Chương 4: Hiện Thực
Đơn Thuần
Nhiều năm trước, tôi từng viết một bài tản văn ngắn có tựa đề Bàn về sự đơn thuần, xem sự đơn thuần như một cảnh giới tối cao:
Đơn thuần không phải là ngây ngô, đơn thuần không phải là giản đơn.
Đơn thuần là sự thuần tịnh của tâm tính; người đơn thuần sở hữu một trái tim pha lê trong suốt, long lanh.
Nhờ trái tim pha lê ấy, thế sự và vạn vật không nơi nào có thể ẩn hình.
Đơn thuần tựa như tấm gương phẳng mịn nhất, có thể phản chiếu chân tướng của vạn vật;
Đơn thuần tựa như chiếc rây kỳ diệu nhất, có thể lọc bỏ tạp chất, chỉ giữ lại những cốt lõi thực chất nhất.
Nếu bạn thấu hiểu điều này, bạn sẽ hiểu rằng:
Đơn thuần là hạt giống, còn linh tính và trí tuệ chính là quả ngọt.
Bài văn ngắn ấy muốn truyền tải rằng: người đơn thuần nhất thường lại chính là người có vốn trải nghiệm phong phú nhất. Vạn sự đều là phóng chiếu — có lẽ lúc ấy tôi đang tự khen mình, bởi tôi vốn luôn sống vô cùng giản đơn. Thế nhưng, khi dần dà sống một cuộc đời phức tạp hơn, tôi mới ngày một nhận ra mình đã thi vị hóa sự đơn thuần quá mức.
Có thể xét về mặt đạo lý căn bản, đơn thuần quả thực đẹp đẽ đến thế: đi từ giản đơn đến phức tạp, rồi từ phức tạp quy về đơn thuần hay thuần khiết — đó là một con đường rất đúng đắn. Song, sự "đơn thuần" thường được khắc họa trong văn hóa của chúng ta lại có thể hàm chứa những tầng nghĩa vô cùng phức tạp. Chẳng hạn, đơn thuần rất có thể là vì bạn không dám mở rộng và dấn thân vào sinh mệnh của chính mình.
Nói như vậy vẫn còn hơi vòng vo; nói một cách trực diện hơn: quá đơn thuần rất có thể là vì bạn đã tự "thiến" đi những dục vọng của mình, đặc biệt là dục vọng cạnh tranh.
Quá nhiều người thích một gương mặt đơn thuần, bởi điều đó đồng nghĩa với việc dễ khống chế. Nhưng đồng thời, cũng có những người rất giỏi dùng một gương mặt đơn thuần để quay ngược lại khống chế bạn. Càng đơn thuần, lại càng phức tạp. Đơn thuần tất yếu là một chuyện cực kỳ phức tạp. Thứ "đơn thuần phức tạp" bạn từng gặp là gì? Chính là khi bạn ngỡ một người hay một việc nào đó rất đơn thuần, nhưng sau này mới vỡ lẽ họ vô cùng phức tạp.
Đơn thuần mang nội hàm rất sâu, và sự đơn thuần phức tạp không hề phủ nhận điều này.
Có hàng ngàn vò rượu,
Có thể khiến ta say đắm tâm thần.
Nhưng chớ vội nghĩ rằng
Mỗi niềm hoan lạc cuồng say đều như nhau cả!
Bất kỳ chén rượu nào cũng có thể khiến người ta dâng trào hứng khởi.
Hãy như một bậc đế vương thận trọng định đoạt, chọn lấy thứ rượu thanh khiết nhất —
Thứ rượu chẳng hề pha tạp nỗi sợ hãi hay đòi hỏi của vật chất.
Hãy nhấp ngụm rượu có thể làm rung động lòng bạn,
Nhấp ngụm rượu có thể đưa bạn
Cất bước thong dong như chú lạc đà tự do chẳng chút cương tỏa.
— Rumi
Càng đơn giản, càng phức tạp
Có một người phụ nữ học vấn cao, công việc rất tốt, chuẩn mực của giới tinh hoa. Trông cô vô cùng đơn thuần, dường như trên mặt khắc sẵn bốn chữ "tôi rất giản đơn". Điều thú vị là, cô luôn đem lòng yêu những người đàn ông phức tạp và nguy hiểm. Thậm chí, cô còn bước chân vào vòng tròn quan hệ hẹp của những nhân vật có địa vị xã hội nhất định. Nhìn chung, cảm giác cô ấy đem lại cho tôi tựa như một cô gái ngây thơ, miệng luôn cười ngô nghê đi lại giữa một đám đàn ông đầy dã tâm, mưu mô và quyền lực.
May thay, cô ấy thực sự giản đơn. Cô chỉ tò mò về những người đàn ông nguy hiểm ấy chứ bản thân không hề có dã tâm hay tâm cơ. Hơn nữa, những nhân vật then chốt trong nhóm đó trước vẻ đơn thuần của cô cũng động lòng trắc ẩn, che chở cho cô, nên cô vẫn được an toàn.
Khi cùng tôi đào sâu lý do vì sao luôn bị thu hút bởi những người đàn ông phức tạp và nguy hiểm, cô bộc bạch rằng: cô biết bản thân quá giản đơn, cha mẹ mình cũng quá giản đơn. Thực chất, sự giản đơn ấy chính là một dạng nhu nhược, yếu đuối; vì thế cô cực kỳ hứng thú với thứ sức mạnh ẩn giấu đằng sau sự phức tạp. Có thể nói, là một người phụ nữ mù mờ nhất về trò chơi quyền lực, cô lại có hứng thú mãnh liệt nhất với những người đàn ông nắm giữ quyền lực.
Một người phụ nữ khác cũng rơi vào hoàn cảnh tương tự, chỉ có điều cô không thường xuyên giao thiệp với những người đàn ông nguy hiểm ngoài xã hội. Là một người cực kỳ xem trọng đạo đức, cô lại kết hôn với một người đàn ông gần như chẳng biết đạo đức là gì. Trong mối quan hệ này, cô liên tục cảm nhận được mình bị bóc lột, bị lợi dụng, bị sử dụng một cách cạn tình cạn nghĩa; và đây hoàn toàn không phải là tưởng tượng hay suy diễn — đó là sự thật với vô số bằng chứng rõ ràng. Khi nhìn nhận mọi việc ngày càng sáng tỏ, cô quyết định ly hôn. Thế nhưng, quá trình rời xa người chồng lại vô cùng gian nan. Ban đầu cô nghĩ là chồng không muốn ly hôn, nhưng rốt cuộc mới nhận ra: chính bản thân cô mới là người không muốn dứt bỏ.
Trong buổi tư vấn, tôi hỏi cô: "Tại sao chị lại có hứng thú với người đàn ông này?" Ban đầu, câu trả lời cô đưa ra là vì lúc đó cô đang sốt sắng muốn lấy chồng — một câu trả lời giản đơn. Về sau, cô mới đưa ra câu trả lời phức tạp: Từ thời còn là thiếu nữ, cô đã từng nghĩ cha mẹ mình quá đơn giản, tầm nhìn quá hạn hẹp, và bản thân cô cũng vậy. Cả nhà ba người sống chẳng khác nào những kẻ khờ dại, nên cô luôn khao khát tìm được một người thông minh.
Câu chuyện của hai người phụ nữ này thuộc cùng một dạng thức: người phụ nữ đơn giản nhất lại lựa chọn người đàn ông phức tạp nhất, và họ làm điều đó với ý thức chủ quan rất rõ ràng. Sở dĩ đưa ra lựa chọn như vậy là bởi họ nhận ra sự đơn giản của bản thân và cha mẹ thực chất là sự suy yếu, bất lực của tự thể (self). Vì vậy, họ muốn tìm kiếm những người đàn ông phức tạp, bởi dưới góc nhìn của họ, sự phức tạp ấy đồng nghĩa với sức mạnh.
Dùng từ "phức tạp" để hình dung về những người đàn ông này thực ra chưa hoàn toàn chuẩn xác; từ ngữ chuẩn xác hơn phải là "xảo quyệt và vô tình". Trước hết, họ mang thứ phức tạp pha trộn giữa xảo quyệt và vô tình ấy đặt vào trong mối quan hệ lứa đôi; bởi vậy, một người đơn giản tột cùng như người phụ nữ thứ hai khi chọn người đàn ông phức tạp nhất làm bạn đời rất dễ phải trả một cái giá kinh hoàng.
Nhìn từ góc độ khác, kiểu lựa chọn này lại cực kỳ phổ biến. Nó như một sự thôi thúc khó lòng kháng cự, cũng là con đường quen thuộc để một người đơn giản với tự thể yếu ớt bước vào sự phức tạp nhằm gia cố tự thể của mình. Thế giới luôn vận hành theo lẽ tương phản: khi bạn nhìn thấy A, cũng đồng nghĩa với việc bạn nhìn thấy -A. Từ câu chuyện của hai người phụ nữ trên, bạn có thể thấy quy luật này đang âm thầm phát huy tác dụng.
Ở phái nam cũng tồn tại sự đơn giản tương tự. Nhà văn Vương Tiểu Ba trong các tiểu thuyết và tạp văn của mình từng nhắc đến việc xã hội chúng ta rất sùng bái hiện tượng "chàng ngốc chân phương" (hãn nhi). Đó là một chàng trai thân hình vạm vỡ, đầu óc tràn ngập các quan niệm đạo đức nhưng suy nghĩ vô cùng đơn giản, hễ thấy chuyện bất bình là lập tức xông vào can thiệp, đặc biệt là chuyện nam nữ.
Vô số tác phẩm phim ảnh từng xây dựng hình tượng "chàng ngốc" này. Kim Dung từng đắp nặn nên nhiều nhân vật kinh điển như vậy, tiêu biểu là Quách Tĩnh. Trong bộ phim Ngạnh hán (Kẻ cứng cỏi), Lưu Diệp thủ vai một "chàng ngốc" giàu lòng chính nghĩa: đầu óc có phần ngớ ngẩn do chấn thương, nhưng thân thể cường tráng, tay cầm ngọn thương tua đỏ đi khắp nơi trừng gian diệt ác.
"Chàng ngốc" là một lối sống cực kỳ giản đơn. Sống như vậy, bản thân sẽ không phải dằn vặt. Nhiều người ghét sự giằng xé, ghét mâu thuẫn, nên luôn muốn tìm kiếm cách sống đơn giản nhất, muốn ôm chặt lấy những nguyên tắc đơn sơ ấy để đi hết cuộc đời. Thế nhưng, số phận không ban phát ân huệ dễ dàng như vậy; số phận sẽ dành cho những người đó những bài toán phức tạp nhất. Thông qua những nan đề ấy, cuộc đời đánh thức họ, buộc họ hiểu ra giới hạn của lối sống này. Đáng sợ hơn cả: là một người đơn giản, lối sống ấy thực chất lại do chính bạn tự tạo tác ra. Chẳng hạn, những kẻ phức tạp thường là do chính người đơn giản chủ động mời gọi bước vào sinh mệnh của mình.
Dưới góc nhìn tâm lý học, một người sống với điểm số quá cao ở một phương diện nào đó thực chất đang sống trong trạng thái phân liệt và hoang tưởng (paranoid-schizoid). Về mặt ý thức, họ đứng ở cực A tuyệt đối; nhưng trong tiềm thức, họ lại chứa đựng cực -A cực đoan. Chỉ là họ đã đè nén phần -A quá sâu, sâu đến mức chính bản thân cũng không thể hiển lộ nó ra ngoài đời sống, như thể họ đã hoàn toàn cắt rời phần đó khỏi bản thân. Khi ấy, bằng cách tiến lại gần những người mang sẵn cực -A trên bề mặt ý thức, thông qua việc thiết lập mối quan hệ với họ, người đơn giản học cách chung sống với phần nhân tính này của mình.
Có thể nói, tiềm thức của họ đã mượn người kia để biểu đạt ra ngoài. Nhờ thế, họ có cơ hội nhìn thấy góc khuất bên trong nội tâm mình. Họ buộc phải dung hợp phần này thì nhân tính mới trở nên toàn vẹn. Người ít toan tính lợi ích nhất sẽ bị thu hút bởi kẻ giỏi toan tính lợi ích nhất; người trung thành nhất sẽ bị thu hút bởi kẻ dễ phản bội nhất; người không màng dục vọng sẽ bị thu hút bởi kẻ tràn ngập dục vọng; người vị tha nhất sẽ bị thu hút bởi kẻ ích kỷ nhất; người lương thiện nhất sẽ bị thu hút bởi kẻ tà ác nhất...
Sức mạnh truy cầu sự toàn vẹn của nhân tính vượt xa động lực truy cầu hạnh phúc hay niềm vui. Cuộc sống thường hiển hiện rất tàn nhẫn. "Chàng ngốc" thường chuốc lấy sự trêu cợt; câu chuyện một gã khờ như Quách Tĩnh gặp được một thiên tiên như Hoàng Dung trong hiện thực là điều vô cùng hiếm hoi.
Tàn nhẫn cũng là một nhu cầu của lòng người. Nếu nỗi đau chưa đủ sâu, sự chấp niệm quá đỗi kiên cố sẽ không thể bị đập vỡ, và con người ta sẽ không thể nào tỉnh ngộ.
Những diễn đạt trên đây ở chừng mực nào đó đã thi vị hóa sự đơn giản, miêu tả người đơn giản như những con người lương thiện và đúng đắn. Kỳ thực, sự đơn giản này là một cơ chế phòng vệ tự ngã vô cùng kiên cố. Căn nguyên của cơ chế phòng vệ này là để tạo cho bản thân một cảm giác tốt đẹp: Bạn xem, tôi là một người đạo đức biết bao, tôi không có tâm địa xấu xa, tôi luôn đúng, tôi luôn tốt đẹp. Cảm giác tự mãn về mặt đạo đức giúp họ trốn tránh cảm giác tồi tệ do một tự thể yếu ớt mang lại. Đồng thời, một cách hữu ý hay vô thức, những người khác xuất hiện trong cuộc đời của "người tốt đơn giản" sẽ bị đẩy về phía sai trái. Bởi vậy, bên cạnh một người có ý thức đạo đức quá nặng ắt sẽ có kẻ cực kỳ vô đạo đức; bên cạnh một người quá đỗi đơn giản ắt sẽ có kẻ vô cùng phức tạp.
Cho nên, những ai sống quá đơn giản cần nhìn thấy sự tự luyến về mặt đạo đức này của bản thân. Đồng thời cần hiểu rằng, để trở thành một người thực sự biết đối tốt với chính mình và đối tốt với những người thân yêu quan trọng nhất, khó hơn rất nhiều so với việc chỉ bám víu vào vài tín điều đơn giản để sống qua ngày.
Nhân tính phức tạp vô cùng, bất kỳ ai cũng vậy, và đặc biệt là chính bạn. Bởi thế, chúng ta có thể khẳng định: "Không một ai có được cái diễm phúc sống một cách giản đơn."
Người tốt đã trốn tránh điều gì?
Người tốt luôn ở bên cạnh kẻ xấu. Lẽ nào người tốt chỉ đơn thuần là thích bị ngược đãi? Hay chỉ để theo đuổi cảm giác tự luyến đạo đức hư ảo? Đương nhiên không phải. Mọi hành vi của con người đều nhằm mưu cầu một lợi ích nào đó; vấn đề chỉ là chúng ta có ý thức được mình đang mưu cầu mối lợi gì hay không.
Người tốt không thể khước từ sự bóc lột của kẻ xấu, là bởi đằng sau hành vi từ chối tưởng chừng rất đơn giản ấy lại ẩn chứa điều khiến người tốt vô cùng khiếp sợ.
Khi người tốt ở cùng kẻ xấu, trước hết có những mối lợi hiển nhiên sau đây:
Mọi người đều đồng tình với người tốt. Ngay cả những người không thích người tốt, giữ khoảng cách "kính nhi viễn chi" với họ, thì vẫn sẽ dành cho họ sự thương cảm.
Cả người tốt lẫn người ngoài cuộc đều dễ cảm thấy mọi vấn đề đều nằm ở phía kẻ xấu. Mọi trắc trở trong mối quan hệ này đều do kẻ xấu gây ra.
Người tốt, kẻ xấu và người ngoài cuộc từ đó cấu thành một mối quan hệ tam nguyên. Ở phía kẻ xấu, người tốt mất đi rất nhiều quyền lợi và lợi ích; nhưng ở phía người ngoài cuộc và trong chính thâm tâm mình, người tốt lại nhận được điểm số thương cảm. Nếu cộng đồng người ngoài cuộc đủ lớn, người tốt thậm chí có thể mượn sự thương cảm ấy để lật ngược tình thế.
Người tốt còn có một mối lợi theo nghĩa thông thường: duy trì sự tiếp diễn của mối quan hệ. Người tốt rất sợ một khi phát động tấn công, mối quan hệ sẽ đổ vỡ, và bản thân sẽ rơi vào nỗi cô độc tột cùng.
Những mối lợi trên đều rất dễ phân tích. Song ngoài những điều đó ra, người tốt còn có một lợi ích ẩn kín: mượn kẻ xấu để đối phó với thế giới bên ngoài.
Như đã đề cập ở phần trước, tôi chia không gian sống của mỗi người thành hai lĩnh vực:
Lĩnh vực đời sống gia đình với mối quan hệ thân mật làm chủ đạo, mang quy tắc cốt lõi là sự trân quý.
Lĩnh vực xã hội với quan hệ công việc làm chủ đạo, mang quy tắc cốt lõi là quyền lực.
Làm thế nào để nắm vững quy tắc quyền lực trong lĩnh vực xã hội? Điểm mấu chốt nằm ở cách bạn biểu đạt sức mạnh (tức tính công kích) của mình. Cứ hễ nhắc đến quyền lực, chúng ta rất dễ liên tưởng đến sự "đen tối"; như vậy, việc nắm vững quy tắc quyền lực đối với người bình thường đồng nghĩa với việc phải bước chân vào một thế giới đen tối. Điều này khiến chúng ta khiếp sợ.
Bởi thế, rất nhiều người tha thiết mong muốn một cuộc sống giản đơn, hoàn toàn ngó lơ các quy tắc quyền lực, hoàn toàn phớt lờ mảng tối trong nhân tính để theo đuổi sự chân - thiện - mỹ đơn thuần. Nếu thế giới có thể đơn giản như vậy thì tốt biết mấy; nếu chỉ cần giữ chặt quy tắc trân quý để xử lý mọi mối quan hệ nhân sinh thì hay biết bao. Tiếc thay, con người không có cái phúc phần được sống giản đơn:
Trước hết, nếu bạn chỉ dùng quy tắc trân quý mà không dùng quy tắc quyền lực, bạn sẽ rất khó sinh tồn trong thế giới hiện thực.
Thứ hai, ngay cả ở phần cốt lõi nhất của lĩnh vực riêng tư — mối quan hệ thân mật — sự tranh đoạt quyền lực đen tối vẫn luôn tồn tại.
Một người bạn của tôi luôn ôm ấp ý nghĩ dùng một trái tim đơn thuần, mộc mạc để đi khắp thế gian. Cách hành xử của cô luôn khiến tôi nhớ đến cụm từ "thiên hạ vô tặc" (dưới gầm trời không có kẻ trộm). Thế nhưng, cô lại chọn một người chồng vô cùng phức tạp, ích kỷ, thường xuyên bóc lột và thao túng cô. Mối quan hệ này thoạt nhìn rất nguy hiểm, cô có nguy cơ bị người bạn đời nham hiểm, ích kỷ "lột da nuốt sống", nhưng nó cũng có điểm hợp lý riêng. Người bạn đời rất thạo sử dụng quy tắc quyền lực này có thể giúp một kẻ luôn giữ thái độ "thiên hạ vô tặc" đi đối phó với đủ loại "trộm cướp" ngoài đời thực. Cũng có thể nói, người trốn tránh quy tắc quyền lực phải mượn người quá thèm khát và quá thành thạo quy tắc quyền lực đến bảo bọc cho mình, giúp mình xử lý những quan hệ quyền lực và lợi ích phức tạp nơi thực tại.
Ngược lại, nếu là một người đàn ông tốt kết đôi với một người phụ nữ xấu, sự phối hợp trông sẽ không mấy hài hòa; bởi người đàn ông tốt thường có xu hướng thu mình, ru rú một xó, không thể mạnh mẽ đối phó với các quan hệ quyền lực phức tạp như một người đàn ông xấu. Khi người phụ nữ xấu gồng mình sử dụng quy tắc quyền lực, mọi sự trông sẽ rất khiên cưỡng. Nhưng nếu là một người đàn ông xấu đi cùng một người phụ nữ tốt, cấu trúc lại hòa hợp hơn rất nhiều: người đàn ông như mãnh sư đối mặt với thế giới bên ngoài, vận dụng mạnh mẽ quy tắc quyền lực; người phụ nữ ở nhà vận hành bằng quy tắc trân quý. Sự phân chia trong - ngoài này trở nên ăn khớp hơn hẳn. Vì thế, hình mẫu lý tưởng của nhiều phụ nữ là: "Cả đời anh kiêu ngạo bất kham, nhưng dành trọn sự dịu dàng cho riêng em."
Vấn đề là, sự cân bằng giữa quy tắc quyền lực và quy tắc trân quý cực kỳ khó nắm bắt. Một kẻ quá thành thạo quy tắc quyền lực không chỉ bước vào bóng tối, mà còn có thể bị bóng tối ăn mòn hoàn toàn, để rồi biến thành kẻ áp dụng quy tắc quyền lực lên tất cả mọi người; ngay cả người không chút phòng bị bên cạnh mình cũng không ngoại lệ, thậm chí còn bóc lột tàn nhẫn nhất.
Người tốt chỉ muốn dùng quy tắc trân quý khi tìm đến kẻ xấu quá khao khát hoặc quá sành sỏi quy tắc quyền lực, thực chất là đang trốn tránh những nỗi lo âu trước lĩnh vực xã hội. Những nỗi lo âu này gồm có:
Nỗi lo âu khi bước vào bóng tối.
Nỗi lo âu về sự yếu đuối, nhỏ bé.
Muốn chơi cuộc chơi quyền lực, buộc phải thể hiện sức mạnh. Mà việc thể hiện sức mạnh lại đòi hỏi một quá trình học hỏi rất dài. Nếu bạn là một người nhút nhát xuất thân từ một gia tộc vốn dĩ hèn nhát, việc học này lại càng muôn phần gian nan.
Thể hiện sức mạnh chính là thể hiện tính công kích. Kẻ nhát gan luôn sợ rằng hễ bộc lộ tính công kích, mình sẽ bị kẻ khác mạnh hơn trả đũa, thậm chí tiêu diệt. Bị nỗi sợ hãi ấy bủa vây, họ thà chỉ thể hiện vẻ "lương thiện" cho xong. Nhưng thứ lương thiện thiếu vắng sức mạnh ấy, thực chất chỉ là sự lấy lòng và thuận phục. Họ lấy lòng và thuận phục kẻ mạnh để mong không bị tấn công. Bởi vậy, cái "tốt" của người tốt vừa giúp họ thỏa mãn sự tự luyến đạo đức và sự thương cảm của người đời, lại vừa mượn kẻ xấu để trốn tránh áp lực của thế giới thực — quả là mối lợi khổng lồ.
Một người bạn của tôi có cha mẹ quá đỗi hiền lành, trước sự bóc lột nặng nề của họ hàng thân thích, họ không thể đưa ra bất kỳ biện pháp phòng vệ mạnh mẽ và hợp lý nào. Khi tôi trò chuyện sâu với cô về chuyện này, hai bên cũng rất dễ rơi vào bế tắc; cô cảm thấy mình cũng giống như cha mẹ, thực sự chẳng thể làm được gì.
Nhưng mỗi khi nhắc đến mối hận thù mà cha mẹ cô có thể đang mang đối với những người thân kia, trong lòng cô lại dấy lên một nỗi sợ hãi mơ hồ — không phải nỗi sợ từ bên ngoài, mà là nỗi sợ một thứ gì đó từ tận bên trong.
Tôi bảo cô hãy tĩnh tâm lại để cảm nhận nỗi sợ hãi ấy; nỗi sợ trong cô lập tức chạm đỉnh. Cô cảm nhận một cách chân thực rằng dường như có một "bóng ma" đang hiện hình ngay bên cạnh mình. "Bóng ma" kinh hãi ấy chính là sự oán hận bị chôn chặt trong lòng những người tốt quá mức.
