẽ trở nên phức tạp, nhưng đồng thời cũng trở nên mạnh mẽ. Cuối cùng, khi bạn đã hoàn toàn chỉnh hợp được mâu thuẫn giữa hai chiều kích mạnh - yếu và thiện - ác, bạn mới đạt tới sự giản đơn đích thực.


Khi đại dương đến làm người tình của bạn,


Hãy lập tức, mau chóng kết hôn với nàng,


Vì Chúa!


Đừng trì hoãn!


Trên đời này chẳng có món quà nào tuyệt vời hơn thế.


Dẫu có trải qua bao nhiêu kiếm tìm


Mới giúp tôi ngộ ra điều này.


Một con chim ưng săn mồi hoàn mỹ, vô duyên vô cớ, đã đáp xuống vai bạn,


Và thuộc trọn về bạn.


— Rumi


Thiên chấp, phân liệt và chỉnh hợp


Tin rằng bạn nhất định từng suy ngẫm về câu hỏi này: Vì sao nhân tính lại phức tạp đến thế? Sự phức tạp ấy đã tiến hóa ra sao?


Câu trả lời của tôi là: Nguyên nhân chủ yếu khiến nhân tính trở nên phức tạp là do chúng ta không ngừng tìm cách cắt xẻ và phóng chiếu cái “xấu” mà bản thân không mong muốn ra bên ngoài. Nếu không làm công việc cắt rời và phóng chiếu đó, nhân tính sẽ mãi là một thể thuần nhất, trọn vẹn, và sự phức tạp sẽ không bao giờ nảy sinh.


Vì sao lại phải không ngừng cắt rời? Bởi lẽ, khi tự thể của một người chưa đủ lớn mạnh và kiên cường, để bảo vệ tự thể, người đó buộc phải tách cái “xấu” mà tự thể không thể dung nạp ra ngoài, lấy đó để bảo vệ cảm giác “về cơ bản tôi là tốt”, từ đó tạo nên lực hướng tâm, gắn kết các chất liệu tâm linh lại với nhau.


Vì sao lại phải không ngừng phóng chiếu? Cái gọi là “phóng chiếu”, đặc biệt là phóng chiếu cái “xấu”, chính là đem cái “xấu” đã bị cắt rời khỏi bản thân gán lên người khác hoặc những tồn tại khác. Việc này quả thực không mấy quang minh chính đại, nhưng lại là điều tất yếu. Bởi lẽ, cái gọi là “xấu” cũng là sự tồn tại căn bản của nhân tính, cũng là một phần của tự thể. Chúng ta cần phóng chiếu những cái “xấu” này lên chiếc màn hình ngoại giới, có như vậy ta mới nhìn thấy được sự tồn tại của chúng.


Con người không thể giản đơn tiêu diệt những yếu tố tâm linh ấy đi, vì làm như vậy, một nhân tính trọn vẹn sẽ không thể nào tồn tại. Cho nên, khi ta chưa thể nhìn thấy những nhân tính này trên chính bản thân mình, ta cần nhìn thấy chúng trên người khác, từ đó học cách chung sống hòa hợp với chúng.


Khi một người đã hình thành nên tự ngã nội tụ, việc cắt rời và phóng chiếu mới có thể chuyển hóa thành dung nạp và chỉnh hợp. Một người như vậy có thể trực diện đối mặt với cái “xấu” trong nhân tính, đồng thời có thể nhận biết, xử lý và cuối cùng hoàn thành việc chỉnh hợp chúng.


Có thể đối diện, xử lý và chỉnh hợp cái “xấu” ở mức độ thích hợp là một dấu hiệu của sự trưởng thành nhân tính. Còn người đã hoàn thành trọn vẹn sự chỉnh hợp đồng nghĩa với việc đã đi hết hành trình người hùng, trở thành một “người hùng” như Joseph Campbell từng nói. Đừng vội vàng nghĩ rằng mình đã đi hết hành trình ấy; đó là đặc quyền của số rất ít người, còn tuyệt đại đa số chúng ta đều vẫn đang trên đường, và luôn luôn lặp đi lặp lại những bước thăng trầm.


Trong phân tâm học có một khái niệm vô cùng quan trọng — “tâm vị” (Position), do Melanie Klein, bậc đại thụ của lý thuyết quan hệ khách thể, đề xướng. Bà cho rằng, sự phát triển tâm lý của trẻ sơ sinh trước một tuổi trải qua hai tâm vị khác nhau: một là vị thế thiên chấp - phân liệt (paranoid-schizoid position), hai là vị thế u uất (depressive position).


Trong hoàn cảnh bình thường, trẻ sơ sinh trước ba tháng tuổi sẽ ở vị thế thiên chấp - phân liệt, còn sau ba tháng tuổi có thể phát triển lên vị thế u uất.


Cái gọi là “phân liệt” chính là việc chia sự vật làm đôi, còn “thiên chấp” nghĩa là chỉ bám chặt vào một đầu cực đoan. Ví dụ, đứa trẻ sẽ có hai sự phân liệt căn bản: người mẹ tốt và người mẹ xấu, đứa trẻ ngoan và đứa trẻ hư. Diễn đạt bằng thuật ngữ chuyên môn là: khách thể tốt và khách thể xấu, tự thể tốt và tự thể xấu. Người có thể thỏa mãn nhu cầu của trẻ chính là người mẹ tốt, và khi đó đứa trẻ cũng là đứa trẻ ngoan; người không thể thỏa mãn nhu cầu của trẻ chính là người mẹ xấu, và đứa trẻ cũng lập tức biến thành đứa trẻ hư.


Đứa trẻ trước ba tháng tuổi không có năng lực xử lý một thông tin phức tạp — rằng người mẹ vừa có mặt tốt lại vừa có mặt chưa tốt. Chúng cho rằng trong một thời không nhất định, mẹ và bản thân hoặc là toàn hảo (hoàn toàn tốt), hoặc là toàn hoại (hoàn toàn xấu) — đó chính là cái gọi là “thiên chấp”. Ở một số người trưởng thành có tâm lý phát triển chưa chín muồi, bạn sẽ nhìn thấy rất rõ điều này. Ban đầu khi mới thiết lập mối quan hệ với bạn, họ cảm thấy bạn toàn hảo, tựa như một tồn tại lý tưởng tuyệt đối. Nhưng một khi họ nảy sinh chút bất mãn với bạn, họ sẽ lập tức xem bạn là một tồn tại hoàn toàn xấu xa.


Ban đầu, đứa trẻ sơ sinh sống trong trạng thái tự luyến toàn năng và cảm giác hủy diệt toàn năng vô cùng nặng nề, song hành cùng việc chưa hình thành được tính ổn định của khách thể. Lúc này, đứa trẻ đối diện với một mâu thuẫn khổng lồ: khi mẹ thỏa mãn nó, nó có cảm giác tuyệt mỹ như một đấng thần linh toàn năng; nhưng khi mẹ không thỏa mãn nó, nó sẽ dấy lên dục vọng hủy diệt toàn năng. Khi đó, nó thực sự lo sợ bản thân giống như một “ác ma” toàn năng, hễ phát ra một đòn công kích là người mẹ sẽ bị hủy diệt hoàn toàn.


Đồng thời, điều này lại dẫn tới một mâu thuẫn lớn khác: đứa trẻ trước ba tháng tuổi về cơ bản không có năng lực hành động, phần lớn nhu cầu đều phụ thuộc vào sự chăm sóc của người nuôi dưỡng. Khi nhu cầu không được đáp ứng, nó sẽ trải nghiệm sự bất lực tột cùng. Đó là một cảm giác yếu đuối tột bậc của tự thể. Nói một cách chuẩn xác, đứa trẻ sẽ nếm trải cảm giác bản thân bị nghiền nát, bị hủy diệt.


Dù là trải nghiệm tự thể bị hủy diệt, hay nỗi tưởng tượng sợ hãi khách thể bị hủy hoại, đều là những thứ mà tâm trí non nớt của trẻ không thể gánh vác nổi. Trên thực tế, đây cũng là điều mà toàn thể nhân loại không thể chịu đựng. Do đó, cá nhân ở vị thế thiên chấp - phân liệt bắt buộc phải phân liệt và phóng chiếu chúng ra ngoài. Nói một cách tổng thể, tôi thích gọi quá trình này là “cắt rời”.


Cắt rời cái “xấu” ra ngoài là để bảo vệ phần “tốt”.


Nữ minh tinh gợi cảm người Mỹ Marilyn Monroe từng có những trải nghiệm tột cùng về khía cạnh này: bà từng trải qua mười gia đình nhận nuôi khác nhau. Bởi thế, bạn có thể thấu hiểu nỗi bất hạnh của Monroe đã bắt đầu như thế nào, và cũng có thể suy đoán được rằng bà chắc chắn là một người cực kỳ khó chung sống.


Vị thế thiên chấp - phân liệt còn được dịch là “vị thế thiên chấp hoang tưởng”. Nghĩa là khi ở vị thế này, con người sẽ nảy sinh đủ loại tưởng tượng nghiêm trọng về sự sáng tạo toàn năng và hủy diệt toàn năng. Những bệnh nhân tâm thần phân liệt nặng nhất sẽ sống trực tiếp trong các hoang tưởng đó; còn với người bình thường, những nội dung này sẽ đọng lại trong vô thức, thể hiện qua những giấc mơ, các câu chuyện thần thoại, hay trong phim ảnh, tiểu thuyết.


Dưới sự nuôi dưỡng bình thường, trẻ sau ba tháng tuổi sẽ bước vào vị thế u uất. Lúc này, đứa trẻ bắt đầu nhận thức được rằng người mẹ tốt và người mẹ xấu thực chất là cùng một người, đứa trẻ ngoan và đứa trẻ hư cũng là cùng một bản thể. Điều này đánh dấu sự khởi đầu của quá trình chỉnh hợp.


