top of page

Tâm trí và cõi giới (Loạt bài giảng về nhân văn Trung Quốc) (Shen Heyong)

9 giờ trước
125 phút đọc

Bài giảng 1: Tâm và Tâm lý học: Ý nghĩa của Tâm lý học Văn hóa Trung Quốc


Cảm ơn lời giới thiệu của ngài Viện trưởng. Tôi rất vinh dự được đến Đại học Nebraska với tư cách là một học giả Fulbright để thuyết trình về chủ đề “Tâm lý học Văn hóa Trung Quốc”.


(Lúc này, một học giả người Mỹ trong hàng ghế khán giả giơ tay đứng dậy, đặt ra câu hỏi: “Trung Quốc các ông có tâm lý học không? Chúng ta đều biết tâm lý học được thiết lập bởi Wundt người Đức. Đó chính là tâm lý học của chúng tôi. Trước đó, Trung Quốc các ông có tâm lý học không? Ông nói ông muốn giảng về tâm lý học văn hóa Trung Quốc, vậy tâm lý học của các ông có điểm gì khác so với tâm lý học của chúng tôi không?”


Mọi người đều sững sờ trong giây lát. Người dẫn chương trình dường như định đứng dậy can thiệp, nhưng tôi vẫn là người phản hồi đầu tiên. Tôi bình tĩnh đáp: “Liệu trong văn hóa Trung Quốc của chúng tôi có tâm lý học hay không, và tâm lý học ấy có điểm gì khác biệt so với tâm lý học của các vị hay không, đó chính là điều tôi muốn nhân cơ hội này truyền tải đến mọi người; phải đợi sau khi bài diễn thuyết kết thúc mới có câu trả lời. Nhưng nếu cần một lời đáp ngay lúc này, tôi có thể nói rằng: Sự phát triển của tâm lý học phương Tây do Wundt sáng lập, bao gồm cả tâm lý học nhận thức đương đại, có thể gọi là một thứ tâm lý học của phần đầu hay bộ não; còn tâm lý học trong văn hóa Trung Quốc chúng tôi lại là tâm lý học về tâm – psychology of the heart.” Khi nhắc đến từ “chúng tôi” và “các vị”, giọng điệu của tôi cũng hơi nhấn mạnh một chút, có lẽ là phản xạ tự nhiên trước sự “thách thức” từ người đặt câu hỏi.


Nghe câu trả lời của tôi, người đặt câu hỏi lặng lẽ ngồi xuống.


Khi bài giảng của tôi kết thúc, vị học giả ấy đã đến mời tôi dùng bữa tối… Kể từ đó, chúng tôi trở thành những người bạn rất thân thiết. Ông tên là Gordon Becker, giáo sư đầu tiên tại Mỹ mở khóa giảng dạy về “Tâm lý học phương Đông”.)


Cảm ơn câu hỏi vừa rồi của vị giáo sư, một câu hỏi nghiêm túc và đầy tính gợi mở: Trung Quốc các ông có tâm lý học không?


Mọi người cũng đã nghe câu trả lời của tôi, đó là một lời khẳng định chắc chắn. Tâm lý học Trung Quốc chúng tôi lấy tâm làm gốc. Thứ tâm lý học lấy tâm làm gốc này là một cảnh giới, đòi hỏi chúng ta phải dùng tâm để thấu hiểu.


Mượn một câu nói của Blaise Pascal: “Trái tim có những lý lẽ riêng mà lý trí chẳng thể nào hiểu được.”


Hơn mười năm trước, khi bắt đầu theo học ngành tâm lý học với tư cách là một học viên cao học, vấn đề đầu tiên tôi gặp phải chính là: Vì sao lại dịch từ “psychology” của phương Tây sang tiếng Trung thành “Tâm lý học” (心理學)?


Ba chữ “Tâm lý học” trong tiếng Trung: chữ thứ nhất là “Tâm” (心), chữ thứ hai là “Lý” (理), chữ thứ ba là “Học” (學); và “từ căn” chính là “Tâm” (the heart).


Tâm, là bản tính của con người. Kinh điển y học Trung Quốc gọi tâm là gốc rễ của sự sống, cội nguồn của sự biến hóa tinh thần (“Tâm giả, sinh chi bản, thần chi biến dã” – Hoàng Đế Nội Kinh · Tố Vấn · Linh Lan Bí Điển Luận). Cổ nhân cho rằng những gì chứa đựng trong tâm chính là linh tính hư linh bất muội do trời ban cho. Vì vậy, các bậc triết nhân thời xưa đã coi tâm là ngôi nhà của trí tuệ, cội nguồn của linh tính, cho rằng “tổng bao vạn lự vị chi tâm” (bao trùm muôn ngàn suy nghĩ gọi là tâm). Đồng thời, tâm cũng có nghĩa là tâm linh; tâm linh mang tính siêu việt hoặc công năng siêu việt. Tâm của chúng ta không chỉ thuộc về phạm trù cá nhân, mà còn được ví như bản nguyên của Đạo hoặc tâm của trời đất. Mười sáu chữ tâm truyền bắt nguồn từ thời Nghiêu, Thuấn, Vũ có câu: “Nhân tâm duy nguy” (lòng người hiểm nghèo), và “Đạo tâm duy vi” (lòng đạo tinh vi, vi diệu). Các bậc học giả truyền thống luôn khắc ghi chí hướng “kế tuyệt học”, muốn “vì trời đất mà lập tâm”.


Lý, là hiểu rõ cái tâm (lý tâm). Cuốn Thuyết văn giải tự (說文解字) chú giải chữ “Lý” (理) là “trị ngọc giả dã” (người đẽo gọt, mài dũa ngọc). Trong văn hóa Trung Quốc, “ngọc” hàm chứa năm đặc tính: “Nhuận trạch dĩ ôn, nhân chi phương dã; lý tự ngoại, khả dĩ tri trung, nghĩa chi phương dã; kỳ thanh thư dương, chuyên dĩ viễn văn, trí chi phương dã; bất nhiêu nhi chiết, dũng chi phương dã; nhuệ liêm nhi bất kỹ, khiết chi phương dã” (Mịn màng mà ôn hòa, là biểu hiện của Nhân; vân ngọc từ ngoài có thể thấy rõ bên trong, là biểu hiện của Nghĩa; tiếng ngọc ngân vang truyền xa, là biểu hiện của Trí; không uốn cong mà thà gãy, là biểu hiện của Dũng; góc cạnh sắc nét mà không gây hại, là biểu hiện của Khiết). Rõ ràng, đây là mượn “ngọc” để nói về “lý”, mượn “ngọc” để nói về “tâm”; nhân, nghĩa, trí, dũng, khiết chính là tâm tính, là nhân cách. Đẽo ngọc (trị ngọc - 治玉), cũng đồng âm với chữa lành (trị dũ - 治愈). Người xưa nói: bậc y giả thượng thừa trị bệnh từ lúc chưa phát. Do đó, chúng tôi có “Lý học” (理學). Trong Lý học hàm chứa một hệ thống tâm lý học vô cùng sâu sắc.


Học, là học nơi tâm (học tâm). Trong truyền thống Đạo gia có thuyết “sư tâm bất sư thánh” (lấy tâm làm thầy chứ không lấy thánh hiền làm thầy), coi chính “tâm” của mình là người thầy, chứ không chỉ coi thánh hiền là thầy. Thánh hiền là bên ngoài, còn tâm mình là bên trong. Đây là tư tưởng của Quan Doãn Tử – người năm xưa đã giữ Lão Tử lại để lưu truyền cho chúng ta năm nghìn chữ trong cuốn Đạo Đức Kinh. Chữ “Học” (學) vốn hàm chứa hình tượng liên quan đến Kinh Dịch: phía trên là hai bàn tay cầm các hào (爻), phía dưới là người học được che chở. Khổng Tử nói: “Khiết tịnh tinh vi, Dịch chi giáo dã” (Trong sáng, thanh khiết và tinh vi, sâu sắc là sự giáo hóa của Kinh Dịch). Kinh Dịch · Hệ Từ chép: “Thánh nhân dĩ thử tẩy tâm” (Bậc thánh nhân dùng điều này để gột rửa tâm). Đó chính là cái tâm trong việc học. Vì thế, chúng tôi có truyền thống “Tâm học” (心學). Tâm học vốn dĩ chính là một hệ thống tâm lý học sâu sắc.


Vì vậy, đối với tôi, văn hóa Trung Quốc là một nền văn hóa tràn ngập ý nghĩa tâm lý học.


Tuy nhiên, tôi vẫn phải đối mặt với một mối hoài nghi hoặc băn khoăn: Liệu “tâm” có liên quan gì đến tâm lý học (psychology) của chúng ta hay không?


Xét theo hệ tri thức của tâm lý học phương Tây, rõ ràng không có quá nhiều liên hệ. Nhưng đối với tâm lý học văn hóa Trung Quốc, điều này lại tối quan trọng, chính là then chốt của vấn đề. Có thể nói rằng, nếu không hiểu được “tâm” và nội hàm của nó, bạn sẽ không thể thực sự hiểu được “tâm lý học” trong bối cảnh văn hóa Trung Quốc. Không hiểu được tâm lý học trong văn hóa Trung Quốc thì cũng không thể hiểu sâu sắc về nền văn hóa Trung Quốc.


Vào cuối tuần trước, tôi cùng vài người bạn đến tham quan triển lãm tác phẩm của Auguste Rodin tại Bảo tàng Thành phố Omaha. Trong số đó, tác phẩm thu hút nhất chính là bức tượng “Người suy tư” (The Thinker) nổi tiếng. Tôi đứng trước bức tượng rất lâu, mãi đến khi những người bạn gọi từ đằng xa mới bừng tỉnh. Sau đó, tôi vội vàng ghi lại mấy dòng chữ mà Rodin đã khắc trên bệ bức tượng sau khi hoàn thành kiệt tác để đời này.


Rodin gọi tác phẩm là “Người suy tư của tôi”. Ông viết: “Người suy tư của tôi tư duy bằng cái gì? Người suy tư của tôi không tư duy bằng vầng trán nhô cao, cũng không phải bằng bờ môi, càng không phải bằng nắm đấm đang tì vào khóe miệng… Người suy tư của tôi tư duy bằng toàn bộ cơ thể, bằng từng thớ cơ bắp trên toàn thân mình…” Lúc đọc những dòng ấy, lòng tôi vô cùng xúc động. Tôi thầm nghĩ với lòng biết ơn khôn xiết: nếu ngài Rodin dưới suối vàng có hay, thì theo cách nói của người Trung Quốc chúng tôi, người suy tư ấy cũng đang tư duy bằng chính “tâm” của mình.


Tư duy bằng tâm – không biết ở phương Tây nghe có vẻ kỳ lạ hay không, nhưng ở Trung Quốc, điều đó lại hết sức tự nhiên. Đây không chỉ là việc miêu tả lối “tư duy hình tượng”, mà còn hàm chứa và gợi mở một cảnh giới tư duy tràn đầy ý nghĩa tâm linh.


Đây là chữ “Tư” (思) của Trung Quốc, có thể biểu đạt các khái niệm “tư tưởng”, “tư duy” và “suy nghĩ” trong tiếng Anh. Chữ này đã xuất hiện từ văn tự giáp cốt, có lịch sử ít nhất hơn ba nghìn năm.


Một văn tự tượng hình như thế muốn biểu đạt điều gì?


Hình tượng chữ “Tư” (思) mà mọi người nhìn thấy: phía trên là “đầu” (thóp đầu - tín môn: 囟), phía dưới là “tâm” (心). Theo giải thích trong Thuyết văn giải tự – bộ sách do Hứa Thận thời Đông Hán (khoảng năm 58–148) biên soạn, một trong những bộ từ điển có thẩm quyền sớm nhất của Trung Quốc: chữ “Tư” (思) vừa bao hàm cả đầu, vừa dung nạp cả tâm: “Tòng tâm (心), tín (囟) thanh… Tự tín chí tâm, như ty tương quán bất tuyệt…” (theo bộ tâm, lấy âm từ tín… từ thóp đầu đến tim, liên kết không dứt tựa như sợi tơ). Về mặt phát âm, “tâm” (xīn) và “tín” (xìn) rất gần nhau. Rõ ràng, trong văn hóa Trung Quốc, người xưa vốn cho rằng khi suy nghĩ, chúng ta vừa cần đến đầu, vừa cần đến tâm. Quan trọng hơn cả là khi chúng ta thực sự suy tư, chúng ta cần cả đầu lẫn tâm đồng thời tác động. Và sự “đồng thời” này cũng hàm chứa một cơ chế siêu việt, hay còn gọi là “Trung dung chi đạo” hoặc “Trung hòa chi đạo”; khi nắm bắt được cả hai cực cùng một lúc, một tầng ý nghĩa tích hợp mới mẻ sẽ tự nhiên hiển lộ.


Vì vậy, ở thời cổ đại, trong sinh mệnh văn hóa truyền thống của chúng tôi, cổ nhân không chỉ đơn thuần cho rằng việc suy nghĩ do tâm đảm nhiệm, mà cho rằng “suy nghĩ” hay “tư tưởng” đòi hỏi sự tác động đồng thời của cả đầu và tâm. Chúng ta có thể gọi đó là “cái tâm tư duy” hoặc “sự tư duy của tâm”, nhằm làm nổi bật vai trò của “tâm” vốn dĩ đã bị xem nhẹ, đặc biệt là ý nghĩa nguyên mẫu và biểu tượng của nó. Nếu ví đầu như lý tính, thì trong tâm ắt có tình cảm; nếu ví lý tính như ý thức, thì trong tâm chứa đựng vô thức. Đúng như lời giải thích khi chú giải chữ “Tư” trong Lục thư tổng yếu: “(Tư) niệm dã, lự dã, dịch lý vi tư, hựu nguyện dã” (Tư là nhớ, là nghĩ ngợi, thông suốt đạo lý gọi là tư, lại cũng là mong muốn, nguyện ước); “Dĩ ý chi sở tư tất tình chi sở nguyện” (những gì ý nghĩ suy tới ắt là điều tình cảm mong muốn). Mà những từ ngữ then chốt của tâm lý học như: ý (意), tư (思), tình (情), nguyện (願), trong kết cấu chữ Hán đều lấy “tâm” (心) làm gốc.


Không chỉ có vậy, trong chữ Hán, hầu hết các từ ngữ liên quan đến tâm lý học phương Tây đương đại về cơ bản đều được cấu tạo từ chữ “Tâm”. Ví dụ: tư tưởng (思想), ý chí (意志), tình cảm (情感), ái (愛), hận (恨), tình (情), sầu (愁), từ bi (慈悲), trung thứ (忠恕)… Trong cuốn Nhĩ Nhã thời đầu nhà Hán có hơn một trăm điều chú giải về các chữ Hán mang nghĩa phù của tâm; trong Thuyết văn giải tự của Hứa Thận, số chữ Hán thuộc bộ Tâm có hơn 270 chữ; còn trong Khang Hy tự điển thời nhà Thanh, các chữ thuộc bộ Tâm đã lên tới hơn 1.170 chữ.


Mỗi chữ Hán thuộc bộ Tâm đều hàm chứa những hình tượng nguyên mẫu đặc biệt của tâm lý học văn hóa Trung Quốc. Ví dụ: “Nhẫn” (忍), tự hình là một lưỡi dao đặt ngay trên quả tim, hình tượng về sự kiên nhẫn, nhẫn nhịn hiện lên rõ nét; “Thảm thắc” (忐忑 - bồn chồn, lo âu), hình tượng là chữ “thượng” (上) và “hạ” (下) kết hợp với tâm, gợi tả trạng thái tâm thần bất an, thắc thỏm không yên; “Sầu” (愁), hình tượng là chữ “thu” (秋) đặt trên chữ “tâm” (心) – mùa thu đến, vạn vật tiêu điều, tiêu tán, ý cảnh sầu muộn lập tức sinh ra. Chữ “Thu” (秋) trong văn tự giáp cốt nguyên bản là hình tượng của loài côn trùng như dế mèn. Dế là loài côn trùng mùa thu, chỉ sống trong mùa thu, tiếng kêu thê lương (tiểu tiểu nhiên), khi thu qua thì thân xác cũng tàn. Cao Thụ Phiên trong cuốn Trung văn hình âm nghĩa đại tự điển đã đúc kết: “Cổ nhân tạo chữ ‘Thu’, dùng văn để tượng hình, dùng thanh để bắt chước âm thanh, rồi mượn đó để đặt tên cho mùa mà loài côn trùng ấy cất tiếng kêu là thu.” Vì thế, ý nghĩa nguyên mẫu chứa đựng trong chữ “Thu” mang thông điệp về sự suy tàn và tiến về cái chết của sinh mệnh, hàm chứa cảnh giới thê lương và bi ai. Diệp Thư Hiến trong cuốn sách Triết học thần thoại Trung Quốc khi bàn về thần thoại mùa thu đã tổng kết: “Nếu nói nguyên mẫu chính là ‘hình tượng tự nhiên mang ý nghĩa nhân loại’, thì hình tượng tự nhiên liên quan đến mùa thu chính là một nguyên mẫu mang ý nghĩa nhân loại như thế.” Người xưa cũng miêu tả mùa thu như vậy: “Bi tai! Thu chi vi khí dã. Tiêu sái hề, thảo mộc dao lạc nhi biến suy” (Buồn thay! Khí tiết của mùa thu. Gió heo may hiu hắt chừ, cây cỏ rụng rơi biến đổi mà tàn tạ). Thấu hiểu được ý nghĩa nguyên mẫu này của chữ “Thu”, chúng ta sẽ càng hiểu sâu sắc hơn nội hàm của chữ “Sầu” (愁). Dùng cảnh sắc thiên nhiên mùa thu để diễn tả tâm trạng thương cảm, thê lương, cảm xúc bi ai và thất ý đã đúc kết nên một truyền thống biểu đạt lâu đời, từ đó ta cũng thấy được tác dụng và tầm ảnh hưởng sâu rộng của “nguyên mẫu”.


Trên thực tế, rất nhiều chữ Hán đều có thể truy nguyên về nguồn gốc, tức là truy tìm về một dạng tượng hình hoặc hội ý căn bản, tìm về sự biểu đạt hình tượng nguyên thủy, hoặc truy tìm ý nghĩa nguyên mẫu hàm chứa bên trong. Mỗi chữ Hán đều được tạo ra thông qua sự sáng tạo, mà sự sáng tạo ấy chủ yếu mang tính tâm lý và tinh thần; vạn tượng đất trời mà chữ Hán bao hàm luôn lấy con người làm điểm tựa để quan sát, chứa đựng sự khái quát và lý giải của con người đối với sự vật, đong đầy những ý nghĩa nguyên mẫu tâm lý phong phú.


Hầu hết các phạm trù cơ bản trong tâm lý học phương Tây như tri giác, tư duy, tình cảm, thái độ, tính cách, ý chí… các chữ Hán và từ vựng thuộc bộ Tâm đều bao quát hết. Điều đặc biệt đáng quý là các chữ Hán thuộc bộ Tâm vừa phản ánh được ý nghĩa tâm lý học hiện đại, vừa hàm chứa một nền tâm lý học văn hóa, chứa đựng sự nhận thức và lý giải của người Trung Quốc và văn hóa Trung Quốc đối với tâm lý, thậm chí là tâm linh của con người. Nhiều năm trước, tôi từng viết một bài báo đúc kết về tính tích hợp đặc thù của chữ “Tâm” như sau: “…Không có tâm thì sẽ chẳng có ‘tình’, không có tâm thì cũng chẳng sinh ra ‘hận’; tư, lự, ân, oán, kinh, khủng, ngộ, hối đều bắt nguồn từ tâm; có tâm mới có thể biểu đạt ý chí, tình cảm, thái độ, tính tình. Trên thực tế, bản thân điều này đã hàm chứa một nền tâm lý học, một kiệt tác của văn hóa truyền thống, một trí tuệ thiên bẩm độc đáo.”


Bên cạnh việc đóng vai trò là một bộ thủ, “Tâm” còn có một ý nghĩa và tác dụng mang tính nguyên mẫu khác: đó là chức năng cấu tạo từ. Ví dụ: từ chữ “tâm” có thể tạo ra rất nhiều từ ngữ như tâm lý, tâm ý, tâm tình, tâm thái, tâm tư, tâm linh, tâm thần, tâm tính…, cũng như lương tâm, thiện tâm, tham tâm, khi tâm… Hiện tượng cấu tạo từ này trong chữ Hán được chúng tôi gọi là “cấu tạo từ nguyên mẫu”, đó là một biểu hiện đặc biệt của ý nghĩa nguyên mẫu trong chữ Hán. Tương tự như ý nghĩa nguyên mẫu của bộ thủ, trong sự cấu tạo và ghép từ mang tính nguyên mẫu này cũng hàm chứa ý nghĩa và tác dụng phong phú của tâm lý học nguyên mẫu.


Theo lý thuyết của tâm lý học phát triển đương đại, sự phát triển của con người cần có một sự tích hợp. Đặc biệt, dưới góc nhìn của lý thuyết phân tích tâm lý, sự phát triển mang tính tích hợp này là điều kiện tất yếu để tâm lý con người phát triển và hoàn thiện lành mạnh. Bởi vì con người cần tích hợp giữa ý thức và vô thức, cần kết hợp giữa cái tôi ý thức (ego) và tự tính vô thức (Self). Cội nguồn của nhiều căn bệnh tâm lý, rối loạn nhân cách và hành vi chính là do tâm lý không đạt được sự phát triển mang tính tích hợp này, từ đó dẫn đến phân liệt tâm lý, phân liệt nhân cách, thậm chí là tâm thần phân liệt.