Người quá tốt luôn đè nén oán hận. Kết quả là, oán hận chỉ có thể nằm lại nơi tiềm thức chứ không thể trồi lên tầng ý thức. Đặc trưng của nó là lòng căm thù và sự công kích. Hơn nữa, dù xuất hiện trong giấc mơ hay ngoài đời thực, ban đầu người tốt đều cảm thấy nó đến từ ngoại cảnh và đang nhắm vào mình. Nhưng khi thử đối thoại với nó, người ta mới bàng hoàng nhận ra: nó đến từ bên trong, là phần mà bấy lâu nay người tốt luôn ra sức ngăn chặn.
Mức độ "tốt" càng nặng, thời gian ngăn chặn oán hận càng lâu, thì mức độ đáng sợ của nó lại càng khủng khiếp. Một khi nó trồi lên, nỗi sợ của bạn đối với nó lại càng sâu sắc. Đây là nỗi sợ chung của những kẻ "siêu tốt". Rốt cuộc dẫn đến việc: càng là người tốt, lại càng phải dốc sức đối kháng với phần này, chỉ sợ nó dung hợp vào bản thân mình. Biểu hiện cụ thể là: những kẻ siêu tốt dù chết cũng không chịu làm điều xấu, không thể cự tuyệt, không thể bảo vệ lợi ích của bản thân, cũng không thể thực hiện sự báo thù hay bộc lộ sự căm hận cần thiết đối với kẻ xấu.
Nỗi xấu hổ về sự nhút nhát và nỗi lo âu khi bị oán hận xâm chiếm cùng tồn tại song song nơi người tốt, với mức độ nghiêm trọng ngang ngửa nhau. Nếu không muốn tiếp tục làm một kẻ "tốt bụng mù quáng", người tốt cần học từng chút một cách sử dụng tính công kích của mình một cách hợp lý. Sinh mệnh lực nguyên thủy vốn luôn mang tính công kích; sở dĩ nó không thể mở rộng là vì có hai nỗi lo âu ngăn trở:
Thứ nhất: Lo sợ hễ bộc lộ tính công kích sẽ bị trả thù, thậm chí bị hủy diệt.
Thứ hai: Lo sợ khi bộc lộ tính công kích sẽ làm tổn thương người mình yêu thương, và bản thân sẽ biến thành kẻ xấu sa chân vào bóng tối không lối thoát.
Sigmund Freud cho rằng: tình dục và tính công kích là hai động lực lớn nhất của nhân loại. Tôi cũng luôn nhấn mạnh: hãy sống với tính công kích của mình đi, tính công kích chính là sinh mệnh lực! Nhưng bạn lại rất khó làm được, điều này đòi hỏi sự luyện tập không ngừng.
Một đứa trẻ khi mới bắt đầu bộc lộ tính công kích cũng cần vô số lần luyện tập. Khi trải nghiệm được rằng mình sẽ không bị tiêu diệt, và cũng không hề tiêu diệt cha mẹ hay những người mình yêu thương, đứa trẻ mới dần dần biểu đạt tính công kích của mình một cách thông suốt và giàu tính người.
Một người trưởng thành cũng vậy, cần vô số lần tôi luyện. Đồng thời, cần có sự thức tỉnh (giác tri). Thức tỉnh giúp mở ra phong ấn của tính công kích, nhưng sự trưởng thành thực sự đòi hỏi phải có sự rèn luyện thiết thực.
Thua ngay từ vạch xuất phát
Một người phụ nữ có học vị tiến sĩ, giảng dạy tại trường học, sở hữu một gương mặt rất đỗi đơn thuần; cô có một bé trai gần hai tuổi. Cô quan sát thấy: mỗi khi để bà ngoại trông cháu một thời gian, đứa trẻ sẽ trở nên hướng nội, khép kín và nảy sinh đủ thứ vấn đề. Nhưng khi để bà nội trông cháu một thời gian, đứa trẻ lại trở nên hướng ngoại, cởi mở, vui vẻ và hoạt bát hơn hẳn.
Sự thật này khiến cô vô cùng khó chịu, bởi mối quan hệ giữa cô và mẹ chồng vốn rất căng thẳng. Giờ đây mẹ đẻ cứ trông cháu là cháu gặp vấn đề, trong khi mẹ chồng chăm cháu rõ ràng tốt hơn, điều đó khiến cô cảm thấy bẽ bàng. Từng có một khoảng thời gian cô muốn phủ nhận sự thật này, nhưng sự chuyển biến của đứa trẻ diễn ra quá đều đặn: hễ ở với bà ngoại là hướng nội, ở với bà nội là hướng ngoại, khiến cô buộc phải thừa nhận.
Điều quan trọng là cô yêu con, mong con phát triển tốt hơn và nhận được nhiều tình thương hơn. Rốt cuộc, cô hoàn toàn đón nhận sự thật bẽ bàng ấy. Cô giảm bớt thời gian mẹ đẻ trông cháu, thậm chí hữu ý hạn chế để mẹ qua nhà. Đồng thời, cô thừa nhận giá trị của mẹ chồng, thử hàn gắn mối quan hệ với bà, bởi cô không muốn con mình bị kẹt trong một mối quan hệ tam giác đầy phân liệt.
Người mẹ trẻ này còn quan sát thấy, trước khi con được một tuổi rưỡi, sự khác biệt giữa cách chăm cháu của bà ngoại và bà nội là không lớn. Sự khác biệt chỉ ngày một rõ rệt sau mốc một tuổi rưỡi. Theo định nghĩa truyền thống, giai đoạn từ một tuổi rưỡi đến ba tuổi là thời kỳ nổi loạn đầu tiên của trẻ. Ở giai đoạn này, trẻ rất thích nói "Không!" hoặc "Để con tự làm!".
Cái gọi là "nổi loạn" thực chất là đứa trẻ muốn làm chính mình, muốn hành động theo ý nguyện của bản thân. Lúc này, nếu người lớn dùng sức mạnh của mình để đàn áp, điều đó sẽ bóp nghẹt ý chí tự do của đứa trẻ.
Những người nuôi dưỡng khác nhau khi đối diện với sự nổi loạn của trẻ sẽ có những phản ứng khác nhau. Người mẹ nhận thấy cả bà nội lẫn bà ngoại đều dễ nảy sinh sự khó chịu trước sự bướng bỉnh của cháu, rồi sẽ dùng một số cách để áp chế, nhưng mức độ thì có sự khác biệt một trời một vực:
Bà ngoại sẽ kiên trì tạo áp lực hết lần này đến lần khác, hoặc thô bạo ép buộc đứa trẻ phải làm theo ý mình.
Bà nội không cố chấp như vậy; bà sẽ dùng những cách thức thú vị để dẫn dụ đứa trẻ nghe theo. Hơn nữa, nhiều lúc bà nội có sự kiên nhẫn nhất định, sẵn lòng chờ đợi đứa trẻ tự làm.
Cả hai cách này tuy chưa đạt đến cảnh giới "thâm tình không kèm dụ dỗ", nhưng đối với đứa trẻ, không gian tâm lý mà chúng nhận được lại có sự cách biệt to lớn.
Chẳng hạn, đứa trẻ muốn tự đi tất: bà nội sẽ chấp thuận, còn bà ngoại sẽ mất kiên nhẫn, thậm chí bực bội, đôi khi mắng mỏ: "Mày xem mày vụng về chưa kìa, xem mày vụng về chưa kìa!". Nhiều khi, bà ngoại dứt khoát giằng lấy để tự đi tất cho cháu. Lúc đó, đứa trẻ sẽ khóc lóc giãy giụa, và bà ngoại lại càng thêm bực dọc. Hễ bà ngoại nổi giận, đứa trẻ liền sợ hãi.
Khi kể lại những chi tiết này, người mẹ trẻ không kìm được nước mắt. Cô nghẹn ngào nói, nhìn cách mẹ đẻ đối xử với con mình, cô lại nhớ về tuổi thơ kinh hoàng của chính bản thân. Có thể nói, trong bất kỳ việc gì, mẹ cô cũng ép cô phải từ bỏ ý chí của mình để phục tùng ý chí của bà. Hơn nữa, cha cô thường xuyên đi công tác vắng nhà, trong gia đình chỉ có hai mẹ con. Khi ấy, trong mối quan hệ nhị nguyên nghẹt thở đó, sự áp bức và bực dọc của mẹ tạo thành áp lực cực lớn đối với cô. Ngay cả khi cha có ở nhà, cảm giác không gian có vẻ rộng rãi hơn một chút, nhưng cha hầu như đều đứng về phía mẹ, bảo cô phải biết nghe lời.
Dẫu vậy, cô vẫn mong cha có mặt ở nhà. Bởi cha ở nhà thì tâm trạng của mẹ sẽ đỡ hơn. Mỗi khi cha vắng nhà, mẹ rất dễ phát cơn cuồng loạn, rồi trút lên đầu cô đủ lời thóa mạ và những trận đòn roi. Do khuôn mẫu chung sống ấy, cô luôn là một đứa trẻ ngoan ngoãn đến tột cùng, không bao giờ dám làm trái bất kỳ ý muốn nào của mẹ. Nét tính cách này cũng hiển hiện trong mọi mối quan hệ xã hội sau này của cô. Thế nhưng, ai cũng khao khát được làm chính mình; nếu trong bất kỳ mối quan hệ nào bạn cũng cảm thấy không thể làm chính mình, luôn phải nhọc lòng nghĩ cho người khác, bạn sẽ lựa chọn hướng nội và thu mình lại. Người mẹ tiến sĩ này vốn luôn cực kỳ hướng nội; cô cảm nhận sâu sắc rằng mọi mối quan hệ đối với cô đều là thử thách gian nan.
Quá trình tư vấn lâu dài đã dần thay đổi điều đó; cô ngày càng có thêm sức mạnh để bảo vệ ý chí và không gian của mình trong các mối quan hệ. Giờ đây nhìn cách mẹ đối xử với con mình, cô hiểu rằng nếu không có người khác ở đó, ắt hẳn bà ngoại sẽ đánh mắng đứa trẻ. Không phải cứ hễ không ai để mắt là bà sẽ làm vậy, mà là nếu trong nhà cơ bản chỉ có bà và cháu, thì trong mối quan hệ nhị nguyên ấy, một khi cơn thịnh nộ bùng phát, bầu không khí sẽ cực kỳ ngột ngạt. Khi ấy, rất dễ dẫn đến việc người lớn tấn công đứa trẻ, trút toàn bộ cơn thịnh nộ lên đầu con trẻ.
Người mẹ trẻ đúc kết: Trong gia đình cô, hầu như mọi mối quan hệ đều ẩn giấu hai chữ — thuận phục. Dường như tất cả mọi người đều trông chờ người khác phải thuận phục mình. Cha mẹ cô như vậy, bố mẹ chồng cũng thế, chồng cô cũng thế, và cả bản thân cô cũng không ngoại lệ. Chỉ là cô khó làm được điều đó nhất; nhưng dẫu sao cô cũng là một người trưởng thành, đặc biệt là giờ đây có sự trợ giúp từ việc tư vấn tâm lý, muốn bắt cô phải thuận phục nữa là điều không hề dễ dàng.
Thế nhưng, tất cả mọi người đều có thể tìm kiếm cảm giác bề trên ấy trên thân thể của đứa trẻ. Câu chuyện gia đình cùng lời tổng kết của cô đã chạm mạnh vào tâm can tôi.
Chúng ta vẫn luôn tâm niệm "đừng để thua ngay từ vạch xuất phát", nhưng một sinh mệnh ngay từ thuở lọt lòng đã bị dạy dỗ phải biết thuận phục, thì đó mới đích thực là "thua ngay từ vạch xuất phát". Gương mặt đơn thuần thường lại chính là gương mặt của sự thuận phục. Người thuận phục buộc phải đơn giản, bởi một khi có được trí tuệ và sức mạnh phức tạp, họ sẽ không thể nào tiếp tục thuận phục được nữa. Điều này cũng dẫn tới một hiện tượng vô cùng phức tạp: cái gọi là "giả heo ăn thịt hổ". Bản chất phức tạp khôn lường nhưng lại giả vờ ngây ngô giản đơn — đó là một thứ trí tuệ sinh tồn vô cùng hữu hiệu.
Tương tác: Ngây ngô, Đơn thuần, Thế cố và Trưởng thành
Nhiều độc giả thắc mắc làm thế nào để định nghĩa các khái niệm: "đơn thuần", "giản đơn", "ngây ngô" và "phức tạp". Đây là một câu hỏi rất hay. Chúng ta hãy mượn hệ trục tọa độ bốn góc phần tư mà thầy Ninh Hướng Đông thường dùng để phân biệt giữa đơn giản và phức tạp.
Để thiết lập hệ tọa độ bốn góc phần tư, ta cần hai chiều kích:
Chiều dọc: Nhân tính nội tại (từ Ngây ngô đến Trưởng thành).
Chiều ngang: Nắm bắt quy tắc bên ngoài (từ Vô tri đến Thành thạo).
Từ đó, ta có thể phân định bốn mô thức với định nghĩa như sau:
Ngây ngô: Nhân tính nội tại còn non nớt, đồng thời mù mờ trước các quy tắc bên ngoài.
Đơn thuần: Nhân tính nội tại đã chín chắn, nhưng mù mờ trước các quy tắc bên ngoài.
Thế cố (lõi đời): Nhân tính nội tại còn non nớt, nhưng lại nắm rất vững các quy tắc bên ngoài.
Trưởng thành: Nhân tính nội tại đã chín chắn, đồng thời nắm vững các quy tắc bên ngoài.
Người thế cố và người trưởng thành đều thuộc dạng phức tạp; còn người ngây ngô và người đơn thuần đều thuộc dạng đơn giản.
Hệ tọa độ bốn góc phần tư là một công cụ rất hữu ích. Tôi có thể phát huy thêm một chút sức sáng tạo trên đồ thị này: Chúng ta có thể hình dung, tại điểm gốc tọa độ — nơi mà cả nhân tính nội tại lẫn quy tắc ngoại tại đều bằng không — đó là sự hợp nhất nguyên sơ. Còn ở vị trí mà cả nhân tính nội tại lẫn quy tắc ngoại tại đều đạt điểm số tối đa, cũng tồn tại khả năng hợp nhất. Một người như vậy có thể chạm tới cảnh giới của Vương Dương Minh: không chỉ lĩnh ngộ được "Thiên lý tức nhân dục" và "Ngoài tâm này ra, chẳng còn pháp nào khác", mà còn thấu suốt đạo lý "Tâm này bất động, tùy cơ mà động". Đạt đến cảnh giới ấy, chính là giản đơn nhất, mà cũng là phức tạp nhất; đơn giản và phức tạp từ đó đạt tới sự thống nhất trọn vẹn.
Hỏi: Người đơn giản với tự thể yếu ớt thường gia cố tự thể một cách bị động thông qua việc va chạm với người phức tạp rồi chuốc lấy tổn thương. Nay tôi đã thấu hiểu sự yếu ớt này của tự thể, vậy làm thế nào để chủ động thay đổi nhằm gia cố tự thể mà không phải chịu tổn thương?
Đáp: Hãy thuận theo nội tâm của bạn, sống theo cảm nhận của chính mình, dấn thân đi va đập với thế giới này. Trong những va chạm ấy, có ít nhất hai điểm then chốt để gia cố tự thể:
Tính phản mong manh (Antifragile): Thân thể và tâm hồn con người đều là một hệ thống phản mong manh — tức là có thể không ngừng lớn mạnh thông qua những đòn giáng, còn thứ chưa từng trải qua thử thách thì khó lòng trở nên mạnh mẽ. Nghĩa là bạn phải không ngừng thể nghiệm rằng năng lượng chết không thể giết chết bạn, thậm chí bạn còn thường xuyên chuyển hóa được năng lượng chết thành năng lượng sống.
Độ sâu sắc của các mối quan hệ: Căn nguyên của một tự thể vững mạnh là khi bạn vươn mình ra, bạn nhận thấy mình được đón nhận. Sinh mệnh lực của bạn không mang lại hậu quả mang tính thảm họa, trái lại còn làm sâu sắc thêm tình cảm đôi bên — đây chính là con đường căn bản để gia cố tự thể.
Từ thế giới tưởng tượng đến thế giới hiện thực
Thế giới hiện thực mang tính chữa lành. Kết luận này trước hết đến từ sự quan sát của tôi đối với những thân chủ gặp vấn đề rất nghiêm trọng: Những thân chủ này bề ngoài trông thường rất đơn giản, nhưng bên trong lại cực kỳ khép kín. Có những người nhìn thấy rõ nội tâm mình chứa đầy những tưởng tượng đen tối, đáng sợ. Có những người lại không ý thức được nội tâm ấy, nhưng khi quá trình tư vấn đi sâu hơn, những tưởng tượng đen tối, hãi hùng đó sẽ dần lộ diện.
Đối với họ, nét đẹp đẽ của thế giới hiện thực vượt xa thế giới nội tâm của chính họ. Bởi vậy, khi từng bước bước ra ngoài, họ phát hiện thế giới hiện thực có tính chữa lành, và họ dần trở nên tốt hơn.
Thứ hai là về mặt lý thuyết: Mỗi người đều cần hiển lộ sinh mệnh lực của tự thể trong mối quan hệ với khách thể (object), chỉ có như vậy, sinh mệnh lực mới được thuần hóa. Điều đó đồng nghĩa với việc chúng ta buộc phải bước vào thế giới hiện thực, bộc lộ chân thực bản thân và va đập với đủ mọi tồn tại. Quá trình này dẫu có vẻ vô cùng phức tạp, nhưng lại giúp chúng ta hoàn thiện hơn.
Thứ ba, theo lý thuyết phân tâm học, sự phát triển của con người cần trải qua các giai đoạn:
Ban đầu, mỗi đứa trẻ sơ sinh đều sống trong một thế giới ảo tưởng cô độc.
Sau đó bước vào thế giới chuyển tiếp do người mẹ hoặc người nuôi dưỡng dựng nên; trong thế giới này, đứa trẻ bước đầu đi ra khỏi thế giới ảo tưởng.
Toàn bộ gia đình tựa như một thế giới chuyển tiếp, nơi đứa trẻ học cách thể hiện tự thể và học cách chung sống với khách thể.
Kế tiếp, đứa trẻ chính thức bước vào thế giới hiện thực...
Theo góc nhìn của tôi, ngay cả khi đã hoàn thành xuất sắc quá trình xã hội hóa và bước vào thế giới hiện thực rất tốt, tiến trình này vẫn chưa dừng lại. Chiếu theo khái niệm "Hành trình của người anh hùng", thế giới hiện thực do cả gia đình và xã hội cấu thành đều có thể hiểu là một thế giới chuyển tiếp rộng lớn. Con người không ngừng học hỏi trong thế giới này, để rồi cuối cùng nhận ra: tưởng tượng nội tại của mình và hiện thực bên ngoài rốt cuộc lại là một — từ đó chứng ngộ được sự hợp nhất.
Bạn nhận ra việc hòa nhập sâu hơn vào xã hội giúp mình trở nên tốt hơn từ khi nào?
Xin chia sẻ hai đoạn thơ của Rumi, hãy đọc đoạn thứ nhất:
Khao khát chính là cốt lõi của sự huyền nhiệm
Bản thân khao khát đã có thể tự chữa lành
Nhẫn chịu nỗi đau, đó là quy luật duy nhất.
Và đoạn thơ thứ hai:
Bạn phải tôi luyện ước nguyện của mình
Nếu bạn muốn nhận được điều gì
Thì trước hết hãy dâng hiến điều đó.
Đó thực sự là những vần thơ vi diệu khó tả, khắc họa chuẩn xác quy luật căn bản giữa tưởng tượng nội tại của một con người và hiện thực bên ngoài.
Ba tầng thế giới
"Ba tầng thế giới" chính là: thế giới tưởng tượng, thế giới chuyển tiếp và thế giới hiện thực. Tôi từng kể câu chuyện về một chàng trai "siêu ru rú trong nhà" (otaku). Ngày thường anh mang nhân cách lấy lòng nghiêm trọng, nhưng trong tuần lễ lao động thời cấp ba, anh đột nhiên có được trải nghiệm "bảy ngày hoàn mỹ". Trong suốt bảy ngày đó, anh hoàn toàn thuận theo cảm giác của bản thân, kết quả là làm việc gì cũng hanh thông thuận lợi, mà anh cũng không hề biến thành một kẻ xấu xa.
Sang ngày thứ tám — ngày đầu tiên sau khi tuần lễ lao động kết thúc — khi ngồi trong lớp học, anh có một thể nghiệm vô cùng đặc biệt: anh cảm thấy nét chữ thầy giáo viết trên bảng bỗng trở nên to lớn khác thường và tỏa ra ánh sáng lấp lánh. Từng con chữ không chỉ được viết trên mặt bảng, mà dường như đi thẳng vào tim anh. Anh cảm thấy nếu cứ tiếp tục như thế này, môn học nào anh cũng có thể đạt điểm tuyệt đối.
Đến buổi trưa, bạn gái đến tìm anh. Nếu hoàn toàn thuận theo cảm nhận của bản thân, anh không muốn ra ngoài. Nhưng nghĩ đến việc bạn gái lặn lội từ một trường trung học ở đầu bên kia thành phố đến tìm mình, nếu không ra gặp thì quá tàn nhẫn, vô tình, nên anh quyết định ra ngoài gặp cô.
Vừa đưa ra quyết định này, anh cảm thấy cảm giác hoàn mỹ kia lập tức bị rạn vỡ, từ 100 điểm tụt xuống còn 70 điểm.
Tiếp đó, một biến cố quan trọng đã xảy ra. Lúc ấy bạn gái anh đang đứng bên ngã tư đường; khoảnh khắc nhìn thấy cô, lòng anh lập tức dâng trào niềm hân hoan, cảm thấy vô cùng yêu quý bạn gái, rồi anh định chạy ào tới để gặp cô. Nhưng ngay khoảnh khắc vừa nhấc chân định chạy, một nỗi sợ hãi khổng lồ bất thần ập tới. Toàn thân anh run rẩy bần bật, mồ hôi vã ra như tắm, đặc biệt là phần bắp chân — mồ hôi tuôn ra làm ướt sũng cả ống quần trong chớp mắt. Kể từ đó, di chứng này ở lại mãi: anh thường xuyên đột ngột cảm nhận một luồng sợ hãi ập đến, rồi lập tức run rẩy, bắp chân túa mồ hôi dữ dội làm ướt đẫm ống quần.
Cảm giác hoàn mỹ tan biến không còn một dấu vết; anh thấy mình như từ 70 điểm rơi thẳng xuống điểm âm. Sau biến cố ấy, anh dấn thân vào con đường tìm kiếm chuyên gia tư vấn tâm lý. Khi tìm đến tôi, anh đã từng qua tay hơn mười chuyên gia tư vấn khác nhau.
Trong các buổi tư vấn, chúng tôi đã nhiều lần mổ xẻ: Khoảnh khắc rơi từ 70 điểm xuống điểm âm — chính là lúc anh lao về phía bạn gái — bên trong nội tâm anh rốt cuộc đã xảy ra điều gì?
Có một lần, trong trạng thái bán tự thôi miên, một hình ảnh tâm trí bất ngờ hiện lên: Khi anh đang chạy về phía bạn gái ở ngã tư đường ngập tràn cảm giác hạnh phúc, đột nhiên có một bàn tay khổng lồ tóm chặt lấy mắt cá chân anh, lôi tuột anh về phía một nấm mồ.
Khi hình ảnh này xuất hiện, anh cảm thấy mình đã tìm ra đáp án.
Bàn tay khổng lồ ấy chính là bàn tay của mẹ anh. Anh luôn ở trong trạng thái cộng sinh bệnh lý nặng nề với mẹ. Dẫu anh có cha, và người cha cũng là một người ru rú ở nhà, nhưng mẹ luôn nói với anh: "Ngoài đứa con trai này ra, mẹ chẳng còn gì cả, con là người duy nhất của mẹ."
Đó là một mối quan hệ cộng sinh bệnh lý. Trong cộng sinh bệnh lý, thường là người lớn muốn cộng sinh với đứa trẻ, trong khi đứa trẻ thực chất đều muốn thoát khỏi sự cộng sinh để hướng ra thế giới bên ngoài.
Dưới góc độ thuật ngữ phân tâm học: đứa trẻ sơ sinh vốn sống trong thế giới tưởng tượng cô độc; thế giới do đứa trẻ và người mẹ cùng xây dựng là thế giới chuyển tiếp. Toàn bộ gia đình có thể xem là thế giới chuyển tiếp, còn xã hội rộng lớn chính là thế giới hiện thực — đó chính là ba tầng thế giới.