Chỉnh hợp tuy là một chức năng tâm lý cao cấp hơn, nhưng lại rất dễ khiến con người cảm thấy không được thỏa thuê, thống khoái. Bởi vì chỉnh hợp đồng nghĩa với việc bạn nhìn thấy khách thể vừa có điểm tốt lại vừa có điểm xấu, nên bạn không thể yêu một cách hả hê, cũng không thể hận một cách sòng phẳng, dứt khoát. Tương tự như vậy, chính bản thân bạn cũng vừa có tốt vừa có xấu, điều này khiến cho tình yêu lẫn lòng thù hận của bạn đều thiếu đi lý do tuyệt đối. Khi yêu, bạn lo sợ mình chưa đủ tốt; còn khi hận, bạn lại nghĩ: “Đối phương dẫu chẳng ra gì, nhưng mình cũng có hơn ai đâu”, thế là khó lòng hận một cách đường hoàng, chính trực.


Một số thân chủ của tôi, thuận theo tiến triển của quá trình tham vấn, bỗng một ngày nhận ra mình rơi vào một trạng thái có phần tẻ nhạt, vô vị. Qua phân tích, chúng tôi nhận thấy họ đã từ vị thế thiên chấp - phân liệt bước sang vị thế u uất. Họ nhận ra mình không còn có thể sống trong thứ yêu ghét giản đơn rạch ròi nữa, mà phải sống trong sự phức tạp: trong yêu có hận, trong hận có yêu, trong tốt có xấu, trong xấu có tốt. Điều này khiến họ vô cùng giằng xé, và sự giằng xé mang lại cảm giác buồn tẻ.


Thế nhưng, các chức năng hiện thực của họ lại được củng cố rất nhiều. Dẫu cho thế giới tưởng tượng của bản thân có trở nên đôi phần tẻ nhạt, nhưng đời sống hiện thực lại trở nên rực rỡ, sống động hơn hẳn. Đặc biệt là khi có thể cảm nhận được sự kết nối chân thực với người khác, họ rất dễ xúc động rơi nước mắt, rồi cảm thán thốt lên: “Đây mới chính là cuộc sống, đây mới là sinh mệnh.”


Vì sao lại gọi là “vị thế u uất”? Bởi vì lúc này, đứa trẻ đã có năng lực biết “cắn rứt lương tâm” (nội cửu / cảm giác tội lỗi). Cái gọi là “nội cửu” là khi đứa trẻ phát hiện ra rằng đôi khi mình lại đi công kích chính khách thể tốt, từ đó sinh ra cảm giác tội lỗi, và cảm giác tội lỗi ấy dẫn tới sự u uất.


Khi còn sống trong sự thiên chấp - phân liệt, một người không hề có cảm giác tội lỗi. Bởi vì họ cho rằng mỗi khi mình phát động tấn công khách thể, đó đều là vì khách thể quá đỗi tồi tệ. Tấn công một khách thể xấu xa thì việc gì phải cắn rứt lương tâm? Tuy nhiên, họ sẽ sợ hãi, vì lo lắng khách thể xấu xa kia sẽ quay lại trả thù mình.


Xét từ góc độ hiện thực, tuyệt đại đa số người trưởng thành đều có thể ở vị thế u uất. Song trên thực tế, vẫn có quá nhiều người mắc kẹt ở vị thế thiên chấp - phân liệt, thậm chí cả đời chưa từng tiến tới sự chỉnh hợp, và hành trình người hùng của họ chưa từng một lần thực sự bắt đầu.


Đối với những ai có thể bước vào vị thế u uất ngay từ thuở đầu đời, sự chỉnh hợp này là khởi đầu của một số phận may mắn. Nhưng đó cũng chỉ là một sự khởi đầu, bởi để hoàn thành trọn vẹn việc chỉnh hợp tuyệt đối là một chặng đường dài đằng đẵng. Tất cả chúng ta đều đang dấn bước trên con đường ấy.


Bạn có thể tốt, cũng có thể xấu


Cách đây ít lâu, tôi có xem lại bộ phim Ỷ Thiên Đồ Long Ký: Ma Giáo Giáo Chủ do Lý Liên Kiệt thủ vai chính. Nhân vật Trương Tam Phong do Lý Liên Kiệt thể hiện trong phim mang lại cảm giác vô cùng hả hê, thống khoái. Chẳng hạn như khi Diệt Tuyệt Sư Thái đánh vợ của Trương Thúy Sơn (đệ tử của Trương Tam Phong, tức mẹ của Trương Vô Kỵ là Ân Tố Tố), Trương Tam Phong vừa nhìn thấy liền không nói nửa lời, lao tới tát cho Diệt Tuyệt Sư Thái một trận tối tăm mặt mũi, rồi giữ luôn thanh kiếm Ỷ Thiên của bà ta.


Trong sự thống khoái ấy phảng phất phong vị của sự thiên chấp - phân liệt: Diệt Tuyệt Sư Thái được khắc họa vô cùng phi lý, mang hình tượng của một kẻ bách hại; đúng lúc ấy, một siêu cao thủ tựa như vị thần toàn năng xuất hiện, trừng phạt đích đáng kẻ ác nhân kia, khiến người xem cảm thấy hả lòng hả dạ.


Tôi đã nhiều lần nghe một số bậc phụ huynh than phiền rằng: con cái họ thường xuyên nói dối, họ dạy dỗ đủ đường, thậm chí đánh mắng cũng không sửa được thói quen nói dối của con. Tôi hỏi họ: “Trong những tình huống đó, nếu ngay từ đầu đứa trẻ nói thật với anh chị, anh chị có chấp nhận nổi không?” Họ ngớ người một lúc rồi đáp: “Không chấp nhận được.” Đã không thể chấp nhận việc con nói thật, vậy cớ sao lại ép buộc con nhất định phải thành thật với mình?


Một tâm trí lành mạnh là: “Tôi vừa có thể là A, vừa có thể là -A”. Điều này thể hiện sự chỉnh hợp và tính linh hoạt. Một tâm trí tương đối phân liệt là: “Tôi chỉ có thể là A, không được phép là -A”. Còn tâm trí có vấn đề nghiêm trọng nhất là: “Tôi vừa không thể là A, lại vừa không thể là -A”. Khi cha mẹ vừa không chấp nhận việc con nói dối, lại vừa không thể dung nạp sự chân thật của con, chính là đang dồn đứa trẻ vào mâu thuẫn cùng cực: “Con vừa không thể là A, lại vừa không thể là -A”. Kiểu mâu thuẫn này được gọi là “ràng buộc kép” (Double Bind)¹, thường thấy trong rất nhiều chứng bệnh tâm thần nghiêm trọng.


¹ Ràng buộc kép (Double Bind): Lý thuyết về nguyên nhân gây bệnh tâm thần phân liệt do nhà tâm lý học người Anh Gregory Bateson đề xuất năm 1956. Ông cho rằng trong quá trình giao tiếp, một người đồng thời phát ra những thông điệp mâu thuẫn, triệt tiêu lẫn nhau ở các tầng giao tiếp khác nhau, mà đối phương buộc phải phản hồi; song dù phản hồi theo cách nào, đối phương cũng đều bị cự tuyệt hoặc phủ nhận, dễ đẩy con người vào thế tiến thoái lưỡng nan. Các triệu chứng tâm thần phân liệt chính là sự biểu đạt cho nỗi đau đớn này. Sau này, khái niệm này được ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực và rất phổ biến trong đời sống. Khi một yêu cầu chứa đựng những thông điệp mâu thuẫn, khiến đối phương làm hay không làm đều sai, đó chính là ràng buộc kép.


Nhiều bệnh nhân tâm thần từng trải qua ràng buộc kép; trong quá trình trưởng thành, họ thường có cảm giác bị phân liệt, nội tâm luôn trong trạng thái xung đột, nhận thức về bản thân và thế giới xung quanh mơ hồ, bất định, thường đi kèm với sự hỗn loạn về cảm xúc và tư duy. Điều khiến đứa trẻ bị rơi vào ràng buộc kép đau đớn nhất là sự tuyệt vọng và phát điên, bị xé rách vụn vỡ, bởi vì dù đứa trẻ phản ứng thế nào đi chăng nữa thì cũng đều là sai.


Nói tiếp về sự chân thành. Từ trước đến nay, tôi luôn là một người vô cùng chân thành. Đến mức trong một lần tranh luận với một đồng nghiệp rất hiểu tôi, vị đồng nghiệp ấy cũng nói: Anh ấy từng tự hỏi, trong số những người mình quen biết, liệu có ai chân thành hơn Vũ Chí Hồng không? Cuối cùng anh ấy kết luận: Không có.


Khi cùng chuyên gia phân tích của tôi mổ xẻ về sự chân thành này, tôi đã tìm ra một câu trả lời khả dĩ: Một người đàn ông như vậy thực chất đang ở trong trạng thái cộng sinh ở mức độ rất sâu với người mẹ. Mà trong mối quan hệ cộng sinh, đôi bên đòi hỏi phải tuyệt đối chân thành, nếu không mối liên kết cộng sinh sẽ bị phá vỡ.


Về sau, khi không ngừng suy ngẫm về sự chân thành thái quá của bản thân, tôi lại nghĩ tới một câu trả lời không mấy dễ chịu khác: đó là sự thuận tùng (phục tùng/nhún nhường). Bạn xem, tôi hoàn toàn quang minh lỗi lạc, tôi có thể phơi bày mọi thứ cho bạn thấy, bạn không cần phải đề phòng tôi, không cần sợ hãi tôi, tôi tuyệt đối sẽ không trút tính công kích của mình lên người bạn.


Thế nhưng, tôi có thực sự thản đãng, vô tà đến mức ấy không? Tuyệt đối không. Tôi cũng có các động lực về tự luyến, tính dục và tính công kích như bao người, tôi cũng khát khao tiền bạc; thế nhưng trong một khoảng thời gian rất dài, tôi đã chặn đứng những thứ phức tạp trong nhân tính ấy ra khỏi ý thức của mình, đè nén những nét nhân tính bình thường nhất này xuống cõi vô thức, nhờ vậy mới có thể biểu hiện ra sự thản nhiên, thanh khiết đến thế.


Khi tôi vô cùng thản nhiên trò chuyện với chuyên gia phân tích về thu nhập và danh tiếng của mình, tôi ngỡ rằng mình chỉ đang thuật lại sự thật khách quan mà thôi. Cho đến khi chuyên gia phân tích liên tục nhắc nhở, tôi mới giật mình nhận ra: khi tôi nói những điều ấy, thực chất giữa tôi và anh ấy đang ngầm thiết lập một mối quan hệ “ai cao ai thấp, ai giỏi giang hơn ai”, nhưng bản thân tôi lại hoàn toàn gạt phăng ý thức cạnh tranh này ra ngoài nhận thức.


