CHƯƠNG 1
CHƯƠNG 1
Làm, hay không làm — đó là một vấn đề
Nhà văn Đài Loan Dư Quang Trung từng viết một bài tản văn có nhan đề Bốn kẻ địch giả tưởng của tôi. Trong bài viết, ông kể mình có bốn cô con gái và ông yêu các con vô cùng. Ngay từ khi các con còn rất nhỏ, ông đã nơm nớp lo sợ một ngày nào đó sẽ đánh mất chúng. Khả năng lớn nhất để mất các con chính là khi từng đứa một biết yêu rồi bước vào hôn nhân. Thế là, bốn chàng trai trong tưởng tượng sẽ theo đuổi bốn cô con gái đã trở thành bốn kẻ thù giả tưởng của ông. Thậm chí khi đi dạo trong công viên, nhìn thấy một bé trai mới chừng một, hai tuổi còn ngồi trong xe đẩy, ông liền nghĩ thằng nhóc này lớn lên có thể sẽ theo đuổi con gái mình, trong lòng lập tức dấy lên xung động muốn rắc bột tiêu vào cổ nó để chỉnh đốn một phen.
Tất nhiên, ông sẽ không thực sự dùng cách rắc bột tiêu để khiến những chàng trai đến tranh giành con gái với mình phải chùn bước, khiến bốn cô con gái cuối cùng biến thành những bà cô già ế chồng. Thế nhưng, những ý nghĩ ấy lại phản ánh tâm lý đầy mâu thuẫn của tất cả các bậc cha mẹ trên thế gian đối với sự trưởng thành của con cái. Một mặt, cha mẹ mong con cái sớm khôn lớn nên người; mặt khác, sự phân ly về mặt tâm lý của con cái sau khi trưởng thành lại có thể tạo ra cảm giác mất mát to lớn trong nội tâm cha mẹ. Hãy thử nghĩ xem: một người mỗi ngày đều quấn quýt bên bạn, không có bạn thì một ngày cũng chẳng sống nổi, bỗng chốc lại không còn cần đến bạn nữa; vị trí quan trọng nhất trong tim người mà bạn yêu thương nhất bỗng nhiên bị một kẻ hoàn toàn xa lạ chiếm mất, hỏi sao bạn không u sầu, thậm chí phẫn nộ cho được?
Đừng nghĩ rằng những nguồn lực phi lý tính này sẽ không tạo ra bất kỳ ảnh hưởng nào lên thực tế. Ảnh hưởng ấy từ lâu đã hình thành và vẫn đang truyền từ đời này sang đời khác. Chẳng hạn, sự hạn chế của văn hóa xã hội đối với hoạt động tính dục của thanh thiếu niên thời kỳ dậy thì chính là phản ứng từ nỗi âu lo sợ mất con của cha mẹ trên một bối cảnh không gian và thời gian rộng lớn hơn. Đúng như nỗi lo của Dư Quang Trung, nếu không có biến cố bất trắc nào khác, khả năng lớn nhất để cha mẹ mất con về mặt tâm lý chính là khi con cái yêu đương và kết hôn. Mà nền tảng của tình yêu và hôn nhân chính là tính dục. Do đó chúng ta có thể nói rằng: con cái dấn thân vào hoạt động tính dục đồng nghĩa với việc cha mẹ đánh mất chúng.
Thời kỳ thanh xuân (tuổi dậy thì kéo dài) chỉ khoảng thời gian từ mười bốn đến hai mươi tám tuổi. Trong giai đoạn này, sinh lý và tâm lý dần dần thành thục, cũng tức là đã chuẩn bị sẵn sàng cho việc tiến hành hoạt động tính dục. Chuẩn bị sẵn sàng đồng nghĩa với việc "có thể làm", nhưng hoàn toàn không có nghĩa là "nhất định phải làm". Cho đến tận hôm nay, hôn nhân vẫn là giấy phép duy nhất hợp tình, hợp lý, hợp pháp và hợp với phong tục để tiến hành hoạt động tính dục. Dù đã sẵn sàng, nhưng việc bước vào hoạt động tính dục trước hôn nhân hoặc ngoài hôn nhân luôn dẫn đến những xung đột nội tâm và xung đột hiện thực ở mức độ ít nhiều.
Xung đột nội tâm là khi chúng ta làm một việc mà bản thân cho rằng vốn dĩ không nên làm, từ đó nảy sinh sự tự trách. Mức độ mãnh liệt của sự tự trách có mối liên hệ trực tiếp với hệ giá trị của đương sự, sự khác biệt giữa người với người có thể là rất lớn. Xung đột hiện thực là khi những người xung quanh chúng ta — bao gồm người thân, bạn bè, đồng nghiệp — cho rằng chúng ta đã làm việc không nên làm, rồi vì thế mà chỉ trích chúng ta. Mức độ gay gắt của sự chỉ trích có mối liên hệ trực tiếp với độ mở của xã hội; xã hội càng khép kín, đương sự càng có nguy cơ bị chỉ trích nặng nề.
Tính dục đương nhiên là điều tốt đẹp, nhưng nếu vì tính dục mà gây ra quá nhiều xung đột nội tâm và hiện thực thì nó lại chẳng còn tốt đẹp đến thế nữa. Hay nói cách khác, sự hài hòa trong nội tâm một người cũng như sự hài hòa trong mối quan hệ giữa người đó với môi trường xung quanh cũng là điều vô cùng tốt đẹp, thậm chí có thể là một cái đẹp lớn lao hơn. Cho nên, những người "có thể làm" trước khi "làm" đều nên suy nghĩ xem: làm thế nào để cái đẹp đẽ được nhiều hơn, lớn hơn, và làm sao để cái không đẹp đẽ giảm bớt đi, nhỏ lại.
Các thiếu niên nam nữ từ ngưỡng mộ nhau đến khi da thịt kề cận, rốt cuộc sẽ đi đến bước nào, thực sự là chuyện mà chính bản thân họ lẫn người ngoài cuộc đều không thể lường trước. Nếu thân tâm họ khỏe mạnh, xung động của họ chắc chắn sẽ vô cùng mãnh liệt. Đối với nam giới, khoảng mười bảy tuổi là đỉnh cao của tính xung động và tính năng lực. Rất nhiều người đàn ông trưởng thành đã kết hôn, khi tính xung động và tính năng lực đều đã tương đối suy giảm đôi chút, mà vẫn chưa hẳn lúc nào cũng kiểm soát nổi hoạt động tính dục của mình; vậy thì đòi hỏi một chàng trai trẻ chưa vợ, tràn trề nhựa sống phải "tiết chế tự như, dừng lại đúng lúc", thì không chỉ là yêu cầu quá cao, mà ở một mức độ nào đó quả thực có phần tàn nhẫn. Đối với nữ giới, xung động đến có phần chậm rãi hơn, nhưng tính dục là chuyện của hai người, liệu cô gái có thể đảm bảo kiểm soát hoàn toàn cục diện trong thế giới hai người hay không? Những người trưởng thành hôm nay đều từng đi qua thời thiếu niên son trẻ, ngoảnh đầu nhìn lại dĩ vãng, quý vị có thấy ngày ấy dễ dàng không?
Con cái ở tầng diện tiềm ý thức cũng sẽ cảm nhận được rằng việc quan hệ tình dục trước hôn nhân là một sự tấn công nhắm vào cha mẹ; ở tầng diện tượng trưng, nó cũng đồng nghĩa với một sự tấn công nhắm vào xã hội, bởi vì xã hội chính là một gia đình mở rộng. Một ví dụ cực đoan là: khi cha mẹ đối xử không tốt hoặc yêu cầu quá khắt khe với con cái, hoặc khi chúng gặp phải quá nhiều trắc trở trong đời sống xã hội, chúng có thể sẽ lựa chọn yêu sớm, thậm chí lựa chọn phương thức "trao thân" — tức hoạt động tính dục — để đối kháng lại áp lực đến từ cha mẹ và xã hội. Trong tình huống này, động lực tính dục thuần khiết đã bị vấy bẩn và bóp méo, từ đó có thể dẫn tới những hậu quả nghiêm trọng hơn rất nhiều so với bản thân hoạt động tính dục đơn thuần, chẳng hạn như phóng túng dục vọng, quan hệ bừa bãi, tính biến thái, chống đối xã hội...
Kể một câu chuyện. Giáo sư hướng dẫn tiến sĩ của tôi ở Đức có một cô con gái, năm nay mười chín tuổi, xinh đẹp tuyệt trần. Cách đây không lâu ông sang Vũ Hán, ở lại nhà tôi, buổi tối uống rượu chuyện trò rôm rả, ông nhắc đến con gái mình. Ông bảo, hai năm trước khi tôi đến nhà ông, con gái ông vẫn chưa có bạn trai, là một trong số ít nữ sinh trong lớp chưa có người yêu, lúc đó hai vợ chồng ông còn có chút sốt ruột thay cho con. Giờ con bé đã có bạn trai rồi, cậu bạn trai ấy còn thường xuyên đến ở lại nhà ông. Tôi hỏi: "Bọn trẻ ở nhà thầy là ngủ chung phòng với nhau sao?" Ông bảo: "Đương nhiên rồi." Tôi lại hỏi: "Thầy không có ý kiến gì ư?" Ông đáp: "Không, chỉ cần khi chúng làm chuyện đó tiếng động nhỏ đi một chút là được."
Thấy tôi nghe mà ngây trĩu người vì kinh ngạc, ông liền giải thích thêm: "Tôi đương nhiên không thể can thiệp vào tụi nhỏ. Vợ tôi năm mười sáu tuổi tôi đã cùng bà ấy mặn nồng rồi, giờ con gái tôi mười chín tuổi, lẽ nào tôi lại cấm đoán không cho nó ở bên bạn trai?" Tôi liên tục gật đầu "đúng đúng", nhưng trong lòng lại thầm nghĩ: Ở Trung Quốc có không ít bậc cha mẹ kết hôn từ năm mười mấy tuổi, vậy mà điều đó vẫn chẳng hề ngăn cản họ kịch liệt phản đối con cái mười mấy tuổi yêu đương.
Những ai nghe xong câu chuyện này đều bảo: Trung Quốc và Đức có sự khác biệt văn hóa quá lớn, chuyện như vậy ở Trung Quốc là không thể chấp nhận được. Tôi lập tức hỏi ngược lại: Văn hóa có sự phân chia tiên tiến và lạc hậu, vậy bạn cho rằng trong việc đối đãi với vấn đề này, văn hóa Trung - Đức bên nào tiên tiến hơn? Hơn nữa, nếu sự hạn chế của văn hóa đối với hoạt động tính dục của người trẻ là phản ứng từ tâm lý sợ mất con, hay nói đúng hơn là tâm lý sợ con cái trưởng thành của cha mẹ trên một bối cảnh rộng lớn, vậy bạn còn cho rằng sự hạn chế này là điều nên có hay không? Lẽ nào bạn đã quên rằng, những thứ từng bị coi là không phù hợp với văn hóa Trung Quốc, chẳng phải giờ đây cũng đang thịnh hành khắp Trung Quốc đó sao? (Cần nói rõ rằng, tôi là một người sùng bái văn hóa Trung Quốc tuyệt đối, tôi cho rằng nhìn trên phương diện đại thể, văn hóa Trung Quốc trong quá khứ, hiện tại và tương lai đều là nền văn hóa tiên tiến nhất của nhân loại, nhưng ở một vài phương diện tiểu tiết, chúng ta quả thực không bằng người ta.)
Hình như chưa từng có điều khoản pháp luật hay đạo đức nào viết bằng giấy trắng mực đen quy định rằng: người chưa kết hôn không được phép quan hệ tình dục. Quy định này là vô hình, mang tính ước thúc theo quy ước xã hội. Dù nó có thể dẫn đến vấn đề này vấn đề nọ, dù con người ta không thể nào ai nấy đều tuân thủ, nhưng bản thân nó cũng mang ý nghĩa tích cực, bởi vì nó là một phần trong toàn bộ hệ thống đạo đức của chúng ta; việc tuân thủ nó có thể giúp tâm hồn chúng ta an tịnh và hài hòa hơn. Điều quan trọng hơn cả là: chúng ta không thể vì nó có những thành tố chưa hợp lý mà muốn đạp đổ nó chỉ sau một đêm, cũng không thể chủ động cổ xúy cho những giá trị và phương thức hành vi trái ngược hoàn toàn. Hệ giá trị của một xã hội là thứ nên và bắt buộc phải được thay đổi một cách tiệm tiến; mọi sự biến đổi theo kiểu phong ba bão táp đều có thể bị coi là bạo lực, và có nguy cơ tạo ra nhiều vấn đề cá nhân cũng như xã hội trầm trọng hơn.
Tính dục sở dĩ trở thành một vấn đề là bởi chúng ta đã quá xem nó là một vấn đề. Hoặc dùng cách nói của Foucault: Dưới "cái nhìn soi chiếu" (ngưng thị) của chúng ta, tính dục từ một vấn đề nhỏ đã biến thành một vấn đề to tát. Đối với câu hỏi "làm hay không làm" trong hoạt động tình dục trước hôn nhân, khi suy ngẫm và thảo luận về nó, chúng ta cũng cần chú ý đừng nhân tạo mà phóng đại nó lên. Hơn nữa nhìn từ kết quả cuối cùng của mọi cuộc thảo luận, căn bản không thể nào rút ra một kết luận khẳng định là "có thể làm" hay "không thể làm". Có lẽ cứ để nó như một nghi vấn nằm đó mà không vội đưa ra định luận lại là cách tốt hơn cả. Đây chính là một trong những trí tuệ tuyệt vời nhất của văn hóa Trung Hoa, gọi là: "Dĩ bất liễu liễu chi" (lấy việc không giải quyết dứt điểm để làm xong việc).
Sau khi đọc những cuộc thảo luận chín người mười ý, việc làm hay không làm, rốt cuộc vẫn phải do chính bạn quyết định. Bất kể quyết định của bạn là gì, xin đừng dùng những từ ngữ như đúng - sai, tốt - xấu để phán xét. Ngoài những điều đó ra cần phán xét thế nào, cũng xin để chính bạn tự định đoạt.
Ngày 6 tháng 7 năm 2001
Bản sắc làm người
Nếu hỏi những người có học ở Trung Quốc một trăm năm trước rằng cuốn sách nào chiếm vị trí số một trong lòng họ, ước chừng mười người thì có đến tám chín người sẽ trả lời là Luận Ngữ.
Luận Ngữ là cuốn sách ghi chép lại ngôn luận của Khổng Tử cùng các môn đệ của ngài. Lời bàn của họ bao quát phạm vi vô cùng rộng lớn, gần như không gì không chứa đựng; chỉ riêng về mặt bình phẩm nhân vật, đôi khi chỉ dăm ba câu ngắn ngủi đã khắc họa sống động như in nét đặc trưng cá tính của một con người. Chỗ vi diệu tinh tế ấy, so với ngàn vạn lời của bất kỳ nền tâm lý học nhân cách hiện đại nào, cao minh đến mức không thể đem đạo lý thông thường ra mà đo đếm.
Dưới đây là một đoạn bình phẩm nhân vật trong thiên Công Dã Tràng thứ năm của sách Luận Ngữ:
Tử viết: "Thục vị Vi Sinh Cao trực? Hoặc khất hề yên, khất chư kỳ lân nhi dữ chi."
(Khổng Tử nói: "Ai bảo Vi Sinh Cao là người ngay thẳng? Có người đến xin giấm, ông ấy không nói thẳng là nhà mình không có, mà lại sang nhà hàng xóm xin về để đưa cho người ta.")
Vi Sinh Cao là một nhân vật nổi tiếng ngay thẳng, ông còn từng làm một việc giữ chữ tín đến mức đánh mất cả tính mạng: Ông hẹn hò với một cô gái dưới chân cầu, cô gái không đến mà nước lũ lại dâng lên, ông không chịu bỏ đi, cuối cùng ôm chặt lấy cột cầu mà chết đuối.
Khổng Tử quan sát con người từ chỗ vi tế, từ việc nhỏ thấy được việc lớn, thông qua chuyện xin giấm đã đoán định Vi Sinh Cao không phải là một người ngay thẳng (trực nhân), mà là kẻ uốn mình theo vật, khéo léo đưa đẩy thế cố, cốt để tranh thủ lời ngợi khen của người đời. Khổng Tử ghét nhất loại người này. Còn như chuyện hẹn hò dưới chân cầu bị nước cuốn chết trôi, xét về mặt trí lực thì đó là sự cứng nhắc không biết biến thông; đứng trên cầu mà đợi thì cũng đâu có thất tín, lẽ nào người con gái kia lại ngốc nghếch đến mức lội xuống nước để gặp mặt hay sao? Cố đấm ăn xôi để câu danh chuộc tiếng đến mức độ ấy, thực sự cũng là một kẻ đáng thương.
Nhìn bề ngoài, việc nhà mình không có giấm mà phải đi mượn bằng được cho người khác dường như là cách hành xử rất trượng nghĩa, hết lòng vì bạn bè. Nhưng nhìn sâu vào bản chất, làm như vậy kỳ thực rất hư ngụy. Giao thiệp với hạng người này, giấm thì bạn xin được đấy, sẽ có niềm vui chốc lát, nhưng bạn lại chẳng thể biết đó là giấm của ông ta hay giấm của người khác; lâu dần, bạn thậm chí chẳng còn biết rốt cuộc ông ta là hạng người nào. Xét trên nguyên tắc kết giao bạn bè, điều này là vô cùng nguy hiểm: Đến một việc cỏn con như có giấm hay không mà ông ta còn không thể thẳng thắn với bạn, hỏi sao bạn có thể trông mong ông ta sẽ lấy lòng thành đối đãi trong những việc lớn hơn?
Vấn đề chủ yếu ở đây không nằm ở chỗ ông ta không thành thực với bạn, mà nằm ở chỗ ông ta không thành thực với chính bản thân mình. Trong tâm khảm của Vi Sinh Cao có một hình ảnh "ngay thẳng", thủ tín lý tưởng về bản thân, ông ta đòi hỏi mình phải phù hợp với hình tượng lý tưởng này, và thế là đã che đậy mất bản sắc chân thật của chính mình.
Trước khi làm việc, hãy học cách làm người. Đã làm người thì phải lấy bản sắc làm gốc, nhưng điều này thực sự rất khó, cho nên mới có câu: "Duy đại anh hùng năng bản sắc" (Chỉ bậc đại anh hùng mới giữ trọn được bản sắc chân thật). Làm người theo bản sắc nghĩa là: có giấm bảo là có giấm, không có giấm bảo là không có giấm; có năng lực thì nhận là có năng lực, không có năng lực thì nhận là không có năng lực; vui thì vui, giận thì giận, thản nhiên phơi bày sự chân thật của mình trước bản thân và người khác. Đương nhiên, cách biểu đạt thế nào cũng là một vấn đề: nói "ông đây chẳng có giấm cho mày" sẽ rất khác với việc nói "xin lỗi, giấm nhà tôi vừa khéo cũng dùng hết mất rồi"; đối với người đi xin giấm, cảm giác đem lại sẽ khác nhau một trời một vực.
Nếu tôi đi xin giấm của ai đó mà họ nói thẳng là không có, tôi sẽ có một nỗi buồn nhỏ và một niềm vui lớn. Buồn là vì món cá sốt chua ngọt của tôi hỏng ăn mất rồi; vui là vì tôi vừa gặp được một người ngay thẳng, thanh thoát, sống đúng với bản sắc, người ấy không lừa dối chính mình cũng chẳng lừa dối tôi — điều này hiển nhiên quan trọng hơn đĩa cá sốt chua ngọt màu sắc lỡ dở, hương vị dở dở ương ương kia nhiều lắm.
Chỗ bất toàn của người mẹ "hoàn hảo"
Có một cuốn băng ghi hình tiếng Anh dùng để đào tạo các nhà trị liệu tâm lý, nội dung ghi lại mối quan hệ tương tác giữa mẹ và trẻ sơ sinh; xem xong để lại ấn tượng vô cùng sâu sắc.
Trước khi bật băng, người thầy giới thiệu ngắn gọn về bối cảnh của người mẹ: 29 tuổi, xuất thân danh môn thế gia, mọi phương diện gần như hoàn hảo. Cô có bằng thạc sĩ tài chính, đảm nhiệm chức vụ quản lý cấp cao tại một công ty danh tiếng, mức lương năm gấp hơn chục lần công nhân bình thường. Chồng cô hơn cô bốn tuổi, là tiến sĩ, phó giáo sư tại một trường đại học. Hai người kết hôn được hai năm. Đoạn video được quay khi con trai họ được tám tháng tuổi.
Băng hình bắt đầu phát. Căn phòng sang trọng, đồ đạc xa hoa; dẫu đứa bé còn rất nhỏ nhưng căn phòng rộng hơn hai mươi mét vuông đã chất đầy đủ loại đồ chơi. Người mẹ đúng như những gì mọi người mường tượng khi nghe lời giới thiệu của thầy: trẻ trung, xinh đẹp, khí chất bất phàm. Đứa trẻ đang ngủ, người mẹ ở trong bếp chuẩn bị thức ăn cho con. Tiếng khóc của đứa bé từ phòng ngủ vọng ra, người mẹ buông việc trên tay, vào bế con lên. Đứa trẻ nằm trong lòng mẹ vẫn khóc; người mẹ tìm đủ mọi cách: bế con đi đi lại lại, nhỏ nhẹ thủ thỉ với con, cho con bú sữa, đặt vào tay con một món đồ chơi, vuốt ve âu yếm... tất cả đều vô hiệu, đứa trẻ vẫn cứ khóc.
Nhìn trên màn hình, nét mặt người mẹ dường như không có mấy biến đổi, nhưng động tác đã rõ ràng trở nên cứng nhắc và thô bạo. Phân đoạn cuối cùng là người mẹ nhẹ nhàng nhưng vô cùng dứt khoát ném đứa trẻ xuống giường, buông một câu: "Con muốn khóc thì cứ khóc đi."
Xem xong đoạn băng, người thầy giảng giải cho học viên. Thầy nói, sau khi máy quay được phát minh, các nhà tâm lý học đã sử dụng nó để nghiên cứu mối quan hệ mẹ - con vào thời kỳ đứa trẻ còn rất nhỏ. Mọi người đều biết rằng sự hình thành nhân cách của một con người có liên quan trực tiếp đến mối quan hệ thời thơ ấu với cha mẹ; hay nói cách khác, chính phương thức và thái độ cha mẹ đối đãi với con cái đã nhào nặn nên nhân cách của đứa trẻ. Thông qua sản phẩm công nghệ như máy quay, chúng ta có thể ghi lại một cách chuẩn xác rốt cuộc điều gì đã xảy ra giữa mẹ và con, đồng thời có thể thông qua quan sát để suy đoán xem những sự kiện này sẽ tạo ra ảnh hưởng như thế nào đối với sự trưởng thành của đứa trẻ.
Thầy tiếp tục nói: Thước phim này là một trong số rất nhiều đoạn phim được các nhà tâm lý học ghi lại từ hơn hai mươi năm trước. Sở dĩ nó mang giá trị to lớn là vì hơn hai mươi năm sau, đứa trẻ sơ sinh trong đoạn phim ấy lớn lên, nhưng lại phải tìm đến bác sĩ tâm lý vì mắc chứng nhân cách chướng ngại nghiêm trọng.
Từ tư liệu về người mẹ, chúng ta biết rằng cô là một phụ nữ xuất thân từ gia đình nền nếp, học vấn uyên thâm, cuộc sống lại vô cùng viên mãn. Mọi thứ thuộc về cô gần như hoàn hảo, và bản thân cô quả thực cũng là một người đòi hỏi sự hoàn hảo trong tất cả mọi sự. Sau khi làm mẹ, cô cũng sẽ yêu cầu bản thân phải là một người mẹ hoàn hảo, không cho phép mình có một chút tì vết nào.
Thế nhưng, con trẻ vốn là "bất toàn", chúng sẽ làm bẩn quần áo hay ga giường, sẽ khóc lóc vô cớ, sẽ làm điều sai quấy này nọ. Một người mẹ quá đỗi cầu toàn sẽ xem sự "bất toàn" của con trẻ như chính sự bất toàn của bản thân mình; điều đó sẽ khiến cô nảy sinh cảm giác thất bại chưa từng có. Nỗi thất bại này có thể trực tiếp dẫn đến việc cô thay đổi thái độ với con, tăng cường sự kiểm soát đối với con, cốt để đứa trẻ tiệm cận hơn với tiêu chuẩn hoàn hảo mà cô đặt ra.