Dù quan hệ cộng sinh mang đặc điểm như vậy, nhưng đối với một người mẹ trưởng thành, sự việc thường không đến mức quá cực đoan. Song trong cảm nhận của đứa trẻ sơ sinh, năng lượng chết lại tột cùng như thế. Khi chúng ta chứng kiến động lực muốn lao ra thế giới hiện thực bao la của một con người bị khao khát cộng sinh của người mẹ "bóp nghẹt", ta sẽ thấy người mẹ hành xử như vậy thật tồi tệ. Thế nhưng, bất kỳ ai đã bước vào thế giới chuyển tiếp đều nên mang lòng biết ơn đối với người mẹ, bởi mẹ dẫu sao cũng đã kéo bạn ra khỏi thế giới tưởng tượng cô độc. Động lực thúc đẩy đứa trẻ bước tiếp vào thế giới hiện thực rộng lớn sau đó vốn dĩ là nhiệm vụ chính của người cha, còn người mẹ đóng vai trò phối hợp với cha để giúp con hoàn thành sứ mệnh này.
Nếu người mẹ không kéo đứa trẻ ra khỏi thế giới tưởng tượng cô độc, chuyện gì sẽ xảy ra? Thân chủ gặp vấn đề nghiêm trọng nhất của tôi từng có một sự miêu tả vô cùng xuất sắc. Cô nói rằng mỗi người đều có ba tầng thế giới:
Một là thế giới lượng tử, nơi mỗi người lúc ban sơ đều sinh sống;
Hai là thế giới cổ điển (tức thế giới hiện thực);
Ba là vùng đất trung gian.
Cô nói mình bị kẹt lại ở vùng đất trung gian: không muốn quay về thế giới lượng tử, nhưng cũng không thể bước vào thế giới cổ điển. Bởi chỉ dựa vào nỗ lực của bản thân, cô không thể nào tự mình bước vào thế giới cổ điển được. Muốn bước vào thế giới cổ điển, buộc phải có một người ở thế giới cổ điển dang rộng hai tay và cất lời: "Chào mừng bạn!". Nhưng không hề có một người như vậy, kết quả là vô số lần cô thử nhảy từ vùng đất trung gian vào thế giới cổ điển đều chuốc lấy thất bại thảm hại.
Lời miêu tả của cô đem lại cho tôi sự chấn động và sức thuyết phục lớn lao. Chỉ có điều, lời "chào mừng" ấy không thể chỉ qua một đôi lần nỗ lực mà xong; nó đòi hỏi một người phải bền bỉ, ổn định, nói lời "chào mừng" hàng chục lần, thậm chí vô số lần, mới có thể thực sự đưa cô ấy ra khỏi thế giới tưởng tượng cô độc — đó là điều vô cùng khó khăn.
Chúng ta cần hiểu rằng, ở thời kỳ sơ sinh, việc này là dễ thực hiện nhất. Bởi dẫu đứa trẻ sơ sinh sống trong sự tự luyến toàn năng nghiêm trọng, thì nhu cầu của trẻ cũng chỉ gói gọn trong: ăn, uống, tiêu, tiểu, ngủ, chơi — đó là những điều người nuôi dưỡng hoàn toàn có thể đáp ứng. Khi người nuôi dưỡng hết lần này đến lần khác đáp ứng những nhu cầu này, họ cũng đang thiết lập mối quan hệ với đứa trẻ. Đồng thời, dẫu người nuôi dưỡng có nỗ lực đến đâu cũng không thể thỏa mãn 100% mọi nhu cầu, và đứa trẻ cũng sẽ phải nếm trải nhiều thất bại, hẫng hụt. Sự kết hợp giữa thỏa mãn và hẫng hụt giúp đứa trẻ nhận ra: thế giới không phải là một phần của mình, sẽ không đáp ứng mình tuyệt đối; đồng thời, thế giới cũng không phải là "ác quỷ" cố tình đối đầu hay cự tuyệt mọi điều của mình. Thế giới và đứa trẻ là hai thực thể tách biệt, nhưng lại có mối liên kết vô cùng vi diệu. Khi có được cảm nhận này, đứa trẻ cảm thấy đây là một thế giới cơ bản có thể chấp nhận được, và từ đó bước từ thế giới tưởng tượng cô độc sang thế giới chuyển tiếp.
Sự hụt hẫng vừa nêu được Heinz Kohut gọi là "sự thất vọng vừa vặn" (optimal frustration). Ông cho rằng sự thất vọng vừa vặn đóng vai trò vô cùng trọng yếu. Khi đứa trẻ cơ bản được đáp ứng, đồng thời đón nhận những thất vọng vừa vặn, đứa trẻ vừa có thể kết nối với thế giới bên ngoài (đặc biệt là người nuôi dưỡng), vừa thiết lập được ranh giới bản thân, mà sự thất vọng vừa vặn ấy lại không làm tan vỡ tự thể của trẻ.
Điều này không hề dễ dàng xảy ra. Kỳ thực, mỗi người chúng ta nếu cơ bản còn lành lặn, sở dĩ không bị mắc kẹt trong thế giới tưởng tượng cô độc, đều là nhờ người mẹ hoặc những người nuôi dưỡng khác đã kéo ta bước ra ngoài; và đó là kết quả của vô số lần nỗ lực.
Đồng thời, mỗi người cũng cần thức tỉnh để nhận ra rằng: chúng ta không thể mãi dừng chân trong thế giới chuyển tiếp của gia đình gốc, mà phải có ý thức nỗ lực bước vào thế giới hiện thực.
Hai con đường
Một người đàn ông tìm đến tôi làm tư vấn tâm lý trong suốt hai năm vào thời điểm tôi mới bước vào nghề. Trong câu chuyện của anh, có một chi tiết được xem là cột mốc bước ngoặt: Đó là hồi mới đi làm, anh cùng lúc hẹn hò với hai cô gái trong cơ quan, và cả hai đều là những người chủ động theo đuổi anh. Sự việc này đã khơi dậy lòng ghen ghét của một đồng nghiệp lớn tuổi hơn rất nhiều. Người đồng nghiệp này tìm cớ muốn gây gổ đánh nhau với anh.
Ngay trước khoảnh khắc chuẩn bị ẩu đả, anh bỗng giật mình thức tỉnh. Dù có sợ hãi, nhưng đó không phải là điều cốt yếu. Cốt yếu là anh tự vấn: Liệu có phải mình đang quá chìm đắm trong các mối quan hệ với phụ nữ hay không? Hơn nữa vào thời điểm đó, anh có một cảm nhận sâu sắc rằng mối quan hệ giữa mình với phụ nữ luôn quá dính dớp, có một cảm giác nồng đặc không sao tách rời. Bấy lâu nay anh luôn muốn thoát khỏi cảm giác ấy, và vụ ẩu đả suýt xảy ra này đã cho anh một lý do, giúp anh hạ quyết tâm tạm thời rời xa phụ nữ. Thế là, anh đưa ra một chuỗi quyết định:
Trước hết, anh chia tay với cả hai cô gái, vì anh nhận thấy giữa họ đều thiếu vắng tình yêu đích thực.
Thứ hai, anh tự nhủ phải dồn toàn bộ tâm sức vào công việc trước mắt. Nếu giữa phụ nữ và công việc có sự xung đột, anh luôn đặt công việc lên vị trí hàng đầu. Sau đó quả thực xảy ra rất nhiều xung đột tương tự: chẳng hạn như cuối tuần, một bên là hẹn hò, một bên là yêu cầu công việc, anh đều chọn ưu tiên cho công việc.
Cuối cùng, anh chủ động tiếp cận những biểu tượng quyền uy phái nam, như lãnh đạo trực tiếp và lãnh đạo cấp cao của cơ quan, có ý thức học hỏi từ họ.
Trong quá trình tư vấn, khi nhìn lại chặng đường này, anh vô cùng biết ơn chuỗi quyết định mà bản thân đã đưa ra. Anh cảm thấy những nỗ lực ấy đã giúp anh ở một chừng mực nhất định thoát khỏi mối quan hệ cộng sinh dính dớp với mẹ đẻ.
Trong lòng người mẹ, vị trí của một mình anh vượt xa tổng hòa của mấy người chị gái cộng với người cha. Người mẹ luôn miệng nói với anh: "Con là duy nhất của mẹ, mẹ chỉ bận tâm đến một mình con." Sự bận tâm ấy một mặt mang lại vinh quang, thỏa mãn sự tự luyến của anh, nhưng mặt khác cũng biến thành gánh nặng vô cùng trĩu nặng. Thêm vào đó, người mẹ là người có dục vọng kiểm soát cực kỳ mạnh mẽ; càng bận tâm về anh bao nhiêu, bà lại càng kỳ vọng anh phải nghe lời bấy nhiêu, phải đáp ứng mọi kỳ vọng của bà. Điều này đã tạo nên chấn thương tâm lý bị nuốt chửng nghiêm trọng ở anh.
Có thể nói, sinh mệnh của anh từng bị đình trệ trong thế giới chuyển tiếp với người mẹ. Mà việc đi từ thế giới tưởng tượng sang thế giới chuyển tiếp, rồi từ thế giới chuyển tiếp bước vào thế giới hiện thực vốn là nhu cầu sinh mệnh bình thường của một con người. Bởi vậy, khi cuộc xung đột kia nổ ra, nhu cầu vốn bị chôn giấu trong sinh mệnh anh đã được kích hoạt triệt để. Anh dốc toàn lực để tìm cách bước vào thế giới hiện thực, và nỗ lực ấy đã gặt hái thành công lớn.
Chặng đường ấy muôn phần gian nan. Rất nhiều lần, anh dễ dàng cảm nhận thấy thế giới hiện thực — đặc biệt là những người có thẩm quyền phái nam — mang sự bài xích đối với anh; đó là sự cộng hưởng giữa thế giới nội tâm của anh với thế giới bên ngoài. Bởi vì anh và mẹ luôn cộng sinh bên nhau, điều này dẫn tới phức cảm Oedipus nghiêm trọng: mối quan hệ giữa anh và "người cha nội tâm" tự nhiên sẽ tràn ngập sự thù địch. Điều này tất yếu sẽ phóng chiếu vào mối quan hệ với những người có thẩm quyền phái nam ngoài đời, thường khiến anh cảm thấy từng bước đi đều vô cùng trắc trở.
Người mẹ quá cần anh — đó là nguyên nhân cốt lõi khiến anh bị mắc kẹt sâu sắc trong thế giới chuyển tiếp. Song điều vô cùng thú vị là, khi chúng tôi đào sâu lý do vì sao cuối cùng anh có thể bước vào thế giới hiện thực thành công, anh vẫn dành công lao đó cho mẹ mình. Anh chia sẻ rằng, sự coi trọng và tình yêu thương của mẹ rốt cuộc vẫn giúp anh cảm nhận được rằng thế giới này có phần trân quý anh, cơ bản là đáng để tin cậy; bởi vậy khi phát sinh xung đột với người khác, anh luôn nhìn thấy ở họ những phần đáng tin, những phần đối tốt với mình.
Khi người mẹ có thể kéo đứa trẻ từ thế giới tưởng tượng cô độc bước vào thế giới chuyển tiếp với chính mình và gia đình, đó đã là một đóng góp vĩ đại của người mẹ rồi.
Câu chuyện mang tính bước ngoặt của anh ẩn chứa hai con đường: hoặc là tiếp tục dừng lại, thậm chí trượt dài trong thế giới chuyển tiếp dính dớp với người mẹ; hoặc là dũng cảm bước vào thế giới hiện thực.
Lựa chọn con đường thứ nhất, bạn sẽ càng sống càng đơn giản, càng sống càng khép kín.
Lựa chọn con đường thứ hai, bạn sẽ càng sống càng phức tạp, đồng nghĩa với sự cởi mở và khoáng đạt.
Theo cách hiểu thông thường, từ thế giới tưởng tượng cô độc bước vào thế giới chuyển tiếp rồi tiến tới thế giới hiện thực chẳng phải chuyện gì khó khăn, chỉ cần giao tiếp nhiều hơn là được.
Khi tổ chức những khóa học trải nghiệm (workshop) kéo dài nhiều ngày, vào hai ngày cuối cùng, tôi thường cho các học viên làm một bài tập: Hãy nói ra nhận định của bạn về một học viên nào đó cho đối phương nghe, rồi đối phương sẽ phản hồi lại tình hình chân thực của họ cho bạn. Thỉnh thoảng, tôi cũng khuyến khích các học viên nói ra nhận định của họ về tôi, và tôi sẽ đưa ra phản hồi. Tôi cam đoan bản thân luôn chân thành — tất nhiên tôi có quyền chọn không nói, nhưng một khi đã nói, đó phải là thông tin chân thực.
Bài tập đơn giản này thường mang lại sự chấn động rất lớn: Các học viên rất dễ nhận ra rằng những "phán đoán" của mình về người khác hóa ra chỉ là sự tưởng tượng, chứ hoàn toàn không phải là hiện thực.
Một nữ học viên từng kể cho tôi nghe chuyện tôi đã làm tổn thương cô như thế nào: Trong giờ giải lao một buổi sáng nọ, cô đến gặp tôi để hỏi bài. Trước cô đã có một học viên đến trước, cô là người thứ hai; vì thế cô đinh ninh rằng sau khi tôi trả lời xong câu hỏi của người thứ nhất thì sẽ đến lượt cô. Không ngờ, tôi lại bỏ qua cô để trả lời cho học viên thứ ba, rồi đến người thứ tư, người thứ năm... tuyệt nhiên không đoái hoài gì đến cô. Cô cho rằng tôi cố tình phớt lờ mình nên vô cùng tức giận, nhưng lại không thể bộc phát với một người là giảng viên như tôi. Sau đó, cô quay lưng bỏ về và buổi chiều không đến lớp nữa.
Tôi cũng chân thành trả lời: Tôi có nhận thấy buổi chiều cô vắng mặt, nhưng trong giờ giải lao buổi sáng đó, tôi thực sự không hề nhận ra cô bước đến đặt câu hỏi. Các học viên khác cũng phản ánh lại rằng lúc ấy cô đã bị những người khác chen lấn đẩy dạt ra vòng ngoài.
Tưởng tượng nội tâm của cô rất quan trọng, rất đáng để mổ xẻ; nhưng trước hết có thể thấy rằng, một phán đoán của cô về thế giới hiện thực đã bị sai — tôi không hề cố tình phớt lờ cô. Bài tập giản đơn này giúp rất nhiều học viên buông bỏ sự tự luyến thái quá vào khả năng phán đoán của mình. Rất nhiều người trong số họ vốn đinh ninh rằng phán đoán của mình về người khác chẳng khác nào sự thật hiển nhiên; nhưng giờ đây họ mới vỡ lẽ rằng phán đoán của họ chỉ là suy đoán, là suy diễn, là tưởng tượng, nhất thiết phải có bằng chứng đối chiếu thì mới có thể là sự thật.
Trong tư vấn tâm lý luôn nhấn mạnh một điều: chuyên gia tư vấn không được quá tự luyến vào những phán đoán và phân tích của bản thân. Nhất định phải tuân thủ một giả định căn bản: chính thân chủ mới là thẩm quyền tối cao giải thích về bản thân họ, còn những phân tích của chuyên gia, dẫu trông có vẻ hợp lý và chuyên nghiệp đến đâu, thì cũng chỉ là những giả thuyết mà thôi.
Tuy nhiên, ở một bộ phận học viên sẽ nảy sinh một vấn đề: Họ cực kỳ khó tin vào lời người khác nói, dẫu đối phương có giải thích thế nào, họ vẫn nghiêng về phán đoán chủ quan của mình hơn. Trong các ca tư vấn sâu 1-1, hiện tượng này càng dễ xảy ra, đặc biệt là ở những trường hợp gặp vấn đề tâm lý rất nặng.
Tại sao lại như vậy? Nói một cách đơn giản, những người như vậy vẫn đang mắc kẹt trong thế giới tưởng tượng cô độc của chính mình. Vào giai đoạn sớm của cuộc đời, họ chưa từng thiết lập được mối quan hệ tin cậy căn bản với mẹ hoặc người nuôi dưỡng, dẫn đến việc họ chưa từng bước vào thế giới chuyển tiếp. Có thể nói, họ chưa từng tin tưởng một ai, nên cũng rất khó tin vào những thông tin người khác cung cấp trong quá trình giao tiếp.
Bộ phim The Truman Show (Buổi biểu diễn của Truman) đã khắc họa hiện tượng này: trong cảm nhận của nhân vật chính, toàn bộ thế giới đều là một màn kịch được sắp đặt sẵn, đều là giả dối, anh không có lấy nổi một người để trao gửi niềm tin.
Trong bệnh lý học tâm thần có một thuật ngữ then chốt — "năng lực kiểm định hiện thực" (reality testing). Nó chỉ khả năng: khi tưởng tượng của bạn mâu thuẫn với hiện thực, liệu bạn có thể tôn trọng hiện thực thay vì chấp niệm vào sự tưởng tượng của mình hay không? Chiếu theo bệnh lý học, đây là tiêu chuẩn quan trọng để phân biệt giữa người bình thường và bệnh nhân tâm thần thể nặng. Thực chất là: nếu bạn có năng lực kiểm định hiện thực, điều đó đồng nghĩa với việc bạn có thể tiếp nhận thông tin từ thế giới bên ngoài; thừa nhận tính chân thực của thông tin ngoại giới để buông bỏ tưởng tượng của mình đồng nghĩa với việc bạn có thể dung nạp thông tin bên ngoài. Từ đó, bạn không còn chỉ sống trong thế giới cô độc của một người, mà có thể trao đổi thông tin với thế giới.
Đó cũng chính là hai con đường: hoặc là sống mãi trong vòng lặp tưởng tượng của chính mình, hoặc là sống trong sự tương tác phong phú với thế giới bên ngoài.
Làm thế nào để bước vào sự phức tạp?
Ba câu chuyện do cô Hoàng Ngọc Linh chia sẻ sẽ làm sáng tỏ cách thức một người có thể bước chân vào sự phức tạp.
Câu chuyện thứ nhất: Cô Hoàng nghe được từ một giảng viên nước ngoài khi đi học. Vị giảng viên này kể rằng, có một đứa trẻ đến tuổi đi mẫu giáo, nhưng bé vừa khóc vừa không chịu bước vào trường. Lúc này, một giáo viên mầm non giàu kinh nghiệm bước tới, vừa đẩy nhẹ đứa trẻ vào trong, miệng vừa vui vẻ reo vang: "Ồ, ồ, ồ..." rồi đẩy bé qua cánh cổng trường. Một nguyên tắc quan trọng trong giáo dục trẻ em là không ép buộc, nhưng trong trường hợp này, cô giáo mầm non lại dùng một chút ép buộc. Điều này khiến cô Hoàng có phần thắc mắc; cô hỏi giảng viên: "Làm như vậy có được không?". Người thầy đáp: "Được chứ. Đôi khi, chúng ta có thể dùng một chút lực đối với đứa trẻ, để đẩy chúng bước vào một thế giới lớn hơn."
Câu chuyện thứ hai: Xảy ra giữa cô Hoàng Ngọc Linh và con gái. Một ngày nọ, con gái nói với cô: "Mẹ ơi, đôi lúc con thấy trong nhà có ma, con sợ lắm." Hoàng Ngọc Linh bảo: "Có ma thì bắt nó làm việc cho nhà mình." Con gái vừa kinh ngạc vừa mừng rỡ reo lên: "Ồ, thật thế ạ? Oa! Mẹ con là sếp lớn rồi!". Kể từ đó, đứa trẻ không còn sợ ma nữa.
Câu chuyện thứ ba: Xảy ra với một nữ thân chủ của cô Hoàng. Nữ thân chủ này nhìn bề ngoài luôn rất trung tính, trên người toát lên vẻ anh tuấn của một chàng trai. Nguyên nhân đằng sau là cô thiếu đi sự đồng nhất hóa (nhận diện) với người mẹ. Nhìn chung, khi một người phụ nữ thiếu hụt nét nữ tính rõ rệt, đa phần đều bắt nguồn từ lý do này. Thế nhưng, sau một cuộc trò chuyện sâu sắc với mẹ, cô đột nhiên cảm nhận được sự kết nối với mẹ, và trên người cô dần dần toát lên nét quyến rũ, nhu mì của phái nữ.
Sự chuyển biến của người phụ nữ trong câu chuyện thứ ba đã diễn ra như thế nào? Cô Hoàng Ngọc Linh giải thích rằng: Trước đây, thân chủ này ở một chừng mực nào đó vẫn dừng lại trong ảo tưởng tự luyến toàn năng. Thế giới tưởng tượng cô độc trước hết là ảo tưởng của một thế giới nhất nguyên — tức chỉ có bản thân mình là trung tâm của vũ trụ. Kế đến, thế giới tưởng tượng ấy được cấu thành từ sự tự luyến toàn năng cùng các biến thể của nó.
Chẳng hạn như nữ thân chủ này thường đưa ra đủ mọi yêu cầu đối với cô Hoàng, bên trong ẩn chứa thông điệp của sự tự luyến toàn năng: "Cô là một phần của bản thân tôi, cô buộc phải thỏa mãn tôi một cách trọn vẹn. Nếu không, tôi sẽ hận cô, sẽ vô cùng thất vọng về cô."
Tuy nhiên, qua quá trình tư vấn lâu dài, thân chủ này trước hết đã thiết lập được kết nối với cô Hoàng. Cô cảm nhận chân thực rằng dẫu cô Hoàng là chuyên gia tư vấn, nhưng không phải là một khách thể có nghĩa vụ phải thỏa mãn mọi nhu cầu của thân chủ; cô Hoàng là một con người bằng xương bằng thịt. Khi có được cảm nhận này nơi chuyên gia tư vấn, đến khi giao tiếp sâu sắc với mẹ mình, cô đột nhiên cũng nhận ra rằng: mẹ không chỉ là một người mẹ, mà bà cũng là một con người. Cảm nhận này giúp cô chấp nhận sự tồn tại chân thực của người mẹ, và từ đó sản sinh sự đồng nhất hóa với mẹ.
Trong câu chuyện thứ hai, cô Hoàng Ngọc Linh với tư cách là một người mẹ sở dĩ có thể tạo ảnh hưởng trực tiếp lên con gái như vậy là nhờ đứa trẻ có sự đồng nhất hóa sâu sắc và niềm tin yêu lớn lao đối với mẹ. Cho nên, khi mẹ đưa ra lời giải thích đơn giản ấy, bà đã giúp con gái chuyển hóa "bóng ma" đáng sợ không thể kiểm soát thành một yếu tố nằm trong tầm kiểm soát.
Còn ở câu chuyện thứ nhất, điều đó cũng phải dựa trên tiền đề: đứa trẻ trước hết đã có sự đồng nhất hóa nhất định với mẹ, từ đó mới có thể đồng nhất hóa với những biểu tượng thẩm quyền tương tự khác. Lúc này, cô giáo mầm non mới có thể dùng một chút lực mang tính ép buộc nhẹ nhàng để đẩy đứa trẻ bước vào thế giới nhà trẻ.
Cái gọi là "phức tạp" cũng chính là nảy sinh vào những thời khắc ấy:
Người thân chủ trong câu chuyện thứ ba tiếp nhận nét duyên dáng nữ tính từ chuyên gia tư vấn và từ người mẹ, nhờ đó bắt đầu trở nên phức tạp;
Bé gái trong câu chuyện thứ hai tiếp nhận cách lý giải của mẹ về "ma", nhờ đó không còn đơn thuần chỉ biết sợ hãi;
Đứa trẻ trong câu chuyện thứ nhất được đẩy thẳng vào thế giới hiện thực vốn phức tạp hơn.
Những câu chuyện này thoạt nhìn có vẻ đơn giản, có lẽ nhiều bạn thấy chẳng có gì to tát, quá đỗi bình thường; nhưng từ đây chúng ta có thể đặt ra một câu hỏi: Nếu ngay cả sự đồng nhất hóa căn bản nhất cũng không có, thì mọi chuyện sẽ ra sao?
Một thân chủ khác của tôi luôn chìm trong nỗi cô độc; về sau cô có bạn trai, tôi liền nói một câu: "Chúc mừng bạn nhé!", kết quả là câu nói ấy lại khơi dậy trong cô nỗi lo âu tột cùng. Sau đó, cô bộc bạch với tôi: "Thầy giống như cha mẹ em vậy, em rất muốn nghe lời thầy, muốn thực hiện kỳ vọng của thầy dành cho em. Thầy nói chúc mừng, em liền cảm thấy như thầy đang giao cho em một yêu cầu: bắt em nhất định phải thành công trong lần yêu đương này. Điều đó khiến em vô cùng sợ hãi; ngộ nhỡ em không yêu đương cho tốt, liệu thầy có ghét bỏ em không..."