Một người trông có vẻ đơn giản như tôi, thực chất lại xây dựng nên một mê cung vô cùng phức tạp trong cõi vô thức. Ngược lại, những bậc tiền nhân như Vương Dương Minh — người dường như vô cùng phức tạp giữa thế sự trần ai — lại sở hữu một tâm hồn thuần khiết, giản đơn nhất.


Ở ngoài đời thực, tôi từng gặp gỡ vài người đạt tới cảnh giới “tri hành hợp nhất”, họ đều là những doanh nhân tinh hoa kiệt xuất. Họ chia sẻ rằng bản thân từ trước đến nay muốn làm gì là làm nấy, tuyệt đối không đè nén, cuộc đời sảng khoái tột cùng, không có bất kỳ điều gì phải hối tiếc. Đồng thời, theo như tôi biết, họ cũng chẳng hề làm điều gì xấu xa vượt quá giới hạn.


Tôi nghĩ, cách diễn đạt “bạn có thể tốt, cũng có thể xấu” thực ra vẫn còn xa mới đủ; cách diễn đạt thỏa đáng hơn phải là: “Bạn có thể triển lộ bất kỳ một nét nhân tính nào của chính mình.” Bản thân chúng vốn dĩ đã vượt lên trên khái niệm “tốt - xấu”, và đó cũng chính là sự chỉnh hợp tuyệt vời nhất.


Bạn có thể chấp niệm, cũng có thể buông bỏ


Trong truyện ngắn Tấn công tiệm bánh mì lần nữa (再劫面包店), nhà văn Nhật Bản Haruki Murakami có kể lại một câu chuyện:


Một đêm nọ, đôi vợ chồng trẻ mới cưới bỗng dưng thức giấc, đói bụng cồn cào. Họ lùng sục vét sạch mọi đồ ăn trong nhà nhưng bụng vẫn đói meo. Người vợ nói: “Em chưa bao giờ đói cồn cào đến mức này.”


Lúc ấy, nhân vật “tôi” bất giác buột miệng một câu: “Anh từng đi cướp tiệm bánh mì.”


Hóa ra thời trẻ, “tôi” từng cùng một người bạn chí cốt đi cướp một tiệm bánh mì, không phải vì tiền mà chỉ vì muốn có bánh mì để ăn.


Vụ cướp diễn ra rất thuận lợi, ông chủ tiệm bánh không hề chống cự. Tuy nhiên, như một sự trao đổi, ông ta mời hai chàng trai trẻ ngồi lại cùng nghe bản nhạc của Wagner với mình. Hai người ngập ngừng một lát rồi cũng đồng ý. Dù sao thì, làm như vậy sự việc không còn là “cướp” bánh mì nữa, mà đã biến thành “trao đổi”.


Sau sự việc đó, “tôi” và người bạn vô cùng chấn động, tranh luận suốt nhiều ngày liền xem rốt cuộc đi cướp tốt hơn hay đổi lấy bánh mì tốt hơn. Về sau, chẳng hiểu vì lý do gì, hai người hoàn toàn cắt đứt liên lạc, không bao giờ qua lại với nhau nữa.


Khi nghe chồng kể lại chuyện này, người vợ nói: “Không còn nghi ngờ gì nữa, chúng ta đã bị nguyền rủa!”


“Không chỉ anh bị nguyền rủa, mà em thấy cả em cũng bị nguyền rủa lây.” Người vợ khẳng định rằng đây chính là căn nguyên của cơn đói kỳ quặc đêm nay. Muốn hóa giải nó, nhất định phải hoàn thành tâm nguyện còn dang dở kia — đường đường chính chính đi cướp tiệm bánh mì một lần nữa.


Rốt cuộc, hai vợ chồng son lái xe trong đêm, mang theo mặt nạ và khẩu súng mà người vợ đã chuẩn bị sẵn từ lâu, thực sự đi cướp một tiệm bánh... một cửa hàng McDonald's.


Ngay từ hồi học cao học, tôi đã đọc truyện ngắn này. Khi ấy tôi thấy nó thật kỳ quặc, chẳng hiểu Murakami muốn truyền tải điều gì, nhưng câu chuyện lại để lại trong tôi ấn tượng sâu sắc, khiến tôi ghi nhớ rành rọt từng chi tiết.


Nhiều năm sau, trong một lần ngồi đàm đạo với những người bạn làm tham vấn tâm lý, tôi bỗng nhiên bừng ngộ ngụ ý của truyện ngắn này: Một tâm nguyện chưa được thực hiện sẽ mang theo một sức mạnh tựa như lời nguyền.


Vốn dĩ hai chàng trai trẻ có thể dùng vũ lực để trực tiếp cướp lấy bánh mì, khi ấy quyền quyết định thuộc về họ. Nhưng sau lời đề nghị của ông chủ, cuối cùng họ đồng ý ngồi lại nghe nhạc Wagner; do đó, sự việc đã biến thành một cuộc giao dịch, và ý chí của ông chủ tiệm đã chiếm thế thượng phong. Trong tình thế hoàn toàn yếu thế, chỉ dựa vào một lời đề nghị khôn ngoan, ông chủ đã xoay chuyển cục diện trong chớp mắt. Có thể nói, ông ta đã dùng đòn “bốn lạng bạt ngàn cân” để đánh bại hai kẻ cướp trẻ tuổi.


Hai chàng trai không hiểu nổi rốt cuộc điều gì đã xảy ra, nhưng cả hai đều nếm trải sâu sắc cảm giác bị đánh bại, từ đó sinh ra nỗi xấu hổ nhục nhã. Về sau, để trốn tránh nỗi xấu hổ do sự yếu nhược của tự thể mang lại, hai người dứt khoát không nhìn mặt nhau nữa.


Đó là một cuộc đấu trí, so kè ý chí — và trên thế giới này, vô số sự việc đều ẩn giấu những cuộc đọ sức như vậy. Thế nên, sự thật khách quan ở cấp độ sự việc bỗng không còn quá quan trọng nữa, mà cuộc đọ sức về ý chí cá nhân ẩn giấu đằng sau sự thật ấy mới là điều cốt lõi.


Thầy Tăng Kỳ Phong là một bậc thầy chơi trò chơi tâm lý này. Thầy kể, khi đi ăn nhà hàng, thỉnh thoảng cảm thấy thái độ phục vụ của nhân viên không tốt, thầy sẽ chơi một ván cờ. Lúc thanh toán, thầy cố tình chỉ vào một món ăn rất rẻ và nói: “Chà, món này bên em định giá rẻ quá thể. Nào nào, để anh trả thêm cho mấy đứa ít tiền nhé.” Thực ra chỉ là vài đồng bạc lẻ, và nhân viên nhà hàng chắc chắn sẽ nhận. Nhưng ngay khoảnh khắc ấy, quyền kiểm soát mối quan hệ lập tức đảo chiều, khiến các nhân viên phục vụ sau đó đều ngơ ngác, bối rối.


Những lúc như thế, dù là ông chủ tiệm bánh mì hay thầy Tăng Kỳ Phong, đều khó lòng gọi là có thiện ý; ngược lại, đó là một chấp niệm: mình phải là người định đoạt, mình phải nói là được.


Tôi từng chứng kiến một câu chuyện thế này: Một cụ ông 80 tuổi, trong suốt chiều dài 47 năm đằng đẵng không ngừng tìm kiếm mối tình đầu của mình. Cuối cùng, thông qua một tòa soạn báo, tâm nguyện của cụ đã thành, cụ dò ra tung tích của người xưa. Năm xưa, cụ và mối tình đầu vì sự phản đối của tổ chức mà không thể kết duyên, cụ ôm mối canh cánh bên lòng suốt ngần ấy năm trời, dành hơn nửa cuộc đời để tìm kiếm bóng hình xưa cũ.


Những câu chuyện như vậy có rất nhiều. Trong phòng tham vấn, tôi cũng từng gặp vài người đã ngoài năm mươi tuổi nhưng vẫn ôm giữ chấp niệm tương tự với mối tình đầu.


Thứ chấp niệm này, liệu có phải là tình yêu không? Có lẽ có chứa đựng thành phần của tình yêu, nhưng nếu soi chiếu theo lý thuyết tâm vị của chúng ta, đây chính là biểu hiện của việc mắc kẹt trong vị thế thiên chấp - phân liệt.


Một trong những sự thật lớn nhất của kiếp nhân sinh là: có những ước nguyện bạn định sẵn là không thể nào thực hiện được. Vậy thì phải đối diện với những ước nguyện bất khả thi ấy ra sao? Điều này liên quan đến một khái niệm khác trong phân tâm học — “tiến trình tang chế/đau buồn” (Mourning process / Quá trình Ai Thương). Phân tâm học cho rằng, bất kỳ sự mất mát nào cũng dẫn đến nỗi đau buồn thương tiếc. Để cho những cảm xúc đau buồn ấy được tự nhiên tuôn chảy, cho đến khi ở tiến trình cảm xúc, tiến trình cơ thể và tiến trình lý trí đều chấp nhận sự thật rằng mất mát đã xảy ra — toàn bộ tiến trình trọn vẹn ấy chính là tiến trình tang chế.


Khi tiến trình đau buồn không được diễn ra suôn sẻ, năng lượng của một người sẽ tiếp tục giậm chân tại chỗ, dồn hết vào việc giằng co, đọ sức với sự mất mát. Nếu một sự việc tích tụ quá nhiều năng lượng, nó sẽ khiến người đó không còn chút năng lượng tâm lý nào để làm những việc khác trong đời.


Yếu tố then chốt quyết định một đứa trẻ sau ba tháng tuổi có thể bước vào vị thế u uất hay không chính là việc đứa trẻ có cảm nhận được đầy đủ tình yêu thương của người mẹ hay không. Khi đã cảm nhận trọn vẹn, nó sẽ không thể tiếp tục dùng phương thức hoang tưởng thiên chấp để công kích mẹ nữa. Hễ phát động công kích, nó sẽ cảm nhận được sự giằng xé do cảm giác tội lỗi mang lại.