Qua thước phim, chúng ta có thể thấy người mẹ đã nghĩ đủ mọi cách để đứa trẻ ngừng khóc nhưng bất thành, và cô bắt đầu trở nên nôn nóng bực bội. Chúng ta có thể suy đoán hoạt động tâm lý của người mẹ lúc ấy có thể là: "Tôi đã nỗ lực nhiều đến thế mà mày vẫn khóc, điều này chứng tỏ tôi không phải là một người mẹ tốt." Rồi sau đó, cơn giận bắt đầu tích tụ trong lòng; sự phẫn nộ này ban đầu có thể là nhắm vào đứa trẻ, vì trạng thái tồi tệ của con đã giáng một đòn nặng nề vào cảm giác tự ngã hoàn hảo của người mẹ. Thế nhưng, cô sẽ không cho phép mình trút giận trực tiếp lên con; điều duy nhất cô cho phép mình làm là mượn danh "tiêu chuẩn cao" như một bức bình phong để đòi hỏi đứa trẻ. Hoạt động tâm lý này bị che giấu sâu kín trong lòng, đến nỗi ngay cả chính cô cũng chẳng hề ý thức được. Ở tầng diện có thể ý thức được, cô sẽ tự an ủi mình: "Mình làm vậy là vì muốn tốt cho con, là để sau này con trở thành một người ưu tú hơn."
Ngoài những nghiên cứu bằng thước phim như vậy, còn có nhiều dạng nghiên cứu khác đều chứng minh rằng: Dưới sự dưỡng dục của một người mẹ có khuynh hướng cầu toàn, đứa trẻ sẽ phải chịu đựng sự kiểm soát quá mức, sức sống bản năng tiên thiên thuần khiết của nó sẽ bị đè nén. Nó có thể sẽ trở thành một người rất phù hợp với yêu cầu của xã hội và người khác, nhưng lại rất khó trở thành một con người có tự ngã được phát triển đầy đủ.
Khổng Phu Tử từ hai nghìn năm trăm năm trước đã từng dạy: "Chất thắng văn tắc dã, văn thắng chất tắc sử" — dịch ra là: Một con người, nếu đặc chất tiên thiên lấn át sự giáo hóa của văn hóa thì sẽ lộ vẻ hoang dã; nếu sự giáo hóa của văn hóa lấn át đặc chất tiên thiên thì sẽ trở nên gò bó, cứng nhắc, thiếu đi sự biến thông. Theo cách nói của Lỗ Tấn, văn hóa chính là sự ước thúc, là khuôn con người vào một loạt quy tắc để đối nhân xử thế. Đối với mỗi một cá thể nhân loại, tác dụng ước thúc của văn hóa được truyền thừa thông qua cha mẹ.
Trong công việc lâm sàng của mình, tôi từng gặp rất nhiều ca thanh thiếu niên có chung một đặc điểm: các em đều "bất hạnh" có một người mẹ gần như "hoàn hảo". Là một nhà trị liệu tâm lý khi tiếp xúc với những người mẹ như vậy, nhiều lúc cảm thấy vô cùng bức bối. Chẳng hạn, bà mẹ cũng sẽ dùng tiêu chuẩn "hoàn hảo" ấy để đòi hỏi nhà trị liệu, dường như chỉ khi nhà trị liệu nhất nhất nghe theo lời bà ta thì mới giải quyết được vấn đề của đứa trẻ. Nhà trị liệu đương nhiên sẽ không nghe theo; bởi nếu nghe theo thì chỉ khiến đứa trẻ phải chịu thêm một lần tổn thương nữa. Việc nhà trị liệu cần làm là ôn hòa gạt bỏ sự can thiệp của người mẹ "hoàn hảo", cùng đứa trẻ thiết lập nên một mối quan hệ hoàn toàn mới mẻ — một mối quan hệ không có sự kiểm soát thái quá, để tự ngã của đứa trẻ được từ từ lớn lên.
Có lẽ, đối với những người mẹ "hoàn hảo" như vậy, sự hoàn hảo thực sự là nên học thêm một chút kiến thức tâm lý học, vì con, và cũng là vì chính mình. Trên thực tế đã có rất nhiều bà mẹ bắt đầu làm điều này; dùng lời của vài người mẹ trong số đó thì việc học hỏi ấy giúp họ có thể cùng con cái trưởng thành một cách khỏe mạnh.
Tình yêu không cần điều kiện
Muốn có một cô con gái thì liền có được một cô con gái, tôi thực sự thấy ông trời đối đãi với mình không tệ. Con gái khỏe mạnh, thông minh, xinh xắn; lại thêm xung quanh không có đứa trẻ nào trạc tuổi, con bé đương nhiên trở thành trung tâm trong môi trường sống của mình. Lời ngợi khen bay đến ngập trời, điều đó cũng vô hình trung làm tăng thêm tình yêu của tôi dành cho con. Tôi thường tự cho rằng nếu mình không phải là người cha tốt nhất thiên hạ thì cũng là một trong những người cha tốt nhất. Cùng với sự lớn lên từng ngày của con gái, niềm tự hào và cảm giác hạnh phúc của một người làm cha cũng tăng tiến theo năm tháng. Đôi khi tôi thậm chí còn nghĩ: Cứ đà này, đến khi con gái mười bảy, mười tám tuổi, liệu tôi có bị những cảm giác hạnh phúc ấy làm cho căng phồng đến nổ tung ra không?
Chẳng cần đợi đến lúc đó, niềm kiêu hãnh làm cha của tôi đã phải nhận một gáo nước lạnh. Một ngày nọ khi con gái chừng hai tuổi, tôi đưa con đến khu vui chơi trẻ em. Có lẽ vì ít khi đến những nơi như vậy nên biểu hiện của con bé so với những đứa trẻ trạc tuổi tỏ ra thua kém một khoảng khá xa. Trên tấm bạt lò xo, một bé gái kém con tôi hai tháng tuổi nhảy nhót vô cùng thích thú, trong khi con tôi lại run rẩy sợ hãi ngồi nép một bên. Tôi đỡ con vào giữa, con bé nhảy theo nhịp của các bạn được một hai cái thì ngã nhào, lập tức òa khóc vang trời. Tôi liên tục động viên con nhảy tiếp nhưng không thành. Cảm giác thất vọng bắt đầu nhen nhóm trong lòng tôi, thậm chí lờ mờ xen lẫn một chút tức giận.
Tôi muốn đổi cách khác, bèn bế con lên một chiếc cầu trượt khá cao, bảo con trượt xuống; con bé lại nắm chặt lấy tay vịn cầu trượt, sống chết không chịu buông tay, vừa khóc vừa mếu máo kêu sợ. Khi nhận ra nỗi thất vọng và cơn tức giận trong lòng bắt đầu có phần không kìm nén nổi, tôi biết mình cần phải bình tâm suy nghĩ lại một chút. Tôi bế con xuống đất, để con tự chơi những thứ như bóng da, ngựa gỗ, rồi tự tìm một chỗ ngồi xuống, đứng từ xa dõi theo con.
Sắp xếp lại tâm tư, nỗi thất vọng và cơn giận đối với con gái bỗng tan biến không còn dấu vết, thay vào đó là sự tự trách và xấu hổ. Tự nhận là người cha tốt, tự cho rằng mình yêu con gái, hóa ra yêu con chỉ vì sự thông minh, xinh đẹp, dũng cảm của con có thể khiến người cha này hãnh diện; một khi con không thông minh, không xinh đẹp, không dũng cảm, hay nói một câu toẹt ra là một khi con không thể thỏa mãn thói hư vinh của người làm cha, thì tình phụ tử cũng chẳng còn. Tình yêu của cha mẹ dành cho con cái mà còn thực dụng đến thế, thì trên đời này còn có tình yêu chân thật nào đáng bàn? Tình cảm cha con mà còn hư ngụy đến mức này, thì những tình cảm khác còn có giá trị gì?
Cuộc đời của con gái còn dài lắm, chỉ vì không "dũng cảm" mà đã khiến tình yêu tôi dành cho con bị hao hụt nhiều đến thế, vậy sau này nếu có người xinh đẹp hơn con, có người đạt thành tích ở trường tốt hơn con thì sao? Chẳng lẽ tôi lại không yêu con nữa? Ngay khoảnh khắc này đây, trên thế giới có biết bao đứa trẻ đang phải chịu đòn roi của cha mẹ chỉ vì điểm số không tốt? Liệu tôi có trở thành một người cha đánh đập con gái mình hay không...
Đang lúc lòng dạ rối bời đau thắt, con gái chạy lại ôm chầm lấy tôi. Cảm nhận sự quyến luyến của con dành cho mình, nghĩ đến việc con bé tuyệt đối không thể ngờ rằng trong chưa đầy hai mươi phút ngắn ngủi, khoảng cách giữa người quan trọng nhất thế gian đối với con và con lại trải qua sự biến đổi lớn lao đến nhường ấy: từ gần hóa xa, rồi lại từ xa hóa gần. Tôi lại tự hỏi: Liệu con bé có phải chỉ yêu tôi khi tôi còn đủ sức che chở cho con, rồi đến khi tôi ốm đau suy kiệt con sẽ không yêu tôi nữa chăng? Tôi tin con sẽ không như vậy, nhưng điều kiện tiên quyết bắt buộc phải là: Cha của con — chính là tôi — không còn yêu con một cách đầy toan tính và thực dụng nữa.
Tôi ôm chặt con gái vào lòng, tầm mắt dần dần nhòe đi. Từ chuyện này tôi liên tưởng tới mối quan hệ giữa thầy giáo và học sinh. Thầy yêu trò gần như là điều hiển nhiên như cha mẹ yêu con cái. Nhưng đáng tiếc thay, trong tình yêu ấy cũng ngày càng len lỏi quá nhiều sự vụ lợi: thầy yêu trò học giỏi, chứ không yêu trò học kém. Nghĩ đến việc bản thân từng là đứa học trò được yêu thương ngày trước, trong lòng lại dấy lên thêm nỗi áy náy có lỗi với người khác.
Sống ở đời, hoàn toàn thoát khỏi thói tục quả thực quá đỗi gian nan. Nhưng dẫu thế nào đi nữa, việc lưu giữ trong tim một chút tình cảm yêu thương vô điều kiện — đối với bản thân, đối với những người thân yêu nhất — là điều vô cùng, vô cùng trọng yếu. Nó quan trọng hơn việc tích trữ vàng bạc tiền tài, quan trọng hơn việc đoạt lấy vòng nguyệt quế và địa vị; nhiều khi, nó thậm chí còn quan trọng hơn cả tính mạng. Đó là bởi vì sinh mệnh chỉ nhờ có những tình cảm ấy mới có thể là sự tận hưởng, chứ không phải là một chuỗi khổ sai.
Một trận cãi vã và thóa mạ ai nấy đều hoan hỷ
Tại sao mỗi người chúng ta đều khao khát thu hút sự chú ý của người khác? Gạt bỏ những nguyên do về mặt kinh tế sang một bên, nhìn thuần túy từ góc độ tâm lý học, điều này là bởi: vào thời kỳ ẵm ngửa, nếu chúng ta đói, khát hay sợ hãi, thì chỉ khi có người khác — người mẹ hoặc người cha — chú ý đến điều đó, chúng ta mới có cái ăn, cái uống và nhận được sự vỗ về an ủi. Khi đã trưởng thành, những nhu cầu mang tính hiện thực ấy chúng ta đã có thể tự mình đáp ứng, nhưng nhu cầu "được chú ý" lại lặn sâu vào nơi đáy lòng, vẫn tiếp tục chi phối dục vọng và ngôn hành của chúng ta.
Con người là loài động vật sống theo bầy đàn. Nếu không có những sự kiện có thể thu hút sự chú ý của đám đông, thì cuộc sống bầy đàn ắt sẽ vô cùng tẻ nhạt. Vì vậy chúng ta thực sự phải cảm ơn những kẻ thích bới bèo ra bọ, kiếm chuyện thị phi; chính họ đã khiến sự chú ý của chúng ta không ngừng có nơi chốn để hướng về. Không chỉ có vậy, ở nơi sâu thẳm hơn trong nội tâm chúng ta, luôn cuồn cuộn một luồng năng lượng tâm lý mù quáng và mãnh liệt, nó không ngừng tìm kiếm cửa thoát, tìm kiếm đối tượng để nó có thể ký thác (đầu chú), phát tiết, tấn công hoặc vuốt ve âu yếm. Về mặt bản chất, mọi hoạt động của con người thảy đều do luồng năng lượng tâm lý này thúc đẩy.
Sống tiếp bằng trái tim của một người khác
Chiều thứ Sáu là thời gian học tập chuyên môn định kỳ của Bệnh viện Trị liệu Tâm lý thuộc Đại học Essen, Đức. Viện trưởng mời hai chuyên gia ghép tim đến thuyết trình. Tâm lý và tim mạch tuy đều mang một chữ "tâm", nhưng "tâm" này chẳng phải "tâm" kia: chữ tâm trước chỉ chức năng của đại não, chữ tâm sau chỉ cơ quan bơm máu đi khắp các bộ phận của cơ thể, hai thứ vốn chẳng liên quan gì đến nhau. Buổi tọa đàm lần này lại gắn kết cả hai lại, bởi vì có một bệnh nhân nội trú ở khoa tâm lý từng làm phẫu thuật ghép tim, các bác sĩ tâm lý muốn tìm hiểu về tiến trình ghép tim để phán đoán xem tiến trình ấy có thể tạo ra ảnh hưởng như thế nào đối với tâm lý bệnh nhân.
Chuyên gia ghép tim dùng các thiết bị công nghệ cao, thông qua văn bản, hình ảnh, hoạt họa và video ghi hình thực tế để miêu tả quá trình ghép tim một cách vô cùng sinh động và chi tiết. Tôi tuy là dân học y, nhưng những cảnh tượng phẫu thuật máu me đầm đìa cũng là chuyện từ hơn chục năm trước thời đại học, nên khi nhìn thấy một mảng đỏ rực của máu trên màn chiếu, trong lòng vẫn dâng lên cảm giác kinh tâm động phách.
Thế nhưng đó vẫn chưa phải là điều khiến tôi chấn động nhất. Điều làm tôi chấn động nhất chính là: khát vọng muốn được sống tiếp mãnh liệt của một người cần thay tim, cũng như khát vọng mãnh liệt của các bác sĩ ghép tạng muốn người khác được sống tiếp. Theo lời chuyên gia, trong số các bệnh nhân được ghép tim, có 20% sẽ tử vong trong vòng ba tháng, một nửa số bệnh nhân sống được năm năm, 10% khác sống được trên năm năm, hiện tại trường hợp sống lâu nhất đã ngót nghét hai mươi năm. Những bệnh nhân vượt qua được giai đoạn nguy hiểm ban đầu sau phẫu thuật, chất lượng cuộc sống so với trước khi ghép tim cũng được nâng cao rõ rệt.
Chất lượng cuộc sống nâng cao, nói toẹt ra là sống yên tâm hơn, tự do hơn một chút. Hãy thử nghĩ xem: trước khi làm phẫu thuật ghép tim, phải mang theo một trái tim ốm yếu bệnh tật, đi lại cũng không dám đi nhanh, gặp chuyện vui cũng chẳng dám quá vui, món muốn ăn không được tùy tiện ăn, việc muốn làm không được tùy tiện làm, đó là một cuộc sống như thế nào? Nếu sinh mệnh phải chịu đựng sự trói buộc to lớn đến nhường ấy, thì so với cái chết phỏng có khác biệt là bao?
Trường hợp cực đoan chúng ta không bàn tới, hãy nhìn vào trường hợp ở khoảng giữa: năm năm tính toán ước chừng là khoảng hai nghìn ngày. Thời gian đó tính là dài chăng? Xét từ góc độ kỹ thuật, đây đã là một thành tựu vô cùng phi thường. Không biết đã có bao nhiêu bệnh nhân phải trả giá bằng tính mạng, bao nhiêu bác sĩ đã cống hiến trọn vẹn tâm huyết cả đời mới đạt được thành tựu như vậy. Năm năm, năm mùa xuân hạ thu đông, hai nghìn lần mặt trời mọc rồi lặn; nếu chúng ta còn tâm nguyện nào chưa thành, chỉ cần những tâm nguyện ấy không quá đỗi lớn lao hay phức tạp, thì dùng khoảng thời gian này để thực hiện cũng đã là rất thong dong rồi.
Thế nhưng, đối với những người mới ngoài ba mươi, bốn mươi tuổi, các cơ quan khác như đại não, phổi, gan vẫn còn rất khỏe mạnh, thì năm năm vẫn là quá ngắn ngủi. Trái tim tuy trọng yếu nhưng nó không phải là toàn bộ sinh mệnh. Nó gặp trục trặc không đồng nghĩa với việc chúng ta phải từ bỏ toàn bộ sự sống của thể xác. Trên thực tế nào chỉ có sự sống của thể xác; sinh mệnh tinh thần của chúng ta luôn cần một vật mang (tải thể), vật mang biến mất thì đương nhiên cũng kéo theo sự biến mất của sinh mệnh tinh thần.
Đối với các chuyên gia ghép tạng, năm năm cũng là quá ngắn. Trong mắt họ có lẽ chỉ có một mục tiêu duy nhất: càng dài càng tốt. Dài cho đến đúng độ dài mà Đấng Tạo Hóa đã thiết kế, để rồi sau khi nếm trải trọn vẹn những niềm vui mà một con người nên tận hưởng, kinh qua những nỗi đau mà một con người buộc phải trải nghiệm, người ta mới có thể không mang theo quá nhiều tiếc nuối mà vẫy tay từ biệt thế giới này.
Trường sinh bất tử là điều không thể, mà cũng chẳng cần thiết. Nhưng sinh mệnh cũng không thể quá ngắn ngủi, chí ít không thể ngắn đến mức chỉ vì một cơ quan nào đó bị hỏng mà toàn bộ sự sống phải tiêu biến theo. Có những người gặp phải bất hạnh như tai nạn giao thông, y học hiện đại không còn cách nào cứu vãn mạng sống của họ; các chuyên gia ghép tạng căn cứ theo nguyện vọng khi còn sống của họ để lấy đi trái tim, thay thế cho trái tim không lành lặn của những người khác, giúp họ có thể tiếp tục sống tốt hơn.
Thực ra, thông qua phương thức này, người sống tiếp không chỉ là người tiếp nhận tạng ghép; những người hiến tặng trái tim, chí ít một phần vô cùng trọng yếu trong sinh mệnh của họ vẫn đang tiếp tục sống bên trong cơ thể của một con người khác. Khi một sinh mệnh được "chắp vá" như vậy xuất hiện trước mặt bạn và còn mỉm cười với bạn, trong lòng bạn sẽ dâng lên thứ tình cảm như thế nào — kinh ngạc, khâm phục, hay là xúc động?
Thay một trái tim, nói thì dễ, nhưng khi bắt tay vào làm không biết phải hạ quyết tâm lớn đến nhường nào. Kinh nghiệm của bản thân tôi là: nha sĩ khuyên tôi nhổ một chiếc răng sâu mà tôi đã phải do dự suốt hơn một năm trời. Không hiểu nếu trái tim tôi gặp vấn đề, bác sĩ ngoại khoa tim mạch khuyên tôi thay tim, tôi sẽ phải do dự bao lâu? Nhưng dẫu quyết định ấy có khó khăn đến đâu, trên thế gian này vẫn có hàng vạn con người đã làm được. Ghép tim cho chúng ta thấy không chỉ là sự phát triển của y học hiện đại, mà còn là tình yêu cuộc sống và sự tôn trọng sinh mệnh của những con người kiên cường.
Bằng bất cứ giá nào, sống tiếp vẫn là điều quan trọng nhất. Bất kỳ một lý do giản đơn nào để sống tiếp cũng đều quan trọng hơn mọi lý do của sự buông xuôi. Chẳng hạn như tim hỏng là một lý do to lớn khiến người ta không thể sống tiếp, nhưng chỉ cần để được ngắm thêm vài mùa xuân hoa nở ấm áp, chúng ta cũng nên đi thay một trái tim.
Hãy sống tiếp. Dốc hết mọi khả năng. Cho dù là sống bằng trái tim của một người khác.
Tâm sự hạo miểu nối liền vũ trụ bao la
Báo chí đưa tin: Năm 1972, Cơ quan Hàng không và Vũ trụ Hoa Kỳ (NASA) đã phóng vật thể nhân tạo đầu tiên ra ngoài hệ Mặt Trời, mang tên "Pioneer 10" (Tiên khu giả số 10). Tháng Giêng năm nay, sau hành trình bay kéo dài gần 31 năm, các kỹ sư hàng không vũ trụ đã lần cuối cùng nhận được tín hiệu yếu ớt truyền về từ nó. Điều này đồng nghĩa với việc "sứ giả liên sao" đầu tiên bay ra khỏi hệ Mặt Trời đã vĩnh viễn từ biệt nhân loại, từ nay chỉ còn có thể cô độc lặng lẽ du hành giữa dải Ngân Hà bao la thăm thẳm.
Dưới đây là một tổ hợp số liệu về Pioneer 10: Tốc độ: 52.150 km/h; khoảng cách hiện tại so với Trái Đất ước chừng 12 tỷ km; nó sẽ tiếp tục bay trong lạnh giá và tăm tối hướng về chòm sao Kim Thố (Taurus) cách Trái Đất 68 năm ánh sáng, nếu mọi sự suôn sẻ, nó sẽ tới đích sau 2 triệu năm nữa.
Những số liệu này là một thách thức cực lớn đối với trí tưởng tượng của chúng ta. Trong cuộc sống thường nhật, lái xe với tốc độ 180 km/h đã là vô cùng nhanh; đi một vòng quanh Trái Đất cũng chỉ có 40.076 km, nếu đi bộ thì đi vài năm cũng hết; 2 triệu năm là bao lâu? Dùng sinh mệnh trăm năm hữu hạn của một cá nhân nhân loại để tưởng tượng thì căn bản là điều bất khả, đúng như lời Trang Tử từng nói: "Triêu khuẩn bất tri hối sóc, huệ cô bất tri xuân thu" (Nấm buổi sáng không biết ngày mùng một và ngày cuối tháng, ve sầu mùa hè không biết đến xuân thu).
Thứ bị thách thức đâu chỉ có trí tưởng tượng của chúng ta. Cảm nhận của chúng ta về chính bản thân mình trước những khoảng cách và thời gian không tưởng như vậy có lẽ cũng nên có đôi chút đổi thay: Thế giới bên ngoài hóa ra rộng lớn đến nhường này, Trái Đất nơi chúng ta cư ngụ hóa ra nhỏ bé đến nhường này, loài người giữa vũ trụ hóa ra vi mạt không đáng kể đến nhường này; còn về từng cá nhân, điều đó lại càng không cần phải bàn cãi. Khi chưa hay biết những điều này, chúng ta thường nhìn cái nhỏ thành quá to, coi cái nhẹ thành quá nặng, nên mới sinh ra biết bao nỗi nặng nề và phiền não của sự tự đại.
Thêm nữa, thái độ đối với những sự việc xảy ra xung quanh mình phải chăng cũng nên có chút đổi thay? So với cuộc phiêu bạt đằng đẵng của Pioneer 10, giữa khoảng ba vạn ngày ngắn ngủi của một đời người, tất thảy những ân oán tình thù, buồn vui tan hợp kia phỏng có gì đáng để bận lòng quá mức?
Vũ trụ không có phiền não, bởi vì nó đủ lớn, lớn đến mức có thể hòa tan và làm loãng tất cả; tôi tin Pioneer 10 cũng chẳng có phiền não, bởi vì nó còn một chặng đường rất dài phía trước phải đi, còn rất nhiều năm tháng phải bước qua, phiền não sẽ cản trở hành trình của nó, nó sẽ vứt bỏ phiền não lại dọc đường, hoặc ném nó vào những năm tháng đã trôi qua — ngoài chính bản thân mình ra, chẳng có thứ gì đáng để nó phải mang theo mãi mãi.