Lời tâm sự của cô có thể mổ xẻ dưới nhiều tầng nghĩa rất vi diệu; nhưng chưa cần bàn quá sâu, ta cũng thấy được rằng: đối với một thân chủ như vậy, tốt nhất tôi không nên đưa ra lời khuyên, thậm chí gửi lời chúc phúc cũng là điều chưa thỏa đáng.
Câu chuyện của cô hàm chứa một đạo lý sâu sắc: Khi cảm thấy tự thể của mình nhỏ bé, yếu ớt, thì bất kỳ thông tin nào do một "thẩm quyền đen tối" truyền đến đều khiến cô lo sợ đó là một đòn tấn công mang tính hủy diệt; bởi vậy lúc này cô sẽ liều mạng muốn ngăn chặn, che chắn. Cũng vì thế, cô sẽ mãi mãi sống trong thế giới đơn giản, cô độc của một người mà không tài nào bước vào thế giới phức tạp được.
Muốn bước vào thế giới phức tạp, buộc phải có một khởi đầu như sau: Một người với tự thể yếu ớt cảm nhận được rằng khách thể quan trọng bên ngoài về cơ bản mang thiện ý; thông tin người đó truyền đến là để gia cố tự thể cho mình chứ không phải để phá hủy tự thể của mình. Dưới cảm nhận an toàn ấy, người này mới có thể mở lòng để đón nhận và dung nạp thông tin từ khách thể quan trọng kia vào bên trong.
Trong giới tư vấn tâm lý có một sự đồng thuận chung: Đối với những thân chủ có tự thể yếu ớt, chuyên gia tư vấn đừng nói đến việc đưa ra lời khuyên, ngay cả phân tích cũng không nên làm; nhiệm vụ chủ yếu là trao cho họ sự công nhận, nâng đỡ và khích lệ — tức là truyền đi thiện ý. Đợi đến khi tự thể của họ được bồi đắp mạnh mẽ hơn, và đôi bên đã kiến lập được mối quan hệ tin cậy sâu sắc, lúc bấy giờ chuyên gia mới có thể bắt đầu truyền tải những thông điệp cứng rắn hơn một chút.
Mạnh và Yếu, Thiện và Ác
Con người vốn mang tính tự luyến. Khi "Tôi" cảm nhận được "Bạn" mang thiện ý, tôi mới sẵn lòng cúi đầu, thừa nhận bản thân có thể không bằng bạn, buông bỏ tự luyến để nương tựa, gắn bó. Ngược lại, khi "Tôi" cảm nhận thấy "Nó" mang ác ý, tôi quyết không cúi đầu; nếu "Nó" ép buộc tôi phải thuận phục, tôi sẽ lập tức đóng chặt cánh cửa lòng mình.
Thế nhưng, khi nào là một "Bạn" đầy thiện ý, khi nào là một "Nó" đầy thù địch — điều đó lại phụ thuộc vào cách khách thể đối xử với "Tôi":
Nếu sẵn lòng nuôi dưỡng "Tôi", bao dung "Tôi", "Tôi" sẽ cảm nhận được thiện ý;
Nếu chỉ rắp tâm lợi dụng "Tôi", bóc lột "Tôi", "Tôi" sẽ cảm nhận đó là ác ý.
Bởi vậy, "Tôi" chính là thước đo của vạn vật.
Trên thực tế, chúng ta nhất định phải coi trọng chiều kích "mạnh - yếu" trong các mối quan hệ. Chẳng hạn, khi sự tin cậy trong tiến trình tư vấn chưa được xây dựng đủ sâu, việc chuyên gia tư vấn quá xuất sắc, quá lợi hại chưa hẳn đã là điều tốt cho thân chủ.
Về điểm này, tôi có hai chi tiết ghi dấu ấn sâu sắc:
Có một lần, một nam thân chủ nói với tôi: "Thưa thầy Vũ, tôi buộc phải nói thật với thầy, song song với việc tìm đến thầy tư vấn, tôi còn tìm đến một nữ chuyên gia tư vấn có tuổi nghề rất non. Cô ấy rõ ràng kém xa thầy, nhưng ở chỗ cô ấy, tôi lại cảm thấy nhận được lợi ích rất lớn."
Tôi hỏi anh lợi ích ấy đã diễn ra như thế nào? Ban đầu anh không thể diễn đạt thật rành mạch, nhưng càng trò chuyện thì mọi sự càng sáng tỏ. Anh nói: "Đôi khi, khả năng nhìn thấu của thầy khiến tôi sợ hãi; còn ở chỗ người mới vào nghề kia, tôi không phải lo lắng chuyện cô ấy sẽ nhìn thấu tim can mình, điều đó mang lại cho tôi cảm giác an toàn." Đào sâu thêm nữa, chúng tôi nhận ra: khi chuyên gia không thể nhìn thấu tâm can anh, anh sẽ có một cảm giác kiêu hãnh, thấy chuyên gia không bằng mình; đồng thời, anh cảm thấy chính mình mới là người nhìn thấu tâm can của chuyên gia tư vấn. Tất nhiên, đó là cảm giác chủ quan của anh, chưa hẳn đã là sự thật.
Chi tiết thứ hai: Một nữ thân chủ kể cho tôi nghe về những mối quan hệ gia đình rắc rối, phức tạp của cô. Cô cảm thấy vô cùng khổ sở trong các mối quan hệ ấy, và sau khi tôi đưa ra những phân tích, kiến giải tỉ mỉ, thấu đáo, cô hoàn toàn tâm phục khẩu phục. Khi buổi tư vấn khép lại, cô thốt lên một câu: "Thầy Vũ ơi, sao thầy lại tài giỏi đến mức này cơ chứ!".
Vì thời gian buổi tư vấn hôm đó sắp hết nên chúng tôi chưa kịp mổ xẻ hàm ý câu nói của cô; bước sang buổi tư vấn tiếp theo, chúng tôi mới bắt đầu mở rộng thảo luận về câu nói ấy. Cô chia sẻ rằng, những phân tích rành mạch, đâu ra đấy của tôi khiến cô cảm thấy tự ti. Cô thầm nghĩ: Sao mình lại không thể nghĩ ra những điều này nhỉ? Đồng thời, cô cũng liên tưởng đến cảm giác tương tự khi chung sống với cha mẹ, với chồng và những người xung quanh: ai nấy đều nói năng lưu loát, đạo lý rành rành, còn cô thì lúc nào cũng nghẹn lời, không thốt nên câu.
Trong cả hai câu chuyện trên, thân chủ đều mang trong mình dục vọng cạnh tranh muốn so kè cao thấp với chuyên gia tư vấn. Họ đều khao khát trong mối quan hệ tư vấn này, họ phải là chủ thể, chuyên gia tư vấn là người nuôi dưỡng sự tự luyến của họ, chứ không phải họ đến để thỏa mãn sự tự luyến của chuyên gia. Đương nhiên, đó là nhu cầu tất yếu khi mối quan hệ tư vấn chưa đủ sâu; đợi đến khi mối quan hệ tràn ngập sự tin cậy, cảm giác muốn so kè cao thấp này sẽ dần được "nới lỏng".
Đồng thời, điều càng cần phải nhấn mạnh hơn nữa là: dục vọng cạnh tranh của đa số thân chủ vốn bị đè nén nặng nề; vì thế mấu chốt của tư vấn không phải là thuần hóa dục vọng cạnh tranh của họ, mà là khai quật và khích lệ dục vọng cạnh tranh ấy.
Ai cũng muốn mang theo cảm giác chủ thể để mở rộng sinh mệnh của mình, từ đó sẽ nảy sinh dục vọng cạnh tranh mãnh liệt, muốn dùng đủ mọi cách thức để gia cố bản thân, và muốn phân tài cao thấp trong muôn vàn mối quan hệ. Đó là một nhu cầu tâm lý rất đỗi bình thường và tự nhiên. Nếu bạn không nhìn thấy nhu cầu này ở chính mình, hoặc thường xuyên phớt lờ nhu cầu này ở những người xung quanh, bạn cần tự nhắc nhở bản thân rằng: bạn đang ngó lơ một đòi hỏi lớn lao trong nhân tính.
Vậy thì, những bậc cha mẹ hay những nhân vật thẩm quyền hễ thấy con cái ngoan ngoãn nghe lời là mừng rỡ, cùng những con người thực sự biết nghe lời, thuận phục đến tận xương tủy kia, có phải chăng thảy đều đang ngó lơ phần nhân tính căn bản này?
Vấn đề mạnh - yếu và vấn đề thiện - ác luôn gắn kết chặt chẽ với nhau. Hai chiều kích này, khi nhào nặn cùng các yếu tố như bản ngã và mối quan hệ, sẽ sinh sôi ra vô vàn nét nhân tính phức tạp; đó cũng chính là căn nguyên khiến thế giới hiện thực trở nên phức tạp khôn lường. Hơn nữa, môi trường càng hiểm ác, người ta lại càng để tâm đến chuyện mạnh yếu. Tuy nhiên, điều này cũng sẽ dẫn tới vấn đề căn bản nhất xoay quanh tính công kích:
Tôi bộc lộ tính công kích, liền sợ bị trừng phạt, thậm chí bị hủy diệt. Nỗi lo sợ ấy khiến tôi cảm thấy tự thể của mình thật yếu ớt, bất lực, từ đó nảy sinh cảm giác xấu hổ (sỉ nhục cảm).
Tôi bộc lộ tính công kích, nhận ra đối diện với người mình yêu thương tôi cũng có tính công kích. Điều đó khiến tôi áy náy; nhưng tôi vẫn khao khát được bộc lộ tính công kích của mình. Khi thực sự gây ra tổn thương cho người mình yêu thương, tôi liền rơi vào cảm giác tội lỗi (tội ác cảm).
Trên con đường mở rộng sinh mệnh, con người rất dễ bị hai cảm giác này giày vò:
Khi tự thể yếu ớt, bạn dễ cảm thấy xấu hổ.
Khi tự thể đã lớn mạnh, bạn lại dễ mang cảm giác tội lỗi.
Thứ hóa giải được cuộc xung đột này chính là tình cảm, tức chiều kích thiện - ác. Bên cạnh chiều kích sinh mệnh mạnh - yếu, chiều kích thiện - ác cũng mang ý nghĩa vô cùng trọng đại. Đặc biệt là khi bạn có thể sống trọn vẹn trong tình yêu thương và sự kết nối, cả cảm giác xấu hổ lẫn cảm giác tội lỗi đều sẽ được hóa giải triệt để.
Về hai chiều kích này, tôi nghĩ có thể đúc kết như sau: Khích lệ sự lớn mạnh của tự thể, đồng thời đừng quên kéo nó quay trở về với các mối quan hệ.
Một bậc thầy tư vấn tâm lý trong nước từng có một câu chuyện trị liệu kinh điển: Một lần nọ, thân chủ của ông vô cùng phẫn nộ, đập cửa xông ra ngoài; ông liền đuổi theo ra cửa và nói với thân chủ một câu: "Hãy nhớ lần sau, tôi vẫn ở ngay đây đợi bạn." Đó là một khoảnh khắc mang tính chữa lành kỳ diệu, truyền đi một thông điệp rằng: Bạn có thể thỏa sức bộc lộ chính mình, và tất cả những điều đó đều có thể diễn ra an toàn bên trong mối quan hệ của chúng ta.
Tất nhiên, cũng phải bổ sung thêm một câu:
"Miễn là không có sự phá hoại nghiêm trọng nào xảy ra."
Tương tác: Từ thế giới hiện thực đến thế giới tưởng tượng
Tiếp xúc nhiều với những nhân vật kiệt xuất, bạn sẽ nhận ra rằng sở dĩ họ trở thành con người như ngày hôm nay và gặt hái được những thành tựu phi thường, thảy đều bắt nguồn từ chính những hình dung, tưởng tượng căn bản của họ.
Hỏi: "Tưởng tượng của một người quyết định cuộc đời người đó", vậy so với năng lực kiểm định hiện thực, hai điều này có gì khác biệt? Có phải năng lực kiểm định hiện thực hướng về quá khứ, còn sức tưởng tượng hướng tới tương lai?
Đáp: Chữ "hiện thực" trong năng lực kiểm định hiện thực bao gồm hiện thực theo ý nghĩa khách quan (chẳng hạn như về mặt vật lý), và cả sự thừa nhận đối với những tưởng tượng chung của cộng đồng xã hội.
Lấy ví dụ, bệnh nhân tâm thần thể nặng thường có ảo giác; lúc này, nếu có năng lực kiểm định hiện thực, người đó sẽ biết rằng ảo ảnh kia vốn không hề tồn tại. Khi ấy, họ có khả năng được chữa lành cao nhất. Ngược lại, nếu không có năng lực kiểm định hiện thực mà xem những thứ đó là thật, bệnh tình sẽ trở nên vô cùng trầm trọng.
Hỏi: Thế nào mới là sự hẫng hụt vừa vặn (optimal frustration)? Trong quá trình đứa trẻ khôn lớn sẽ gặp phải muôn vàn trắc trở, làm sao để nắm bắt được chừng mực này? Những thất vọng, va vấp nào sẽ gây tổn thương quá mức, khiến đứa trẻ bị cảm xúc đè bẹp?
Đáp: Thất vọng vừa vặn là sự thất vọng không đẩy một người vào cảm giác tự thể bị vỡ vụn, tan rã.
Chẳng hạn, đối với một đứa trẻ sơ sinh, bạn để bé bị đói lả một bữa nghiêm trọng, đó tuyệt đối không phải là sự hẫng hụt vừa vặn, bởi việc ăn uống đối với bé là chuyện sống còn. Nhưng đối với một người trưởng thành, chuyện đó chẳng đáng là bao, vì họ có thể tự xoay xở giải quyết. Tất nhiên, nếu một người lớn bị bỏ đói trong suốt một thời gian dài thì lại là chuyện hoàn toàn khác.
Ẩn dụ của tiền bạc
Trong những thứ tục lụy của cõi hồng trần như tiền tài, quyền lực, danh vọng và sắc dục, tiền bạc là thứ trần tục nhất, nhưng lại là thứ được người đời khao khát phổ biến nhất, và cũng là thứ phải hứng chịu nhiều sự bôi nhọ, phỉ báng nhất. Tiền bạc là vật mang tính hiện thực nhất, đồng thời cũng là mắt xích then chốt khiến thế giới hiện thực trở nên vô cùng phức tạp.
Nhân tính có hai chiều kích căn bản: thiện và ác về mặt đạo đức, mạnh và yếu về mặt sức mạnh. Tiền bạc — thứ vật chất hiện thực nhất này — lại có quá nhiều góc tối của nhân tính xoay vần xung quanh, cho nên tiền bạc rất dễ bị coi là thứ xấu xa, tồi tệ.
Đó là nhìn nhận tiền bạc ở chiều kích thiện - ác; còn nếu xét trên chiều kích mạnh - yếu, tiền bạc sở hữu một công năng vô cùng đơn giản và trực diện: gia tăng sức mạnh của một con người. Bởi vậy cũng có thể nói, khi bạn bài xích tiền bạc, bạn rất có thể sẽ rơi vào trạng thái suy yếu, bất lực. Thế nhưng, nếu bạn có thể xử lý thỏa đáng chuyện tiền nong trên cả hai chiều kích thiện - ác và mạnh - yếu, thì có thể nói bạn đã đạt tới một nhân tính chín chắn, trưởng thành nhất.
Đồng thời cũng phải nói thêm rằng, nếu bạn chưa từng trải qua sự thử thách của tiền bạc — thứ vật chất hiện thực và trần tục nhất cõi trần — thì sự đạo đức và thuần khiết mà bạn hằng tưởng tượng chưa hẳn đã là chân thực. Đến khi thử thách thực sự ập xuống, bạn có thể sẽ bàng hoàng nhận ra mình hoàn toàn không thể kháng cự nổi sức cám dỗ của đồng tiền.
Khi nhắc tới chữ "tiền", điều đầu tiên bật ra trong tâm trí bạn là gì? Rồi tiếp theo bạn nghĩ đến điều gì? Và còn nghĩ đến điều gì nữa? Hãy thử làm ba lần liên tưởng tự do xem sao.
Bạn không biết rằng chọn cho bạn một món quà lại khó khăn đến thế.
Dường như chẳng có thứ gì là thích hợp.
Hà tất phải đem vàng tặng cho mỏ vàng, hay mang nước dâng cho biển cả.
Mọi điều tôi nghĩ đến, đều tựa như mang hương liệu tới phương Đông.
Trao cho bạn trái tim tôi, linh hồn tôi, cũng chẳng ích gì — bởi bạn vốn đã có trọn những điều ấy.
Bởi vậy, tôi mang đến cho bạn một tấm gương.
Hãy nhìn ngắm chính mình, và nhớ đến tôi.
— Rumi
Hội chứng sợ tiền bạc
Vào đêm trước ngày tôi và ứng dụng "Đắc Đáo" (De Dao) quyết định ký hợp đồng mở chuyên mục, tôi đã làm một việc ngớ ngẩn hiếm thấy: Tôi nhìn nhầm giờ bay. Máy bay rõ ràng cất cánh lúc hơn 6 giờ chiều từ Quảng Châu và 9 giờ tối đến Bắc Kinh, nhưng tôi khăng khăng đinh ninh thành 9 giờ tối mới cất cánh từ Quảng Châu.
Thế là hơn 8 giờ tối, tôi ung dung thong thả đến sân bay Bạch Vân ở Quảng Châu; vừa làm thủ tục lên máy bay, tôi lập tức chết lặng. Tôi vội hỏi xem còn chuyến bay nào khác có thể ra Bắc Kinh ngay trong đêm không. Tra cứu thì chỉ còn đúng một vé hạng thương gia của một chuyến bay duy nhất.
Đã từ rất lâu tôi cơ bản chỉ ngồi vé hạng thương gia, mà việc ký hợp đồng với "Đắc Đáo" lại có ý nghĩa sống còn, vậy mà tôi lại chần chừ do dự mất một lúc; đến khi định mua vé chuyến đó thì hạng thương gia cũng đã bị người khác đặt mất. Cuối cùng, tôi buộc phải đặt vé chuyến sáng sớm hôm sau, trước giờ trưa vội vã chạy đến công ty "Đắc Đáo" để hoàn tất việc ký kết.
Với tư cách là một chuyên gia tư vấn tâm lý cũng tương đối có thâm niên, tôi thực sự có rất nhiều vấn đề tâm lý, lại còn biến hóa muôn hình vạn trạng. Nhưng với tư cách là một "người bệnh", ít nhất tôi đã rèn luyện được thói quen nghề nghiệp: mỗi khi có chuyện bất thường xảy ra, tôi đều tự tra vấn bản thân: Chuyện này rốt cuộc là bị làm sao thế?
Thông qua những giấc mơ, qua việc tự phân tích, qua việc nhờ nhà phân tâm học của mình mổ xẻ, thảy đều dẫn tới cùng một kết luận: Tôi sợ có nhiều tiền.
Tôi vốn đã lường trước được rằng nếu ký hợp đồng với "Đắc Đáo", tôi sẽ có một nguồn thu nhập rất khả quan; chính khoản thu nhập lớn mà chuyên mục mang lại đã khiến lòng tôi dấy lên nỗi sợ hãi. Thế là, tiềm thức của tôi bài xích chuyện này, và rồi nó tạo ra hành vi nhìn nhầm giờ bay.
Đó là lần duy nhất trong đời tôi bị trễ máy bay vì nhìn nhầm giờ.
Trên thực tế, tôi rất hiểu hội chứng sợ tiền của mình; nó từng phát tác nhiều lần trong quá khứ. Ngay từ 10 năm trước, tôi đã gặp phải chuyện như thế này:
Một chiếc thẻ ngân hàng của tôi dùng để chứa khoản tiền kiếm được từ việc xuất bản sách, đi thuyết giảng và mở các khóa học tâm lý, nhưng tôi cứ hay quên bẵng chiếc thẻ này. Chẳng hạn có một lần, tôi cần chuyển tiền từ thẻ này sang một thẻ khác. Tôi thao tác tại cây ATM, thao tác xong xuôi thì bỏ quên luôn thẻ ở đó. May mắn thay, tôi bỏ quên ngay tại cây ATM nằm bên trong tòa soạn Báo Quảng Châu Nhật Báo, nên không xảy ra tổn thất nào.
Chuyện như vậy đã xảy ra vài lần. Trước đây số tiền trong thẻ còn ít, dẫu có mất một vài vạn tệ thì tôi cũng chẳng mấy xót xa; nhưng khi ấy số tiền tích lũy trong thẻ đã bắt đầu nhiều lên đáng kể. Nếu lúc đó có ai tiện tay chuyển trộm tiền từ cây ATM kia, muốn không xót ruột cũng khó.
Tôi làm một bảng tổng kết nhỏ về những lần "tai nạn bất ngờ" này, rà soát lại thời điểm của mỗi lần bỏ quên thẻ. Kết quả phát hiện ra rằng: mỗi khi chuyện này xảy ra, đều là vào lúc thu nhập của tôi đón nhận một "niềm vui bất ngờ" ngoài dự tính, chẳng hạn như tiền thưởng của tòa soạn vượt xa kỳ vọng, hoặc khi nhận được một khoản tiền nhuận bút lớn từ mấy cuốn sách.
Chiêm nghiệm kỹ hơn cảm giác mỗi khi có "niềm vui bất ngờ" ấy, lòng tôi đều thấy có phần hoang mang và không thích ứng nổi. "Niềm vui bất ngờ" càng lớn, nỗi hoang mang và cảm giác chênh vênh không thích ứng ấy lại càng rõ rệt, khi nghiêm trọng thậm chí còn có cảm giác xây xẩm mặt mày.
Nếu không học tâm lý học, tôi sẽ ngỡ rằng đó chỉ là do sự phấn khích bất ngờ làm mình váng vất đầu óc nên mới dẫn tới sai sót ngẫu nhiên. Nhưng giờ đây tôi biết rõ: đó là do tận sâu thẳm nội tâm, tôi không hề muốn đón nhận số tiền này, nên mới vô thức tìm cách làm cho chúng hao hụt đi. May thay, tâm lý này ở tôi chưa quá nặng nề, nên rốt cuộc chưa gây ra tổn thất thực sự. Còn những người mang tâm lý này nặng hơn tôi rất nhiều thì vô số kể, điển hình như cha tôi.
Từ thuở tiểu học tôi đã theo cha bươn chải đủ nghề buôn bán nhỏ: bán hoa quả, bán gạo, gia vị, hạt giống rau, chiếu cói... Trong làng, ý thức kinh doanh của ông gần như là nhạy bén nhất: ông thuộc nhóm người đầu tiên bán hoa quả, cũng là nhóm người đầu tiên đi buôn gạo, rồi còn từng nhận thầu cả xưởng xay xát bột mì của thôn.
Thế nhưng, gia đình tôi cứ mãi nghèo túng, chưa từng vì sự nỗ lực của cha mà trở nên khấm khá. Trong khi những bạn hàng cùng làm ăn với ông, rất nhiều người đã dần dà giàu lên. Nhà tôi vào lúc bần hàn nhất, đến tiền mua bao diêm cũng chẳng có.
Tại sao lại như vậy? Một nguyên nhân hiển hiện là cha tôi luôn gặp phải kẻ xấu. Cứ hễ kiếm được nhiều tiền hơn một chút, ông liền chạm trán kẻ xấu, tiền nong không bị trộm cắp thì cũng bị lừa đảo.
Biến cố nghiêm trọng nhất xảy ra vào năm tôi học lớp 11. Khi ấy, cha làm nghề buôn gạo; nhờ sự nỗ lực không ngừng nghỉ của ông, gia cảnh đã hơi khởi sắc. Nhưng vào một ngày nọ, cha đem số gạo trị giá 5.000 tệ bán buôn cho một người, thương vụ này chỉ thu về vỏn vẹn 80 tệ tiền lãi, mà người kia lại còn ghi giấy nợ khống. Tôi đi học xa nhà, mẹ và chị gái đều kịch liệt phản đối, chị gái còn cãi nhau nảy lửa với cha. Thế nhưng tất cả những điều đó đều không lay chuyển được người cha vốn luôn là một kẻ "dĩ hòa vi quý, hiền lành cả nể"; ông vẫn đưa ra lựa chọn vô cùng kỳ quặc ấy.
Rất nhanh sau đó, sự thật chứng minh kẻ kia là một tên lừa đảo chuyên nghiệp, gia cảnh hắn bần cùng khánh kiệt; hắn lừa 5.000 tệ tiền gạo của nhà tôi cốt để gán cho một món nợ khác. Cho dù sau này có kiện ra tòa, tòa án tuyên nhà tôi thắng kiện cũng bằng không, bởi vì hắn hoàn toàn không có khả năng chi trả. Vì biến cố này, cùng chuỗi năm ròng rã đi đòi nợ trong tuyệt vọng, cha tôi phải chịu một cú sốc tinh thần nặng nề, bỗng chốc già đi trông thấy.