Về điều này, rất nhiều chuyên gia tham vấn tâm lý giàu kinh nghiệm đều từng thấm thía. Họ thường nghe thân chủ bộc bạch: “Tôi yêu quý anh/chị dường ấy, làm sao nỡ lòng công kích anh/chị nặng nề?” Đương nhiên, đây vẫn chưa phải là sự chỉnh hợp trọn vẹn. Chỉnh hợp trọn vẹn có nghĩa là: Tôi có thể công kích bạn, cũng có thể buông bỏ sự công kích đối với bạn; tôi có thể yêu bạn, cũng có thể ghét bạn, hai điều này hoàn toàn có thể đồng thời hiện hữu.


Cảm nhận được thế giới này có tình yêu thương chính là chìa khóa để buông bỏ sự thiên chấp.


Dẫu người đời thường bảo: chỉ có kẻ thiên chấp (hoang tưởng) mới có thể sinh tồn, và thực tế trên người một số nhân vật thành đạt, ta thường thấy sự thiên chấp kiểu “một khi tôi đã bắt đầu việc gì là phải theo đuổi tới cùng”; nhưng nếu chỉ duy trì duy nhất cảm giác này, con người sẽ đánh mất đi tính linh hoạt. Một người bạn doanh nhân của tôi từng gặp vài trục trặc trong việc kinh doanh, mang lại cho anh nỗi cảm giác thất bại ghê gớm. Khi trò chuyện với anh, tôi nhận ra chính sự thất bại đã đem đến cho anh nỗi hổ thẹn tột cùng; lúc ấy, anh lờ mờ cảm thấy dường như có một thế lực thù địch đang chống lại mình, còn những người xung quanh dường như chỉ chực chờ để xem trò cười của anh.


Sau khi ý thức được mối thù địch tiềm ẩn ấy, anh nhìn lại thực tại: trước tiên, anh thấy bạn bè và gia đình xung quanh phần lớn đều sẵn sàng hỗ trợ anh về mọi mặt. Tiếp đó, anh ngẫm ra rằng những thất bại này vốn mang tính trung tính, tất cả chỉ là sự tôi luyện mà thôi. Nếu không chỉ về mặt thực tế anh bị giáng một đòn, mà về mặt cảm nhận, bản ngã của anh cũng vì thế mà trở nên yếu ớt hơn, thì quả thực chẳng khác nào anh đang hứng chịu một đòn tấn công thù địch. Nhưng nếu anh đàng hoàng đối mặt với những vấn đề này — hoặc là giải quyết chúng, hoặc xem chúng như những bài học kinh nghiệm — thì bản ngã của anh rốt cuộc sẽ trở nên mạnh mẽ hơn, và doanh nghiệp của anh cũng sẽ đồng thời lớn mạnh theo. Nghĩ được như vậy, mọi thất bại bỗng chốc hóa thành những thiện ý.


Cho nên, về mặt căn bản, chính là bạn đang không ngừng tiến bước tới sự vững mạnh.


Sự chỉnh hợp cuối cùng


Để một người có thể buông bỏ chấp niệm, tiền đề là: thế giới bên ngoài phải là một “bạn” đầy thiện ý. Buông bỏ chấp niệm cũng giống như buông bỏ vũ khí. Nếu thế giới bên ngoài là một “nó” đầy thù địch, lẽ tự nhiên “tôi” không thể nào hạ vũ khí xuống. Trừ phi “tôi” quá sợ hãi bị “nó” hủy diệt mà buộc lòng phải đầu hàng, nhưng khi đó sẽ nảy sinh nỗi nhục nhã ê chề. Hơn nữa, sự quy hàng hay thuận tùng lúc này chắc chắn chỉ là bề nổi; nơi đáy sâu nội tâm khó lòng phát giác, “tôi” sẽ tự đào một con hào sâu hoắm, hoặc dựng lên một bức tường thành vô hình trong tâm trí nhằm ngăn cách “tôi” với thế giới bên ngoài.


Khi “tôi” đã xác định được rằng ngoại giới là một “bạn” đầy thiện ý, lại nảy sinh một câu hỏi: Nếu như người “bạn” thiện ý ấy biến mất thì sao? “Tôi” phải làm thế nào?


Một người bạn tri kỷ của tôi có người mẹ đột ngột phát hiện mắc bệnh ung thư nan y rồi nhanh chóng qua đời. Quá trình trị liệu vô cùng giày vò, và sau khi mẹ mất, cô ấy cũng chìm trong đau đớn tột cùng. Với tư cách là bạn thân, tôi từng cố gắng ở bên đồng hành và nâng đỡ cô ấy; thế nhưng, một bước ngoặt chữa lành mang tính then chốt lại đến từ một tin nhắn của một người bạn khác gửi cho cô. Trong tin nhắn, người bạn ấy viết:


Mọi tình yêu thương sẽ không bao giờ mất đi, bởi nó đã vĩnh viễn ngự trị trong tim bạn.


Dòng tin nhắn ấy khiến cô bật khóc nức nở, và gần như ngay khoảnh khắc đó, cô nhớ lại biết bao ký ức tươi đẹp khi được ở bên mẹ. Những ký ức ấy, cùng với tình yêu thương và hơi ấm trong ký ức, chân thực đến nhường nào. Đồng thời, cô cũng nhận ra rằng, với tư cách là con gái của mẹ, rất nhiều phẩm chất tốt đẹp của mẹ đã để lại dấu ấn sâu đậm trên chính con người cô. Bởi vậy, ta thực sự không cần phải quá đỗi sợ hãi sự mất mát của tình yêu thương.


Tiến trình tang chế chính là việc bắt buộc phải thừa nhận sự mất mát đã diễn ra, và để cho mọi trạng thái tâm linh — đặc biệt là những hỷ nộ ái ố do mất mát gây nên — được tự do tuôn chảy; có như vậy tiến trình tang chế mới được hoàn tất.


Nếu đọc các tài liệu viết về tiến trình đau buồn, bạn sẽ thấy những phân tích như trên. Song đó vẫn chỉ là phần bề mặt. Nằm sâu trong tầng logic ngầm, còn có một phần thế này: Tình yêu ở thế giới bên ngoài đã mất đi, nhưng nó đã ở lại trong thế giới nội tâm. Ngược lại, sở dĩ tiến trình đau buồn không thể hoàn tất là do điều trái ngược: Tôi không muốn chấp nhận nỗi đau đớn bên trong, nên tôi dốc hết sức bình sinh để níu giữ tình yêu bên ngoài.


Vì sao việc giữ lại tình yêu lại quan trọng đến thế?


Tình yêu là sinh năng lượng (năng lượng sự sống) quan trọng nhất. Nếu như sự ra đi của người ta yêu thương (tức khách thể tốt) giống như sự biến mất triệt để, điều đó đồng nghĩa với việc nguồn sinh năng lượng này đã bị tử năng lượng (năng lượng cái chết) nuốt chửng hoàn toàn — đây là nỗi sợ hãi ở tầng sâu hơn. Hơn nữa, nếu người ta yêu qua đời mà tình yêu và những điều tốt đẹp trong nội tâm ta cũng tiêu biến theo, điều đó cũng có nghĩa là sinh năng lượng bên trong ta đã bị tử năng lượng bóp nghẹt — đây mới là điều khiến ta sợ hãi tột cùng.


Nơi sâu thẳm nhất của nội tâm còn ẩn giấu nỗi sợ này: Khi tử năng lượng trong lòng tôi hoàn toàn chiếm thế thượng phong, liệu có đồng nghĩa với việc tôi đã biến thành hiện thân của thứ tử năng lượng tà ác hay không? Từ đây có thể nói rằng, chúng ta lo sợ thế giới bên ngoài cướp đi người ta yêu thương, nhưng thực chất là đang lo sợ thế lực cướp đi người ấy lại bắt nguồn từ chính bản thân mình.


Tầng logic này cứ thế tịnh tiến từng bước, có lẽ một số bạn sẽ cảm thấy khó hiểu. Nhưng nhìn vào những câu chuyện kinh điển về sinh tử, ta sẽ thấy: khi người mình yêu thương qua đời, nếu trong lòng nảy sinh nỗi “oán hận ngút trời”, thì đó cũng chính là khoảnh khắc tâm linh của bản thân bị hắc hóa. Ở những thời khắc hệ trọng nhất, con người ta sẽ trượt dài vào sự tà ác nghiêm trọng.


Có một người đàn ông, năm ông lên bốn hay năm tuổi thì cha ông qua đời vì bạo bệnh. Hơn một năm sau, mẹ ông tái giá và tìm cho ông một người cha dượng. Ban đầu, mối quan hệ giữa ông và cha dượng khá êm đẹp, hai người có khoảng hai năm chung sống hòa thuận, thân thiện. Nhưng về sau, khi mẹ và cha dượng sinh thêm em trai và em gái, từ đó mối quan hệ giữa ông và cha dượng bắt đầu xấu đi. Càng về sau càng trở nên tồi tệ, cuối cùng căng thẳng đến mức không thể nhìn mặt nhau.


Trong quá trình tham vấn, ông chia sẻ rằng bản thân vô cùng nhớ cha ruột. Thế nhưng, dù có cố gắng đến đâu, ông cũng không tài nào nhớ lại được những năm tháng từng sống bên cha, những chi tiết có thể hồi tưởng chỉ đếm trên đầu ngón tay. Dẫu quên sạch sành sanh về cha ruột như vậy, nhưng đồng thời, ông lại lý tưởng hóa hình ảnh của cha mình lên tận mây xanh. Ông tin rằng cha mình là một người đàn ông vô cùng chính trực, lương thiện và dũng cảm, và ông cũng noi theo hình bóng ấy, cả đời miệt mài theo đuổi sự chính trực, lương thiện và dũng cảm. Điều này hoàn toàn có thật: ông là người mang tinh thần cống hiến hết sức to lớn. Song song đó, tính cách của ông lại cực kỳ đoan nghiệt; những người làm việc cùng đều có phần e sợ ông, bởi hễ phát hiện ai đó ích kỷ hay yếu mềm, ông sẽ lập tức nổi trận lôi đình và chỉ trích đối phương không thương tiếc.


Chúng ta có thể thấy rõ ràng rằng, ông đang ở vị thế thiên chấp - phân liệt ở mức độ rất nặng. Ông coi người cha đẻ như một khách thể toàn hảo, trong khi coi người cha dượng như một khách thể hoàn toàn xấu xa. Đồng thời, bản thân ông cũng muốn biến mình thành một khách thể thuần khiết tốt đẹp, nhưng cách hành xử của ông lại khiến người khác thấy đáng sợ. Điều này chứng tỏ người ngoài không hề cảm nhận về ông như cách ông tự nghĩ.


Trong quá trình tham vấn, tôi đề nghị ông hãy tìm gặp những người bà con họ hàng để tìm hiểu xem cha ruột của ông thực sự là người như thế nào. Ông lần lữa mãi mới chịu đi làm việc này. Đến khi tìm hiểu, ông mới ngỡ ngàng nhận ra cha mình thực chất vô cùng bình thường, cũng chỉ là một người đàn ông có cả ưu điểm lẫn khuyết điểm. Thậm chí, chẳng thể nào dùng những mỹ từ như “chính trực, lương thiện, dũng cảm, vị tha” để hình dung về ông ấy được. Có thể nói, cha ông không phải là anh hùng, mà chỉ là một người đàn ông hết sức đỗi bình thường.


Những thông tin thu thập được khiến ông gần như sụp đổ. Người xưa nay hầu như không bao giờ nằm mơ như ông bắt đầu liên tục mơ thấy ác mộng. Trong mơ thường là những cuộc xung đột nảy lửa giữa hai giống đực — khi thì là những con thú đực, khi thì là hai người đàn ông, có lúc lại là “ác ma”. Ban đầu ông ngỡ rằng đó là cuộc xung đột giữa mình và cha dượng; nhưng thuận theo tiến trình của các giấc mơ, ông ngày càng nhận thức rõ ràng hơn: đó chính là phức cảm Ơ-đíp (Luyến mẫu thí phụ - yêu mẹ giết cha) của chính mình.


Đến lúc này, ông mới vỡ lẽ: Tuy trên thực tế người cha mất vì bệnh tật, nhưng trong cõi hoang tưởng sâu kín, ông luôn cho rằng chính mình đã giết chết cha. Để trốn tránh cảm giác tội lỗi ngút ngàn ấy, ông đã triệt để lý tưởng hóa người cha, đồng thời phóng chiếu toàn bộ mối xung đột đó vào mối quan hệ với người cha dượng.


Có một điểm hết sức thú vị: Vì sao ông lại phải lý tưởng hóa cha mình? Bởi vì trong tưởng tượng, bản thân ông là một kẻ hủy diệt toàn năng, và người cha đã thực sự bị ông hủy hoại. Đó là một mối quan hệ xấu xí giữa tự thể xấu và khách thể xấu — xấu đến mức cùng cực. Ông không thể chịu đựng nổi điều này, nên đã chọn cách lý tưởng hóa người cha. Làm như vậy đồng nghĩa với việc cha là một khách thể tốt, và bản thân ông không hề có nửa điểm thù địch với cha. Việc ông lưu giữ một khách thể tốt đẹp lý tưởng hóa như thế trong lòng chính là để chống chọi lại những tưởng tượng đen tối nơi nội tâm.


Mỗi một xung đột tưởng chừng rất đỗi bình thường về nhân tính, nơi sâu thẳm nhất đều hướng về sự tưởng tượng thế này: Thế giới bên ngoài tôi là thù địch hay thiện ý; thế giới bên trong tôi là thù địch hay thiện ý? Thế giới này rốt cuộc là sinh năng lượng chiếm thế thượng phong, hay tử năng lượng mới là kẻ mạnh hơn?


Mục tiêu tối hậu của trị liệu phân tâm học là giúp một người hoàn toàn tin tưởng vào tính tự phát của bản thân, tức đạt tới trạng thái muốn làm gì thì làm nấy. Nhưng làm thế nào để chạm tới trạng thái ấy? Thuyết tâm vị của Klein đã đưa ra một câu trả lời căn bản:


  • Ở vị thế thiên chấp - phân liệt, tôi lo sợ ngoại giới mang đầy thù địch và quá đỗi hùng mạnh, nên khi bộc lộ sức sống mang tính công kích, tôi vô cùng kinh hãi vì sợ rằng cái “nó” thù địch bên ngoài sẽ nghiền nát tôi. Nhưng tôi lại bắt buộc phải biểu đạt tính công kích để củng cố sức mạnh của bản thân, nếu không tôi sẽ cảm thấy vô cùng nhục nhã.


  • Sang đến vị thế u uất, về cơ bản tôi trải nghiệm được rằng đôi khi mình rất mạnh mẽ, tôi muốn biểu đạt sức sống mang tính công kích. Thế nhưng tôi vẫn sợ hãi: tôi lo sợ lòng thù địch của mình sẽ hủy hoại mất người “bạn” thiện ý kia.


Một khi đã hóa giải được mâu thuẫn này, đồng nghĩa với việc tính công kích của một người đã được thuần hóa hoàn toàn thành sức sống. Khi ấy, con người ta có thể tôn trọng tính tự phát của chính mình mà không còn phải nơm nớp lo sợ làm tổn thương người mình yêu, hay sợ bị trả thù, trừng phạt.


Một khi đạt tới cảnh giới này, con người sẽ có mức độ nhân tính hóa cao nhất. Họ trở thành chính mình, nhưng lại hoàn toàn vô hại đối với người khác và xã hội.


Đó là sự chỉnh hợp toàn vẹn, cũng chính là cảnh giới mà Vương Dương Minh từng chạm tới. Tuy nhiên, tôi cần bổ sung thêm rằng: khi chúng ta có thể thực sự nhìn thấy thế giới có tốt có xấu, tự thể và khách thể đều có mặt tốt mặt xấu, thì đó đã là một sự chỉnh hợp ở mức độ rất cao rồi.


Tương tác: Vị thế thiên chấp - phân liệt không đồng nghĩa với sai lầm

Vị thế thiên chấp - phân liệt không đồng nghĩa với sai lầm, cũng không đồng nghĩa với trình độ thấp kém. Khi một ước nguyện được phát khởi, nó luôn khởi phát từ vị thế thiên chấp. Hơn nữa, lúc này cũng rất cần làm một số công việc của sự thiên chấp - phân liệt. Ví dụ, xem bản thân và ước nguyện của mình là tốt, đồng thời phân liệt và phóng chiếu cái xấu ra ngoài; có như vậy ta mới có thể vững vàng theo đuổi và hiện thực hóa ước nguyện ấy. Nếu ngay từ khi phát khởi ước nguyện mà một người đã luôn tự phản tỉnh, đã ở vị thế u uất vì sợ làm tổn thương người khác, thì e rằng chẳng thể nào theo đuổi ước nguyện được nữa.


“Người tình trong mắt hóa Tây Thi” có phải là vị thế thiên chấp - phân liệt không?


Đúng là học đi đôi với hành! Đây đích thực là vị thế thiên chấp - phân liệt: tách cái “xấu” ra khỏi người tình, thế nên mới thấy người yêu đẹp tựa Tây Thi.


Trò chuyện với nhiều nhà đầu tư, khi đúc kết về những đối tượng đầu tư sáng giá, họ đều nhắc tới cụm từ “thiên tài bệnh hoạn”. Bởi họ nhận thấy trên người nhiều đối tượng đầu tư xuất sắc đều có một sự thiên chấp cuồng nhiệt. Phải có được một bầu nhiệt huyết bướng bỉnh như thế mới có khả năng chèo lái doanh nghiệp thành công.


Nhớ lại từng có một nghiên cứu chỉ ra rằng: những người giỏi tự biện hộ cho mình, không dễ dàng tự phê bình bản thân lại là những người dễ thành công hơn. Một ước nguyện cũng giống như một đứa trẻ sơ sinh, khi nó còn non nớt, nó cần sự che chở, vỗ về chứ không phải là những lời phê bình, đả kích từ bốn phương tám hướng, đặc biệt là sự tự phê phán nội tâm. Đợi đến khi nó đã lớn mạnh, cứng cáp rồi, ta mới có thể thực hiện những phản tư sâu sắc hơn. Dĩ nhiên, vạn sự đều có chừng mực. Nếu mãi giậm chân ở vị thế thiên chấp - phân liệt mà không thể tiến vào vị thế u uất, con người ta rất có thể sẽ: Thứ nhất, dựng nên vô số kẻ thù và bỏ qua vô vàn cạm bẫy; Thứ hai, không chịu thừa nhận thất bại, để rồi tiêu hao quá nhiều tinh lực vào “chi phí chìm”.


Bởi vậy, theo cách nhìn của Melanie Klein, con người thường phát khởi một động lực khi ở vị thế thiên chấp - phân liệt, sau đó dần dần tiến bước tới vị thế u uất, rồi lại quay về vị thế thiên chấp - phân liệt để khởi phát một động lực mới... Sinh mệnh chính là sự luân chuyển không ngừng như thế.


Hỏi: “Khoái ý ân cừu” (yêu cho hả hê, hận cho rốt ráo) có mâu thuẫn với trạng thái của vị thế u uất không? Hay việc khoái ý ân cừu vốn là để đạt tới vị thế u uất?

Đáp: Gần như không thể có chuyện chỉ cắt rời mà không phóng chiếu. Phóng chiếu có hai cấp độ: một là phóng chiếu mạnh mẽ cái xấu lên người khác để rồi chỉ trích, công kích đối phương; hai là tuy tôi không có hành vi công kích ai, nhưng trong thâm tâm tôi lại thấy thế giới bên ngoài vô cùng tồi tệ — đó cũng là phóng chiếu.


“Khoái ý ân cừu” chính là chân thực đi thiết lập sự kết nối. Sự chỉnh hợp đạt được trong hoàn cảnh này mới thực sự vững mạnh và chân xác. Nếu chỉ dùng cái đầu lý trí để chỉnh hợp, đó sẽ là sự chỉnh hợp giả tạo. Chẳng hạn, nhiều người trông có vẻ rất cao minh, nhưng hễ đụng chuyện thực tế là lúng túng, luống cuống, ấy là bởi vì họ chưa từng kinh qua sự tôi luyện thực sự.