Cho nên, những lúc không thể thoát khỏi sự bận tâm quá mức về bản thân, cũng không thể buông bỏ nổi những chuyện vụn vặt ngoài thân, hãy tìm một khoảng không gian khoáng đạt, ngẩng đầu lên và ngắm nhìn bầu trời. Biển xanh trời thẳm, sao dời vật đổi, vũ trụ hạo miểu sẽ khiến tâm hồn bạn trở nên bao la khoáng đạt như chính nó, đủ để dung chứa tất cả những tâm sự và sự đời mà bạn gặp phải.
Ngoài ra, cũng đừng quên thỉnh thoảng hãy nhớ về Pioneer 10. Khi nhớ về nó, tâm bạn đã ở cùng với nó, và như thế, cả bạn lẫn nó đều sẽ không còn cô độc nữa.
Tu bổ nhân sinh
Tay nắm ở giữa chiếc nắp vung nhôm ở nhà tôi thường bị tuột ra mỗi khi sử dụng; hôm nay tôi tốn một tệ mua cái mới ở sạp hàng vỉa hè, lắp vào dùng tiếp, thế là không còn phải trải qua cảm giác thót tim dùng giẻ lau nhấc nắp vung lúc nhiệt độ đang sôi sùng sục nữa.
Cách đây một thời gian, vòi nước ở bồn rửa mặt gặp trục trặc, cứ khóa không chặt, nước rỉ tí tách tong tỏng, vừa lãng phí lại vừa tạo ra tiếng ồn khó chịu. Mất một buổi trưa không ngủ, tôi đã xử lý xong vấn đề đó.
Lại còn những cánh cửa sổ đóng không khít, ổ cắm điện chập chờn, đồ nội thất sứt mẻ... Trong sự sửa sửa chữa chữa ấy, những vấn đề cũ và mới cứ thế thay phiên nhau xuất hiện, năm tháng cũng theo đó mà dần dà già cỗi đi. Rất đáng tiếc là bản thân năm tháng lại không thể đem ra tu bổ được.
Tuyến đường huyết mạch của thành phố trước cửa nhà tôi cũng đã qua mấy lần tu sửa. Bây giờ nó thênh thang và rực sáng, cảnh lầy lội lồi lõm cùng cảm giác xóc nảy khi xe cộ chạy qua trước kia từ lâu đã bị người ta lãng quên. Ở gần cầu vượt cách đó không xa mọc lên một công viên giữa phố. Thảm cỏ xanh mướt điểm xuyết muôn sắc hoa tươi đã tạo nên một phông nền tràn đầy sức sống cho những khối kiến trúc bê tông cốt thép lạnh lùng. Cả thành phố đang nhanh chóng trở nên sạch sẽ và sáng sủa trong tầm mắt của mọi người.
Còn có một dạng tu bổ khác đang diễn ra tại hàng trăm ngôi trường học các cấp, đó chính là sự tu bổ tri thức. Từ tiểu học lên đại học, từ các lớp bổ túc văn hóa đến các hội thảo học thuật cao cấp, con người ở mọi lứa tuổi đều đang tích lũy những viên gạch vật liệu tri thức để trang hoàng cho điện thờ tri thức của mình. Dẫu sao đây cũng là thời đại của tri thức, dẫu sao tri thức cũng là gam màu rực rỡ nhất trong tất cả các sắc màu có thể tô điểm cho con người.
Thế nhưng, sự tu bổ quan trọng nhất đối với một đời người lại là thứ không thể nhìn thấy được bằng mắt thường. Nó diễn ra ở nơi sâu thẳm nhất trong tâm hồn của mỗi một con người. Một trái tim từ ngày nó chào đời đã bắt buộc phải đối mặt với phong ba bão táp, đắng cay ngọt bùi; cho nên mỗi một trái tim đều có thể từng bị chèn ép hoặc bào mòn, đều có thể có những vết thương do đông cứng, bỏng rát hay sứt mẻ. Điều khiến người ta xót xa hơn có lẽ là: trong vô vàn nguồn sức mạnh mà tâm hồn chúng ta nhận được từ tạo hóa, có một hoặc vài nguồn lực mang tính tự hủy; bởi thế tâm hồn chúng ta thường có những biến động bất an theo kiểu "không gió mà dậy sóng ba đào". Dùng lời trong một bài hát nổi tiếng để diễn tả thì chính là: Khi chúng ta nhìn ngắm thành phố này, và nghĩ rằng trong lòng thành phố này chắc hẳn đang có biết bao con tim tan vỡ.
Bởi vậy mới có nhiều nhà thờ và chùa chiền đến thế, bởi vậy mới có các mục sư, người xuất gia và các bác sĩ tâm lý. Khi một người cần tu bổ tâm hồn, họ tự nhiên sẽ nghĩ đến những con người ấy.
Đất sụt đông nam, trời cao tây bắc, đất trời vốn còn chẳng có được một hình thể vẹn toàn. Dẫu chúng ta không có được sự vẹn nguyên ban sơ lẫn hiện tại, nhưng chúng ta có nguyện vọng và quyết tâm tu bổ. Hãy tin rằng sẽ có một ngày, những gì đổ vỡ sẽ lại được phục nguyên, và một tâm hồn đã kinh qua sự tu bổ ắt sẽ càng thêm phần thành thục và kiên cường.
Tính chiếm mấy phần của ái
Người phụ nữ hai mươi lăm tuổi tên Y Nhân này nói rằng, cô có thể vì một cuộc ân ái tuyệt mỹ mà sẵn sàng chết. Điều này khiến người ta liên tưởng tới vài câu nói của Michel Foucault — "quái kiệt tư tưởng", người được mệnh danh là một trong những triết gia vĩ đại nhất đương đại (thời trẻ ông từng làm bác sĩ tâm lý, từng làm việc trong bệnh viện tâm thần). Ông từng nói với một phóng viên: "Tôi cho rằng khoái lạc là một điều vô cùng khó khăn, nó không hề đơn giản như việc tự chiêm ngưỡng bản thân. Tôi mơ về khoái lạc. Tôi thậm chí hy vọng có được thứ khoái lạc quá độ ấy, tôi thà chết vì nó. Đối với tôi, thứ khoái lạc thuần khiết, trọn vẹn ấy gắn liền với cái chết."
Cái gọi là "khoái lạc quá độ" của Foucault liệu có bao gồm cả chuyện tình dục tuyệt mỹ hay không, vì ông không nói rõ nên chúng ta không thể biết chắc. Thế nhưng việc ông qua đời vì căn bệnh AIDS năm năm mươi tám tuổi (1984) dường như đã ngầm ám chỉ thứ "khoái lạc quá độ" ấy có thể là gì. Nhìn từ góc độ này, quả thực không chỉ có một người sẵn sàng trả giá bằng tính mạng cho một cuộc ân ái tuyệt trần.
Tuy nhiên, không phải ai cũng cho rằng tình dục là niềm cực lạc. Đối với một số người, đặc biệt là với một số phụ nữ, tình dục không phải là thứ không thể thiếu trong cuộc sống, một số ít phụ nữ thậm chí còn xem tình dục là một gánh nặng. Họ bước vào hoạt động tính dục phần lớn là để đáp ứng nhu cầu của bạn đời nam giới; người phụ nữ hai mươi hai tuổi từng nói tính dục chỉ chiếm ba phần mười của tình yêu chính là thuộc về nhóm người này.
Không thể tận hưởng trọn vẹn đời sống tình dục liệu có đồng nghĩa với việc chất lượng cuộc sống không cao hay không? Nhìn từ một số kết quả khảo sát tâm lý học, dường như không hẳn là như vậy. Điều này có lẽ hơi giống việc ăn ớt: có người coi ớt như mạng sống, một bữa không có ớt là bứt rứt khắp người; trong khi người khác cả đời không đụng đến một quả ớt cũng chẳng sao. Chúng ta tự nhiên sẽ không cho rằng chất lượng sống của người sau là kém cỏi hơn.
Cho nên đối với câu hỏi "tính dục chiếm mấy phần của tình yêu", mỗi người khác nhau có thể có những đáp án hoàn toàn khác nhau. Chỉ cần bản thân cô ấy thấy chẳng có gì không ổn, thì cô ấy muốn coi tính dục chiếm bao nhiêu phần của tình yêu cũng đều được cả; thế nhưng nếu cô ấy cảm thấy có điều gì đó cản trở mình tận hưởng tính dục — chẳng hạn như bệnh tật, những quan niệm lỗi thời — thì khi ấy có lẽ cần phải nghĩ cách để loại bỏ những nhân tố đó đi.
Ngay cả đối với cùng một con người, ở những giai đoạn khác nhau của cuộc đời, đáp án cũng sẽ đổi thay. Đời người, xét theo một ý nghĩa nào đó, là tiến trình từ chỗ "không có giới tính" phát triển thành "có giới tính", rồi lại từ "có giới tính" quay về trạng thái "không có giới tính". Bất kể về mặt thể xác hay tâm lý đều diễn ra như vậy.
Khi mới lọt lòng, tuy bé trai và bé gái có sự khác biệt "một chút", nhưng sự khác biệt ấy xét từ góc độ thực dụng thì gần như vô nghĩa. Trẻ sơ sinh có lẽ đã có một dạng tính dục nhất định, nhưng thứ tính dục này phần nhiều là sự thỏa mãn mang tính tự kích thích, chứ không hướng đối tượng ra người khác.
Bé trai và bé gái lớn dần lên, sau khi bước vào tuổi dậy thì liền bắt đầu "chia đường rẽ lối", ai đi về cực đoan của người nấy: bé trai biến thành người đàn ông góc cạnh kiên cường đầy sức mạnh, bé gái biến thành người phụ nữ thướt tha mềm mại như nước. Rồi sau đó tình yêu và những hoạt động tính dục gắn liền với tình yêu xuất hiện. Trong và sau hoạt động tính dục, sự phân hóa giới tính sẽ càng thêm rõ rệt. Hay nói cách khác, hoạt động tính dục làm cho đàn ông càng giống đàn ông, đàn bà càng giống đàn bà.
Trong vài thập kỷ tiếp theo, hoạt động tính dục sẽ luôn là một trong những hợp phần trọng yếu nhất của cuộc sống, cũng là điều kiện căn bản nhất để một cá nhân kiến tạo nên đơn vị tế bào cơ bản nhất của xã hội — gia đình. Sau tuổi trung niên, cùng với sự suy giảm từ từ của chức năng cơ thể, cũng như sự giảm bớt dần vẻ huyền bí của tính dục trong tâm lý, số lần sinh hoạt tình dục cũng sẽ thưa đi, và tính dục không còn là thành phần quan trọng nhất của cuộc đời nữa; nam và nữ lại phân biệt quay trở về trạng thái gần như phi giới tính. Vào thời khắc này, cũng là lúc tiến gần tới việc đặt dấu chấm hết cho một kiếp người.
Và một thế hệ khác lại đang lặp lại hành trình từ vô tính đến hữu tính, rồi lại quay về vô tính. Loài người cứ thế sinh sôi nảy nở đời này qua đời khác trên hành tinh này. Đối với một chàng trai tuổi ngoài đôi mươi, hoạt động tính dục có thể là việc hệ trọng nhất đời, anh ta đương nhiên sẽ cảm thấy tính dục chiếm tới chín phần mười tình yêu. Nhưng đến năm sáu mươi tuổi, liệu anh ta có còn nghĩ như vậy nữa không? Ước chừng có lẽ là không.
Nam nữ yêu nhau, tính dục là nền tảng tuyệt đối. Không có tính dục, tình yêu là không trọn vẹn; mà bản chất của tính dục lại là một phương thức giao lưu. Chúng ta có thể nhìn thấy sự hé lộ về bản chất của tính dục từ các ngôn ngữ khác nhau: Trong tiếng Hán, những từ như "tính giao" (性交), "giao cấu" (交媾), nhìn vào là thấy ngay hàm nghĩa giao lưu, kết nối. Trong tiếng Anh, từ "intercourse" cũng mang nghĩa tương tự. Tiếng Đức "Geschlechtsverkehr" là một từ ghép, nửa đầu mang nghĩa giới tính, nửa sau biểu thị giao thông, giao lưu.
Thế nhưng phương thức giao lưu mang tên tính dục này vô cùng đặc thù. Chúng ta hãy làm một phép so sánh liên quan đến công nghệ thông tin: Chúng ta ví sự giao lưu giữa bạn học, đồng nghiệp và bạn bè thông thường giống như việc dùng đường dây điện thoại quay số vào mạng (dial-up), đặc điểm là tốc độ chậm, lượng thông tin trao đổi trong một đơn vị thời gian không nhiều, nói theo tiếng địa phương là "chưa đã thèm". Giao lưu thông thường đương nhiên cũng chỉ dừng lại ở đó: cùng nhau ăn bữa cơm, tán gẫu đôi câu, giúp đỡ nhau vài việc, lại còn thường xuyên phải khách sáo nói lời cảm ơn này nọ.
Còn giao lưu tính dục thì sao? Nó hệt như việc kết nối mạng băng thông rộng (broadband), tốc độ cực nhanh, dung lượng thông tin trao đổi trong một đơn vị thời gian vô cùng khổng lồ, mang lại cảm giác ngất ngây thỏa mãn đến mức gần như choáng váng. Trong cuộc giao lưu này, mọi phương diện từ thể xác, tinh thần, xã hội, thậm chí cả chính trị, kinh tế của con người đều được tiến hành một cách toàn diện và sâu sắc theo phương thức phi thường; chỉ cần hai người cùng tự nguyện, quả thực là có thể "muốn làm gì thì làm".
Khao khát được giao lưu là một trong những thuộc tính bản chất nhất của con người; xét từ chiều rộng và chiều sâu của sự giao lưu, giao lưu tính dục là phương thức tuyệt vời nhất để thỏa mãn niềm khao khát ấy, không một hình thức giao lưu nào khác có thể thay thế nổi.
Trong tình yêu, đối với đàn ông, nếu thành phần "ái" quá nhiều có thể sẽ gây ra ảnh hưởng bất lợi cho mối quan hệ tính dục. Bởi vì trong tâm lý tính dục của nam giới có chứa đựng những thành phần tấn công, ngược đãi, chiếm đoạt — điều này vốn đi ngược lại bản ý của tình yêu. Đứng trước một người phụ nữ mà mình quá đỗi tôn sùng và say đắm, tính xung động của người đàn ông có thể bị suy giảm. Chẳng hạn như hình tượng một người phụ nữ thánh thiện thanh cao, dẫu cô ấy vô cùng xinh đẹp cũng rất khó khơi gợi dục vọng của nam giới.
Vì vậy tình yêu của nam giới có những điểm tự mâu thuẫn: Một mặt, anh ta có khát khao tính dục đối với người phụ nữ mình yêu; mặt khác, nếu anh ta quá yêu một người phụ nữ, sự thèm muốn tính dục đối với cô ấy lại có thể giảm đi. Trong khi những người phụ nữ anh ta có thể chẳng hề yêu, nhưng lại sở hữu sức hấp dẫn giới tính mãnh liệt, lại có khả năng khơi gợi mạnh mẽ dục vọng của anh ta. Có người dựa vào điểm này mà cho rằng đàn ông sinh ra về mặt đạo đức đã kém cỏi hơn phụ nữ. Nhưng nhận định như vậy là thiếu công bằng: Đạo đức là một dạng quy tắc xã hội, không thể dùng nó để phán xét tính ưu liệt của một chức năng sinh lý như tính dục.
Tâm lý tính dục của nữ giới lại có đôi chút khác biệt. Khát khao tính dục của phụ nữ gắn liền mật thiết hơn với tình yêu. Có lẽ những hoạt động tính dục không có tình yêu vẫn tồn tại trong ảo tưởng tính dục của nhiều phụ nữ, nhưng đó cũng chỉ là ảo tưởng mà thôi. Dục vọng của phụ nữ được khơi gợi nhờ tình yêu, và chỉ trong hoạt động tính dục tràn ngập tình yêu họ mới có thể tận hưởng trọn vẹn niềm hoan lạc của tính dục.
Chính sự khác biệt tinh tế này đã khiến cho tình yêu và mối quan hệ tính dục giữa nam và nữ trở nên khúc khuỷu gập ghềnh, biến ảo khôn lường. Và cũng chính những biến hóa vô tận ấy đã khiến cho những câu chuyện tình yêu vĩnh viễn không bao giờ trở nên đơn điệu và nhàm chán. Suốt hàng nghìn năm qua, mỗi một thế hệ đều tốn hao biết bao giấy mực để miêu tả tình yêu của họ, và trong hàng nghìn năm tiếp theo, con người ta vẫn sẽ tiếp tục làm như vậy.
Những người khao khát tính dục nhưng không được thỏa mãn là những người bất hạnh. Tổn thương mà điều này gây ra cho một con người có thể nói là thấu tận tâm can. Có nghiên cứu chỉ ra rằng tuổi thọ của những người cấm dục lâu dài ngắn hơn rõ rệt so với những người có đời sống tình dục bình thường. Nhưng nhìn từ một phương diện khác, sự thỏa mãn tính dục quá độ cũng mang lại rất nhiều vấn đề về mặt tâm lý; vấn đề trực tiếp nhất chính là cảm giác chán chường đối với tính dục.
Cảm giác chán chường này thường sẽ lan tỏa (phiếm hóa), mở rộng sang mọi phương diện của cuộc sống, đương nhiên cũng sẽ xâm lấn vào trong tình yêu, cuối cùng có thể gây tổn thương cho chính tình yêu. Cho nên những kẻ phóng túng dục vọng, thoạt nhìn như đang thỏa mãn dục vọng của bản thân, nhưng thực chất có thể lại đang bóp nghẹt dục vọng của chính mình, đồng thời cũng bóp chết luôn năng lực yêu thương của bản thân.
Sống và chết, nam và nữ, là những vấn đề mà mỗi người đều bắt buộc phải suy ngẫm. Nhưng về mối quan hệ tính dục giữa đàn ông và đàn bà, cũng chẳng cần phải nóng vội nghĩ cho quá rạch ròi sáng tỏ. Ngày mà người ta nhìn thấu hết mọi bí mật của tính dục, cũng chính là thời khắc niềm vui của tính dục hoàn toàn tiêu biến. Sắc màu huyền bí của tính dục chính là nguồn sức mạnh lớn nhất thúc đẩy con người dấn thân vào hoạt động tính dục, hay có thể nói là liều thuốc kích thích hữu hiệu nhất.
Tính dục không nghi ngờ gì nữa chính là một trong những điều tốt đẹp nhất trên thế gian này. Nhưng chẳng biết tự bao giờ, cũng chẳng biết bắt đầu từ ai, tính dục bỗng nhiên lại biến thành thứ xấu xa, nhơ bẩn; không chỉ khi tiến hành hoạt động tính dục phải ở trong mật thất, mà ngay cả ở chốn công cộng cũng không được phép nhắc tới. Đem một thứ tốt đẹp nhường ấy biến thành điều che che đậy đậy, thực sự khiến người ta phải hoài nghi động cơ của kẻ khởi xướng liệu có quá hiểm độc hay không.
Thế nhưng nghĩ kỹ lại, làm như vậy có lẽ cũng có cái hay của nó: chí ít nó khiến cho tính dục nhờ có cảm giác huyền bí mà khiến người đời càng thêm phần tha thiết hướng về. Thật không dám tưởng tượng, nếu tính dục trở nên tùy tiện như chuyện ăn uống thường ngày, liệu nó có còn giữ được sức hấp dẫn khổng lồ đến thế nữa hay không.
Từ xu thế hiện nay mà nhìn, ngày ấy có lẽ sớm muộn rồi cũng sẽ tới. Không chỉ xuất phát từ nguyên do luân lý đạo đức, mà còn vì hạnh phúc thực tế của nhân loại, chúng ta hy vọng ngày đó hãy đến càng muộn càng tốt. Trải nghiệm tính dục của mỗi người nên là một tiến trình tự mình khám phá, chứ không nên là thứ được dạy dỗ theo kiểu cấp tốc mì ăn liền. Toàn bộ niềm vui mà tính dục mang lại cho con người cũng nằm trọn trong tiến trình khám phá ấy.
Tương tự như vậy, mỗi người đều cần dùng chính trải nghiệm của bản thân mình, chứ không chỉ dựa vào cảm nhận của người khác, để trả lời cho câu hỏi: Tính dục chiếm mấy phần của tình yêu? Đáp án là gì không quan trọng, điều quan trọng là đó bắt buộc phải là đáp án của chính bạn.
Ăn uống và sắc dục đều là những nhu cầu căn bản của con người (thực, sắc, tính dã). So sánh vai trò của chúng trong tình yêu và hôn nhân là một việc hết sức thú vị. Một nữ đồng nghiệp kể với tôi rằng, năm xưa khi chồng cô theo đuổi cô, anh ấy luôn có thể bất cứ lúc nào móc từ trong túi áo hoặc túi xách ra vài thanh sô-cô-la cao cấp đưa cho cô ăn. Lúc đó cô nghĩ: Một người có gu thưởng thức đồ ăn tốt như vậy thì bản tính chắc cũng chẳng đến nỗi nào. Thế là cô kết bạn với anh, rồi sau đó tiến tới hôn nhân.
Có một vài cuốn sách hướng dẫn hôn nhân thường mách nước cho phụ nữ: Muốn chiếm trọn trái tim người đàn ông, trước hết hãy chiếm lấy dạ dày của anh ta. Vì vậy cũng giống như tính dục, sự thèm ăn trong tình yêu cũng nên chiếm lấy đôi ba phần.
Sau cùng xin kể một câu chuyện: Một người lính Mỹ từ hải ngoại trở về nước nghỉ phép. Về đến nhà, anh nhìn thấy mẩu giấy nhắn vợ để lại trên bàn, trên đó viết: "Cơm ở trên bàn, bia ở trong tủ lạnh, em ở trên giường."
Vỏn vẹn ba câu ngắn ngủi nhưng để lại dư vị vô cùng sâu sắc: vừa có cái ăn cái uống thể hiện sự ấm cúng của mái ấm gia đình, lại vừa có nét tính dục hàm súc quyến luyến đến say lòng, và đương nhiên cũng chan chứa tình yêu thương sâu nặng không lời nào tả xiết. Người đàn ông lấy được một người vợ như vậy, quả thực hạnh phúc không gì sánh bằng.
Bất kể là tính dục hay ăn uống, chúng tuy đều có thể là một phần của tình yêu, nhưng tuyệt đối không thể là toàn bộ. Lãnh địa của tình yêu bao la và sâu thẳm đến mức: dẫu bạn có nhét tất cả mọi thứ trên thế gian này vào đó, cũng vĩnh viễn không tài nào lấp đầy được nàng.
Gà tây và gà ta có gì khác biệt?
Freud: Kích thước của con gà tây do độ mạnh yếu của nội khu lực bên trong nó quyết định; còn kích thước của con gà ta lại do những con gà khác (bao gồm cả gà tây) quyết định.
Jung: Khác biệt thế nào tôi không biết, tôi chỉ biết tập thể vô ý thức chung của chúng — đó là sợ chồn.
Gerlach (Nhà phân tích tâm thần): Căn cứ theo kinh nghiệm ăn thịt gà của tôi ở Frankfurt và Vũ Hán, tôi có thể chứng minh rằng: cả gà tây lẫn gà ta trước khi bị chọc tiết đều nảy sinh sự âu lo. Xin vui lòng tham khảo luận văn của tôi về chứng lo âu thi cử.
Haag (Nữ phân tích tâm thần): Anh không nói rõ gà trống hay gà mái, xấu hay đẹp, thì làm sao tôi có thể cộng tình, làm sao so sánh được?
Babel (Nhà trị liệu tâm lý trẻ em): Bất kể gà tây hay gà ta, tôi chỉ thích gà con.
Revensdorf (Nhà trị liệu hành vi chủ nghĩa): Tiêu chuẩn phán đoán tây và ta của tôi có thể hơi khác mọi người một chút: Tôi cho rằng gà đánh nhau là gà tây, gà đánh bài là gà ta.
Simon (Nhà trị liệu gia đình hệ thống): Chẳng có gì khác biệt cả, sau khi chui vào bụng thì người và gà đều là một hệ thống.
Ngô Hòa Minh: Khổng Tử sau khi nghe nhạc Thiều thì bảo ba tháng không biết mùi thịt, chứ ngài không dám bảo ba tháng không biết mùi canh gà; đủ thấy hương vị canh gà ta còn tuyệt vời hơn cả nhạc Thiều; canh gà tây thì kém xa lắm.
Trần Lập Vinh: Người hỏi câu này vẫn chưa đạt tới giác ngộ chúng sinh bình đẳng, còn quá đỗi chấp niệm.
Thịnh Hiểu Xuân: Câu hỏi này bị tình nghi có ý muốn ly gián mối quan hệ giữa gà tây và gà ta, cũng như giữa tiến sĩ tây và tiến sĩ ta. Lấy hòa làm quý, tốt nhất là không nên trả lời.
Đồng Tuấn: Gà tây tha luyến (hướng ngoại), gà ta tự luyến (ái kỷ).
Trương Xuân Yến: Tây hay ta không quan trọng, quan trọng là nó có phải là một con gà theo chủ nghĩa lấy gà làm gốc hay không.
Chương Hoa: Bất kể gà tây hay gà ta, con gà biết yêu ổ của mình đều là gà tốt.
Lý Đào: Gà tây thích ăn đồ ăn dân dã, gà ta thích ăn đồ ăn ngoại nhập, và mỗi con đều lấy sở thích ấy làm niềm tự hào.
Từ Kim Chi: Tôi phải kiểm tra phản xạ Babinski của từng con trước đã, rồi mới phát biểu ý kiến.
Chu Thiếu Thuần: Gà tây hay gà ta đều phải thực hiện "Tam giảng" — giảng văn hóa, giảng phẩm vị, giảng tiếng Anh.
Tăng Kỳ Phong: Gà tây gà ta phong vị khác nhau một trời một vực, nếu có thể đem cả tây lẫn ta cùng hầm chung một nồi, tay lại nâng thêm một ly rượu ngoại cùng một chén rượu quê, thì đời người còn mong cầu gì hơn nữa!
Tôi và bệnh nhân Hạ Mao của tôi
Mười bốn năm trước, dưới sự hỗ trợ của ngành dân chính, tôi cùng vài người bạn Trung Quốc và Đức đã sáng lập nên một bệnh viện phục hồi chức năng tâm thần mang tính phúc lợi, chủ yếu tiếp nhận điều trị miễn phí cho các bệnh nhân tâm thần diện "tam vô" trong phạm vi khu vực quản lý: "vô gia khả quy" (không nhà để về), "vô y vô kháo" (không nơi nương tựa), và "vô cố định kinh tế thu nhập" (không có thu nhập cố định).
Ngày đầu tiên tôi đi làm, Hạ Mao được các đồng chí ở văn phòng khu phố đưa tới nhập viện. Anh bằng tuổi tôi, đều tuổi Tỵ, vóc người tầm thước, tướng mạo rất khôi ngô tuấn tú. Trò chuyện với anh tôi mới biết, anh mồ côi cả cha lẫn mẹ từ thuở ấu thơ, được họ hàng bạn bè và bà con lối xóm cưu mang nuôi lớn, chưa từng biết mùi vị của tình cha tình mẹ là gì. Tốt nghiệp cấp hai anh đã đi làm.
Cách đây hai năm anh bắt đầu xuất hiện những biểu hiện bất thường về tâm thần: bỏ làm, đi khắp nơi gây chuyện, không đánh người ta thâm tím mình mẩy thì cũng bị người ta đánh cho vỡ đầu chảy máu. Lãnh đạo nhà máy không biết anh phát bệnh, chẳng những không bảo anh đi khám bác sĩ mà còn thường xuyên phê bình anh vi phạm nội quy; anh tức khí viết đơn xin nghỉ việc, chẳng ngờ lại được phê chuẩn luôn. Thế là anh trở thành đối tượng "tam vô" điển hình. "Tam vô" vốn đã là bi thảm cùng cực, lại gánh thêm một căn bệnh tâm thần, sự bất công của tạo hóa sao mà cay nghiệt đến nhường này.
Sau khi tốt nghiệp trường y, tôi trở thành bác sĩ tâm thần. Kiến thức chuyên môn mách bảo tôi rằng những ưu điểm và khuyết điểm trong tính cách của một người có mối quan hệ rất lớn với trải nghiệm trưởng thành của họ. Tôi tự nhận thấy tính cách của mình có rất nhiều khuyết điểm, và những khuyết điểm đó có liên quan đến việc cha mẹ quá nuông chiều tôi khi tôi còn nhỏ. Mỗi khi những khuyết điểm ấy đem lại rắc rối trong đời sống thực tế, trong lòng tôi lại bất giác trách móc họ, thầm nghĩ giá như ngày ấy họ đối xử với tôi tệ đi một chút thì tốt biết bao.
Bệnh viện phục hồi chức năng triển khai các dự án lao động trị liệu, cốt để bệnh nhân mỗi ngày đều có việc để làm; sản phẩm làm ra đem bán cũng giúp bệnh nhân có thêm một chút thu nhập. Sau khi nhập viện, các triệu chứng tâm thần chính của Hạ Mao nhanh chóng được kiểm soát, nên anh cũng tham gia lao động trị liệu. Anh làm việc rất chăm chỉ, mỗi tháng được hơn một trăm tệ tiền lương, đủ để mua thuốc lá và đồ ăn vặt. Tiền dùng không hết thì nhờ y tá gửi tiết kiệm giúp.
Về sau xưởng đóng cửa vì nhiều lý do, Hạ Mao mất đi khoản thu nhập này, bệnh viện bèn trợ cấp cho anh một ít tiền tiêu vặt hàng tháng. Mỗi ngày ngoài việc tham gia các hoạt động do bệnh viện tổ chức, phần lớn thời gian anh chẳng có việc gì làm, chỉ xem ti-vi, đánh bóng bàn hoặc tán gẫu với các bệnh nhân khác, cuộc sống trôi qua êm đềm và thanh thản.
Mức lương của tôi khi ấy ở mức trung bình trong giới làm công ăn lương, nhưng chi tiêu lại quá lớn: ăn uống, xã giao, mua sách, mua sắm, du lịch... tháng nào cũng thu không đủ bù chi. Bây giờ, ngoài tiền lương ra, tôi buộc phải tranh thủ thời gian rảnh làm thêm việc ngoài để kiếm thêm thu nhập thì mới đủ trang trải chi phí cho cả gia đình. Đặc biệt là sau khi con gái chào đời, tôi tự thấy trách nhiệm nặng nề, nếu không tạo dựng được cho con điều kiện vật chất tươm tất một chút thì quả thực hổ thẹn với cương vị làm cha.
Tính sơ sơ, thời gian làm việc bình quân mỗi ngày của tôi là trên mười hai tiếng đồng hồ. Mười mấy năm qua, tôi gần như không xem ti-vi. Lúc nào cũng ngập đầu trong những việc công việc tư làm mãi không hết, luôn cảm thấy cuộc sống quá đỗi xốc nổi, hoang mang, vậy mà chưa từng đánh thắng được một trận chiến nào về mặt kinh tế. Đi làm bao nhiêu năm trời, tiền tiết kiệm trong tài khoản lại là con số âm.
Bạn bè thời đại học của tôi có rất nhiều người nhảy ra ngoài kinh doanh, thi thoảng tụ tập nhắc đến thu nhập, phần lớn bọn họ kiếm một tháng còn nhiều hơn tôi cày cuốc cả năm. Tôi vốn không phải người thích so đo với kẻ khác, nhưng trong lòng vẫn không tránh khỏi đôi chút mất thăng bằng; những lúc như vậy, ngón nghề điều tiết tâm lý mà tôi thường dạy cho người khác lại phải đem ra áp dụng lên chính bản thân mình.
Hạ Mao ba trăm sáu mươi lăm ngày một năm, một ngày ba bữa, bữa nào cũng ăn cơm ở nhà ăn bệnh viện. Cơm nước nhà ăn cũng tạm được, nhưng ngon thì chẳng ngon đi đâu được, dẫu thế nào cũng không thể sánh bằng bữa cơm gia đình hay mấy món xào ngoài quán xá. Đương nhiên so với cảnh bữa đói bữa no trước khi vào viện thì tốt hơn nhiều lắm. Cho nên sau khi nhập viện anh béo lên rất nhanh, ban đầu nhẹ cân hơn tôi, về sau lại nặng cân hơn tôi.
Một năm thể nào cũng có đôi ba lần Hạ Mao bảo mình thấy khó chịu trong người: đau bụng, chóng mặt, chán ăn... các cô y tá đã nắm được quy luật, những lúc như vậy chỉ cần làm cho anh chút đồ ăn ngon, như rán hai quả trứng gà hay xào một đĩa thịt nạc ớt chuông, anh ăn xong là mọi triệu chứng đều biến mất sạch trơn. Tôi bảo với các y tá: thứ anh ấy cần không chỉ đơn thuần là thức ăn, mà quan trọng hơn là sự quan tâm, chăm sóc đặc biệt mà thức ăn ấy đại diện. Tôi cũng dặn y tá: chỉ cần Hạ Mao mở lời muốn thứ gì, hãy cố gắng đáp ứng cho anh ấy. Hạ Mao là người rất biết chừng mực, anh không bao giờ vòi vĩnh liên miên, càng không bao giờ đưa ra những yêu cầu vô lý.
Tôi chỉ ăn cơm ở nhà ăn khi phải trực ca, phần lớn thời gian đều ăn ở nhà. Đôi khi đi chợ mua thức ăn thực sự là một cực hình, cảm giác như món gì ăn cũng phát ngấy. Do những cuộc tiếp đãi xã giao cả công lẫn tư, tôi đi ăn nhà hàng cũng rất nhiều, có một dạo nhiều đến mức hễ vừa ngồi vào bàn tiệc là đã thấy buồn nôn. Trông thì có vẻ "người trong giang hồ thân bất do kỷ", nhưng thực chất trong tất cả những cuộc thết đãi ấy, chỉ có một phần nhỏ là thực sự cần thiết, phần lớn là có cũng được mà không có cũng chẳng sao, hoặc căn bản là tự mình chuốc lấy. Chức năng đường tiêu hóa của tôi xưa nay vốn không tốt, không phải do bệnh tật gì, mà là vì ăn uống quá bổ béo, quá nhiều, quá hỗn tạp, khiến dạ dày và ruột phải gánh tải quá nặng.
Tôi từng sống ở Đức hai năm, việc phải ăn bánh mì bơ, bít tết heo, thịt thỏ bên đó đối với tôi là một nỗi thống khổ cùng cực; cho nên trong khoảng thời gian ấy, tôi thường xuyên nhớ tới món thịt kho khoai tây, rau cải xào tỏi do đầu bếp bệnh viện phục hồi chức năng nấu, bất giác lại thèm muốn và ghen tị với Hạ Mao.
Không gian sống của Hạ Mao hầu như gói gọn trong khoảnh sân nhỏ bé của bệnh viện. Một năm đôi ba lần, bệnh viện tổ chức hoạt động dã ngoại bên ngoài, nhưng cự ly xa nhất cũng không quá hai mươi cây số. Trong sân viện đương nhiên cũng có xuân hạ thu đông, hoa nở rồi hoa tàn; thế nhưng tôi luôn lấy làm kinh ngạc: cái sân ấy thực sự là quá nhỏ bé, làm sao có thể dung chứa nổi một trái tim trẻ trung đến nhường kia?
Tôi từ thời đại học đã có sở thích du lịch. Sau khi đi làm, vì công tác, học tập và việc riêng, tôi đã đi qua hơn hai mươi tỉnh thành trong nước, đặt chân tới hơn mười quốc gia, tổng hành trình cộng lại có thể quấn quanh Trái Đất mười mấy vòng. Trong suốt mười bốn năm, ước chừng tôi đã nằm qua hơn một trăm chiếc giường khác nhau. Những năm ngoài đôi mươi, việc đi xa là một điều khiến người ta vô cùng phấn khích, cách một dạo không bước chân ra khỏi cửa là thấy bứt rứt cuồng chân.
Giờ đây đã bước vào tuổi trung niên, trên có mẹ già, dưới có con thơ, mỗi lần bước chân ra đi là một lần canh cánh không yên lòng. Sự thay đổi rõ rệt hơn là cảm giác tang thương dâu bể cứ ngày một dày thêm trong lòng, biến những chuyến đi xa thành một nỗi nhọc nhằn khổ ải. Xưa kia tôi chẳng bao giờ tin vào lời răn cổ nhân: "Ở nhà ngàn ngày tốt, ra cửa nửa bước khó"; giờ đây mới thực sự thấm thía rằng: người không phải bước chân ra khỏi cửa mới là người có phúc. Hạ Mao đương nhiên chính là một con người có phúc như vậy.
Ngoại trừ những đợt rối loạn tâm thần cách quãng, Hạ Mao là một chàng trai khỏe mạnh, đương nhiên cũng có những nhu cầu sinh lý căn bản của một người đàn ông. Thế nhưng đối với anh, tìm một người phụ nữ để kết hôn lại là chuyện quá xa vời so với thực tế. Tôi thậm chí không dám hỏi về dự định hôn nhân của anh, sợ làm anh kích động, tổn thương.
Tôi từng nghĩ: ở bệnh viện phục hồi chức năng cũng có những bệnh nhân nữ trạc tuổi anh, có thể cũng phải nằm viện suốt đời, liệu có thể dưới sự vun vén của bệnh viện, trên tinh thần đôi bên tự nguyện và không vi phạm pháp luật mà tác hợp cho họ nên duyên bầu bạn hay không? Nhưng chuyện này liên quan đến quá nhiều vấn đề y học, luân lý, đạo đức, pháp luật và kinh tế phức tạp đan xen; tôi mới chỉ nghĩ thoáng qua thôi mà đầu óc đã cảm thấy muôn vàn mối tơ vò, hoa mắt chóng mặt, nói chi đến việc bắt tay vào thực hiện.
Thế nhưng Hạ Mao lại có cách của riêng mình, anh thường dùng những phương thức ôn hòa mang tính tượng trưng để thỏa mãn nhu cầu của bản thân: chẳng hạn như chuyện trò cười đùa với các nữ bệnh nhân, thậm chí trêu đùa động chân động tay với vài cô bạo dạn. Những chuyện này dẫu có tận mắt chứng kiến, tôi cũng nhắm một mắt mở một mắt cho qua; chỉ cần anh không vượt qua "lằn ranh đỏ", không tạo thành hành vi "quấy rối" người khác thì cũng chẳng sao.
Cho đến một ngày, một nữ sinh cấp ba đang nằm viện cùng mẹ em đến phản ánh với tôi rằng Hạ Mao chuyên nói những lời lưu manh bậy bạ với em, lúc đó tôi mới bắt đầu ngăn chặn những hành vi tương tự của anh. Tôi gọi anh vào phòng làm việc, mắng cho một trận tơi bời, bắt anh cam đoan từ nay về sau tuyệt đối không được tái phạm. Từ đó về sau, anh quả thực không tái phạm nữa. Dẫu biết mình buộc phải làm như vậy, nhưng nơi sâu thẳm trong lòng tôi vẫn có chút bất an, cứ cảm thấy dường như tôi — hoặc thế giới này — đang nợ Hạ Mao một điều gì đó; nhưng nợ điều gì cụ thể thì tôi lại chẳng thể nói ra cho rạch ròi.
Sau khi đi làm tôi có bạn gái, rồi sau đó kết hôn. Tôi rất yêu vợ mình. Nhưng là một bác sĩ, đặc biệt là một bác sĩ tâm thần (nhà trị liệu tâm lý), từ trên chính bản thân mình, từ bạn bè tôi, và từ hàng nghìn bệnh nhân của tôi, tôi luôn có thể cảm nhận sâu sắc sự xung đột bền bỉ và mãnh liệt giữa phần hồn và phần xác. Hơn nữa trong những năm tháng xa nhà, tôi đã nếm trải mùi vị cô đơn khó ngủ của người đàn ông là như thế nào.
Sống ở đời, sự việc không như ý đã đành một nhẽ, điều khó chịu nhất lại chính là những cuộc nội chiến diễn ra nơi đáy sâu tâm hồn mình: khiến người ta tiến thoái lưỡng nan, làm người tốt không xong, làm kẻ xấu cũng chẳng đặng. Nhân loại xưa nay vẫn luôn tự huyễn hoặc rằng mình cao quý hơn muôn loài động vật khác, điều đó có lẽ đúng; nhưng có ai dám vỗ ngực bảo rằng loài người hạnh phúc hơn các loài động vật khác hay chăng?
Lần gần nhất tôi gặp Hạ Mao là cách đây một tuần, vào sáng Chủ nhật. Khó khăn lắm tôi mới có được một buổi sáng ngủ nướng ở nhà, vậy mà bị tiếng chuông điện thoại đánh thức. Bác sĩ trực ở bệnh viện phục hồi chức năng gọi tới, báo rằng một cụ bà nằm viện bỗng nhiên ngất xỉu, bất tỉnh nhân sự, bảo tôi phải đến gấp. Tôi vội vàng mặc quần áo, mặt chưa rửa, răng chưa chải, lao xuống cầu thang, vẫy một chiếc taxi chạy thẳng tới bệnh viện.
Bước vào cổng lớn, tôi thấy Hạ Mao đang thong thả đứng ở cửa, mỉm cười nhìn tôi, còn buông một câu bảo tôi trông giống một nhà ngoại giao nổi tiếng nào đó. Bình thường tôi sẽ bông đùa với anh vài câu, nhưng hôm đó thực sự chẳng còn tâm trạng. Thậm chí trong lòng còn dấy lên chút bực dọc, nghĩ bụng: mình bận đến nông nỗi này rồi mà anh còn đứng đó dùng mấy lời nhảm nhí làm phiền mình. Tôi thừa biết anh vô tội, vấn đề nằm ở chính bản thân tôi, nhưng vẫn không ngăn nổi cảm giác phản cảm đối với anh vào khoảnh khắc ấy.
Xử lý xong xuôi chuyện của cụ bà, tâm trạng tôi lắng dịu lại đôi chút, tôi đi tìm Hạ Mao, đưa cho anh một điếu thuốc. Hai chúng tôi nhìn nhau cùng nhả khói, chẳng ai nói với ai nửa lời. Nhưng tôi biết, những điều đang cuộn trào trong lòng tôi phức tạp hơn anh gấp cả nghìn lần.
Những điều trên là quá khứ của Hạ Mao và tôi. Vậy tương lai của mỗi chúng tôi sẽ ra sao?
Hạ Mao ước chừng vẫn sẽ tiếp tục sống trong bệnh viện phục hồi chức năng, hệt như mười bốn năm qua: tận hưởng sự an tịnh và nhàn nhã trên một phông nền của nỗi bi ai lớn lao. Còn tôi ư? Cùng với sự thành công ngày một lớn trong lĩnh vực chuyên môn của mình, những chuỗi ngày tất bật bận rộn sẽ càng thêm phần hỗn loạn, quay cuồng. Muốn có được những tháng ngày tĩnh lặng, đối với tôi có lẽ cũng gian nan hệt như chuyện Hạ Mao muốn lấy vợ vậy. Trách nhiệm đối với gia đình, bạn bè, bệnh nhân và sự nghiệp sẽ khiến tôi phải gánh chịu áp lực và trải qua muôn vàn vất vả trên một phông nền của niềm hạnh phúc lớn lao.
Tôi biết rất rõ ràng rằng con đường đời của chúng tôi vô cùng khác biệt, nhưng điểm kết thúc thì lại y hệt như nhau: đều sẽ vào một ngày nào đó triệt để nói lời từ biệt với cõi đời này, chẳng thể mang theo nổi một sợi tơ hay một muỗng gạo. Điều tôi không rõ — và có lẽ vĩnh viễn cũng chẳng thể nghĩ cho thông suốt được — là: giữa anh ấy và tôi, rốt cuộc ai là người hạnh phúc hơn ai?
Những sai lầm tôi từng phạm phải
Cảm giác ưu việt của tôi được sinh ra sau khi tôi đem bản thân ra so sánh với những kẻ yếu thế hơn; tương ứng với điều đó, tôi từng dùng những phương thức mà bản thân có thể phát giác lẫn không thể phát giác để đi lấy lòng những kẻ mạnh. So sánh ra thì việc lấy lòng trong vô thức không thể nhận biết lại là một sai lầm to lớn hơn cả.
Mặc cảm tự ty của tôi bắt nguồn từ những đòi hỏi khắt khe của tôi đối với người khác, những đòi hỏi ấy về sau lại dội ngược trở lại lên chính bản thân tôi; kết quả là cả người khác lẫn bản thân đều không thể khiến tôi hài lòng.
Ý chí của tôi thường xuyên chịu sự chi phối của một nguồn sức mạnh đơn lẻ nào đó từ nhu cầu nội tại, hơn nữa lại thường xuyên biến ảo khôn lường; điều này khiến tôi ngay cả khi không làm bất kỳ việc gì thì tâm thần vẫn khó bề an định, nguồn sức mạnh vừa mới trồi đầu lên sẽ liên tục phải hứng chịu sự phê phán và vây ráp của những nguồn sức mạnh khác.
Khi đối mặt với hiểm nguy trong các mối quan hệ giữa người với người, tôi thường áp dụng các thủ đoạn mang tính lừa mị: lừa dối người khác, mà chủ yếu là lừa dối chính mình. Tôi sẽ tỏ ra vô cùng ung dung vào những thời khắc căng thẳng nhất, lúc muốn nhận được thì lại cố tình cho đi, lúc muốn gần gũi thân mật với người khác thì lại biểu hiện ra vẻ dị biệt và cô ngạo. Kết quả là trong rất nhiều thời điểm, tôi căn bản không hiểu nổi nhu cầu thực sự của chính mình, và cũng khiến người khác không tài nào đối diện được với một con người ổn định, thống nhất nơi tôi.
Tôi không thể tiếp nhận một phần nào đó của bản thân, cho nên những người toàn tâm toàn ý yêu thương tôi lại biến thành đối tượng bị tôi chán ghét và hận thù; trong khi đối với những kẻ xa lánh tôi, chỉ dăm ba câu chữ vụn vặt, một chút quan tâm hay chú ý như có như không của họ cũng đủ khiến tôi cảm kích đến rơi nước mắt.
Tôi xem những đồ vật thuộc về mình và những người ở rất gần mình như một phần của bản thân, lại xem những đồ vật mình thèm muốn và những người mình muốn tiếp cận như một phần tốt đẹp hơn của chính mình. Tôi thường xuyên vì vế sau mà làm tổn thương hoặc hy sinh vế trước.
Tôi giống như loài động vật thèm khát mùi tanh của máu, nghiện việc tìm kiếm niềm vui từ ác ý và ác hạnh của người khác nhắm vào mình; tôi mỹ hóa hành vi đó bằng cái tên hoa mỹ là "tu dưỡng" hoặc "tinh thần hy sinh". Cùng lúc đó, sở dĩ tôi yêu thương người khác là vì tôi yêu thương chính bản thân mình; yêu người khác chẳng qua chỉ là sự mở rộng của việc tôi tự yêu lấy bản thân mà thôi.
Những lúc hèn nhát hoặc đê tiện, tôi sẽ tìm kiếm vài cái cớ có thể che đậy sự hèn nhát hoặc làm loãng đi sự đê tiện ấy; những cái cớ này có thể đến từ sự truyền dạy của những kẻ hèn nhát hoặc đê tiện khác, mà cũng có thể là do chính tôi tự sáng tạo ra.
Tôi rốt cuộc là ai?
— Tôi có thể là tôi, hoặc là bạn, hoặc là anh ấy.
— Tên của tôi, đôi khi gọi là đàn ông, đôi khi lại gọi là đàn bà.
Hy vọng chính là sức mạnh
Năm 1997, tôi sang Malaysia tham dự một hội nghị tâm lý học quốc tế. Tại hội nghị, tôi quen một người Nga, ông ấy giới thiệu với tôi về lý thuyết trị liệu tâm lý tích cực do chính ông sáng lập.
Ông kể cho tôi nghe một thực nghiệm mà ông từng làm: Thả hai con chuột bạch lớn vào một chiếc bình chứa đầy nước, chúng liều mạng giãy giụa cầu sinh, thời gian duy trì được là khoảng 8 phút. Sau đó, trong một chiếc bình tương tự, thả vào hai con chuột bạch lớn khác; khi chúng giãy giụa được chừng 5 phút, ông đặt vào một tấm ván cầu để chúng có thể trèo ra ngoài bình, hai con chuột này nhờ đó mà sống sót. Cách đó ít ngày, ông lại đem cặp chuột bạch đại nạn không chết này thả vào chiếc bình nói trên, kết quả thực sự khiến người ta kinh ngạc: hai con chuột ấy竟然 có thể kiên trì tới 24 phút, gấp ba lần khoảng thời gian cầm cự trong điều kiện thông thường.
Nhà tâm lý học người Nga này đúc kết rằng: Hai con chuột trước không hề có kinh nghiệm thoát hiểm, chúng chỉ có thể dựa vào thể lực vốn có của mình để giãy giụa cầu sinh; trong khi những con chuột từng có kinh nghiệm thoát hiểm lại có thêm một sức mạnh tinh thần, chúng tin rằng vào một thời khắc nào đó, sẽ có một tấm ván cầu xuất hiện cứu chúng thoát ra ngoài, điều này giúp chúng có thể kiên trì trong một khoảng thời gian dài hơn nhiều. Nguồn sức mạnh tinh thần ấy chính là tâm thái tích cực, hay nói cách khác là niềm hy vọng nơi nội tâm vào một kết quả tốt đẹp.
Thực nghiệm này dẫu có phần tàn nhẫn, nhưng lại mang đến cho con người một bài học sâu sắc. Về sau tôi mới biết, lý thuyết của nhà tâm lý học này ở Nga rất được hoan nghênh. Điều này đương nhiên là có thể hiểu được. Nước Nga trong khoảng mười năm trở lại đây đang ở vào một giai đoạn vô cùng tồi tệ trong lịch sử của họ; lý thuyết của ông vừa khéo có thể dùng để cổ vũ sĩ khí, giúp người ta vượt qua giai đoạn gian nan.
Trên thực tế, chúng ta chẳng cần làm những thực nghiệm như thế cũng có thể biết được rằng: trong lúc gian nan khốn khó, trong lòng có hy vọng hay không có hy vọng sẽ tạo ra những ảnh hưởng hoàn toàn khác biệt lên hành vi của chúng ta, và kết quả dĩ nhiên cũng sẽ hoàn toàn khác biệt.
Câu chuyện về thực nghiệm đó vẫn chưa hết. Lúc ấy trong lòng tôi vẫn nghĩ tới hai con chuột bạch kia, cứ thấy cắn rứt không yên, bèn thoáng chút phản cảm nói với nhà tâm lý học nọ: "Có hy vọng thì đã sao, hai con chuột ấy cuối cùng chẳng phải cũng chết rồi đó ư?" Ông trả lời một câu ngoài dự liệu của tôi: "Chưa chết, đến phút thứ 24, tôi thấy chúng thực sự kiệt sức không chịu nổi nữa nên đã vớt chúng lên." Tôi hỏi vì sao ông làm vậy? Ông đáp: "Những con chuột có tâm thái tích cực có giá trị hơn, xứng đáng được sống tiếp hơn; loài người chúng ta nên tôn trọng mọi niềm hy vọng, dẫu đó chỉ là niềm hy vọng nơi nội tâm của một con chuột bạch."
Hy vọng của chuột bạch là do con người ban cho chúng; còn loài người chúng ta, ở bất kỳ thời điểm nào, bất kỳ nơi đâu, trong bất kỳ nghịch cảnh hiểm nghèo nào, đều có thể tự trao hy vọng cho chính mình. Hơn nữa, chúng ta không thể biết được thứ mà hy vọng khơi dậy liệu có đơn thuần chỉ là tinh lực và thể lực của bản thân ta hay không. Biết đâu, trong cõi u minh thực sự có thiên ý đang dõi theo nhân gian; thiên ý sẽ ưu ái hơn những con người trong lòng luôn tràn ngập hy vọng, sẽ cảm thấy những người như thế không chỉ nên được sống tiếp, mà còn phải sống thật tốt.
Hy vọng chính là sức mạnh. Trong rất nhiều hoàn cảnh, sức mạnh của hy vọng có thể còn vĩ đại hơn sức mạnh của tri thức, bởi vì chỉ trên nền tảng của hy vọng, tri thức mới có thể được vận dụng một cách tốt nhất. Một người dẫu hai bàn tay trắng, chỉ cần có hy vọng, người đó vẫn có khả năng sở hữu tất cả; còn một người dẫu nắm trong tay mọi thứ, nhưng lại đánh mất hy vọng, thì rất có thể sẽ đánh mất toàn bộ những gì mình đang có.
Cho nên, khi ngày lễ tiếp theo gõ cửa, đến lúc cần gửi lời chúc phúc tới những người thân yêu nhất, liệu chúng ta có thể không nói câu "cung hỷ phát tài", mà chúc nhau rằng: "Chúc bạn mãi mãi luôn ấp ủ thật nhiều niềm hy vọng tươi đẹp"?
Tâm lý trắc lượng — Một tấm gương mờ ảo
Trên mạng internet, dùng công cụ tìm kiếm phổ biến nhất là Google để tra cụm từ "tâm lý trắc lượng" (trắc nghiệm tâm lý) sẽ cho ra khoảng 82.300 kết quả, mức độ phổ cập của nó từ đó có thể thấy được một phần. Trong số những người tìm đến bệnh viện chúng tôi làm tham vấn, một bộ phận rất lớn đã từng làm trắc lượng tâm lý thông qua các kênh khác nhau. Thế nhưng, mọi trắc lượng tâm lý đều chỉ mang tính tham khảo, không thể dùng làm căn cứ luận đoán; việc chẩn đoán bệnh tật bắt buộc phải do bác sĩ xác định. Tâm lý trắc lượng với tư cách là công cụ hỗ trợ phán đoán trạng thái tâm lý của một người, kết quả kiểm tra của nó không thể không tin, nhưng cũng không thể tin tưởng hoàn toàn. Dưới đây thông qua một vài ví dụ, để xem chúng ta nên áp dụng thái độ đúng đắn như thế nào đối với tâm lý trắc lượng.
Ca thứ nhất: Cô Hạ, 24 tuổi, ba tháng gần đây cảm xúc sa sút, mất hứng thú với mọi thứ, né tránh giao tiếp với mọi người, thường xuyên mất ngủ. Trên một trang web trắc lượng tâm lý, cô đã làm Lượng biểu tự bình chứng trạng (SCL-90, một công cụ đo lường chuyên nghiệp được sử dụng phổ biến trên toàn thế giới). Kết quả ngoài điểm số ức uất (trầm cảm) cao hơn mức bình thường, thang đo còn hiển thị "có chứng trạng tinh thần phân liệt rõ rệt". Kết quả này khiến cô sợ chết khiếp, cảm xúc càng thêm sa sút, đồng thời xuất hiện thêm rất nhiều chứng trạng tiêu lự (lo âu), luôn nơm nớp lo sợ một ngày nào đó bản thân đột nhiên mất kiểm soát, "hóa điên", rồi làm ra những hành vi mất hết lý trí. Do dự mãi, cô Hạ quyết định đến bệnh viện tâm lý, trò chuyện với một bác sĩ nửa tiếng đồng hồ. Vị bác sĩ khẳng định chắc nịch: "Cô mắc ức uất chứng (trầm cảm), chuyện này hoàn toàn khác biệt một trời một vực với tinh thần phân liệt, cũng không thể nào đột nhiên biến thành phân liệt chứng được." Đến lúc này, cô mới trút bỏ được gánh nặng trong lòng. Sau đó, cô Hạ tiếp nhận điều trị bằng thuốc trong ba tuần, các triệu chứng biến mất; tiếp tục duy trì điều trị sáu tháng thì dừng thuốc.
Bình luận: Nguyên nhân dẫn đến sai số trong trắc lượng là do người làm trắc nghiệm hiểu sai câu hỏi. Chẳng hạn, trong SCL-90 có một câu hỏi thế này: "Những chuyện bạn nghĩ trong lòng dù không nói ra, bạn vẫn cảm thấy người khác đều biết." Nếu bạn trả lời "Có", máy tính sẽ mặc định bạn có "chứng trạng tinh thần phân liệt rõ rệt", thuật ngữ chuyên môn gọi là "bị động tích cảm" (cảm giác bị nhìn thấu tâm can / bị thấu thị). Cô Hạ tự nhận mình là người không giỏi che giấu, cảm xúc và suy nghĩ của cô người khác đều có thể thông qua các biểu hiện bên ngoài mà suy đoán ra được, nên cô đã chọn "Có". Rất rõ ràng, đây không phải là "bị động tích cảm" thực sự. Bị động tích cảm là việc một người cảm thấy người khác có thể nhìn thấy trực tiếp tâm tư của mình mà không cần thông qua suy luận logic, bản thân hễ nghĩ điều gì thì bất kể là người quen hay kẻ lạ đều lập tức hay biết. Đối với kết quả của bất kỳ phép trắc lượng tâm lý nào, dù là đương sự hay người làm công tác tâm lý, thái độ căn bản cần có là: Tâm lý trắc lượng mãi mãi chỉ có thể là công cụ phụ trợ cho chẩn đoán, chỉ có giá trị tham khảo, không thể dùng làm căn cứ xác chẩn. Chẩn đoán tâm lý chuẩn xác cuối cùng chỉ có thể được đưa ra sau cuộc trò chuyện trực tiếp giữa nhà trị liệu tâm lý và bệnh nhân; nếu phán đoán của nhà trị liệu không đồng nhất với kết quả trắc lượng tâm lý, thì phải lấy phán đoán của nhà trị liệu làm chuẩn.
Ca thứ hai: Anh Trương, 27 tuổi. Cũng ở trên mạng, anh Trương làm một bài trắc nghiệm về khuynh hướng thành công, kết quả hiển thị khả năng thành công của anh rất thấp; điều này đã giáng một đòn nặng nề vào sự tự tin của anh. Từ đó anh trở nên nguội lạnh tâm can, làm việc thiếu hẳn nhuệ khí, đối với tiền đồ chỉ toàn một màu bi quan thất vọng.
Bình luận: Cho đến nay, chưa có bất kỳ công cụ trắc lượng tâm lý nào có thể dự đoán một cách chuẩn xác khả năng thành công của một con người. Thành công là kết quả tác động tổng hòa của nhiều tố chất cá nhân mà chúng ta vốn chưa thể thấu hiểu một cách toàn diện; hơn nữa, những nhân tố cơ hội mang tính xã hội (tức cái gọi là vận may) cũng thường tạo ra ảnh hưởng mang tính quyết định đến việc thành bại. Quá đỗi tin tưởng vào "tính dự đoán" của những bài trắc nghiệm tâm lý kiểu này, xét ở một mức độ lớn, chẳng khác nào việc tin vào chuyện bói toán.
Ca thứ ba: Tiểu Ba, 12 tuổi, học sinh lớp 6. Giáo viên nói với mẹ Tiểu Ba rằng thành tích của cậu bé mãi không tiến bộ, rất nhiều bài giảng đi giảng lại bao nhiêu lần cậu vẫn không biết làm, nên phỏng đoán trí lực của cậu có thể có vấn đề, mong phụ huynh đưa con đến bệnh viện kiểm tra. Người mẹ đưa Tiểu Ba tới bệnh viện, kết quả kiểm tra trí lực đạt 105 điểm, hơi cao hơn mức bình thường. Nhìn thấy kết quả này, giáo viên lấy làm lạ: Trí lực không có vấn đề gì, sao học hành lại đần độn thế nhỉ?
Bình luận: Cần phải làm rõ rằng: Trong số những học sinh gặp khó khăn trong học tập, trường hợp do vấn đề trí lực gây ra là rất hiếm thấy. Hơn nữa, nếu thực sự là do vấn đề trí lực dẫn tới trở ngại học tập, thì chẳng cần làm trắc nghiệm trí lực cũng có thể nhận biết được; một đứa trẻ trí lực kém sẽ bộc lộ năng lực thấp kém trên rất nhiều phương diện chứ không đơn thuần chỉ nằm ở khía cạnh học tập. Chúng tôi kiên quyết phản đối việc tùy tiện cho trẻ làm trắc nghiệm trí lực, đặc biệt là trong tình huống mục đích trắc nghiệm chỉ nhằm tìm kiếm một cái cớ thoái thác cho việc học kém; điều đó sẽ làm tổn thương ghê gớm đến lòng tự tôn và sự tự tin của đứa trẻ, dẫu kết quả kiểm tra có bình thường thì bản thân việc đưa đi kiểm tra cũng có thể gieo vào tâm trí đứa trẻ một sự ám thị tiêu cực cực kỳ nặng nề. Tuyệt đại đa số khó khăn trong học tập không phải do trí lực thấp kém gây ra, mà bắt nguồn từ các nhân tố phi trí lực. Chúng tôi đã gặp rất nhiều đứa trẻ mọi năng lực đều rất tốt, duy chỉ có thành tích ở trường là không tốt; nguyên nhân phần nhiều đến từ phương thức giáo dục sai lầm của cha mẹ và thầy cô, chẳng hạn như tạo áp lực quá lớn, chỉ trích nhiều, khích lệ ít... Còn đối với giáo viên, việc yêu cầu học sinh làm trắc nghiệm trí lực, động cơ tiềm ẩn rất có thể là sự thiếu kiên nhẫn và muốn trút bỏ trách nhiệm của chính mình.
Ca thứ tư: Trên trang chủ của một cổng thông tin mạng nổi tiếng nọ, có một bài trắc nghiệm tâm lý mang tên: "Bạn có bị thần kinh không?" Rất nhiều người đã làm bài trắc nghiệm này, trong đó có một số người bị "chẩn đoán" là "có bệnh thần kinh", khiến họ sợ đến mất vía.
Bình luận: Thứ nhất, "thần kinh bệnh" (bệnh thần kinh) và "tinh thần bệnh" (bệnh tâm thần) có sự khác biệt về mặt bản chất. Thần kinh bệnh dùng để chỉ các bệnh lý mang tính khí chất (thực thể) của hệ thần kinh, chẳng hạn như viêm dây thần kinh tủy sống, liệt do tổn thương thần kinh...; còn tinh thần bệnh là chỉ các chướng ngại chức năng của hệ thần kinh trung ương (đại não), như tinh thần phân liệt chứng, ức uất chứng... Thứ hai, đây hoàn toàn không phải là trắc nghiệm tâm lý chính quy, chuyên nghiệp; những bài trắc nghiệm này do một số kẻ ngoại đạo bịa đặt ra, không hề có bất kỳ tính khoa học nào. Một bài trắc nghiệm tâm lý chính quy phải do các chuyên gia biên soạn, trước khi đưa vào ứng dụng thực tế phải trải qua rất nhiều khâu kiểm định và đánh giá khoa học nghiêm ngặt.
Ca thứ năm: Chị Tiền, kết hôn tám năm, có một cậu con trai sáu tuổi. Tình cảm vợ chồng xưa nay vốn rất tốt đẹp. Công việc của chị Tiền tương đối nhàn hạ, lúc rảnh rỗi thường lướt mạng. Chồng chị công việc bận rộn, thường xuyên về nhà rất muộn. Một lần, chị Tiền thấy trên mạng có bài trắc nghiệm tâm lý về mối quan hệ vợ chồng, bèn tò mò làm thử. Làm xong các câu hỏi, chị giật mình hoảng hốt: kết quả hiển thị mối quan hệ vợ chồng của chị có vấn đề, chồng chị rất có thể đang có người phụ nữ khác bên ngoài. Bị kết quả này tác động, tâm trạng chị trở nên vô cùng tồi tệ, bắt đầu bới lông tìm vết bắt bẻ chồng, soi mói từng hành vi, sự thay đổi trang phục của chồng, lén lút kiểm tra điện thoại xem chồng gọi cho những ai... Kết quả là, mối quan hệ vợ chồng dần dà biến thành tồi tệ thật. Người chồng bị nghi ngờ một cách oan ức, ngày càng thêm bực bội chán chường, cuối cùng dẫn tới mức đòi ly hôn.
Bình luận: Kết quả của tâm lý trắc lượng mang tính ám thị; đối với một người có tính thụ ám thị mạnh, kết quả trắc nghiệm sẽ tạo ra ảnh hưởng sâu sắc lên cảm xúc, hành vi và nhận định của họ, từ đó khiến kết quả trắc nghiệm thoạt nhìn có vẻ "vô cùng chuẩn xác". Thế nhưng thứ "chuẩn xác" do ám thị tạo ra ấy lại vô cùng tai hại đối với con người.
Tổng kết: Nếu ví tâm lý trắc lượng như một tấm gương phản chiếu trạng thái tâm lý của chúng ta, thì nó cũng chỉ có thể tính là một tấm gương mờ ảo, phản chiếu ra một trạng thái tâm lý không rõ nét, thiếu chuẩn xác. Trong bất kỳ tình huống nào, nó cũng không thể thay thế được vai trò của một nhà tâm lý được đào tạo chuyên nghiệp và có chứng chỉ tư cách hành nghề chính thức. Muốn thấu hiểu tường tận tâm lý của mình, bạn cần phải trò chuyện sâu sắc với nhà tâm lý; trong sự giao lưu ấy, nhà tâm lý sẽ như một tấm gương sáng tỏ, soi chiếu chân thực trạng thái tâm lý và đặc trưng tính cách cho bạn thấy rõ.
Tâm lý áp lực mạn đàm
Áp lực trước hết là một khái niệm của vật lý học và là một cảm thụ của khu thể (thể xác). Sự sinh trưởng phát dục của thai nhi trong cơ thể mẹ vốn đã phải gánh chịu áp lực từ bốn phương tám hướng. Khi sinh thường phải đi qua đường sinh hẹp, lại càng là một tiến trình phải kinh qua áp lực khổng lồ. Các chuyên gia từng cho rằng đường sinh chật hẹp là một chướng ngại trong tiến hóa của nhân loại, bởi nếu đường sinh rộng rãi hơn một chút, dung lượng não bộ con người có thể sẽ lớn hơn, con người nhờ đó cũng sẽ thông minh hơn. Thế nhưng hiện nay các chuyên gia không còn nghĩ như vậy nữa. Quan điểm phổ biến được chấp nhận hiện nay là: tiến trình đứa trẻ sơ sinh bị chèn ép khi chào đời hệt như một lần mát-xa cả về tâm lý lẫn khu thể, giúp kích hoạt toàn bộ chức năng tâm lý và sinh lý, gia tăng sức chịu đựng đối với bệnh tật. Số liệu thống kê cũng chỉ ra rằng những đứa trẻ sinh thường nhìn chung khỏe mạnh hơn những đứa trẻ sinh mổ.
Áp lực mà khu thể cảm nhận được đều là hữu hình; chúng ta có thể biết rõ nguồn gốc, độ lớn và cách thức né tránh thứ áp lực ấy. Chẳng hạn trên một chuyến xe buýt đông đúc, chúng ta biết rõ áp lực là do những người xung quanh tạo nên, người càng đông thì lực chèn ép càng lớn; phương pháp né tránh cũng rất đơn giản: bước xuống xe là xong. Nhưng khi đối mặt với áp lực tâm lý thì lại chẳng hề đơn giản như vậy. Tâm lý áp lực thường mang lại cảm giác bao trùm ngợp trời, khiến con người ta không chốn dung thân.
Áp lực tâm lý có một phần bắt nguồn từ những sự kiện đời sống đã xảy ra hoặc sắp sửa diễn ra: như bài tập chưa hoàn thành, kỳ thi sắp tới gần, xung đột bắt buộc phải đối mặt... Nguồn gốc của những áp lực này chúng ta nắm rất rõ, nên việc xử lý cũng dễ dàng hơn nhiều. Độ lớn của những áp lực tâm lý này dẫu có một số tiêu chuẩn khách quan để đo lường, nhưng xét đến cùng, ảnh hưởng của chúng lên mỗi người lại mang sự khác biệt cá thể vô cùng rõ rệt. Cùng một sự việc, trong mắt người này thì chẳng đáng để nhắc tới, nhưng trong mắt người khác lại là chuyện tày đình. Là "cử trọng nhược khinh" (việc nặng coi như nhẹ) hay "cử khinh nhược trọng" (việc nhẹ coi như nặng) có mối quan hệ rất lớn với nhân cách của một con người. Những người đặt ra cho mình quá nhiều đòi hỏi khắt khe sẽ rất dễ phóng đại việc nhỏ, biến áp lực nhỏ thành áp lực lớn.
Thông thường mà nói, những sự kiện tạo nên áp lực tâm lý đa phần là sự kiện tiêu cực. Thế nhưng, sự kiện tích cực cũng hoàn toàn có thể biến thành áp lực khổng lồ. Lấy một ví dụ đơn giản: chuyện thăng quan tiến chức. Dẫu sau khi thăng chức trách nhiệm và khối lượng công việc đều có thể gia tăng, nhưng đối với một số người, sự gia tăng của áp lực tâm lý dường như không tương xứng với sự thay đổi của trách nhiệm và công việc; họ rất có thể sẽ nhanh chóng bị áp lực tâm lý đè nặng tới mức ăn không ngon, ngủ không yên.
Chuyện tốt sở dĩ tạo thành áp lực tâm lý là bởi sự bình hành nội tâm của chúng ta đã bị phá vỡ. Mỗi chúng ta đều tồn tại một "hiện thực tự ngã" và một "lý tưởng tự ngã". Giữa hai thực thể này luôn có khoảng cách nhất định, lý tưởng tự ngã thông thường sẽ tốt đẹp hơn hiện thực tự ngã. Khi cái gọi là "chuyện tốt" xảy đến với bản thân chỉ dừng ở mức tiệm cận với lý tưởng tự ngã, việc đón nhận nó sẽ chẳng có vấn đề gì. Nhưng nếu "chuyện tốt" ấy lại vượt quá xa so với lý tưởng tự ngã, rắc rối liền kéo theo sau. Rắc rối lớn nhất nằm ở chỗ bất tín: tức không tin rằng bản thân mình lại xứng đáng với điều tốt đẹp dường ấy.
Tương truyền Chu Nguyên Chương sau khi lên ngôi hoàng đế, ông không dám tin một gã hòa thượng đi ăn mày như mình lại có được vận may lớn đến thế; đến mức có lần trong ngự uyển đắc ý quên hình dong, nói với Mã hoàng hậu rằng không hiểu sao mình lại làm được hoàng đế, mang đầy phong vị tự thấy mình không xứng đáng. Về sau ông hối hận vì chuyện đó, muốn trừ khử những kẻ đứng bên cạnh đã nghe thấy những lời ông nói. Đây chính là một ví dụ điển hình cho việc biến áp lực nội tâm thành sự công kích nhắm vào người khác. Chu Nguyên Chương là một trong những hoàng đế tàn bạo nhất trong lịch sử Trung Quốc, nguyên nhân sâu xa chính là vì ông không tin vào bản thân mình, rồi đem sự bất tín ấy phóng chiếu lên người khác, cho rằng người khác cũng không tin phục mình; thế là việc tàn sát trở thành công cụ để đối kháng lại áp lực tâm lý đến từ sự bất tín trong tưởng tượng.
Cho dẫu không có sự kiện lớn nào xảy ra, các mối quan hệ nhân tế thông thường cũng tạo ra những áp lực tâm lý nhất định. Chỉ cần từ hai người trở lên ở cùng nhau, con người ở trong đó khó tránh khỏi sẽ có áp lực, chỉ là áp lực ấy biểu hiện rõ ràng hay ngấm ngầm mà thôi. Áp lực giữa người với người chủ yếu bắt nguồn từ các phương diện: cạnh tranh lẫn nhau, mong muốn bản thân thể hiện ưu việt hơn người khác; khống chế người khác mà không muốn bị người khác khống chế; cố gắng uốn nắn ngôn hành của mình cho phù hợp với tiêu chuẩn của người khác; muốn lấy lòng người khác để đạt được một mục đích nào đó... Tất cả những điều này ở mức độ nhẹ đều là bình thường; nhưng khi ở mức độ nặng nề đến mức khiến bản thân hoặc người khác cảm thấy khó chịu, thì cần phải cân nhắc tạo ra sự thay đổi.
Dù không có áp lực do sự kiện ngoại tại gây ra, áp lực do xung đột nội tâm tạo nên cũng khiến con người ta vô cùng khổ sở. Áp lực dạng này trước hết nằm ở tầng diện giá trị quan. Một người trong tiến trình trưởng thành sẽ tiếp xúc với nhiều giá trị quan khác nhau, có những giá trị quan đối lập chan chát với nhau; thế là tâm hồn chúng ta biến thành chiến trường cho cuộc đọ sức giữa các giá trị quan ấy. Chẳng hạn, bất kỳ ai cũng từng tiếp nhận sự giáo dục về vị kỷ và vị tha; dẫu vế trước phần nhiều được truyền thụ qua các kênh không chính thống, nhưng nó vẫn tạo ra ảnh hưởng trọng đại lên con người. Trong một hoàn cảnh nào đó bắt buộc phải đưa ra quyết định, áp lực liền phát sinh. Cho nên một người không có hệ giá trị quan ổn định sẽ phải đối mặt với áp lực tâm lý lớn hơn rất nhiều so với một người có hệ giá trị quan vững vàng.
Lại có một dạng áp lực tâm lý không do sự kiện ngoại tại tạo nên, mà bắt nguồn từ sự xung đột giữa nhu cầu sinh lý và chuẩn tắc xã hội, tức cái mà người ta thường gọi là cuộc xung đột giữa linh và nhục. Nhu cầu sinh lý có khuynh hướng "muốn làm gì thì làm", còn tác dụng của chuẩn tắc xã hội là đặt ra giới hạn cho khuynh hướng đó; xung đột từ đó mà sinh ra. Đây là áp lực tâm lý mà bất kỳ ai cũng đều có, điểm khác biệt chỉ là: một số người khéo léo chuyển hóa nhu cầu sinh lý thành những nhu cầu cao cấp hơn để thích ứng với đòi hỏi của chuẩn tắc xã hội, từ đó đạt tới trạng thái tương đối hài hòa; một số người lại luồn lách qua các kẽ hở của quy tắc xã hội để duy trì một sự bình hành không va chạm với hiện thực; còn một số người khác lại trực tiếp đối kháng với quy tắc xã hội, và thứ chờ đợi họ sẽ là sự trừng phạt mang tính cưỡng chế.
Đối mặt với áp lực, chúng ta có thể hữu thức và chủ động tìm kiếm các biện pháp để giải quyết: như tăng ca để hoàn thành công việc bắt buộc, hoặc cải thiện giao tiếp để hóa giải xung đột nhân tế. Thế nhưng, cách xử lý của chúng ta đối với áp lực tâm lý không hoàn toàn nằm ở tầng diện ý thức. Khi áp lực lớn đến mức trí lực của chúng ta không thể nghĩ ra phương thức ứng phó thỏa đáng, áp lực sẽ thẩm thấu xuống tầng diện tiềm ý thức. Cách thức xử lý áp lực ở tầng tiềm ý thức mang chút phong vị bi tráng. Có hai phương thức xử lý chủ yếu:
Một là dùng các chứng trạng tâm lý để biểu đạt áp lực. Những chứng trạng này bao gồm các danh từ chuyên môn quen thuộc như ức uất (trầm cảm), cường bách (ám ảnh cưỡng chế), khủng cụ (sợ hãi), tiêu lự (lo âu)... Ví dụ, một học sinh sắp bước vào kỳ thi quan trọng có thể xuất hiện chứng trạng tiêu lự nghiêm trọng; những triệu chứng này nhắc nhở rằng áp lực tâm lý đã quá lớn, đã chạm tới mức độ phát sinh vấn đề, lớn đến mức cần phải nghỉ ngơi, hay nói cách khác là lớn tới mức cần phải đi gặp bác sĩ tâm lý rồi.
Phương thức xử lý áp lực thứ hai ở tầng tiềm ý thức chính là "khu thể hóa" (somatization) — tức chuyển hóa vấn đề tâm lý thành vấn đề của thể xác. Nghiên cứu về sự chuyển biến này đã phát triển thành một môn học độc lập mang tên "tâm thân y học" (psychosomatic medicine). Có rất nhiều chứng bệnh gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới sức khỏe con người vốn bắt nguồn từ các nhân tố tâm lý, như cao huyết áp, viêm loét dạ dày, đau đầu mãn tính... Lấy bệnh loét dạ dày làm ví dụ: Rất nhiều bệnh nhân loét dạ dày là những người chịu áp lực công việc hoặc cuộc sống rất lớn, về mặt tinh thần họ thường tỏ ra vô cùng kiên cường; thế nhưng áp lực tâm lý khổng lồ lại tìm kiếm được cửa thoát nơi dạ dày vốn tương đối non yếu của họ, vết loét trên thành dạ dày chính là biểu tượng cho cửa thoát này.
Việc tôi điều trị cho một bệnh nhân đau đầu mang tính kịch tính rất cao: Tôi đến nhà một người bạn chơi, vừa khéo có người dì của bạn ở đó. Người dì này bị đau nửa đầu suốt ba năm, tìm tới rất nhiều bác sĩ, làm đủ loại xét nghiệm, uống thuốc đông y tây y tốn hơn hai vạn tệ mà chẳng tra ra bệnh gì, cũng không thấy thuyên giảm. Mục đích bà đến tìm bạn tôi là nhờ tìm giúp một bác sĩ nội khoa giỏi để khám lại. Tôi ngồi bên cạnh "nghe lỏm" được những tình tiết này, sơ bộ phán đoán chứng đau đầu của bà là vấn đề thể xác do vấn đề tâm lý gây ra (khu thể hóa). Dưới áp lực công việc khổng lồ, bà không xuất hiện triệu chứng tâm lý là ức uất, mà lại xuất hiện triệu chứng đau đầu.
Tôi khuyên bà dùng một đợt thuốc kháng ức uất. Ban đầu bà hoàn toàn không tin bác sĩ tâm lý có thể giải quyết được chuyện đau đầu, sau khi tôi kiên trì giải thích, bà mới đồng ý thử một phen, miễn cưỡng cầm đơn thuốc của tôi mua một hộp thuốc mang về nhà (để tăng cường lòng tin cho bà, tôi đã kê loại thuốc kháng ức uất có tác dụng khởi phát rất nhanh). Ba ngày sau, bạn tôi gọi điện tới nhà, bảo rằng chứng đau đầu của dì đã khỏi tới tám chín phần mười, muốn thay mặt dì mời tôi một bữa. Tôi đương nhiên chẳng chút ngần ngại nhận lời. Nêu ví dụ này là muốn nói rằng: Phàm khi có những khó chịu trên thân thể mà mọi xét nghiệm kiểm tra đều không phát hiện ra vấn đề gì, thì phải cân nhắc xem liệu đó có phải là vấn đề khu thể do nhân tố tâm lý gây nên hay không. Vào lúc này, đi khám bác sĩ tâm lý gần như trở thành lựa chọn duy nhất để giải quyết vấn đề.
Áp lực tâm lý là một thể hỗn hợp giữa ma quỷ và thiên sứ. Nói nó là ma quỷ là bởi nó thực sự có thể mang lại tổn thương kép cho cả tâm hồn lẫn thể xác con người. Nói nó là thiên sứ là bởi nó cũng mang lại rất nhiều lợi ích:
Thứ nhất, dưới áp lực tâm lý, chúng ta có thể duy trì trạng thái giác tỉnh tốt hơn, hoạt động trí lực ở vào tầng bậc cao hơn, giúp xử lý các sự vụ đời sống tốt hơn. Tôi từng thấy một bức tranh biếm họa lột tả rất hay về cái lợi của áp lực: Một người ngồi bên bàn làm việc chất đầy tài liệu như núi, tay phải cầm bút, tay trái cầm một quả bom hẹn giờ; nhan đề bức tranh là: Tôi chỉ có thể làm việc hiệu quả cao dưới áp lực khổng lồ. Tôi viết lách cũng có trải nghiệm tương tự: biên tập viên không giục bản thảo thì tuyệt đối chẳng viết ra được chữ nào; giục càng gấp thì tốc độ hoàn thành bài càng nhanh. Nghĩ xa hơn một chút, rất nhiều việc trong đời tôi hễ làm thành công thì về cơ bản đều có liên quan đến áp lực ngoại giới; việc chưa thành, phần nhiều là do chẳng có chút áp lực nào. Cho nên nhân đây tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới tất cả những ai từng tạo áp lực cho tôi.
Thứ hai, khi áp lực tâm lý chưa vượt quá sức chịu đựng, nó có thể là một sự tận hưởng, thậm chí là sự tận hưởng tinh thần tuyệt vời nhất. Mọi hoạt động thi đấu thể thao thực chất chính là việc con người ta khi thiếu vắng áp lực tâm lý đã "vô trung sinh hữu" (tự tạo ra từ chỗ không có gì) một số áp lực tâm lý, cốt để làm phong phú thêm cho đời sống tinh thần của chính mình.
Tâm lý trị liệu đoạn tưởng
Từ "Tu chính tính tình cảm thể nghiệm" đàm khởi
Một nhà trị liệu tâm lý người Mỹ từng kể câu chuyện thế này: Mấy mươi năm trước, một nhà trị liệu gốc Hungary viết một cuốn sách tại Mỹ, trong sách đề cập đến việc phải mang lại cho bệnh nhân một "tu chính tính tình cảm thể nghiệm" (Corrective Emotional Experience — trải nghiệm cảm xúc sửa sai/chỉnh định). Nghĩa là, bệnh nhân trong quá trình trưởng thành thiếu hụt trải nghiệm cảm xúc nào, nhà trị liệu trong tiến trình trị liệu phải bù đắp cho họ thứ tình cảm tương ứng ấy. Quan điểm này vừa ra đời lập tức vấp phải những làn sóng công kích dữ dội chưa từng có; đến mức trong các cuộc tranh luận học thuật sau đó, việc quy kết đối phương mang lại cho bệnh nhân "tu chính tính tình cảm thể nghiệm" đã trở thành lời lẽ cay độc nhất mà một nhà trị liệu tâm lý có thể dùng để thóa mạ đồng nghiệp.
Câu chuyện này mang lại cho tôi muôn vàn cảm khái, chủ yếu gom lại ở ba điểm:
Một là, tâm lý trị liệu của người ta quả thực tiên tiến hơn chúng ta rất nhiều. Nếu cứ suy nghĩ theo kiểu chủ quan tưởng tượng, việc đem lại cho bệnh nhân tu chính tính tình cảm thể nghiệm tuyệt đối là biểu hiện của sự cống hiến vô tư, đạo đức cao thượng của người thầy thuốc. Nhưng thực chất lại hoàn toàn sai lầm; bởi phương thức mang tính ban ơn này thiếu hẳn tính kiến thiết, hoàn toàn bất lợi cho sự trưởng thành nhân cách của bệnh nhân. Thế nhưng sai lầm này chỉ có thể được phát hiện trong thực tiễn; nếu chỉ tranh luận suông trong khuôn khổ lý thuyết, vị bác sĩ gốc Hungary kia tuyệt đối không bao giờ rơi vào cảnh bị người đời xúm vào vùi dập như vậy. Sự tranh biện thuần túy trên lý thuyết thường chỉ dừng lại ở thế đối đầu một chọi một.
Điểm thứ hai: Nếu tất cả chúng ta đều chưa từng nghe qua đoạn lịch sử này, nếu không có sự giao lưu trong lĩnh vực tâm lý trị liệu với các quốc gia phương Tây, thì vào một ngày nào đó trong tương lai, biết đâu sẽ có nhà trị liệu tâm lý Trung Quốc đứng ra đề xuất quan điểm mang lại cho bệnh nhân tu chính tính tình cảm thể nghiệm. Bởi vì quan điểm này mang sắc màu văn hóa Trung Hoa vô cùng đậm nét: Chẳng hạn chúng ta thường bảo phải xem bệnh nhân như người nhà, phải ân cần chăm sóc chu đáo không chút tì vết, nhu cầu của bệnh nhân chính là lý tưởng của chúng ta... Mỗi câu từ ở đây đều dính dáng tới tu chính tính tình cảm thể nghiệm. Trước cổng một bệnh viện lớn ở Vũ Hán, trên một bức tường lớn viết hàng chữ to tướng: "Tất cả vì bệnh nhân, vì bệnh nhân tất cả, vì tất cả bệnh nhân". Lời lẽ viết ra nghe rất có khí phách, nhưng hơi có phần bao biện ôm đồm, khuếch đại tính chủ động của người thầy thuốc mà biến bệnh nhân thành kẻ hoàn toàn thụ động. Chúng ta thử thêm hai chữ "chúng tôi" vào trước mỗi câu, nó sẽ biến thành: "Chúng tôi tất cả vì bệnh nhân, chúng tôi vì bệnh nhân tất cả, chúng tôi vì tất cả bệnh nhân". Đây là mô thức y tế lấy người thầy thuốc làm trung tâm điển hình, cũng có thể gọi là "tu chính tính y liệu phục vụ".
Điểm thứ ba: Điều tôi ngưỡng mộ nhất ở họ vẫn là cái không khí tranh luận sôi nổi trăm hoa đua nở, bách gia tranh minh. Liên tục có cái mới ra đời, liên tục nghe thấy những tiếng nói tán thành hay phản bác; những thứ từng được khẳng định căn bản trên lý thuyết lại có thể bị thực tiễn mới lật nhào. Cứ thế lặp đi lặp lại, "nước dâng thuyền lên", tôi luyện nên một thế hệ nhân vật lẫy lừng, và sự nghiệp tâm lý trị liệu nhờ đó mà phát triển vượt bậc. Còn chúng ta thì sao? Hiếm hoi lắm mới có người làm ra chút cái mới; dẫu có người làm ra, như lý thuyết Đạo gia tâm lý trị liệu của hai vị giáo sư họ Dương và họ Trương ở Hồ Nam, thì người hoan nghênh lẫn kẻ bắt bẻ đều vô cùng thưa thớt. Người vắng vẻ lòng nguội lạnh đến mức muốn cãi cọ một trận cũng chẳng cãi nổi, thực sự đáng buồn đáng than thay!
Đây là lần thứ hai tôi nhắc đến chuyện "cãi cọ". Tôi là một phần tử hiếu chiến chăng? Không phải. Mười hai năm đi làm, tôi hầu như chưa từng đỏ mặt tía tai với ai bao giờ. Thiếu Thuần nói, anh không cho rằng hiện tại có gì đáng để tranh luận. Tôi hiểu ý anh. Nói ví von thì chúng ta đang bỏ vài con cua tư tưởng tội nghiệp vào một chiếc giỏ lớn, giữa mỗi con đều có khoảng không gian mênh mông, kính nhi viễn chi né tránh nhau, đương nhiên sẽ chẳng có xung đột. Nhưng nếu thả thêm vài chục hay vài trăm con cua vào đó thì sao? E rằng muốn không cắn xé nhau cũng không được. Đến lúc ấy chưa biết chừng tôi lại phải đứng ra kêu gọi sống chung hòa bình. Để kẻ suy nhược bốc chút hỏa, để kẻ bốc hỏa nếm chút vị tả hạ, điều này có chút phong vị của Trung y. Viết tới đây, tôi bỗng nhận ra ý nghĩ mong muốn tranh luận của mình là sai lầm. Tranh hay không tranh, có lẽ thảy đều nên thuận theo tự nhiên.
Jung và tư tưởng phương Đông "của ông"
Người ta thường cho rằng Carl Jung là bậc thầy tâm lý trị liệu phương Tây chịu ảnh hưởng sâu sắc nhất từ tư tưởng phương Đông. Nhưng gần đây sau khi đọc lại một số trước tác của ông, tôi cảm thấy nhận định này không hề chuẩn xác. Có lẽ chúng ta nên nói rằng: Jung chỉ chịu ảnh hưởng từ những yếu tố trong tư tưởng phương Đông vốn tương đồng với tư tưởng của bản thân ông mà thôi. Điều này không khỏi khiến người ta hoài nghi về động cơ mang tính công lợi ngầm ẩn phía sau: tức ông có thể chỉ lợi dụng tư tưởng phương Đông để chứng minh tính chuẩn xác cho hệ tư tưởng của chính mình.
Tư tưởng phương Đông theo kiểu của Jung nói trên là chỉ những bộ phận mang sắc thái thần bí chủ nghĩa, như Đạo giáo, Phật giáo, Dịch Kinh... Thế nhưng nội dung cốt lõi nhất của tư tưởng phương Đông phải là Nho học chứ không phải những thứ khác. Tôi thực sự không thể nhớ nổi liệu Jung có từng bàn luận về Nho học trong cuốn sách nào của ông hay chưa. Có lẽ ông căn bản không có cách nào để bàn tới, bởi vì tư tưởng Nho học hoàn toàn bất tương dung với tư tưởng của Jung. Xét từ điểm này, sao chúng ta có thể cho rằng Jung chịu ảnh hưởng sâu sắc từ tư tưởng phương Đông cho được?
Một người thông tuệ như Jung mà trong việc thấu hiểu tư tưởng phương Đông còn có chỗ phiến diện nhường ấy, thì những kẻ phàm phu tục tử khác đối với văn hóa phương Đông có biết bao hiểu lầm âu cũng chẳng phải chuyện gì bất ngờ. Nếu chúng ta có chút thất vọng với Jung, thì đối với sự hiểu lầm của một số người phương Tây khác về tư tưởng phương Đông, chúng ta có thể sẽ bùng lên cơn thịnh nộ khôn cùng.
Những người phương Tây đến Trung Quốc câu cửa miệng nhiều nhất là: họ bày tỏ sự kinh ngạc trước mọi thứ ở Trung Quốc. Trung Quốc dường như phải giống như trong tưởng tượng của họ, chứ không nên giống như thực tại bây giờ. Trong hoàn cảnh đó, và trong rất nhiều hoàn cảnh khác, họ là những người quan sát mang tính chủ động, còn chúng ta lại là một dạng vật thể bị quan sát.
Một ví dụ cực đoan mà cá nhân tôi từng trải qua: Một người phương Tây làm nghiên cứu về huyết học mới đến Vũ Hán được năm ngày tới tham quan bệnh viện chúng tôi; trong lúc trò chuyện, ông ta nói rằng vừa đặt chân đến Trung Quốc là ông ta cảm thấy người Trung Quốc có rất nhiều vấn đề về mặt tính dục. Tôi hỏi ông ta có bằng chứng gì không, ông ta bảo là dựa vào cảm giác. Nhìn vẻ mặt tự cho là mình vừa phát hiện ra một chân lý nào đó của ông ta, xung động muốn tranh luận trong tôi hoàn toàn bị nhấn chìm bởi sự phẫn nộ và khinh bỉ.
Dẫu cách một năm sau nhìn lại hôm nay, tôi cũng chẳng thèm dùng những kiến thức tâm lý học từng học để phân tích nguyên nhân biến thái mang tính cá nhân ẩn sau những cách nhìn nhận ấy của ông ta, thậm chí chẳng buồn giải thích để giúp một kẻ ngu muội vô tri như vậy trở nên thông tuệ hơn đôi chút; tôi chỉ muốn nói rằng: Chúng ta bắt buộc phải bồi dưỡng ý thức chủ thể của dân tộc mình và của chính cá nhân mình, chứ không thể chỉ đơn thuần biến thành đối tượng hay khách thể bị kẻ khác nhòm ngó, quan sát. Điều quan trọng hơn cả là: chúng ta không cần quá bận tâm đến một kết quả quan sát nào đó của kẻ khác. Sẽ có một ngày — mà đương nhiên tốt nhất là ngay chính khoảnh khắc này đây — chúng ta cũng với tư cách là chủ thể để quan sát lại họ, và cất lên tiếng nói về cách nhìn nhận của chúng ta đối với họ.
Một cảm nhận liên quan khác là thái độ của họ đối với Trung y và thái độ của chúng ta đối với Trung y hoàn toàn khác nhau. Tôi luôn cảm thấy sự tò mò của người phương Tây đối với Trung y chẳng khác nào sự tò mò của chúng ta đối với trò làm xiếc khỉ hay các ngón nghề kỳ xảo dâm kỹ. Cho nên mỗi khi có ai hỏi tôi về các vấn đề Trung y, tôi luôn chỉ đáp vỏn vẹn một câu: "I don't know" (Tôi không biết). Tôi cảm thấy càng nói nhiều thì ngăn cách càng sâu, và khả năng bản thân bị xem như quái vật lại càng lớn. Nếu ai cho rằng cảm nhận này của tôi là sai, xin cứ chỉ giáo.
Về khái niệm
Có người bảo: Các khái niệm mang tính thao tác trong tâm lý trị liệu vẫn còn rất hữu hạn (cái gọi là không gian thoại ngữ còn chật hẹp), đến mức không đủ để miêu tả các hiện tượng trong tiến trình tâm lý trị liệu, bao gồm cả tâm lý của bệnh nhân lẫn tâm lý của nhà trị liệu. Vậy thì chúng ta không khỏi tự hỏi: Không biết phải cần bao nhiêu khái niệm thao tác hay một không gian thoại ngữ rộng đến chừng nào mới đủ sức miêu tả mọi hiện tượng trong tiến trình trị liệu tâm lý? Nhìn từ tính phức tạp của tiến trình tâm lý trị liệu, dường như có thêm bao nhiêu khái niệm đi chăng nữa cũng chẳng thể miêu tả nó một cách chuẩn xác, huống chi việc sản sinh quá nhiều khái niệm chuyên môn chưa hẳn đã là điều tốt cho sự giao lưu giữa các đồng nghiệp với nhau.
Chi bằng hãy tiến hành một cuộc xử lý mang tính chuyên nghiệp hóa cao độ đối với các thuật ngữ chuyên môn của tâm lý học, để tâm lý học sở hữu một không gian thoại ngữ rộng lớn ngang bằng với ngôn ngữ thông thường — một không gian thoại ngữ gần như rộng mở vô biên. Làm như vậy chắc chắn sẽ có lợi hơn cho sự giao lưu giữa các đồng nghiệp, cũng như giúp đại chúng dễ dàng tiếp nhận các lý thuyết tâm lý trị liệu. Hệ thống thuật ngữ và khái niệm quá đỗi rườm rà phức tạp cũng chính là nguyên nhân quan trọng khiến các nhà trị liệu lâm sàng xuất sắc không thể phổ biến kinh nghiệm của mình ra diện rộng.
Trong lĩnh vực tâm lý trị liệu, chúng ta nên đề phòng việc khái niệm phân rã tư duy của chúng ta, trói buộc cảm thụ của chúng ta, hạn chế tình cảm của chúng ta, và làm xơ cứng hành vi của chúng ta.
Cổ đại Trung Quốc là một xã hội quá độ văn minh
Những dấu hiệu mà tôi cho là biểu hiện của một xã hội quá độ văn minh gồm có:
Số lượng và cường độ của các quy tắc xã hội vượt quá tác dụng điều tiết mối quan hệ giữa người với người và duy trì sự ổn định xã hội;
Đòi hỏi của xã hội đối với cá nhân vượt quá tiêu chuẩn mà một cá nhân với tư cách là con người (chỉ là một con người thích ứng tốt với xã hội chứ không phải một bậc thánh nhân) cần phải có;
Cá nhân nhận được những phần thưởng vật chất chỉ vì tư tưởng ý thức của họ phù hợp với một số tiêu chuẩn xã hội nào đó;
Có quá nhiều người dấn thân vào các công việc phi sản xuất.
Nếu đem các tiêu chuẩn trên ra ướm vào, xã hội cổ đại Trung Quốc không điều gì là không khớp; ở đây có lẽ chúng ta không cần phải chứng minh từng điểm một. Là những người làm tâm lý trị liệu, điều chúng ta cần nghiêm túc suy ngẫm là: sự văn minh xã hội quá độ đã mang lại những hạnh phúc và tai họa gì cho cá nhân? Xét từ cảm nhận, chí ít tôi cho rằng tai họa nhiều hơn hạnh phúc.
Lỗ Tấn từng dùng phong cách sắc sảo độc đáo của mình để đưa ra định nghĩa về văn hóa: "Văn hóa tức hạn định" (Văn hóa chính là sự ước thúc, giới hạn). Trong rất nhiều hoàn cảnh, văn hóa và văn minh có thể dùng thay thế cho nhau. Dựa theo định nghĩa này, xã hội cổ đại Trung Quốc chính là một xã hội bị hạn định quá mức; điều này hiển nhiên là "quá độ" bất lợi cho sự phát triển nhân cách của cá nhân. Đem định nghĩa văn hóa của Lỗ Tấn suy rộng ra, chúng ta có lẽ cũng có thể nói rằng: Trung y là một nền y học của sự hạn định. Hãy thử nghĩ tới biết bao điều kiêng kỵ không có căn cứ trong Trung y, bạn sẽ thấy cách nói này hoàn toàn có lý.
Lý giải và Thể hội
Lý giải là khi bạn đau đớn đưa cho bạn một viên thuốc giảm đau; thể hội là cùng đau đớn với bạn, cùng bạn rơi nước mắt.
Năm mười lăm tuổi đọc thơ Đường là lý giải; bốn mươi lăm tuổi đọc thơ Đường là thể hội.
Lý giải muôn năm; còn sinh mệnh của thể hội tựa như hoa quỳnh, bởi thể hội quá nhiều sẽ mệt mà chết.
Chúng ta lý giải một người, tức đã tạo tiền đề để thao túng người đó; còn khi chúng ta thể hội một người, chúng ta sẽ cùng người đó dung hợp làm một.
Khí quan chức năng tương ứng với lý giải là đại não; tương ứng với thể hội là toàn bộ thân tâm.
Lý giải như một lưỡi dao phẫu thuật, mổ xẻ phân tách đối tượng; thể hội lại gắn kết tất cả các bộ phận thành một chỉnh thể toàn vẹn.
Lý giải là logic; thể hội là tình cảm.
Vật lý học cần đến sự lý giải; tâm lý học cần đến sự thể hội.
Sự siêu việt của tự ngã phân tích
Muốn trở thành một nhà phân tích tinh thần (psychoanalyst), tự ngã phân tích (self-analysis) là một tiến trình bắt buộc phải kinh qua. Tại các quốc gia phương Tây, thời gian làm tự ngã phân tích ước chừng từ sáu trăm đến tám trăm giờ. Tuyệt đại đa số đồng nghiệp làm tâm lý trị liệu đều cho rằng: thiếu vắng những nhà trị liệu tâm lý có trải nghiệm tự ngã phân tích chính là nút thắt cổ chai cho sự phát triển của sự nghiệp tâm lý trị liệu nước nhà. Bản thân tôi cũng giữ quan điểm này. Thế nhưng, vấn đề này nhìn từ tình hình trước mắt không phải là chuyện một sớm một chiều có thể giải quyết được; trong khi bệnh nhân của chúng ta không thể chờ đợi, sự nghiệp tâm lý trị liệu không thể chờ đợi. Chúng ta nên và bắt buộc phải tìm ra một phương pháp tương đương với tự ngã phân tích, thậm chí có thể thay thế cho tự ngã phân tích.
Tôi từng hỏi Giáo sư Becker — nhà phân tích tinh thần kỳ cựu của Đức, giảng viên lớp đào tạo liên tục các nhà trị liệu tâm lý cao cấp Trung - Đức: "Freud cũng chưa từng làm tự ngã phân tích ở bất kỳ nhà trị liệu nào khác, nhưng điều đó chẳng hề cản trở ông trở thành một bậc thầy phân tích kiệt xuất, vì sao vậy?" Bà trả lời rằng: Freud thông qua việc phân tích giấc mơ của chính mình một cách liên tục trong thời gian dài đã thấu hiểu được tiềm ý thức của bản thân, từ đó đạt tới hiệu quả tương đương như việc làm tự ngã phân tích ở các nhà trị liệu tâm lý khác.
Câu trả lời này không chỉ vô cùng khéo léo, mà còn là một sự thật. Sự thật này đối với các nhà trị liệu tâm lý Trung Quốc tựa như một tia nắng hy vọng rọi qua khe hở của đám mây đen; bởi vì như thế, chúng ta chí ít đã có hai phương pháp để biến mình thành một nhà phân tích tinh thần đạt chuẩn: một là phương pháp làm tự ngã phân tích đang phổ biến tại các quốc gia hiện nay; hai là học theo Freud tự phân tích giấc mơ của chính mình. Phương pháp thứ hai, ai muốn làm cũng đều có thể làm được, không cần phải vượt ngàn trùng xa xôi cách trở, rời bỏ quê hương, cũng chẳng cần phải chi trả những khoản viện phí đắt đỏ. Đương nhiên sự gian nan mà tâm hồn phải trả giá có thể sẽ lớn hơn đôi chút. Thịnh Hiểu Xuân từng ghi chép giấc mơ suốt mấy năm trời, nghe đâu viết kín mấy cuốn sổ tay; còn việc anh ấy có dùng phương thức của Freud để giải mã giấc mơ hay không thì không ai hay biết.
Liệu còn phương pháp thứ ba nào nữa không? Tôi đã trăn trở suy nghĩ suốt một thời gian dài mà không tìm ra. Gần đây con gái tôi chào đời, cuối cùng đã gợi mở cho tôi phương pháp thứ ba: Phương pháp này chính là quan sát sự trưởng thành của con gái tôi, và đem nó ra so sánh đối chiếu liên tục với sự trưởng thành của chính bản thân mình, để bản thân được sống lại thời thơ ấu thêm một lần nữa, bước lại con đường trưởng thành nhân cách thêm một lần nữa. Tôi vững tin đây sẽ là một phương pháp rất tốt, nếu không muốn nói là phương pháp tuyệt vời nhất.
Nói rộng hơn một chút: nếu đối với một vấn đề đã có ba cách giải quyết, thì chúng ta nên ôm ấp niềm tin vào việc tìm kiếm thêm nhiều phương pháp hơn nữa. Đặc biệt là trong văn hóa truyền thống Trung Hoa, chắc chắn có thể tìm thấy rất nhiều phương pháp thay thế cho tự ngã phân tích.
"Đạo bất viễn nhân" (Đạo chẳng xa người), đó là câu nói mà chúng ta cần phải khắc ghi sâu đậm lên trên tiềm ý thức của chính mình.
Tâm lý trị liệu ma quỷ từ điển (Kỳ 1)
Tiềm ý thức: Cái cớ cuối cùng sau khi phạm phải sai lầm; là kẻ sáng tạo ra văn hóa đồng thời cũng chính là kẻ thù của văn hóa.
Di tình: Thứ tình cảm duy nhất của nhân loại, bởi mọi tình cảm của con người thảy đều có thể quy kết về nó.
Phòng vệ cơ chế: Lý luận chiến tranh kiểu mới, chủ yếu bàn về ý nghĩa, mục đích và phương pháp của các chiến dịch tàu ngầm hạt nhân.
Đồng niên kinh lịch (Trải nghiệm thời thơ ấu): Khách sạn bạn từng ở và món ăn bạn từng nếm qua; chất lượng phục vụ của khách sạn và hương vị của món ăn ấy sẽ quyết định hiện tại bạn muốn đi tới những nơi nào và không muốn đặt chân tới những chốn nào.
Trở kháng: Chấp nhận toàn bộ những lời vu khống dành cho bạn là sự lựa chọn duy nhất của bạn.
Mộng (Giấc mơ): Một dạng tinh thần thắng lợi pháp khác, số lượng của nó tỷ lệ nghịch với độ trung thành của người nằm mộng đối với chính bản thân mình vào ban ngày.
Tiêu chuẩn chẩn đoán tâm thần khoa: Thuận ta thì sống, nghịch ta là có bệnh.
Thần kinh chứng (Loạn thần kinh chức năng): Trò tự mua vui của những kẻ thông minh.
Tự do liên tưởng: Phương pháp làm cho đổi trắng thay đen và khiến những chuyện chẳng liên quan gì cũng dính líu được vào nhau.
Hoạn giả trung tâm liệu pháp (Liệu pháp lấy thân chủ làm trung tâm): Khiến bạn thấy ngại ngùng xấu hổ không nỡ tiếp tục mang bệnh nữa.
Hành vi trị liệu: Xem mày còn dám có bệnh nữa hay thôi!
Hệ thống thức gia đình trị liệu: Thiên hạ đại loạn, rồi sau đó thiên hạ đại trị; nhân lúc đánh nhau hội đồng mà đục nước béo cò.
Tinh thần phân tích lý luận: Mọi vấn đề của con người đều bắt nguồn từ việc con người sống từ 0 tuổi đến 80 tuổi, chứ không phải sống từ 80 tuổi về 0 tuổi.
Nhận tri trị liệu (Trị liệu nhận thức): Vốn do A Q phát minh ra, nhưng lại bị kẻ khác đem đi đăng ký bản quyền sáng chế.
Bác sĩ tâm thần: Rất có thể là một bệnh nhân trĩ rò đi mở phòng khám chữa trĩ rò; bằng không thì cũng là gã thầy bói đầu đường xó chợ chuyên đoán định người khác sẽ thăng quan tiến chức trong khi bản thân lại nghèo rớt mồng tơi.
Cá tính: Cảnh giới của việc luôn luôn phạm cùng một sai lầm, cho đến khi người khác không còn coi đó là sai lầm nữa.
Phương pháp thống kê học trong lĩnh vực tâm lý: Một dạng phù phép vu thuật hiện đại, mục tiêu tối thượng là biến con người thành cá văn xương (Amphioxus). Số lượng cá văn xương ít hơn con người, vật dĩ vi quý, cho nên chúng ta chẳng cần hoài nghi tâm huyết cứu vớt động vật quý hiếm và kiến tạo ngành công nghiệp hoàn toàn mới của các vị phù thủy này.
Cá án báo cáo (Báo cáo ca lâm sàng): Nỗ lực biến con người thành Con Người, nhưng lại chuốc lấy sự chế giễu của con người.
Tiêu chuẩn sức khỏe tâm lý: Năng lực đồng lưu hợp vu (năng lực cùng hòa mình vào dòng chảy dơ bẩn của thế gian).
Điện thoại tâm lý tư vấn: Về mặt cơ sở hạ tầng phần cứng thì tương tự như việc ngự y bắt mạch cho phi tần hậu cung, phần mềm sử dụng trình duyệt IE 5.0 mới nhất; chỉ là không biết băng thông có đủ rộng hay không.
Ai đang sống
Năm năm trước, tôi từ Đức quá cảnh qua Mỹ để về nước. Trong thời gian lưu lại Mỹ, rất nhiều người thân và bạn bè khuyên tôi nên ở lại đó. Lý do muôn hình vạn trạng: nào là trình độ học thuật tâm lý trị liệu của Mỹ đứng đầu thế giới, bạn có thể học bất cứ thứ gì mình muốn; mức sống cao, chỉ cần có công việc tốt thì xe hơi, nhà lầu chẳng thiếu thứ gì; con cái được thụ hưởng nền giáo dục tiên tiến... vân vân và mây mây.
Mỗi một lý do ấy đối với tôi đều có sức hấp dẫn khổng lồ. Nhưng mặt khác, trở về nước để làm những việc bản thân mong muốn cũng là một nguồn động lực vô cùng mạnh mẽ. Đứng trước áp lực bắt buộc phải đưa ra sự lựa chọn, lòng tôi ngổn ngang trăm mối tiêu lự.
Một người bạn gái thời đại học định cư tại Mỹ nhìn thấu nỗi lo âu của tôi; sau khi lắng nghe những tâm tư của tôi, cô ấy đã nói một câu khiến tôi sau năm năm trôi qua vẫn nhớ như in:
Cô ấy bảo: "Ở lại Mỹ hay về nước, điều đó đều không quan trọng; điều quan trọng là: bất kể ở đâu, cũng đều là chính anh đang sống."
Quả đúng là một lời đánh thức kẻ trong mộng! Khi bạn biết rõ điều gì là quan trọng nhất, việc đưa ra lựa chọn sẽ trở thành chuyện vô cùng dễ dàng.
Tôi dứt khoát chọn trở về nước, và suốt năm năm qua chưa từng một lần hối hận về quyết định năm xưa; tôi tin rằng sau này cũng sẽ không bao giờ hối hận.
Bất kể ở đâu, cũng đều là chính bạn đang sống. Một câu nói giản đơn nhưng chứa đựng muôn vàn tầng ý vị, hơn nữa còn có thể biến tấu thành rất nhiều mẫu câu tương tự:
Bất kể bạn trẻ trung hay già nua, đều là chính bạn đang sống.
Bất kể bạn xinh đẹp hay xấu xí, đều là chính bạn đang sống.
Bất kể bạn an khang hay ốm yếu, đều là chính bạn đang sống.
Bất kể bạn giàu sang hay nghèo khó, đều là chính bạn đang sống.
Và còn nữa: Bất kể vui sướng hay đau thương, thành công hay thất bại, ở chốn miếu đường cao sang hay nơi giang hồ xa xôi hẻo lánh, sự thật căn bản không thể lay chuyển và cũng chẳng cần phải lay chuyển chính là: bạn đang sống. Đã là bất kể thế nào cũng đều là chính tôi đang sống, thì mọi ngoại vật tự nhiên đều trở nên nhẹ bẫng.
"Bạn đang sống". Một sự thật căn bản nhường ấy mà vẫn cần phải có người nhắc nhở, âu cũng là bởi bản thân chúng ta trong rất nhiều thời điểm đang sống vì những thứ nằm ngoài chính mình. Một cách sống như vậy, dẫu có thực sự trường sinh bất tử thì phỏng có ích gì đâu?
Đời người chỉ có một lần. Cảm giác nhận biết chính mình đang sống là liều thuốc tỉnh thần giúp nhân sinh trở nên chân thực và trọn vẹn hơn bao giờ hết.
Ngoại biểu và Nội tâm
Tết năm ngoái, một người bạn làm việc ở phương Nam khi trở về Vũ Hán có ghé qua nhà thăm tôi. Vừa gặp mặt, tôi giật mình sửng sốt: anh ấy竟然 nhuộm tóc thành màu vàng kim. Tôi quả thực không dám tin người đang đứng trước mặt mình lại là người bạn cố tri đã giao thiệp suốt gần hai mươi năm trời.
Nếu đổi lại là một người khác làm vậy, mức độ ngạc nhiên của tôi chắc chắn sẽ nhỏ hơn rất nhiều. Anh ấy là ai cơ chứ? Là thầy giáo dạy triết học thời đại học của tôi, hơn tôi bảy tuổi. Mối quan hệ giữa chúng tôi dẫu trên danh nghĩa là thầy trò, nhưng trên thực tế thành phần bạn bè lại nhiều hơn gấp bội. Có những năm tháng chúng tôi gần như hình với bóng, cùng nhau kinh qua biết bao chuyện, hiểu nhau đến chân tơ kẽ tóc.
Là một giảng viên triết học, hơn mười năm trước anh hoàn toàn khớp với hình tượng một người thầy triết học trong tưởng tượng của chúng tôi; không chỉ có vậy, anh có lẽ còn bảo thủ hơn cả hình tượng chúng tôi mường tượng: sách đọc toàn là những tác phẩm nghiêm túc về tôn giáo, triết học và nghệ thuật; nhạc nghe toàn là cổ điển châu Âu. Lại có một ví dụ lột tả rất rõ phong cách của anh: suốt mấy năm liền, anh đều mặc chiếc áo bông kiểu cài khuy chéo cổ lỗ sĩ nhất để qua mùa đông — thứ trang phục chỉ dành cho những người ngoài năm, sáu mươi tuổi, trong khi lúc đó anh còn chưa đầy ba mươi. Một con người như thế, bạn tuyệt đối không bao giờ có thể tưởng tượng nổi khi ngoài bốn mươi tuổi lại có thể làm ra cái chuyện tiền phong thời thượng như nhuộm tóc.
Tôi xưa nay luôn vững tin rằng: Tiền đề cho sự thay đổi bên ngoài chính là sự thay đổi nơi nội tâm; hay nói cách khác, nếu nội tâm không đổi thay thì sự biến chuyển của ngoại biểu căn bản không thể nào diễn ra. Trong cuộc trò chuyện sau đó với người bạn này, niềm tin ấy của tôi một lần nữa lại được chứng thực. Anh đã nhảy ra ngoài kinh doanh được tám năm; tâm thái của một thương nhân hăng hái đắc ý dĩ nhiên hoàn toàn khác biệt một trời một vực so với tâm thái của một giảng viên triết học âm thầm làm công tác học thuật.
Chúng ta không thể phán xét chuyện nhuộm tóc là đúng hay sai, cũng không thể bảo tâm thái nào tốt hơn tâm thái nào. Dẫu thế nào đi nữa, một người thay đổi tâm thái và diện mạo bên ngoài của mình, chỉ cần bản thân họ cảm thấy sự thay đổi ấy chẳng có gì không tốt, thì chúng ta nên chúc mừng họ; bởi vì những đổi thay ấy đồng nghĩa với sự gia tăng về trải nghiệm và kiến thức, cũng như sự đột phá và siêu việt nhất định đối với tự ngã. Sự đột phá và siêu việt này không phải xảy ra trên con người bất kỳ ai, cũng không phải lúc nào ở đâu cũng có thể diễn ra.
Gần đây đọc báo, tôi đọc được một mẩu tin tức về ngoại biểu (râu tóc) có liên quan đến chính trị và tôn giáo: Tin tức kể rằng sau khi chính quyền Taliban ở Afghanistan sụp đổ, đàn ông đều cạo sạch bộ râu rậm rạp, chuẩn bị bắt đầu một cuộc sống mới. Taliban là những người theo chủ nghĩa chính thống nguyên giáo chỉ (fundamentalism), quy định đàn ông bắt buộc phải để râu, nếu không sẽ phải chịu hình phạt nghiêm khắc thậm chí bị tống giam. Cho nên đàn ông Afghanistan để râu không còn là chuyện riêng của cá nhân, mà là biểu tượng认同 (đồng nhất hóa) về mặt hành vi và tín ngưỡng đối với chính quyền Taliban. Còn trong lòng có thực sự phục tùng hay không lại là chuyện khác.
Thế nhưng sự can thiệp thô bạo của Taliban vào tự do cá nhân, so với một vài chuyện từng xảy ra trong lịch sử Trung Quốc, thì quả thực chẳng thấm tháp vào đâu. Chẳng nói đâu xa, cứ nhìn việc sau khi quân Thanh nhập quan, yêu cầu tất cả nam giới người Hán đều phải để tóc đuôi sam: Mỗi người đàn ông Hán tộc chỉ có hai sự lựa chọn: để tóc đuôi sam thì cái đầu của ngươi sẽ còn nằm yên ổn trên cổ; không để tóc đuôi sam thì cái đầu cũng không giữ nổi nữa. Trong hoàn cảnh đó, diện mạo bên ngoài ra sao có can hệ sinh tử tới việc bạn có thể sống sót được hay không. Đương nhiên đó là chuyện của gần bốn trăm năm trước rồi; ở Trung Quốc ngày nay, bạn tùy tiện làm cho tóc tai râu ria của mình ra hình thù gì, chính quyền cũng chẳng buồn quản.
Đương nhiên cũng không thể hoàn toàn không có sự ước thúc. Trong một xã hội cởi mở, sự ước thúc này chủ yếu đến từ hai phương diện:
Một là đến từ chính nội tâm. Trong lòng mỗi chúng ta đều có một cái gọi là "tự ngã ý tượng" (self-image / hình tượng tự ngã), tự ngã ý tượng này bao gồm việc tôi là một người như thế nào và ngoại biểu tương thích với một con người như vậy là gì.
Sự ước thúc thứ hai đến từ mối quan hệ nhân tế, tức phản ứng của những người xung quanh mà chúng ta bận tâm đối với sự thay đổi của chúng ta.
Chúng ta lấy một ví dụ để làm sáng tỏ: Chẳng hạn một nữ sinh trung học, tự ngã ý tượng trong lòng cô bé là đơn thuần, mộc mạc, tự nhiên và tràn đầy sức sống; hình tượng bên ngoài như kiểu tóc tương xứng với tự ngã ý tượng này cũng nên mang những đặc trưng tương tự. Nếu có ai bảo cô bé nhuộm tóc màu vàng kim, rồi cắt kiểu tóc punk kỳ dị, ước chừng cô bé chắc chắn sẽ không chịu, vì điều đó không phù hợp với tự ngã ý tượng của em. Chúng ta lại giả sử có kẻ khéo mồm khuyên nhủ được cô bé, và em thực sự đi làm kiểu tóc ấy, thì những rắc rối ở nhà và ở trường sẽ lập tức ập tới liên miên. Chẳng mấy ngày sau em sẽ phải cân nhắc thận trọng xem: chỉ vì màu tóc và những lọn tóc chỉa theo các hướng khác nhau mà chuốc lấy biết bao chuyện phiền toái chẳng mấy dễ chịu, liệu có thực sự đáng giá hay không. Cuộc sống mới quả thực có thể bắt đầu từ việc thay đổi kiểu tóc, nhưng nếu cuộc sống sau khi thay đổi còn tệ hơn trước kia, thì thà đổi ngược trở lại còn hơn.
Có những người diện mạo bên ngoài mấy mươi năm bất biến, thậm chí cả đời chẳng hề thay đổi; chỉ cần bản thân họ không thấy có gì không ổn thì cũng chẳng sao. Dẫu thế nào đi nữa, một người chỉ có thể tự chịu trách nhiệm về diện mạo bên ngoài của mình, hệt như việc chịu trách nhiệm về nội tâm của chính mình vậy. Trong số những người không màng đổi thay ấy, có một bộ phận rất đáng để nhắc tới: Nghe đâu ở Đại học Bắc Kinh có mấy vị giáo sư già đức cao vọng trọng, mấy mươi năm trời vẫn giữ nguyên một kiểu ăn mặc phục sức. Chúng ta có lẽ không thể nói rằng nội tâm họ không hề có biến chuyển nên diện mạo bên ngoài mới không đổi; chúng tôi suy đoán nguyên nhân có thể là: họ đã dành quá nhiều thời gian và tâm lực để kiến tạo thế giới tâm hồn của mình trở nên lộng lẫy và khoáng đạt, đến mức không thể hoặc chẳng thèm đoái hoài tới vẻ bề ngoài nữa.
Phật giáo coi thân xác con người là "túi da hôi thối" (xú bì nang), thì râu tóc quần áo còn chẳng bằng cái túi da ấy, việc gì phải bận tâm tới chúng? Đối với họ, trang phục chỉ giữ lại chức năng căn bản nhất: che thân và giữ ấm; còn thái độ đối với tóc tai và râu ria có lẽ tuân thủ theo chân ngôn tám chữ: bẩn thì gội rửa, dài thì cắt tỉa.
Những con người độc hành đặc dị ấy được nhào nặn nên bởi trải nghiệm cá nhân đặc thù và điều kiện lịch sử đặc thù. Phương châm giáo dục hiện đại, ngoài ba phương diện đức - trí - thể xưa nay chúng ta vẫn nhấn mạnh, còn nên đặc biệt chú trọng tới việc giáo dục thẩm mỹ cho người học, cốt để họ có thể bước qua một cuộc đời hài hòa và hoàn mỹ hơn. Chúng ta không thể tưởng tượng nổi nếu tất cả đàn ông đều lôi thôi luộm thuộm, hoặc trên đường phố không có lấy một bóng hồng với mái tóc duyên dáng và trang phục rực rỡ, thì thế giới này sẽ ra sao, liệu còn có bao nhiêu người lưu luyến cuộc sống trần thế này nữa?
Mỗi khi nghĩ đến điều này, trong lòng lại bất giác dâng lên niềm cảm kích khôn nguôi đối với những người vừa làm đẹp cho bản thân lại vừa làm đẹp cho cả thế giới và nhân sinh. Không biết đã có ai nghiên cứu xem liệu những con người này có đóng góp to lớn cho sức khỏe tâm lý của nhân loại hay không; bởi nếu không có họ, ước chừng số lượng bệnh nhân ức uất chứng (trầm cảm) sẽ tăng lên gấp bội, và tỷ lệ tự sát có lẽ cũng sẽ gia tăng rất nhiều.
Phần trước đã nói, nội tâm thay đổi rồi thì ngoại biểu mới có thể biến chuyển theo; bởi hành vi của một người nói cho cùng chính là sự hiển lộ ra bên ngoài của các hoạt động nội tâm. Hơn nữa, diện mạo bên ngoài sau khi thay đổi cũng sẽ tạo ra tác động ngược trở lại nội tâm, thúc đẩy sự biến chuyển lớn hơn nơi đáy lòng, từ đó tạo ra một vòng tuần hoàn tích cực lành mạnh.
Lý thuyết và phương pháp tâm lý trị liệu Morita (Sâm Điền liệu pháp) bắt nguồn từ tư tưởng phương Đông rất coi trọng sự thay đổi của ngoại biểu, thậm chí coi việc thay đổi diện mạo bên ngoài là điều kiện tiên quyết cho sự thay đổi nội tâm. Trị liệu Morita sẽ yêu cầu bệnh nhân tự cưỡng chế bản thân làm một số việc, cốt để vẻ ngoài và môi trường sống của mình trở nên sạch sẽ, ngăn nắp, hành vi trở nên có trật tự. Sau khi nội tâm dần dà đồng nhất hóa với hình tượng bên ngoài ấy, cõi lòng hỗn loạn cũng có thể trở nên an tịnh.
Cũng xin nêu một ví dụ: Một người bạn học đại học của tôi, thông minh tuyệt đỉnh, đọc khắp muôn sách, cả ngày chỉ nghiền ngẫm những vấn đề triết học như "bản thể luận". Đời sống cá nhân thì rối như tơ vò, hoàn toàn không màng sửa sang vẻ bề ngoài; ước chừng mấy vấn đề triết học đó anh ta cũng chẳng nghĩ cho thông suốt được nên đầu óc một mảng hỗn loạn, cảm xúc thất thường, thường xuyên ăn nói lảm nhảm chẳng ai hiểu gì, ấn tượng đem lại cho người khác hệt như một quái nhân.
Sau khi tốt nghiệp chúng tôi mỗi người một ngả, mười năm sau họp lớp gặp lại, ông anh này như lột xác thành một con người hoàn toàn khác: không chỉ "phúc hữu thi thư khí tự hoa" (trong bụng có chữ khí chất tự khắc rạng ngời), mà kiểu tóc trang phục đều vô cùng chỉn chu, ngôn hành cử chỉ cũng rất mực đàng hoàng đĩnh đạc. Tôi ghé tai hỏi nhỏ: "Lão huynh, năm xưa anh chỉ lo trang hoàng bên trong, sao giờ nghĩ thông suốt lại đi tô vẽ cả bên ngoài thế?" Giữa chúng tôi vốn tâm đầu ý hợp, ý tôi anh nghe là hiểu ngay; rồi anh buông một câu giản đơn nhưng ý vị thâm trầm: "Trước đây tôi cứ ngỡ bên ngoài là của người khác, sau này không nghĩ như vậy nữa." Tôi không tiện gặng hỏi tiến trình cụ thể ra sao, nhưng có một điều dám khẳng định: chính sự tương tác tích cực lâu dài giữa tâm hồn và ngoại biểu đã nhào nặn nên một hình tượng trong ngoài đều hài hòa đến nhường ấy.
Kinh nghiệm của người bạn này liệu có thể mang lại gợi mở nào đó cho những người khác hay không? Chúng ta biết rằng có rất nhiều người trẻ thông minh và giàu hoài bão luôn suy ngẫm về những câu hỏi như "bản chất con người", "ý nghĩa của sự tồn tại"... Động cơ tiềm ẩn của họ có thể là hy vọng nghĩ thông suốt những điều đó trong chớp mắt, từ đó khiến nhân cách của mình được thay đổi và hoàn thiện một cách "đột ngột". Sự đột ngột này đương nhiên là không tồn tại. Trên thực tế, suy ngẫm trừu tượng về những câu hỏi đó căn bản chẳng có ý nghĩa gì, trừ phi bạn là triết gia hay nhà lý luận kiếm cơm bằng việc nghĩ ngợi những điều ấy.
Toàn bộ ý nghĩa của việc sống trên đời đều cần phải được biểu đạt thông qua những sự vật hoặc sự việc cụ thể. Chẳng hạn thái độ của chúng ta đối với kiểu tóc, trang phục, xét từ tầng diện tâm lý sâu hơn, chính là thái độ được biểu đạt sau khi chúng ta đã suy ngẫm và phán đoán về câu hỏi: "Tôi là một người như thế nào" và "Con người nên sống ra sao". Hoặc nói đơn giản hơn: diện mạo bên ngoài của một người là sự phản chiếu nội tâm của người đó, cho nên ngoại biểu có thể cho chúng ta thấy họ là người thế nào, họ hiểu về "sự sống" ra sao; đồng thời cũng có thể cho chính bản thân họ thấy họ là một con người như thế nào.
Bất kỳ sự thay đổi nào của ngoại biểu, ý nghĩa của nó tuyệt đối không chỉ dừng lại ở việc thu hút thêm sự chú ý của người khác hay tạo thêm phong cảnh trên đường phố. Cảm nhận tự ngã hoàn toàn mới mẻ mà những thay đổi này mang lại sẽ dẫn tới sự rung chuyển của toàn bộ nhân cách chúng ta. Nó vừa là kết quả của sự biến chuyển nội tâm, lại vừa là động lực thúc đẩy chúng ta ấp ủ cho một lần đổi thay to lớn tiếp theo. Chúng ta cứ thế tiến bước trên con đường trưởng thành và hướng tới sự hoàn mỹ, trên suốt chặng đường ấy sẽ luôn có niềm hỷ lạc ân cần đồng hành.
Tâm lý mạn đàm về việc học ngoại ngữ
Về tầm quan trọng của ngoại ngữ, có một câu chuyện ngụ ngôn hài hước thế này: Mấy chú chuột con ra ngoài kiếm ăn, chạm trán một con mèo; mèo đuổi chúng chạy thục mạng về hang, lại còn canh giữ trước cửa hang không chịu rời đi. Chuột mẹ biết chuyện, bèn tiến lại gần cửa hang, sủa vài tiếng "gâu gâu", lập tức dọa con mèo cắm đầu cắm cổ tháo chạy. Cuối cùng, chuột mẹ ân cần nói với lũ chuột con: "Các con thấy chưa, việc biết một môn ngoại ngữ quan trọng đến nhường nào!" Tin rằng lũ chuột con sau bài học sâu sắc nhường ấy nhất định sẽ hạ quyết tâm dùi mài ngôn ngữ của loài chó lên tới cấp 6, thậm chí cấp 8.
Có thể nói tất cả muôn loài động vật đều có ngôn ngữ của riêng mình; theo ý nghĩa này, câu chuyện chuột học tiếng chó sủa kể trên không đơn thuần chỉ là trò đùa vui. So với các loài động vật khác, ngôn ngữ của loài người đương nhiên phức tạp hơn rất nhiều. Theo Kinh Thánh, nhân loại sở dĩ có nhiều thứ tiếng khác nhau là bởi Thượng đế lo sợ con người đoàn kết quá chặt chẽ đến mức có đủ sức mạnh làm ra những chuyện mạo phạm tới Ngài; thế nên Thượng đế mới khiến mỗi nhóm người nói một thứ phương ngôn riêng biệt, cốt để hạn chế sự giao lưu giữa họ. Chúng ta chẳng cần phải tin câu chuyện này là có thật; nhưng ngôn ngữ là công cụ giao lưu, người nắm giữ nhiều thứ tiếng có thể giao tiếp tốt hơn với người khác — điểm này ước chừng chẳng ai mảy may nghi ngờ.
Tâm lý học tầng sâu cho rằng: nếu không có vấn đề rõ rệt về trí lực, việc gặp khó khăn khi học một kỹ năng nào đó rất có thể là biểu hiện của việc tiềm ý thức không muốn học giỏi; mà không muốn học giỏi lại là vì muốn né tránh sự thay đổi trong mối quan hệ nhân tế do kỹ năng ấy mang lại. Xét từ ví dụ học ngoại ngữ: học không giỏi là vì không muốn học giỏi; không muốn học giỏi là vì không muốn giao lưu tốt hơn với nhiều người hơn; mà không muốn giao lưu lại là đặc điểm nổi bật của những người có tính cách khép kín.
Đương nhiên, không phải tất cả những người kém ngoại ngữ nhìn bề ngoài đều tạo cảm giác khép kín; nhưng nếu họ tìm đến bác sĩ tâm lý trò chuyện, dưới sự trợ giúp của bác sĩ, bản thân họ cuối cùng có thể sẽ kinh ngạc nhận ra rằng: hóa ra ẩn sau vẻ ngoài cởi mở lại là một trái tim khép kín và cô độc. Chính trái tim cô độc ấy đang lẩn tránh trải nghiệm giao lưu hoàn toàn mới mẻ mà việc tinh thông một môn ngoại ngữ có thể phải đối mặt.
Chúng ta đều có ấn tượng rằng: những người có tính cách hướng ngoại thường tiến bộ nhanh hơn những người hướng nội trong việc "nói" ngoại ngữ; đó là vì tâm lý người hướng ngoại cởi mở hơn. Đầu những năm 80, khi ấy người nước ngoài đến Trung Quốc còn rất hiếm, một người bạn học có tính cách rất hướng ngoại của tôi, để rèn luyện khẩu ngữ tiếng Anh, đã chuyên ra công viên, xuống phố tìm người nước ngoài bắt chuyện. Theo lời anh ta kể, tiến bộ diễn ra vô cùng nhanh chóng: Trước hết là khắc phục được chướng ngại tâm lý khi giao tiếp với người lạ; sau đó là gạt bỏ được cảm giác ngượng ngùng xấu hổ khi nói tiếng nước ngoài ra sau đầu; cuối cùng toàn bộ sự chú ý chỉ còn tập trung vào việc làm sao phát âm cho chuẩn, sắp xếp trật tự từ cho đúng. Cho nên chúng ta có thể nói rằng: bước đầu tiên để học tốt ngoại ngữ phải là khắc phục các chướng ngại về mặt tâm lý. Phong trào "Tiếng Anh Điên Cuồng" (Crazy English) của Lý Dương từng làm mưa làm gió khắp cả nước phần lớn công việc cũng chỉ tập trung vào điểm này.
Một người bạn của tôi, một nữ trị liệu sư tâm lý vô cùng xuất sắc trong chuyên môn, nhưng tiếng Anh lại không được tốt; cho nên mỗi lần tiếp nhận sự giám sát cá nhân (individual supervision) từ các chuyên gia nước ngoài, cô đều phải tìm một phiên dịch viên — điều này đương nhiên chẳng phải là chuyện gì dễ chịu. Cái gọi là làm giám sát cá nhân chính là việc nhà trị liệu tâm lý tự đóng vai trò là "bệnh nhân" để tiếp nhận "trị liệu" từ một nhà trị liệu khác; đây là một phần trong khóa huấn luyện chuyên môn bắt buộc mà mỗi nhà trị liệu tâm lý đều phải trải qua.
Trong các buổi giám sát cá nhân của người bạn này, người phiên dịch là một sự hiện hữu khổng lồ: cần người dịch đồng nghĩa với việc ngoại ngữ của cô không tốt; mà học không giỏi hoặc không muốn học một thứ gì đó lại có thể do một vấn đề tâm lý nào đó gây ra; thế nên bản thân việc giám sát cần nương nhờ phiên dịch lại trở thành một nội dung có thể đem ra mổ xẻ bàn luận sâu sắc, hay nói cách khác là một cửa thoát để đạt được hiệu quả giám sát tốt.
Sau rất nhiều buổi giám sát, người thầy của cô đã đưa ra một lời giải thích về trở ngại học ngoại ngữ của cô: "Cha của cô là một giáo sư Trung văn nổi tiếng; cô không dành đủ thời gian học ngoại ngữ, hoặc cô đã bỏ ra rất nhiều thời gian nhưng vẫn không học giỏi, liệu có phải là do trong tiềm thức cô cho rằng việc học quá giỏi ngoại ngữ chính là một sự công kích nhắm vào người cha của mình hay không?" Sau vài lần thảo luận, cô dần dần đón nhận lời giải thích này. Về sau, trình độ ngoại ngữ của cô cũng thăng tiến với một tốc độ chưa từng thấy.
Đối với những người không làm trong ngành tâm lý trị liệu, lời giải thích như vậy chắc chắn sẽ có phần hoang đường. Có lẽ một ví dụ khác có thể giúp chúng ta thấu hiểu hơn: Một thân chủ lớn lên ở thị trấn nhỏ kể với tôi rằng anh sống ở thành phố Vũ Hán gần hai mươi năm nhưng không học nói tiếng Vũ Hán, cũng chẳng muốn nói tiếng phổ thông, đi đâu cũng chỉ nói rặt một giọng quê nhà. Tôi hỏi nguyên do là gì, anh tự phân tích: chắc chắn không phải do trí lực, bởi việc lấy bằng tiến sĩ kỹ thuật đối với anh cũng chẳng mấy vất vả; anh cảm thấy có thể là vì ở quê anh, người ta sẽ hữu thức hoặc vô thức cho rằng một kẻ bước chân ra khỏi mảnh đất này mà lại nói tiếng thành phố hay tiếng phổ thông thì chính là vong bản, là "sùng bái ngoại lai", là coi thường bà con lối xóm. Có lẽ sâu thẳm trong lòng anh tương đối đồng nhất với những cách nghĩ ấy, nên nó đã biến thành chướng ngại cho việc học một phương ngôn khác. Trong việc học tiếng Anh, khả năng đọc, viết, thậm chí nghe của anh đều không có vấn đề gì lớn, duy chỉ có việc mở miệng ra nói là vĩnh viễn không làm nổi.
Bản thân tôi vốn là dân học tiếng Anh, vậy mà lại phải sang Đức du học. Trước khi đi tôi học tiếng Đức được bốn tháng, gần như chẳng khác nào chưa học. Tiếng Đức là một thứ ngôn ngữ cực kỳ khó học, người ta thường truyền tai nhau câu nói: học giỏi tiếng Anh mất ba tháng, tiếng Pháp mất ba năm, còn tiếng Đức phải mất ba trăm năm. Lời lẽ dẫu có phần phóng đại, nhưng quả thực đã nói lên sự thật về độ khó của tiếng Đức. Sang Đức rồi cảm giác là người Đức nói năng căn bản chẳng giống tiếng Đức trong sách vở; đặc biệt là khi nghe các cuộc thảo luận chuyên ngành, tôi hoàn toàn chẳng hiểu nổi một câu.
Một lần sau khi trò chuyện với một vị giáo sư, ông đã hết lời khen ngợi tôi; ông bảo ông vô cùng khâm phục dũng khí của tôi, tiếng Đức tệ đến mức ấy mà cũng dám mò sang Đức. Lời khen ngợi khiến tôi dở khóc dở cười. Có lẽ để không phải nhận thêm những lời "khen ngợi" như thế nữa, tôi bắt đầu điên cuồng học tập, mỗi ngày học trên bảy tiếng đồng hồ; khiến độ cận của cặp kính vốn mười năm không tăng số, chỉ trong vòng nửa năm đã tăng vọt lên tròn một trăm độ.
Hiệu quả học tập thế nào thì khó lòng đánh giá, nhưng dẫu sao sau này tôi cũng từng làm phiên dịch tiếng Đức suốt hơn hai mươi ngày cho một đoàn đại biểu cấp thị trưởng sang thăm Đức, hình như chưa từng vì vấn đề dịch thuật của tôi mà làm ảnh hưởng tới mối quan hệ Trung - Đức. Cho nên sau này nhiều người hỏi tôi làm sao học tốt một môn ngoại ngữ, tôi đều bảo: phương pháp ngốc nghếch nhất cũng chính là phương pháp thông minh nhất — cứ lấy thời gian mà đắp vào; trí lực bình thường như tôi mà chỉ nửa năm đã cơ bản vượt qua cửa ải, huống chi là người thông minh như bạn?
Lại có một ví dụ khác liên quan tới việc học ngoại ngữ: Báo chí đưa tin, các trường tiểu học và trung học trên toàn quốc có tới 50 triệu học sinh yếu kém. Chúng tôi đương nhiên kiên quyết phản đối việc chụp lên đầu những học sinh học chưa tốt chiếc mũ "học sinh kém", bởi làm như vậy chẳng những không giúp các em tiến bộ trong học tập mà còn gây ra những vết thương vĩnh viễn cho tâm hồn các em. Thế nhưng, việc nhiều học sinh gặp khó khăn trong học tập lại là một sự thật không thể chối cãi. Có thể khẳng định chắc nịch rằng tuyệt đại đa số các em không phải do vấn đề trí lực dẫn tới thành tích kém, mà là do các nhân tố phi trí lực: như áp lực tâm lý quá nặng nề, xung đột trong các mối quan hệ nhân tế, phương pháp giáo dục sai lầm của giáo viên... Điều này có cơ sở tâm lý tương đồng đến kỳ lạ với những khó khăn trong việc học ngoại ngữ khi trưởng thành.
Nói một cách đơn giản: Bạn học một thứ gì đó có giỏi hay không, mấu chốt nằm ở chỗ mối quan hệ giữa bạn với thứ đó ra sao, hay nói cách khác là bạn có yêu thích nó hay không. Bạn càng yêu thích nó, bạn càng có khả năng học giỏi nó. Một ngôi sao bóng đá khi trả lời câu hỏi làm sao để đá bóng giỏi đã nói thế này: "Hãy ôm quả bóng mà ngủ". Câu nói ấy lột tả mức độ say mê của anh đối với trái bóng tròn. Nếu một người có mối "quan hệ" với tiếng Anh tốt đẹp đến mức có thể ôm nó "đi ngủ", thì muốn học không giỏi e rằng cũng khó.
Rất nhiều người tìm lý do cho việc ngoại ngữ kém của mình là: "Tôi không có thiên phú ngôn ngữ." Đây rõ ràng chỉ là một cái cớ. Muốn học tiếng Anh giỏi đến mức khiến người Anh, người Mỹ cũng phải cảm thấy tự ty, thì đương nhiên cần phải có chút thiên phú ngôn ngữ. Chẳng hạn như thiên tài ngôn ngữ Triệu Nguyên Nhậm — giáo sư Đại học Bắc Kinh: ông có thể chỉ mất một tuần lễ để học bất kỳ một phương ngôn tiếng Trung nào, nói chuẩn đến mức những người bản xứ nói thứ tiếng ấy coi ông như đồng hương; ông chưa từng đặt chân tới Frankfurt (Đức), nhưng có thể nói tiếng địa phương Frankfurt hoàn hảo đến mức người dân nơi đó đinh ninh ông sinh ra và lớn lên tại đó. Thiên phú nhường ấy đối với người bình thường đương nhiên là điều không thể với tới.
Thế nhưng, chỉ để nắm bắt ở mức độ thông thường như đọc, nói, nghe, viết — chẳng hạn như đọc vài tờ báo lá cải, đàm đạo dăm ba vấn đề triết học nông cạn, nghe ngóng tin tức thời sự quan trọng, viết vài lá công văn hay thư tình, hoặc thi đỗ cấp 6 tiếng Anh — thì căn bản chẳng cần đến thứ thiên phú ghê gớm nào cả. Chỉ cần bạn nắm được ba nghìn từ vựng tiếng mẹ đẻ, bạn đã sở hữu "thiên phú" để nắm vững ba nghìn từ vựng ngoại ngữ rồi; chỉ cần bạn không phải người câm, thì thiên phú để nói lưu loát một môn ngoại ngữ từ lâu đã nằm sẵn trong con người bạn.
Tâm lý học tầng sâu còn cho rằng: Ngôn ngữ có cấu trúc tương đồng với cấu trúc tâm lý sâu kín nhất của chúng ta. Thông qua ngôn ngữ, chúng ta có thể hiểu rõ nhất rốt cuộc một người là người như thế nào. Chẳng hạn một người gặp khó khăn trong việc học ngoại ngữ, ngoài điểm chúng tôi đã đề cập ở trên là họ có thể là một người tương đối khép kín, chúng ta còn có thể phỏng đoán: người đó rất có thể còn mang khuynh hướng tự luyến (ái kỷ).
Tự luyến chính là yêu lấy chính mình, yêu mọi thứ thuộc về mình bất kể nó tốt hay xấu. Thành ngữ "Tệ trửu tự trân" (Chổi rách tự quý — cái chổi dẫu rách nát nhưng là của mình thì vẫn coi như báu vật) đã phản ánh rất rõ trạng thái tâm lý của người có khuynh hướng tự luyến. Đem chiếu vào việc học ngoại ngữ, tiếng nói nội tâm có thể sẽ là: "Thứ tiếng tôi đang nói là ngôn ngữ có nhiều người sử dụng nhất trên thế giới, tôi chẳng việc gì phải học thứ tiếng khác; ngoại ngữ kém là một phần trong toàn bộ con người tôi, học giỏi nó tức là làm thay đổi bản thân tôi, mà tôi thì không muốn thay đổi chính mình, bởi vì tôi là tuyệt vời nhất." Những ý nghĩ này trong đa số hoàn cảnh chúng ta chưa hẳn đã ý thức được; nó ẩn sâu nơi đáy lòng, lặng lẽ không một tiếng động nhưng lại phát huy tác dụng vô cùng to lớn.
Học bất kỳ một kỹ năng nào, và học cho thật giỏi nó, ý nghĩa tuyệt đối không chỉ giới hạn ở việc nắm giữ một ngón nghề đơn thuần. Trải nghiệm sống hoàn toàn mới mẻ mà kỹ năng ấy mang lại đã dẫn tới sự rung chuyển của toàn bộ nhân cách chúng ta. Nó vừa là kết quả hữu ích sinh ra từ việc chúng ta thay đổi và siêu việt bản thân, lại vừa là nguồn động lực khổng lồ để chúng ta ấp ủ cho lần đổi thay tiếp theo. Chúng ta cứ thế tiến bước trên con đường trưởng thành, trên chặng đường ấy sẽ có biết bao gian nan vất vả, nhưng cũng sẽ có nhiều hơn những niềm hỷ lạc của sự thành công.
Toan tính vì tự do
Một lần, tôi đến một thành phố khác để bái phỏng một người bạn hơn tôi vài tuổi. Trong nhóm bạn bè, anh có thể coi là người đức cao vọng trọng; ai nấy đều rất yêu quý anh, rất muốn giao thiệp cùng anh. Vài người bạn từng ngồi lại bàn tán với nhau, đều cảm thấy đặc điểm lớn nhất ở anh là sự siêu nhiên đạm định về mặt tinh thần, sở hữu một tâm hồn tự do mà người bình thường hiếm ai có được; ở bên cạnh anh, dẫu là kẻ mang đậm tính thần kinh chất đến đâu cũng sẽ được cảm nhiễm chút tĩnh khí an lành.
Tôi ở lại nhà anh vài ngày. Mỗi ngày sau bữa cơm tối đều ngồi trong thư phòng của anh uống trà trò chuyện. Nội dung đàm đạo trên trời dưới biển, không gì không bao quát. Đôi khi hai người hồi lâu chẳng nói với nhau câu nào, tôi cứ thế ngồi ngắm anh từ tốn châm nước vào ấm, rót trà vào chén, mà chẳng hề thấy tẻ nhạt chút nào.
Tôi hỏi anh: "Cái phong thái sảng khoái tiêu sái toát ra từ tận xương tủy của anh rốt cuộc được tôi luyện ra sao vậy?" Anh nhìn tôi một cái, trầm mặc hồi lâu, rồi đứng dậy bảo: "Tôi cho cậu xem một thứ."
Anh bước tới góc dưới cùng của tủ sách, rút từ chiếc hộp đựng tài liệu ra một tờ giấy đưa cho tôi. Đó là một tờ giấy in A4 viết kín đặc chữ. Do thời gian đã quá lâu nên màu giấy đã ố vàng thấy rõ. Anh kể với tôi rằng đây là những điều anh viết ra vào đúng ngày sinh nhật tuổi 24 của mình. Tôi biết lúc đó anh đang học thạc sĩ tại một trường đại học. Tôi chăm chú đọc từng dòng:
Trong phòng ký túc xá có hai người không mua phích nước nóng, dùng hết nước trong phích của tôi mà lại không chịu đi lấy nước. Tôi quyết định sẽ dùng chung phích nước với họ trong hai năm, lại còn đi lấy nước sôi giúp họ suốt hai năm trời. Nếu nước hết mà không có nước uống, tôi sẽ uống nước máy; không có nước nóng để rửa ráy, tôi sẽ dùng nước lạnh. Tôi không muốn biến mình thành giám thị giám sát hành vi của họ, càng không muốn chuốc lấy bực mình chỉ vì họ sống xuề xòa luộm thuộm.
Mua những món đồ lặt vặt, mua mớ rau, tuyệt đối không mặc cả. Bình quân một ngày chịu thiệt 3 hào, một năm thiệt khoảng 100 tệ, khoản thiệt thòi này tôi vui vẻ chấp nhận.
Mua quần áo, không mặc cả thì thiệt thòi quá lớn, không được. Rủ bạn gái đi mua cùng, việc mặc cả đối với cô ấy là niềm vui, đối với tôi thì không.
Đi xe buýt công cộng, tuyệt đối không tranh giành chỗ ngồi; chỉ cần còn một người đang đứng, ghế trống dẫu có ở ngay sát bên cạnh tôi cũng không ngồi.
Người khác tìm đến mình mượn đồ, thứ gì có thể cho mượn được thì cố gắng hết sức cho mượn.
Bình luận