Một ví dụ khác: khi cha bán gia vị dành dụm được một món tiền nhỏ, ông đem theo số tiền này đi nhập hàng. Dọc đường, ông buộc chiếc ví tiền vào ghi-đông xe đạp. Đến khi tới tận cửa hàng nhập hàng, mới bàng hoàng nhận ra chiếc ví đã biến mất từ lúc nào.
Tóm lại, cả cuộc đời của cha tôi luôn lặp đi lặp lại một khuôn mẫu: Cứ mỗi khi kiếm được một khoản tiền, gia cảnh hơi khởi sắc lên đôi chút, là y như rằng ông lại gặp chuyện xui rủi, khiến cho tiền bạc tiêu tan sạch sẽ. Bởi thế, cả đời này ông luôn là một người nghèo có chỉ số thông minh rất cao và vô cùng nỗ lực.
Tôi và cha tại sao cứ luôn đối nghịch với tiền bạc như vậy? Đằng sau chuyện này ẩn chứa bí mật tâm lý gì?
Trong gia tộc của cha tôi, tiền bạc và thu nhập được phân phối như thế này: cha tôi là đứa con trai không được sủng ái mà lại chịu sự bóc lột nặng nề; một phần thu nhập đáng kể của nhà tôi bị ông bà nội lấy đi, rồi ông bà lại đem số tiền đó chu cấp cho gia đình chú tôi. Cách phân phối này cực kỳ bất công, nhưng ông bà nội có thể làm một cách công khai trắng trợn, trong khi cha tôi lại bất lực không bảo vệ nổi bản thân và gia đình mình. Rốt cuộc, điều này khiến cha tôi không muốn kiếm quá nhiều tiền; ông chỉ muốn kiếm số tiền vừa đủ để miễn cưỡng duy trì cuộc sống của gia đình chúng tôi mà thôi. Làm như vậy thì mức độ bị bóc lột sẽ giảm xuống mức thấp nhất.
Các mối quan hệ trong xã hội chúng ta rất dễ mắc kẹt trong mối quan hệ cộng sinh. Khi dừng lại ở quan hệ cộng sinh, thu nhập của bạn không thể do chính bạn phân phối, mà sẽ do kẻ nắm quyền trong khối cộng sinh ấy định đoạt. Nếu bạn rất tháo vát, đem lại nhiều thu nhập, điều đó đồng nghĩa với việc bạn phải gánh vác quá nhiều trách nhiệm, đồng thời lại bị bóc lột, và như thế động lực kiếm tiền của bạn sẽ bị bóp nghẹt nghiêm trọng.
Trong quan hệ cộng sinh, bạn thường thấy một hiện tượng: "quất roi vào trâu nhanh" (đè đầu cưỡi cổ người tháo vát). Những người thạo việc liên tục bị chất thêm đủ thứ trách nhiệm, đồng thời lại bị bóc lột, sai bảo, mà lợi ích nhận lại thì ít ỏi, thậm chí chẳng bằng những kẻ lười nhác làm chẳng ra trò. Những con "trâu nhanh" này buộc phải là những kẻ hiền lành mù quáng; nếu không, một khi thức tỉnh, hoặc là họ sẽ vùng lên thay đổi chế độ phân phối, hoặc là dứt khoát không làm "trâu nhanh" nữa. Bởi vậy, ai kiếm được tiền thì người đó có quyền chi phối số tiền ấy — đó là một quy tắc vô cùng giản đơn mà căn cốt.
Tuy nhiên, tôi mới chỉ lý giải được hành vi "thù ghét tiền bạc" của cha tôi, chứ chưa lý giải hành vi của chính mình. Để cắt nghĩa về hội chứng sợ tiền của bản thân, một lời giải thích đơn giản là do tôi đã đồng nhất hóa với cha mình; nhưng đằng sau đó còn có căn nguyên sâu xa và vi diệu hơn.
Nỗi sợ cốt lõi của hội chứng sợ tiền
Dưới đây là 26 quan niệm về tiền bạc, nếu điều nào dưới đây phù hợp với suy nghĩ của bạn, hãy tự cho mình một điểm:
Tiền bạc là thứ xấu xí và dơ bẩn;
Tiền bạc là tà ác;
Tiền bạc không tự mọc trên cây;
Tôi nghèo, nhưng tôi trong sạch;
Tôi nghèo, nhưng tôi tốt đẹp;
Người giàu đều là phường lừa đảo;
Tôi không muốn giàu có, không muốn trở nên hống hách trịch thượng;
Tôi sẽ vĩnh viễn không bao giờ tìm được một công việc tốt;
Tôi sẽ vĩnh viễn không kiếm nổi tiền;
Tiêu tiền nhanh hơn kiếm tiền;
Tôi lúc nào cũng nợ nần;
Người nghèo vĩnh viễn không thể ngóc đầu lên được;
Cha mẹ tôi rất nghèo, tôi cũng sẽ rất nghèo;
Người làm nghệ thuật buộc phải đấu tranh chống lại tiền bạc;
Chỉ có kẻ lừa đảo mới có nhiều tiền;
Người khác luôn là người có được trước;
Ôi, tôi không thể thu phí quá nhiều;
Tôi không xứng đáng nhận được;
Tôi không đủ tốt, không thể kiếm được tiền;
Đừng để người khác biết tôi có bao nhiêu tiền trong ngân hàng;
Vĩnh viễn đừng bao giờ cho người khác vay tiền;
Tiết kiệm được một đồng tức là kiếm thêm được một đồng;
Tích lũy tiền bạc để phòng khi "mưa gió bất trắc";
Áp lực có thể ập đến bất cứ lúc nào;
Tôi căm ghét những kẻ có tiền;
Chỉ có làm việc cật lực mới có thể có tiền.
26 quan niệm trên là những tín điều "đối nghịch với tiền" do nhà trị liệu tâm lý nổi tiếng người Mỹ Louise Hay liệt kê trong cuốn sách Kiến tạo lại cuộc đời (You Can Heal Your Life). Nếu coi 26 quan niệm này là một bài trắc nghiệm tâm lý, thì có thể nói đây chính là bài kiểm tra về "chỉ số sợ tiền".
"Chỉ số sợ tiền" của bạn cao đến mức nào? Bạn cũng có thể đối chiếu lại xem mức thu nhập hiện tại của mình ra sao.
Trong những quan niệm này, tôi của 10 năm trước sở hữu hầu hết, lại còn ở mức độ hết sức trầm trọng. Khi ôm giữ những quan niệm về tiền bạc như thế, một người rất khó có thể trở nên giàu có.
Trong Kiến tạo lại cuộc đời, Louise Hay từng kể một câu chuyện như thế này:
Một học viên ngày thường làm việc rất chăm chỉ, khao khát gia tăng tài sản của mình. Một buổi tối nọ, anh ta vô cùng phấn khích vì vừa trúng thưởng 500 đô-la. Anh không ngớt miệng thốt lên: "Tôi không thể tin nổi! Tôi chưa bao giờ trúng thưởng cả!" Mọi người đều biết đây là phản ánh ngoại tại của sự chuyển hóa ý thức nơi anh, nhưng bản thân anh lại không hề nhận biết. Tuần tiếp theo, anh không đến lớp học, bởi vì anh bị gãy chân. Tiền viện phí thuốc men vừa khéo tốn đúng 500 đô-la.
Hơn mười năm trước, tôi từng chú ý đến một mẩu tin tức: Một người phụ nữ Israel tên là Anat mua cho mẹ một chiếc đệm mới, và đem chiếc đệm cũ mẹ dùng bấy lâu vứt ra bãi rác. Cô muốn thể hiện lòng hiếu thảo với mẹ, thế nhưng, ngay bên trong chiếc đệm cũ ấy lại cất giấu toàn bộ số tiền tiết kiệm cả đời của người mẹ — 1 triệu đô-la. Về sau, cả gia đình Anat cuống cuồng đi tìm lại chiếc đệm, nhưng tìm khắp nơi đều không thấy đâu nữa. Về chuyện này, bà cụ lại nhìn nhận rất thoáng. Bà an ủi con gái rằng, tuy rất xót ruột, nhưng dẫu sao vẫn còn may mắn hơn là bị xe tông hay mắc phải chứng bệnh nan y.
Câu nói này của bà lão vô cùng thú vị, nó ngầm chứa một logic: nếu hưởng dụng số tiền này, bản thân có thể sẽ bị xe đụng, hoặc mắc bệnh nan y; việc con gái làm mất số tiền ấy trái lại đã giúp bà tránh được những tai ương hiểm họa như thế.
Tiền bạc thực sự sẽ mang lại tai ương sao? Những nghiên cứu của Mỹ nhắm vào những người trúng giải độc đắc xổ số cho thấy đúng là như vậy. Một cuộc khảo sát tại Mỹ chỉ ra rằng, đa số những người trúng giải độc đắc xổ số ở Âu Mỹ, trong vòng 5 năm sau khi trúng thưởng, sẽ vì những nguyên nhân như tiêu xài hoang phí vô độ mà trở nên bần cùng khốn khó, trong đó có tới 75% người bị phá sản.
Đối với những câu chuyện trên, lời giải thích của Louise Hay là: họ không muốn giàu có, nên đã dùng phương thức này để tự trừng phạt bản thân. Cách giải thích này vẫn chưa chạm tới thực chất; tin rằng bạn cũng sẽ tự hỏi: Liệu có nguyên nhân sâu xa hơn không?
Một nữ thân chủ nọ, mỗi lần đi ăn cơm hay uống cà phê cùng người khác, cô đều tranh trả tiền, nhưng ngay sau đó lại cảm thấy cực kỳ bực bội khó chịu, rồi đâm ra không muốn gặp lại những người từng cùng mình đi ăn uống ấy nữa. Đồng thời, cô còn có một đặc điểm: cô vừa không thể chấp nhận việc người khác có thu nhập cao hơn mình, lại vừa không thể chấp nhận việc mình có thu nhập cao hơn người khác. Điều trước sẽ khơi dậy lòng đố kỵ nơi cô, còn điều sau lại khiến cô nơm nớp lo sợ mình sẽ chuốc lấy sự đố kỵ của người khác. Vì vậy, cô luôn giấu giếm tình hình thu nhập thực tế của mình. Khi buộc phải nói về thu nhập, cô sẽ nhìn vào mức thu nhập của đối phương để khai man thu nhập của mình, cốt sao cho tương đương với đối phương.
Sự đố kỵ mà người thân chủ này nói ra chính là một nguyên nhân hết sức căn bản. Nếu nói tiền bạc có ẩn dụ gì, thì ẩn dụ quan trọng nhất của nó chính là sức mạnh. Người nhiều tiền thì tài nguyên có thể chi phối càng nhiều, đồng nghĩa với việc sức mạnh của người đó càng lớn. Khi đong đếm sức mạnh, yếu tố quan trọng hàng đầu là quyền lực, song quyền lực lại khó gọi thành lời, đôi khi cũng khó lòng lượng hóa chuẩn xác, đặc biệt là khi quyền lực của các bên ở mức tương đương nhau. Nhưng tiền bạc thì khác: đây là một chỉ số cực kỳ dễ lượng hóa, ai nhiều tiền hơn, ai ít tiền hơn, đôi lúc có thể nhìn thấy rõ mười mươi. Bởi vậy, tiền bạc là thứ dễ khơi dậy lòng "ngưỡng mộ, đố kỵ, căm ghét" nhất ở con người.
Mạnh yếu của sức mạnh cũng có thể mở rộng ra một chiều kích rất gần gũi: đó là ai cao ai thấp. Người càng sống trong sự tự luyến toàn năng thì lại càng để tâm xem trong mối quan hệ ai cao ai thấp. Những người cơ bản sống trong mối quan hệ nhất nguyên luôn mong muốn vĩnh viễn bản thân phải cao hơn người khác một bậc. Nhưng đồng thời, họ cũng biết người khác sẽ đố kỵ với mình. Người sống trong quan hệ nhất nguyên thậm chí sẽ căm thù đến tận xương tủy những kẻ tỏ ra có sức mạnh hơn, địa vị cao hơn mình.
Như thế, một mâu thuẫn sâu sắc liền xuất hiện: Tôi vừa không thể chấp nhận người khác cao hơn tôi, lại vừa không dám cao hơn người khác. Vậy thì tốt nhất là chúng ta cào bằng, bình đẳng tuyệt đối cho xong! Theo cách hiểu của tôi, có lẽ đây chính là nguyên nhân quan trọng khiến lịch sử chúng ta luôn theo đuổi tư tưởng "bình quân giàu nghèo" (quân bần phú). Hơn nữa, "bình quân giàu nghèo" luôn gắn liền với chế độ "ăn chung nồi cơm lớn" (đại oa phạn); dường như chúng ta muốn dùng phương thức này để giải quyết vấn đề ai cao ai thấp, ai mạnh ai yếu.
Chúng ta hãy quay trở lại câu chuyện về mẹ của Anat. Bà nói rằng mất 1 triệu đô-la dẫu xót xa, nhưng dẫu sao vẫn tốt hơn là bị xe tông hay mắc bệnh hiểm nghèo. Ý tứ ở đây có thể là: nếu bà thực sự hưởng dụng 1 triệu đô-la ấy, bà có thể sẽ bị một thế lực nào đó trừng phạt. Thế lực này rất có thể chính là sự đố kỵ của người khác trong tưởng tượng của bà.
Trường hợp người học viên trúng thưởng 500 đô-la rồi bị gãy chân mà Louise Hay kể thì ẩn dụ lại càng rõ ràng hơn. Anh ta thắng 500 đô-la — biểu đạt trọn vẹn của câu này là: với tư cách là chủ thể, anh ta đã thắng của một khách thể nào đó 500 đô-la; sau đó anh ta bị gãy chân, rất có thể là đang phát đi thông điệp tới khách thể này: Xin đừng đố kỵ tôi, đừng làm tổn thương tôi, tôi hoàn toàn không có dã tâm dám vượt lên trên người, tôi gãy chân chính là để chứng minh điều đó với người.
Chiều kích mạnh yếu của sức mạnh liên quan mật thiết đến sự cạnh tranh. Những ai mắc hội chứng sợ tiền có thể tự vấn bản thân: Trong gia đình hay gia tộc của bạn, sự cạnh tranh có được dung thứ hay khích lệ không? Dẫu xã hội ngày nay đặc biệt đề cao sự thành công, các bậc phụ huynh vì muốn nâng cao năng lực cạnh tranh của con cái mà chẳng tiếc công sức, nhưng liệu bạn có thực sự chấp nhận để con cái cạnh tranh với chính mình? Trong mối quan hệ nguyên sơ nhất giữa bạn và con, liệu dục vọng cạnh tranh của đứa trẻ có thực sự được khích lệ hay không?
Nhìn lại câu chuyện của cha tôi: ông bà nội có thể đối xử tàn nhẫn với ông đến như vậy, chắc chắn ngầm chứa hàm ý này: họ tuyệt đối không cho phép sức mạnh và địa vị của con trai vượt qua bản thân mình. Vì thế, chứng sợ tiền của cha tôi rất có thể là nỗi khiếp sợ rằng khi mình trở nên đặc biệt có sức mạnh, đặc biệt có địa vị, mình sẽ bị trừng phạt; thế nên ông ra tay làm những chuyện ngu ngốc trước, đặng tự trừng phạt chính mình.
Ở một chừng mực nào đó, tôi đã đồng nhất hóa với nỗi sợ hãi này của cha. Nhưng đồng thời, cha mẹ tôi chưa từng bắt tôi phải phục tùng họ; họ cho phép và khích lệ tôi vượt trội hơn họ. Đã có vô số lần tôi bác bỏ ý kiến của cha mẹ, thậm chí còn dùng suốt 10 năm trời để thay đổi một số quan niệm căn bản của họ. Bởi vậy, chứng sợ tiền của tôi nhẹ hơn cha rất nhiều.
Tôi vừa bất chợt nghĩ ra một câu nói vô cùng giản đơn: "Chứng sợ tiền bạc, thực chất chính là chứng sợ sự lớn mạnh."
Tiền bạc và Tật đố hiểm độc (Envy)
"Tật đố hiểm độc" (Envy) là khái niệm do đại sư phân tâm học Melanie Klein đề xuất, thoạt nghe rất giống với điều chúng ta hay gọi là "ngưỡng mộ, đố kỵ, căm ghét", nhưng nó mang một nội hàm rất đặc thù. Từ tiếng Anh của nó là Envy, mang ý nghĩa: Bạn có một thứ, tôi cũng rất thèm khát có được nó, nhưng tôi cảm thấy thứ này tôi vĩnh viễn không thể sở hữu, nên tôi chỉ có thể đi cướp đoạt. Song ngay cả khi đã cướp đoạt được rồi, tôi vẫn thấy mình không thể thực sự sở hữu nó, thế là tôi muốn hủy diệt nó. Nhân tiện, tôi cũng muốn hủy diệt luôn cả người chủ ban đầu đã sáng tạo và sở hữu nó.
Nếu sự tật đố hiểm độc này là một hiện tượng rất phổ biến nơi trần thế, thì người tạo ra của cải và sở hữu của cải sẽ nơm nớp lo sợ sự tật đố của kẻ khác, lo sợ người ta sẽ đến cướp bóc hoặc tàn phá tài sản của mình, đồng thời tiêu diệt luôn cả bản thân. Không còn nghi ngờ gì nữa, tật đố hiểm độc chính là một dạng năng lượng chết sâu sắc và căn bản nhất.
Sự tật đố hiểm độc nguyên sơ nhất tự nhiên diễn ra giữa người mẹ và đứa trẻ sơ sinh. Các nhà phân tâm học cho rằng, người mẹ có bầu vú, đó mới đích thực là "vùng đất chảy tràn sữa và mật". Khi đứa trẻ không thể thiết lập được mối liên kết với người mẹ, sự trù phú và lớn mạnh của bầu vú mẹ sẽ làm tổn thương nghiêm trọng sự tự luyến toàn năng của đứa trẻ. Thế là, đứa trẻ nảy sinh năng lượng chết khổng lồ, muốn phá hủy bầu vú của mẹ.
Không chỉ dừng lại ở đó, trong ảo tưởng của đứa trẻ sơ sinh, nó thậm chí còn muốn nhét chất bài tiết của mình vào bầu vú, nhằm hạ thấp, làm nhục và hủy diệt nó.
Nếu trong một xã hội và nền văn hóa mà sự tật đố hiểm độc quá đỗi đậm đặc, thì chứng sợ tiền (hay nói cách khác là chứng sợ sự lớn mạnh) sẽ trở nên rất phổ biến. Một cộng đồng hay cá nhân nếu mang sự tật đố hiểm độc mãnh liệt, điều đó cũng sẽ dẫn đến chứng sợ tiền.
Khi trò chuyện với nhà phân tâm học về chứng sợ tiền của mình, tôi thường phải nhắc đến thu nhập, tầm ảnh hưởng, danh tiếng và địa vị của bản thân. Lúc ấy, ông sẽ bảo: "Khi anh nói về những điều này, giữa tôi và anh cũng đang hiển hiện mối quan hệ 'anh nhiều tiền hơn tôi, anh mạnh hơn tôi', điều này mang lại cho anh cảm giác gì?"
Ban đầu khi ông phân tích như vậy, tôi chối ngay: "Tôi hoàn toàn không hề có cảm giác 'tôi mạnh hơn thầy' khi nói những điều đó, tôi thấy mình chỉ đơn thuần nói về những con số và sự thật khách quan mà thôi."
Về sau tôi mới dần nhận ra, khi nói về những chuyện ấy, trong lòng tôi quả có chút bất an. Rồi sau này nhận thấy thêm, nỗi bất an ấy thực ra vô cùng to lớn, tôi thực sự cảm thấy vô cùng hoảng sợ. Tôi ý thức được rằng bản thân cũng đang so kè cao thấp với nhà phân tâm của mình, và một khi đụng chạm tới tiền tài, quyền lực, danh vọng, lợi ích — những thứ trần tục của cõi thực — tôi đều vượt trội hơn ông.
Tôi nhận thấy rằng cứ hễ phải nói tới những thứ này, tôi liền ngăn chặn mọi cảm xúc, tình cảm (tức tiến trình cảm xúc trong ba tiến trình tâm thức), bề ngoài dường như chỉ còn lại tiến trình tư duy lý tính, thế nhưng cơ thể đã bán đứng tôi. Những lúc ấy, thân hình tôi thường khẽ khom xuống một cách vô thức. Đó là một phản xạ hoàn toàn tự động, làm vậy là để biểu đạt sự thuận phục đối với ông. Chính vì ẩn dụ này của của cải, nên việc giao thiệp với tiền bạc hay lợi ích là một việc có độ khó cực kỳ cao.
Trên mạng từng rất thịnh hành một câu nói: "Lấy gì giải sầu, duy chỉ có giàu nhanh." Nhưng trên thực tế, giàu có sau một đêm chưa hẳn đã là một phúc lành. Sở dĩ giàu nhanh có thể biến thành lời nguyền rủa, căn bản là vì việc bỗng chốc phát tài sẽ đột ngột thổi phồng sự tự luyến của con người, đồng thời châm ngòi cho sự "ngưỡng mộ, đố kỵ, căm ghét" của những người xung quanh, hoặc khơi dậy nỗi sợ hãi sâu thẳm trong lòng trước sự tật đố hiểm độc — đó thảy đều là bản tính căn cốt của con người. Đừng nói đến việc làm chủ, nhiều người thậm chí còn hoàn toàn thiếu ý thức về chúng, thế là nội tâm bị bủa vây bởi những nỗi lo âu do chúng mang lại, chẳng thể nào xử lý một cách sáng suốt, đầy trí tuệ được.
Những người dựa vào nỗ lực của chính mình để từng bước giàu lên thì lại rất khác. Theo quan sát của tôi, diện mạo tinh thần và mức độ chín chắn về nhân tính của người giàu thường là cao nhất, đặc biệt là những doanh nhân tinh hoa lập nghiệp từ hai bàn tay trắng.
Nhiều nhóm người có tâm lý coi nhẹ tiền bạc — chẳng hạn như giáo viên, chuyên gia tư vấn tâm lý và những người tu hành — họ thường tự luyến cho rằng vì mình luôn làm việc với linh hồn nên tầng thứ linh hồn của mình rất cao, linh hồn của người giàu chắc chắn không thể sánh bằng. Nhưng dưới mắt tôi, sự thật lại hoàn toàn trái ngược. Những người luôn miệng không màng tới tiền, rất nhiều phần trong nhân tính của họ chưa từng được mở rộng, bộc lộ, cho nên độ trưởng thành về nhân tính của họ trái lại rất đáng lo ngại. Phương pháp kiểm chứng rất đơn giản: bất ngờ trao cho họ một cơ hội đổi đời giàu nhanh, là sẽ nhìn ra ngay.
Chẳng hạn một người bạn của tôi, anh vốn sống vô cùng thanh bần, lại chăm chỉ tu tập. Ban đầu đó là người tôi hết sức kính nể, nhưng về sau anh lại sa chân vào mô hình bán hàng đa cấp biến tướng, tin sái cổ vào logic kiếm tiền trong đó, và rồi tất yếu bị lừa gạt.
Tôi ngày càng nhận thức sâu sắc rằng: theo đuổi lợi ích nhưng không bị lợi ích thao túng, điều đó sẽ khiến nhân tính của một con người trở nên chín chắn, trưởng thành hơn rất nhiều.
Và hơn nữa, vì tiền bạc quá dễ khơi dậy lòng "ngưỡng mộ, đố kỵ, căm ghét", nên người có thể xử lý thỏa đáng mối quan hệ với tiền bạc cũng như quan hệ tiền bạc giữa mình với người khác tất nhiên là người trưởng thành hơn cả. Điều này thường đồng nghĩa với việc người đó đã xử lý hài hòa cả hai chiều kích căn bản của nhân tính: chiều kích sức mạnh mạnh - yếu và chiều kích đạo đức thiện - ác.
Bạn có thể thử làm điều này: vừa theo đuổi nhiều tiền bạc hơn, vừa quay lại quan sát nội tâm mình cùng mối quan hệ giữa bạn với những người xung quanh. Đó tuyệt đối là một thử thách phi thường, cũng là một hành trình của người anh hùng.
Nâng cấp thước đo sinh mệnh của bạn
"Con người là thước đo của vạn vật."
— Triết gia Hy Lạp cổ đại Protagoras từng nói.
"Cảm nhận của bạn chính là thước đo đo lường vận mệnh của chính bạn."
— Vũ Chí Hồng nói.