Trong quá trình nghiên cứu về “Tâm lý học trong chữ Hán”, tôi từng hết lời ca ngợi công năng và vai trò tích hợp lẫn siêu việt của chữ “Tâm”. Thứ nhất, như ví dụ đã nêu ở trên: “tư tưởng”, “ý chí”, “tình cảm”, thậm chí là “ưu sầu”, “từ bi”, “ân ái” đều lấy “tâm” làm cấu trúc cốt lõi mang tính tích hợp; do đó chúng ta đều hiểu rằng phàm là chữ Hán có bộ “Tâm” thì luôn liên quan đến “tâm” hoặc “tâm lý”. Thứ hai, chữ “Tâm” có thể tạo ra rất nhiều từ ngữ như: tâm lý, tâm ý, tâm tình, tâm thái, tâm tư, tâm linh, tâm thần, tâm tính, hay lương tâm, thiện tâm, tham tâm, khi tâm… Chúng ta có thể so sánh đôi chút cách tạo từ của “tâm” với tiếng Anh: Tiếng Anh có chữ “heart” (tim/tâm), nhưng “tâm lý” là “psychology”, “tâm ý” là “will”, “tâm thái” là “attitude”, “tâm tư” là “think” hoặc “thinking”. Trong đó hoàn toàn không có tính chỉnh thể và thống nhất trong cách cấu tạo từ như chữ “Tâm” của tiếng Hán. Tiền Mục tiên sinh, một nhà triết học Trung Quốc nổi tiếng đương đại, từng phân tích chữ “Nhân” (人) trong tiếng Hán và so sánh với tiếng Anh. Trong cách tạo từ của chữ “Nhân”, dù là nam nhân (đàn ông), nữ nhân (phụ nữ), Trung Quốc nhân (người Trung Quốc), ngoại quốc nhân (người nước ngoài), mấu chốt là tất cả họ đều là “người” (nhân); trong khi đó tiếng Anh lại khác: “đàn ông” là “man”, “phụ nữ” là “woman”, “người Trung Quốc” là “Chinese”, “người nước ngoài” là “foreigner”, không hề có sự thống nhất và tính chỉnh thể của từ “người”, tức là thiếu đi chữ “người” mang khái niệm tổng thể và tính thống nhất như trong chữ Hán. Tôi gọi hiện tượng cấu tạo từ này của chữ Hán là “cấu tạo từ nguyên mẫu”.


Tôi gắn bó với ngành phân tích tâm lý đã nhiều năm, trải qua quá trình học tập và huấn luyện chuyên nghiệp về phân tích tâm lý phương Tây, đồng thời cũng ôm ấp kỳ vọng xây dựng một hệ thống phân tích tâm lý dựa trên nền tảng tâm lý học văn hóa Trung Quốc. Thầy tôi, giáo sư Cao Giác Phu, là người có cống hiến chủ chốt trong việc dịch thuật và du nhập thuyết phân tâm học của Freud vào Trung Quốc; vào những năm 1920, ông đã dịch cuốn Nhập môn phân tâm học và Tân biên nhập môn phân tâm học của Freud. Năm 1993, lần đầu tiên tôi đến Mỹ và tiếp xúc với những người đứng đầu Hội Tâm lý học Phân tích Quốc tế là Murray Stein và Thomas Kirsch. Là một nhà tâm lý học phân tích trường phái Jung kỳ cựu, Murray Stein không ngần ngại định nghĩa mục đích của phân tích tâm lý chính là “sự phát triển tích hợp của tâm lý”. Trong sự tích hợp tâm lý này bao hàm sự tích hợp giữa ý thức và vô thức, sự tích hợp giữa bản ngã và tự tính, thậm chí là sự tích hợp giữa “xã hội hóa” và “bản tính tự nhiên”; mục đích và ý nghĩa của nó là nhằm thực hiện một nhân cách trọn vẹn, toàn vẹn thông qua tiến trình tự tính hóa. Nếu phân tích tâm lý đạt được các mục tiêu và đích đến cuối cùng của nó một cách thành công, thì trong cuộc sống của một người sẽ mở ra cơ hội: những phức cảm và cơ chế phòng vệ vốn cản trở cá nhân tiếp cận cuộc sống bằng thái độ nhiệt thành, sâu sắc và chân thành sẽ bị suy yếu; và người đó sẽ thấu cảm trọn vẹn với thực tại tâm linh cùng những hàm ý sâu xa bên trong, thiên phú của họ sẽ được nuôi dưỡng và phát triển tối đa. Theo ý nghĩa đó, tôi cũng gọi phân tích tâm lý là một cảnh giới. Sở dĩ nó thu hút tôi, có lẽ cũng chính vì nó đã tương thích và hòa nhịp với cùng một cảnh giới tâm linh vốn đã hàm chứa sẵn trong nền tâm lý học văn hóa Trung Quốc chúng tôi.


Ở trong nước chúng tôi, mọi người thường cho rằng việc dịch từ “psychology” của phương Tây thành “Tâm lý học” là do một sự “hiểu lầm”, tức là cho rằng người Trung Quốc cổ đại không biết đến vai trò của “não” hay “đầu”, nên đã dùng lầm sang chữ “tâm”. Kỳ thực không phải vậy, chỉ nhìn riêng từ chữ “Tư” (思) thôi là chúng ta đã có thể có một cách hiểu khác. Rõ ràng, người Trung Quốc cổ đại đã sớm nhận thức được vai trò của bộ não; ngược lại, chính con người hiện đại chúng ta mới cần tái nhận thức để thấu hiểu ý nghĩa và công năng của tâm. Tâm này có thể là linh tính của con người, đúng như câu nói: tâm là nơi trú ngụ của linh tính (tâm giả, linh chi xá dã). Và thứ linh tính sâu xa cùng ý nghĩa biểu tượng này chính là nội hàm cốt lõi của tâm.


Một triết gia cận đại từng nói: Người Trung Quốc chân chính là người mang tấm lòng son của đứa trẻ thơ cùng trí tuệ của người trưởng thành, và sống một cuộc đời thuộc về tâm linh.


Cội nguồn của mọi văn tự đều chứa đựng sự truyền dẫn của tâm linh; mọi hiện tượng văn tự cũng đều là hiện tượng tâm lý - văn hóa. Đúng như lời tổng kết của Ralph Waldo Emerson: vạn vật trong tự nhiên đều là biểu tượng của một sự thực tâm linh nào đó, chứa đựng sự tồn tại của văn hóa tâm lý. Đặc biệt là chữ Hán của chúng tôi, trong cách thức tượng hình, hội ý và mô phỏng hình thái, lại càng hàm chứa vai trò của tâm tính và tâm linh này.


Tâm lý học của chúng tôi không chỉ biểu hiện qua từng chữ Hán và cách ghép từ của chữ Hán, mà còn là tinh hoa của nền văn hóa và triết học Trung Quốc. Theo nghĩa này, nền tâm lý học lấy tâm làm gốc của chúng tôi bao hàm sự hiển lộ của hình tượng nguyên mẫu, là một nền “tâm lý học hiện thân” (Psychology of embodiment). Ở đây, tôi xin dùng vài chữ Hán để làm sáng tỏ nội hàm của “tâm” này, cũng như ý nghĩa trọng yếu của nó trong nền văn hóa Trung Quốc.


Trong thiên Vệ Linh Công sách Luận Ngữ của Khổng Tử có ghi lại: Tử Cống hỏi: “Có một chữ nào mà có thể trọn đời làm theo được chăng?” Khổng Tử đáp: “Đó chẳng phải là chữ ‘Thứ’ (恕) ư! Điều gì mình không muốn, đừng làm cho người khác.” Khổng Tử từng nói “Đạo của ta chỉ có một mối mà thông suốt tất cả”, điều ngài nhấn mạnh chính là chữ “Thứ” (恕) có bộ Tâm này. Tăng Tử giải thích rằng: “Đạo của phu tử chỉ có trung và thứ mà thôi.”


Chữ “Thứ” (恕) có gốc từ chữ Tâm (心), mang ý cảnh “suy lòng mình ra lòng người”, hai tấm lòng như một; mang nội hàm của sự thấu cảm (empathy) – lấy tâm mình để đo lường muôn vật, lấy mình để lượng người. Do đó, “Thứ” cũng bao hàm ý nghĩa của chữ “Nhân” (仁). Chẳng hạn như trong tiếng Hán: thứ trực là khoan dung ngay thẳng, thứ tâm là lòng nhân ái, thứ thực là trung thực thật thà, thứ đạo là con đường khoan dung nhân ái…


Chữ “Trung” (忠) cũng duy chỉ có Tâm (心), biểu đạt ý nghĩa “mình muốn đứng vững thì giúp người khác đứng vững, mình muốn thành đạt thì giúp người khác thành đạt”. Do đó, đạo trung thứ chính là đạo của Nho học; đặt mình vào hoàn cảnh người khác, suy lòng mình ra lòng người cũng là một nguyên tắc tâm lý học mộc mạc và tự nhiên. Trong trung thứ hàm chứa nội hàm văn hóa, chứa đựng ý nghĩa sâu sắc của tâm lý học văn hóa Trung Quốc. Trên thực tế, khi Mạnh Tử quy cả “Tứ đoan” của Nho học là “Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí” về nơi tâm (“Nhân nghĩa lễ trí căn vu tâm” – Nhân nghĩa lễ trí bắt rễ từ tâm), thì ông đã lấy “Tâm” để chú giải nền tảng căn bản của Nho học rồi. Mạnh Tử nói: “Tận kỳ tâm giả, tri kỳ tính dã. Tri kỳ tính, tắc tri thiên hĩ. Tồn kỳ tâm, dưỡng kỳ tính, sở dĩ sự thiên dã” (Tận hết lòng mình thì biết được bản tính của mình. Biết được bản tính thì biết được đạo trời. Giữ gìn cái tâm, nuôi dưỡng bản tính ấy, chính là cách để phụng sự đạo trời – Mạnh Tử · Tận Tâm Thượng).


Bộ kinh điển mà Lão Tử để lại cho chúng ta mang tên Đạo Đức Kinh (道德經). Đạo là khởi đầu, Đức (Đắc) là cái tâm. Đúng như Quan Doãn Tử từng nói: “Tâm ký vị manh, đạo diệc giả chi” (Khi tâm chưa nảy sinh, đạo cũng chỉ là mượn). Đạo và Đức vốn dĩ không thể tách rời. Một khi đã kết hợp lại, tựa như đầu và tâm hòa hợp thành chữ “Tư” (思), đó sẽ là một cảnh giới mới, một cảnh giới tâm linh đặc biệt.


Trong hình tượng chữ “Đức” (德), có hàm ý đi theo sự chân thực và đi theo cái tâm. Chữ “Đức” trên đỉnh Mao Công, phía trên là con mắt, phía dưới là chữ tâm và bộ xích (bước đi). Trong đó, con mắt phía trên nối liền với cái tâm bên dưới, tương tự như đạo lý kết hợp đầu não với tâm gọi là “Tư”. Trong chữ “Đức” cũng mang nội hàm của việc thân hành trải nghiệm thực tế, lắng nghe và tuân theo tấm lòng chân thật. Lão Tử nói: “Hàm đức chi hậu, bỉ vu xích tử” (Người chứa đức dày thì giống như đứa trẻ sơ sinh), “Tu chi vu thân, kỳ đức nãi chân” (Tu ở nơi thân thì đức ấy mới chân thật). Có lẽ đó cũng chính là nội hàm của chữ “Đức” đối với Đạo. Như lời đúc kết ở chương 51 của Đạo Đức Kinh: “Đạo sinh chi, đức súc chi; vật hình chi, thế thành chi. Thị dĩ vạn vật mạc bất tôn đạo nhi quý đức; đạo chi tôn, đức chi quý, phu mạc chi mệnh nhi thường tự nhiên” (Đạo sinh ra muôn vật, Đức nuôi dưỡng muôn vật; vật chất tạo hình hài, hoàn cảnh làm nên thể chất. Vì vậy vạn vật không vật nào không tôn Đạo mà quý Đức; Đạo được tôn, Đức được quý là vì không ai ép buộc mà thuận theo tự nhiên). Lão Tử nói “tâm thiện uyên” (tâm nên sâu lắng như đầm nước), điều phản ánh chính là ý cảnh đạo đức như vậy.


Lời giáo huấn của Phật giáo và Thiền tông Trung Quốc làm nổi bật một chữ “Ngộ” (悟). Chữ “Ngộ” gồm bộ Tâm (心) và chữ Ngô (吾 - tôi), biểu thị biểu tượng phát xuất từ bản tâm, sinh ra từ bản tính. Năm xưa Đức Thích Ca Mâu Ni thành đạo dưới gốc cây bồ đề, biểu hiện chính là cảnh giới của sự “ngộ”; câu chuyện truyền tụng muôn đời về việc Đức Phật “niêm hoa vi tiếu” (cầm hoa mỉm cười) với Ca Diếp cũng chính là sự hiển lộ của ngộ tính ấy, tạo nên pháp môn dĩ tâm truyền tâm; trong sự truyền thừa của Thiền tông Trung Quốc, câu chuyện an tâm giữa Đạt Ma và Huệ Khả cũng là sự giác ngộ tương tự. Lục tổ Huệ Năng khi nghe câu “Ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm” trong Kinh Kim Cương đã đốn ngộ ra đạo lý “Nhất thiết vạn pháp, bất ly tự tính” (Muôn pháp chẳng rời tự tính), đó cũng chính là sự giác ngộ dĩ tâm truyền tâm.


Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh mở đầu bằng “Quán Tự Tại Bồ Tát”, cũng mang đến sự khai sáng về việc giác ngộ tự tính bản tâm. Gọi tác phẩm là Tâm Kinh quả thực danh xứng với thực. Như Ngũ tổ đã dạy: “Bất thức bản tâm, học pháp vô ích; nhược thức tự bản tâm, kiến tự bản tính, tức danh trượng phu, thiên nhân sư, Phật” (Không biết bản tâm, học pháp vô ích; nếu biết được bản tâm của mình, thấy được bản tính của mình, liền gọi là bậc trượng phu, thầy của trời người, là Phật). Sự giác ngộ chân chính của Thiền tông chính là học vấn và công phu nhận biết bản tâm này.


Từ đó có thể thấy, “Tâm lý học văn hóa Trung Quốc” này không chỉ nhằm phát huy ý nghĩa tâm lý học trong văn hóa Trung Quốc, mà còn là một mạch tư duy cơ bản để thấu hiểu chính nền văn hóa Trung Quốc từ giác độ tâm lý học. Theo cách hiểu của tôi, chữ “Tâm” của Trung Quốc vừa là cái tâm trong “Tâm truyền” từ thời Nghiêu, Thuấn, Vũ lưu lại, vừa là “vương tâm” và “đế tâm” trong văn tự giáp cốt và Thượng Thư, vừa là “ngã tâm” và “tha tâm” trong Kinh Thi, và dĩ nhiên cũng là “thiên nhân chi tâm” (tâm của trời đất và con người) cùng “thánh nhân sở tẩy chi tâm” (tâm được bậc thánh nhân gột rửa) trong Kinh Dịch; đồng thời, chữ “Tâm” của Trung Quốc cũng là gốc rễ của Nhân Nghĩa Lễ Trí trong Nho học, là cốt lõi của bao học thuyết Nho gia; là bản nghĩa của “tâm trai” trong Đạo gia, là chân tình của việc tu đức ngộ đạo; cũng là nơi muôn pháp quy về một mối, là tự tính bản tâm trong Thiền tông. Từ đó, nó hội tụ tinh hoa sâu sắc của tâm lý học văn hóa Trung Quốc, thể hiện trí tuệ muôn đời của một dân tộc cổ xưa, mở ra cảnh giới cao vời mà tâm linh nhân loại có thể vươn tới.


Hỏi đáp


【Hỏi】 Cảm ơn bài báo cáo xuất sắc của ông, nó đã thể hiện được ý nghĩa độc đáo của tâm lý học văn hóa Trung Quốc, khiến người nghe được mở rộng tầm mắt. Vậy ở Trung Quốc ngày nay, người ta có thể nhận được những tác động gì từ một nền tâm lý học như thế này, hay nói cách khác, nền tâm lý học lấy tâm làm gốc này có ảnh hưởng và tác dụng như thế nào đối với đời sống của người Trung Quốc?


【Thân Hà Vĩnh】 Cảm ơn câu hỏi của bạn. Ở Trung Quốc ngày nay, nền tâm lý học mà mọi người tiếp nhận – ít nhất là ở cấp độ học thuật và hệ thống tri thức – về cơ bản đều là tâm lý học phương Tây, bao gồm chủ nghĩa hành vi và tâm lý học nhận thức đương đại. Đối với nền tâm lý học vốn có trong văn hóa Trung Quốc cùng ý nghĩa của nó, mọi người có lẽ đã xa lạ từ lâu, thậm chí có thể nói là gần như đã đánh mất mối liên kết với nó.


Vì thế, ngay cả ở cấp độ đời sống thực tế, cùng với sự phổ cập của tri thức tâm lý học phương Tây hiện đại, nền tâm lý học trong văn hóa truyền thống Trung Quốc này cũng dần thoái lui. Dường như người ta chỉ cần dùng đến đầu, chỉ biết đến tâm lý học liên quan đến phần đầu và bộ não; người ta đã không còn biết cách dùng tâm, không biết mối liên hệ giữa tâm và tâm lý học nữa.


Thế nhưng, ý nghĩa của nó vẫn luôn tồn tại. Ý nghĩa của nền tâm lý học lấy tâm làm gốc này vẫn luôn hiện hữu.


Đã có ý nghĩa thì ắt sẽ có ảnh hưởng. Bất kể ảnh hưởng đó là thông qua ý thức hay thông qua vô thức của con người; bất kể là thông qua nhận thức hay thông qua cảm xúc. Đúng như nội hàm của chữ “Tư” (思) trong tiếng Hán: những gì ý nghĩ suy tới ắt là điều tình cảm mong muốn; đúng như cách Rodin giải thích về bức tượng “Người suy tư” của mình: chúng ta không chỉ tư duy bằng cái đầu. Tất cả người Trung Quốc cho đến ngày nay vẫn tin rằng: nói năng phải nói lời “chân tâm” (thật lòng), làm việc phải dựa vào “lương tâm”, “trên đời không có việc gì khó, chỉ sợ lòng không bền (chỉ phạ hữu tâm nhân)”… Giống như bao chữ Hán mang chữ Tâm mà tôi đã trình bày, phàm là người sử dụng thứ văn tự này, một cách vô thức, ắt hẳn đều sẽ chịu ảnh hưởng từ nền tâm lý học lấy tâm làm gốc này.


【Hỏi】 Xin hỏi, ông bắt đầu chú ý đến mối liên hệ giữa tâm và tâm lý học từ khi nào?


【Thân Hà Vĩnh】 Đến giờ tôi còn nhớ cuốn sách đầu tiên mang tên tâm lý học mà tôi đọc là vào năm 1978. Đó là một cuốn sách tâm lý học do một học giả Trung Quốc viết – một học giả vừa có tri thức phương Tây lại vừa có nền tảng văn hóa Trung Quốc vững chắc. Do tôi vừa vào tiểu học thì “Đại cách mạng văn hóa” bùng nổ, việc học của tôi chủ yếu dựa vào tự đọc sách; có lẽ trước đó tôi cũng từng tiếp xúc với sách tâm lý học, nhưng nếu có thì cũng chẳng để lại nhiều ấn tượng. Còn cuốn sách tâm lý học đặt trên nền tảng văn hóa Trung Quốc này đã để lại cho tôi những ấn tượng đầu tiên. Ví dụ, tác giả đã dùng câu ngạn ngữ Trung Quốc: “Nhân tâm bất đồng, các như kỳ diện” (Lòng người khác nhau, cũng như mặt người mỗi người một vẻ) để giới thiệu lý thuyết tâm lý học nhân cách của phương Tây. Thậm chí tôi còn chẳng biết tác giả cuốn sách là ai, vì đó là một cuốn sách đã mất bìa.


Từ năm 1984, tôi theo học tâm lý học với thầy Cao Giác Phu và thầy Lưu Ân Cửu. Các thầy đều là những học giả vừa thông thạo tâm lý học phương Tây, vừa có nền tảng vững vàng về văn hóa và triết học Trung Quốc; tôi chịu ảnh hưởng rất sâu sắc từ các thầy. Khi còn là học viên cao học, một trong những vấn đề tôi thường suy ngẫm chính là mối liên hệ giữa tâm và tâm lý học. Sau khi tốt nghiệp tiến sĩ năm 1989, tôi đã phỏng vấn nhiều nhà tâm lý học nổi tiếng trong nước. Câu hỏi “Vì sao lại dịch từ ‘psychology’ của phương Tây sang tiếng Trung thành ‘Tâm lý học’?” là câu hỏi kinh điển mà tôi đặt ra cho tất cả các vị ấy, và nhân mối liên hệ giữa “tâm và tâm lý học” này, tôi đã thỉnh giáo những người đặt nền móng chủ chốt cho tâm lý học đương đại Trung Quốc. Khoảng năm 1991, tôi bắt đầu công bố các bài báo khoa học liên quan đến “Tâm và tâm lý học” cũng như “Tâm lý học trong chữ Hán”.


Tôi sinh ra trong một gia đình rất coi trọng giấc mơ và ý nghĩa của nó, đặc biệt là mẹ tôi, bà vô cùng tin vào ý nghĩa và tác dụng của những giấc mơ. Bản thân tôi từ năm 1982 đã bắt đầu chính thức ghi chép lại các giấc mơ của mình. Trước đó tôi chỉ thỉnh thoảng ghi lại vài giấc mơ trong nhật ký, nhưng kể từ dạo ấy, tôi bắt đầu lập một cuốn nhật ký chuyên biệt dành cho giấc mơ, bao gồm cả việc hồi tưởng và sắp xếp lại những giấc mơ sớm nhất mà tôi còn nhớ được. Sau này tôi dần phát hiện ra rằng, rất nhiều bài học tôi thu nhận được là đến từ trong mơ, bao gồm cả nền tâm lý học lấy tâm làm gốc. Chẳng hạn, tôi từng mơ thấy Trang Tử – đại diện của tư tưởng Đạo gia Trung Quốc, trong giấc mơ ngài đã giảng cho tôi đạo lý về “tâm trai”: “Nhược nhất chí; vô thính chi dĩ nhĩ, nhi thính chi dĩ tâm” (Hãy gom ý chí về làm một; chớ nghe bằng tai, mà hãy nghe bằng tâm). Tức là làm thế nào để nhìn bằng tâm, lắng nghe bằng tâm. Tôi cũng từng có một cuộc đối thoại giữa “đầu và tâm” trong giấc mơ, đó là vào năm 1993 trên chuyến tàu hỏa từ St. Louis đi Los Angeles. Những giấc mơ này cùng những trải nghiệm trong mơ đã củng cố mạnh mẽ niềm tin của tôi đối với nền tâm lý học lấy tâm làm gốc.


Đối với tôi, mối liên hệ giữa “tâm và tâm lý học” cùng ý nghĩa của nó là một hành trình khám phá không ngừng nghỉ, mãi cho đến tận hôm nay, tôi vẫn đang tiếp tục nỗ lực và kiếm tìm trên con đường ấy.


【Hỏi】 Xin ông vui lòng giới thiệu đôi nét về tình hình phát triển hiện nay của trường phái tâm lý học hàn lâm tại Trung Quốc được không?


【Thân Hà Vĩnh】 Hiện tại có thể coi là giai đoạn trường phái tâm lý học hàn lâm hoặc tâm lý học chính thống của Trung Quốc đạt được bước phát triển quan trọng. Kể từ khi cải cách mở cửa năm 1978, tâm lý học Trung Quốc mới có cơ hội phát triển trở lại. Sở dĩ nói phát triển trở lại là vì trong suốt thời kỳ Cách mạng Văn hóa kéo dài, thậm chí là trong các phong trào chính trị trước đó, tâm lý học Trung Quốc đã dần rơi vào “thời kỳ ngủ đông”.


Có một ví dụ cụ thể như thế này: năm 1978 tâm lý học Trung Quốc được phục hồi, nhưng mãi đến năm 1994, cả nước mới chỉ có 5 trường đại học có khoa tâm lý học. Nhưng ở Đài Loan, một tỉnh của Trung Quốc, đã có hơn 10 khoa tâm lý học; ở Hồng Kông cũng có khoảng bảy, tám khoa tâm lý học. Trong hai năm gần đây, một số trường đại học ở Trung Quốc đại lục đang dần khôi phục hoặc thành lập mới các khoa tâm lý học. Đây là xu thế tất yếu xuất phát từ chính nhu cầu phát triển của xã hội. Tôi từng dự đoán rằng, trong vòng 5 năm tới, đại lục sẽ tăng lên thành 20 đến 30 khoa tâm lý, và trong vòng 10 năm tới, sẽ tăng lên hơn 100 khoa tâm lý học.


Xét về xu thế phát triển, việc nghiên cứu tâm lý học ở Trung Quốc cũng sẽ ngày càng đi vào chiều sâu. Hơn 10 năm trước, khi tôi còn là sinh viên, tâm lý học ở Trung Quốc đại lục mới được khôi phục chưa lâu, giới học thuật tâm lý học về cơ bản vẫn lấy dịch thuật làm chủ đạo, chủ yếu là dịch và du nhập tâm lý học của Mỹ; hoặc lấy “nghiên cứu lý thuyết” làm trọng, ví dụ như nghiên cứu lịch sử tâm lý học rất được coi trọng ở đại lục. Nhưng cùng với sự phát triển của tâm lý học Trung Quốc, các nghiên cứu thực nghiệm, nghiên cứu hệ thống và nghiên cứu mang tính độc bản, sáng tạo nguyên gốc sẽ dần gia tăng.


Tuy nhiên, nhìn một cách tương đối, đối với đại chúng xã hội Trung Quốc hiện nay, thậm chí là đối với chính phủ, mọi người vẫn quan tâm quá mức đến việc xây dựng kinh tế và các hoạt động ở tầng diện vật chất; đối với các vấn đề ở tầng diện “tâm lý”, thậm chí là những vấn đề tâm lý dần tích tụ theo sự phát triển của kinh tế, người ta vẫn chưa có nhận thức đầy đủ. Các học giả làm công tác tâm lý học ở Trung Quốc đại lục đa phần cũng chưa quan tâm đúng mức đến bản thân các vấn đề xã hội và đời sống thực tế, mà vẫn theo đuổi các nghiên cứu học thuật thuần túy nhằm nâng cao “trình độ học thuật”, chưa chạm tới được các vấn đề tâm lý học chân thực ở bình diện đời sống thực tiễn và hoạt động xã hội.


Đồng thời, đối với tôi, một vấn đề tồn tại trong sự phát triển của tâm lý học hàn lâm Trung Quốc chính là đã cắt đứt mối quan hệ với văn hóa truyền thống, phớt lờ ý nghĩa của tâm lý học văn hóa Trung Quốc. Dĩ nhiên, đây cũng chính là lý do vì sao tôi đề xuất việc tìm kiếm nội hàm của chữ “Tâm” trong tâm lý học, nhấn mạnh ý nghĩa của tâm lý học văn hóa Trung Quốc. Chữ “Tâm” (心) trong tiếng Hán phát âm giống chữ “Tân” (新 - mới mẻ); nền tâm lý học mới lấy tâm làm gốc này chính là mục tiêu theo đuổi và nỗ lực của tôi.


【Hỏi】 Ông có cho rằng tâm lý học văn hóa Trung Quốc có sự khác biệt rất lớn so với tâm lý học phương Tây đương đại không?


【Thân Hà Vĩnh】 Đúng vậy, ít nhất là xét theo hình thức biểu hiện hiện nay, và ít nhất là xét theo ý nghĩa mà nó thể hiện. Như lời giãi bày ban đầu của tôi, nếu có thể dùng một ví dụ đơn giản này để so sánh, thì tâm lý học phương Tây là một nền tâm lý học của bộ não, còn tâm lý học trong văn hóa Trung Quốc chúng tôi lại là nền tâm lý học lấy tâm làm gốc.


Tâm lý học phương Tây, nếu tính từ Wundt trở đi, là một nền tâm lý học nhấn mạnh vào thực chứng, nhấn mạnh vào nền tảng sinh lý học, nhấn mạnh vào nội dung. Mặc dù hơn 100 năm phát triển vừa qua nó đã dung nạp phong phú, phát triển vô cùng hoàn thiện, đặc biệt là sau thập niên 60 của thế kỷ 20 với sự dẫn dắt của tâm lý học nhận thức. Có một phép ẩn dụ rất hình tượng: Tâm lý học phương Tây sở hữu nền tảng sinh lý vững chắc, tựa như đôi chân của một con người; sự phát triển của chủ nghĩa hành vi và tâm lý học ứng dụng đã giúp tâm lý học có đầy đủ tứ chi khỏe mạnh, đồng thời cũng có một cái đầu đề cao nhận thức. Thế nhưng, tâm lý học phương Tây dường như vẫn chưa có “tâm”, hay nói cách khác là chưa ý thức được ý nghĩa và tác dụng của “tâm” này.


Tôi có thể dùng chữ “Tư” (思) vừa chiếu cho quý vị xem để làm một ẩn dụ: tâm lý học phương Tây tựa như nửa trên của chữ “Tư”, đơn thuần lấy “bộ não” làm chủ đạo. Còn tâm lý học văn hóa Trung Quốc lại làm nổi bật vai trò của “tâm”, giống như tuệ nhãn của các bậc tiền nhân Trung Hoa khi sáng tạo nên một chữ Hán như vậy: sự tư duy thực sự, hay một tư duy và tư tưởng trọn vẹn, nhất thiết phải cần đến tâm; bất kể quý vị hiểu tác dụng của “tâm” này như thế nào, đặc biệt là trên bình diện biểu tượng.


Tâm lý học văn hóa Trung Quốc có thể “lập tâm” cho nền tâm lý học của chúng ta, nhưng tâm lý học văn hóa Trung Quốc không hề tự giới hạn mình ở riêng chữ tâm. Trí tuệ của triết học Trung Hoa là trung dung, là chỉnh thể, là siêu việt. Mà tâm lý học một khi đã sở hữu cái tâm, thì ắt hẳn sẽ mang một ý nghĩa hoàn toàn mới mẻ. Khi đó, một nền tâm lý học như thế sẽ không cần phải phân biệt rạch ròi giữa phương Đông và phương Tây nữa. Xuyên qua sự khác biệt giữa Đông và Tây, nơi chiều sâu của nhân tính luôn hàm chứa tính thống nhất nội tại. Một khi đã có được sự thấu hiểu như thế, thì trên thực tế, tâm lý học phương Tây và tâm lý học văn hóa Trung Quốc cũng chẳng có khoảng cách hay sự khác biệt quá lớn lao.


【Hỏi】 Nền tâm lý học nhấn mạnh vào tâm mà ông vừa trình bày có ý nghĩa như thế nào đối với bản thân ông?


【Thân Hà Vĩnh】 Thật ra, ban đầu tôi cũng theo học tâm lý học phương Tây, chuyên sâu về lịch sử tâm lý học phương Tây, dẫu là học tại Trung Quốc. Còn tâm lý học hàn lâm đương đại của Trung Quốc cho đến nay về cơ bản cũng chỉ là một bản sao chép chưa mấy thành công hoặc chưa hoàn toàn thành công của tâm lý học phương Tây. Nhưng cách đây vài năm, khi lần đầu tiên tôi đặt chân tới nước Mỹ, tại thị trấn Edwardsville gần Đại học Southern Illinois, tôi đã trải qua sự chuyển hóa từ đầu sang tâm, hiện thực hóa tâm nguyện đã trăn trở suy nghĩ suốt bao năm, và khám phá ra ý nghĩa của nền tâm lý học lấy tâm làm gốc này. Đối với riêng cá nhân tôi, đây không chỉ là sự thay đổi về mặt học thuật, mà còn là một sự chuyển hóa từ tận đáy lòng.


Có thể nói rằng, chữ “Tâm” này đối với tôi là một sự dẫn dắt, một lời chỉ dẫn nội tại.


Vì thế, đối với tôi, nền tâm lý học lấy tâm làm gốc này không chỉ là sự theo đuổi về mặt học thuật, mà còn là sự thực hành trong đời sống; không chỉ là sự phát triển tâm lý cá nhân, mà còn là sự thể hiện tâm linh của xã hội và văn hóa; không chỉ là những biểu hiện hữu hình trên bình diện xã hội hay sự khác biệt về văn hóa, mà còn là tính tất yếu tiềm ẩn trong bản tính nội tại của nhân loại.


Tại Trung Quốc chúng tôi, vào thời nhà Tống, có một học giả tên là Trương Tái từng bộc bạch chí nguyện trong lòng mình như sau: “Vì đất trời mà lập tâm, vì muôn dân mà lập mệnh, vì thánh hiền đời trước mà nối lại tuyệt học, vì muôn đời sau mà mở ra thái bình.” Riêng bản thân tôi, dẫu không thể có được hồng nguyện lớn lao nhường ấy, nhưng lòng luôn hướng về điều đó. Là một nhà tâm lý học, mục tiêu theo đuổi của tôi là muốn “lập tâm” cho ngành tâm lý học, tìm lại và xác lập lại ý nghĩa của “Tâm” đối với tâm lý học.


Bài giảng 2: Lấy tâm làm gốc: Cảnh giới của Tâm lý học Văn hóa Trung Quốc


Tôi rất vinh dự được làm diễn giả của Hội thảo Eranos, được đứng trên diễn đàn giàu ý nghĩa lịch sử và sứ mệnh văn hóa này.


Xin cảm ơn lời giới thiệu của Chủ tịch Christa Robinson, cảm ơn lời mời và sự tiếp đãi nồng hậu của Chủ tịch Robinson cùng Tiến sĩ Rudolf Ritsema. Chúc toàn thể quý vị một buổi sáng tốt lành.


Tôi đến từ Trung Quốc, mang tới đây nền tâm lý học bén rễ sâu trong văn hóa Trung Hoa; bài thuyết trình tôi chuẩn bị bàn về nền tâm lý học lấy tâm làm gốc cùng những tầng ý nghĩa hàm chứa bên trong.


Trung Quốc là quê hương đầu tiên của tâm lý học – đây là quan điểm căn bản của các sử gia ngành tâm lý học. Nhưng thật đáng tiếc, phần lớn các học giả đương đại, bao gồm cả các nhà tâm lý học Trung Quốc, gần như đều đã lãng quên cố hương này, lãng quên truyền thống quý báu ấy của tâm lý học. Tôi dùng nhan đề “Lấy tâm làm gốc: Cảnh giới của Tâm lý học Văn hóa Trung Quốc” là nhằm tìm lại ý nghĩa của chữ “Tâm” đối với tâm lý học. Dưới góc nhìn của tôi, ý nghĩa của tâm lý học bắt nguồn từ chính bản tính của văn hóa Trung Hoa, và nền tâm lý học ấy tất nhiên phải lấy tâm làm gốc.


I. Tâm của Trung Quốc và Tâm lý học phương Tây


Tôi cho rằng, tại Trung Quốc ngày nay, dưới cùng một tên gọi “Tâm lý học”, đang tồn tại hai nền tâm lý học mang ý nghĩa hoàn toàn khác nhau. Một là “tâm lý học” (psychology) được du nhập và dịch thuật từ phương Tây; nền tâm lý học này về cơ bản tương đồng, hoặc mang cùng một mô thức với tâm lý học phương Tây hiện nay. Còn một nền “tâm lý học” khác lại bén rễ và sinh trưởng nguyên bản từ trong lòng văn hóa Trung Hoa, thứ mà tôi gọi là nền tâm lý học lấy tâm làm gốc.


1. Sự xuất hiện của tâm lý học phương Tây tại Trung Quốc – Suy ngẫm về ý nghĩa của “Tâm lý học”


Tâm lý học phương Tây, với tư cách là một môn khoa học hay bộ môn mới mẻ, bắt đầu xuất hiện tại Trung Quốc vào nửa cuối thế kỷ XIX. Các học giả Trung Quốc thời kỳ đầu đã dùng ba chữ Hán: “Tâm” (心 - heart / heart-mind), “Lý” (理 - theory / logic), “Học” (學 - learning / discipline) để dịch và biểu đạt từ “psychology” của phương Tây. Kể từ đó, chữ “Tâm” của Trung Quốc bắt đầu có mối liên hệ về mặt ngữ cảnh với tâm lý học. Dù từ tận thời nhà Hán, từ ngữ “tâm lý” (心理) đã xuất hiện trong văn bản chữ Hán; và đến thời nhà Tống, Tâm học và Lý học trứ danh trên thực tế đã hàm chứa những tư tưởng tâm lý học vô cùng phong phú, nhưng những điều này lại không nhận được sự chú ý đúng mức từ các học giả tâm lý học đương đại.


Thật không thể không coi đây là một niềm tiếc nuối khi dường như chẳng mấy ai bận tâm đến mối liên hệ giữa “tâm và tâm lý học”, cũng như ý nghĩa tâm lý học trong văn hóa Trung Hoa. Đại đa số các nhà tâm lý học Trung Quốc đều đồng nhất tâm lý học với một chuyên ngành bắt nguồn từ phương Tây, khiến ý nghĩa chứa đựng trong chữ “Tâm” của Trung Quốc bị hoàn toàn lãng quên.


Thế nhưng câu hỏi vẫn còn đó: Vì sao lại là chữ “Tâm”? Chữ “Tâm” được dùng trong tiếng Trung (Tâm lý học) có hàm chứa ý nghĩa đặc biệt hay dị biệt nào chăng? Đó là câu hỏi đầu tiên tôi gặp phải khi bước chân vào con đường nghiên cứu tâm lý học. Chuyện xảy ra từ nhiều năm trước, khi tôi mới bắt đầu chương trình cao học chuyên ngành tâm lý; dẫu vậy, câu hỏi ấy cho đến nay vẫn tiếp tục chi phối nhận thức và cách hiểu của tôi đối với tâm lý học.


2. Nhận ra ý thức phương Tây, đánh mất cái tâm nguyên bản – Sơ tâm của hành trình tìm kiếm


Nhiều nhà tâm lý học và học giả Trung Quốc cho rằng dùng chữ “Tâm” để dịch tâm lý học phương Tây vốn dĩ là một sai lầm. Bởi theo góc nhìn của họ, người Trung Quốc – hay người Trung Quốc truyền thống – không phân biệt được “tâm” với “tâm lý”, “tâm” với “bộ não”, hoặc đã lấy “tâm” để thay thế cho bộ não, thay thế cho tâm lý và ý thức.


Song tôi không chấp nhận quan điểm đó và luôn kiếm tìm một cách lý giải mới. Theo tôi, khi dùng từ “Tâm lý học” trong tiếng Trung để dịch và du nhập môn học mới từ phương Tây, chúng ta đã tiếp nhận được ý thức của phương Tây, nhưng lại đánh mất đi cái tâm nguyên bản của chính mình; cái tâm của chúng ta theo đó đã mất đi ý nghĩa vốn có trong môn tâm lý học ngoại lai. Mối liên hệ nội tại giữa tâm và tâm lý học trong văn hóa Trung Hoa từ đó bị cắt đứt, bị vứt bỏ và bị lãng quên.


Tuy nhiên, niềm hy vọng và nỗ lực của tôi chính là tìm lại cái tâm từng bị rũ bỏ và lãng quên ấy, tìm lại những ý nghĩa vốn có hàm chứa trong chữ Tâm của văn hóa Trung Hoa.


3. Ý nghĩa chứa đựng trong Tâm: Lấy chữ “Tư” (思) làm ví dụ – Cái tâm tư duy hay lối tư duy tâm tính


Theo cách hiểu của tôi, bản dịch dùng chữ “Tâm” này hoàn toàn không sai; cái sai nằm ở chỗ người ta có nhận thức đúng đắn về “Tâm” hay không. Ý nghĩa chứa đựng trong chữ Tâm của Trung Quốc vượt lên trên phần đầu, bộ não hay các quá trình tâm lý và nhận thức phái sinh từ não bộ. Đó không phải như người ta lầm tưởng rằng cổ nhân Trung Hoa do hiểu sai công năng của tim nên mới dùng tim thay cho não, mà là bởi chữ Tâm của Trung Quốc hàm chứa những thâm ý đặc thù. Đúng như bậc hiền triết phương Tây Pascal từng nói: “Trái tim có những lý lẽ riêng mà lý trí chẳng thể nào hiểu được.”


Trong cuốn tự truyện Ký ức, Giấc mơ, Suy tưởng của C.G. Jung, ông có thuật lại cuộc đối thoại với Mountain Lake (Ochwiay Biano) – một vị trưởng lão da đỏ bản địa người Mỹ – diễn ra vào năm 1924 khi Jung đến thăm Hoa Kỳ. Mountain Lake cho rằng hầu hết người da trắng đều mất trí, bởi họ bảo rằng họ tư duy bằng cái đầu. Điều đó khiến Jung hết sức bối rối: “Dĩ nhiên là phải tư duy bằng đầu rồi, chẳng lẽ còn có cách tư duy nào khác nữa sao? Vậy các ông tư duy bằng gì?” Jung kinh ngạc hỏi. Mountain Lake lấy tay vỗ nhẹ lên ngực mình và nói: “Chúng tôi tư duy ở đây.”


Quý vị hãy cùng nhìn lại khái niệm “tư tưởng” nguyên bản của Trung Quốc chúng tôi, nhìn vào kết cấu và hình tượng của chữ “Tư” (思) trong chữ Hán.


Chữ Hán này đã có lịch sử ít nhất hơn ba nghìn năm. Nó được tạo thành từ hai phần: phần trên biểu thị “đầu” (thóp đầu - tín môn: 囟), tức đỉnh cao nhất của đầu não; phần dưới chính là chữ “Tâm” (心). Từ đầu thông suốt tới tâm, liên kết bền chặt tựa sợi tơ, đó mới chính là diện mạo nguyên bản của chữ “Tư”. Điều này có nghĩa là, cổ nhân chúng tôi không hề đơn thuần dùng tâm để tư duy, mà là vận dụng đồng thời cả đầu lẫn tâm. Trên thực tế, đây cũng chính là ý nghĩa nguyên bản của nền tâm lý học lấy tâm làm gốc mà tôi luôn nhấn mạnh.


Đó là cái tâm tư duy, hay lối tư duy tâm tính – một cảnh giới tâm linh mang tính siêu việt.


II. Dùng tâm để giáo hóa: Chữ Tâm và ý nghĩa của nó trong kinh điển Trung Hoa


Trong vô vàn kinh điển Trung Hoa, Kinh Dịch (易經), Kinh Thư (書經) và Kinh Thi (詩經) giữ vị trí tối quan trọng; chúng cũng là cội nguồn tư tưởng chủ yếu của chư tử bách gia sau này. Đồng thời, nơi đây cũng chứa đựng những tư tưởng căn bản của tâm lý học văn hóa Trung Hoa cùng ý nghĩa phong phú của nền tâm lý học về tâm.


1. Thánh nhân dĩ thử tẩy tâm – Ngụ ý của Kinh Dịch


Kinh Dịch được tôn là đứng đầu các bộ kinh (chúng kinh chi thủ), là cội nguồn của Đại đạo (đại đạo chi nguyên), giữ một vị thế đặc biệt và có tầm ảnh hưởng sâu rộng trong văn hóa Trung Hoa. Lẽ dĩ nhiên, bên trong nó ắt phải hàm chứa những tư tưởng và ý nghĩa tâm lý học sâu sắc.


Khi Richard Wilhelm dịch Kinh Dịch, ông đã bị chấn động mạnh mẽ bởi những tuệ kiến tâm lý học uyên áo nơi tác phẩm này. Bản thân Jung cũng xem Kinh Dịch như một lộ trình siêu việt để thám hiểm vô thức. Và tất cả chúng ta đều biết, trong bản dịch Kinh Dịch của Eranos – cuốn I Ching: The Tao of Organization / The Classic Chinese Oracle of Change, Tiến sĩ Rudolf Ritsema đã nỗ lực diễn giải hạt nhân thần thánh này thành một phương pháp và phương pháp luận tâm lý học mộc mạc.


Tâm lý học văn hóa Trung Hoa thể hiện ở chỗ lấy tâm làm gốc, và ý nghĩa tâm lý học trong Kinh Dịch cũng không nằm ngoài quy luật ấy. Trong lời thoán của quẻ Khảm (坎卦) sách Kinh Dịch có viết: “Tập Khảm: hữu phu, duy tâm hanh; hành hữu thượng” (Nạn hiểm trùng trùng: giữ lòng chí thành tin tưởng thì tâm sẽ thông suốt hanh thông; tiến bước sẽ được tôn kính). Còn trong Chu Dịch · Thuyết Quái lại chú giải: “Khảm, vi gia ưu, vi tâm bệnh” (Quẻ Khảm chủ về mối lo chồng chất, chủ về bệnh ở tâm). “Tâm bệnh vẫn cần thuốc tâm chữa” là một câu cổ ngữ, cũng là niềm tin tự nhiên của người Trung Quốc. Mà trong Kinh Dịch, cả vị thuốc tâm lẫn phương cách điều trị tâm bệnh đều đã hiện diện đầy đủ. Thiên Hệ Từ sách Kinh Dịch viết: (Dịch) “năng thuyết chư tâm, năng nghiên chư lự” (Dịch có thể làm vui lòng người, có thể nghiên cứu sâu sắc mọi nghĩ suy); “Thánh nhân dĩ thử tẩy tâm” (Bậc thánh nhân dùng Dịch để gột rửa tâm mình). Đúng như lời Khổng Tử: “Khiết tịnh tinh vi, Dịch chi giáo dã” (Thanh khiết, trong sáng và tinh vi sâu sắc là sự giáo hóa của Kinh Dịch). Các bậc tiên triết Trung Hoa đã phát huy công năng “cực thâm nhi nghiên cơ” (đi sâu vào cội nguồn và xét đoán điều vi tế) của Kinh Dịch, điều được gọi là Thánh nhân chi đạo trong bộ kinh: “Duy thâm dã, cố năng thông thiên hạ chi chí. Duy cơ dã, cố năng thành thiên hạ chi vụ…” (Chính vì sâu sắc nên mới thông suốt được ý chí của thiên hạ; chính vì thấy rõ mầm mống vi tế nên mới làm nên mọi việc trong thiên hạ…). Trong hai chữ “thâm” (sâu thẳm) và “cơ” (vi tế) ấy, đã bao hàm trọn vẹn nội hàm tuyệt diệu của tâm lý học vô thức.


Khi Tiến sĩ Ritsema viết trong ấn bản Kinh Dịch của Eranos: “Sự hứng thú hiện nay của con người đối với các nền văn hóa khác nhau và các truyền thống cổ xưa phản ánh nhu cầu tìm lại tâm linh huyền bí này, bởi đó chính là phương thức căn bản để tự tính nội tại của chúng ta lên tiếng, tư duy và hành động.” Tôi tin rằng, điều ông muốn bày tỏ cũng chính là nền tâm lý học lấy tâm làm gốc của Kinh Dịch.


2. Đạo thống tâm truyền – Ý niệm gửi gắm nơi tâm trong Kinh Thư


Trong bộ sách sử Thượng Thư (Kinh Thư), ghi chép lại lịch sử ba thời kỳ cổ đại Hạ, Thương, Chu cùng hành trạng của ba vị quân vương thời tiền sử Nghiêu, Thuấn, Vũ, đánh dấu sự khởi nguồn đạo thống của văn hóa Trung Hoa.


Đối với người Trung Quốc chúng tôi, Nghiêu, Thuấn, Vũ từ lâu đã không còn là tên gọi của từng cá nhân, mà là biểu tượng của đạo đức, trí tuệ và tinh thần nhân văn. Theo ghi chép trong Thượng Thư, khi vua Nghiêu nhường ngôi cho vua Thuấn, và khi vua Thuấn nhường ngôi cho vua Vũ, điều các ngài phó thác là giang sơn xã tắc, và lời ân cần dặn dò được đúc kết thành 16 chữ sau:


人心惟危,(Nhân tâm duy nguy,)

道心惟微,(Đạo tâm duy vi,)

惟精惟一,(Duy tinh duy nhất,)

允執厥中。(Doãn chấp quyết trung.)


(Lòng người hiểm nghèo bất an, lòng đạo tinh vi khó thấy; phải thật tinh thuần, phải thật chuyên nhất, giữ vững đạo trung dung.)


Đây chính là “Mười sáu chữ tâm kinh” trong văn hóa Trung Hoa, gợi mở một cảnh giới tâm lý đặc thù – cảnh giới siêu việt mà tâm linh con người có thể vươn tới. Mấu chốt then chốt của nó nằm trọn ở công phu tu dưỡng nơi chữ “Tâm”. Tư tưởng này trong Thượng Thư đã được phát huy rực rỡ trong học thuyết Nho gia sau này, đặc biệt là công năng siêu việt trong sách Trung Dung, và đặc biệt là truyền thống “Tâm học”: dĩ tâm truyền tâm, lấy tâm làm sự giáo hóa.


3. Ngôn vi tâm thanh (Lời nói là tiếng lòng) – Ý niệm gửi gắm nơi tâm trong Kinh Thi


Kinh Thi là một trong những bộ thi ca cổ xưa nhất thế giới, tập hợp 305 bài thơ trải dài hàng trăm năm, từ đầu thời Tây Chu đến giữa thời Xuân Thu (khoảng 500 năm). Nhiều khúc thi ca tựa như âm thanh huyền diệu tự nhiên phát ra từ trời đất, chất phác mộc mạc; các triết nhân đời sau gọi “ngôn vi tâm thanh” (lời nói phát xuất từ tiếng lòng) chính là để chỉ điều này.


Nếu nói rằng Kinh Thi cũng hàm chứa một nền tâm lý học bén rễ sâu trên mảnh đất văn hóa Trung Hoa, thì nền tâm lý học ấy cũng tuyệt đối lấy tâm làm gốc. Đúng như lời tựa sách Mao Thi (Mao Thi Tự) đã viết: “Thi giả, chí chi sở chi dã, tại tâm vi chí, phát ngôn vi thi” (Thơ là nơi hướng tới của chí; đọng lại trong tâm là chí, thốt ra thành lời là thơ). Khổng Tử từng khẳng định: “Bất học thi, vô dĩ ngôn” (Không học Kinh Thi thì không biết cách nói năng – Luận Ngữ · Quý Thị), và đúc kết thành phương châm kinh điển: “Hưng ư thi, lập ư lễ, thành ư nhạc” (Khởi phát từ thơ, đứng vững nhờ lễ, hoàn thiện nhờ nhạc – Luận Ngữ · Thái Bá). Có thể nói, Kinh Thi là sáng tạo mang tầm vóc sử thi của nền văn minh Trung Hoa, cũng là sự kết tinh và hiện thân của vô thức tập thể và vô thức văn hóa; nơi đây chứa đựng những hình tượng văn hóa thâm viễn, chứa đựng Anima của văn hóa và tâm linh văn hóa.


Thiên Nhạc Ký sách Lễ Ký viết: “Thi, ngôn kỳ chí dã. Ca, vịnh kỳ thanh dã. Vũ, động kỳ dung dã. Tam giả bản vu tâm, nhiên hậu nhạc (khí) tòng chi. Thị cố tình thâm nhi văn minh, khí thịnh nhi hóa thần, hòa thuận tích trung nhi anh hoa phát ngoại, duy nhạc bất khả dĩ vi ngụy” (Thơ để nói lên chí hướng. Ca để ngâm vang thanh âm ấy. Múa để chuyển động hình dong ấy. Cả ba điều này đều bắt gốc từ tâm, sau đó nhạc khí mới tấu theo. Cho nên tình cảm sâu đậm thì văn vẻ sáng tỏ, khí lực dồi dào thì biến hóa thần kỳ, sự hòa thuận tích tụ bên trong thì tinh hoa phát lộ ra ngoài; duy chỉ có âm nhạc là không thể làm giả). Bởi vì thi ca và vũ đạo vốn bắt nguồn từ tâm, nên chúng mang trọn tính tự nhiên và chân thật vốn có của tâm tính. Trong thiên Vi Chính sách Luận Ngữ, Khổng Tử dạy: “Thi tam bách, nhất ngôn dĩ tế chi, viết: ‘Tư vô tà’” (Kinh Thi có ba trăm bài, gom lại bằng một câu, gọi là: ‘Lòng nghĩ không tà vạy’). Lưu Hiệp trong thiên Nguyên Đạo mở đầu cuốn Văn Tâm Điêu Long cũng khẳng định ngay từ đầu: “Văn chi vi đức dã đại hĩ, dữ thiên địa tịnh sinh giả, hà tai… Duy nhân tham chi, tính linh sở chung, thị vi tam tài. Vi ngũ tính chi tú, thực nãi thiên địa chi tâm. Tâm sinh nhi ngôn lập, ngôn lập nhi văn minh, tự nhiên chi đạo dã” (Cái đức của văn thật lớn lao thay, cùng sinh ra với trời đất, vì cớ sao ư… Duy chỉ có con người dự vào đó, là nơi đúc tụ của tính linh, tạo thành tam tài. Con người là phần tú khí của ngũ hành, thực chất là tâm của trời đất. Có tâm ắt lời nói được dựng lập, lời nói dựng lập ắt văn minh tỏa sáng; đó là đạo của tự nhiên). Rõ ràng: lấy tâm làm gốc chính là thuận theo đạo tự nhiên.


III. Truyền thống văn hóa: Lấy tâm làm gốc


Trong văn hóa Trung Hoa, Nho giáo, Đạo gia và Thiền tông là ba dòng chảy trọng yếu, tạo nên tầm ảnh hưởng sâu rộng bao trùm triết học, nhân văn, tôn giáo cũng như nhiều lĩnh vực khác như tâm lý học. Chúng ta có thể nhận thấy cả ba truyền thống tư tưởng lớn này đều lấy “Tâm” làm gốc. Chúng ta có thể khẳng định rằng chữ Tâm của Trung Quốc cũng chính là nền tảng nội tại của triết học, tôn giáo, văn hóa và tâm lý học Trung Hoa.


1. Truyền thống Nho học – Tận tâm tri tính


Ở Trung Quốc, cuốn Đại Học (大學) được coi là giáo trình nhập môn của Nho học, được đặt lên đầu tiên trong bộ Tứ Thư kinh điển. Đại Học mở đầu bằng tuyên ngôn: “Đại học chi đạo tại minh minh đức, tại thân dân, tại chỉ vu chí thiện” (Đạo của việc học lớn cốt ở làm sáng tỏ đức sáng, ở việc đổi mới lòng dân, ở việc đạt tới cảnh giới chí thiện), biểu hiện cảnh giới cao cả của tâm linh con người.


Vậy làm thế nào chúng ta mới có thể đạt tới một cảnh giới tâm linh như thế? Đại Học chỉ dẫn: “Cổ chi dục minh minh đức ư thiên hạ giả” (Kẻ ngày xưa muốn làm sáng tỏ đức sáng trong thiên hạ) trước hết phải “chính tâm thành ý” (“muốn trị quốc trước hết phải tề gia; muốn tề gia trước hết phải tu thân; muốn tu thân trước hết phải chính tâm; muốn chính tâm trước hết phải thành ý; muốn thành ý trước hết phải trí tri; đến được tri thức cốt ở cách vật”). “Ý” (意) là tiếng lòng (tâm âm), huyền diệu vô cùng; “chính tâm” (chỉnh đốn tấm lòng) chính là lấy tâm làm gốc. Do đó, Đại Học thực chất là “Tâm học”, cội rễ căn bản cũng nằm trọn ở công phu tu dưỡng nơi tâm.


Sau Khổng Tử, bậc tiên triết Nho gia Mạnh Tử từng dùng chữ Tâm để diễn giải nền tảng tư tưởng của đạo Nho: “Trắc ẩn chi tâm, nhân giai hữu chi; tu ố chi tâm, nhân giai hữu chi; cung kính chi tâm, nhân giai hữu chi; thị phi chi tâm, nhân giai hữu chi. Trắc ẩn chi tâm, nhân dã; tu ố chi tâm, nghĩa dã; cung kính chi tâm, lễ dã; thị phi chi tâm, trí dã. Nhân nghĩa lễ trí, phi do ngoại thước ngã dã, ngã cố hữu chi dã, phất tư nhĩ hĩ” (Lòng trắc ẩn, ai cũng có; lòng hổ thẹn ghét điều xấu ác, ai cũng có; lòng cung kính, ai cũng có; lòng biết đúng sai, ai cũng có. Lòng trắc ẩn là Nhân; lòng hổ thẹn ghét điều ác là Nghĩa; lòng cung kính là Lễ; lòng biết đúng sai là Trí. Nhân nghĩa lễ trí không phải từ bên ngoài rèn đắp vào ta, mà vốn là điều ta sẵn có, chỉ vì ta không chịu suy nghĩ tìm tòi mà thôi). Mạnh Tử chỉ rõ: “Quân tử sở tính, nhân nghĩa lễ trí căn vu tâm” (Bản tính của người quân tử, nhân nghĩa lễ trí đều bắt rễ từ nơi tâm), và tha thiết răn dạy: “Học vấn vô tha, cầu kỳ phóng tâm nhi dĩ” (Đạo học vấn chẳng có gì khác, chỉ là tìm lại cái tâm đã thất lạc mà thôi). Mạnh Tử tiếp tục phát triển: “Tận kỳ tâm giả, tri kỳ tính dã. Tri kỳ tính, tắc tri thiên hĩ. Tồn kỳ tâm, dưỡng kỳ tính, sở dĩ sự thiên dã” (Dốc hết lòng mình thì biết được tính của mình. Biết được tính thì biết được đạo trời. Giữ gìn cái tâm, nuôi dưỡng bản tính ấy, chính là để phụng sự đạo trời – Mạnh Tử · Tận Tâm). Thâm ý tâm pháp của Nho học đều gói trọn ở đây.


2. Truyền thống Đạo gia – Hư tâm ngộ đạo


Chương mở đầu của Đạo Đức Kinh, Lão Tử đã hé lộ thanh âm huyền diệu và cảnh giới thâm sâu của Đạo: “Đạo khả đạo, phi thường Đạo. Danh khả danh, phi thường Danh. Vô danh thiên địa chi thủy; hữu danh vạn vật chi mẫu. Cố thường vô, dục dĩ quan kỳ diệu; thường hữu, dục dĩ quan kỳ khiếu. Thử lưỡng giả, đồng xuất nhi dị danh, đồng vị chi huyền. Huyền chi hữu huyền, chúng diệu chi môn.” (Đạo mà có thể gọi ra được, không phải là Đạo vĩnh hằng. Danh mà có thể đặt ra được, không phải là Danh vĩnh hằng. Không tên là gốc của trời đất; có tên là mẹ của muôn vật. Cho nên thường để lòng “không” để chiêm ngưỡng điều huyền diệu; thường giữ lòng “có” để ngắm nhìn vẻ sáng rõ rực rỡ. Cả hai điều ấy cùng xuất phát từ một nguồn nhưng khác tên, đều gọi là huyền bí. Huyền bí lại càng thêm huyền bí, ấy là cánh cửa dẫn vào muôn vàn điều huyền diệu).


Từ đây, Lão Tử đã để lại một “định nghĩa” về Đạo – một định nghĩa khiến người đời sau suy ngẫm khôn nguôi. Thế nhưng, nếu chỉ nói suông trên môi mép mà thiếu đi sự trải nghiệm của tâm, làm sao có thể tỏ ngộ được ngụ ý chân thực của Đạo? Đúng như sách Quan Doãn Tử khẳng định: “Tâm ký vị manh, đạo diệc giả chi” (Khi tâm chưa nảy sinh, đạo cũng chỉ là sự vay mượn). Duy chỉ có một tâm cảnh tịch tĩnh và rỗng rang sáng tỏ mới có thể phản chiếu trọn vẹn nội hàm sâu thẳm của Đạo.


Trong thiên Nhân Gian Thế sách Trang Tử, mượn cuộc đối thoại giữa Khổng Tử và môn đồ Nhan Hồi, Trang Tử đã chỉ ra đạo lý về “Tâm trai” (lòng chay tịnh): “Nhược nhất chí, vô thính chi dĩ nhĩ nhi thính chi dĩ tâm; vô thính chi dĩ tâm nhi thính chi dĩ khí. Thính chỉ ư nhĩ, tâm chỉ ư phù. Khí dã giả, hư nhi đãi vật giả dã. Duy đạo tập hư. Hư giả, tâm trai dã.” (Hãy gom ý chí về làm một; chớ nghe bằng tai mà hãy nghe bằng tâm; chớ nghe bằng tâm mà hãy nghe bằng khí. Tai chỉ dừng lại ở việc nghe âm thanh, tâm chỉ dừng lại ở chỗ phù hợp với hiện tượng. Còn khí là trạng thái trống rỗng để tiếp nhận vạn vật. Duy chỉ có Đạo mới hội tụ ở nơi trống rỗng. Trống rỗng, chính là tâm trai vậy). Cái “hư tâm” (lòng trống không) này cũng chính là chủ trương của Lão Tử, tức là ý niệm “tâm thiện uyên” (tâm sâu lắng như đầm nước). Như Trang Tử từng viết: “Chiêm bỉ khuyết giả, hư thất sinh bạch, cát tường chỉ chỉ” (Hãy nhìn vào chỗ trống không kia, căn phòng trống rỗng sẽ sinh ra ánh sáng trắng thuần khiết, điềm lành sẽ tụ lại nơi đó). Nhà tư tưởng cổ đại Quản Tử có cùng mạch tư duy Đạo gia cũng từng bày tỏ kiến giải tương tự trong thiên Tâm Thuật thượng sách Quản Tử: “Hư nhi vô hình vị chi đạo” (Trống rỗng mà vô hình, gọi là Đạo). Một khi đạt được tâm cảnh tịch tĩnh và rỗng rang sáng tỏ ấy, Đạo sẽ tự nhiên hiển lộ, con người sẽ cảm nhận được sự hiện hữu cùng ý nghĩa sâu xa của Đạo.


3. Truyền thống Thiền tông – Minh tâm kiến tính


Thiền tông từng được xem là đại diện tiêu biểu của Phật giáo Trung Quốc, bản chất vốn là “Tâm tông”, làm nổi bật tôn chỉ mầu nhiệm “lấy tâm làm gốc”, “dĩ tâm truyền tâm”. Năm xưa trên hội Linh Sơn, Thế Tôn niêm hoa thị chúng, Ca Diếp mỉm cười đón nhận, lưu lại cội nguồn Niết bàn diệu tâm, một pháp môn tinh vi vi diệu, để rồi sau này được Bồ Đề Đạt Ma truyền sang phương Đông.


Nhà đặt nền móng trọng yếu cho Thiền tông Trung Quốc là Lục tổ Huệ Năng thời nhà Đường. Huệ Năng xuất thân bần hàn, chưa từng học chữ. Chỉ nhờ nghe một người đi đường tụng câu “Ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm” trong Kinh Kim Cương mà tâm bừng tỉnh, dấn bước vào lộ trình tìm cầu tự tính giác ngộ. Cuối cùng, khi được Đại sư Hoằng Nhẫn truyền pháp lần nữa bằng Kinh Kim Cương, ngọn đèn tâm của Huệ Năng hoàn toàn bừng sáng: “Hà kỳ tự tính, bản tự thanh tịnh; hà kỳ tự tính, bản bất sinh diệt; hà kỳ tự tính, bản tự cụ túc; hà kỳ tự tính, bản vô động dao; hà kỳ tự tính, năng sinh vạn pháp.” (Đâu ngờ tự tính vốn tự thanh tịnh; đâu ngờ tự tính vốn không sinh diệt; đâu ngờ tự tính vốn tự đầy đủ; đâu ngờ tự tính vốn không dao động; đâu ngờ tự tính hay sinh muôn pháp). Đại sư Hoằng Nhẫn lập tức tán thán: “Bất thức bản tâm, học pháp vô ích; nhược thức tự bản tâm, kiến tự bản tính, tức danh trượng phu, thiên nhân sư, Phật” (Không biết bản tâm, học pháp vô ích; nếu nhận biết bản tâm, thấy được bản tính của mình, tức gọi là bậc trượng phu, thầy của trời người, là Phật – Lục Tổ Đàn Kinh · Hành Do đệ nhất).


Phân tâm học phương Tây, đặc biệt là tâm lý học phân tích của Carl Jung, có sự tương đồng vi diệu với tư tưởng Thiền tông. Tác phẩm Thiền tông và Phân tâm học của Erich Fromm và Suzuki Daisetsu từng được lan truyền rộng rãi; những phát triển luận điểm của Jung về Tử thư Tây Tạng (Bardo Thodol) cũng tạo nên tầm ảnh hưởng sâu rộng. Ngay trước khi qua đời không lâu, cuốn sách cuối cùng mà Jung đọc chính là chuyên khảo về Thiền tông Trung Quốc và phong thái Thiền Nhật Bản. Ba chương đầu cuốn sách thuật lại niên phổ của Thiền sư Hư Vân, phác họa một tấm gương sáng về minh tâm kiến tính thời cận hiện đại. Jung – khi ấy đã sẵn sàng cho chuyến đi về cõi vĩnh hằng – đã vô cùng xúc động và bảo thư ký viết thư gửi tác giả để bày tỏ lòng biết ơn cùng niềm an ủi sâu sắc từ tận đáy lòng.


IV. Lấy tâm làm căn rễ: Ý nghĩa chữ Tâm trong chữ Hán


Ở Trung Quốc có câu nói “Tam giáo quy nhất”, tức Nho giáo, Đạo gia và Thiền tông vốn dĩ có chung một gốc rễ tư tưởng. Dưới góc nhìn của tôi, cội nguồn tư tưởng chung ấy chính là chữ Tâm của Trung Hoa; Nho, Đạo, Thiền thảy đều lấy tâm làm gốc. Vậy chúng ta nên hiểu hàm nghĩa của chữ “Tâm” Trung Hoa này như thế nào?


1. Tâm giả, sinh chi bản, thần chi biến dã


Chữ “Tâm” (心) trong Hán tự mượn hình tượng quả tim của cơ thể, rất dễ khiến người ta liên tưởng thuần túy đến chức năng của trái tim. Thế nhưng, tính tượng hình của chữ Hán vốn mang công năng biểu tượng; và tất cả các khái niệm của Đông y – vốn hàm chứa học thuyết sinh lý học hay cơ thể người mộc mạc – đều mang ý nghĩa biểu tượng sâu sắc, đúng như thuyết “tạng tượng” thường nói. Xét trên phương diện này, ngay ở cấp độ sinh lý học, tâm đã mang một ý nghĩa siêu việt, được gọi là “Sinh chi bản, thần chi biến dã” (gốc của sự sống, cội nguồn biến hóa của tinh thần).


Như vậy, đây là việc mượn cái “tâm” hữu hình để biểu thị sự biến hóa của cái “thần” vô hình. Khổng Tử cũng từng dùng chữ Tâm để miêu tả sự trưởng thành tâm lý của con người, dùng sự thịnh suy của “huyết khí” để ví von hành vi và phẩm tính. Đúng như lời giải thích trong Y Tông Kim Giám: “Hình chi tinh túy xứ danh tâm… Động vật chi tâm giả, hình nhược thùy liên, trung hàm thiên chi sở phú, hư linh bất muội chi linh tính dã” (Chỗ tinh túy nhất của hình thể gọi là tâm… Trái tim của sinh vật, hình như đóa sen rủ xuống, bên trong chứa đựng linh tính hư linh bất muội do trời ban cho). Sự “thiên chi sở phú” (trời ban) chứa đựng trong tâm này tựa như sự kết hợp giữa tinh và noãn; trong khái niệm “tâm”, nó đã bao hàm sự hình thành và phát triển của cá nhân, cho đến cả đạo lý làm người.


2. Tổng bao vạn lự vị chi tâm


Đồng thời, chữ “Tâm” của chúng tôi được dùng để biểu thị tư tưởng, cảm xúc, ý thức, cho đến thái độ, tính cách và ý chí; các kinh điển cổ đại đều có minh chứng rõ ràng cho điều này. Như trong Lễ Ký · Đại Học Sớ có câu: “Tổng bao vạn lự vị chi tâm” (Bao trùm muôn ngàn suy nghĩ gọi là tâm). Sách Kinh Dịch · Hệ Từ ca ngợi Dịch: “Năng thuyết chư tâm, năng nghiên chư lự” (Làm vui lòng người, suy xét mọi nghĩ suy). Ta có câu cảnh ngôn: “Nhị nhân đồng tâm, kỳ lợi đoạn kim” (Hai người đồng lòng, sắc bén chặt đứt vàng), có danh ngôn: “Thánh nhân dĩ thử tẩy tâm” (Thánh nhân dùng điều này để gột rửa tâm). Trong Kinh Thi · Tiểu Nhã có những vần thơ bất hủ: “Nhật nguyệt dương chỉ, nữ tâm thương chỉ” (Ngày tháng ấm áp trôi qua, lòng người con gái thương đau); “Tha nhân hữu tâm, dư thốn độ chi” (Người khác có bụng dạ nghĩ suy, ta đo lường thấu suốt); cũng như: “Ngã tâm phỉ giám, bất khả dĩ nhụ; ngã tâm phỉ thạch, bất khả dĩ chuyển; ngã tâm phỉ tịch, bất khả dĩ quyển” (Lòng ta chẳng phải tấm gương soi, không thể dung nạp nhơ bẩn; lòng ta chẳng phải hòn đá tảng, không thể tùy tiện chuyển dời; lòng ta chẳng phải chiếc chiếu manh, không thể tùy ý cuộn tròn). Đồng thời, tâm còn được gọi là nơi chốn của trí tuệ, cội nguồn của linh tính. Như thiên Tâm Thuật sách Quản Tử đã viết: “Tâm dã giả, linh chi xá dã” (Tâm chính là ngôi nhà trú ngụ của linh tính).


Ở đây, trong mối tương quan giữa tâm và ngụ ý tâm lý học, tâm đã trở thành cái “Tâm” hoàn chỉnh của tâm lý học; nó đã vượt lên trên “trái tim vật lý”, đồng thời vượt lên trên cả “bộ não”. Cổ nhân chúng tôi dùng tâm để biểu thị tâm lý và cảm xúc, linh tính và trí tuệ, cũng như biểu thị thế giới tâm linh và tinh thần của con người.


3. Thiên tâm và Đạo tâm – Tính siêu việt của Tâm


Đồng thời, chữ “Tâm” của Trung Quốc có thể đóng vai trò là “bản nguyên của Đạo” (đạo chi bản nguyên), hoặc “tâm của trời đất” (thiên địa chi tâm). Sách Thích Văn chú: “Tâm, hoặc tác đạo” (Tâm, có khi viết là Đạo). Quẻ Phục (復卦) sách Kinh Dịch có câu: “Phục kỳ kiến thiên địa chi tâm hồ” (Trở lại để thấy được cái tâm của trời đất chăng). “Mười sáu chữ tâm truyền” có câu “Nhân tâm duy nguy”, lại có câu “Đạo tâm duy vi”, từ đó xác lập nên truyền thống Tâm học Trung Hoa, cho đến lời phát biểu hùng hồn của Lục Cửu Uyên: “Vũ trụ tiện thị ngô tâm, ngô tâm tiện thị vũ trụ” (Vũ trụ chính là tâm ta, tâm ta chính là vũ trụ).


Trương Tái từng tuyên bố: “Đại kỳ tâm tắc năng thể thiên hạ chi vật” (Mở rộng cái tâm của mình thì có thể thấu cảm trọn vẹn muôn vật trong thiên hạ). Các học giả và bậc trí giả truyền thống Trung Hoa chưa bao giờ nguôi chí hướng “kế tuyệt học”, luôn mong muốn “vì trời đất mà lập tâm”. Theo ý nghĩa này, “tâm” có thể hàm chứa hoặc biểu thị chí lý của thiên hạ; sự nhận thức và thấu triệt của cổ nhân Trung Hoa đối với thế sự, nhân sinh và vũ trụ tự nhiên thảy đều được kết tinh trong một chữ “Tâm” này.


Điều mà tâm lý học văn hóa Trung Hoa hé mở không phải là thứ tâm lý học thuần túy của não bộ, nhận thức và ý thức như phương Tây, mà trên nền tảng ấy, nó còn dung nạp một hệ thống tri thức về vô thức, sinh mệnh lực, tâm tri và thể ngộ. Đồng thời, “tâm” cũng chính là sợi dây liên kết và nhịp cầu trung gian kết nối hai hệ thống khác biệt ấy. Vì vậy, việc tái nhận thức chữ “Tâm” cũng bao hàm một cách hiểu mới mẻ về “Tâm lý học” cùng những tầng ý nghĩa đích thực của nó.


V. Lời kết: Lấy tâm làm gốc và lập tâm cho tâm lý học


Các nhà tâm lý học phương Tây từng coi Trung Quốc là quê hương đầu tiên của tâm lý học; nhiều học giả lỗi lạc luôn theo đuổi việc tìm hiểu văn hóa Trung Hoa và nền tâm lý học trong lòng văn hóa ấy. Thế nhưng các nhà tâm lý học Trung Quốc chúng tôi lại đang rơi vào cảnh “niệm Phật mong sinh về Tây phương”, xem tâm lý học thuần túy là một khoa học bắt nguồn từ phương Tây. Tôi cho rằng, dù thế nào đi nữa, chúng ta cũng không thể vì du nhập từ “psychology” của phương Tây, tiếp nhận khái niệm “mind” của phương Tây, mà vứt bỏ hoặc lãng quên đi chữ “Tâm” của chính mình. Dưới góc nhìn của tôi, chỉ khi có sự kết hợp hài hòa giữa “Tâm” và “Não”, trí tuệ tâm lý học thực sự mới được khai sinh, và ta mới có thể sở hữu một nền tâm lý học đong đầy ý nghĩa, phát huy trọn vẹn giá trị nội tại vốn có của nó.


Trên thực tế, trải qua hơn một trăm năm nỗ lực của các nhà tâm lý học phương Tây, tâm lý học đương đại đã có một thể xác tương đối hoàn chỉnh, tứ chi vẹn toàn, định hình nên vô số nhánh nghiên cứu chuyên sâu; thậm chí nó cũng đã sở hữu một cái đầu đề cao nhận thức… Thế nhưng, điều nó đang thiếu vắng lại chính là một “Trái tim / Tâm”. Mà trong tâm lý học văn hóa Trung Hoa, điều được kết tinh sâu sắc nhất chính là ý nghĩa của cái “Tâm” ấy.


Nếu nói mục đích của tâm lý học là nâng cao sự tự nhận thức của con người đối với chính bản thân mình, thì mục đích của nhận thức ấy phải hướng tới sự phát triển của bản ngã hoặc tự tính. Sự phát triển của bản ngã phải là một sự phát triển mang tính tích hợp toàn vẹn – đó là cách hiểu và niềm tin vững chắc của chúng tôi. Chúng ta không chỉ cần phát triển “bản ngã” (ego), mà còn phải phát triển “tự tính” (Self); chúng ta không chỉ cần phát triển đầu não, mà còn phải phát triển cả “tâm”.


Lấy tâm làm gốc, nền tâm lý học văn hóa Trung Hoa được xiển dương từ đó là một cảnh giới. Điều này không đơn thuần nhằm tôn vinh giá trị của tâm lý học văn hóa Trung Hoa, mà đồng thời tôi còn muốn mượn chủ đề này để khơi gợi các nhà tâm lý học phương Tây chú ý nhiều hơn đến bản tâm và đời sống tâm linh của chính họ. Cái tâm này là tâm của toàn thể nhân loại, là cái tâm tự nhiên của đất trời mà loài người được phú bẩm. Do đó, tâm này là đồng nhất, tâm này mang tính thống nhất. Khi tâm lý học thực sự nắm giữ được ý nghĩa của tâm, chúng ta sẽ có được một nền tâm lý học tích hợp mang tính nhất thể. Thấu hiểu được cái tâm ấy là một cảnh giới – cảnh giới cao nhất mà tâm linh con người có thể vươn tới.


Hỏi đáp


【Rudolf Ritsema】 Xin chân thành cảm ơn bài báo cáo xuất sắc và cách diễn đạt tràn đầy tính sáng tạo của Giáo sư Thân Hà Vĩnh; ông đã mở ra cho chúng tôi quan điểm về tâm lý học của tâm trong văn hóa Trung Hoa, đây thực sự là một tầm nhìn tâm lý học mới mẻ, chắc chắn sẽ gợi mở nhiều suy ngẫm cho tư tưởng và sự phát triển của toàn bộ ngành tâm lý học. Tôi có một suy nghĩ thế này: liệu chúng ta có thể cân nhắc việc trực tiếp sử dụng chữ Hán “Tâm” – phiên âm là “xin”, thay vì dùng từ “heart” trong tiếng Anh hay không? Bởi theo thói quen của người phương Tây, từ “heart” trong tiếng Anh không thể biểu đạt trọn vẹn ý nghĩa thâm sâu của chữ “Tâm” (心) trong tiếng Trung.


【Thân Hà Vĩnh】 Rất cảm ơn phản hồi và lời đề xuất của ngài Ritsema. Tôi từng cân nhắc dùng các cụm từ như “heart-mind” hay “heart-soul” để biểu đạt chữ “Tâm” trong Hán tự (Tiến sĩ Ritsema nói xen vào: “Như vậy có lẽ sẽ tốt hơn đấy”). Bởi vì trong các bản dịch của một số nhà Hán học, chữ Tâm phần lớn bị dùng đơn độc thành từ “mind”. Tức là rất nhiều người đã dịch chữ “Tâm” (心) thành “mind” của phương Tây. Nhưng xét thấy hai từ “tâm lý” hoặc “tinh thần” trong tiếng Trung của chúng tôi vốn gần gũi hơn với “mind”; còn từ “linh hồn” lại tiệm cận hơn với “soul”, cho nên tôi mới dùng trực tiếp từ “heart”. Khi ấy tôi mang một suy nghĩ rằng: từ “heart” này nên được các nhà tâm lý học gán cho một nội hàm mang tính chuyên môn; khi mọi người tiếp xúc với ý nghĩa của chữ Tâm trong văn hóa Trung Hoa, có thể họ sẽ thay đổi thái độ khi nhìn nhận từ “heart”, và đó chính là điều tôi kỳ vọng: “lập tâm cho tâm lý học”. Sau này, khi hoàn tất khâu chuẩn bị cho bài báo cáo, tôi cảm nhận thấy rằng trong hành trình tìm kiếm ý nghĩa của chữ “Tâm” trong văn hóa Trung Hoa, cũng chính là lúc ta tìm lại bản nghĩa nguyên thủy của từ “heart” trong tiếng phương Tây. Chẳng hạn xét về từ nguyên hoặc cách dùng cổ xưa của “heart”, nó vốn dĩ có thể biểu đạt “trung tâm” và “cội nguồn” của sự tồn tại con người (the vital center and source of one's being, emotions, and sensibilities, the most important or essential part of human being); có thể biểu đạt nội hàm sâu kín của tâm tính và đức tin nơi một người (the repository of one's deepest and sincerest feelings and beliefs), cấu trúc sâu xa căn bản của cảm xúc, khí chất và cá tính con người (emotional constitution, basic disposition, or character), cũng như cội rễ căn bản của tâm trí và trí tưởng tượng (the seat of the intellect or imagination). Cảm giác mang lại là: tư tưởng phương Tây, xét từ nguồn cội sơ khai, vốn cũng khởi phát từ trái tim (heart), nhưng dần dà đã thăng hoa lên thành đầu não và tiến hóa thành “mind” (tâm trí / tâm lý); trong khi các nhà triết học cổ đại Trung Quốc lại luôn kiên định gìn giữ sâu sắc nơi chữ “Tâm” để gây dựng học vấn.


【Shantena Augusto Sabbadini】 Tôi rất tâm đắc với phần luận giải của ông về những “ngụ ý” liên quan đến tâm trong Kinh Dịch. Xét trên tổng thể toàn bộ Kinh Dịch, hình tượng của tâm hiện lên như thế nào, và tâm đã được trao cho những tầng ý nghĩa gì?


【Thân Hà Vĩnh】 Cảm ơn câu hỏi của ngài Shantena. Hình tượng của tâm trong Kinh Dịch vẫn luôn là vấn đề tôi trăn trở suy ngẫm. Ngoài những trích dẫn tôi đã trình bày trong thiên Hệ Từ như “thánh nhân dĩ thử tẩy tâm” (thánh nhân dùng Dịch gột rửa tâm), hay “năng thuyết chư tâm, năng nghiên chư lự” (Dịch làm vui lòng người, suy xét mọi nghĩ suy), cùng lời quẻ Khảm “duy tâm hanh” (giữ lòng son thì hanh thông), điều khiến tôi say mê nhất chính là quẻ Hàm (咸卦), hay nói cách khác là hình tượng và ý nghĩa của “tâm” trong quẻ Hàm.


“Hàm” (咸) nghĩa là cảm (感 - cảm ứng, rung động). Chữ “Cảm” (感) chứa chữ Tâm (心) bên dưới; trong “cảm” đã bao hàm sẵn “hình tượng của tâm” và ý nghĩa của tâm. Đúng như Thoán truyện quẻ Hàm viết: “Quan kỳ sở cảm, tắc thiên địa vạn vật chi tình khả kiến hĩ” (Quan sát sự cảm ứng ấy, ắt thấy được tình ý sâu xa của trời đất và muôn vật).


Còn lời diễn giải về “Dịch” trong Hệ Từ sách Kinh Dịch: “Dịch, vô tư dã, vô vi dã, tịch nhiên bất động, cảm nhi toại thông thiên hạ chi cố, phi thiên hạ chi chí thần, kỳ thục năng dữ ư thử?” (Dịch không nghĩ ngợi, không làm gì, lặng lẽ bất động, hễ cảm ứng là thông suốt mọi duyên cớ trong thiên hạ; nếu chẳng phải bậc chí thần trong thiên hạ thì ai có thể làm được điều này?) – câu ấy cũng làm nổi bật cái tâm ý nhạy bén giao cảm của Dịch.


Thế nhưng chữ “Hàm” (咸) lại hoàn toàn không có bộ Tâm (心), điều này phác họa một hình tượng đặc biệt và nội hàm độc đáo trong Kinh Dịch: “vô tâm chi cảm” (sự rung cảm không cần dụng tâm / cảm ứng vô tâm).


Có lẽ đây không chỉ đơn thuần là không có tâm, mà là gợi mở một cảnh giới mang tính siêu việt. Đúng như quẻ Phục trong Kinh Dịch đã ghi: “Phục kỳ kiến thiên địa chi tâm hồ?” (Trở lại để thấy được cái tâm của trời đất chăng?). Ý nghĩa của chữ “Cảm” trong quẻ Hàm cũng phải bắt nguồn từ thứ “tâm của trời đất” này. Như lời chú trong Thoán truyện quẻ Hàm: “Thiên địa cảm nhi vạn vật hóa sinh, thánh nhân cảm nhân tâm nhi thiên hạ hòa bình” (Trời đất cảm ứng nhau mà muôn vật sinh sôi biến hóa; thánh nhân cảm hóa lòng người mà thiên hạ thái bình). Đó cũng là lời nhắc nhở chúng ta theo đuổi ý nghĩa hàm chứa trong sự “giao cảm của trời đất” và việc “thánh nhân cảm hóa lòng người”.


Vì vậy, một khi đã thấu triệt thâm ý về “sự rung cảm vô tâm” của chữ Hàm, ta sẽ thấy toàn bộ Kinh Dịch đều tràn ngập hình tượng của tâm, tràn ngập ý nghĩa của tâm.


【Rudolf Ritsema】 Trong quá trình chúng ta làm việc cùng nhau, quẻ Dịch mà chúng ta bắt gặp là quẻ Tổn (損卦). Tôi rất muốn lắng nghe góc nhìn của ông đối với quẻ này.


【Thân Hà Vĩnh】 Cảm ơn ngài Ritsema đã giúp tôi gieo được quẻ này.


Trong thiên Yếu sách Bạch thư Chu Dịch, có một đoạn Khổng Tử bình luận về hai quẻ Tổn (損 - bớt đi) và Ích (益 - thêm vào): “Tổn Ích chi đạo, túc dĩ quan thiên địa chi biến, nhi quân giả chi sự dĩ. Thị dĩ sát ư Tổn Ích chi biến giả… thuận thiên địa chi tâm, thử vị Dịch đạo” (Đạo của hai quẻ Tổn và Ích đủ để quan sát sự biến hóa của trời đất, và là công việc của bậc quân vương. Cho nên bậc thấu suốt sự biến dịch của Tổn và Ích… thuận theo cái tâm của trời đất, đó gọi là đạo của Kinh Dịch).


Dẫu tôi chưa thể thấu suốt hoàn toàn Đạo của Kinh Dịch hàm chứa trong hai quẻ Tổn và Ích như lời Khổng Tử, nhưng khi bắt gặp quẻ này, điều đầu tiên tôi phải đối diện chính là ngữ nghĩa căn bản của chữ “Tổn”, đúng như câu phương ngôn của chúng tôi: “Mãn chiêu tổn, khiêm thụ ích” (Kiêu ngạo tự mãn chuốc lấy hao tổn, khiêm tốn nhún nhường nhận được ích lợi). Câu nói này xuất phát từ thiên Đại Vũ Mô sách Thượng Thư, Bá Ích ca ngợi vua Vũ rằng: “Duy đức động thiên, vô viễn phất giới; mãn chiêu tổn, khiêm thụ ích, thời nãi thiên đạo” (Chỉ có đức mới làm rung động trời cao, không nơi xa xôi nào mà không chạm tới; tự mãn chuốc lấy hao tổn, khiêm hạ nhận được ích lợi, ấy chính là đạo trời). Đó là phản xạ đầu tiên của tôi khi ngài Ritsema giúp tôi gieo được quẻ này.


Kế đó, nó khiến tôi nhớ lại câu chuyện được ghi chép trong thiên Kính Thận sách Thuyết Uyển, cũng thuật lại việc Khổng Tử bàn về hai quẻ Tổn và Ích: Khi Khổng Tử đọc Kinh Dịch, đọc đến quẻ Tổn và quẻ Ích, ngài bèn ngửa mặt than dài. Tử Hạ rời chiếu đứng dậy hỏi: “Thưa thầy, cớ sao thầy lại thở dài?” Khổng Tử đáp: “Kẻ tự làm hao tổn mình thì lại được thêm vào; kẻ tự làm tăng ích cho mình thì lại bị thiếu hụt đi. Ta thở dài là vì lẽ đó!” Qua đó có thể thấy ngụ ý giữa Tổn và Ích quả thực vô cùng phi phàm.


Bởi vậy, đối với quẻ “Tổn” mà tôi bắt gặp, trong lòng tôi lại dâng trào một cảm nhận mới mẻ. Cảm nhận này rất đỗi tích cực. Tôi nghĩ mình có thể mượn câu nói của Lão Tử để biểu đạt, đó chính là: “Vi học nhật ích, vi đạo nhật tổn” (Theo đuổi sự học thì mỗi ngày một tăng thêm; tu dưỡng theo Đạo thì mỗi ngày một bớt đi). Có lẽ đây cũng chính là điều mà bản thân tôi lúc này cần phải đối diện, bất kể là khi đang ở nước ngoài hay khi trở về trong nước.


Bài giảng 3: Tâm lý học lấy tâm làm gốc: Hạnh phúc của người Trung Quốc và tâm linh văn hóa


Tôi rất vinh dự được một lần nữa trở lại Eranos để tham dự Diễn đàn Bàn tròn Văn hóa Đông - Tây năm 2007. Xin chân thành cảm ơn lời mời của ngài John van Praag – Chủ tịch Quỹ Eranos, cùng lời “giới thiệu đặc biệt” mà ông vừa dành cho tôi.


(Ngài John van Praag giới thiệu tôi là giáo sư của Đại học Phục Đán và Đại học Sư phạm Hoa Nam, nhà phân tích tâm lý học Jung đầu tiên của Trung Quốc, người khởi xướng và tổ chức chủ chốt của Diễn đàn Quốc tế về Phân tích Tâm lý và Văn hóa Trung Hoa… cùng nhiều lời ngợi khen nồng nhiệt khác. Sau đó, ông nói thêm rằng muốn dành cho tôi một lời “giới thiệu đặc biệt” mang tính bổ sung: Ông chia sẻ với hội trường rằng hành lý của tôi đã thất lạc trên chuyến bay chuyển tiếp từ Pháp sang Ý để đến Milan, đến tận hôm nay vẫn bặt vô âm tín. Ngày đầu tiên khi nghe tin, mọi người đều bày tỏ sự cảm thông sâu sắc. Sang ngày thứ hai, khi gặp tôi, mọi người lại thấy nụ cười rạng rỡ trên môi, liền phấn khởi hỏi: “Ồ, hành lý đến rồi phải không?” Nhưng câu trả lời vẫn là chưa. Ngày thứ ba rồi ngày thứ tư trôi qua, mọi chuyện vẫn y như vậy. Nói đến đây, ông quay sang nhìn tôi rồi nói với cả hội trường: “Quý vị thấy đấy, đó chính là nụ cười của người Trung Quốc.”


Kế đó, ông bật mí một bí mật khác: vì hành lý chưa tới, để phục vụ cho bài diễn thuyết hôm nay, tôi đã mượn một chiếc cà vạt. Chiếc cà vạt này do học giả người Ý Luigi Zoja cho mượn. Ngồi ở hàng ghế đầu tiên, Luigi Zoja – nguyên Chủ tịch Hiệp hội Tâm lý học Phân tích Quốc tế (IAAP) – hào hứng đứng dậy, hóm hỉnh nói: “Cho Hà Vĩnh mượn cà vạt là vinh dự của tôi. Sau này tôi sẽ cất giữ chiếc cà vạt này làm kỷ niệm, nó sẽ trở thành một chiếc cà vạt mang ý nghĩa lịch sử.”


Cuối cùng, John van Praag giới thiệu với mọi người chủ đề báo cáo của tôi là “Tâm lý phân tích, quan điểm phương Đông về hiện đại hóa” – Psychology of the Heart, Oriental Perspective on Modernity.)


Vốn dĩ tôi đã chuẩn bị sẵn bộ lễ phục truyền thống Trung Hoa mang theo. Song hành trang chưa tới, đành xin được xuất hiện trước quý vị trong vẻ mộc mạc, giản dị thế này.


Bây giờ, tôi xin phép được chia sẻ những nội dung mình đã chuẩn bị.


Với chủ đề “Tâm lý học lấy tâm làm gốc”, tôi sẽ bám sát trọng tâm của diễn đàn lần này – “Tính hiện đại của phương Đông và phương Tây” – nhằm mở ra một quan điểm và tầm nhìn của tâm lý học phương Đông.


Cho phép tôi trích dẫn một đoạn trong bức thư mà ngài Chủ tịch John van Praag đã gửi cho tôi:


“Tôi nghĩ, với tư cách là một người Trung Quốc, một người tiên phong của tâm lý học Trung Quốc, liệu ông có thể chia sẻ: Người Trung Quốc có đang đi theo con đường tương tự như phương Tây để bước vào chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy lý; hoặc nếu ông muốn gọi tên, là ‘chủ nghĩa giản lược’ (năm ngoái Giáo sư Luigi Zoja đã có bài báo cáo xuất sắc với nhan đề ‘Chủ nghĩa giản lược: Một căn bệnh của phương Tây?’) hay không? Xét về truyền thống, điều gì đã mang lại hạnh phúc cho người Trung Quốc? Những giá trị truyền thống từng làm cho con người hạnh phúc ấy đã biến đổi ra sao? Và sự biến đổi đó có mối liên hệ cũng như so sánh thế nào đối với phương Tây?”


Đây đều là những vấn đề hệ trọng, và dĩ nhiên, đối với tôi đó cũng là những thách thức lớn. Thách thức cũng chính là nguồn khích lệ quý báu, tạo cơ duyên để tôi một lần nữa được đứng tại diễn đàn Eranos này.


Tôi xin trình bày bài báo cáo qua ba phần:


1. Quan điểm căn bản của nền tâm lý học lấy tâm làm gốc: Nếu muốn biết điều gì mang lại hạnh phúc cho người Trung Quốc, chúng ta cần thấu hiểu nền tâm lý học trong văn hóa Trung Hoa.

2. Dùng tâm để thấu triệt “Hạnh phúc của người Trung Quốc”: Vận dụng quan điểm của nền tâm lý học lấy tâm làm gốc để phân tích và giải mã nội hàm hạnh phúc của người Trung Hoa.

3. Đặt trên bối cảnh văn hóa Trung Hoa để khám phá ý nghĩa của “Tâm Trung Hoa”, cùng đời sống tâm linh văn hóa và những chuyển dịch của nó.


Nếu muốn hiểu người Trung Quốc, hiểu hạnh phúc của người Trung Quốc và ý nghĩa của tiến trình hiện đại hóa tại Trung Quốc, chúng ta không thể chỉ thông qua tư duy của người Trung Quốc – lối tư duy bằng bộ não; mà còn phải thẩm thấu qua chữ “Tâm” của Trung Hoa – lối tư duy bằng tâm. Chúng ta cần tìm hiểu nền tâm lý học của người Trung Quốc, thứ mà tôi gọi là “Tâm lý học lấy tâm làm gốc”.


I. Đại nghĩa xiển thích về “Tâm lý học lấy tâm làm gốc”


Đúng 10 năm trước, vào tháng 6 năm 1997, tôi được mời đến Eranos diễn thuyết và đã chính thức nêu bật ý nghĩa của nền tâm lý học lấy tâm làm gốc. Thông qua khái niệm và tư tưởng “lấy tâm làm gốc”, điều tôi muốn truyền tải là sự thấu hiểu và trải nghiệm đối với ý nghĩa tâm lý học đặc thù kết tinh trong văn hóa Trung Hoa.


Bài báo cáo đó đã được in trong cuốn Kỷ yếu thường niên Eranos (Eranos Yearbooks) năm ấy. Đến năm 2001, một tạp chí tại Hoa Kỳ đã tái bản lại bài báo cáo này với lời giới thiệu: “Tái xem xét ‘Tâm lý học’, bản dịch tiếng Trung của tâm lý học phương Tây: Một học giả trên hành trình tìm lại cái tâm Trung Hoa đã mất.”


Bàn về “Tâm” và ý nghĩa của nó, tôi xin phép được mượn một câu chuyện gắn liền với Carl Jung.


Đó là câu chuyện diễn ra cách đây 83 năm, vào mùa xuân năm 1924, khi Jung 49 tuổi. Ông từ Thụy Sĩ sang Mỹ du hành và đến thăm một người bạn – vị tù trưởng thổ dân da đỏ ở New Mexico tên là Ochwiay Biano (còn gọi là Mountain Lake - Hồ Trên Núi).


Jung hỏi Mountain Lake vì sao ông lại cho rằng tất cả người da trắng đều phát điên. Mountain Lake đáp: “Bởi vì họ bảo họ suy nghĩ bằng cái đầu.” Jung vô cùng sửng sốt liền hỏi tiếp: “Đương nhiên rồi, nghĩ bằng đầu thì có sao đâu? Thế các ông nghĩ bằng cái gì?” Mountain Lake đưa ngón tay chỉ lên ngực mình, đáp: “Chúng tôi tư duy ở đây.”


Trong cuốn tự truyện của mình, Jung thuật lại cảm xúc lúc đó: “Tôi lập tức chìm vào suy tư sâu sắc. Người thổ dân này đã đánh trúng điểm yếu của chúng tôi, phơi bày một sự thật mà tất cả chúng tôi đều nhắm mắt làm ngơ. Tôi cảm thấy trong cơ thể mình có một điều gì đó mơ hồ không thể gọi tên nhưng lại thân thuộc đến tận xương tủy, tựa như làn sương vô hình đang chầm chậm bốc lên… Những điều Mountain Lake chia sẻ đã cắm rễ sâu vào ký ức của tôi.”


Cuộc đối thoại tưởng chừng tình cờ ấy lại tạo nên ảnh hưởng sâu sắc đối với tâm lý học của Jung. Chúng ta có thể ví von thế này: “chứng bệnh” mà Jung phải đối mặt bắt nguồn chính từ cái đầu – bên trong đầu chứa chấp quá nhiều thứ tạp niệm khiến con người phát điên, đúng như điều Mountain Lake đã miêu tả. Kể từ đó, Jung ngày càng hướng tầm mắt về phương Đông, tiếp nhận nguồn khai sáng sâu xa từ văn hóa Trung Hoa – minh chứng là tác phẩm Bí mật hoa vàng (Thái Ất kim hoa tông chỉ) mà ông đồng trước tác với Richard Wilhelm; từ đó ông đã tìm được một phương thuốc quý, một thang thuốc tâm linh có thể chữa lành cho cái đầu đang cuồng loạn.


Có lẽ quý vị đều biết, Jung tin rằng người bản địa châu Mỹ vốn có nguồn gốc từ Trung Quốc, đã vượt qua eo biển Bering từ hàng vạn năm trước để sang bờ bên kia đại dương.


Ở đây, tôi muốn giới thiệu tới quý vị một “hình ảnh” biểu trưng cho tư tưởng của người Trung Quốc chúng tôi. Tôi gọi đó là “sự tư duy của tâm” hay “cái tâm tư duy” (heart-thinking hoặc thinking-heart).


Đây chính là biểu trưng tôi thiết kế cho “Diễn đàn Quốc tế về Phân tích Tâm lý và Văn hóa Trung Hoa lần thứ nhất” (năm 1998), sử dụng chữ “Tư” (思) trong tiếng Hán:


Phía trên của chữ “Tư” (思) cổ sơ biểu thị cái “đầu”, cụ thể là huyệt thóp đầu (tín môn - 囟).

Phía dưới, tựa như một vật chứa hay phần nâng đỡ, chính là hình tượng của chữ “Tâm” (心).


Cuốn Thuyết văn giải tự của Hứa Thận thời Đông Hán giải thích về chữ “Tư”: “Tòng tâm tín thanh, phàm tư chi thuộc giai tòng tư” (Theo bộ tâm, lấy âm từ tín; phàm những chữ thuộc bộ tư đều theo nghĩa này). Nhà Hán học trứ danh Đoạn Ngọc Tài (1735–1815) trong Thuyết văn giải tự chú phát triển thêm: “Tự tín chí tâm như ty tương quán bất tuyệt dã” (Từ thóp đầu thông xuống tâm can liên kết bền bỉ tựa hồ sợi tơ không dứt). Trong âm Hán, chữ “tín” (xìn - 囟) và chữ “tâm” (xīn - 心) có phát âm cận kề, quả là “tâm tâm tương ánh” (lòng lòng soi tỏ), làm nổi bật ý cảnh tâm linh của sự tư duy trong văn hóa Trung Hoa.


Khi chúng tôi thiết kế biểu trưng cho diễn đàn năm 1998, biểu tượng mà chúng tôi muốn gửi gắm là:


⚬ Cái đầu và lối tư duy của đầu não đại diện cho phong cách phương Tây, đề cao lý trí và ý thức;

⚬ Trái tim và lối tư duy của tâm đại diện cho con đường phương Đông, biểu hiện cảm xúc và vô thức…


Nhưng điều trọng yếu hơn cả là chữ “Tư” dung hợp cả đầu lẫn tâm này tự thân đã là một chỉnh thể toàn vẹn. Bản nghĩa của “Tư” trong văn hóa Trung Hoa là vừa có đầu lại vừa có tâm, đồng thời siêu việt lên trên cả đầu và tâm, mang ý nghĩa siêu việt của một nguyên mẫu.


Theo cách hiểu của tôi, đây chính là chìa khóa của chức năng siêu việt (transcendent function) trong tâm lý học Jung, cũng là ý nghĩa căn bản của Trung dung chi đạo trong triết học Trung Hoa.


Nếu phân tích sâu hơn, trong văn tự chữ Hán, khoảng không gian nối giữa chữ “Tâm” và chữ “Tín” (thóp đầu) hàm chứa ngụ ý về “Thiên tâm” (cái tâm của trời), hay nói cách khác là lộ trình giao cảm biểu tượng giữa nhân tâm và thiên thượng. Bởi vì trong hệ thống nội đan Trung Hoa, “thóp đầu” còn được gọi là “Thiên đỉnh”, nơi cất giấu khiếu môn tu luyện. Cho nên, trong ý tượng của chữ “Tư” hay cái tâm tư duy đã hàm chứa sẵn cảnh giới “Thiên nhân hợp nhất”.


Mượn câu chuyện của Lorin Hollander, tôi có thể dùng chữ “Tư” để truyền tải trí tuệ của tâm lý học phân tích: Thuở xưa có một môn đồ vào núi tầm sư học đạo nhiều năm, đêm ngày khổ luyện. Một hôm, người thầy gọi anh ta lại và hỏi: “Sau bao năm khổ công tu luyện, con mong muốn đạt được điều gì?” Người học trò thưa: “Con mong cầu có được trí tuệ.” Người thầy bèn bảo: “Con muốn có trí tuệ phải không? Nếu con có thể phân biệt được giữa ‘vật chứa’ và ‘thứ được chứa đựng’, ta sẽ trao cho con tất cả trí tuệ.”


Vào thời đại của Jung, cũng như thời đại chúng ta hôm nay, người ta dường như muốn nhồi nhét mọi thứ vào trong bộ não mà bỏ quên đi công năng của “Tâm”. Nhưng trong ý tượng chữ “Tư” của Trung Hoa, “vật chứa” ấy lại chính là “Tâm”. Không phân biệt được vật chứa và nội dung chứa đựng sẽ khiến con người phát cuồng; nhận biết rạch ròi vật chứa và nội dung chứa đựng mới giúp con người đắc được trí tuệ. Đồng thời vận dụng cả đầu và tâm, thấu triệt ý nghĩa tư duy của tâm – đó chính là nguyên lý căn bản của nền tâm lý học lấy tâm làm gốc.


Dựa trên nguyên lý này, tôi xin giới thiệu tóm lược tinh hoa cốt lõi giữa tâm lý phân tích và văn hóa Trung Hoa:


⚬ Về phương diện phương pháp và phương pháp luận: Kỹ thuật tưởng tượng tích cực (Active Imagination) của Jung có mối liên hệ nội tại sâu sắc với văn hóa Trung Hoa, trọng điểm nằm ở các quan niệm “Ngô táng ngã” (ta quên mất ta), “Tọa vọng” (ngồi quên hết thảy) và “Tâm trai” (giữ lòng chay tịnh). Chúng ta cũng có thể mượn cảm thụ đối với âm nhạc của Lorin để ví von: Lắng nghe bằng tâm, chứ không chỉ thuần túy lắng nghe bằng tai… Trong đó mang trọn ngụ ý của “tâm trai”.

⚬ Liệu pháp trò chơi cát (Sandplay Therapy): Là sự phát triển từ kỹ thuật tưởng tượng tích cực của Jung, do học trò của ông là bà Dora Kalff sáng lập. Kalff học chữ Hán từ nhỏ, bà dùng triết học Trung Hoa làm nền tảng quan trọng nhất cho liệu pháp trò chơi cát. Trong tác phẩm Liệu pháp trò chơi cát: Con đường chữa lành tâm linh, Kalff mở đầu bằng tư tưởng triết học của Chu Đôn Di và mô hình Thái cực đồ, và khép lại toàn bộ cuốn sách bằng quẻ Khảm trong Kinh Dịch: “Duy tâm hanh, hành hữu thượng” (Giữ lòng chí thành tin tưởng thì hanh thông, tiến bước sẽ được tôn kính). Đối với tôi, liệu pháp trò chơi cát thể hiện sống động nguyên lý “Đắc chi vu tâm, ứng chi vu thủ” (Hiểu rõ nơi tâm, ứng hiện nơi tay), cũng hoàn toàn lấy tâm làm gốc.

⚬ Kỹ thuật hiện thân ý tượng (Embodied Image Technique): Trên nền tảng tưởng tượng tích cực và liệu pháp trò chơi cát, chúng tôi vận dụng triết học thể nghiệm Trung Hoa để phát triển kỹ thuật này: Bắt đầu từ sự thể nhận kết hợp cả tâm lẫn thân, trải qua thể hội, thể hiện, thể nghiệm và thể chứng, đạt tới sự thể ngộ lấy tâm làm gốc, thu hoạch ý nghĩa phân tích tâm lý mang tính tích hợp toàn diện thân - tâm.

⚬ Trong thực hành lâm sàng: Chúng tôi nhấn mạnh vào Y tâm (trị liệu tâm lý), An tâm (giáo dục tâm lý) và Minh tâm (phát triển tâm tính). Hạt nhân cốt lõi có thể giải thích bằng cảm ứng tâm pháp bắt nguồn từ quẻ Hàm trong Kinh Dịch: “Thiên địa cảm nhi vạn vật hóa sinh, thánh nhân cảm nhân tâm nhi thiên hạ hòa bình. Quan kỳ sở cảm, tắc thiên địa vạn vật chi tình khả kiến hĩ” (Trời đất cảm ứng nhau mà muôn vật sinh sôi, thánh nhân cảm hóa lòng người mà thiên hạ thái bình. Quan sát sự cảm ứng ấy ắt thấy được chân tình của trời đất muôn vật). Ý nghĩa của cảm ứng là vô cùng vô tận; quan cảm hóa vật, bên trong cảm ứng hàm chứa sự chuyển hóa và siêu việt của tâm linh.


Do đó, lấy tâm làm gốc, cái tâm tư duy và sự tư duy của tâm chính là hạt nhân để nhận thức người Trung Quốc, cũng là chìa khóa để thấu hiểu ý nghĩa “hạnh phúc” của dân tộc này.


II. Suy ngẫm về hạnh phúc của người Trung Quốc lấy tâm làm gốc


Những năm gần đây, chính phủ Trung Quốc bắt đầu công bố “Sách Xanh” thường niên về chất lượng đời sống, áp dụng các tiêu chuẩn tương tự phương Tây về “Chỉ số hạnh phúc”, bao gồm thu nhập, điều kiện nhà ở, tính chất công việc, tình trạng sức khỏe, mức độ hài lòng với cuộc sống, cảm giác an toàn và các mối quan hệ xã hội. Nếu số liệu trong “Sách Xanh” là xác thực, thì chỉ số hạnh phúc của người Trung Quốc đang tăng lên qua từng năm, tương tự như sự tăng trưởng kinh tế.


Thế nhưng, đằng sau những chỉ số hạnh phúc ấy vẫn còn vô vàn câu hỏi cần suy ngẫm, đặc biệt là cần suy ngẫm bằng “lối tư duy của tâm”.


Chẳng hạn, hầu như ai cũng biết câu chào quen thuộc của người Trung Quốc: “Bạn ăn cơm chưa?”


Về câu chào này, phần lớn phương Tây đều diễn giải rằng sở dĩ có lời chào kinh điển ấy là vì người Trung Quốc xưa nay thường chịu cảnh đói ăn. Cả chủ nhà trọ người Thụy Sĩ lẫn chủ nhà trọ người Mỹ của tôi đều kể rằng khi họ còn nhỏ, trong bữa ăn cha mẹ thường bảo: không biết còn có bao nhiêu người Trung Quốc ngoài kia không có cơm ăn.


Tại đây, tôi xin đưa ra một cách hiểu khác, một lời kiến giải mới mẻ cho câu chào cổ xưa này: Sở dĩ người Trung Quốc dùng câu “Bạn ăn cơm chưa?” làm lời chào hỏi hàng ngày, không phải hỏi xem bạn đã no bụng hay chưa, mà là hỏi bạn “Mùi vị thế nào?”, hỏi bạn “Hương vị cuộc sống ra sao?”.


Tôi có lời của Khổng Tử làm minh chứng: “Thực nhục giả chúng, tri vị giả tiển hĩ” (Kẻ ăn thịt thì nhiều, người biết thưởng thức mùi vị thì hiếm hoi thay). Đó mới là căn nguyên thực sự của lời thăm hỏi thường nhật này.


Vậy như John van Praag đã hỏi trong thư: Trong truyền thống văn hóa Trung Hoa, điều gì thực sự mang lại hạnh phúc cho con người?


Chúng ta hãy xem hai chữ “Hạnh phúc” (幸福) được biểu đạt thế nào qua tự hình chữ Hán.


Trong từ điển tiếng Hán, “hạnh phúc” được giải thích là: “Xứng tâm như ý” (稱心如意 - hợp với lòng mình như ý nguyện). Đó chính là hạnh phúc của người Trung Quốc: vừa lòng đẹp ý, tâm mãn ý túc (心滿意足).


Dưới góc nhìn tâm lý phân tích, chúng ta hãy quan sát nguyên hình của hai chữ “Hạnh phúc” trong văn tự giáp cốt để cảm nhận ý nghĩa nguyên mẫu ban sơ của chúng:


Chữ phía trước là “Hạnh” (幸). Đây là hình ảnh một người hai tay bị trói chặt, bị mang gông cùm – biểu tượng hóa của kẻ bị bắt giữ, bị cầm tù. Vậy một người bị trói buộc và cầm tù đáng lẽ phải phẫn nộ và lo âu, cớ sao lại được dùng để biểu thị sự “may mắn” hay “hạnh phúc”?


Theo các nhà khảo cổ học và sử học, những người bị bắt và bị trói bằng loại gông cùm tương tự thường là những người sống sót sau chiến trận, những người còn giá trị sử dụng; đối với họ, ít nhất là hy vọng sinh tồn vẫn còn le lói.


Cuốn Thuyết văn giải tự giải nghĩa chữ “Hạnh”: “Cát nhi miễn hung dã” (Gặp điều tốt lành mà tránh được tai ương). Có thể thấy bản nghĩa của “Hạnh” bao hàm việc “thoát khỏi cái chết yểu”. Một cách giải thích khác về cổ tự của chữ “Hạnh”: phần trên là biểu tượng của “Yểu” (夭 - chết non), phần dưới biểu thị sự “tránh né”. Về điểm này, Đoạn Ngọc Tài chú: “Cát giả, thiện dã; hung giả, ác dã, đắc miễn vu ác, thị vi hạnh” (Cát là điều lành; hung là tai ác; tránh được điều tai ác, ấy gọi là hạnh). Người Trung Quốc cổ đại dùng hình tượng “bị trói buộc, bị bắt giữ nhưng còn sống sót” để biểu thị chữ “Hạnh”.


Chỉ khi chữ “Hạnh” kết hợp với chữ “Phúc” (福), nó mới tạo thành sự biểu đạt hoàn chỉnh về “Hạnh phúc” của Trung Hoa.


Trong chữ Hán, chữ “Phúc” (福) có cấu tạo:

Bên trái (bộ thị 示) biểu thị “thần” hoặc “thần linh” (linh hồn, tinh thần); bên phải biểu thị một bình rượu đầy ắp (chữ dậu/phúc 畐). Như vậy, chữ “Phúc” chứa đựng một ý tượng nguyên thủy: Dâng bình rượu tràn đầy lên kính lễ thần linh để cầu mong sự che chở và phù hộ.


Trong thiên Hồng Phạm sách Thượng Thư, “Phúc” được diễn giải gồm năm điều căn bản (Ngũ phúc): Thọ (sống lâu), Phú (giàu có), Khang ninh (khỏe mạnh an vui), Hảo đức (chuộng đức tốt) và Chung mệnh (chết lành trọn vẹn). Nếu bạn đủ may mắn (ngay cả khi rơi vào cảnh ngộ bị bắt bớ trói buộc), thông qua việc dùng rượu (mang ý nghĩa biểu tượng của sự hiến tế tinh thần) để cầu nguyện và cúng tế thần linh, bạn sẽ nhận được sự chúc phúc và bảo hộ.


Chữ “Tửu” (酒 - rượu) và chữ “Cứu” (救 - cứu vớt) trong tiếng Hán đồng âm, tạo nên các liên tưởng: cầu cứu, cứu vớt, cứu chữa và cứu sống. Vì vậy chữ “Tửu” cũng là một thành phần trọng yếu cấu thành nên chữ “Y” (醫 - y học, chữa bệnh) cổ truyền.


Người được thần linh cứu rỗi sẽ được xứng tâm như ý, đạt được hạnh phúc. Như tư tưởng trong Lễ Ký: Nếu có thể thấu suốt lòng mình (tri tâm) thì sẽ thoát khỏi khổ nạn. Ngôn ngữ văn tự vốn chứa đựng một cơ chế siêu việt: từ sự trói buộc, cùm kẹp, tránh khỏi tai ương chết chóc, cho đến việc dùng rượu tế lễ thần linh để nhận phúc lành, tất cả chuyển hóa thành nội hàm căn bản của hạnh phúc. Ngay trong tiếng Anh, từ catch (bắt giữ) ngoài nghĩa tóm bắt còn mang nghĩa thu hút, làm say đắm (to charm, captivate), cũng như đạt được (to get). Từ fasten (buộc chặt, gông cùm) cũng có sự tiến hóa ngữ nghĩa thành mê hoặc, say đắm (fascinating).


Chúng ta có thể gọi sự tiến hóa tương tự này là sự chuyển hóa của tâm linh. Khi biểu tượng trói buộc thể xác được trừu tượng hóa và biểu tượng hóa, nó dần thoát ly khỏi tầng bậc may - rủi của thể xác để mang lấy nội hàm tinh thần và tâm linh, tạo thành nền tảng tâm lý của “Hạnh phúc” trong văn hóa Trung Hoa.


Đằng sau sự trói buộc và giam hãm thể xác tồn tại một sự trói buộc tâm linh sâu sắc hơn: sự kết nối mật thiết với Thượng đế hay thần linh. Từ đó, ta mới đạt được sự sung túc nơi tâm hồn; từ đó, ta mới hiểu trọn vẹn định nghĩa hạnh phúc của người Trung Quốc: “Xứng tâm như ý”.


Vì vậy, “Hạnh phúc” của người Trung Hoa không đơn thuần là đi tìm kiếm khoái lạc, mà là sự thoát ly khỏi đau khổ; hạnh phúc vốn là một niềm khát khao sinh ra giữa nỗi đau. Mấu chốt không nằm ở biến cố ngoại giới hay thể xác, mà nằm ở sự chuyển biến nơi nội tâm.


Chính vì thế chúng ta mới hiểu tại sao các cuộc điều tra chỉ số hạnh phúc những năm gần đây luôn cho thấy người Trung Quốc sống ở nông thôn lại cảm thấy “hạnh phúc” hơn người ở thành thị. Theo tôi, người sống ở nông thôn hiện nay giống với “người Trung Quốc” nguyên bản hơn; còn người thành thị thì ngày càng “hiện đại hóa”, ngày càng tiệm cận với “người phương Tây”.


Nếu một ngày nào đó có báo cáo quốc tế công bố người Trung Quốc hạnh phúc hơn các quốc gia khác, chúng ta cũng không cần quá kinh ngạc. Đối với chúng tôi, hạnh phúc không thuần túy thể hiện qua các chỉ số như thu nhập, nhà ở, việc làm hay sức khỏe, mà cốt ở sự giàu có và sung túc nơi tâm linh. Người Trung Quốc đích thực là người sống bằng cái tâm; mượn lời đúc kết của học giả Cổ Hồng Minh trong Xuân Thu đại nghĩa: Người sống một đời sống tâm linh trọn vẹn mới là người Trung Quốc chân chính. Nếu người Trung Quốc ngày nay vẫn còn giữ được nếp sống tâm linh ấy, họ sẽ có được hạnh phúc “xứng tâm như ý”. Đáng tiếc thay, Cổ Hồng Minh từng thở dài rằng ông là người Trung Quốc chân chính cuối cùng. Người ta đã đánh mất nếp sống và ý nghĩa tâm linh này quá lâu rồi.


Rất may, nền văn hóa của chúng tôi – đặc biệt là ở tầng diện vô thức văn hóa – vẫn đang âm thầm gìn giữ ý nghĩa tâm linh ấy cho hậu thế.


III. Tâm linh văn hóa và ý nghĩa của nó


Nếu khảo sát sâu hơn về “Hạnh phúc” của người Trung Quốc, điều chúng ta chạm tới không chỉ là lối sống bằng tâm của mỗi cá nhân, mà là ý nghĩa tâm linh vốn có của cả nền văn hóa.


Như học giả Cổ Hồng Minh (1857–1928) đã miêu tả trong tác phẩm Xuân Thu đại nghĩa (1914): “Tinh thần của người Trung Quốc mà tôi nói đến là điểm tựa sinh tồn của dân tộc này, là tâm thái, tính tình và khí tiết vốn có của dân tộc. Tinh thần dân tộc ấy làm cho họ khác biệt với bất kỳ dân tộc nào khác, đặc biệt là khác với người Âu Mỹ hiện đại.”


Vậy người Trung Quốc mang tinh thần dân tộc ấy là người như thế nào? Sau muôn lời ca ngợi, Cổ Hồng Minh đúc kết: Bí quyết nằm ở chỗ người Trung Quốc chân chính hoàn toàn sống một đời sống tâm linh. Toàn bộ đời sống của họ là một đời sống tình cảm thể hiện ý nghĩa tâm linh: “Thứ tình cảm này không bắt nguồn từ cảm giác trực quan của giác quan, cũng chẳng phải từ những dục vọng cuộn trào trong hệ thần kinh như các vị thường nói, mà là một thứ tình cảm phát sinh từ chiều sâu nhân tính của chúng tôi – ngọn lửa nhiệt thành của tâm linh hay tình yêu thương nhân loại.”


Bởi vậy, muốn thể hiện khí độ và tình cảm của người Trung Quốc thì phải lấy tâm làm gốc, biểu hiện ý nghĩa của đời sống tâm linh. Ý nghĩa đời sống tâm linh chính là tài nguyên quý giá nhất để thưởng thức hạnh phúc “xứng tâm như ý”. Khi suy ngẫm về hạnh phúc, chúng ta đang khám phá ý nghĩa của cuộc sống và sinh mệnh. Việc truy cầu ý nghĩa cuộc sống là then chốt trong tâm lý học phân tích của Jung, cũng là cốt lõi của môn phân tích tâm lý lấy tâm làm gốc.


Chữ “Văn” (文) trong tiếng Hán vốn dĩ chứa đựng hình tượng chữ Tâm (心) bên trong. Chữ “Văn” ngậm chứa chữ Tâm này chính là “Văn” trong văn hóa, văn minh và văn tự. Ba khái niệm ấy trong truyền thống Trung Hoa vốn lấy tâm làm gốc, nhằm dẫn dắt con người bước vào một cuộc đời có tâm linh.


Đối với người Trung Quốc, ý nghĩa sinh mệnh của một cá nhân có thể phản chiếu qua tâm linh của tha nhân hay của xã hội và văn hóa. Chúng tôi xưa nay sống dựa vào “Lương tâm”; một khi có lương tâm thì thậm chí không cần bận lòng tìm kiếm linh hồn sau cái chết, bởi lẽ “thiên địa lương tâm” (lương tâm trời đất) đã đủ giúp con người đạt tới sự bất tử.


Lương tâm, thế đạo nhân tâm và thiên địa lương tâm mang ý nghĩa và công năng tôn giáo đặc thù trong văn hóa Trung Hoa; đó là nơi ký thác sự tròn đầy nội tại và ý nghĩa sinh mệnh. Thế đạo được dựng lập từ lòng người (thế đạo nhân tâm). Ý nghĩa cuộc đời một người được thể hiện trong chính thế đạo do nhân tâm đúc nặn nên. Trong tâm tự có trời đất, có thể dung nạp vạn vật. Mọi lẽ vũ trụ nhân sinh đều có thể an bài ngay trên chính cái tâm này của con người. Mạnh Tử dạy: “Tận kỳ tâm giả, tri kỳ tính dã. Tri kỳ tính tắc tri thiên hĩ… Tồn kỳ tâm, dưỡng kỳ tính, sở dĩ sự thiên dã” (Dốc hết lòng mình thì biết được tính; biết được tính thì biết được đạo trời… Giữ gìn cái tâm, nuôi dưỡng bản tính ấy, chính là để phụng sự đạo trời). Do đó, qua “Lương tâm”, ta thấy được tâm lý học lấy tâm làm gốc bao hàm trọn vẹn tình cảm tôn giáo và khát vọng tối hậu của văn hóa Trung Hoa.


Khi Khổng Tử được học trò hỏi liệu có một chữ nào có thể đại diện cho toàn bộ học thuyết của ngài hay không, ngài đã đưa ra chữ “Thứ” (恕): “Kỳ thứ hồ! Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân” (Chính là chữ Thứ chăng! Điều mình không muốn, chớ làm cho người khác). Sách Luận Ngữ · Lý Nhân cũng ghi lại: “Khổng Tử bảo: Sâm ơi! Đạo của ta chỉ có một mối mà thông suốt tất cả. Tăng Tử thưa: Vâng. Khổng Tử bước ra ngoài, các môn đồ hỏi: Ý thầy là sao? Tăng Tử đáp: Đạo của thầy chỉ có trung và thứ mà thôi.”


Ý tượng của chữ “Thứ” (恕) này là gì?

Chữ “Thứ” gồm chữ “Như” (如) đặt trên chữ “Tâm” (心), mang nghĩa dĩ tâm độ vật (lấy lòng mình đo lòng người). Chữ “Như” gồm chữ “Nữ” (女) và chữ “Khẩu” (口), mang nghĩa thuận theo, noi theo; khi kết hợp với chữ “Tâm” thành chữ hội ý, biểu thị ý nghĩa như tâm, đồng một lòng và thuận theo bản tâm. Mạnh Tử cũng dùng chữ Tâm này để luận giải Tứ đoan của Nho học: “Nhân nghĩa lễ trí căn vu tâm” (Nhân nghĩa lễ trí bắt rễ từ tâm), và khẳng định: Tận tâm tri tính: “Tâm giả, nhân chi thần minh, sở dĩ cụ chúng lý nhi ứng vạn sự giả dã…” (Tâm là sự thần minh của con người, nơi hội tụ mọi lý lẽ để ứng đối với muôn việc trên đời).


Văn tự chính là tâm hồn của văn hóa. Chúng ta có thể cảm nhận ý nghĩa của đời sống tâm linh qua các chữ Hán thuộc bộ Tâm: Chữ “Tư” (思) là sự kết hợp và siêu việt giữa đầu và tâm; chữ “Tưởng” (想) và “Tưởng tượng” vốn là tâm tượng (hình ảnh trong tâm); chữ “Ngộ” (悟) ngụ ý bản tâm và chân ngã… Từ đó, “Ái” (愛) bắt nguồn từ tâm, “Hận” (恨) cũng từ tâm; tình thương từ bi, nỗi sầu lo nghĩ, ý chí cảm ứng thảy đều sinh ra từ tâm, lấy tâm làm gốc.


Sở hữu tâm thiện và tâm yêu thương, chúng ta không chỉ có được niềm vui cho riêng mình mà còn mang hạnh phúc đến cho tha nhân, lưu giữ hạnh phúc cho xã hội và văn hóa. Lấy chữ “Ái” (愛) làm ví dụ: trong ý tượng chữ “Ái” hàm chứa sự ấp ủ, che chở, dung nạp và nâng đỡ. Thành ngữ Trung Hoa có câu “Thiện tâm an ái” (善心安愛), vừa miêu tả phẩm hạnh của người quân tử, vừa là con đường đạt tới hạnh phúc.


Từ ý niệm “thiện tâm an ái” và những suy ngẫm từ tâm, tôi đã phiên âm tên gọi hội thảo “Eranos” thành ba chữ Hán: Ái Nặc Tư (愛諾思). Phát âm của chúng rất gần nhau, và cách dịch này gói trọn sự thấu hiểu cùng tình cảm sâu nặng mà tôi dành cho Eranos.


Đó chính là những chiêm nghiệm của tôi về nền tâm lý học văn hóa Trung Hoa lấy tâm làm gốc; đặt trên quan điểm phương Đông này để đàm đạo về ý nghĩa của hạnh phúc đối với con người và văn hóa Trung Quốc, cũng như nội hàm tâm tính trong cội nguồn truyền thống.


IV. Lời kết


Carl Jung từng nhận định rằng người châu Âu ở thời đại của ông quá sùng bái lý tính, xem nhẹ vô thức và chiều kích thần bí, dẫn đến các căn bệnh của tâm lý ý thức. Xuất phát từ quan điểm đó, tâm lý học phân tích của Jung không chỉ là hệ thống điều trị cá nhân trên lâm sàng, mà còn là phương thuốc chữa lành cho xã hội và văn hóa.


Tiến trình “hiện đại hóa” của Trung Quốc được coi là mở màn từ năm 1840, khi đất nước cổ xưa bị tàu chiến và đại bác của phương Tây bắn thủng cánh cửa đóng kín. Kể từ đó, bên trong nội bộ Trung Quốc cũng diễn ra hàng loạt phong trào bài xích truyền thống như Thái Bình Thiên Quốc, Phong trào Văn hóa Mới, Cách mạng Văn hóa… Tâm linh văn hóa của Trung Hoa liên tục bị chấn động, bị tàn phá và méo mó… Là một nhà phân tích tâm lý, mỗi ngày tôi đều nhìn thấy nỗi khổ đau mang tính văn hóa này hiển hiện trên thân chủ của mình.


Và nền tâm lý học cùng hệ thống phân tích tâm lý lấy tâm làm gốc mà tôi trọn đời cống hiến cũng chính là nhằm giành lại nếp sống tâm linh từng hun đúc nên bản sắc của người Trung Quốc.


Xin mượn một đoạn trong lời tựa cuốn Tâm linh Trung Hoa của Richard Wilhelm:


“…Dù ở một Trung Quốc mới hay một Trung Quốc cũ, luôn có một yếu tố bất biến, đó chính là tâm linh của người Trung Quốc đang trong tiến trình tiến hóa. Tâm linh ấy vẫn chưa đánh mất vẻ nho nhã và sự điềm tĩnh vốn có, và tôi cũng tha thiết hy vọng rằng, nó sẽ vĩnh viễn không bao giờ đánh mất điều đó.”


Trong tiếng Hán, chúng tôi dùng hai chữ “Tâm linh” để diễn đạt ý nghĩa của linh hồn. Chỉ cần chúng ta nỗ lực kiếm tìm, tâm linh ấy sẽ không bao giờ tiêu biến.


Tại Trung Quốc ngày nay, vết thương văn hóa đang dần được chữa lành, tâm linh văn hóa Trung Hoa đang hồi sinh mạnh mẽ, và chúng ta sẽ lại một lần nữa đón nhận nếp sống tâm linh lấy tâm làm gốc.


Hỏi đáp


【John van Praag】 Xin cảm ơn bài thuyết trình tuyệt vời của Giáo sư Hà Vĩnh. Tâm lý học phân tích của Jung cùng văn hóa Trung Hoa và trí tuệ phương Đông vốn là truyền thống lâu đời của Eranos chúng tôi. Nền tâm lý học lấy tâm làm gốc cũng có thể xem như một sự dung hợp và tích hợp giữa phương Đông và phương Tây. Quan điểm và tư tưởng này của Hà Vĩnh đã được chính thức nêu ra tại bàn tròn Eranos cách đây tròn 10 năm, từng được đưa vào Kỷ yếu Eranos năm 1997. Tròn một thập kỷ sau, chúng ta lại được lắng nghe sự phát triển của nền “Tâm lý học lấy tâm làm gốc”, vận dụng nó để giải mã hạnh phúc và tâm linh văn hóa của người Trung Quốc đầy cảm xúc và trí tuệ. Với tư cách là Chủ tịch Quỹ Eranos và Quỹ Văn hóa Đông - Tây, tôi vô cùng hoan hỷ và gửi lời cảm ơn chân thành tới ông.


Tôi xin đặt câu hỏi đầu tiên: Vừa rồi trong bài nói, ông có nhắc tới “Trò chơi cát” và mối liên hệ của nó với văn hóa Trung Hoa. Tôi chưa hiểu sâu về liệu pháp này, ông có thể giải thích rõ hơn về mối quan hệ giữa liệu pháp trò chơi cát và văn hóa Trung Quốc được không?


【Thân Hà Vĩnh】 Cảm ơn lời hồi đáp và ngợi khen của John. Đối với Eranos, tôi luôn mang lòng kính ngưỡng sâu sắc, được tham dự nơi đây là niềm vinh hạnh lớn của tôi.


Liệu pháp trò chơi cát (Sandplay Therapy) là sự phát triển từ tâm lý học phân tích của Jung, do học trò của ngài là bà Dora Kalff sáng lập; bà Kalff từng trải qua quá trình phân tích tâm lý với phu nhân Emma Jung. Hiệp hội Quốc tế về Liệu pháp Trò chơi Cát (ISST) được thành lập năm 1985, Chủ tịch hiện tại là nhà phân tích tâm lý học Jung người Thụy Sĩ – Ruth Ammann.


Bản thân bà Kalff từ nhỏ đã học chữ Hán, am hiểu Kinh Dịch, triết học Đạo gia, Đông y ngũ hành và hệ thống triết học của Chu Đôn Di, chịu ảnh hưởng sâu sắc từ tư tưởng Trung Hoa. Trong quá trình thai nghén phương pháp này, bà từng có hai “giấc đại mộng” giúp bà hoàn thiện việc xây dựng liệu pháp trò chơi cát, và cả hai giấc mơ đều gắn liền với Trung Quốc. Giấc mơ thứ nhất: bà đến Tây Tạng và gặp hai vị sư trao cho bà một chiếc khay bằng vàng… Sau đó khi phân tích với Emma Jung, bà Emma bảo: “Bà nên dành thời gian nghiên cứu sâu về văn hóa Trung Hoa.” Giấc mơ thứ hai diễn ra vào đúng ngày Carl Jung qua đời – ngày 6 tháng 6 năm 1961: Kalff mơ thấy mình đang dùng bữa với Jung, trong bữa ăn, Jung chỉ vào đĩa cơm trắng trên bàn và bảo: “Bà hãy tiếp tục nghiên cứu thật tốt về văn hóa Trung Hoa…”


Bản thân tôi là hội viên của ISST. Tháng 9 năm ngoái tại Quảng Châu, chúng tôi đã tổ chức hội nghị cấp cao về trò chơi cát và phân tích tâm lý với sự tham gia của Chủ tịch, Tổng thư ký IAAP và lãnh đạo ISST; tôi tham dự với tư cách người phụ trách tổ chức phát triển IAAP và ISST tại Trung Quốc. Hội nghị đã xác lập các kế hoạch quan trọng, đôi bên đều đặc biệt coi trọng nền tảng và ý nghĩa của văn hóa Trung Hoa.


Về mặt thực hành kỹ thuật trò chơi cát tại Trung Quốc, có thể đúc kết qua mấy câu: Một hạt cát là một thế giới; làm trò chơi cát tựa như đãi cát tìm vàng, vận dụng tư tưởng thuật giả kim để tìm kiếm sự phát triển tâm tính hay tiến trình tự tính hóa. Ở phương Tây, liệu pháp này thường được gọi là “trị liệu biểu đạt” (expressive therapy) hay “trị liệu phi ngôn ngữ” (non-verbal therapy), được xem là nghệ thuật trị liệu dùng đôi tay để biểu đạt. Nhưng tôi thường dùng câu “Đắc chi vu tâm, ứng chi vu thủ” (Hiểu rõ nơi tâm, ứng hiện nơi tay) để miêu tả công việc của chúng tôi. Người Trung Quốc có câu tục ngữ “Mười ngón tay nối liền với tim”. Dù là đôi tay đang lên tiếng, bản chất bên trong vẫn hoàn toàn lấy tâm làm gốc.


【Hỏi】 Trong bài báo cáo, ông nhấn mạnh đời sống tâm linh của người Trung Quốc. Nhưng chúng tôi cũng biết người Trung Quốc rất coi trọng “thể diện” (mặt mũi). Xin hỏi ông kiến giải thế nào về điều này?


【Thân Hà Vĩnh】 Vâng, người Trung Quốc quả thực rất coi trọng thể diện, đặc biệt là trong mắt nhìn của người phương Tây. (Cười)


Bề ngoài dường như đúng là vậy. Trước đây cũng có nhiều nhà tâm lý học Trung Quốc quá chú tâm nghiên cứu về thể diện của người Trung Quốc, vô hình trung củng cố thêm định kiến này.


Điều tôi muốn giãi bày là: Người Trung Quốc chân chính vốn là những người trong ngoài như một (biểu lý như nhất). Chúng tôi để ý thể diện, nhưng càng chú trọng tâm linh hơn. Đúng như Cổ Hồng Minh đã nói, người Trung Quốc đích thực sở hữu một nếp sống tâm linh trọn vẹn, nắm bắt được ý nghĩa của đời sống ấy – đó là phẩm chất căn bản nhất của dân tộc này. Nhưng cũng như Cổ Hồng Minh từng cảm thán, mẫu người Trung Quốc chân chính ấy dường như đã vắng bóng; người Trung Quốc hiện nay phần lớn đã bị hiện đại hóa, bị phương Tây hóa hoặc bán phương Tây hóa. Họ gần như đánh mất ý nghĩa đời sống tâm linh vốn có, thứ còn sót lại lộ ra ngoài chỉ là sự quan tâm đến thể diện mà thôi.


Tuy nhiên, niềm tin son sắt của tôi là: đời sống tâm linh và ý nghĩa của nó vẫn luôn hiện hữu nơi sâu thẳm nội tâm của mỗi con người. Có thể nói thế này: nhìn từ biểu hiện bên ngoài, người Trung Quốc có vẻ trọng thể diện; nhưng xét từ chiều sâu bản chất, người Trung Quốc trọng tâm linh hơn. Nhìn từ lăng kính hiện đại hóa, người ta thấy họ chuộng thể diện; nhưng nhìn từ nhãn quan nguyên bản cội nguồn, họ là những người sống vì tâm linh.


【Hỏi】 Có thể thấy ông rất coi trọng đời sống tâm linh của người Trung Quốc. Đời sống này quả thực vô cùng quý báu. Vậy xin hỏi, làm thế nào để chúng ta có thể đạt được nếp sống tâm linh ấy?


【Thân Hà Vĩnh】 Cảm ơn câu hỏi đầy tính gợi mở của quý vị. Làm thế nào để có được đời sống tâm linh này? Đối với mỗi người chúng ta, điều đó quan trọng biết nhường nào! Tôi xin chia sẻ đôi điều suy nghĩ của mình:


Trước hết, tôi xin mượn trí tuệ của Kinh Dịch. Chúng ta biết hai quẻ Càn (Trời) và Khôn (Đất) là then chốt mở ra Kinh Dịch, nên mới có câu “Thiên địa định vị”. Trong ý tượng của hai quẻ này hàm chứa hai khái niệm văn hóa trọng đại: một là “Thành” (chân thành), hai là “Kính” (tôn kính, cẩn trọng). Văn Ngôn quẻ Càn khi chú giải hào Cửu nhị viết: “Long đức nhi chính trung giả dã. Dung ngôn chi tín, dung hạnh chi cẩn, nhàn tà tồn kỳ thành… quân đức dã” (Đức của rồng mà ngay thẳng trung chính. Lời nói thường ngày giữ chữ tín, việc làm thường ngày giữ sự cẩn trọng, ngăn ngừa tà vạy để giữ lòng chí thành… đó là đức của bậc quân tử). Văn Ngôn quẻ Khôn khi chú giải hào Lục nhị viết: “Trực kỳ chính dã, phương kỳ nghĩa dã. Quân tử kính dĩ trực nội, nghĩa dĩ phương ngoại, kính nghĩa lập nhi đức bất cô” (Ngay thẳng là chính đính, vuông vức là đạo nghĩa. Người quân tử lấy lòng kính để giữ dạ ngay thẳng bên trong, lấy điều nghĩa để đối đãi vuông tròn bên ngoài; kính và nghĩa vững vàng thì đức không cô độc).


Ở Trung Quốc có một học giả rất mực được kính trọng là cụ Lương Thự Minh. Cách đây không lâu, cuốn sách Thế giới này liệu có tốt đẹp hơn? của cụ được xuất bản – tập hợp những cuộc phỏng vấn giữa Giáo sư Guy Alitto người Mỹ và cụ vào thập niên 1980. Trên bìa sách có in mấy dòng chữ: “…Đi đứng đàng hoàng, nói năng cẩn trọng, đó gọi là ‘Kính’. Có kính ắt không cẩu thả tạm bợ, không phóng túng làm càn. Có kính ắt tâm giữ trọn trong lồng ngực. Có kính ắt không chạy theo ngoại vật, cũng chẳng vứt bỏ ngoại vật. Từ kính mà sinh thận trọng, để rồi bước vào cảnh giới thận độc. Đó là học vấn của cụ Ngũ. Chạy theo ngoại vật ắt mất tâm, vứt bỏ ngoại vật cũng mất tâm như vậy. Chỉ có tiếp cận ngoại vật mà thấy được tâm mình, lòng không bị cuốn theo vật chuyển dời.” Đó là ngôn từ mộc mạc của bậc đại nho, phác họa tuyệt vời về cách đạt tới đời sống tâm linh thông qua chữ “Thành” và chữ “Kính”.


Theo tôi, ba khái niệm cốt lõi: Thành (誠), Kính (敬) và Cảm ứng (感應) chính là những yếu tố căn bản nhất để kiến tạo nên một đời sống tâm linh trọn vẹn.


【Robert Temple】 Theo tôi được biết, thành cổ Bắc Kinh đã dần bị phá hủy, không chỉ trong thời kỳ Cách mạng Văn hóa mà hiện nay vẫn đang tiếp diễn sự tàn phá, phá dỡ trên diện rộng. Điều này khiến người ta cảm thấy rất thất vọng và đau lòng khi văn hóa truyền thống Trung Hoa phải gánh chịu quá nhiều sự hủy hoại. Ông có góc nhìn thế nào về thực trạng này?


【Thân Hà Vĩnh】 Cảm ơn câu hỏi của Robert. Đối diện với vấn đề này, lòng tôi không khỏi trĩu nặng. Trên thực tế, toàn bộ tiến trình hiện đại hóa của Trung Quốc luôn song hành với sự tổn hại văn hóa truyền thống ở các mức độ khác nhau. Ngay tại các khuôn viên đại học trong nước, muốn xây tòa nhà mới người ta liền đập bỏ kiến trúc cũ, chứ không hề nghĩ cách bảo tồn, tu sửa để gìn giữ những biểu tượng văn hóa trọng yếu. Thật vô cùng đáng tiếc!


Thế nhưng, tôi không nghĩ rằng sự tàn phá về đô thị hay công trình kiến trúc – chẳng hạn như ở Bắc Kinh – đồng nghĩa với việc văn hóa truyền thống đã hoàn toàn bị tiêu diệt. Tại Trung Quốc, rất nhiều thành phố, bao gồm cả Bắc Kinh, quả thực đã trải qua vô số lần hoang tàn vì khói lửa chiến tranh hay những phong trào chính trị cực đoan… Điều đó không khỏi ngậm ngùi. Tuy nhiên, tôi chưa từng vì sự đổ nát của gạch đá, phố phường mà đánh mất niềm tin vào văn hóa truyền thống Trung Hoa.


Quan niệm về văn hóa và văn minh của người Trung Quốc không hoàn toàn giống phương Tây. Đối với người phương Tây, văn hóa và văn minh (civilization) gắn liền mật thiết với đô thị (city). Phá hủy một thành phố gần như là hủy diệt nền văn minh nơi đó. Nhưng đối với người Trung Quốc, văn minh và văn hóa lấy tâm làm hạt nhân cốt lõi. Chữ “Văn” (文) ngậm chứa chữ Tâm bên trong, và chữ Văn ấy chính là khởi nguồn của văn hóa và văn minh.


Bởi vậy, tâm linh Trung Hoa – thứ tâm linh mà Richard Wilhelm từng tha thiết mong mỏi đừng bao giờ đánh mất – chính là sinh mệnh nội tại của văn hóa chúng tôi. Chúng tôi dốc sức tìm lại ý nghĩa của tâm linh ấy; dẫu có phải bất đắc dĩ mất đi những thành quách bên ngoài, chúng tôi vẫn vững tin rằng, mình sẽ vĩnh viễn không bao giờ để mất đi cái tâm linh Trung Hoa này.


【Hỏi】 Tâm linh Trung Hoa hay nếp sống tâm linh mà ông vừa đề cập liệu có thể giúp ích hoặc tiếp tục phát huy tác dụng trong thế giới biến động khôn lường ngày nay hay không?


【Thân Hà Vĩnh】 Cảm ơn câu hỏi của bạn. Nó thúc đẩy tôi phải tiếp tục suy tư nhiều hơn. Tôi không dám chắc mình đã sẵn sàng cho một câu trả lời hoàn hảo, nhưng điều tôi có thể khẳng định là: Đời sống tâm linh này vẫn vô cùng trọng yếu đối với thế giới đương đại.


Cái tâm linh Trung Hoa hay tâm linh văn hóa mà tôi nói tới vốn thuộc về toàn thể nhân loại, không hề bị bó hẹp trong phạm vi biên giới quốc gia. Tựa như trí tuệ của Kinh Dịch, tư tưởng của Lão Tử, Khổng Tử, hay các ý tượng ẩn sâu trong chữ Hán – tất cả đều là tài sản chung của loài người.


Nhiều năm trước, khi đọc cuốn Những đại xu hướng (Megatrends) của John Naisbitt, tôi từng bị chấn động sâu sắc bởi luận điểm “Công nghệ cao – Cảm xúc cao” (High Tech - High Touch). Khi đó tôi đã nghĩ rằng tâm linh phương Đông hoàn toàn có thể lấp đầy nhu cầu cảm xúc cao mà sự phát triển công nghệ bắt buộc phải cần tới. Những năm gần đây, khi nghiên cứu về lý thuyết phức hợp và sự đột sinh (emergence), tôi càng tin chắc rằng tâm linh Trung Hoa không chỉ bổ sung về mặt cảm xúc, mà còn hàm chứa những tuệ kiến sáng tạo tương thích với công nghệ đỉnh cao.


Trong thế giới hôm nay, những vấn đề trọng đại mà nhân loại đối mặt – biến đổi khí hậu, hiệu ứng nhà kính, khủng hoảng môi trường và bài toán phát triển bền vững – đều tất yếu thôi thúc các bậc thức giả, các nhà nghiên cứu đầy trách nhiệm và mỗi người có lương tri phải quan tâm sâu sắc hơn đến nhu cầu của đời sống tâm linh, tìm về nguồn tuệ giác phương Đông.


Xin mượn câu chuyện vui trong những ngày thảo luận bàn tròn vừa qua: Stephen bằng lối nói hóm hỉnh đặc trưng đã dùng ba hình ảnh “Máy rửa bát”, “Tâm lý học” và “Eranos” để bày tỏ cảm nhận về chủ đề “Tính hiện đại: Đông và Tây”. Ý ông muốn nói là việc bàn về tính hiện đại phải gắn liền với đời sống thực tế: Với tư cách là một người đàn ông, ông thú thật mình rất mê máy rửa bát, thậm chí không thể sống thiếu nó; nhưng với tư cách là một nhà tâm lý học, ông thấy nghiên cứu tâm lý ngày càng xa rời thực tiễn, xa rời đời sống tinh thần và tâm linh; và kỳ vọng của ông đối với Eranos chính là sự trở về với ý nghĩa tâm linh ấy.


Bên tường đá ban công của Eranos, chúng tôi cũng đã chia sẻ câu chuyện mà Trang Tử để lại: Cơ giới và cơ tâm… Người làm vườn chất phác trong văn Trang Tử từng nói: “Tôi nghe thầy tôi dạy rằng: Có cơ giới ắt sinh cơ sự, có cơ sự ắt nảy sinh cơ tâm. Khi cơ tâm đã chứa trong lồng ngực thì sự thuần bạch trong trắng chẳng còn nguyên vẹn. Thuần bạch không còn thì thần tính bất định, mà thần tính bất định thì Đạo chẳng thể dung nạp. Tôi đâu phải không biết đến máy móc ấy, chỉ là xấu hổ mà không nỡ làm theo thôi.” Chúng ta có thể dùng máy móc cơ giới, nhưng không thể biến trái tim của con người thành những bộ vi mạch vô hồn.


Mười năm trước, trong bài báo cáo tại Eranos, tôi từng chia sẻ rằng: Trải qua hơn một trăm năm nỗ lực của các nhà tâm lý học phương Tây, tâm lý học đương đại đã có một cơ thể tương đối hoàn chỉnh, tứ chi vẹn toàn, định hình nên vô số phân nhánh; thậm chí đã sở hữu một cái đầu đề cao nhận thức… Thế nhưng, điều nó còn thiếu vắng lại chính là một “Trái tim / Tâm”. Có lẽ đó cũng chính là nỗi niềm băn khoăn và phê phán của Stephen đối với tâm lý học hiện đại.


Vì thế, chúng ta đặt trọn kỳ vọng vào Eranos – kỳ vọng ý nghĩa tâm linh này sẽ trở về với xã hội đương đại, trở về với cuộc sống của mỗi con người chúng ta.


Bởi tất cả chúng ta đều biết, trong truyền thống sâu dày của Eranos, vốn dĩ đã kết tinh trí tuệ của phương Đông cùng hơi thở tâm linh của văn hóa Trung Hoa.


Bài giảng 4: Đến gần Jung và bước vào chính mình: Cảm nhận ý nghĩa của Tâm lý học Văn hóa Trung Quốc


Tôi rất vui mừng được tham dự buổi hội thảo học thuật trong khuôn khổ “Tuần lễ C.G. Jung Trung Quốc” lần này; xin chân thành cảm ơn lời mời của Đại sứ quán Thụy Sĩ và đơn vị chủ trì – Đại học Bắc Kinh. Đồng thời, với tư cách là người phụ trách Tổ chức Phát triển Hiệp hội Tâm lý học Phân tích Quốc tế (IAAP) tại Trung Quốc và Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Phân tích Tâm lý Phương Đông Quảng Đông, tôi xin gửi lời chào trân trọng nhất của hai tổ chức học thuật này tới toàn thể quý vị.


Trước khi bước vào hội trường thư viện Đại học Bắc Kinh, tôi có nhìn thấy tấm áp phích giới thiệu sự kiện. Dòng chữ lớn đập ngay vào mắt: “Bước vào thế giới thần bí của C.G. Jung”. Tôi không dám chắc liệu qua vài ngày ngắn ngủi này chúng ta có thể thực sự “bước vào” được hay không; cũng chẳng thể khẳng định nơi ta bước vào nhất định sẽ là một “thế giới thần bí” như mường tượng. Thế nhưng, có một điều chắc chắn rằng: nếu sẵn lòng, chúng ta hoàn toàn có thể tiếp cận ông, tiếp cận môn tâm lý học phân tích. Xét về mục đích tối hậu của tâm lý phân tích, nơi chúng ta cần bước vào không phải là sự bí ẩn của Jung hay một Jung đầy huyền bí, mà chính là bước vào bản thân mình, bước vào thế giới nội tâm của chính chúng ta. Do đó, đến gần tâm lý học phân tích cũng đồng nghĩa với việc đến gần cái tôi nội tại hay Tự tính (Self) sâu thẳm bên trong.


Thế giới tâm linh nội tại ấy không chỉ mang vẻ huyền bí, mà còn tràn ngập sự kỳ diệu. Và một khi đã đến gần Jung, quý vị cũng sẽ nhận ra rằng chúng ta đang bước vào nền tâm lý học văn hóa Trung Hoa, chạm tới cảnh giới tâm linh của chính nền văn hóa này.


Vì vậy, tôi chọn chủ đề: “Đến gần Jung và bước vào chính mình: Cảm nhận ý nghĩa của Tâm lý học Văn hóa Trung Quốc” để giãi bày những suy ngẫm của mình.


Bài báo cáo của tôi sẽ gồm các nội dung chính: Sau khi giới thiệu những nét bối cảnh cần thiết giữa Jung và văn hóa Trung Hoa, tôi sẽ đi sâu vào các trọng điểm lý thuyết, nội hàm phương pháp và kỹ thuật, cũng như phân tích mục đích và ý nghĩa thực tiễn của tâm lý học Jung; cuối cùng, tôi sẽ giới thiệu đôi nét về tình hình phát triển của tâm lý học phân tích Jung tại Trung Quốc.


I. Giới thiệu bối cảnh


C.G. Jung là nhà tâm lý học chiều sâu có tầm ảnh hưởng lớn nhất sau Sigmund Freud. Cả hai ông đều là những người tiên phong khai phá mảnh đất tâm lý học vô thức. Theo cách hiểu của tôi, tâm lý học với tư cách là một môn khoa học độc lập vốn được hợp lưu từ ba cội nguồn: tâm lý học ý thức của Wilhelm Wundt, tâm lý học vô thức của Sigmund Freud, và tâm lý học thích ứng của William James. Điều đó đồng nghĩa với việc những khám phá của Freud về vô thức mang ý nghĩa mở đường và đặt nền móng cho toàn bộ ngành tâm lý học.


Vốn dĩ, Freud từng muốn “trao trọn” vương quốc tâm lý học vô thức do mình gây dựng cho Jung. Hai người vừa gặp đã như tri kