top of page

Chương 6: Vô thường

14 giờ trước
69 phút đọc

Sự sinh diệt của bản ngã


Từ "tự do", nghe thật êm tai, nhưng nó còn có một từ gần nghĩa — "vô thường".


Tự do có nghĩa là năng lượng của "Tôi" được duỗi mở, được tuôn chảy, vì vậy "Tôi" có cảm giác tự do. Nhưng một khi sự tự do này lớn dần lên, nhảy vọt ra ngoài cái "Tôi" của một cá nhân, thì mọi thứ đều là dòng chảy biến dịch, bao gồm cả chính "Tôi" — đó chính là vô thường.


Vô thường là một phạm trù tự do rộng lớn hơn. Vạn vật đều nằm trong sự lưu chuyển, biến hóa, sinh và diệt, bao gồm cả "Tôi".


Mọi sự vật được kiến tạo nên đều sẽ đi tới chỗ hủy diệt, bởi vì có sinh thì ắt có diệt. Chúng ta vẫn luôn nói về việc làm chủ cuộc đời mình, nói về việc trở thành chính mình, nói về bản ngã nội tụ, nhưng khi ta thực sự kiến tạo xong một bản ngã — tức sinh ra được một bản ngã nội tụ vững chãi — thì bản ngã này liền có thể tiến bước về phía tan rã, hư hao.


Hơn nữa, trong quá trình hình thành bản ngã và trong quá trình buông bỏ bản ngã, bạn sẽ trải nghiệm được rằng bản ngã này chỉ là một cái "tiểu ngã". Bạn càng trung thực với nó bao nhiêu, lại càng cảm nhận được nó đang mở lối dẫn tới một sự hiện hữu vĩ đại hơn, có thể gọi là "đại ngã", "chân ngã", "Đạo" hay "Thượng đế". Một khi đã có được những thể nghiệm này, bạn sẽ không còn quá sợ hãi cái chết của "tiểu ngã" nữa.


Cái "Tôi" có sinh có diệt bị phá vỡ, để cho cái "Bạn" vĩnh hằng hiển lộ ra; bởi vậy phía sau vô thường, cũng có cả sự thường hằng.


Hãy trở thành đống tuyết tan đi.

Hãy tự gột rửa và hòa tan chính mình.


Một đóa bạch hoa đang nở rộ giữa thinh lặng.


— Rumi

Tôi, là một khái niệm biến dịch

"Đây mới là tôi! Bản tính tôi vốn thế!" — Khi trò chuyện với những người có vẻ rất cá tính, bạn có thể thường nghe thấy cách nói này.


Một thân chủ tên F của tôi là một cô gái trẻ. Vấn đề của cô là một người phụ thuộc: cô không thể đưa ra lựa chọn một cách dứt khoát, gọn gàng, mà luôn rơi vào sự do dự tột độ. Cô luôn mong ngóng có một người khác đứng ra quyết định và lựa chọn thay mình. Trước khi tìm đến tôi, trong suốt một năm rưỡi ròng rã, dẫu cho cuộc đời cô gặp phải những nan đề rất lớn, vô cùng cấp bách đòi hỏi cô phải đưa ra lựa chọn, nhưng cô vẫn kẹt cứng trong một tình thế không thể cựa quậy, chẳng đưa ra bất kỳ quyết định nào.


Trong một buổi tham vấn then chốt, chúng tôi đã cùng nhau mổ xẻ tỉ mỉ từng chi tiết nhỏ trong một chuyện vụn vặt của cô. Cuối cùng cô đã hiểu ra: bất kỳ lựa chọn nào cũng sẽ có người bị tổn thương, mà cô thì sợ nhất là cảm giác áy náy, không muốn nợ nần ai, cho nên trong tuyệt đại đa số hoàn cảnh cô đều dựa dẫm vào người khác để họ chọn thay mình. Sau buổi tham vấn đó, cô đã mơ một giấc mơ:


Tôi mơ thấy mình là một con chim ở trong một hang núi tối đen như mực, trong hang còn có rất nhiều đồng loại của tôi. Chúng tôi đều không biết bay, chen chúc nhau trên những vách đá trong hang, mỗi con chiếm cứ một góc hẹp nhỏ bé không dám nhúc nhích. Lo sợ rằng chỉ cần cử động một chút là sẽ mất chỗ, rồi rơi tọt xuống dưới.

Đột nhiên, tôi không tìm thấy chỗ của mình đâu nữa, vị trí cuối cùng đã bị một con vật không phải loài chim chiếm mất. Nó lạnh lùng nhìn tôi, chẳng có ý định giúp đỡ. Tôi rơi từ trên vách đá xuống. Quá trình rơi hệt như rơi tự do, tôi hoảng loạn tột cùng.


Nhưng trong lúc rơi xuống, tôi bỗng phát hiện ra mình có đôi cánh, thế là tôi ra sức đập cánh. Trong lòng dâng lên một niềm tin kỳ lạ, tin rằng mình nhất định có thể bay, và quả thực tôi đã bay lên được, không còn sợ hãi việc rơi ngã nữa. Tôi bay lượn một cách tự tại và phóng khoáng.


Một vài đồng loại của tôi cũng hiểu ra rằng chúng có thể bay, chúng cùng tôi reo hò bay vút ra khỏi hang núi, hội ngộ cùng đàn thiên nga trắng bay ngang qua cửa hang, cùng hướng về bầu trời xanh. Lúc này, tôi phát hiện ra hóa ra tôi và các đồng loại của mình đều là những con thiên nga màu hồng.


Chúng tôi còn bay qua biển lớn, rừng rậm và sông hồ. Tôi nhận ra chúng tôi không chỉ biết bay, mà còn có thể bơi lội.


Khi chúng tôi bay là là trên mặt nước, có người hắt nước, tạt nước vào chúng tôi. Tôi cảm thấy điều đó chẳng sao cả, dẫu sao việc ấy cũng chẳng tạo thành chút tổn thương nào cho chúng tôi.

Giấc mơ này mang lại cho F một niềm hoan lạc vô bờ. Khi tỉnh giấc, cô thấy lúc đó là hơn 3 giờ sáng, và niềm hỷ lạc ấy cứ tiếp tục kéo dài mãi, cho đến 5, 6 giờ sáng cô mới chợp mắt lại một chút, khi thức dậy lần nữa vẫn tràn ngập niềm vui.


Giấc mơ này mang tầng ý nghĩa kép: một là ẩn dụ cho hoàn cảnh sống của F, hai là biểu đạt cho sự lột xác trong tâm hồn cô.


Xét về cảnh ngộ cuộc đời, có rất nhiều người trong chúng ta giống như F, đứng co ro trên một mỏm đá chật hẹp, liều mạng bảo vệ mảnh đất cắm dùi nhỏ nhoi tội nghiệp ấy vì sợ mất đi; mà cách thức bảo vệ cũng thường là bám chấp vào một phương thức quen thuộc từ lâu. Mảnh đất chúng ta đứng và cách thức chúng ta giữ gìn nó, những thứ ấy tổng hòa lại chính là cái gọi là "bản ngã". Đối với F, mảnh đất mà cô muốn bảo vệ chính là tình yêu và sự công nhận của những người thân quan trọng; bởi vì những người thân quan trọng của cô đa phần là những người kiểm soát có dục vọng chi phối rất mạnh, nên cách cô bảo vệ mảnh đất này là đóng vai một kẻ phụ thuộc, bất lực nhưng đáng yêu.


Thế nhưng, biện pháp này cuối cùng đã mất linh nghiệm. Bất kể cô bám chấp vào cách thức đó thế nào, mảnh đất ấy rốt cuộc vẫn không giữ nổi. Cô hoàn toàn mất kiểm soát, nghĩa là bản ngã của cô không còn bao bọc nổi cuộc đời cô nữa. Vì thế trong giấc mơ, cô đã rơi tuột khỏi vách đá ấy — đây là ẩn dụ của sự mất kiểm soát. Tuy nhiên, chính trong cú rơi đó, cô mới phát hiện ra hóa ra mình có thể bay.


Con người rất sợ mất kiểm soát, cảm thấy mất kiểm soát đáng sợ như cái chết, bởi vì mất kiểm soát quả thực cũng đồng nghĩa với sự mất hiệu lực và cái chết của bản ngã. Song, đây cũng chỉ là cái chết tạm thời của bản ngã hay "tiểu ngã". Nếu bạn chấp nhận sự diễn ra của nó, thậm chí bạn sẽ phát hiện ra bên ngoài nó còn có một cái "Tôi" to lớn hơn đang hiện hữu. Ngược lại, giả sử cả đời bạn chưa từng một lần mất kiểm soát, điều đó đồng nghĩa với việc cuộc đời bạn luôn bị khống chế bên trong một "tiểu ngã" chật hẹp.


Chính nhờ câu chuyện của F, tôi đã có một hình ảnh ẩn dụ mà sau này thường dùng trong các buổi tham vấn:


Hãy tưởng tượng trên mặt bàn có một đồ vật (ví dụ như một cây bút hay một chiếc ly), nằm ngay mép bàn, sắp sửa rơi xuống. Đồ vật này giống như chính bạn vậy. Nhưng nếu nó thực sự rơi xuống thì điều gì sẽ xảy ra? Bạn sẽ rơi xuống mặt đất bao la rộng lớn.

Bert Hellinger trong cuốn sách Ai ở trong gia đình tôi từng nhắc tới một ẩn dụ như thế này:


Một con gấu luôn bị nhốt trong chiếc lồng chật hẹp, chỉ có thể đứng chứ không thể ngồi, càng không thể nằm. Khi bị con người tấn công, nó nhiều nhất cũng chỉ có thể cuộn tròn người lại để chống đỡ.

Sau này, nó được giải cứu ra khỏi chiếc lồng hẹp ấy, nhưng nó vẫn cứ đứng mãi như trước, dường như không hề hay biết rằng mình đã có được tự do, có thể ngồi, có thể nằm, có thể chạy nhảy, và còn có thể phản công.

Ở một mức độ nhất định, tất cả chúng ta đều đang sống trong những chiếc lồng vô hình như thế. Hơn nữa, trừ khi gặp phải những tình huống chạm đáy giới hạn, nếu không người ta sẽ luôn bám chấp vào cách sống cũ mòn trước đây. Ví dụ, F sẽ luôn chấp niệm vào việc làm một kẻ phụ thuộc.


Thế nhưng, tình huống cực hạn đã xảy ra, và điều đó gần như là tất yếu. Sự xuất hiện của nó là để đập vỡ "tiểu ngã" của chúng ta. Chẳng hạn, trong suốt một năm rưỡi, F rơi vào hoàn cảnh sống rối như tơ vò. Điều này trông có vẻ rất tồi tệ, nhưng lại chính là sức ép buộc cô không thể không buông bỏ phương thức cũ. Một khi buông bỏ sự bám chấp, con gấu kia sẽ nhận ra nó có thể ngồi, nằm, chạy và phản công; còn F thì phát hiện ra cô có thể trở thành một con người độc lập.


Nếu không còn bám chấp, chúng ta sẽ nhận ra thế giới vốn dĩ trời cao biển rộng, ta chẳng việc gì phải khư khư bám chặt lấy mảnh đất nhỏ bé đáng thương ấy. Chúng ta có thể bay lượn, có thể bơi lội, có thể mặc kệ những lời đàm tiếu thị phi người đời "hắt tới", chúng ta chỉ cần tôn trọng tâm tính chân thật bên trong mình.


"Giấc mơ này là một món quà vĩ đại," F nói. Tỉnh dậy sau giấc mơ, cô cảm thấy mình đã đổi khác; những vấn đề trong cuộc sống của cô vẫn còn đó, nhưng điểm khác biệt là chúng đã thu nhỏ lại, cô có thể đối diện một cách nhẹ nhàng, và cô tin chắc rằng mình nhất định sẽ tìm ra cách giải quyết thỏa đáng.


Cảm nhận của tôi là: khi mới tìm đến tôi làm tham vấn, bất kỳ vấn đề nào của cô cũng tựa như một nan đề khổng lồ bao trùm lấy toàn bộ con người cô, khiến cô không thể nhúc nhích. Nhưng dần dần, cô đã kéo giãn được khoảng cách với những vấn đề này, đôi khi cô có thể nhảy ra ngoài như một người quan sát để nhìn lại chúng. Giờ đây, những vấn đề ấy lại giống như một quả cầu nhỏ, có thể được cô nâng niu trong lòng bàn tay để quan sát một cách chăm chú.


Cô đã làm điều đó như thế nào? Cộng cả lần giải mộng này, cô mới chỉ đến làm tham vấn với tôi tổng cộng 4 lần, chẳng lẽ tôi đã khai sáng cho cô một cách thần kỳ sao?


Dĩ nhiên không phải. Mấu chốt là các buổi tham vấn đã đem lại cho cô một nhận thức trọng yếu: Mỗi khi có vấn đề xuất hiện, đừng quá vội vàng đi tìm kiếm giải pháp, mà trước hết hãy đi thấu hiểu và nhận biết vấn đề. Khi làm như vậy, vấn đề chính là thứ được dung chứa, còn bản ngã của cô chính là một chiếc bình chứa. Trước đây, cô quá nóng vội đi giải quyết vấn đề là vì lo sợ vấn đề mang năng lượng chết chóc sẽ phá hủy bản ngã; nhưng qua tham vấn, cô trải nghiệm được rằng vấn đề hoàn toàn có thể được bao dung trong mối quan hệ và trong chính bản ngã.


Cùng lúc đó, cô còn thực hành một việc — quét cảm nhận cơ thể. Cô đã biến tấu phương pháp của tôi: chỉ tập trung cảm nhận bàn tay và bàn chân, và khi cảm nhận thì tưởng tượng mỗi ngón tay, ngón chân như một mầm cây nhỏ đang từ từ lớn lên.


F kể, trong khoảng thời gian đó, ngày nào cô cũng làm bài tập này, mỗi ngày làm rất nhiều lần. Kết quả là khi đối mặt với sự việc, cô ngày càng trở nên điềm tĩnh, dường như có một không gian bao bọc quanh người, giúp cô ở bất kỳ thời điểm nào cũng duy trì được một khoảng cách nhất định với vấn đề, nhờ đó có thể quan sát vấn đề một cách tương đối tự tại.


Bài tập này cũng như bất kỳ bài tập cảm nhận cơ thể nào (chẳng hạn như hít thở sâu khi thi đại học) đều mang một tác dụng quan trọng: Khi bạn cảm nhận được sự hiện hữu chân thực của thân thể, bạn sẽ hiểu rằng ngoài "bản ngã 1" ở tầng bậc khối óc và ý thức, còn có "bản ngã 2" ở tầng bậc cơ thể và tiềm thức đang cùng tồn tại. Khi đã xác nhận được sự hiện hữu của tầng bản ngã sâu sắc hơn này, bạn sẽ không còn quá bám chấp vào bản ngã ở tầng ý thức và khối óc nữa. Cái gọi là "mất kiểm soát", cái gọi là "cái chết của tiểu ngã", trước hết chính là cái chết của bản ngã 1.