Một nữ thân chủ nọ là một người "siêu ru rú ở nhà", cô mắc chứng rối loạn ám ảnh cưỡng chế (OCD) thể nhẹ. Ví dụ, có một lần cô thấy trên mạng rao bán một lố bút bi với giá 2,9 tệ, giới hạn mỗi người hai lố, lại còn miễn phí vận chuyển. Quá hời, cô rất muốn mua. Thế nhưng, cô vẫn còn cả chục cây bút bi chưa dùng hết... Nhưng nếu không mua, sau này không bao giờ gặp lại cơ hội này nữa thì biết làm sao... Nhưng ngặt nỗi tiền của cô lại quá ít, tiêu mất 2,9 tệ là vơi đi 2,9 tệ, lỡ sau này có việc nguy cấp cần đến tiền thì tính sao...
Cô cứ thế suy nghĩ, dằn vặt suốt cả một ngày trời chỉ để tìm ra một phương án tối ưu nhất. Cô không có việc làm, hiện đang sống dựa vào tiền tiết kiệm, nên hao hụt một đồng là mất đi một đồng, mà tiền tiết kiệm thì quả thực chẳng có bao nhiêu. Trong buổi tư vấn, cô tha thiết muốn cùng tôi mổ xẻ xem thế nào mới là lựa chọn tối ưu.
Thế nhưng, chỉ cần đem chuyện đó ra thảo luận với tôi, cái gọi là "lựa chọn tối ưu" ấy đã lập tức tan thành mây khói, bởi vì phí tư vấn tâm lý không hề rẻ: giá của một phút tư vấn đã vượt xa con số 2,9 tệ rồi.
Nếu nhìn trong dài hạn, cuộc thảo luận này vẫn mang lại giá trị, bởi giải mã được cơ chế tâm lý của cô thì sau này cô có thể đưa ra những lựa chọn sáng suốt hơn trong các tình huống tương tự. Trò chuyện một hồi lâu, tôi nhận thấy cô hoàn toàn không tính đến yếu tố "thời gian cũng đáng giá tiền bạc". Nhưng ngẫm lại, cách hiểu này của tôi chưa chuẩn: vì cô không đi làm, nên thời gian của cô quả thực không sinh ra tiền, dẫu có dành cả ngày trời để đắn đo về một lựa chọn 2,9 tệ thì xét ở góc độ của cô vẫn có tính hợp lý nhất định. Khi tiếp tục trao đổi, tôi đã nghĩ tới khái niệm "thước đo lựa chọn".
Khi đưa ra lựa chọn, tự nhiên chúng ta sẽ có đủ loại thước đo, và những thước đo này phụ thuộc vào trải nghiệm sinh mệnh cùng nhận thức của chính mình. Trải nghiệm sinh mệnh khác nhau và nhận thức khác nhau sẽ định hình nên những thước đo khác nhau; từ đó khi đứng trước lựa chọn sẽ có những cảnh giới khác nhau, và rốt cuộc dẫn tới tầm vóc cuộc đời (cục diện nhân sinh) khác nhau.
Như người thân chủ này, cô từng cân nhắc nhận một công việc với mức lương 3.000 tệ/tháng. Cô chê quá ít, không đủ để thay đổi cục diện cuộc đời mình. Thế nhưng, một khi cô nhận công việc ấy, xét một tháng thông thường có 22 ngày làm việc, điều đó đồng nghĩa với việc mỗi ngày cô làm ra hơn 100 tệ. Khi ấy, nếu lại đối diện với bài toán có nên mua lố bút bi 2,9 tệ hay không, thước đo lựa chọn của cô ắt sẽ thay đổi.
Có những người ý thức rất rành mạch, họ sẽ nghĩ: Một ngày mình kiếm được hơn trăm tệ, vậy thì bỏ cả ngày trời để đắn đo một bài toán 2,9 tệ là quá không thỏa đáng. Cho dù không có được nhận thức rành rọt như thế, nhưng khi sống trong một cục diện nhân sinh như vậy, cảm nhận và nhận thức của bạn đều được sản sinh bên trong cái khung đó, bạn vẫn sẽ tự nhiên có được những thước đo lựa chọn khác biệt.
Sau khi hình thành khái niệm "thước đo lựa chọn", tôi nhận thấy các yếu tố chi phối thước đo này được chia làm hai nhóm lớn: yếu tố vật lý và yếu tố tâm lý.
Các yếu tố vật lý gồm có:
Thước đo thời gian: Giá trị bạn tạo ra trên một đơn vị thời gian càng lớn, thước đo thời gian lại càng trở nên trọng yếu.
Thước đo không gian: Bạn bước vào càng nhiều không gian, vốn trải nghiệm của bạn càng phong phú. Ở một số không gian nhất định, bạn sẽ có được những trải nghiệm và vốn sống vô cùng sâu sắc; điều đó sẽ làm thay đổi căn bản thước đo của bạn.
Thước đo mối quan hệ: Bạn sẵn lòng dốc sức vì những mối quan hệ mang tính chất ra sao? Trước đây tuy thích thu mình ở nhà, nhưng vì mang tâm lý của một "kẻ tốt bụng cả nể", tôi rất khó cự tuyệt người khác; bởi vậy trong rất nhiều mối quan hệ không thực sự cần thiết, tôi đã tiêu tốn biết bao thời gian và tiền bạc. Giờ đây, muôn vàn sự vụ (tức muôn vàn mối quan hệ) dồn dập kéo đến như sóng triều, buộc tôi phải không ngừng nâng cấp năng lực từ chối, ngày càng coi trọng việc rốt cuộc mình muốn sống trong những mối quan hệ như thế nào.
Thước đo thân thể: Là một người tốt, đưa ra những lựa chọn kể trên không hề dễ dàng. Một phần nguyên nhân là đôi khi cơ thể thực sự kiệt quệ; cảm giác thân thể bên bờ vực sụp đổ đã đánh thức tôi: mọi chuyện buộc phải thay đổi.
Thước đo tiền bạc: Sở dĩ đặt thước đo này ở vị trí cuối cùng không phải vì nó không quan trọng; thực chất nó là một thước đo mang tính căn bản nhất, các thước đo trước đó đều gắn liền với nó. Thước đo tiền bạc bạn sở hữu và xử lý càng lớn, thử thách nhân tính mà bạn phải đối mặt lại càng khốc liệt.
Thời gian, không gian, mối quan hệ, thân thể và tiền bạc — những yếu tố dùng để cân nhắc thước đo lựa chọn này có thể xem là những yếu tố vật lý. Nếu bạn muốn thay đổi tầm vóc cuộc đời mình, hãy bắt tay vào rèn giũa ở những yếu tố này.
Ngoài ra, thước đo lựa chọn còn chịu sự chi phối của các yếu tố tâm lý: vốn sống, sự thức tỉnh (giác tri) và trí tưởng tượng.
1. Thước đo của vốn sống (duyệt lịch)
Người có vốn sống phong phú sở hữu những trải nghiệm sinh mệnh dồi dào, nhân tính của họ nhờ thế có thể được mở rộng một cách tròn đầy hơn. Họ đã từng trải qua đủ mọi thử thách về thời gian, không gian, mối quan hệ, thân thể và tiền bạc; họ thấu hiểu sức nặng của bản thân, có thể đưa ra những lựa chọn hợp lý một cách rõ ràng và mau lẹ hơn.
Thương trường dẫu luôn bị xã hội chúng ta gièm pha, định kiến, nhưng thương trường lại là một thế giới có logic tương đối rành mạch: Bạn buộc phải làm việc cho thật tốt, tôn trọng quy luật của tiền bạc và nhân tính thì mới kiếm được tiền; còn nếu đi ngược lại quy luật, bạn cầm chắc xác suất rất lớn bị thực tế "vả vào mặt". Bởi vậy, thương trường có thể tôi luyện tâm tính của một con người vô cùng hiệu quả.
Vì thế, mở rộng thế giới của bạn, tích lũy thêm vốn sống, làm phong phú thêm những trải nghiệm sinh mệnh — đó là điều cực kỳ trọng đại. Chỉ khi trái tim rộng mở, trải qua những va đập thực chứng, ta mới có thể hình thành nên những thước đo lựa chọn phù hợp với nhân tính.
2. Thước đo của sự thức tỉnh (giác tri)
Vốn sống chưa hẳn đã có thể thay đổi một con người; rất nhiều người dẫu cuộc đời trải qua biết bao thăng trầm biến cố, nhưng thước đo lựa chọn của họ lại không hề có sự chuyển hóa thực chất. Họ cố thủ trong những thước đo cũ mòn sẵn có, thế nên cuộc đời họ dường như cũng chẳng hề có gì đổi thay.
Nhà tâm lý học người Mỹ M. Scott Peck từng đưa ra khái niệm "bản đồ tâm thức" (mental map), cho rằng con người cần phải kịp thời tu chỉnh bản đồ tâm thức bên trong song song với sự thay đổi của bản đồ bên ngoài, nếu không ắt sẽ nảy sinh vấn đề.
3. Thước đo của trí tưởng tượng
Tưởng tượng là một thước đo có thể vươn tới vô hạn. Dẫu trên thực tế bạn đang ở trong một thước đo vật lý tương đối chật hẹp, các yếu tố thời gian, không gian, mối quan hệ, thân thể và tiền bạc của bạn đều chưa bước vào một tầm vóc lớn, nhưng trước hết bạn hoàn toàn có thể tưởng tượng ra điều đó.
Ai nấy đều biết, Jack Ma nhờ nhìn thấy trước sức mạnh của Internet mà đã kiên trì bền bỉ dựng nên Alibaba. Xét đến cùng, tầm vóc cuộc đời bên ngoài của một con người vốn do chính trí tưởng tượng nội tại của người đó định đoạt. Tưởng tượng nội tại này vừa mang yếu tố di truyền, vừa chịu ảnh hưởng cực kỳ sâu sắc từ gia đình gốc — chính trong không - thời gian thuở ban sơ của sinh mệnh ấy, chúng ta đã hình thành nên những thước đo nguyên thủy để đo lường thời gian, không gian, các mối quan hệ, thân thể và tiền bạc.
Socrates từng nói: "Một cuộc đời không được soi xét thì không đáng sống." Nếu bạn không tự phản tỉnh, soi xét chính mình, thì sinh mệnh chỉ là một vòng luân hồi giản đơn: con người trưởng thành của bạn sẽ diễn lại y nguyên bản "bản đồ tâm thức" đã được định hình từ thuở ấu thơ. Nhưng nếu có ý thức chủ động thay đổi, bạn hoàn toàn có thể thông qua việc thức tỉnh và tái định hình thước đo lựa chọn của mình để sống cuộc đời mà bản thân hằng mong ước.
Tương tác: Từ tật đố hiểm độc đến lòng biết ơn
Căn nguyên của sự tật đố hiểm độc (Envy) là khi một người cảm thấy bản thân không thể tạo ra những điều tốt đẹp, cũng không thể sở hữu những điều tốt đẹp; từ đó, những điều tốt đẹp cùng những kẻ sở hữu chúng khiến người này thấy đối phương cao hơn mình một bậc, sinh ra cảm giác xấu hổ, tự ti. Tiếp theo đó là sự trỗi dậy của dục vọng hủy diệt — muốn tàn phá điều tốt đẹp và hủy hoại luôn cả người sở hữu nó.
Căn nguyên của lòng biết ơn là khi một người trải nghiệm sâu sắc rằng bản thân hoàn toàn có thể sáng tạo ra những điều tốt đẹp và sở hữu chúng, bản thân hoàn toàn có thể trở nên lớn mạnh. Đồng thời, họ cũng sẵn lòng thừa nhận rằng có những sự tồn tại vĩ đại hơn mình, và những điều tốt đẹp này thực chất là bắt nguồn từ sự tồn tại lớn lao ấy mà đến. Bởi thế, họ biết ơn sự hiện diện của một "Bạn" đầy thiện ý, và sẵn lòng cúi đầu trước người "Bạn" thiện ý đó.
Khi đứa trẻ sơ sinh cảm nhận được bầu sữa trù phú của người mẹ, mà người mẹ lại toàn tâm toàn ý nuôi nấng, thỏa mãn mình một cách vô điều kiện — không đòi hỏi đứa trẻ phải cúi đầu khuất phục, không cần cam chịu hay phải đem bất cứ thứ gì ra đánh đổi — thì thiện ý sâu sắc ấy sẽ giúp đứa trẻ có thể thỏa thuê bú mớm dòng sữa mẹ, thu nạp điều tốt đẹp nguyên sơ nhất này vào để bồi đắp sức mạnh cho chính mình. Khi đã cảm nhận sâu sắc thiện ý của người mẹ, đứa trẻ cũng sẽ sẵn lòng thừa nhận sự lớn mạnh của mẹ và cúi đầu trước mẹ; đó chính là sự hoàn tất của tiến trình gắn bó (attachment) mà chúng ta vẫn thường nhắc tới.
Một khi điều này đã được xác lập, mọi sự sẽ trở nên vô cùng khác biệt.
Đôi khi chúng ta vẫn tiến hành "giáo dục lòng biết ơn", thế nhưng, lòng biết ơn phải là thứ xuất phát từ tâm nguyện tự nhiên, là thứ sinh sôi một cách tự nhiên sau khi đứa trẻ đã cảm nhận trọn vẹn sự nuôi nấng tự nguyện của người mẹ và những người nuôi dưỡng khác. Trái lại, việc giáo dục lòng biết ơn của chúng ta hiện nay lại giống như kiểu giáo dục bi thảm hóa. Nghĩa là cứ bắt đứa trẻ phải chứng kiến cha mẹ và người lớn đã khổ cực, tiều tụy, cơ cực ra sao để nuôi nấng mình, rồi ép đứa trẻ phải biết ơn.
Thứ biết ơn như vậy mang đậm màu sắc của sự thiếu thốn, khốn cùng: một người mẹ ngập tràn cay đắng, và một đứa trẻ mang nặng mặc cảm tội lỗi. Đằng sau thứ biết ơn ấy rất có thể tiềm ẩn một sự tật đố hiểm độc khổng lồ: Trên mảnh đất cằn cỗi, kiệt quệ của người mẹ, làm sao có thể mọc lên một đứa trẻ lớn mạnh và tràn đầy dục vọng được? Đó nhất định là do đứa con đã hút cạn máu của mẹ!
Bởi thế, một xã hội lành mạnh, một gia đình tốt đẹp, tốt nhất là hãy để những người mới làm mẹ được nuôi dưỡng, bao bọc một cách đủ đầy. Có như vậy, họ mới có thể trở thành những người mẹ vững chãi, để rồi nuôi dưỡng nên những đứa trẻ tự khắc biết mang trong mình lòng biết ơn chân thành.
Hỏi: Có phải những người càng bình thường, hoặc nhóm người có thu nhập thấp, thì càng dễ chịu ảnh hưởng bởi hội chứng sợ tiền không? Hay là người càng dễ bị thay thế, càng không giúp ích được gì cho người khác, thì càng bị ảnh hưởng nặng nề?
Đáp: Trước hết, sự thay đổi quan niệm nơi tôi bắt nguồn từ người bạn gái cũ. Trong chuyện kiếm tiền, cô ấy hầu như không có bất kỳ rào cản tâm lý nào, và cô cũng chẳng tiếc công sức cải tạo tôi. Dẫu mang lại cho tôi không ít đau khổ, nhưng quả thực cô ấy đã thay đổi được tôi.
Thứ hai, nếu quan niệm của tôi không thay đổi, thu nhập từ việc viết sách, đi thuyết giảng hay mở công ty của tôi sẽ thấp hơn hiện tại rất nhiều. Và vì thu nhập quá bèo bọt, tôi sẽ chẳng còn tha thiết muốn làm những việc đó nữa; điều này rốt cuộc sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến mức độ dấn thân của tôi.
Thứ ba, nếu tôi không thay đổi quan niệm, công ty của tôi chắc chắn không thể mở nổi, hoặc chí ít là không thể phát triển lớn mạnh, bởi vì tôi sẽ bị người khác mặc sức bóc lột đủ đường; khi ấy việc mở công ty đối với tôi chẳng còn chút giá trị nào.
Trên thực tế, đây vẫn là một bài toán đối với tôi. Bấy lâu nay, thu nhập cá nhân từ việc viết lách và giảng dạy của tôi vượt xa thu nhập do công ty mang lại, song cục diện này đang biến chuyển hết sức mau lẹ. Quá trình thay đổi này cũng giúp tôi nhìn ra: đây chính là một mắt xích siêu quan trọng trong hành trình của người anh hùng nơi tôi.
Cuối cùng, bên cạnh tôi có nhiều người bạn sở hữu tầm ảnh hưởng khổng lồ, nhưng họ chắc chắn mắc hội chứng sợ tiền. Hậu quả là hoặc họ không thể mở nổi doanh nghiệp, hoặc công ty càng mở rộng quy mô thì họ lại càng kiệt quệ, công ty đối với họ chủ yếu chỉ là sự hao tổn tâm lực.
Ngược lại, những doanh nhân tinh hoa mà tôi quen biết — những người có thể chèo lái doanh nghiệp thành công rực rỡ và duy trì vị thế suốt nhiều năm ròng — đều là những người biết bảo vệ quyền lợi của mình một cách xuất sắc. Hơn nữa, một bộ phận trong số họ rõ ràng không hề bị lợi ích nuốt chửng; nhân tính của họ vì thế đạt đến độ thu phóng tự nhiên, cương nhu đúng lúc. Đó là nhóm người có độ chín muồi về nhân tính cao nhất mà tôi từng gặp, vượt xa cả những người nhìn bề ngoài có vẻ mang cảnh giới tu hành rất cao thâm.
Hỏi: Tôi thấy người khác làm một việc mà tôi không tán thành nhưng lại có thể kiếm ra tiền. Trên thực tế, những người có cấp độ còn kém xa tôi lại biết dùng một số mánh khóe để đạt được mục đích kiếm tiền. Tôi rất muốn làm theo, nhưng lại sợ không bền lâu, sợ sẽ mất trắng, chi bằng đừng bắt đầu còn hơn. Tôi làm vậy có phải là biểu hiện của sự yếu nhược không? Sự trong sạch về đạo đức của tôi cũng là giả tạo sao? Nếu tự thể nội tụ (cohesive self) của tôi vẫn chưa đạt tới trạng thái "tôi là tốt đẹp", có phải tôi sẽ vĩnh viễn không thể giải quyết được cảm xúc mâu thuẫn này?
Đáp: Chúng ta nhìn thấy rõ sự hiện diện của lòng đố kỵ: Họ kiếm được tiền, tiền của họ nhiều hơn bạn, và bạn đố kỵ.
Tiếp theo, tôi xin phân tích ba khả năng:
Khả năng thứ nhất: Người khác quả thực đã làm những việc trái với lương tâm, đó là điều ác, họ đang thông qua việc cướp đoạt của người khác để làm mạnh bản thân mình; điểm này bạn không muốn đồng lõa hay nhận diện.
Khả năng thứ hai: Việc họ làm không hề trái lương tâm, cũng chẳng hề phạm pháp, chỉ là phương pháp của họ vượt ngoài dự liệu của bạn. Họ có thể nghĩ ra và làm được những điều đó, còn bạn thì bất lực không làm nổi; bạn cũng đố kỵ như thường.
Khả năng thứ ba: Bạn sợ mình chỉ sở hữu được nhất thời mà không thể nắm giữ dài lâu. Cho nên, đây đích thị là biểu hiện của sự tật đố hiểm độc (Envy): bạn cảm thấy thứ tốt đẹp này bản thân vĩnh viễn không thể nào với tới. Kỳ thực, tiền tài là thứ kiếm được là cầm chắc trong tay rồi, chẳng phải sao?
Đúc kết lại, rất có khả năng bạn đang mang tâm lý tật đố hiểm độc (Envy) một cách hết sức rõ rệt.
TỪ PHÂN LIỆT ĐẾN CHỈNH HỢP
Hành trình của người hùng (tức quá trình tự hoàn thiện bản thân) là một tiến trình đi từ phân liệt đến chỉnh hợp. Thuở ban đầu, bản ngã của chúng ta quá đỗi mong manh. Để bảo vệ cái tôi yếu ớt ấy, ta buộc phải phân liệt và đẩy những nội dung tâm linh không thể chịu đựng nổi ra bên ngoài — chẳng hạn như sự yếu đuối của tự thể, hay nỗi thù hận trong các mối quan hệ.
Đồng thời, chúng ta sẽ phóng chiếu những cái “xấu” vốn khởi nguồn từ sâu thẳm nội tâm mình ra thế giới bên ngoài. Trước tiên, ta cần xây dựng một mối quan hệ nhị nguyên, cần có một “bạn” để dung chứa những cái “xấu” ấy. Khi nhận thấy chừng đó vẫn chưa đủ, ta tiếp tục thiết lập mối quan hệ tam nguyên, cần thêm một “nó” để tiếp nhận những cái “xấu” này.
Nhân tính và thế giới sở dĩ phức tạp đến vậy, theo tôi thấy, chính là kết quả của việc cái “xấu” không ngừng bị phân liệt và phóng chiếu. Cùng với sự lớn mạnh dần lên của bản ngã, một “tự ngã nội tụ” được xây dựng trên nền tảng niềm tin “về cơ bản tôi là người tốt” rốt cuộc cũng được định hình. Sau đó, con người mới bắt đầu làm một công việc trái ngược: chỉnh hợp lại những nội dung tâm linh từng bị phân liệt đẩy ra ngoài và bị coi là “xấu”. Bởi vậy, dấu mốc cho sự trưởng thành về mặt nhân tính của một con người chính là: có thể đối diện, xử lý, dung nạp và chuyển hóa cái “xấu” bên trong chính mình cũng như trong các mối quan hệ.
Nếu quan sát kỹ lưỡng, bạn sẽ nhận ra rằng những thứ từng bị xem là “xấu” ấy lại thường chính là bản thân sức sống. Chẳng hạn như: tự luyến, tính dục, tính công kích và tiền bạc. Vì phân liệt, bạn sẽ trở nên đơn giản, nhưng đồng thời cũng trở nên suy nhược; vì chỉnh hợp, bạn sẽ trở nên phức tạp, nhưng đồng thời cũng trở nên mạnh mẽ. Cuối cùng, khi bạn đã hoàn toàn chỉnh hợp được mâu thuẫn giữa hai chiều kích mạnh - yếu và thiện - ác, bạn mới đạt tới sự giản đơn đích thực.
Khi đại dương đến làm người tình của bạn,
Hãy lập tức, mau chóng kết hôn với nàng,
Vì Chúa!
Đừng trì hoãn!
Trên đời này chẳng có món quà nào tuyệt vời hơn thế.
Dẫu có trải qua bao nhiêu kiếm tìm
Mới giúp tôi ngộ ra điều này.
Một con chim ưng săn mồi hoàn mỹ, vô duyên vô cớ, đã đáp xuống vai bạn,
Và thuộc trọn về bạn.
— Rumi
Thiên chấp, phân liệt và chỉnh hợp
Tin rằng bạn nhất định từng suy ngẫm về câu hỏi này: Vì sao nhân tính lại phức tạp đến thế? Sự phức tạp ấy đã tiến hóa ra sao?
Câu trả lời của tôi là: Nguyên nhân chủ yếu khiến nhân tính trở nên phức tạp là do chúng ta không ngừng tìm cách cắt xẻ và phóng chiếu cái “xấu” mà bản thân không mong muốn ra bên ngoài. Nếu không làm công việc cắt rời và phóng chiếu đó, nhân tính sẽ mãi là một thể thuần nhất, trọn vẹn, và sự phức tạp sẽ không bao giờ nảy sinh.
Vì sao lại phải không ngừng cắt rời? Bởi lẽ, khi tự thể của một người chưa đủ lớn mạnh và kiên cường, để bảo vệ tự thể, người đó buộc phải tách cái “xấu” mà tự thể không thể dung nạp ra ngoài, lấy đó để bảo vệ cảm giác “về cơ bản tôi là tốt”, từ đó tạo nên lực hướng tâm, gắn kết các chất liệu tâm linh lại với nhau.
Vì sao lại phải không ngừng phóng chiếu? Cái gọi là “phóng chiếu”, đặc biệt là phóng chiếu cái “xấu”, chính là đem cái “xấu” đã bị cắt rời khỏi bản thân gán lên người khác hoặc những tồn tại khác. Việc này quả thực không mấy quang minh chính đại, nhưng lại là điều tất yếu. Bởi lẽ, cái gọi là “xấu” cũng là sự tồn tại căn bản của nhân tính, cũng là một phần của tự thể. Chúng ta cần phóng chiếu những cái “xấu” này lên chiếc màn hình ngoại giới, có như vậy ta mới nhìn thấy được sự tồn tại của chúng.
Con người không thể giản đơn tiêu diệt những yếu tố tâm linh ấy đi, vì làm như vậy, một nhân tính trọn vẹn sẽ không thể nào tồn tại. Cho nên, khi ta chưa thể nhìn thấy những nhân tính này trên chính bản thân mình, ta cần nhìn thấy chúng trên người khác, từ đó học cách chung sống hòa hợp với chúng.
Khi một người đã hình thành nên tự ngã nội tụ, việc cắt rời và phóng chiếu mới có thể chuyển hóa thành dung nạp và chỉnh hợp. Một người như vậy có thể trực diện đối mặt với cái “xấu” trong nhân tính, đồng thời có thể nhận biết, xử lý và cuối cùng hoàn thành việc chỉnh hợp chúng.
Có thể đối diện, xử lý và chỉnh hợp cái “xấu” ở mức độ thích hợp là một dấu hiệu của sự trưởng thành nhân tính. Còn người đã hoàn thành trọn vẹn sự chỉnh hợp đồng nghĩa với việc đã đi hết hành trình người hùng, trở thành một “người hùng” như Joseph Campbell từng nói. Đừng vội vàng nghĩ rằng mình đã đi hết hành trình ấy; đó là đặc quyền của số rất ít người, còn tuyệt đại đa số chúng ta đều vẫn đang trên đường, và luôn luôn lặp đi lặp lại những bước thăng trầm.
Trong phân tâm học có một khái niệm vô cùng quan trọng — “tâm vị” (Position), do Melanie Klein, bậc đại thụ của lý thuyết quan hệ khách thể, đề xướng. Bà cho rằng, sự phát triển tâm lý của trẻ sơ sinh trước một tuổi trải qua hai tâm vị khác nhau: một là vị thế thiên chấp - phân liệt (paranoid-schizoid position), hai là vị thế u uất (depressive position).
Trong hoàn cảnh bình thường, trẻ sơ sinh trước ba tháng tuổi sẽ ở vị thế thiên chấp - phân liệt, còn sau ba tháng tuổi có thể phát triển lên vị thế u uất.
Cái gọi là “phân liệt” chính là việc chia sự vật làm đôi, còn “thiên chấp” nghĩa là chỉ bám chặt vào một đầu cực đoan. Ví dụ, đứa trẻ sẽ có hai sự phân liệt căn bản: người mẹ tốt và người mẹ xấu, đứa trẻ ngoan và đứa trẻ hư. Diễn đạt bằng thuật ngữ chuyên môn là: khách thể tốt và khách thể xấu, tự thể tốt và tự thể xấu. Người có thể thỏa mãn nhu cầu của trẻ chính là người mẹ tốt, và khi đó đứa trẻ cũng là đứa trẻ ngoan; người không thể thỏa mãn nhu cầu của trẻ chính là người mẹ xấu, và đứa trẻ cũng lập tức biến thành đứa trẻ hư.
Đứa trẻ trước ba tháng tuổi không có năng lực xử lý một thông tin phức tạp — rằng người mẹ vừa có mặt tốt lại vừa có mặt chưa tốt. Chúng cho rằng trong một thời không nhất định, mẹ và bản thân hoặc là toàn hảo (hoàn toàn tốt), hoặc là toàn hoại (hoàn toàn xấu) — đó chính là cái gọi là “thiên chấp”. Ở một số người trưởng thành có tâm lý phát triển chưa chín muồi, bạn sẽ nhìn thấy rất rõ điều này. Ban đầu khi mới thiết lập mối quan hệ với bạn, họ cảm thấy bạn toàn hảo, tựa như một tồn tại lý tưởng tuyệt đối. Nhưng một khi họ nảy sinh chút bất mãn với bạn, họ sẽ lập tức xem bạn là một tồn tại hoàn toàn xấu xa.
Ban đầu, đứa trẻ sơ sinh sống trong trạng thái tự luyến toàn năng và cảm giác hủy diệt toàn năng vô cùng nặng nề, song hành cùng việc chưa hình thành được tính ổn định của khách thể. Lúc này, đứa trẻ đối diện với một mâu thuẫn khổng lồ: khi mẹ thỏa mãn nó, nó có cảm giác tuyệt mỹ như một đấng thần linh toàn năng; nhưng khi mẹ không thỏa mãn nó, nó sẽ dấy lên dục vọng hủy diệt toàn năng. Khi đó, nó thực sự lo sợ bản thân giống như một “ác ma” toàn năng, hễ phát ra một đòn công kích là người mẹ sẽ bị hủy diệt hoàn toàn.
Đồng thời, điều này lại dẫn tới một mâu thuẫn lớn khác: đứa trẻ trước ba tháng tuổi về cơ bản không có năng lực hành động, phần lớn nhu cầu đều phụ thuộc vào sự chăm sóc của người nuôi dưỡng. Khi nhu cầu không được đáp ứng, nó sẽ trải nghiệm sự bất lực tột cùng. Đó là một cảm giác yếu đuối tột bậc của tự thể. Nói một cách chuẩn xác, đứa trẻ sẽ nếm trải cảm giác bản thân bị nghiền nát, bị hủy diệt.
Dù là trải nghiệm tự thể bị hủy diệt, hay nỗi tưởng tượng sợ hãi khách thể bị hủy hoại, đều là những thứ mà tâm trí non nớt của trẻ không thể gánh vác nổi. Trên thực tế, đây cũng là điều mà toàn thể nhân loại không thể chịu đựng. Do đó, cá nhân ở vị thế thiên chấp - phân liệt bắt buộc phải phân liệt và phóng chiếu chúng ra ngoài. Nói một cách tổng thể, tôi thích gọi quá trình này là “cắt rời”.
Cắt rời cái “xấu” ra ngoài là để bảo vệ phần “tốt”.
Nữ minh tinh gợi cảm người Mỹ Marilyn Monroe từng có những trải nghiệm tột cùng về khía cạnh này: bà từng trải qua mười gia đình nhận nuôi khác nhau. Bởi thế, bạn có thể thấu hiểu nỗi bất hạnh của Monroe đã bắt đầu như thế nào, và cũng có thể suy đoán được rằng bà chắc chắn là một người cực kỳ khó chung sống.
Vị thế thiên chấp - phân liệt còn được dịch là “vị thế thiên chấp hoang tưởng”. Nghĩa là khi ở vị thế này, con người sẽ nảy sinh đủ loại tưởng tượng nghiêm trọng về sự sáng tạo toàn năng và hủy diệt toàn năng. Những bệnh nhân tâm thần phân liệt nặng nhất sẽ sống trực tiếp trong các hoang tưởng đó; còn với người bình thường, những nội dung này sẽ đọng lại trong vô thức, thể hiện qua những giấc mơ, các câu chuyện thần thoại, hay trong phim ảnh, tiểu thuyết.
Dưới sự nuôi dưỡng bình thường, trẻ sau ba tháng tuổi sẽ bước vào vị thế u uất. Lúc này, đứa trẻ bắt đầu nhận thức được rằng người mẹ tốt và người mẹ xấu thực chất là cùng một người, đứa trẻ ngoan và đứa trẻ hư cũng là cùng một bản thể. Điều này đánh dấu sự khởi đầu của quá trình chỉnh hợp.
Chỉnh hợp tuy là một chức năng tâm lý cao cấp hơn, nhưng lại rất dễ khiến con người cảm thấy không được thỏa thuê, thống khoái. Bởi vì chỉnh hợp đồng nghĩa với việc bạn nhìn thấy khách thể vừa có điểm tốt lại vừa có điểm xấu, nên bạn không thể yêu một cách hả hê, cũng không thể hận một cách sòng phẳng, dứt khoát. Tương tự như vậy, chính bản thân bạn cũng vừa có tốt vừa có xấu, điều này khiến cho tình yêu lẫn lòng thù hận của bạn đều thiếu đi lý do tuyệt đối. Khi yêu, bạn lo sợ mình chưa đủ tốt; còn khi hận, bạn lại nghĩ: “Đối phương dẫu chẳng ra gì, nhưng mình cũng có hơn ai đâu”, thế là khó lòng hận một cách đường hoàng, chính trực.
Một số thân chủ của tôi, thuận theo tiến triển của quá trình tham vấn, bỗng một ngày nhận ra mình rơi vào một trạng thái có phần tẻ nhạt, vô vị. Qua phân tích, chúng tôi nhận thấy họ đã từ vị thế thiên chấp - phân liệt bước sang vị thế u uất. Họ nhận ra mình không còn có thể sống trong thứ yêu ghét giản đơn rạch ròi nữa, mà phải sống trong sự phức tạp: trong yêu có hận, trong hận có yêu, trong tốt có xấu, trong xấu có tốt. Điều này khiến họ vô cùng giằng xé, và sự giằng xé mang lại cảm giác buồn tẻ.
Thế nhưng, các chức năng hiện thực của họ lại được củng cố rất nhiều. Dẫu cho thế giới tưởng tượng của bản thân có trở nên đôi phần tẻ nhạt, nhưng đời sống hiện thực lại trở nên rực rỡ, sống động hơn hẳn. Đặc biệt là khi có thể cảm nhận được sự kết nối chân thực với người khác, họ rất dễ xúc động rơi nước mắt, rồi cảm thán thốt lên: “Đây mới chính là cuộc sống, đây mới là sinh mệnh.”
Vì sao lại gọi là “vị thế u uất”? Bởi vì lúc này, đứa trẻ đã có năng lực biết “cắn rứt lương tâm” (nội cửu / cảm giác tội lỗi). Cái gọi là “nội cửu” là khi đứa trẻ phát hiện ra rằng đôi khi mình lại đi công kích chính khách thể tốt, từ đó sinh ra cảm giác tội lỗi, và cảm giác tội lỗi ấy dẫn tới sự u uất.
Khi còn sống trong sự thiên chấp - phân liệt, một người không hề có cảm giác tội lỗi. Bởi vì họ cho rằng mỗi khi mình phát động tấn công khách thể, đó đều là vì khách thể quá đỗi tồi tệ. Tấn công một khách thể xấu xa thì việc gì phải cắn rứt lương tâm? Tuy nhiên, họ sẽ sợ hãi, vì lo lắng khách thể xấu xa kia sẽ quay lại trả thù mình.
Xét từ góc độ hiện thực, tuyệt đại đa số người trưởng thành đều có thể ở vị thế u uất. Song trên thực tế, vẫn có quá nhiều người mắc kẹt ở vị thế thiên chấp - phân liệt, thậm chí cả đời chưa từng tiến tới sự chỉnh hợp, và hành trình người hùng của họ chưa từng một lần thực sự bắt đầu.
Đối với những ai có thể bước vào vị thế u uất ngay từ thuở đầu đời, sự chỉnh hợp này là khởi đầu của một số phận may mắn. Nhưng đó cũng chỉ là một sự khởi đầu, bởi để hoàn thành trọn vẹn việc chỉnh hợp tuyệt đối là một chặng đường dài đằng đẵng. Tất cả chúng ta đều đang dấn bước trên con đường ấy.
Bạn có thể tốt, cũng có thể xấu
Cách đây ít lâu, tôi có xem lại bộ phim Ỷ Thiên Đồ Long Ký: Ma Giáo Giáo Chủ do Lý Liên Kiệt thủ vai chính. Nhân vật Trương Tam Phong do Lý Liên Kiệt thể hiện trong phim mang lại cảm giác vô cùng hả hê, thống khoái. Chẳng hạn như khi Diệt Tuyệt Sư Thái đánh vợ của Trương Thúy Sơn (đệ tử của Trương Tam Phong, tức mẹ của Trương Vô Kỵ là Ân Tố Tố), Trương Tam Phong vừa nhìn thấy liền không nói nửa lời, lao tới tát cho Diệt Tuyệt Sư Thái một trận tối tăm mặt mũi, rồi giữ luôn thanh kiếm Ỷ Thiên của bà ta.
Trong sự thống khoái ấy phảng phất phong vị của sự thiên chấp - phân liệt: Diệt Tuyệt Sư Thái được khắc họa vô cùng phi lý, mang hình tượng của một kẻ bách hại; đúng lúc ấy, một siêu cao thủ tựa như vị thần toàn năng xuất hiện, trừng phạt đích đáng kẻ ác nhân kia, khiến người xem cảm thấy hả lòng hả dạ.
Tôi đã nhiều lần nghe một số bậc phụ huynh than phiền rằng: con cái họ thường xuyên nói dối, họ dạy dỗ đủ đường, thậm chí đánh mắng cũng không sửa được thói quen nói dối của con. Tôi hỏi họ: “Trong những tình huống đó, nếu ngay từ đầu đứa trẻ nói thật với anh chị, anh chị có chấp nhận nổi không?” Họ ngớ người một lúc rồi đáp: “Không chấp nhận được.” Đã không thể chấp nhận việc con nói thật, vậy cớ sao lại ép buộc con nhất định phải thành thật với mình?
Một tâm trí lành mạnh là: “Tôi vừa có thể là A, vừa có thể là -A”. Điều này thể hiện sự chỉnh hợp và tính linh hoạt. Một tâm trí tương đối phân liệt là: “Tôi chỉ có thể là A, không được phép là -A”. Còn tâm trí có vấn đề nghiêm trọng nhất là: “Tôi vừa không thể là A, lại vừa không thể là -A”. Khi cha mẹ vừa không chấp nhận việc con nói dối, lại vừa không thể dung nạp sự chân thật của con, chính là đang dồn đứa trẻ vào mâu thuẫn cùng cực: “Con vừa không thể là A, lại vừa không thể là -A”. Kiểu mâu thuẫn này được gọi là “ràng buộc kép” (Double Bind)¹, thường thấy trong rất nhiều chứng bệnh tâm thần nghiêm trọng.
¹ Ràng buộc kép (Double Bind): Lý thuyết về nguyên nhân gây bệnh tâm thần phân liệt do nhà tâm lý học người Anh Gregory Bateson đề xuất năm 1956. Ông cho rằng trong quá trình giao tiếp, một người đồng thời phát ra những thông điệp mâu thuẫn, triệt tiêu lẫn nhau ở các tầng giao tiếp khác nhau, mà đối phương buộc phải phản hồi; song dù phản hồi theo cách nào, đối phương cũng đều bị cự tuyệt hoặc phủ nhận, dễ đẩy con người vào thế tiến thoái lưỡng nan. Các triệu chứng tâm thần phân liệt chính là sự biểu đạt cho nỗi đau đớn này. Sau này, khái niệm này được ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực và rất phổ biến trong đời sống. Khi một yêu cầu chứa đựng những thông điệp mâu thuẫn, khiến đối phương làm hay không làm đều sai, đó chính là ràng buộc kép.
Nhiều bệnh nhân tâm thần từng trải qua ràng buộc kép; trong quá trình trưởng thành, họ thường có cảm giác bị phân liệt, nội tâm luôn trong trạng thái xung đột, nhận thức về bản thân và thế giới xung quanh mơ hồ, bất định, thường đi kèm với sự hỗn loạn về cảm xúc và tư duy. Điều khiến đứa trẻ bị rơi vào ràng buộc kép đau đớn nhất là sự tuyệt vọng và phát điên, bị xé rách vụn vỡ, bởi vì dù đứa trẻ phản ứng thế nào đi chăng nữa thì cũng đều là sai.
Nói tiếp về sự chân thành. Từ trước đến nay, tôi luôn là một người vô cùng chân thành. Đến mức trong một lần tranh luận với một đồng nghiệp rất hiểu tôi, vị đồng nghiệp ấy cũng nói: Anh ấy từng tự hỏi, trong số những người mình quen biết, liệu có ai chân thành hơn Vũ Chí Hồng không? Cuối cùng anh ấy kết luận: Không có.
Khi cùng chuyên gia phân tích của tôi mổ xẻ về sự chân thành này, tôi đã tìm ra một câu trả lời khả dĩ: Một người đàn ông như vậy thực chất đang ở trong trạng thái cộng sinh ở mức độ rất sâu với người mẹ. Mà trong mối quan hệ cộng sinh, đôi bên đòi hỏi phải tuyệt đối chân thành, nếu không mối liên kết cộng sinh sẽ bị phá vỡ.
Về sau, khi không ngừng suy ngẫm về sự chân thành thái quá của bản thân, tôi lại nghĩ tới một câu trả lời không mấy dễ chịu khác: đó là sự thuận tùng (phục tùng/nhún nhường). Bạn xem, tôi hoàn toàn quang minh lỗi lạc, tôi có thể phơi bày mọi thứ cho bạn thấy, bạn không cần phải đề phòng tôi, không cần sợ hãi tôi, tôi tuyệt đối sẽ không trút tính công kích của mình lên người bạn.
Thế nhưng, tôi có thực sự thản đãng, vô tà đến mức ấy không? Tuyệt đối không. Tôi cũng có các động lực về tự luyến, tính dục và tính công kích như bao người, tôi cũng khát khao tiền bạc; thế nhưng trong một khoảng thời gian rất dài, tôi đã chặn đứng những thứ phức tạp trong nhân tính ấy ra khỏi ý thức của mình, đè nén những nét nhân tính bình thường nhất này xuống cõi vô thức, nhờ vậy mới có thể biểu hiện ra sự thản nhiên, thanh khiết đến thế.
Khi tôi vô cùng thản nhiên trò chuyện với chuyên gia phân tích về thu nhập và danh tiếng của mình, tôi ngỡ rằng mình chỉ đang thuật lại sự thật khách quan mà thôi. Cho đến khi chuyên gia phân tích liên tục nhắc nhở, tôi mới giật mình nhận ra: khi tôi nói những điều ấy, thực chất giữa tôi và anh ấy đang ngầm thiết lập một mối quan hệ “ai cao ai thấp, ai giỏi giang hơn ai”, nhưng bản thân tôi lại hoàn toàn gạt phăng ý thức cạnh tranh này ra ngoài nhận thức.
Một người trông có vẻ đơn giản như tôi, thực chất lại xây dựng nên một mê cung vô cùng phức tạp trong cõi vô thức. Ngược lại, những bậc tiền nhân như Vương Dương Minh — người dường như vô cùng phức tạp giữa thế sự trần ai — lại sở hữu một tâm hồn thuần khiết, giản đơn nhất.
Ở ngoài đời thực, tôi từng gặp gỡ vài người đạt tới cảnh giới “tri hành hợp nhất”, họ đều là những doanh nhân tinh hoa kiệt xuất. Họ chia sẻ rằng bản thân từ trước đến nay muốn làm gì là làm nấy, tuyệt đối không đè nén, cuộc đời sảng khoái tột cùng, không có bất kỳ điều gì phải hối tiếc. Đồng thời, theo như tôi biết, họ cũng chẳng hề làm điều gì xấu xa vượt quá giới hạn.
Tôi nghĩ, cách diễn đạt “bạn có thể tốt, cũng có thể xấu” thực ra vẫn còn xa mới đủ; cách diễn đạt thỏa đáng hơn phải là: “Bạn có thể triển lộ bất kỳ một nét nhân tính nào của chính mình.” Bản thân chúng vốn dĩ đã vượt lên trên khái niệm “tốt - xấu”, và đó cũng chính là sự chỉnh hợp tuyệt vời nhất.
Bạn có thể chấp niệm, cũng có thể buông bỏ
Trong truyện ngắn Tấn công tiệm bánh mì lần nữa (再劫面包店), nhà văn Nhật Bản Haruki Murakami có kể lại một câu chuyện:
Một đêm nọ, đôi vợ chồng trẻ mới cưới bỗng dưng thức giấc, đói bụng cồn cào. Họ lùng sục vét sạch mọi đồ ăn trong nhà nhưng bụng vẫn đói meo. Người vợ nói: “Em chưa bao giờ đói cồn cào đến mức này.”
Lúc ấy, nhân vật “tôi” bất giác buột miệng một câu: “Anh từng đi cướp tiệm bánh mì.”
Hóa ra thời trẻ, “tôi” từng cùng một người bạn chí cốt đi cướp một tiệm bánh mì, không phải vì tiền mà chỉ vì muốn có bánh mì để ăn.
Vụ cướp diễn ra rất thuận lợi, ông chủ tiệm bánh không hề chống cự. Tuy nhiên, như một sự trao đổi, ông ta mời hai chàng trai trẻ ngồi lại cùng nghe bản nhạc của Wagner với mình. Hai người ngập ngừng một lát rồi cũng đồng ý. Dù sao thì, làm như vậy sự việc không còn là “cướp” bánh mì nữa, mà đã biến thành “trao đổi”.
Sau sự việc đó, “tôi” và người bạn vô cùng chấn động, tranh luận suốt nhiều ngày liền xem rốt cuộc đi cướp tốt hơn hay đổi lấy bánh mì tốt hơn. Về sau, chẳng hiểu vì lý do gì, hai người hoàn toàn cắt đứt liên lạc, không bao giờ qua lại với nhau nữa.
Khi nghe chồng kể lại chuyện này, người vợ nói: “Không còn nghi ngờ gì nữa, chúng ta đã bị nguyền rủa!”
“Không chỉ anh bị nguyền rủa, mà em thấy cả em cũng bị nguyền rủa lây.” Người vợ khẳng định rằng đây chính là căn nguyên của cơn đói kỳ quặc đêm nay. Muốn hóa giải nó, nhất định phải hoàn thành tâm nguyện còn dang dở kia — đường đường chính chính đi cướp tiệm bánh mì một lần nữa.
Rốt cuộc, hai vợ chồng son lái xe trong đêm, mang theo mặt nạ và khẩu súng mà người vợ đã chuẩn bị sẵn từ lâu, thực sự đi cướp một tiệm bánh... một cửa hàng McDonald's.
Ngay từ hồi học cao học, tôi đã đọc truyện ngắn này. Khi ấy tôi thấy nó thật kỳ quặc, chẳng hiểu Murakami muốn truyền tải điều gì, nhưng câu chuyện lại để lại trong tôi ấn tượng sâu sắc, khiến tôi ghi nhớ rành rọt từng chi tiết.
Nhiều năm sau, trong một lần ngồi đàm đạo với những người bạn làm tham vấn tâm lý, tôi bỗng nhiên bừng ngộ ngụ ý của truyện ngắn này: Một tâm nguyện chưa được thực hiện sẽ mang theo một sức mạnh tựa như lời nguyền.
Vốn dĩ hai chàng trai trẻ có thể dùng vũ lực để trực tiếp cướp lấy bánh mì, khi ấy quyền quyết định thuộc về họ. Nhưng sau lời đề nghị của ông chủ, cuối cùng họ đồng ý ngồi lại nghe nhạc Wagner; do đó, sự việc đã biến thành một cuộc giao dịch, và ý chí của ông chủ tiệm đã chiếm thế thượng phong. Trong tình thế hoàn toàn yếu thế, chỉ dựa vào một lời đề nghị khôn ngoan, ông chủ đã xoay chuyển cục diện trong chớp mắt. Có thể nói, ông ta đã dùng đòn “bốn lạng bạt ngàn cân” để đánh bại hai kẻ cướp trẻ tuổi.
Hai chàng trai không hiểu nổi rốt cuộc điều gì đã xảy ra, nhưng cả hai đều nếm trải sâu sắc cảm giác bị đánh bại, từ đó sinh ra nỗi xấu hổ nhục nhã. Về sau, để trốn tránh nỗi xấu hổ do sự yếu nhược của tự thể mang lại, hai người dứt khoát không nhìn mặt nhau nữa.
Đó là một cuộc đấu trí, so kè ý chí — và trên thế giới này, vô số sự việc đều ẩn giấu những cuộc đọ sức như vậy. Thế nên, sự thật khách quan ở cấp độ sự việc bỗng không còn quá quan trọng nữa, mà cuộc đọ sức về ý chí cá nhân ẩn giấu đằng sau sự thật ấy mới là điều cốt lõi.
Thầy Tăng Kỳ Phong là một bậc thầy chơi trò chơi tâm lý này. Thầy kể, khi đi ăn nhà hàng, thỉnh thoảng cảm thấy thái độ phục vụ của nhân viên không tốt, thầy sẽ chơi một ván cờ. Lúc thanh toán, thầy cố tình chỉ vào một món ăn rất rẻ và nói: “Chà, món này bên em định giá rẻ quá thể. Nào nào, để anh trả thêm cho mấy đứa ít tiền nhé.” Thực ra chỉ là vài đồng bạc lẻ, và nhân viên nhà hàng chắc chắn sẽ nhận. Nhưng ngay khoảnh khắc ấy, quyền kiểm soát mối quan hệ lập tức đảo chiều, khiến các nhân viên phục vụ sau đó đều ngơ ngác, bối rối.
Những lúc như thế, dù là ông chủ tiệm bánh mì hay thầy Tăng Kỳ Phong, đều khó lòng gọi là có thiện ý; ngược lại, đó là một chấp niệm: mình phải là người định đoạt, mình phải nói là được.
Tôi từng chứng kiến một câu chuyện thế này: Một cụ ông 80 tuổi, trong suốt chiều dài 47 năm đằng đẵng không ngừng tìm kiếm mối tình đầu của mình. Cuối cùng, thông qua một tòa soạn báo, tâm nguyện của cụ đã thành, cụ dò ra tung tích của người xưa. Năm xưa, cụ và mối tình đầu vì sự phản đối của tổ chức mà không thể kết duyên, cụ ôm mối canh cánh bên lòng suốt ngần ấy năm trời, dành hơn nửa cuộc đời để tìm kiếm bóng hình xưa cũ.
Những câu chuyện như vậy có rất nhiều. Trong phòng tham vấn, tôi cũng từng gặp vài người đã ngoài năm mươi tuổi nhưng vẫn ôm giữ chấp niệm tương tự với mối tình đầu.
Thứ chấp niệm này, liệu có phải là tình yêu không? Có lẽ có chứa đựng thành phần của tình yêu, nhưng nếu soi chiếu theo lý thuyết tâm vị của chúng ta, đây chính là biểu hiện của việc mắc kẹt trong vị thế thiên chấp - phân liệt.
Một trong những sự thật lớn nhất của kiếp nhân sinh là: có những ước nguyện bạn định sẵn là không thể nào thực hiện được. Vậy thì phải đối diện với những ước nguyện bất khả thi ấy ra sao? Điều này liên quan đến một khái niệm khác trong phân tâm học — “tiến trình tang chế/đau buồn” (Mourning process / Quá trình Ai Thương). Phân tâm học cho rằng, bất kỳ sự mất mát nào cũng dẫn đến nỗi đau buồn thương tiếc. Để cho những cảm xúc đau buồn ấy được tự nhiên tuôn chảy, cho đến khi ở tiến trình cảm xúc, tiến trình cơ thể và tiến trình lý trí đều chấp nhận sự thật rằng mất mát đã xảy ra — toàn bộ tiến trình trọn vẹn ấy chính là tiến trình tang chế.
Khi tiến trình đau buồn không được diễn ra suôn sẻ, năng lượng của một người sẽ tiếp tục giậm chân tại chỗ, dồn hết vào việc giằng co, đọ sức với sự mất mát. Nếu một sự việc tích tụ quá nhiều năng lượng, nó sẽ khiến người đó không còn chút năng lượng tâm lý nào để làm những việc khác trong đời.
Yếu tố then chốt quyết định một đứa trẻ sau ba tháng tuổi có thể bước vào vị thế u uất hay không chính là việc đứa trẻ có cảm nhận được đầy đủ tình yêu thương của người mẹ hay không. Khi đã cảm nhận trọn vẹn, nó sẽ không thể tiếp tục dùng phương thức hoang tưởng thiên chấp để công kích mẹ nữa. Hễ phát động công kích, nó sẽ cảm nhận được sự giằng xé do cảm giác tội lỗi mang lại.
Về điều này, rất nhiều chuyên gia tham vấn tâm lý giàu kinh nghiệm đều từng thấm thía. Họ thường nghe thân chủ bộc bạch: “Tôi yêu quý anh/chị dường ấy, làm sao nỡ lòng công kích anh/chị nặng nề?” Đương nhiên, đây vẫn chưa phải là sự chỉnh hợp trọn vẹn. Chỉnh hợp trọn vẹn có nghĩa là: Tôi có thể công kích bạn, cũng có thể buông bỏ sự công kích đối với bạn; tôi có thể yêu bạn, cũng có thể ghét bạn, hai điều này hoàn toàn có thể đồng thời hiện hữu.
Cảm nhận được thế giới này có tình yêu thương chính là chìa khóa để buông bỏ sự thiên chấp.
Dẫu người đời thường bảo: chỉ có kẻ thiên chấp (hoang tưởng) mới có thể sinh tồn, và thực tế trên người một số nhân vật thành đạt, ta thường thấy sự thiên chấp kiểu “một khi tôi đã bắt đầu việc gì là phải theo đuổi tới cùng”; nhưng nếu chỉ duy trì duy nhất cảm giác này, con người sẽ đánh mất đi tính linh hoạt. Một người bạn doanh nhân của tôi từng gặp vài trục trặc trong việc kinh doanh, mang lại cho anh nỗi cảm giác thất bại ghê gớm. Khi trò chuyện với anh, tôi nhận ra chính sự thất bại đã đem đến cho anh nỗi hổ thẹn tột cùng; lúc ấy, anh lờ mờ cảm thấy dường như có một thế lực thù địch đang chống lại mình, còn những người xung quanh dường như chỉ chực chờ để xem trò cười của anh.
Sau khi ý thức được mối thù địch tiềm ẩn ấy, anh nhìn lại thực tại: trước tiên, anh thấy bạn bè và gia đình xung quanh phần lớn đều sẵn sàng hỗ trợ anh về mọi mặt. Tiếp đó, anh ngẫm ra rằng những thất bại này vốn mang tính trung tính, tất cả chỉ là sự tôi luyện mà thôi. Nếu không chỉ về mặt thực tế anh bị giáng một đòn, mà về mặt cảm nhận, bản ngã của anh cũng vì thế mà trở nên yếu ớt hơn, thì quả thực chẳng khác nào anh đang hứng chịu một đòn tấn công thù địch. Nhưng nếu anh đàng hoàng đối mặt với những vấn đề này — hoặc là giải quyết chúng, hoặc xem chúng như những bài học kinh nghiệm — thì bản ngã của anh rốt cuộc sẽ trở nên mạnh mẽ hơn, và doanh nghiệp của anh cũng sẽ đồng thời lớn mạnh theo. Nghĩ được như vậy, mọi thất bại bỗng chốc hóa thành những thiện ý.
Cho nên, về mặt căn bản, chính là bạn đang không ngừng tiến bước tới sự vững mạnh.
Sự chỉnh hợp cuối cùng
Để một người có thể buông bỏ chấp niệm, tiền đề là: thế giới bên ngoài phải là một “bạn” đầy thiện ý. Buông bỏ chấp niệm cũng giống như buông bỏ vũ khí. Nếu thế giới bên ngoài là một “nó” đầy thù địch, lẽ tự nhiên “tôi” không thể nào hạ vũ khí xuống. Trừ phi “tôi” quá sợ hãi bị “nó” hủy diệt mà buộc lòng phải đầu hàng, nhưng khi đó sẽ nảy sinh nỗi nhục nhã ê chề. Hơn nữa, sự quy hàng hay thuận tùng lúc này chắc chắn chỉ là bề nổi; nơi đáy sâu nội tâm khó lòng phát giác, “tôi” sẽ tự đào một con hào sâu hoắm, hoặc dựng lên một bức tường thành vô hình trong tâm trí nhằm ngăn cách “tôi” với thế giới bên ngoài.
Khi “tôi” đã xác định được rằng ngoại giới là một “bạn” đầy thiện ý, lại nảy sinh một câu hỏi: Nếu như người “bạn” thiện ý ấy biến mất thì sao? “Tôi” phải làm thế nào?
Một người bạn tri kỷ của tôi có người mẹ đột ngột phát hiện mắc bệnh ung thư nan y rồi nhanh chóng qua đời. Quá trình trị liệu vô cùng giày vò, và sau khi mẹ mất, cô ấy cũng chìm trong đau đớn tột cùng. Với tư cách là bạn thân, tôi từng cố gắng ở bên đồng hành và nâng đỡ cô ấy; thế nhưng, một bước ngoặt chữa lành mang tính then chốt lại đến từ một tin nhắn của một người bạn khác gửi cho cô. Trong tin nhắn, người bạn ấy viết:
Mọi tình yêu thương sẽ không bao giờ mất đi, bởi nó đã vĩnh viễn ngự trị trong tim bạn.
Dòng tin nhắn ấy khiến cô bật khóc nức nở, và gần như ngay khoảnh khắc đó, cô nhớ lại biết bao ký ức tươi đẹp khi được ở bên mẹ. Những ký ức ấy, cùng với tình yêu thương và hơi ấm trong ký ức, chân thực đến nhường nào. Đồng thời, cô cũng nhận ra rằng, với tư cách là con gái của mẹ, rất nhiều phẩm chất tốt đẹp của mẹ đã để lại dấu ấn sâu đậm trên chính con người cô. Bởi vậy, ta thực sự không cần phải quá đỗi sợ hãi sự mất mát của tình yêu thương.
Tiến trình tang chế chính là việc bắt buộc phải thừa nhận sự mất mát đã diễn ra, và để cho mọi trạng thái tâm linh — đặc biệt là những hỷ nộ ái ố do mất mát gây nên — được tự do tuôn chảy; có như vậy tiến trình tang chế mới được hoàn tất.
Nếu đọc các tài liệu viết về tiến trình đau buồn, bạn sẽ thấy những phân tích như trên. Song đó vẫn chỉ là phần bề mặt. Nằm sâu trong tầng logic ngầm, còn có một phần thế này: Tình yêu ở thế giới bên ngoài đã mất đi, nhưng nó đã ở lại trong thế giới nội tâm. Ngược lại, sở dĩ tiến trình đau buồn không thể hoàn tất là do điều trái ngược: Tôi không muốn chấp nhận nỗi đau đớn bên trong, nên tôi dốc hết sức bình sinh để níu giữ tình yêu bên ngoài.
Vì sao việc giữ lại tình yêu lại quan trọng đến thế?
Tình yêu là sinh năng lượng (năng lượng sự sống) quan trọng nhất. Nếu như sự ra đi của người ta yêu thương (tức khách thể tốt) giống như sự biến mất triệt để, điều đó đồng nghĩa với việc nguồn sinh năng lượng này đã bị tử năng lượng (năng lượng cái chết) nuốt chửng hoàn toàn — đây là nỗi sợ hãi ở tầng sâu hơn. Hơn nữa, nếu người ta yêu qua đời mà tình yêu và những điều tốt đẹp trong nội tâm ta cũng tiêu biến theo, điều đó cũng có nghĩa là sinh năng lượng bên trong ta đã bị tử năng lượng bóp nghẹt — đây mới là điều khiến ta sợ hãi tột cùng.
Nơi sâu thẳm nhất của nội tâm còn ẩn giấu nỗi sợ này: Khi tử năng lượng trong lòng tôi hoàn toàn chiếm thế thượng phong, liệu có đồng nghĩa với việc tôi đã biến thành hiện thân của thứ tử năng lượng tà ác hay không? Từ đây có thể nói rằng, chúng ta lo sợ thế giới bên ngoài cướp đi người ta yêu thương, nhưng thực chất là đang lo sợ thế lực cướp đi người ấy lại bắt nguồn từ chính bản thân mình.
Tầng logic này cứ thế tịnh tiến từng bước, có lẽ một số bạn sẽ cảm thấy khó hiểu. Nhưng nhìn vào những câu chuyện kinh điển về sinh tử, ta sẽ thấy: khi người mình yêu thương qua đời, nếu trong lòng nảy sinh nỗi “oán hận ngút trời”, thì đó cũng chính là khoảnh khắc tâm linh của bản thân bị hắc hóa. Ở những thời khắc hệ trọng nhất, con người ta sẽ trượt dài vào sự tà ác nghiêm trọng.
Có một người đàn ông, năm ông lên bốn hay năm tuổi thì cha ông qua đời vì bạo bệnh. Hơn một năm sau, mẹ ông tái giá và tìm cho ông một người cha dượng. Ban đầu, mối quan hệ giữa ông và cha dượng khá êm đẹp, hai người có khoảng hai năm chung sống hòa thuận, thân thiện. Nhưng về sau, khi mẹ và cha dượng sinh thêm em trai và em gái, từ đó mối quan hệ giữa ông và cha dượng bắt đầu xấu đi. Càng về sau càng trở nên tồi tệ, cuối cùng căng thẳng đến mức không thể nhìn mặt nhau.
Trong quá trình tham vấn, ông chia sẻ rằng bản thân vô cùng nhớ cha ruột. Thế nhưng, dù có cố gắng đến đâu, ông cũng không tài nào nhớ lại được những năm tháng từng sống bên cha, những chi tiết có thể hồi tưởng chỉ đếm trên đầu ngón tay. Dẫu quên sạch sành sanh về cha ruột như vậy, nhưng đồng thời, ông lại lý tưởng hóa hình ảnh của cha mình lên tận mây xanh. Ông tin rằng cha mình là một người đàn ông vô cùng chính trực, lương thiện và dũng cảm, và ông cũng noi theo hình bóng ấy, cả đời miệt mài theo đuổi sự chính trực, lương thiện và dũng cảm. Điều này hoàn toàn có thật: ông là người mang tinh thần cống hiến hết sức to lớn. Song song đó, tính cách của ông lại cực kỳ đoan nghiệt; những người làm việc cùng đều có phần e sợ ông, bởi hễ phát hiện ai đó ích kỷ hay yếu mềm, ông sẽ lập tức nổi trận lôi đình và chỉ trích đối phương không thương tiếc.
Chúng ta có thể thấy rõ ràng rằng, ông đang ở vị thế thiên chấp - phân liệt ở mức độ rất nặng. Ông coi người cha đẻ như một khách thể toàn hảo, trong khi coi người cha dượng như một khách thể hoàn toàn xấu xa. Đồng thời, bản thân ông cũng muốn biến mình thành một khách thể thuần khiết tốt đẹp, nhưng cách hành xử của ông lại khiến người khác thấy đáng sợ. Điều này chứng tỏ người ngoài không hề cảm nhận về ông như cách ông tự nghĩ.
Trong quá trình tham vấn, tôi đề nghị ông hãy tìm gặp những người bà con họ hàng để tìm hiểu xem cha ruột của ông thực sự là người như thế nào. Ông lần lữa mãi mới chịu đi làm việc này. Đến khi tìm hiểu, ông mới ngỡ ngàng nhận ra cha mình thực chất vô cùng bình thường, cũng chỉ là một người đàn ông có cả ưu điểm lẫn khuyết điểm. Thậm chí, chẳng thể nào dùng những mỹ từ như “chính trực, lương thiện, dũng cảm, vị tha” để hình dung về ông ấy được. Có thể nói, cha ông không phải là anh hùng, mà chỉ là một người đàn ông hết sức đỗi bình thường.
Những thông tin thu thập được khiến ông gần như sụp đổ. Người xưa nay hầu như không bao giờ nằm mơ như ông bắt đầu liên tục mơ thấy ác mộng. Trong mơ thường là những cuộc xung đột nảy lửa giữa hai giống đực — khi thì là những con thú đực, khi thì là hai người đàn ông, có lúc lại là “ác ma”. Ban đầu ông ngỡ rằng đó là cuộc xung đột giữa mình và cha dượng; nhưng thuận theo tiến trình của các giấc mơ, ông ngày càng nhận thức rõ ràng hơn: đó chính là phức cảm Ơ-đíp (Luyến mẫu thí phụ - yêu mẹ giết cha) của chính mình.
Đến lúc này, ông mới vỡ lẽ: Tuy trên thực tế người cha mất vì bệnh tật, nhưng trong cõi hoang tưởng sâu kín, ông luôn cho rằng chính mình đã giết chết cha. Để trốn tránh cảm giác tội lỗi ngút ngàn ấy, ông đã triệt để lý tưởng hóa người cha, đồng thời phóng chiếu toàn bộ mối xung đột đó vào mối quan hệ với người cha dượng.
Có một điểm hết sức thú vị: Vì sao ông lại phải lý tưởng hóa cha mình? Bởi vì trong tưởng tượng, bản thân ông là một kẻ hủy diệt toàn năng, và người cha đã thực sự bị ông hủy hoại. Đó là một mối quan hệ xấu xí giữa tự thể xấu và khách thể xấu — xấu đến mức cùng cực. Ông không thể chịu đựng nổi điều này, nên đã chọn cách lý tưởng hóa người cha. Làm như vậy đồng nghĩa với việc cha là một khách thể tốt, và bản thân ông không hề có nửa điểm thù địch với cha. Việc ông lưu giữ một khách thể tốt đẹp lý tưởng hóa như thế trong lòng chính là để chống chọi lại những tưởng tượng đen tối nơi nội tâm.
Mỗi một xung đột tưởng chừng rất đỗi bình thường về nhân tính, nơi sâu thẳm nhất đều hướng về sự tưởng tượng thế này: Thế giới bên ngoài tôi là thù địch hay thiện ý; thế giới bên trong tôi là thù địch hay thiện ý? Thế giới này rốt cuộc là sinh năng lượng chiếm thế thượng phong, hay tử năng lượng mới là kẻ mạnh hơn?
Mục tiêu tối hậu của trị liệu phân tâm học là giúp một người hoàn toàn tin tưởng vào tính tự phát của bản thân, tức đạt tới trạng thái muốn làm gì thì làm nấy. Nhưng làm thế nào để chạm tới trạng thái ấy? Thuyết tâm vị của Klein đã đưa ra một câu trả lời căn bản:
Ở vị thế thiên chấp - phân liệt, tôi lo sợ ngoại giới mang đầy thù địch và quá đỗi hùng mạnh, nên khi bộc lộ sức sống mang tính công kích, tôi vô cùng kinh hãi vì sợ rằng cái “nó” thù địch bên ngoài sẽ nghiền nát tôi. Nhưng tôi lại bắt buộc phải biểu đạt tính công kích để củng cố sức mạnh của bản thân, nếu không tôi sẽ cảm thấy vô cùng nhục nhã.
Sang đến vị thế u uất, về cơ bản tôi trải nghiệm được rằng đôi khi mình rất mạnh mẽ, tôi muốn biểu đạt sức sống mang tính công kích. Thế nhưng tôi vẫn sợ hãi: tôi lo sợ lòng thù địch của mình sẽ hủy hoại mất người “bạn” thiện ý kia.
Một khi đã hóa giải được mâu thuẫn này, đồng nghĩa với việc tính công kích của một người đã được thuần hóa hoàn toàn thành sức sống. Khi ấy, con người ta có thể tôn trọng tính tự phát của chính mình mà không còn phải nơm nớp lo sợ làm tổn thương người mình yêu, hay sợ bị trả thù, trừng phạt.
Một khi đạt tới cảnh giới này, con người sẽ có mức độ nhân tính hóa cao nhất. Họ trở thành chính mình, nhưng lại hoàn toàn vô hại đối với người khác và xã hội.
Đó là sự chỉnh hợp toàn vẹn, cũng chính là cảnh giới mà Vương Dương Minh từng chạm tới. Tuy nhiên, tôi cần bổ sung thêm rằng: khi chúng ta có thể thực sự nhìn thấy thế giới có tốt có xấu, tự thể và khách thể đều có mặt tốt mặt xấu, thì đó đã là một sự chỉnh hợp ở mức độ rất cao rồi.
Tương tác: Vị thế thiên chấp - phân liệt không đồng nghĩa với sai lầm
Vị thế thiên chấp - phân liệt không đồng nghĩa với sai lầm, cũng không đồng nghĩa với trình độ thấp kém. Khi một ước nguyện được phát khởi, nó luôn khởi phát từ vị thế thiên chấp. Hơn nữa, lúc này cũng rất cần làm một số công việc của sự thiên chấp - phân liệt. Ví dụ, xem bản thân và ước nguyện của mình là tốt, đồng thời phân liệt và phóng chiếu cái xấu ra ngoài; có như vậy ta mới có thể vững vàng theo đuổi và hiện thực hóa ước nguyện ấy. Nếu ngay từ khi phát khởi ước nguyện mà một người đã luôn tự phản tỉnh, đã ở vị thế u uất vì sợ làm tổn thương người khác, thì e rằng chẳng thể nào theo đuổi ước nguyện được nữa.
“Người tình trong mắt hóa Tây Thi” có phải là vị thế thiên chấp - phân liệt không?
Đúng là học đi đôi với hành! Đây đích thực là vị thế thiên chấp - phân liệt: tách cái “xấu” ra khỏi người tình, thế nên mới thấy người yêu đẹp tựa Tây Thi.
Trò chuyện với nhiều nhà đầu tư, khi đúc kết về những đối tượng đầu tư sáng giá, họ đều nhắc tới cụm từ “thiên tài bệnh hoạn”. Bởi họ nhận thấy trên người nhiều đối tượng đầu tư xuất sắc đều có một sự thiên chấp cuồng nhiệt. Phải có được một bầu nhiệt huyết bướng bỉnh như thế mới có khả năng chèo lái doanh nghiệp thành công.
Nhớ lại từng có một nghiên cứu chỉ ra rằng: những người giỏi tự biện hộ cho mình, không dễ dàng tự phê bình bản thân lại là những người dễ thành công hơn. Một ước nguyện cũng giống như một đứa trẻ sơ sinh, khi nó còn non nớt, nó cần sự che chở, vỗ về chứ không phải là những lời phê bình, đả kích từ bốn phương tám hướng, đặc biệt là sự tự phê phán nội tâm. Đợi đến khi nó đã lớn mạnh, cứng cáp rồi, ta mới có thể thực hiện những phản tư sâu sắc hơn. Dĩ nhiên, vạn sự đều có chừng mực. Nếu mãi giậm chân ở vị thế thiên chấp - phân liệt mà không thể tiến vào vị thế u uất, con người ta rất có thể sẽ: Thứ nhất, dựng nên vô số kẻ thù và bỏ qua vô vàn cạm bẫy; Thứ hai, không chịu thừa nhận thất bại, để rồi tiêu hao quá nhiều tinh lực vào “chi phí chìm”.
Bởi vậy, theo cách nhìn của Melanie Klein, con người thường phát khởi một động lực khi ở vị thế thiên chấp - phân liệt, sau đó dần dần tiến bước tới vị thế u uất, rồi lại quay về vị thế thiên chấp - phân liệt để khởi phát một động lực mới... Sinh mệnh chính là sự luân chuyển không ngừng như thế.
Hỏi: “Khoái ý ân cừu” (yêu cho hả hê, hận cho rốt ráo) có mâu thuẫn với trạng thái của vị thế u uất không? Hay việc khoái ý ân cừu vốn là để đạt tới vị thế u uất?
Đáp: Gần như không thể có chuyện chỉ cắt rời mà không phóng chiếu. Phóng chiếu có hai cấp độ: một là phóng chiếu mạnh mẽ cái xấu lên người khác để rồi chỉ trích, công kích đối phương; hai là tuy tôi không có hành vi công kích ai, nhưng trong thâm tâm tôi lại thấy thế giới bên ngoài vô cùng tồi tệ — đó cũng là phóng chiếu.
“Khoái ý ân cừu” chính là chân thực đi thiết lập sự kết nối. Sự chỉnh hợp đạt được trong hoàn cảnh này mới thực sự vững mạnh và chân xác. Nếu chỉ dùng cái đầu lý trí để chỉnh hợp, đó sẽ là sự chỉnh hợp giả tạo. Chẳng hạn, nhiều người trông có vẻ rất cao minh, nhưng hễ đụng chuyện thực tế là lúng túng, luống cuống, ấy là bởi vì họ chưa từng kinh qua sự tôi luyện thực sự.
Từ “khoái ý ân cừu” rất dễ tạo cho người ta cảm giác thiên chấp, nhưng theo cách hiểu của Wilfred Bion thì không phải mang hàm nghĩa đó. Mặt đối lập của “khoái ý ân cừu” không phải là chỉnh hợp, mà chính là “đường vòng tâm linh” (psychic retreats / tâm linh tích kính) mà chúng ta đã nhiều lần bàn tới.
Hỏi: Cái “xấu” thường được nhắc tới này hẳn là khác với cái “ác” trong nhân tính mà chúng ta vẫn thường đàm luận chứ? Vậy sự khác biệt nằm ở đâu?
Đáp: Cái gọi là “tốt”, cái gọi là “xấu”, thực chất đều là sự cảm tri của “tôi”.
Điều này có phần do mối quan hệ cố định và tập ngầm các mối quan hệ nhào nặn nên. Ví dụ ở phương Đông, “tính công kích” không phải là một từ hay ho gì; nhưng ở phương Tây, từ “aggressiveness” lại mang hơi hướng của một lời khen ngợi.
Thế nhưng ở nơi sâu thẳm nhất của nhân tính, về cái “xấu”, tôi nghĩ có một sự đồng thuận nhất định, thậm chí là một sự đồng thuận hết sức căn bản. Chẳng hạn như tôi đã nhiều lần nhấn mạnh: sự yếu đuối của tự thể và nỗi thù hận trong các mối quan hệ là những thứ dễ bị cảm nhận là “xấu” nhất, khiến người ta chỉ muốn tức tốc cắt rời đi nhất.
Bình luận