Từ “khoái ý ân cừu” rất dễ tạo cho người ta cảm giác thiên chấp, nhưng theo cách hiểu của Wilfred Bion thì không phải mang hàm nghĩa đó. Mặt đối lập của “khoái ý ân cừu” không phải là chỉnh hợp, mà chính là “đường vòng tâm linh” (psychic retreats / tâm linh tích kính) mà chúng ta đã nhiều lần bàn tới.

Hỏi: Cái “xấu” thường được nhắc tới này hẳn là khác với cái “ác” trong nhân tính mà chúng ta vẫn thường đàm luận chứ? Vậy sự khác biệt nằm ở đâu?

Đáp: Cái gọi là “tốt”, cái gọi là “xấu”, thực chất đều là sự cảm tri của “tôi”.


Điều này có phần do mối quan hệ cố định và tập ngầm các mối quan hệ nhào nặn nên. Ví dụ ở phương Đông, “tính công kích” không phải là một từ hay ho gì; nhưng ở phương Tây, từ “aggressiveness” lại mang hơi hướng của một lời khen ngợi.


Thế nhưng ở nơi sâu thẳm nhất của nhân tính, về cái “xấu”, tôi nghĩ có một sự đồng thuận nhất định, thậm chí là một sự đồng thuận hết sức căn bản. Chẳng hạn như tôi đã nhiều lần nhấn mạnh: sự yếu đuối của tự thể và nỗi thù hận trong các mối quan hệ là những thứ dễ bị cảm nhận là “xấu” nhất, khiến người ta chỉ muốn tức tốc cắt rời đi nhất.

CHƯƠNG NĂM: TỰ NGÃ THỰC HIỆN

Chúng ta vẫn luôn nói về việc “sở hữu một cuộc đời do chính mình định đoạt”, và kể từ khi bước chân vào nghề đến nay, tôi cũng luôn rao giảng về việc “hãy trở thành chính mình”. Những người thực sự trở thành chính mình sẽ là những người như thế nào? Liệu họ có trở thành những kẻ lấy mình làm trung tâm, ích kỷ vụ lợi hay không? Thuở ban đầu khi tôi khởi xướng tư tưởng “hãy trở thành chính mình”, mọi người luôn đặt ra những câu hỏi như vậy.


Tất cả chúng ta đều biết rằng, sức sống mang tính công kích một khi được “nhìn thấy” sẽ biến thành sức sống màu trắng, tốt lành. Cho nên, những người thực sự trở thành chính mình thì phẩm chất sức sống của họ (tức mức độ nhân tính hóa) là cao nhất. Chỉ có thứ sức sống màu đen không được nhìn thấy khi phơi bày ra mới mang tính vị kỷ, lấy mình làm trung tâm.


Dựa trên những nghiên cứu về các nhân vật kiệt xuất, nhà tâm lý học nhân văn Abraham Maslow đã đề xuất Thuyết thang bậc nhu cầu đầy sức ảnh hưởng, cho rằng con người có bảy tầng nhu cầu: nhu cầu sinh lý, nhu cầu an toàn, nhu cầu yêu thương và thuộc về, nhu cầu được tôn trọng, nhu cầu nhận thức, nhu cầu thẩm mỹ và nhu cầu hiện thực hóa bản thân (tự ngã thực hiện).


Người hiện thực hóa bản thân (người tự thực hiện) chính là những người thực sự trở thành chính mình. Maslow cho rằng những người này sẽ mang một số đặc trưng nhân cách chung.


Bạn có nghĩ mình là một người tự thực hiện không? Xung quanh bạn có ai là người tự thực hiện không? Hãy thử chia sẻ xem đặc trưng nhân cách của họ ra sao.


Tôi trông có vẻ mong manh đến thế,

Nhưng nơi đây, ngay trong bàn tay tôi,


Lại là sự bảo đảm của vĩnh hằng.


— Rumi

Đặc trưng nhân cách của người tự thực hiện bản thân (Phần 1)

Khác với phân tâm học thuở ban đầu đa phần tiếp xúc với các bệnh nhân có vấn đề về tâm lý, Maslow đã nghiên cứu 48 nhân vật kiệt xuất, chẳng hạn như Lincoln, Jefferson, Einstein..., những người được ông xem là đã đạt tới sự hiện thực hóa bản thân. Đối tượng nghiên cứu cũng bao gồm một số người bình thường nhưng được Maslow đánh giá là người tự thực hiện hoặc có tiềm năng tự thực hiện.


Quá nhiều người lầm tưởng rằng trị liệu phân tâm học chỉ dành cho người bệnh, nhưng ngay cả vào thời đại của Freud, sự tình cũng không hoàn toàn như vậy. Trong xã hội hiện đại, những người có thể tiếp nhận trị liệu phân tâm học cổ điển vài lần một tuần phần lớn đều là nhóm người có chức năng cao. Trong số các thân chủ của Freud có rất nhiều nhân vật thành đạt, ít nhất mười người trong số họ đã viết sách kể lại quá trình tiếp nhận phân tâm với Freud. Những nhân vật như Lincoln, Jefferson hay Einstein, nếu đem họ ra làm phân tâm sâu sắc, họ cũng đều có những vấn đề tâm lý riêng.


Như một bậc thầy phân tâm học người Nhật Bản từng luôn nói rằng: phân tâm học chỉ dành cho số ít người. Cả cuộc đời ông chỉ tiếp nhận vài chục thân chủ, trong đó không ít người đã theo ông suốt cả cuộc đời. Về sau, những thân chủ này vốn không còn vấn đề tâm lý nào chạm tới tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh nữa, nhưng họ vẫn tiếp tục tiếp nhận phân tâm, chỉ đơn thuần là để thấu hiểu bản thân một cách toàn diện và sâu sắc hơn.


Xuất phát từ quan điểm của Maslow, trước tiên chúng ta hãy cùng định nghĩa thế nào là tự ngã thực hiện. Hiểu một cách giản đơn, đó là những người sở hữu nhân cách tự chủ — việc của mình thì tự mình quyết định, tự chịu trách nhiệm về chính mình.


Người có nhân cách tự chủ, bởi vì luôn sống trong sự chân thực, sức sống của họ được nhìn thấy trọn vẹn, nên phần sức sống ấy cũng vì thế mà chín muồi hơn. Điều này mang lại những lợi ích to lớn: giúp họ vừa có thể thấu hiểu sâu sắc thế giới, lại vừa có thể chân thành đối diện với chính mình. Bản ngã của họ hài hòa hơn, và mối quan hệ giữa họ với tha nhân cũng như với thế giới cũng êm đẹp hơn. Maslow cho rằng, một người thực sự tự chủ sẽ sở hữu 14 đặc trưng nhân cách rõ rệt:


1. Nhận thức hiện thực một cách chuẩn xác và đầy đủ

Maslow chia năng lực nhận thức của con người thành hai loại: B-nhận thức (nhận thức hiện hữu / Being Cognition) và D-nhận thức (nhận thức thiếu hụt / Deficiency Cognition).


Người sở hữu B-nhận thức thì hiện thực ra sao họ sẽ nhận thức đúng như vậy, không nhìn nhận hiện tượng dựa theo nhu cầu, tưởng tượng hay dục vọng cá nhân. Không tự lừa dối mình là đặc điểm nổi bật nhất của người có B-nhận thức. Ngược lại, người mang D-nhận thức sẽ nhìn nhận thế giới dựa trên nhu cầu, tưởng tượng hoặc dục vọng của chính họ.


Cậu bé trong câu chuyện ngụ ngôn Bộ quần áo mới của hoàng đế nhìn thấy hoàng đế không mặc quần áo — đó chính là B-nhận thức kinh điển nhất. Người có B-nhận thức sẽ không vì bất kỳ lý do nào mà làm thay đổi nhận thức nguyên sơ của mình đối với sự vật. B-nhận thức chính là nền tảng đá tảng của nhân cách tự chủ.


2. Khoan dung nhưng lại ghét ác như thù

Họ nhìn thấy được hai mặt của sự vật: một mặt, họ thấu hiểu sâu sắc sự mong manh của nhân tính, từ đó sở hữu sự bao dung độ lượng tột cùng; mặt khác, họ lại cực kỳ nhạy cảm và bài xích đối với cái ác trong nhân tính.


Chẳng hạn như Vương Tiểu Ba: ông lột tả cái ác và sự yếu hèn của nhân tính một cách sâu sắc tới từng chân tơ kẽ tóc, giọng điệu châm biếm sắc lạnh tưởng chừng không chừa một chút đường lui. Thế nhưng đồng thời, các tác phẩm của ông lại chan chứa một sự bao dung vô bờ bến.


3. Mở lòng trọn vẹn với trải nghiệm của bản thân

Đối với những trải nghiệm nội tâm của chính mình, họ hân hoan đón nhận, bộc lộ cảm xúc và tư tưởng một cách tự nhiên. Họ thẳng thắn, tự nhiên, không rơi vào lối mòn sáo rỗng, và luôn hành động thuận theo tiếng gọi nơi bản tâm.


4. Lấy vấn đề làm trung tâm, không lấy cái tôi làm trung tâm

Họ làm việc vì chính công việc, còn người chưa đạt tới tự ngã thực hiện thì làm việc vì mưu sinh. Khi làm việc, họ vô cùng tập trung, quên mình, bị cuốn hút bởi chính sự nghiệp đó. Ngược lại, những người không tự thực hiện có thể làm việc rất bạt mạng, nhưng thứ họ theo đuổi không phải là bản thân sự nghiệp, mà là những sản phẩm phụ đi kèm — như muốn thao túng người khác, tranh giành địa vị xã hội và thu nhập kinh tế, thậm chí đòi hỏi người khác phải phục tùng mình một cách bệnh hoạn.


Trong công việc, người tự chủ luôn tràn ngập ý tưởng mới mẻ, sự sáng tạo dường như luôn tuôn trào tự nhiên. Điều này cũng là nhờ họ có B-nhận thức chứ không bị trói buộc bởi D-nhận thức.


5. Tính cách siêu nhiên, độc lập

Họ có nhu cầu mãnh liệt về sự tĩnh lặng một mình và tính độc lập; họ tự đưa ra phán đoán mà không hề dựa dẫm hay phụ thuộc vào người khác.


6. Không mê tín quyền uy và văn hóa

Quyền uy và văn hóa không thể tạo nên áp lực đối với họ. Họ không chạy theo đám đông, không bị trói buộc bởi môi trường văn hóa hay quyền uy mà phải đưa ra những lựa chọn thụ động.


7. Năng lực thưởng thức thanh tân, sâu lắng

Họ dường như không bao giờ gặp phải trạng thái “mệt mỏi thẩm mỹ”. Họ luôn có thể dùng tâm thế kính cẩn, kinh ngạc và hân hoan để trải nghiệm và thưởng thức mọi sự việc gặp phải trong đời, và thường xuyên xuất hiện những “trải nghiệm đỉnh cao” (Peak experience). Trải nghiệm đỉnh cao thực chất chính là sự va chạm giữa bản chất của “tôi” với bản chất của các tồn tại khác. Về điều này, Maslow đã đưa ra khái niệm “B-giá trị” và “D-giá trị”.


Cái gọi là “B-giá trị” (Being Value) chính là giá trị hiện hữu. Người tự chủ vừa thấu hiểu chính mình, lại vừa thấu hiểu người khác và tự nhiên, họ có thể dùng tâm hồn ngây thơ như một đứa trẻ để chiêm ngưỡng vạn vật. Ví dụ, họ có thể ngắm một ngàn lần cảnh hoàng hôn mà không hề chán ngán — đó là khi một người nhìn thấy giá trị tự thân của sự vật.


Cái gọi là “D-giá trị” (Deficiency Value) chính là giá trị thiếu hụt. Một người dựa vào sự thiếu hụt của bản thân mà nảy sinh nhu cầu, sau đó dùng nhu cầu ấy để phán xét đối phương, từ đó gán ghép giá trị cho đối phương. Những người không tự chủ cần người khác và ngoại vật để thỏa mãn chính mình, họ dựa vào những nhu cầu này để gượng ép gán ghép ý nghĩa lên người khác và ngoại vật. Khi nhu cầu ấy mất đi, giá trị mà người khác hoặc ngoại vật từng có đối với họ cũng tan biến theo.


Ví dụ, một người đàn ông vì cô đơn mà bước vào tình yêu. Ban đầu, vì người yêu khỏa lấp đi nỗi cô độc, anh ta thấy “rất có cảm xúc” với đối phương. Nhưng khi nỗi cô đơn đã biến mất, cảm xúc ấy cũng theo đó mà lụi tàn. Thứ anh ta nhìn thấy chỉ là “công dụng” của người yêu đối với mình — đó là một giá trị thiếu hụt. Anh ta chưa từng nhìn thấy nét đẹp nguyên sơ của người yêu với tư cách là một người phụ nữ, một con người độc lập — đó mới là giá trị hiện hữu.


Trong công việc cũng vậy. Người tự chủ nhìn thấy ý nghĩa tự thân của công việc — đó là giá trị hiện hữu. Còn người không tự chủ chỉ nhìn thấy những “mối lợi” mà công việc mang lại — đó là giá trị thiếu hụt. Khi sự thiếu thốn được thỏa mãn, người không tự chủ sẽ cảm thấy công việc ngày càng vô vị, nhạt nhẽo; trong khi người tự chủ sẽ không bao giờ nảy sinh cảm giác ấy.


Chúng ta sẽ thấy rằng, sự khác biệt lớn nhất giữa người tự thực hiện và người không tự thực hiện là: người trước có thể thuận phục trước chân tướng của tha nhân và vạn vật, trong khi người sau lại chìm đắm trong những tưởng tượng tự luyến của chính mình. Về điều này, cách hiểu của tôi là: người có nhân cách tự chủ là người đã sống trọn vẹn là chính mình. Kết quả là, một người đã được nhìn thấy một cách trọn vẹn thì cũng có thể nhìn thấy người khác và thế giới bên ngoài một cách thấu suốt. Nói cách khác, khi cái “Tôi” được nhìn thấy đầy đủ, ta mới có thể nhìn thấy sự tồn tại chân thực của “Bạn”.


Đặc trưng nhân cách của người tự thực hiện bản thân (Phần 2)

Dựa theo Thuyết thang bậc nhu cầu của Maslow, khi các nhu cầu cơ bản còn thiếu hụt, năng lượng tâm lý của con người sẽ tập trung vào việc tìm kiếm để thỏa mãn những nhu cầu này. Chẳng hạn, khi nhu cầu sinh lý “ẩm thực nam nữ” và nhu cầu an toàn bị thiếu hụt nghiêm trọng, việc theo đuổi chúng sẽ được đặt lên hàng đầu, dẫu sao điều đó cũng liên quan trực tiếp đến vấn đề sinh tử. Khi tử năng lượng trở thành lực lượng áp đảo, việc tranh giành tài nguyên sinh tồn sẽ trở thành việc hệ trọng nhất đời người.


Một số thân chủ có mức độ phát triển chức năng tâm lý và chức năng hiện thực rất thấp thường mắc phải một vấn đề: họ cho rằng thế giới này bắt buộc phải thuận theo sự tưởng tượng của họ. Vì thế, họ không thể tôn trọng thực tế, mà luôn muốn áp đặt trí tưởng tượng của mình lên hiện thực khách quan.


Ví dụ, có một phụ nữ nọ, các mối quan hệ xã hội của cô ta rối như tơ vò, chỉ bởi cô ta mang một logic tâm lý thế này:


  1. Tôi rất thiếu thốn tình yêu, cho nên người khác bắt buộc phải yêu tôi.


  2. Ai không yêu tôi, tôi sẽ hận người đó.


  3. Đã hận ai, tôi bắt buộc phải bộc lộ ra ngoài.


  4. Vì sao lại không bộc lộ chứ? Mọi người đều phải yêu tôi, anh không yêu tôi, đương nhiên tôi phải công kích anh rồi!


Logic này tin rằng ai nhìn vào cũng thấy có vấn đề: người khác đâu có nghĩa vụ phải yêu bạn, vả lại bạn cứ hở một tí là nổi giận lôi đình thì làm sao mà không phá hỏng các mối quan hệ?


Cô ta quả thực chẳng có lấy một người bạn. Cô ta biết rõ thực tế là như thế nào, nếu không đã chẳng tìm đến tham vấn. Cô ta hiểu rằng chính thói quen động một tí là nổi cáu công kích người khác đã khiến quan hệ giao tiếp của mình trở nên tồi tệ, kéo theo hàng loạt rắc rối. Thế nhưng, mỗi khi bàn về chuyện này, cô ta đều gào lên: “Nhưng tôi thực sự cần tình yêu mà, tại sao bọn họ lại không chịu thỏa mãn tôi chứ?!”


Maslow định nghĩa sự thiếu hụt là “sự thiếu hụt các nhu cầu cơ bản”, bao gồm bốn nhu cầu: sinh lý, an toàn, yêu thương & thuộc về, và được tôn trọng. Điều mà vị thân chủ này thiếu thốn có thể nói chính là nhu cầu về sự gắn kết và yêu thương.


Dưới góc nhìn của phân tâm học, vị thân chủ này vẫn đang mắc kẹt trong trạng thái tự luyến toàn năng nguyên thủy nhất. Cô ta cho rằng mọi nhu cầu của mình đều phải được đáp ứng, nếu không sẽ phát sinh cơn thịnh nộ tự luyến (narcissistic rage). Đồng thời, cô ta cũng đinh ninh rằng trên đời này phải có một khách thể có thể thỏa mãn cô ta vô điều kiện — giống như đứa trẻ sơ sinh luôn huyễn tưởng rằng ắt phải có một “bầu vú hoàn hảo” đáp ứng mọi đòi hỏi của nó.


Sự thỏa mãn mà cô ta nhận được thuở ban đầu quá đỗi ít ỏi, nên cô ta không thể chấp nhận nổi thực tế mà buộc phải thu mình sống trong thế giới tưởng tượng cô độc. Tưởng tượng có thể vỗ về cô ta, còn hiện thực chỉ mang lại cho cô ta cảm giác thiếu thốn đến tuyệt vọng. Nhìn từ góc độ này, những người có thể sống trong B-nhận thức và B-giá trị phần lớn là vì các nhu cầu căn bản của họ đã được thỏa mãn đầy đủ, nên họ không còn phải ôm giữ chấp niệm nữa.


Dĩ nhiên, có rất nhiều người đang đứng ở điểm ranh giới (ngưỡng chuyển giao). Những lúc này, sự tỉnh thức và việc được đáp ứng thích hợp sẽ giúp họ chuyển hóa từ D-nhận thức và D-giá trị sang B-nhận thức và B-giá trị. Tôi muốn nhắn nhủ với những ai chưa phải là người tự thực hiện rằng: “Đừng trách cứ bản thân, hãy cứ thong thả từng bước một.”


14 đặc trưng nhân cách của người tự thực hiện do Maslow đúc kết còn bao gồm:


8. Tình cảm xã hội chân thành

Người tự chủ sở hữu một tấm lòng từ bi rộng lớn. Dường như họ thấu hiểu được hoàn cảnh của tất thảy mọi người, có sự đồng cảm sâu sắc và lòng trắc ẩn tha thiết đối với nhân loại. Họ có thể nhìn nhận ưu điểm và khuyết điểm của người thân một cách thản nhiên. Ngược lại, người không tự chủ rất dễ rơi vào phân liệt: có những kẻ ngoài miệng rất yêu thương người nhà, nhưng lại đối xử vô cùng tàn nhẫn, hung ác với người ngoài.


9. Những mối quan hệ tương giao sâu sắc

Mối quan hệ của họ là tình yêu hiện hữu thuần khiết (B-love), chứ không phải tình yêu thiếu hụt (D-love). Họ có xu hướng tìm kiếm những người tự thực hiện khác để kết giao bè bạn. Tình yêu của họ hiếm khi chứa đựng sự thao túng hay chinh phục, và họ cũng không bao giờ áp đặt quan điểm của mình lên người khác.


Theo thống kê trên toàn cầu, các vụ án giết người vì tình chiếm tới một phần ba tổng số các vụ án mạng. Một gã đàn ông giết chết người yêu với lý do “tôi quá yêu cô ấy” — đó chính là một tình yêu thiếu hụt bệnh hoạn. Hắn ta chỉ yêu sự thỏa mãn mà người yêu đem lại cho hắn, chứ không hề yêu bản thân cô gái. Hắn chưa từng coi người yêu là một con người độc lập, mà chỉ xem cô như một công cụ bắt buộc phải thỏa mãn hắn. Không thỏa mãn được thì hủy diệt.


10. Tác phong dân chủ

Họ nhìn thấy nét độc đáo riêng biệt của từng cá nhân, có thể bình đẳng chan hòa với bất kỳ ai hợp tính hợp nết, dường như không hề bận tâm tới những ranh giới về chủng tộc, tuổi tác, học vấn hay tôn giáo. Khi đã 70 tuổi, họ vẫn có thể làm bạn với một đứa trẻ, đối xử với đứa trẻ như một người trưởng thành. Đồng thời, khi còn trẻ, họ cũng chẳng cố tình tỏ ra khinh thị quyền uy.


Nhiều bác sĩ tâm lý cho rằng trị liệu là một khuôn mẫu: chỉ cần nắm vững một bộ phương pháp trị liệu là có thể chữa trị cho rất nhiều người. Nhưng Maslow lại cho rằng, một bác sĩ tâm lý như thế này mới là xuất sắc nhất: Người bác sĩ coi mỗi một bệnh nhân đều là một cá thể độc nhất vô nhị trên thế gian. Ông không bị trói buộc bởi thuật ngữ, kỳ vọng hay những định kiến có sẵn; ông sở hữu sự thuần khiết, hồn nhiên tựa như tinh thần Đạo gia cùng với một trí tuệ trác việt. Mỗi một bệnh nhân đối với ông đều là một con người đặc biệt. Nhờ vậy, ông dùng phương thức hoàn toàn mới để thấu hiểu và giải quyết những vấn đề hoàn toàn mới. Thậm chí trước những ca bệnh cực kỳ nan giải, ông đều gặt hái được thành công vang dội — điều này đã minh chứng cho “tính sáng tạo” trong công việc của ông.


Vị bác sĩ tâm lý này thực ra chẳng phải là trường hợp cá biệt; mỗi một người tự chủ đều mang trong mình thái độ ấy: xem mỗi một con người đều là một tồn tại duy nhất trên cõi đời.


11. Ý thức đạo đức cao độ

Người tự chủ sở hữu một ý thức đạo đức và quan niệm luân lý mạnh mẽ và mang tính tự chủ. Họ có tiêu chuẩn đạo đức rất cao, nhưng tiêu chuẩn này thường không đồng nhất với những chuẩn mực thông thường của nền văn hóa sở tại. Họ tôn sùng phương châm “Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân” (Điều gì mình không muốn, đừng làm cho người khác), và kiên định giữ vững lằn ranh đạo đức của mình trong mọi hoàn cảnh. Họ không bao giờ dùng hai bộ tiêu chuẩn đạo đức: một bộ lỏng lẻo dung túng cho mình, còn một bộ khắt khe áp đặt cho người khác.


12. Tinh thần phản biện

Người tự chủ sở hữu một tinh thần phản biện tự nhiên, khởi phát từ B-nhận thức, B-giá trị và B-tình yêu. Họ phản biện không phải để làm màu hay tỏ ra lập dị, khác người; chỉ đơn giản là khi mọi thứ xung quanh đi ngược lại với nhận thức hiện hữu của họ, tinh thần tự chủ sẽ tự khắc thôi thúc sự phản biện ấy cất lời.


13. Khả năng dung nạp trạng thái mơ hồ

Khả năng chấp nhận trạng thái mơ hồ là một đặc trưng điển hình của sức sáng tạo, và người tự chủ chính là như vậy. Họ hiếm khi bị trói buộc bởi các quy tắc cứng nhắc, không bao giờ vội vã nhét một sự vật mới mẻ vào một khuôn mẫu nhận thức xơ cứng. Họ sẽ tĩnh lặng chờ đợi câu trả lời xuất hiện; khi chưa tìm ra đáp án, họ không vội vàng bịa ra một câu trả lời tạm bợ.


Ngược lại, người không tự chủ nhất định phải nhét ngay sự vật mới vào một mô thức có sẵn, nếu không làm vậy họ sẽ bồn chồn, bất an khôn xiết. Sự việc vừa mới bắt đầu, họ đã cuống cuồng đi tìm đáp án; người khác vừa mở miệng, họ đã vội vàng tranh phần giải thích nhận định của mình về sự việc. Kỳ thực, chỉ cần tĩnh lặng chờ đợi một chút, họ sẽ có được câu trả lời thấu đáo hơn; nhưng sự chờ đợi ấy đối với họ lại chẳng khác nào một sự phủ nhận chính bản thân mình. Người không tự chủ không thể chịu đựng nổi sự chờ đợi đó.


14. Sức sáng tạo cao độ

Sức sáng tạo được chia làm hai loại: sáng tạo kiểu tự ngã thực hiện và sáng tạo kiểu thiên tài đặc thù; Maslow tập trung nghiên cứu loại thứ nhất. Ông nhấn mạnh rằng, sức sáng tạo chỉ là sản phẩm tất yếu của một nhân cách tự thực hiện; người tự thực hiện dường như luôn luôn và ở mọi nơi đều sở hữu năng lực sáng tạo này. Sức sáng tạo ấy bắt nguồn sâu xa từ sự tự chủ.


Đến đây, chúng ta đã điểm qua trọn vẹn 14 đặc trưng nhân cách của người tự hiện thực hóa bản thân do Maslow đúc kết. Bạn thấy mình đáp ứng được bao nhiêu điều? Bạn có nghĩ mình là một người tự thực hiện không? Xung quanh bạn có ai như vậy không?


Người tự thực hiện có thể nhìn thấy chân tướng bản lai của chính mình, của người khác và của thế giới — thực tế ra sao, họ nhìn nhận đúng như vậy. Đây chính là nguyên nhân căn bản nhất giúp người tự chủ sở hữu sức sáng tạo dồi dào.


Sở dĩ họ làm được như thế, Maslow cho rằng phần lớn phải truy nguyên từ tính cách can trường, không sợ hãi của họ. Điều này được thể hiện trên hai phương diện:


  • Một là đối với ngoại giới: Người tự chủ vừa không a dua theo đám đông, vừa thể hiện rõ sự thiếu vắng thái độ phục tùng văn hóa; họ không sợ người khác nói gì, đòi hỏi gì hay chê cười điều gì. Bởi vì họ không mấy phụ thuộc vào người khác, nên cũng hiếm khi bị người khác chi phối, thao túng. Hơn nữa, họ không hề thù địch với tha nhân, mà ngược lại luôn thấu hiểu cho mọi người.


  • Hai là đối với trải nghiệm: Quan trọng hơn cả, bản ngã của họ hài hòa hơn, họ có khả năng chấp nhận bản thân sâu sắc hơn. Họ dám trực diện đối mặt với cái tôi nội tại, và cũng dám thẳng thắn đối diện với hiện thực bên ngoài; điều này khiến cho hành vi của họ mang tính tự phát nhiều hơn, giảm bớt sự kiểm soát, đè nén, toan tính hay sắp đặt.


Người tự chủ không sợ hãi những suy nghĩ của chính mình, ngay cả khi chúng có phần “kỳ quặc”, hồ đồ hay điên rồ. Họ không sợ bị cười chê, không sợ không nhận được sự tán đồng. Họ có thể để bản ngã của mình tự nhiên bộc lộ qua dòng chảy cảm xúc. Ngược lại, người bình thường và các bệnh nhân nhiễu tâm lại dùng những bức tường thành kiên cố để ngăn chặn hiểm nguy, đồng thời kiểm soát, ức chế, chèn ép và trấn áp bản ngã của chính họ. Họ khắt khe hà khắc với bản ngã sâu thẳm của mình, và cũng kỳ vọng người khác làm điều tương tự.


Về đặc chất này của người tự chủ, Maslow từng có một đoạn phác họa tuyệt đẹp:


Họ (những người tự chủ) không phớt lờ những điều chưa biết, không phủ nhận hay lẩn tránh nó, cũng không cố gắng tạo ra ảo tưởng như thể mình đã biết rõ mười mươi; họ không vội vã tổ chức, chia cắt hay phân loại nó từ quá sớm. Họ không phụ thuộc vào những điều quen thuộc. Việc họ kiếm tìm chân lý cũng không hề câu nệ đòi hỏi sự chắc chắn, an toàn, rành mạch và ngăn nắp... Khi toàn bộ tình huống khách quan đòi hỏi, người tự hiện thực hóa bản thân hoàn toàn có thể an lòng chấp nhận một trạng thái không trật tự, phác thảo thô sơ, hỗn loạn, mông muội, mơ hồ, đầy nghi vấn, bất định, không rõ ràng, xấp xỉ, không chặt chẽ và thiếu chuẩn xác.

Đó chính là sự tự tại — sự tin tưởng và tôn trọng tuyệt đối dành cho tính tự phát của sinh mệnh.

 
 
 

Bài đăng gần đây

Xem tất cả
Chương 4: Hiện Thực

Đơn Thuần Nhiều năm trước, tôi từng viết một bài tản văn ngắn có tựa đề Bàn về sự đơn thuần, xem sự đơn thuần như một cảnh giới tối cao: Đơn thuần không phải là ngây ngô, đơn thuần không phải là giản

 
 
 
Chương 2: Không gian

Sáng tạo không gian của bạn Một ẩn dụ căn bản về nhân tính, chính là vật chứa và vật được chứa. Cơ quan sinh dục nữ và cơ quan sinh dục nam, chính là vật chứa và vật được chứa. Chúng cùng nhau sáng tạ

 
 
 
Chương 3: Sáng Tạo

Sáng tạo đến từ sự quy phục Một người thầy của tôi từng nói: Cô tin rằng việc điều trị bất kỳ chứng bệnh tâm lý nào cũng đều có thể tìm ra một bộ mô thức hữu hiệu. Nguyện vọng của cô là tìm ra những m

 
 
 

Bình luận


bottom of page