Khi bản ngã 1 chết đi, bản ngã 2 mới có được không gian hiển lộ tốt đẹp hơn.


Từ bản ngã 1 đến bản ngã 2, từ tiểu ngã đến chân ngã, bản ngã vốn có tầng bậc. Tầng bản ngã này bị phá vỡ hay chết đi thì tầng bản ngã sâu sắc hơn mới hiển lộ. Do đó chúng ta không cần quá lo lắng về cái chết của bản ngã, thậm chí đôi khi còn có thể chủ động đi tìm kiếm sự chết đi của nó.


Hãy để vạn vật chảy qua tâm bạn

Năm 1996, khi tôi học năm thứ ba đại học, tôi cùng các thầy cô khoa Tâm lý học Đại học Bắc Kinh tham gia một dự án thuộc "Công trình Hy vọng". Dự án cần dùng các phương pháp trắc nghiệm tâm lý để tuyển chọn ra 3 em nhỏ từ 22 học sinh nhận tài trợ thuộc 22 tỉnh thành trên toàn quốc sang Mỹ tham gia lễ rước đuốc Olympic Atlanta diễn ra năm đó.


Trong một buổi thi hát, có một cậu bé 8 tuổi đến từ Quý Châu hát bài Đại Trung Hoa. Cậu vừa cất giọng, cả hội trường cười ồ lên vì cậu hát lệch tông một cách quá đỗi hoang đường. Nhưng cậu nhóc này chẳng hề bối rối, cứ thế thản nhiên hát tiếp. Tiếng cười cợt dần dần tắt lịm, cuối cùng chuyển thành sự thán phục trong yên lặng. Thậm chí, cả hội trường có thể dùng từ "lặng ngắt như tờ" để hình dung, toàn bộ không gian chỉ còn lại tiếng hát của cậu. Khi giọng hát dở tệ của cậu kết thúc, tràng pháo tay vang lên như sấm dậy.


Đó chính là sự phóng chiếu và đồng nhất hóa (projection and identification) đầy kỳ diệu.


Ban đầu, chúng tôi phóng chiếu sự giễu cợt về phía cậu — "Giọng hát của cháu dở quá, cháu thật kém cỏi", nhưng cậu bé không hề đồng nhất mình với sự giễu cợt đó; cậu chuyển hướng phóng chiếu ngược lại về phía chúng tôi: "Cháu rất cừ, cháu rất tự tin", và vô cùng kiên định. Kết quả là chúng tôi đã đồng nhất hóa với sự phóng chiếu của cậu, để rồi cuối cùng dành cho cậu những tràng pháo tay vang dội.


Điều đặc biệt quý giá là cậu bé này không hề có vẻ ngạo mạn, phong thái của cậu rất đỗi khoáng đạt, vững vàng. Một phóng viên của báo Thanh niên Trung Quốc đi cùng đoàn đã trở thành người hâm mộ của cậu, năm nào cũng tới Quý Châu thăm cậu. Giờ tôi không còn giữ liên lạc với họ nữa, không rõ đứa trẻ ấy giờ sống ra sao, nhưng tôi tin cậu sẽ sống rất tốt.


Tôi từng chia sẻ câu chuyện này trên Weibo, nhiều cư dân mạng phản hồi rằng bản thân họ cũng từng trải qua hoặc chứng kiến những câu chuyện tương tự, nhưng đều không có được kết quả như cậu bé này. Vì sao vậy?


Hồi tôi học đại học, khoa tôi tổ chức đêm hội, có phần giao lưu khán giả hễ ai muốn biểu diễn là có thể lên sân khấu. Có một nam sinh bước lên hát, hát rất dở. Cậu ta say sưa hát, chẳng có ý định bước xuống, hát suốt một hồi lâu. Cậu hát xong, khán giả bên dưới đã bỏ về hơn một nửa, số ít người còn lại chỉ lác đác vài cánh tay vỗ tay. Tại sao sự khác biệt lại lớn đến thế?


Cách hiểu của tôi là: Với tư cách là nhân vật chính, rốt cuộc bạn đang mở lòng hay đang khép kín? Trong câu chuyện sau, những nhân vật chính trên sân khấu giống như chàng trai kia có lẽ đang ở trong một trạng thái tự đóng kín. Họ dùng phương thức tự phong tỏa để che chắn những lời giễu cợt, nhưng thực chất nội tâm bên trong đã bị "xuyên thủng", chỉ là không bộc lộ ra ngoài mà thôi. Thế nhưng cậu bé Quý Châu kia lại hoàn toàn rộng mở, cậu cho phép năng lượng giễu cợt chảy qua con người mình mà không đồng nhất với nó, để rồi sau đó truyền tỏa ra sự tự tin khoáng đạt. Điều này quả thực không hề đơn giản, không thể bắt chước một cách máy móc.


Nhu cầu căn bản nhất của con người là khao khát được nhìn thấy, vì thế ai nấy đều không chịu nổi việc năng lượng của mình bị chặn đứng. Nếu bị chặn đứng, chúng ta sẽ cảm thấy bị cự tuyệt, và rất dễ quay sang cự tuyệt lại kẻ đã chặn đứng năng lượng của mình. Do đó, việc cố chấp giữ cái tôi một cách thông thường rất dễ xua đuổi người khác ra xa khỏi mình.


Chúng ta không ngừng nói về vật chứa và sự dung chứa, mà với tư cách là một con người, bản ngã của chúng ta cần phải có dung lượng. Thông điệp do một bên phát ra, bên kia cần phải đón nhận nó, dung chứa nó và tiêu hóa nó, đặc biệt là những cảm xúc tiêu cực. Chúng có thể thông qua sự dung chứa mà chuyển hóa thành những thông điệp tương đối tốt đẹp hơn, rồi sau đó truyền hồi đáp trở lại.


Khi bản ngã của một người sở hữu năng lực này, người đó liền ở trong một trạng thái tự do: thông điệp của thế giới bên ngoài có thể được họ đón nhận trọn vẹn, còn thông điệp bên trong họ cũng có thể phát tỏa êm thuận ra thế giới bên ngoài. Lúc này, vạn vật đều nằm trong một dòng chảy.


Là một người đam mê nhiếp ảnh, nhiều năm qua tôi thường lặp lại một giấc mơ: trước mắt tôi xuất hiện một phong cảnh tráng lệ khôn cùng, đặc biệt là về màu sắc và tầng lớp thứ bậc, những thứ mà lúc thức giấc không tài nào cảm nhận nổi; tôi bị chấn động sâu sắc, liền rút máy ảnh ra muốn chụp lại; thế nhưng, không phải máy ảnh hỏng thì cũng là ống kính hỏng, tóm lại là chụp không thành.


Tôi luôn cố gắng giải mã giấc mơ này nhưng mãi không tìm ra lời giải. Sau này, nhờ sự gợi mở của thầy Thân Hà Vĩnh — giáo sư tâm lý học Đại học Sư phạm Hoa Nam, nhân vật tiên phong của trường phái Jung tại Trung Quốc — tôi mới vỡ lẽ: máy ảnh là thứ do khối óc con người tạo ra, nó là biểu tượng của khối óc; và việc chụp lại đồng nghĩa với việc muốn lưu giữ phong cảnh đó vào trong khối óc của tôi, mà vào lúc ấy thì dù thế nào cũng không thể chụp nổi. Bởi vì một khi dục vọng muốn chụp khởi lên, mối quan hệ giữa tôi và phong cảnh đã biến thành "Tôi và Nó", trong khi việc tôi cảm nhận được sự tráng lệ và huy hoàng của cảnh vật trong mơ vào khoảnh khắc ấy lại là mối quan hệ "Tôi và Bạn". Mối quan hệ này chỉ có thể diễn ra trong sự tương ngộ trọn vẹn của "Tôi và Bạn", chỉ có thể buông bỏ bản ngã khối óc mà rộng mở toàn bộ sự hiện hữu của mình để ôm trọn lấy toàn bộ sự hiện hữu của phong cảnh.


Còn có thể nói rằng, khi tôi dùng máy ảnh để chụp, vào khoảnh khắc đó, giữa tôi và phong cảnh đã bị ngăn cách bởi một chiếc máy ảnh, dòng chảy giữa thế giới nội tâm của tôi và thế giới ngoại tại của phong cảnh đã bị chặt đứt.


Tháng 12 chúng tôi đi Nam Cực, đó là mùa hè ở Nam Cực, và hành trình nằm ngoài vòng Nam Cực nên không quá lạnh, nhiệt độ khoảng 3 đến 5 độ C trên điểm đóng băng. Đây không phải là thử thách, thứ thực sự tạo thành thử thách có hai điều: một là chặng bay kéo dài hơn 30 tiếng và phải quá cảnh qua nhiều nơi. Tiếp đó là thử thách thứ hai: từ Ushuaia đi tàu sang Nam Cực mất hai ngày rưỡi, trong hành trình phải vượt qua vành đai gió Tây. Lúc này rất nhiều người bị say sóng, có người say sóng đến mức sống dở chết dở.


Bảo là đi Nam Cực, nhưng trước đó đã mất trọn 5 ngày ròng rã trên đường. Vị thuyền trưởng người Pháp còn muốn mang lại cho chúng tôi một bất ngờ nên đã lái tàu tiến vào bên trong vòng Nam Cực, ông bảo nơi đó có một điểm đến vô cùng đáng giá. Chẳng ngờ gặp phải bão tuyết, sau đó chúng tôi đành ngậm ngùi quay trở lại điểm ngắm cảnh đã định trước. Hành trình 7 ngày đã bào mòn kiên nhẫn của rất nhiều người.


Đến 5 giờ sáng ngày thứ bảy, chúng tôi may mắn bắt gặp một thế giới tựa chốn bồng lai tiên cảnh, thực sự đẹp đến mức không từ ngữ nào tả xiết. Tôi cảm thấy hành trình gần 20 ngày qua, dẫu chỉ để đổi lấy một khoảnh khắc chiêm ngưỡng cảnh đẹp này thôi cũng đã quá xứng đáng rồi. Thế là, tôi cầm máy ảnh lên bấm lia lịa, chỉ trong một buổi sáng đã chụp hơn một nghìn bức ảnh.


Thế nhưng, một người bạn đi cùng tôi lại chọn ngồi lặng lẽ ở đuôi tàu vắng bóng người suốt hơn một tiếng đồng hồ. Cảnh sắc Nam Cực đã "xuyên thấu" tâm hồn cô; suốt hơn một tiếng ấy, nước mắt cô cứ thế tuôn rơi. Cô không hề khởi lên bất kỳ ý niệm nào về việc chụp ảnh hay chia sẻ, cô chỉ hoàn toàn đắm chìm trọn vẹn vào trong cảnh giới ấy.


Về sau, tôi phát hiện ra một nghịch lý xuất hiện: Tôi có thể chia sẻ những bức ảnh đó với người khác, nhưng chốn tiên cảnh tuyệt mỹ tột cùng kia lại dường như cách tôi rất xa xôi. Trong khi người bạn kia mỗi lần nhắc lại, dường như cô ấy vẫn đang hiện diện trọn vẹn giữa buổi sớm mai hôm ấy.


Đó chính là sự khác biệt giữa mối quan hệ "Tôi và Bạn" và mối quan hệ "Tôi và Nó". Nói tới đây, tôi cũng vừa đốn ngộ ra một điều: cái gọi là "Nó" thực chất chính là khối óc của tôi; khối óc ngỡ như có thể nhận biết được vạn vật, nhưng chỉ khi khối óc tan biến đi, "Tôi" mới có thể thực sự tương ngộ với "Bạn".


Sống trong hiện tại

Khi bản ngã khối óc (tức Bản ngã 1) biến mất, con người sẽ thể nghiệm được sự kết nối với một sự hiện hữu to lớn hơn, và đó là một trải nghiệm tuyệt mỹ khôn cùng.


Chúng ta có thể thông qua phương pháp nào để chủ động buông bỏ Bản ngã 1 nhằm theo đuổi trải nghiệm này?


Nhân loại có rất nhiều hành vi hướng tới việc tìm kiếm trải nghiệm ấy; có những hành vi vô cùng hữu thức, có những hành vi thoạt nhìn như đang theo đuổi những mục đích khác, nhưng thực chất lại là đang tìm kiếm trải nghiệm này. Hành vi mang tính ý thức rất cao có thể kể đến như vũ điệu xoay tròn Sufi.


Mục đích của việc xoay tròn là dùng cảm giác chóng mặt để khiến thân thể vượt qua giới hạn kiểm soát của khối óc. Khi khối óc hoàn toàn mất đi quyền kiểm soát đối với cơ thể, điều đó đồng nghĩa với việc bản ngã khối óc vào khoảnh khắc ấy đã bị "giết chết" — bằng một phương thức chủ động — và chính vào giây phút đó, bạn sẽ chạm tới một sự hiện hữu lớn lao hơn.


Bài thực hành quét cảm nhận cơ thể (body scan) chuẩn mực đòi hỏi phải ở tư thế ngồi thiền (tọa thiền), trong khi tôi lại quen với tư thế nằm thẳng, điều này khiến hiệu quả bài tập bị giảm đi đáng kể. Thông qua việc luyện tập không ngừng, tôi nhận thấy trong quá trình thực hành, mình sẽ chạm tới những tầng bậc khác nhau của cái "Tôi".


  • Tầng thứ nhất: chính là cái "Tôi" của Vũ Chí Hồng. Khi việc quét cảm nhận cơ thể đi vào trạng thái (tức là đã có sự kết nối căn bản với thân thể), tôi sẽ có được nhận thức vô cùng nhạy bén đối với những trải nghiệm trong mọi sự vụ gắn liền với Vũ Chí Hồng. Cảm nhận ấy có thể được khuếch đại lên gấp nhiều lần, đặc biệt là cảm xúc trong các sự việc và các mối quan hệ khác nhau.


  • Tầng thứ hai: chỉ xuất hiện khi sự kết nối với cơ thể ngày càng sâu sắc. Lúc này, cái "Tôi" với tư cách là Vũ Chí Hồng dường như biến mất, muôn vàn kịch bản câu chuyện khác nhau bắt đầu tự nhiên hiện ra. Trong mỗi kịch bản, đều có ít nhất một nhân vật chính, một nhân vật phụ cùng một nguồn động lực; hơn nữa nhân vật chính có thể là nam, là nữ, có thể là người trưởng thành, người già hay trẻ nhỏ, thậm chí có thể là động vật. Thêm vào đó, câu chuyện giữa họ là những điều mà cái "Tôi" Vũ Chí Hồng chưa từng dám tưởng tượng tới. Lúc này, cái "Tôi" đóng vai trò người thực hành phải tập trung cao độ mới nắm bắt được các kịch bản này, bằng không chúng sẽ như dòng nước chảy xiết, chợt đến rồi chợt đi, biến ảo khôn lường.


  • Tầng thứ ba: tôi chỉ trải nghiệm được trong những lần vô cùng hiếm hoi. Đó là khi sự tỉnh thức đối với cơ thể ngày càng trở nên tinh nhạy, cuối cùng đột nhiên bước vào một cảm giác hợp nhất: ngôn ngữ, tư duy và bản ngã — cả ba thứ đều biến mất. Cảnh giới đó không thể dùng lời để miêu tả, bởi sự xuất hiện của nó vốn được xác lập trên tiền đề ngôn ngữ và tư duy đã hoàn toàn tan biến. Và vào lúc ấy, người ta sẽ trải nghiệm được một niềm hân hoan cực lạc.


Chính vì từng có được trải nghiệm ở tầng thứ ba này, tôi mới trở nên có phần mê mẩn bài tập quét cảm nhận cơ thể, mỗi ngày đều thực hành ít nhất ba lần. Song chừng đó vẫn còn xa mới đủ; những người tu hành thực thụ, mỗi ngày họ dành ra vài tiếng, thậm chí mười mấy tiếng đồng hồ để thực hành nội quan (vipassana), và hoàn toàn theo phương thức tọa thiền nghiêm ngặt.


Thực ra, trong cuộc sống của chúng ta còn có những cách thức thoạt trông như đang theo đuổi một điều khác, nhưng thực chất lại là đang tìm kiếm cái chết của "tiểu ngã", chẳng hạn như các môn thể thao mạo hiểm (extreme sports).


Tôi có những thân chủ và bạn bè rất nghiện thể thao mạo hiểm, hơn nữa những bộ môn họ tham gia lại là dạng thử thách khắc nghiệt như Ba môn phối hợp (Triathlon / Ironman). Họ chia sẻ rằng bản thân đang theo đuổi cảm giác này: Khi cơ thể chạm tới một điểm tới hạn nào đó, cảm giác như mình sắp kiệt sức đến chết, nhưng đột nhiên, một niềm hoan lạc và nguồn sức mạnh khổng lồ trỗi dậy; sau đó, cơ thể họ như được tái sinh, và lúc này họ có một cảm giác như hòa làm một với thế giới xung quanh. Tổng hòa những cảm giác này khiến họ vô cùng say mê.


Đối với hiện tượng này, cũng có thể dùng yếu tố sinh lý thông thường nhất để giải thích: Vào thời điểm đó, đại não sẽ tiết ra một lượng lớn dopamine, dẫn tới cảm giác hưng phấn ngập tràn.


Những phương thức này đều là những cách thức rất đặc biệt; nếu bạn bắt đầu từ cấp độ thông thường và muốn đạt tới trải nghiệm tột cùng, thông thường phải đi một chặng đường rất dài và tiêu tốn nhiều thời gian. Tuy nhiên, mỗi người chúng ta đều có thể thử nghiệm: hữu thức buông bỏ khối óc của mình, để đi thiết lập một mối quan hệ tràn đầy tỉnh thức với bất kỳ sự vật nào trong hiện tại, giúp bản thân thực sự sống trong giây phút hiện tiền.


Năm 2007, tôi bắt đầu đọc cuốn Sức mạnh của hiện tại (The Power of Now) của Eckhart Tolle, lần đầu tiên có được ý thức về việc "sống trong hiện tại", và cũng lần đầu tiên nếm trải một chút cảm giác thế nào là "sống trong hiện tại", chẳng hạn như trải nghiệm rửa bát mà tôi từng viết trước đây.


Có thể nói, dù tôi đã từng rửa bát vô số lần, nhưng vì luôn vướng bận những cảm xúc và suy nghĩ của Bản ngã 1, nên kết quả là tôi chưa từng thực sự thể nghiệm được cảm giác rửa bát trong hiện tại là như thế nào.


Trải nghiệm sống trong hiện tại lần đó đã ảnh hưởng sâu sắc đến tôi; về sau tôi thường hữu thức nhắc nhở bản thân phải sống với hiện tại. Hơn nữa, quả thực chịu ảnh hưởng từ cuốn sách của Tolle, tôi đã khởi động bài tập quét cảm nhận cơ thể. Tolle nói bạn hãy thử quét cơ thể trước khi ngủ hoặc ngay khi vừa thức giấc, và thế là tôi cứ duy trì việc đó suốt từ bấy đến nay.


Tiến trình tư duy và tiến trình cảm xúc đôi khi sẽ chi phối tôi, khiến tôi không thể an trú trong hiện tại. Điều này có thể khiến một số bạn cảm thấy tiến trình tư duy và tiến trình cảm xúc đều là những chướng ngại. Chúng quả thực là những cơ chế phòng vệ do "tiểu ngã" dựng nên, nhưng bản thân chúng lại mang giá trị to lớn.


Nếu coi tiến trình cảm xúc là cảm xúc và tình cảm, thì cảm xúc chủ yếu là kết quả của việc cái "Tôi" chịu tổn thất hay nhận được lợi ích trong mối quan hệ. Khi "Tôi" nhận được lợi ích, sẽ xuất hiện cảm xúc tích cực; khi "Tôi" chịu tổn thất, sẽ xuất hiện cảm xúc tiêu cực. Còn về tình cảm, nó phụ thuộc vào mối quan hệ nào được thiết lập giữa tự thể (chính mình) và khách thể (đối tượng): Khi trải nghiệm một mối quan hệ lấy thù địch làm chủ đạo, sẽ có hận; khi trải nghiệm một mối quan hệ lấy thiện ý làm chủ đạo, sẽ có yêu.


Dẫu chúng ta luôn lặp đi lặp lại việc "buông bỏ bản ngã", nhưng xin mọi người hãy hiểu rõ rằng: điều này được xây dựng trên nền tảng của những điều chúng ta từng nhấn mạnh — "bản ngã gắn kết" (cohesive self), "trở thành chính mình" và "sở hữu một cuộc đời do chính mình làm chủ". Một người chưa từng hình thành nên một bản ngã gắn kết mà ngay từ đầu đã vội vã buông bỏ bản ngã, thì căn bản sẽ chẳng màng đoái hoài đến cảm xúc, tình cảm của chính mình. Ngược lại, chúng ta phải đặc biệt coi trọng cảm xúc và tình cảm của bản thân, phải tỉnh thức nhận biết trọn vẹn và can đảm sống bật chúng ra. Chỉ có như vậy, một người mới thực sự mở rộng chính mình một cách chân thật, và đây mới là sự khởi đầu của vạn sự. Nếu một người cả đời chưa từng một lần được sống rạch ròi, sảng khoái với yêu ghét ân oán của mình, thì đề bài sinh mệnh của người đó rất có thể không phải là buông bỏ bản ngã, mà là trước hết phải sống bật ra được bản ngã của chính mình.


Sự vĩ đại của khối óc

Những câu chữ của tôi có thể khiến một số bạn mang lại cảm giác: dường như tôi luôn phủ nhận giá trị của khối óc và tư duy; nhưng giờ đây, tôi muốn chính danh lại cho khối óc và tư duy. Mọi phương diện của nhân tính đều vô cùng trọng yếu, khối óc và tư duy cũng vậy.


Một buổi tối nọ, một cô bạn gọi điện kể cho tôi nghe chuyện "cẩu huyết" trong gia đình cô. Mẹ cô là một điển hình của kiểu "phù đệ ma" (người cuồng bảo bọc em trai mù quáng), bà bất chấp mọi giá và thiếu hẳn lý trí để giúp đỡ người em trai (tức cậu của cô bạn), điều này đã gây tổn hại nghiêm trọng đến lợi ích của gia đình nhỏ của chính bà. Hơn nữa, người em trai ấy lại thuộc dạng phá gia chi tử, giúp bao nhiêu cũng vô ích, chẳng khác nào lấp cái hố không đáy. Thế nhưng, chẳng ai khuyên can nổi mẹ cô.


Tôi vừa lắng nghe cô kể, vừa giúp cô phân tích cục diện, rồi logic ẩn sau câu chuyện dần trở nên sáng tỏ. Có lẽ xét đến tận cùng, mẹ cô đang che đậy nỗi hận thù của chính mình đối với người em trai, cùng một vấn đề tất yếu do gia đình trọng nam khinh nữ mang lại — cảm giác bị ghẻ lạnh, bỏ rơi trong gia đình; nhưng mẹ cô lại không đủ dũng khí để đối diện với cảm giác này.


Khi chạm đến chữ "hận", cô bạn tôi vô cùng xúc động. Cô bảo, chưa bàn tới việc điều này có giúp ích được gì cho mẹ cô hay không, nhưng sự phân tích của tôi quả thực đã chạm tới mối hận sâu thẳm bên trong cô. Vừa dứt lời, cô liền nói qua điện thoại rằng đột nhiên cô thấy vô cùng sợ hãi, một luồng khí lạnh chạy dọc từ cột sống bốc thẳng lên tận sau gáy, chân tóc như dựng đứng cả lên.


Tôi an ủi cô: Không sao cả, hãy thử đừng trốn chạy, hãy cảm nhận mối hận này xem chuyện gì sẽ xảy ra.


Sau khi lắng lòng cảm nhận một chút, cô rùng mình ớn lạnh một cái, rồi cảm thấy nơi ngưỡng cửa dường như có một đôi mắt kinh hãi đang trừng trừng nhìn mình, như thể có một con "quỷ" đầy oán hận đang đứng đó nhìn cô chằm chằm. Lại qua một lát, nước mắt cô bỗng dưng tuôn trào, và người cô cũng thả lỏng dần ra. Cô bảo, con "quỷ" đó dường như chính là bản thân cô.


Điều cần giải thích ở đây là: Cô bạn tôi nhìn bề ngoài là một người cực kỳ lương thiện, phải dùng thêm chữ "cực kỳ" mới đủ để hình dung sự lương thiện của cô. Điều đó đồng nghĩa với việc: tính tấn công trên con người cô đã bị khối óc của cô phong tỏa, hơn nữa còn phong tỏa tới một tầng mức rất sâu. Khi những thứ ấy trồi lên từ tiềm thức, chúng sẽ được cô cảm nhận như một con "quỷ". "Quỷ", thông thường chính là tính tấn công bị khối óc chúng ta phong tỏa vào trong tiềm thức; mà tất cả chúng ta đều đã hiểu rồi, nó chính là bản thân sức sống nguyên sơ.


"Tính tấn công" là một thuật ngữ mang nội hàm rất rộng, chúng ta có thể thu hẹp thành một khái niệm nhỏ hơn: đó là "lòng thù địch", và một biểu đạt ở phạm vi hẹp hơn nữa, chính là "lòng hận thù". Quá nhiều người có nhu cầu phải phong tỏa lòng thù địch vào trong tiềm thức, mà việc này bắt buộc phải nương nhờ vào chức năng phòng vệ của khối óc; cho nên đây chính là giá trị vĩ đại của khối óc.


Tại sao lại dùng từ "vĩ đại" để hình dung chức năng tự lừa dối này của khối óc? Bởi vì khi tâm hồn bạn chưa đủ sự hài hòa và vững vàng, một khi ý thức được lòng thù địch, mọi chuyện sẽ trở nên vô cùng rắc rối. Nếu bạn không thể xử lý được lòng thù địch bên trong hay bên ngoài, bạn sẽ bị mắc kẹt tại đó, hoàn toàn không thể nhúc nhích.


Chẳng hạn như mẹ của cô bạn tôi, bà quả thực đang làm những chuyện phi lý trí, giúp đỡ không tiếc công tiếc của cho người em trai phá gia chi tử. Một khi bà ý thức được mình đang làm gì, nhận biết được lòng hận thù của mình đối với em trai, bà có thể sẽ dừng hành vi phi lý trí này lại. Nhưng đồng thời, mối thù địch này có thể sẽ giày vò bà không dứt, khiến bà không tài nào đối diện nổi với người em, cũng như với những người thân liên quan khác.


Bởi vì khi đối diện với lòng thù địch, chúng ta rất dễ rơi vào logic như sau:


  1. Phóng chiếu lòng thù địch này ra thế giới bên ngoài.


  2. Khi đối diện với lòng thù địch từ ngoại giới, theo bản năng ta luôn muốn mình chiếm thế thượng phong, nhưng đồng thời lại sợ hãi bị trả thù.


  3. Nếu không thể chiếm thế thượng phong mà bị rơi vào thế hạ phong, trong lòng sẽ sinh ra nỗi xấu hổ nhục nhã sâu sắc — "Sao mình lại kém cỏi đến thế này". Đồng thời, cũng sẽ xuất hiện nỗi lo âu bị hại nghiêm trọng, thậm chí ở một mức độ nào đó là chứng hoang tưởng bị hại, tưởng tượng đối phương vô cùng hùng mạnh, và tin rằng đối phương nhất quyết lập mưu hãm hại mình dù chẳng được lợi lộc gì.


  4. Một khi nếm trải cảm giác nhục nhã của chính mình, trong lòng sẽ trỗi dậy dục vọng phá hoại mãnh liệt; dục vọng phá hoại này nếu không thể tấn công ra ngoài nhằm vào đối phương, thì sẽ quay ngược lại tấn công chính bản thân mình.


Cứ như vậy, lòng thù địch này sẽ giày vò con người trong những tưởng tượng cô độc; và một khi nó được bộc lộ vào trong mối quan hệ, nó rất có thể sẽ mang lại sự tàn phá cho mối quan hệ ấy.


Cho nên, khi một người chưa có đủ năng lực để xử lý lòng thù địch, cũng chưa có được một mối quan hệ đủ an toàn để giúp họ dung chứa và hóa giải nó, thì một sự lựa chọn rất tốt là: sử dụng cơ chế phòng vệ của bản ngã, đè nén lòng thù địch xuống tiềm thức, để khối óc không còn nhận biết được nó nữa. Nhờ đó, nó sẽ không chiếm dụng dung lượng lớn của Bản ngã 1, và Bản ngã 1 có thể rảnh tay đi xử lý những sự vụ khác, cuộc sống nhờ vậy mới có thể diễn ra bình thường.


Bản ngã khối óc (tức Bản ngã 1) cũng giống như một cỗ máy vi tính vậy: Khi một sự kiện đầy thù địch xuất hiện, đối với một chiếc máy tính cấu hình thấp, nó giống như một chương trình bị lỗi (bug), nó sẽ chiếm dụng toàn bộ bộ nhớ của máy tính, lúc nghiêm trọng sẽ khiến hệ thống tê liệt không thể vận hành.


Bởi thế, người ta mới hay nói câu "nhân gian bất sách" (người đời đã đủ gian nan rồi, xin đừng vạch trần nhau nữa). Đối với những người có cấp độ Bản ngã 1 còn non yếu, người ngoài cuộc có thể dễ dàng nhìn thấu lòng thù địch trên con người họ, nhưng nói toẹt ra cho họ biết lại không phải là một lựa chọn khôn ngoan. Phần lớn thời gian, dẫu bạn có nói cho họ biết thì cũng chẳng có mấy tác dụng, bởi hệ thống phòng vệ bản ngã của họ sẽ tự động gạt bỏ tiếng nói của bạn ra ngoài.


Bên cạnh lòng thù địch, khối óc còn phong tỏa cả "cảm giác tự thể hư nhược" (suy yếu, bất lực của chính mình). Tôi tìm đến nhà phân tâm học của mình để làm phân tích tâm lý đến nay đã gần 4 năm, và khi tiến trình phân tích diễn ra được hơn 2 năm, tôi không ngừng nhận ra tự thể của mình mới hư nhược và bất lực làm sao.


Đối diện trực diện với cảm giác tự thể hư nhược cũng quan trọng hệt như đối diện với lòng hận thù và sự thù địch. Thậm chí có thể nói, về mặt bản chất chúng là một, đều là lòng thù địch (tức sức sống đen).


Từ trước đến nay tôi vẫn thường nói: sự lương thiện mà bạn ngỡ là tốt đẹp đôi khi thực chất chỉ là sự nhu nhược, yếu hèn. Sau khi đã tỉnh thức nhận biết trọn vẹn cảm giác tự thể hư nhược, tôi mới nhìn ra rằng, với tư cách một kẻ cả nể dĩ hòa vi quý, quá nhiều hành vi thoạt trông có vẻ đầy thiện chí của tôi, thực chất chỉ là sự mềm yếu mà thôi.


Hơn nữa, bất kể là xử lý lòng thù địch hay xử lý cảm giác tự thể hư nhược, đều không thể nóng vội một sớm một chiều, mà cần có thời gian và lòng kiên nhẫn. Và vào lúc này, Bản ngã 1 dẫu trông có vẻ cứng nhắc, khô cứng, thì nó vẫn là một "vật chứa" vô cùng quý giá.


Cho nên, đừng ghét bỏ chiếc bình chứa này của mình, đừng thù ghét bất kỳ phần nhân tính nào của bản thân, hãy để mình từ từ trưởng thành: Trước hết hãy có một bản ngã khối óc vững vàng, để gạt bỏ những phần "xấu" như lòng thù địch và cảm giác tự thể hư nhược ra ngoài; sau đó dần dà hình thành nên cảm nhận "về cơ bản tôi là người tốt", từ đó kiến tạo nên một bản ngã gắn kết; cuối cùng mới thu nhận lại những phần "xấu" từng bị mình cắt rời, từng bước dung hợp chúng, đồng thời không ngừng buông bỏ Bản ngã 1, thậm chí ngay cả bản ngã gắn kết cũng có thể tan biến theo. Để rồi bạn thể nghiệm được rằng phía sau Bản ngã 1 có Bản ngã 2, và ẩn sau Bản ngã 2 còn có một sự hiện hữu vĩ đại hơn thế nữa.


Con người ta vốn có "lương tri căn bản", lương tri căn bản của bạn biết rõ bạn đang làm gì; khối óc của bạn dẫu có thể tự lừa dối chính mình, nhưng sự tự dối lừa của khối óc vĩnh viễn không thể lách qua được lương tri căn bản sâu kín ấy. Cho nên, cách bạn đưa ra lựa chọn, cách bạn trải nghiệm và cảm nhận thế giới này, thực chất chính là bạn đang kiến tạo nên thế giới của riêng mình, và bạn đang sống trọn trong đó.


Tuy nhiên, dẫu cho giả định nêu trên có đứng vững, chúng ta cũng đừng bài xích khối óc. Khối óc quả thực có thể khiến bạn trở nên bớt nhạy cảm hơn, nhưng đồng thời nó cũng mang lại cho chúng ta nhiều khả năng hành động hơn, cũng như nhiều cơ hội để lựa chọn hơn.


Tương tác: Bản ngã luôn sẽ bị phá vỡ

Từ "chân ngã" vốn bắt nguồn từ cấu trúc ba tầng của tâm hồn, tức chia cái "Tôi" của một người thành ba tầng: tầng bảo vệ, tầng thương đau và tầng chân ngã. Chân ngã không phải là chân tính tình theo nghĩa thông thường, mà là bản ngã căn bản nhất. Một khi chạm tới tầng này, bạn sẽ thể nghiệm được rằng bản ngã của bạn được kết nối với một sự hiện hữu to lớn hơn, vì thế chân ngã cũng có thể xem là "đại ngã".


Khi một người cho rằng bản ngã của mình chính là Bản ngã 1, khối óc và tư duy là tất cả, thì người đó chính là một "ngụy tự thể" (false self / tự thể giả tạo). Vốn dĩ khối óc chỉ là một phần của bản ngã, nhưng lại bị người đó coi là toàn bộ, cho nên đó là một sự giả tạo. Hơn nữa, lúc này người đó sẽ mất đi sự kết nối với Bản ngã 2, các tiến trình thể xác và tiến trình cảm xúc sẽ bị tắc nghẽn, biểu hiện ra ngoài là cơ thể cứng đờ, cảm xúc thiếu tự nhiên. Còn "chân tự thể" (true self / tự thể chân thực) lại là một dạng tự thể nơi Bản ngã 1 và Bản ngã 2 cùng tồn tại song hành, trong đó Bản ngã 1 phục vụ cho Bản ngã 2; bạn bắt buộc phải trải nghiệm được rằng mọi hoạt động tâm lý của mình đều phát khởi từ Bản ngã 2. Khi đó, bạn mới cảm nhận được mình là một thực thể sống động, chân thật. Nếu phần lớn các hoạt động đều phát khởi từ Bản ngã 1, bạn sẽ luôn cảm thấy bản thân mình trống rỗng, giả tạo.


Thuật ngữ "Tôi", "Bạn" và "Nó" của Martin Buber dần dà mang lại một nhận thức: Có lẽ thế giới này có thể phân định như thế này — cái "Tôi" thuộc về thế giới nội tâm bên trong, và toàn bộ thế giới bên ngoài cái "Tôi" ấy chính là "Bạn". Mà nếu "Tôi" không thể tương ngộ trọn vẹn với "Bạn", ta sẽ giáng cấp "Bạn" xuống thành "Nó". Nhưng "Tôi", "Bạn" và "Nó", theo vần thơ của Rumi, lại là những tấm gương soi chiếu lẫn nhau, đều là ảo ảnh của ý thức. Thậm chí tất cả thảy đều là ảo ảnh, bao gồm cả thời gian, không gian và vật chất.


Hỏi: Làm thế nào để hiểu được mối quan hệ giữa những vô thường như sự biến đổi, cái chết của bản ngã với việc hình thành bản ngã gắn kết? Vô thường chẳng phải đồng nghĩa với việc bản ngã càng trở nên bất ổn định hơn sao?


Đáp: Chúng ta cứ khư khư bám chặt lấy cái thường hằng, đặc biệt là bám víu vào bản ngã và sợ hãi cái chết, nhưng cái chết lại hiện diện khắp muôn nơi. Trước đây chúng ta từng nói, sự sinh diệt của một niệm đầu, của một nguồn động lực, đều có thể khiến chúng ta nếm trải sinh tử. Có lẽ thứ chúng ta sợ hãi không phải là cái chết, không phải là vô thường, mà là lo sợ ẩn sau vô thường là sự hư vô rỗng tuếch, hoặc có một sự hiện hữu tà ác đầy sức mạnh và thù địch đang chực chờ. Nhưng khi nhận ra vô thường chẳng qua cũng chỉ là vô thường mà thôi, thì vào thời điểm đó, người ta sẽ không còn quá khiếp sợ vô thường nữa.


Còn về bản ngã gắn kết, chúng tôi đã nhiều lần nhấn mạnh, sự hình thành của nó phải được xây dựng trên cảm nhận "về cơ bản tôi là người tốt"; thực chất nỗi sợ của chúng ta là sợ cái "Tôi" này là kẻ tạo ra năng lượng chết chóc, là kẻ xấu xa tồi tệ. Trên nền tảng của nỗi sợ hãi ấy, bản ngã gắn kết sẽ không tài nào hình thành nổi.


Hỏi: Nếu nói mất kiểm soát không nhất thiết phải mang hình thức cuồng loạn (hysteria), mà về bản chất là một tầng bản ngã tan biến để hiển lộ ra một tầng bản ngã khác, vậy thì liệu có ngày nào đó ngoảnh đầu nhìn lại, ta không thể định nghĩa nổi chính mình nữa hay không?


Đáp: Bên cạnh bản ngã gắn kết, còn có một thuật ngữ khác về bản ngã — đó là "tính đồng nhất của bản ngã" (ego identity), dùng để chỉ việc một người có một định nghĩa bản thân tương đối ổn định. Một người đã hình thành được tính đồng nhất của bản ngã sẽ bộc lộ một cá tính vững vàng, nhất quán. Nếu liên tục phản bội chính mình, điều đó hiển nhiên đồng nghĩa với việc ta đang không ngừng phá vỡ tính đồng nhất của bản ngã, để rồi rốt cuộc không thể quay trở lại với định nghĩa ban đầu.


Thực ra, người ta không thể hai lần bước chân xuống cùng một dòng sông; cái gọi là "tính đồng nhất của bản ngã" chẳng qua chỉ là một cảm giác nền tảng mà thôi, chứ không phải một con người thực sự có thể mãi mãi dùng duy nhất một định nghĩa bất biến để đóng khung chính mình.


Hỏi: Mỗi khi gặp chuyện, tôi luôn chần chừ trì hoãn, không chịu giải quyết; tôi có nên chấp nhận hiện trạng này của mình không? Làm sao mới có thể dũng cảm đối diện với vấn đề?


Đáp: Trong trạng thái này, bạn cần nhận được sự giúp đỡ. Có thể nói rằng, đây là lúc bản ngã của bạn đã bị phá vỡ, nhưng do chưa có được một bản ngã gắn kết nên sau khi bị phá vỡ, nó giống như bị tan rã ra từng mảnh. Đôi khi, việc nằm yên bất động như vậy cũng là một cách tích tụ năng lượng để giúp bản ngã tan rã có thể tái tụ hợp lại, rồi sau đó mới có thể bước ra ngoài. Nhưng cách này sẽ quá chậm chạp, quá gian nan, và cái giá phải trả có thể quá đắt; lúc này phương pháp thích hợp nhất là tìm kiếm sự trợ giúp từ các mối quan hệ. Nương nhờ sức mạnh của mối quan hệ để trước hết có được một "vật chứa" ngoại tại, rồi sau đó nội hóa vật chứa bên ngoài ấy để bồi đắp, gia cố cho chiếc bình chứa "bản ngã" của chính mình.


Đôi khi, điều trị bằng thuốc men cũng rất quan trọng — thuốc thường có thể hạ thấp hoặc nâng cao năng lượng, từ đó đạt tới mức độ giúp bản ngã của một người có thể được sử dụng và được kiểm soát trở lại.


Ý nghĩa của sinh mệnh nằm ở sự lựa chọn

Sinh mệnh có ý nghĩa hay không? Hay nói cách khác, sinh mệnh của bạn có ý nghĩa gì không?


Thân xác bạn rốt cuộc rồi cũng sẽ chết đi. Hơn nữa, so với vũ trụ bao la vô tận, thân xác bạn nhỏ bé tựa như một hạt bụi tro; và giữa dòng chảy đằng đẵng của thời gian, sự tồn tại của tấm thân này chỉ là một thoáng chớp mắt không ai hay biết. Trong tiến trình tiến hóa, bạn bị xô đẩy bởi những nguồn sức mạnh khổng lồ, vậy mà bạn lại dám ngông cuồng bàn về tự do. Đừng nói tới tự do, ngay cả việc "ý chí tự do" có thực sự tồn tại hay không vẫn còn là một dấu hỏi lớn.


Thế nhưng đồng thời, bạn lại cảm nhận sâu sắc rằng mình đang hiện hữu vô cùng chân thực, sinh mệnh của bạn mang một ý nghĩa phi thường. Nếu bạn sống hoài sống phí năm tháng, nếu bạn không sống bật ra được con người thật của mình, cảm giác hư vô chết người sẽ lập tức xâm chiếm lấy bạn.


Nếu sinh mệnh có ý nghĩa, thì ý nghĩa đó là gì? Theo góc nhìn của tôi, ý nghĩa của sinh mệnh nằm chính ở sự lựa chọn. Giữa vũ trụ mênh mông, giữa dòng thời gian miên viễn, giữa tiến trình tiến hóa vô tận, sự lựa chọn của một cá nhân nhỏ bé như hạt bụi là bạn, chí ít đối với riêng cá thể bạn, mang một ý nghĩa vô hạn.


Lựa chọn quyết định bạn là ai. Giữa dòng vô thường của thời gian, không gian và sự tiến hóa, sự lựa chọn của bạn lại càng trở nên vô cùng quý giá. Bạn thậm chí có thể nương nhờ vào sự lựa chọn để xuyên thấu qua vô thường, mà nhìn thấu được cái thường hằng.


Cảm giác no đủ tràn về,

nhưng nó thường cần một mẩu bánh mì


để mang nó lại gần.


Vẻ đẹp vây bọc quanh ta,


nhưng thường ta phải bước chân vào hoa viên


mới hay biết được điều ấy.


Thân thể con người vốn là một màn hình,


ẩn giấu hoặc hiển lộ một phần


luồng ánh sáng rực rỡ


ngự trị bên trong bạn.


Nước, câu chuyện, thân xác,


mọi việc chúng ta làm thảy đều là phương tiện,


ẩn giấu hay hiển lộ những điều vốn bị giấu kín.


Hãy nghiên cứu chúng,


và tận hưởng cảm giác được gột rửa


bởi những bí mật mà đôi khi ta hiểu thấu,


dẫu vào khoảnh khắc ấy ta chẳng hề hay biết.


— Rumi

Lựa chọn của Neo

Ở nửa sau của bộ phim The Matrix 3 (Ma trận 3), Neo bước tới trước mặt Chúa tể Máy móc (Deus Ex Machina), nói rằng anh sẵn sàng đi ngăn chặn Smith, để đổi lấy nền hòa bình giữa thế giới máy móc và thế giới loài người. Khi đó, Smith sau khi có được năng lực nhân bản đã hoàn toàn mất kiểm soát, và Chúa tể Máy móc biết rõ điều này.


Đề nghị hòa bình của Neo đã được chấp thuận, nhưng Chúa tể Máy móc hỏi anh: "Nếu ngươi thất bại thì sao?"


Neo đáp: "I won't" (Tôi sẽ không thất bại.)


Tiếp đó, Chúa tể Máy móc đưa Neo tiến vào Ma trận. Tại đó, Neo và Smith đã mở ra một trận đại chiến kinh thiên động địa. Trong cuộc giao tranh, năng lực của cả hai không ngừng thăng cấp, dần dà đạt tới sức công phá tương đương những quả bom hạt nhân, nhưng trông có vẻ Smith luôn chiếm thế thượng phong. Sau khi đánh cho Neo thoi thóp hơi tàn, Smith đã cất lên một bài diễn thuyết:


Tại sao ngươi không từ bỏ? Vì tự do, chân lý, hòa bình hay tình yêu? Tất cả đều là ảo ảnh. Mọi thứ về bản chất đều giả tạo, dối trá hệt như Ma trận này, tình yêu chẳng qua chỉ là trò tiêu khiển vô vị do loài người phát minh ra để chống lại sự hư vô. Ngươi không thể không nhận ra điều đó, ngươi nên tỉnh lại đi! Ngươi không thắng nổi đâu, tiếp tục chiến đấu chẳng có chút ý nghĩa nào cả. Tại sao ngươi vẫn cứ ngoan cố kiên trì?

Neo trả lời: "Because I choose to." (Bởi vì đó là lựa chọn của tôi.)


Sau khi thốt ra câu nói ấy bằng chút tàn lực, Neo dường như phục hồi lại một phần chiến lực, một lần nữa đánh gục Smith. Thế nhưng, Smith lại trở nên hùng mạnh hơn, đúng kiểu "đạo cao một thước, ma cao một trượng". Rốt cuộc Smith vẫn áp đảo Neo, và hắn lại một lần nữa đánh gục anh. Đây là hiệp đấu cuối cùng trong chương trình giao đấu giữa họ.


Ngay khi chiến thắng đã ở trong tầm tay, Smith đột nhiên dâng lên nỗi sợ hãi. Hắn nhớ lại mình từng thấy trước cảnh tượng này trong điềm báo, và hắn cũng từng nói với Neo một câu thế này:


"Everything that has a beginning has an end, Neo." (Vạn vật có bắt đầu ắt có kết thúc, Neo.)


Hắn nhận ra đây có thể là một cái bẫy, nhưng cuối cùng vẫn thò tay cắm thẳng vào cơ thể Neo, biến anh thành một bản sao Smith tiếp theo.


Ngay sau đó, thể xác của Neo trong thế giới thực chết đi, và bản thể Smith mới tương ứng trong Ma trận cũng hóa thành một luồng ánh sáng rồi tiêu biến. Kế tiếp, toàn bộ các phân thân của Smith đều tan thành mây khói.


Trong tình tiết này, hai câu nói của Neo khiến tôi ấn tượng sâu sắc: "Tôi sẽ không thất bại" và "Bởi vì đó là lựa chọn của tôi". Làm sao anh có thể khẳng định chắc nịch rằng "Tôi sẽ không thất bại"? Chẳng lẽ anh cũng đã thấy trước kết cục cuối cùng này? Hơn nữa, kết cục này phải chăng cũng là sự an bài của Đấng Sáng Tạo (The Architect) và Nhà Tiên Tri (The Oracle)? Tất cả chỉ là một chương trình đã được định sẵn hay sao?


Tôi muốn dùng hệ thống ngôn ngữ của tâm lý học hoặc nhân tính thông thường để giải mã điều này.


Cách hiểu của tôi là: Sở dĩ Neo nói "Tôi sẽ không thất bại" là bởi anh đã chuẩn bị sẵn sàng cho cái chết. Neo hiểu rằng, cách để ngăn chặn Smith không phải là đánh bại hắn, mà là làm bộ như bị hắn đánh bại, để bị hắn đồng hóa và nhân bản thành một Smith mới. Sau khi bị sao chép thành Smith, nếu cá thể "Smith-Neo" này vẫn còn tham sống, thì anh sẽ bị Smith khống chế hoàn toàn; nhưng anh có thể chọn cái chết. Khi anh chủ động lựa chọn cái chết, anh cũng sẽ lây truyền sự hủy diệt ấy khiến toàn bộ các phân thân Smith khác cùng chết theo.


Ý nghĩa của sinh mệnh nằm ở sự lựa chọn, bởi vì lựa chọn quyết định bạn là ai.


Khi đưa ra lựa chọn, mối quan hệ giữa thế giới bên ngoài và bạn sẽ được nội hóa vào sâu trong tâm khảm. Và vào lúc này, lương tri căn bản của bạn đang dõi mắt nhìn bạn. Để sinh tồn, để trở nên mạnh mẽ, để tiếp tục sống sót, bạn có thể đưa ra những lựa chọn chỉ mang lại lợi ích cho "tiểu ngã", nhưng lương tri căn bản vẫn sẽ phát huy tác dụng để cho bạn biết rõ: bạn đã đưa ra sự lựa chọn như thế nào. Khối óc có thể giúp bạn tự lừa mình dối người, phong tỏa lương tri căn bản, nhưng sâu thẳm trong lòng, tiếng nói ấy là thứ không thể bị dập tắt.


Lựa chọn của bạn quyết định bạn đang sống trong một thế giới tâm hồn như thế nào. Lựa chọn của bạn càng tăm tối, càng cố chấp bám víu vào sự hùng mạnh và tồn tại của "tiểu ngã", thì bạn lại càng sợ chết. Bất kể vật lý học và sinh lý học giải thích cái chết ra sao, những kẻ chọn bóng tối luôn sợ chết hơn ai hết, bởi sâu thẳm bên trong họ mơ hồ khiếp sợ rằng: khi khối óc và thể xác tiêu tan, sẽ có một thế giới tâm linh trừu tượng đang chờ đợi, và họ sợ mình sẽ rơi tõm vào cõi u minh tăm tối.


Hơn nữa, nếu bạn luôn theo đuổi sự hùng mạnh và tà ác, bạn sẽ mơ hồ cảm nhận được rằng: luôn có một thế lực hùng mạnh và tà ác hơn thế đang tồn tại. Bạn sẽ bị rơi vào đó và bị nó nuốt chửng, hệt như từng người từng người một bị sao chép thành Smith vậy.


Ngược lại, lựa chọn của bạn càng hướng về ánh sáng, càng lương thiện, càng tin vào tình yêu, bạn sẽ càng cảm thấy thả lỏng, thanh thản. Hơn nữa, sẽ có một sự điềm nhiên sâu sắc: bạn không quá sợ chết, thậm chí có thể thản nhiên đối diện với cái chết. Bởi vì nếu sau khi chết, tâm hồn được rơi vào trong ánh sáng, thì có gì phải kinh sợ?


Khi Smith diễn thuyết trước Neo, hắn nhấn mạnh nhiều về tình yêu, coi đó là ảo ảnh. Nhưng Neo quả thực đã đắm chìm vào tình yêu, anh yêu Trinity, và kéo theo đó là tình yêu dành cho toàn thể nhân loại. Cho dẫu không có thế giới sau cái chết, chúng ta cũng đều hiểu rằng: có tình yêu, và được chết vì người mình yêu thương, thì cái chết đã chẳng còn đáng sợ đến thế nữa.


Trong phần Thực tại: Mạnh và yếu, thiện và ác, tôi từng chia sẻ: thiện ác (hay yêu hận) và mạnh yếu là hai chiều kích cốt lõi của nhân tính. Trong hận thù, tà ác (hay lòng thù địch), người ta luôn phải phân định mạnh yếu, phải so kè cao thấp; kẻ yếu, kẻ ở tầng bậc thấp sẽ dâng lên nỗi nhục nhã ê chề, cùng với lòng đố kỵ và dục vọng tranh đấu khôn nguôi. Còn trong tình yêu và thiện ý, ý nghĩa của mạnh yếu, cao thấp, đúng sai đã không còn quá quan trọng nữa rồi.


Cho nên, chúng ta sẽ thấy rằng: trong một thế giới chỉ biết nói chuyện bằng mạnh yếu, cái ác ắt sẽ hoành hành. Hơn nữa, kẻ mạnh nhất sẽ bắt người khác phải phục tùng tuyệt đối mệnh lệnh của mình, hắn hoàn toàn không có chút ý muốn tôn trọng ý chí tự do của người khác. Sự phục tùng tuyệt đối chính là ẩn dụ cho việc Smith nhân bản Smith. Và khi một người phục tùng một người khác đến mức mù quáng, điều đó cũng đồng nghĩa với việc họ đã cho phép sự nhân bản và kiểm soát này được diễn ra. Sở dĩ điều này xảy ra, cũng là bởi kẻ yếu đuối kia quá sợ chết.


Thế nhưng, phàm là con người ai rồi cũng phải chết, dẫu khi còn sống bạn có quyền khuynh thiên hạ đến đâu, thân xác bạn rốt cuộc cũng sẽ phải tan biến. Và linh hồn sau khi tách khỏi khối óc và thể xác liệu có tồn tại hay không, sẽ quy về cõi nào, đó là câu hỏi mà con người buộc lòng phải đối diện. Đây không phải là điều có thể giải quyết êm thấm chỉ bằng một câu phủi tay: "Linh hồn căn bản không hề tồn tại". Những kẻ kiên định không tin vào sự tồn tại của linh hồn, nhưng đồng thời lại không ngừng đưa ra những lựa chọn tăm tối, họ rất dễ mắc phải một vấn đề: vô cùng khiếp sợ bóng tối.


Trong phần Mối quan hệ: Nơi không có sự hồi đáp chính là bước đường cùng, tôi từng nói: đối với những kẻ mang nhân cách phản xã hội hung bạo và tàn ác nhất, hình phạt đáng sợ nhất dành cho họ không phải là nhục hình tra tấn, mà là bị nhốt vào căn phòng tối biệt giam.


Mặc dù tôi luôn nhắc đi nhắc lại việc phải sống bật ra chính mình, sở hữu một cuộc đời do mình làm chủ, nhưng đó là bởi dựa trên lý thuyết và trải nghiệm thực chứng, tôi tin rằng nếu sức sống của một con người được nhìn thấy một cách trọn vẹn, nó sẽ bước vào miền ánh sáng; chứ không phải tôi đang cổ xúy cho việc dẫu có làm tổn thương sâu sắc người khác thì vẫn cứ ích kỷ sống cho riêng mình.


Trong những vần thơ của Rumi, ông luôn nhắc tới hình tượng "tấm gương". Có thể nói, "Tôi" và "Bạn" là tấm gương phản chiếu lẫn nhau, thế giới nội tâm của "Tôi" và thế giới bên ngoài của "Bạn" là tấm gương phản chiếu lẫn nhau; còn việc nhìn thấy điều gì từ trong tấm gương ấy, đó là điều có thể lựa chọn. Hay nói cách khác, điều đó được quyết định bởi chính sự lựa chọn của bạn — và đó chính là ý nghĩa của sinh mệnh.


Ouroboros — Ẩn dụ của vô thường

Ăn uống và vô thường thì có liên quan gì đến nhau?


Nếu bạn cảm thấy chủ đề này có phần đường đột, điều đó đồng nghĩa với việc rất có thể bạn đang ở trong cơ chế phòng vệ; bạn không muốn nhìn thẳng vào một sự thật căn bản nhất: Khi bạn ăn, bạn chính là một kẻ hủy diệt. Nghĩa là, bạn đang tạo ra cái chết, tạo ra sự vô thường.


Nghe có vẻ hơi cường điệu, nhưng chẳng phải vậy sao? Khi bạn ăn, bạn đang tạo ra sự hủy diệt. Nếu bạn ăn chay, bạn đang hủy diệt thực phẩm; còn nếu bạn ăn thịt, bạn đang sát sinh.


Ý nghĩa của sinh mệnh nằm ở sự lựa chọn; bạn chọn cách thiết lập mối quan hệ như thế nào với ngoại vật, thì mối quan hệ ấy, bức tranh ấy sẽ được nội hóa vào sâu trong tâm hồn bạn. Chuyện ăn uống, đặc biệt là ăn thịt, là những việc quá đỗi bình thường, bình thường đến mức khiến người ta dễ dàng ngó lơ ý nghĩa ẩn sau nó, nhưng ẩn dụ ấy quả thực luôn luôn hiện hữu.


Khi vươn dài tính tấn công mà làm tổn thương người mình yêu, bạn sẽ thấy cắn rứt; giết chết một sinh linh cũng là sự duỗi mở của tính tấn công, điều này rất dễ dẫn tới cảm giác tội lỗi. Dưới góc nhìn của tôi, đây là một điều tất yếu.


Nhiều người ăn chay chọn không ăn thịt cũng chính vì logic này. Thế nhưng, bạn ăn thực vật, thực vật cũng là sinh mạng cơ mà! Cho dù bạn không ăn những động vật và thực vật mang sự sống, bạn ăn những thứ khác, bạn cũng vẫn phải hủy diệt thứ bị bạn nuốt trọn vào bụng, để rồi biến thành chất thải bài tiết ra ngoài.


Tất nhiên, đối với Mẹ Thiên nhiên, chất thải bài tiết lại có thể làm phân bón, và hạt giống của rất nhiều loài thực vật sở dĩ có thể phát tán rộng rãi cũng là nhờ vào sự trợ giúp của quá trình nuốt ăn, tiêu hóa và bài tiết của con người cùng muôn loài động vật.


Cho nên, vạn vật đều nằm trong một vòng tuần hoàn luân chuyển. Sự sống của bạn nương nhờ vào cái chết của các thực thể khác; và cái chết của bạn rồi đây cũng sẽ nuôi dưỡng sự sống của những thực thể khác.


Hơn nữa, vạn vật vẫn đang không ngừng tiến hóa: sinh vật bậc cao ăn sinh vật bậc thấp, nhờ đó mà vạn vật mới có thể tiến hóa. Đồng thời, sự tàn sát do việc ăn uống mang lại cũng đang duy trì sự cân bằng cho toàn bộ hệ sinh thái.


Donald Winnicott từng nói: Mọi điều thuộc về trẻ sơ sinh đều mang tính tâm lý. Chẳng hạn như việc bú mẹ, đó không chỉ là nhu cầu sinh lý đơn thuần, mà còn ẩn chứa ẩn dụ tâm lý vô cùng sâu sắc. Đứa trẻ sơ sinh biết rằng, khi bú sữa, nó đang nuốt chửng; nếu việc nuốt chửng mang hàm ý hủy diệt, thì đứa trẻ phải đối diện với hàm ý này ra sao?


Nuốt chửng chính là khởi đầu của lòng thù địch nguyên sơ. Đứa trẻ sơ sinh cần nuốt lấy dòng sữa từ bầu ngực mẹ để nuôi dưỡng chính mình. Lúc này, mô thức quan hệ mà đứa trẻ thiết lập với bầu vú mẹ trở nên vô cùng hệ trọng:


  • Trường hợp tồi tệ nhất: có những người mẹ căn bản không hề muốn nuôi dưỡng đứa trẻ, họ cảm nhận sâu sắc rằng việc đứa trẻ bú nuốt đang bóc lột họ, tàn phá họ. Không chỉ tàn phá nhan sắc của họ, mà còn khiến họ có cảm giác thiếu thốn kiệt quệ nghiêm trọng, kết quả là họ không muốn cho bú, thậm chí họ còn ghen tị với đứa con vì nó được thưởng thức dòng sữa căng tràn của chính mình.


  • Trường hợp người mẹ sẵn lòng nuôi con, nhưng dòng sữa và tình cảm của bà lại vô cùng nghèo nàn, cạn kiệt: chẳng hạn như bà đang sống trong cảnh ngộ khốn khó, lo cho thân mình còn chưa xong. Một người mẹ suy nhược như vậy sẽ mang lại cho đứa trẻ nhận thức này: Để sống sót, con phải bú sữa; nhưng việc bú sữa sẽ làm tổn thương mẹ, cho nên con phải kiềm chế, bớt bú được chừng nào hay chừng ấy, nhịn được thì nhịn; mỗi khi bú thật, lòng lại ngập tràn cảm giác cắn rứt, tội lỗi. Rất nhiều bà mẹ đang rơi vào tình cảnh này, họ thực sự đã gồng mình vượt xa năng lực của bản thân để nuôi con. Lúc này, đứa trẻ sẽ cảm thấy việc mình bú sữa chẳng khác nào đang gặm nhấm sinh mệnh, thậm chí là rỉa thịt thân xác của người mẹ.


  • Tình huống tốt đẹp nhất: người mẹ sẵn lòng nuôi dưỡng đứa trẻ, tình cảm của bà chan chứa yêu thương, đồng thời dòng sữa của bà cũng căng tràn dồi dào. Khi bà dùng dòng sữa ngọt ngào ấy để nuôi con, mang lại cho con sự thỏa mãn to lớn, bản thân bà cũng nhận được cảm giác thỏa mãn lớn lao, bà cảm thấy chính mình thật phong phú, đủ đầy. Bản thân cảm giác thỏa mãn này đã trở thành một dạng phản hồi tích cực, một phần thưởng tự thân, không cần đứa trẻ phải đền đáp thêm bất kỳ điều gì nữa. Nghĩa là, bà toàn tâm toàn ý cho con bú, đồng thời bản thân bà luôn sung mãn, thậm chí vì nuôi nấng con khôn lớn mà cảm thấy mình càng thêm tươi đẹp, mạnh mẽ. Trong hoàn cảnh này, đứa trẻ sẽ không cảm thấy việc ăn uống là một chuyện một mất một còn. Hơn nữa, trong trạng thái được thỏa mãn trọn vẹn này, đứa trẻ sẽ nảy sinh lòng biết ơn to lớn đối với người mẹ một cách vô cùng tự nhiên. Đứa trẻ sẽ cảm thấy thế giới này thật tươi đẹp, nó có thể thỏa thuê bú sữa, thỏa thuê hít thở, thỏa thuê cất lên tiếng nói biểu đạt của mình. Mà tất cả những điều này đều do người mẹ mang lại, người mẹ lại chính là ẩn dụ đầu đời của toàn bộ thế giới bên ngoài, thế là đứa trẻ liền mang lòng biết ơn sâu sắc đối với người mẹ và với toàn thể thế giới. Lòng biết ơn nguyên sơ nhất đã được khởi sinh như vậy.


Ngược lại, trong hai phương thức nuôi dưỡng đầu tiên, đứa trẻ đều sẽ có cảm giác thiếu thốn, đồng thời bị năng lượng chết chóc bủa vây, từ đó rất dễ rơi vào tâm lý đố kỵ, ghen ghét (envy). Chúng vừa muốn ăn uống ngon lành, muốn hấp thụ đầy đủ dinh dưỡng, nhưng đồng thời lại cảm thấy làm vậy là đang tấn công, sát hại, bóc lột đối phương — tức là sự lớn mạnh và sự sống của bản thân sẽ dẫn tới sự suy kiệt và cái chết của người kia. Lúc này, hoặc là chúng sẽ đè nén dục vọng ăn uống và hấp thu của mình, hoặc là chúng sẽ trở nên tham lam vô độ mà mặc kệ sống chết của đối phương.


Có một hình tượng biểu trưng mang tên "Ouroboros" — tức con rắn tự cắn đuôi mình.


Trước hết, đây là một sự thật có thể xảy ra trong tự nhiên, loài rắn đôi khi thực sự sẽ tự cắn nuốt đuôi của chính nó. Kế đến, điều quan trọng là đây là một biểu đạt mang tính biểu tượng xuất hiện trong rất nhiều nền văn hóa khác nhau. Ouroboros có một vài hình ảnh kinh điển: nó có thể là một con rắn uốn mình thành một vòng tròn khép kín, hoặc có thể là một con rắn vặn mình thành hình số "8" nằm ngang (biểu tượng vô cực $\infty$).


Nếu nhìn từ chiều kích thời không vô tận, sự tiến hóa của vạn vật giống hệt như một con cự xà đang tự nuốt chửng chính mình: một mặt vừa tiêu diệt bản thân, mặt khác lại không ngừng sinh sôi nảy nở; năng lượng chết và năng lượng sống hoàn toàn hòa làm một thể, "bất sinh bất diệt, bất tăng bất giảm, bất cấu bất tịnh".


Đó chính là một cái Thường Hằng.


Dẫu nói như vậy, nhưng cách diễn giải này cũng không thể trực tiếp hóa giải được cảm giác tội lỗi nảy sinh quanh chuyện ăn uống trong lòng bạn. Là một cá thể, chịu sự thôi thúc của năng lượng chết, bạn vẫn sẽ muốn ăn uống. Đồng thời, bất kể bạn có ý thức được hay không, việc ăn uống đang tạo ra sự hủy diệt, thì bức tranh hủy diệt này vẫn sẽ được nội hóa vào sâu trong tâm hồn bạn, mang lại cho bạn cảm giác tội lỗi.


Trừ phi bạn có thể tỉnh thức nhận biết một cách trọn vẹn mọi trải nghiệm sinh tử do chuyện "ăn" mang lại. Mọi trải nghiệm của con người xoay quanh chuyện ăn, xoay quanh sự sinh diệt của cá thể bạn — bao gồm cảm giác tội lỗi, lòng biết ơn, sự đố kỵ, nỗi lo âu về cái chết, dục vọng hủy diệt, khát khao sáng tạo, yêu, hận, thù địch, thiện ý... tất thảy đều mang giá trị riêng, và đều mang một ý nghĩa thường hằng bất biến.


Tự tính hóa: Hành trình anh hùng từ sinh đến tử

Khái niệm "Hành trình anh hùng" (The Hero's Journey) của Joseph Campbell vừa là một công trình nghiên cứu về các câu chuyện thần thoại truyền thuyết khắp nơi trên thế giới, vừa là sự kế thừa mượn dùng một số khái niệm từ người thầy của ông là Carl Jung, đặc biệt là khái niệm "Tự tính hóa" (Individuation).


Từ "Tự tính" (Self) mà trường phái tâm lý học phân tích của Carl Jung sử dụng, chữ cái đầu tiên "S" bắt buộc phải viết hoa, vì thế nó rất gần với ý nghĩa của "Đại ngã" hay "Chân ngã". Các học giả thuộc trường phái phân tích tâm lý tại Trung Quốc thì cho rằng, nó cũng có thể dịch thành chữ "Đạo".


Tóm lại, "Tự tính" dùng để chỉ bản tính nội tại, nó ngầm mang ý nghĩa vượt thoát khỏi bản ngã; mà vượt thoát bản ngã lại giống như việc đi tìm kiếm một thứ gì đó vĩ đại hơn bản ngã ở bên ngoài chính mình. Còn "Tự tính hóa" lại chỉ việc một con người đi sâu vào bản ngã, trở thành chính mình, để rồi từ đó phát hiện ra một sự hiện hữu to lớn hơn.


Chẳng hạn, trong hành trình anh hùng mà Campbell miêu tả thường xuất hiện hiện tượng thế này: Người anh hùng ý thức được một số sứ mệnh của mình, nhưng để hoàn thành những sứ mệnh đó, anh hùng buộc phải rời bỏ cuộc sống êm ấm do khối óc của mình dựng nên. Họ luôn vô cùng miễn cưỡng, nhưng dường như có một sức mạnh tương tự như định mệnh liên tục đẩy đưa họ rơi vào những cảnh ngộ tương tự, khiến họ nhận ra có một thứ gì đó đang kêu gọi, vẫy gọi chính mình. Rốt cuộc họ đập vỡ bản ngã, đón nhận tiếng gọi vừa như đến từ số phận bên ngoài, lại vừa như vọng ra từ nơi sâu thẳm trong lòng, để rồi dấn thân bước vào hành trình anh hùng.


Hành trình anh hùng sẽ khởi đầu từ sự "chia cắt" (phân ly), tức rời bỏ cuộc sống vốn có của mình, hệt như việc rời xa vòng tay ôm ấp của người mẹ. Lắng nghe "tiếng gọi phiêu lưu", kinh qua muôn vàn thử thách, tiếp nhận "sự truyền thụ bí mật", rồi sau đó "trở về" để hoàn thành một sự nghiệp hiển hách.


Trong bài viết Động lực: Hành trình anh hùng, tôi từng bàn về ba giai đoạn của hành trình anh hùng: Hoa viên, Sa mạc và Sư tử.


Cụm từ "Hành trình anh hùng" rất dễ mang lại cho người ta cảm giác về sự vươn lên ngạo nghễ, hiên ngang; nhưng tiến trình trọn vẹn của nó lại là một quá trình tự tính hóa. Không chỉ là việc mở rộng tính tấn công và chuyển hóa nó thành năng lượng sống, mà còn phải biết đón nhận vô thường và cái chết, thản nhiên ôm trọn lấy năng lượng chết và sự tàn lụi. Campbell nói rằng lý thuyết phân tâm học của Freud chỉ nhấn mạnh vào quá trình mặt trời mọc, trong khi lý thuyết của Jung lại coi trọng cả quá trình mặt trời lặn. Cũng giống như cả cuộc đời chúng ta: sinh ra từ tử cung của người mẹ, rồi chia tách, mở rộng sinh mệnh của mình, thản nhiên đối diện với cái chết, và cuối cùng bước vào nấm mồ — nấm mồ chính là một tử cung tăm tối.


Tầm nhìn của Freud vô cùng khoáng đạt, dĩ nhiên ông không thể nào bỏ qua quá trình mặt trời lặn, càng không thể nào ngó lơ chuyện cái chết. Ông cũng đã đặc biệt đề xuất khái niệm "bản năng sống" (Eros) và "bản năng chết" (Thanatos), coi đó là những nguồn động lực căn bản nhất. Điểm khác biệt là: lý thuyết tự tính hóa của Jung cho rằng nơi sâu thẳm nhất trong nhân tính của một con người được kết nối với "Đạo", cho nên cần phải sống bật nó ra, ý thức về nó một cách trọn vẹn. Còn Freud lại có phần sợ hãi trước "bản ngã nguyên sơ" (Id / Bản năng), và cho rằng cần phải dùng "siêu bản ngã" (Superego / Siêu ngã) để chế ngự nó. Tương đối mà nói, Freud luôn mang nỗi sợ hãi đối với chính bản tính con người. Vì vậy cũng có thể nói rằng, ông quả thực chưa hoàn thành trọn vẹn quá trình tự tính hóa như Jung.


Freud đã đề xuất hệ thống phòng vệ bản ngã, mà thứ cần phòng vệ chính là những trải nghiệm không mấy dễ chịu. Tôi đúc kết lại thành hai điều: sự hư nhược của tự thể và lòng hận thù trong mối quan hệ. Một khi bàn tới cái chết, tới sự suy yếu của tự thể và lòng hận thù trong mối quan hệ, người ta có thể nâng cấp nó lên tới cấp độ cái chết của tự thể và việc tiêu diệt đối phương. Và quả thực có thể nói rằng: chúng ta sợ hãi sự hư nhược của tự thể chính là đang sợ hãi việc một bản thân yếu ớt bị lòng thù địch của người khác giết chết; còn sợ hãi lòng thù hận cũng chính là sợ hãi việc lòng thù hận của bản thân sẽ đi giết chết người khác. Do đó có thể nói, hệ thống phòng vệ bản ngã thực chất là đang phòng vệ trước cái chết.


Chúng ta liên tục nói về cái "xấu", mà thứ tồi tệ nhất chính là cái chết. Đặc biệt là chúng ta khiếp sợ việc "người tốt" hay những điều tốt đẹp cũng sẽ chết, và lại chết dưới tay cái "xấu". Vì lẽ đó, chúng ta kiến tạo nên một hệ thống phòng vệ bản ngã phức tạp, không ngừng tạo ra sự chia rẽ phân tách, cốt để có được cảm giác này: "Tôi" và người "Bạn" mà tôi yêu thương là tốt đẹp, là bất tử; còn thứ sẽ chết là "Nó", kẻ tạo ra thù hận và cái chết cũng chính là "Nó". Khi đã hoàn thành trọn vẹn tiến trình tự tính hóa, người ta sẽ nhận ra: tốt và xấu vốn là một thể thống nhất, "Tôi", "Bạn" và "Nó" vốn là một thể thống nhất, tất cả đều do ý thức bản ngã dệt nên.


Câu chuyện này quá đỗi phức tạp, phức tạp đến mức: thứ lương thiện nhất lại chính là thứ tà ác nhất; kẻ toàn tâm bảo vệ sự sống, hóa ra lại chính là kẻ tạo ra cái chết.


Thực ra, chính bản thân bạn chẳng phải cũng như vậy sao? Bạn khao khát được sống, mà muốn sống thì bạn phải không ngừng hấp thu năng lượng, không ngừng tạo ra cái chết cho những thực thể khác. Khi liên tục làm như vậy, làm sao bạn có thể đơn thuần và thản nhiên tự cho rằng mình là người lương thiện cơ chứ?


Năm tôi 27 tuổi, khi đang yêu một cô gái, bạn bè của cô ấy bảo: "Sao cậu lại ở bên một người đàn ông già đến thế?" Câu nói đó đã chạm tự ái của tôi, lúc ấy tôi mới giật mình nhận ra: Ồ, mình đã sắp 30 tuổi rồi, vậy mà mới chuẩn bị tốt nghiệp thạc sĩ, vẫn chưa kiếm được mấy đồng tiền.


Về sau, vào năm 33 tuổi rồi những năm ngoài 40, liên tục có những cú va đập tương tự xuất hiện. Sở dĩ bị chạm tự ái là vì tôi đang ở trong cơ chế phòng vệ, không muốn nhận thức việc mình đang từng bước già đi. Ngay cả bây giờ, mỗi khi nhắc tới từ "lão hóa", trong lòng tôi vẫn có sự kháng cự.


Con người ta quá dễ rơi vào trạng thái này, cho nên đừng nói đến cái chết, ngay cả sự già nua cũng là điều khó lòng đối diện. Freud từng nói: "Rút cuộc thì không một ai tin rằng mình sẽ chết. Nói cách khác, trong vô thức, ai nấy đều đinh ninh rằng mình sẽ trường sinh bất lão."


Đồng thời, chúng ta sẽ phóng chiếu cái chết ra bên ngoài, đúng như lời Freud từng viết: "Mặt khác, chúng ta quả thực thừa nhận cái chết của những kẻ xa lạ và quân thù, sẵn sàng mong muốn họ chết đi bất cứ lúc nào, mà chẳng hề bận tâm suy nghĩ quá nhiều về điều đó."


Hơn nữa, mỗi khi gặp phải tổn thương và thất bại, nội tâm chúng ta rất dễ bùng phát cơn thịnh nộ, nguyền rủa người khác "đi chết đi", đó chính là năng lượng chết chóc hiện diện khắp muôn nơi. Và quả thực, sinh tử không chỉ thuộc về thể xác, mà còn ẩn giấu trong từng nguồn động lực của chúng ta. Chúng ta ái kỷ đến mức: khi một động lực được hiện thực hóa, ta nếm trải sự sống; khi một động lực bị tan vỡ, ta nếm trải cái chết. Lúc này, ta hận không thể cắt phăng năng lượng chết ấy đi rồi ném tọt sang người khác. Khi muốn duy trì sự tồn tại của tấm thân xác thịt, chúng ta không chỉ phải như loài rắn Ouroboros liên tục nuốt ăn, mà đồng thời còn không ngừng ném vung vãi thứ năng lượng chết từ những tổn thương và thất bại đi khắp nơi. Cho nên, làm sao chúng ta dám buông lời nhẹ tênh bàn về sự lương thiện?


Khi chúng ta nỗ lực hết sức, triệt để (tức một cách thiên chấp, cực đoan) bảo vệ sự sống của một sự vật nào đó, chúng ta thường sẽ biến thành những "ác ma" không ngừng gieo rắc cái chết. Chẳng hạn như Athens từng ban hành Bộ luật Draco, đối với bất kỳ tội danh nào cũng chỉ có một hình phạt duy nhất — tử hình; nghĩa là bất kỳ hành vi nào xâm hại đến Athens đều phải trả giá bằng mạng sống.


Thế nhưng dẫu bạn có nỗ lực đến đâu, bạn vẫn cứ phải liên tục đối mặt với cái chết. Những người thân yêu nhất của bạn sẽ qua đời, và bản thân bạn cũng sẽ phải trải qua sinh lão bệnh tử. Cái chết thể xác của người thân và của chính bạn sẽ khiến bạn không còn đường trốn chạy, ép buộc bạn phải suy ngẫm và đối diện với cái chết.


Khi một người lĩnh hội trọn vẹn về sinh tử, đó mới là lúc hoàn tất quá trình tự tính hóa. Thế nào gọi là "trọn vẹn"? Carl Jung có một câu nói: "Hãy thu gom cả thế giới này vào trong tâm khảm của chính mình." Ý nghĩa là: bạn nhìn thấy mọi câu chuyện đang diễn ra trên toàn thế giới, thực chất đều là sự biểu hiện trọn vẹn của nhân tính; và tất cả những điều thuộc về thế giới bên ngoài ấy, cũng đều đang ẩn giấu ngay trong chính nội tâm bạn.


Nhà triết học, tiểu thuyết gia hiện sinh Albert Camus từng nói: "Tự sát là vấn đề triết học nghiêm túc duy nhất." Lại có triết gia bảo: "Cái chết là chủ đề triết học nghiêm túc duy nhất." Đối với điều này, cách hiểu của tôi là: Nếu thân xác bạn có thể bất tử, nếu bạn có thể trường sinh, thì việc lựa chọn sẽ chẳng còn cần phải đối đãi một cách nghiêm túc nữa. Khi ấy, cuộc đời sẽ giống như chơi một trò chơi điện tử, làm sai thì có thể nhấn nút "cancel" (hủy bỏ). Thế nhưng, những lựa chọn trong đời người, dẫu có một không gian thử sai vô cùng rộng lớn, song tất cả đều là bất khả nghịch, bạn không có viên thuốc hối hận nào để uống lại từ đầu.


Bởi vậy có thể nói rằng: chính vì sự hiện diện của cái chết thể xác, nên sự lựa chọn mới trở nên có ý nghĩa đến nhường ấy.


Hơn nữa, sự lựa chọn quả thực có sự khác biệt giữa việc duy trì sự ái kỷ của "tiểu ngã" và sự quy phục trước Tự tính Đại ngã. Bạn càng liều mạng bảo vệ sự tồn tại của "tiểu ngã", bạn lại càng sợ chết. Còn khi bạn càng hoàn thành tiến trình tự tính hóa, bạn sẽ nhận ra "tiểu ngã" thực chất được kết nối mật thiết với "Đại ngã", bạn sẽ trở nên ngày một thản nhiên hơn.


Đặc biệt, việc này không thể chỉ nhờ khối óc nhận biết là có thể hoàn tất; nó bắt buộc phải là một trải nghiệm mang tính thực chứng, bắt buộc phải kinh qua sự lựa chọn của cái "Tôi", bắt buộc phải kinh qua sự va chạm chân thực giữa thể xác và các thực thể khác thì mới có thể hoàn thành.


Ẩn dụ của cơ thể

Năm 2008, tôi bắt đầu theo học một loạt khóa học về thôi miên, và sau đó tôi phát hiện ra cơ thể con người lại nhạy cảm đến nhường ấy. Nó đáng tin cậy hơn khối óc rất nhiều, và từ đó dần dà trong tôi nảy sinh ý niệm về "ẩn dụ của cơ thể".


Làm sao chúng ta biết được lựa chọn của mình là đúng hay sai, là tốt hay xấu? Có công cụ đo lường nào không? Cơ thể chính là một thiết bị đo lường những sự lựa chọn. Chỉ là, cơ thể trông có vẻ quá đỗi bình thường nên con người rất dễ ngó lơ nó, phải đợi tới khi những đại sự tầm cỡ sinh tử xảy ra mới đủ sức khiến bản thân giật mình tỉnh ngộ.


Quanh bạn có thể từng có những câu chuyện thế này: Một người đối mặt với mối đe dọa tử vong do bạo bệnh mang lại, đột nhiên bừng tỉnh, bắt đầu áp dụng một thái độ hoàn toàn mới đối với cuộc đời; rồi sau đó cơ thể, diện mạo tinh thần và cuộc sống của người đó đều có những biến chuyển to lớn.


Đối với một con người, cái chết thể xác có lẽ là điều vô thường lớn nhất. Nhưng đối diện trực tiếp với sự vô thường này có thể khiến một người biết nhìn nhận lại những lựa chọn của mình, từ đó sống bật ra những tiềm năng mới.


Con người ta đối với mối quan hệ giữa ba yếu tố thân, tâm và linh vốn mang một thái độ vô cùng phức tạp và mâu thuẫn. Trong quá trình tham vấn, tôi thường gặp những thân chủ nói rằng: "Vấn đề cảm xúc này của tôi đều do cơ thể gây ra, chẳng liên quan gì đến tiến trình tâm lý của tôi cả."


Chẳng hạn, một thân chủ mắc chứng rối loạn hưng-trầm cảm (bipolar disorder), anh bắt buộc phải tiếp nhận điều trị bằng thuốc để kiểm soát cảm xúc của mình. Nhưng anh lại có xu hướng giải thích rằng mọi vấn đề cảm xúc của anh đều do thuốc gây ra, đặc biệt là khi bác sĩ tâm thần thỉnh thoảng điều chỉnh liều lượng thuốc. Vào những lúc đó, anh lại càng quy kết mọi biến động cảm xúc trong giai đoạn ấy cho sự thay đổi liều lượng thuốc.


Dưới góc nhìn phân tâm học, đây là một cơ chế phòng vệ bản ngã kinh điển: quy kết những cảm xúc, tình cảm không thể chịu đựng nổi cho yếu tố vật chất là thuốc men, để tránh phải đối diện trực tiếp với cảm giác tự thể hư nhược và lòng thù hận trong mối quan hệ.


Nếu thân chủ này có thể nghiêm túc mổ xẻ những biến động cảm xúc của mình, anh sẽ thấy rằng bản thân đang né tránh mọi thông tin có thể làm tổn hại đến sự ái kỷ của mình. Cơ chế phòng vệ bản ngã chủ yếu của anh là "phủ nhận" (denial), nhờ đó anh có thể cắt gọt sạch trơn những thông tin tiêu cực làm tổn thương lòng tự ái, khiến cho bản ngã khối óc (tức Bản ngã 1) hoàn toàn không còn ghi nhớ chúng nữa. Nhưng trong buổi tham vấn với tôi, khi có thể cùng nhau xem xét tỉ mỉ, anh sẽ tái hiện lại thông điệp này và được tôi nhìn thấy trọn vẹn.


Trong một buổi tham vấn, anh kể rằng với tư cách là một lãnh đạo, khi phát biểu ở cơ quan, anh thường hay bị "khựng lại" (nghẽn mạch). Và khi chúng tôi thử đi sâu vào khám phá cảm nhận nội tâm của anh, thì trong buổi tham vấn của chúng tôi cũng xuất hiện sự khựng lại, gần như không thể tiếp tục tiến triển được nữa. Lúc này, anh bảo: "Chúng ta đổi chủ đề khác đi." Đây cũng chính là phương pháp anh thường dùng ở cơ quan: mỗi khi bị khựng lại, anh sẽ hữu ý hoặc vô ý nhảy sang chủ đề khác.


Tôi nói: "Đây là thời khắc quan trọng, hay là chúng ta cứ ở lại đây một lúc thật trọn vẹn xem sao." Phương pháp cụ thể là: cả hai chúng tôi cùng nhắm mắt lại, thả lỏng và tĩnh lặng trong chốc lát.


Đây là hành động ôm ấp và đón nhận sự khựng lại đó, và sau khi tĩnh lặng một hồi, anh đã có một sự tỉnh thức nhận biết vô cùng tinh tế. Anh nói, anh có rất nhiều trải nghiệm và ý tưởng tuyệt vời, và anh luôn hy vọng có thể tái hiện lại chúng một cách hoàn hảo 100% trong các tình huống khác, nhưng điều này luôn luôn vấp phải sự thất bại. Chẳng hạn khi họp hành, khi phát hiện ra mình không thể tái hiện lại một cách hoàn hảo 100%, anh sẽ thất vọng cùng cực, và rồi sẽ bị khựng lại.


Cần phải làm rõ rằng: con số "100%" mà anh nói không phải là từ ngữ hình dung, mà là một khát khao chân thực. Đây là một biểu đạt mở rộng của sự "ái kỷ toàn năng" (omnipotent narcissism); và trên con người những bệnh nhân rối loạn hưng-trầm cảm quả thực luôn tồn tại đủ loại khát khao về sự ái kỷ toàn năng cùng những thất bại tột cùng tất yếu phải chạm trán.


Hơn nữa, dẫu đã nhận thức rõ ràng đến vậy, anh vẫn cảm thấy điều đó là khả thi: chỉ cần anh nỗ lực thêm một chút, người khác phối hợp nhịp nhàng thêm một chút, là có thể thực hiện được. Nhưng điều này căn bản là bất khả thi, dẫu sao thì "người ta không thể hai lần bước chân xuống cùng một dòng sông". Thế là chúng tôi cùng thảo luận sâu hơn một chút, và anh nhanh chóng nhận ra rằng khát khao hoàn hảo này của mình số phận đã định sẵn là không thể nào thực hiện được. Tuy nhiên, khi anh không còn khát cầu sự tái hiện 100% nữa mà có thể an trú trong hiện tại, anh có thể sẽ kiến tạo nên những khoảnh khắc tuyệt vời mới, và rất có thể sẽ thể hiện còn xuất sắc hơn cả trước đây.


Đây là một ví dụ vô cùng kinh điển cho thấy những biến động cảm xúc của anh không phải do thuốc men gây ra, mà bắt nguồn từ chính các hoạt động nội tâm của anh.


Vấn đề là, tại sao con người ta lại nảy sinh cơ chế phòng vệ bản ngã này? Bởi vì con người rất dễ mang một logic thế này: Thuốc men không phải là "Tôi", khi tôi cho rằng thuốc men dẫn tới một số vấn đề thì điều đó sẽ bảo vệ được sự ái kỷ của "Tôi"; còn nếu nhận ra những vấn đề này là do hoạt động nội tâm của mình gây nên, tức là do chính "Tôi" gây ra, thì lòng ái kỷ sẽ bị tổn thương.


Ý nghĩa của sinh mệnh nằm ở sự lựa chọn, nhưng hễ lựa chọn là sẽ có sơ hở. Lựa chọn càng nhiều, sơ hở càng nhiều, mà trong sơ hở lại ẩn giấu năng lượng chết chóc. Còn việc không lựa chọn hoặc lựa chọn thật ít, thoạt nhìn như thể đã né tránh được năng lượng chết chóc, nhưng điều đó tất yếu sẽ đẩy con người rơi vào một trạng thái khép kín, thụ động. Trong bộ phim Lucy, trạng thái này được gọi là "bất tử".


Bởi vậy, hãy can đảm đưa ra sự lựa chọn, dấn thân vào muôn vàn mối quan hệ mà bạn khát khao, dũng cảm mở rộng sinh mệnh của mình. Đồng thời, hãy cởi mở cảm nhận cơ thể bạn — chiếc phong vũ biểu đo lường những sự lựa chọn. Đã chọn yêu, hãy rộng mở trải nghiệm tình yêu; đã chọn hận, hãy trọn vẹn cảm nhận nỗi hận. Khi cơ thể liên tục cảm thấy bất an, khó chịu, cũng hãy tự hỏi lại lòng mình xem liệu bản thân có đang lựa chọn sai lầm hay không.


Sự thoải mái hay đau đớn của thể xác chỉ là tín hiệu ban đầu; khi bạn luôn biết tôn trọng những thông điệp từ cơ thể, bạn đang tôn trọng "chân tự thể", và rồi xuyên qua chân tự thể, bạn có thể sẽ chạm tới sự hiện hữu căn bản hơn. Vào thời điểm ấy, dẫu thân xác bạn có thể mang đầy thương tích, nhưng tâm hồn bạn lại có được cảm giác đủ đầy, sung mãn. Điều đó sẽ giúp bạn thản nhiên đối diện với vô thường, bởi vì tâm hồn bạn cảm nhận được rằng: giữa dòng vô thường biến ảo khôn lường của vạn vật, dường như luôn có một cái Thường Hằng không lời đang hiện hữu.


Bạn càng thiếu chân thật, càng chưa từng sống bật ra chính mình, càng chưa từng chạm tới sự hiện hữu vĩ đại kia, bạn lại càng bận lòng lo sợ trước cái chết của thể xác. Trong xã hội chúng ta, các dịch vụ chăm sóc sức khỏe thể chất (chẳng hạn như mát-xa và dưỡng sinh) sở dĩ phát triển mạnh mẽ đến vậy, có lẽ chính là vì có quá nhiều người cả một đời chưa từng đưa ra lựa chọn theo đúng tiếng gọi bản tâm của mình; thế nên họ lại càng sợ hãi cơ thể suy kiệt, khiếp sợ cái chết của tấm thân xác thịt.


Cái chết của thể xác sẽ mang lại một sự "chất vấn" tối hậu: Cả một đời này, bạn có sống xứng đáng với tấm thân xác thịt này hay không?


Tương tác: Không chủ động lựa chọn, bạn ngay cả bi kịch cũng chẳng tính là

Trước vô thường, chúng ta rất dễ cảm nhận được sự hư nhược của bản ngã, và bởi vì vô thường quá đỗi tàn nhẫn nên ta cũng dễ cảm thấy cuộc đời mình vì vô thường mà tựa như một tấn bi kịch. Thế nhưng, nếu bạn chưa từng chủ động đưa ra sự lựa chọn, thì cuộc đời bạn ngay cả một tấn bi kịch cũng chẳng tính là.


Đây là một biểu đạt trong triết học Hy Lạp cổ đại. Trong thần thoại Hy Lạp có rất nhiều người anh hùng bi kịch. Chẳng hạn như vở kịch Vua Oedipus là một trong ba vở bi kịch lớn nhất của Hy Lạp cổ đại, và Oedipus — người đã giết cha và sinh bốn người con với mẹ ruột — chính là một nhân vật bi kịch đích thực. Dẫu chịu sự xô đẩy của số phận vô thường, nhưng Oedipus luôn không ngừng chủ động đưa ra sự lựa chọn. Tuy không thể phá giải được định mệnh, nhưng ông vẫn là một người anh hùng bi kịch.


Nếu một người cả đời chẳng mấy khi tự mình lựa chọn, thì tốt nhất đừng tự huyễn hoặc rằng đời mình là bi kịch; thực chất nó chẳng qua chỉ là một vở kịch phi lý, vô nghĩa mà thôi.


Hỏi: Làm thế nào để lựa chọn theo trực giác của chính mình? Khi gặp vấn đề, làm sao biết được lựa chọn của mình không phải xuất phát từ khối óc hay tiềm thức, mà là thuận theo sự "vô vi nhi vi" (hành động thuận tự nhiên) của sự hiện hữu?


Đáp: Nếu nói lựa chọn là vấn đề căn bản của một con người, thì quả thực nó không thể đơn giản, cũng không thể nào chỉ có duy nhất một đáp án.


Điều bạn nhắc tới có hai tầng bậc: Một là lựa chọn theo khối óc hay lựa chọn theo cảm giác; hai là lựa chọn trong khuôn khổ của "tiểu ngã" hay thuận theo điều lớn lao hơn.


Xét ở tầng bậc thứ nhất: trong các chuyên mục trên ứng dụng Dedao, bạn có thể bắt gặp rất nhiều câu trả lời khác nhau. Tôi cho rằng nên giống như Steve Jobs từng kêu gọi: hãy lắng nghe nội tâm và tôn trọng cảm giác của mình; nhưng cũng có không ít chuyên gia dẫn lời khuyên rằng nên dựa vào lý tính để đưa ra lựa chọn.


Xét ở tầng bậc thứ hai: điều này đòi hỏi phải nhắc tới khái niệm nổi tiếng mang tên "Phức cảm Jonah" (Jonah complex) do Abraham Maslow đề xuất. Jonah là một nhân vật trong Kinh Thánh, ông liên tục trốn chạy sứ mệnh mà Thượng đế trao phó, nhưng sau này nhận ra không còn đường trốn chạy nữa, ông quyết định đón nhận sứ mệnh đó. Rất nhiều người không muốn bước lên con đường tự hiện thực hóa bản thân, chính là bởi vướng phải "phức cảm Jonah" — một cuộc sống được bọc kín an toàn bởi "tiểu ngã".


Những điều này đều không có đúng sai tuyệt đối, con người ta hoàn toàn có thể đưa ra muôn vàn lựa chọn khác nhau.


Hỏi: "Lương tri căn bản" có phải là nhân chi sơ tính bản thiện hay không?


Đáp: Có chút tạ lỗi, "lương tri căn bản" là một từ do chính tôi tự sáng tạo ra, điều này vốn vi phạm "Dao cạo Ockham" nổi tiếng — nghĩa là: nếu không cần thiết thì không nên tăng thêm các thực thể.


Bậc thầy trị liệu gia đình người Đức Bert Hellinger cho rằng: con người ai nấy đều có lương tri, và tất cả đều xuất phát từ tình yêu thương. Chỉ là những con người khác nhau đứng trên các tầng thứ hệ thống khác nhau để bảo vệ cơ chế vận hành của hệ thống đó mà thôi. Chẳng hạn, một người có thể đang bảo vệ hệ thống gia đình nhỏ, có thể đang bảo vệ hệ thống đại gia tộc, cũng có thể đang bảo vệ hệ thống xã hội, và thậm chí có thể đứng trên hệ thống của toàn nhân loại hay toàn thể vũ trụ.


Nhưng bất kể bạn đưa ra lựa chọn trên tầng bậc hệ thống nào, tất yếu đều sẽ xuất hiện sự đối lập nhị nguyên: Bạn bảo vệ điều này, ắt sẽ làm tổn thương điều khác. Để bản thân sống không bị giằng xé, người ta rất dễ kích hoạt cơ chế phòng vệ bản ngã để không phải ý thức về cảm giác tội lỗi của mình.


Tuy nhiên, tôi giả định rằng: con người xét đến tận cùng đều biết rõ hậu quả do sự lựa chọn của mình mang lại, những cảm giác tội lỗi bị phòng vệ kia thực chất vẫn luôn âm thầm hiện hữu trong tâm hồn họ.


Điều tôi gọi là "lương tri căn bản" mang ý nghĩa là: con người từ nơi sâu thẳm nhất luôn biết rõ tất thảy thiện ác, đúng sai của những lựa chọn mà mình đã làm.


MỤC LỤC SÁCH

CHƯƠNG 1: TỈNH THỨC

  • Tỉnh thức là chiếc bình chứa lớn nhất


    • Sức mạnh của sự tỉnh thức


    • Sự ra đời của khái niệm tiềm thức


    • Tiềm thức của lịch sử cá nhân


    • Bản ngã cũng là một vật chứa


    • Tương tác: Hãy để cảm giác nở hoa kết trái trong lòng bạn


    • Tiềm thức của lịch sử tập thể


    • Sự ra đời của vô thức tập thể


    • Vô thức xã hội


    • Vô thức gia tộc


    • Bảo vệ tốt chiếc bình chứa mang tên cái "Tôi"


    • Tương tác: Tập thể đẽo gọt cá nhân như thế nào


  • Nỗi sợ và tình yêu khi về quê ăn Tết


    • Tại sao ngày Tết lại ép cưới?


    • Dùng "kẻ thứ ba có thể kiểm soát" để ứng phó với tiệc tùng xã giao


    • Nỗi âu lo do bản ngã mang tính tập thể mang lại


    • Kiến tạo một cái Tết thuộc về riêng bạn


    • Tương tác: Phía sau sự biến đổi của phong tục ngày Tết


  • Giấc mơ — Lối tắt dẫn vào tiềm thức


    • Tìm kiếm câu trả lời từ giấc mơ


    • Phương pháp tự giải mã giấc mơ


    • Giấc mơ cùng trưởng thành với tâm hồn


    • Một số giấc mơ thường gặp


    • Tương tác: Giấc mơ có thể sắp xếp lại những mảnh vụn tâm hồn


  • Cơ chế phòng vệ của bản ngã


    • Định nghĩa và giới thiệu về cơ chế phòng vệ bản ngã


    • Chuỗi liên hoàn của cơ chế phòng vệ bản ngã


    • Cắt rời và thu nạp


    • Một số cơ chế phòng vệ thường gặp


    • Tương tác: Vấn đề càng lớn, cơ chế phòng vệ càng giản đơn


CHƯƠNG 2: KHÔNG GIAN

  • Kiến tạo không gian của bạn: Ẩn dụ của ngôi nhà


    • Chúng ta đều cần một không gian an toàn


    • Hãy biến ngôi nhà thành bến đỗ bình yên thực sự


    • Rèn luyện năng lực làm chủ


    • Tương tác: Bạn mong muốn một ngôi nhà như thế nào?


  • Kiến tạo không gian làm việc của bạn


    • Gìn giữ không gian quyền lực của bạn


    • Hãy làm một cây táo không ngừng trưởng thành


    • Cá nhân hóa, xã hội hóa và hệ thống hóa


    • Sự vô tình của không gian công sở


    • Tương tác: Năng lượng chết rốt cuộc sẽ dẫn tới cái chết


  • Thu mình trong vỏ ốc (Trạch)


    • Lập trình, khép kín và kiểm soát


    • Thu mình là để cắt đứt lòng thù địch


    • Càng khép kín, càng rã rời


    • Đến muộn, đến sớm, trì hoãn và quyền lực


    • Tương tác: Hãy giữ vững nhịp điệu của bạn


  • Tách rời khỏi gia đình nguyên sinh


    • Lời dối trá về việc cai sữa tâm lý


    • Tính phụ hệ và trật tự


    • Từ dính mắc quánh đặc đến thanh thoát nhẹ nhõm


    • Vâng lời, phản nghịch, biết ơn và phản bội


    • Tương tác: Người trưởng thành có thể cộng sinh lành mạnh hay không?


CHƯƠNG 3: SÁNG TẠO

  • Sáng tạo đến từ sự quy phục


    • Làm sao để viết lách đầy tính sáng tạo?


    • Bao dung sự mơ hồ


    • Chiến lược của Einstein


    • Phương pháp đổi mới mộc mạc nhất


    • Tương tác: Quy phục điều gì, và mạo phạm điều gì?


  • Động lực của sự quy phục


    • Chiến lược của Disney


    • Bạn hiện hữu, tôi mới có thể tuôn chảy


    • Kẻ chỉ trích bên trong


    • Sáng tạo và mở rộng dung lượng


    • Tương tác: Luôn không cảm nhận được bản thân thì phải làm sao?


  • Nâng cao chỉ số vượt khó (AQ)


    • Kiểm soát và quy kết


    • Nới rộng và sức bền


    • Học hỏi và chuyển hóa


    • Dành ra không gian xoay xở cho bản ngã của bạn


    • Tương tác: Bản ngã gắn kết được hình thành như thế nào?


  • Sáng tạo và khô cạn


    • Khủng hoảng tuổi trung niên của đàn ông


    • Ẩn dụ của bệnh tật


    • Khô cạn kiệt quệ nghề nghiệp (Burnout)


    • Tương tác: Ẩn dụ của dạ dày


CHƯƠNG 4: THỰC TẠI

  • Đơn thuần


    • Càng đơn giản, càng phức tạp


    • Người tốt đã trốn tránh điều gì?


    • Thua ngay từ vạch xuất phát


    • Tương tác: Ngây thơ, đơn thuần, sành sỏi và trưởng thành


  • Từ thế giới tưởng tượng bước vào thế giới hiện thực


    • Tam trùng thế giới


    • Hai ngã rẽ


    • Làm thế nào để bước vào sự phức tạp?


    • Mạnh và yếu, thiện và ác


    • Tương tác: Từ thế giới hiện thực bước vào thế giới tưởng tượng


  • Ẩn dụ của tiền bạc


    • Hội chứng sợ tiền bạc


    • Nỗi sợ cốt lõi của hội chứng sợ tiền bạc


    • Tiền bạc và sự đố kỵ ghen ghét


    • Thăng cấp thước đo sinh mệnh của bạn


    • Tương tác: Từ đố kỵ ghen ghét đến lòng biết ơn


  • Từ phân tách đến dung hợp


    • Thiên chấp, phân tách và dung hợp


    • Bạn có thể tốt, cũng có thể xấu


    • Bạn có thể bám chấp, cũng có thể buông bỏ


    • Sự dung hợp tối hậu


    • Tương tác: Vị thế thiên chấp phân tách không đồng nghĩa với sai lầm


CHƯƠNG 5: TỰ DO

  • Tự hiện thực hóa


    • Đặc trưng nhân cách của người tự hiện thực hóa (Phần đầu)


    • Đặc trưng nhân cách của người tự hiện thực hóa (Phần sau)


    • Làm thế nào để quay về với tính tự chủ?


    • Trải nghiệm đỉnh cao (Peak experience)


    • Tương tác: Trạng thái dòng chảy (Flow) và trải nghiệm đỉnh cao


  • Để cảm xúc được tuôn chảy


    • Để nỗi buồn được tuôn chảy


    • Để cơn giận được tuôn chảy


    • Hai kiểu tức giận


    • Để mọi cảm xúc được tuôn chảy


    • Tương tác: Tuôn chảy là một loại trải nghiệm như thế nào?


  • Để dục cầu được tuôn chảy


    • Không làm phiền, sẽ không có tình cảm


    • Nhu cầu của bạn không phải là tội lỗi


    • Hãy để tiếng nói của bạn được tuôn chảy


    • Ẩn dụ của hơi thở


    • Tương tác: Cảm giác tội lỗi là một phần của nhân tính vẹn toàn


CHƯƠNG 6: VÔ THƯỜNG

  • Sự sinh diệt của bản ngã


    • Tôi, là một khái niệm biến dịch


    • Hãy để vạn vật chảy qua tâm bạn


    • Sống trong hiện tại


    • Sự vĩ đại của khối óc


    • Tương tác: Bản ngã luôn sẽ bị phá vỡ


  • Ý nghĩa của sinh mệnh nằm ở sự lựa chọn


    • Lựa chọn của Neo


    • Ouroboros — Ẩn dụ của vô thường


    • Tự tính hóa: Hành trình anh hùng từ sinh đến tử


    • Ẩn dụ của cơ thể


    • Tương tác: Không chủ động lựa chọn, bạn ngay cả bi kịch cũng chẳng tính là


 
 
 

Bài đăng gần đây

Xem tất cả
CHƯƠNG 1: CHÂN TƯỚNG CỦA BỆNH TÂM LÝ

Ở giữa hữu hạn và vô hạn, tìm kiếm một kết cục khiến tâm an, là một sự lựa chọn sáng suốt và tao nhã; nó có thể bù đắp nỗi sợ hãi của chúng ta đối với những điều chưa biết, mang lại cho chúng ta một s

 
 
 
CHƯƠNG 1

CHƯƠNG 1 Làm, hay không làm — đó là một vấn đề Nhà văn Đài Loan Dư Quang Trung từng viết một bài tản văn có nhan đề Bốn kẻ địch giả tưởng của tôi. Trong bài viết, ông kể mình có bốn cô con gái và ông

 
 
 
Chương 5: Tự do

Chúng ta vẫn luôn nói về việc “sở hữu một cuộc đời do chính mình định đoạt”, và kể từ khi bước chân vào nghề đến nay, tôi cũng luôn rao giảng về việc “hãy trở thành chính mình”. Những người thực sự tr

 
 
 

Bình luận


bottom of page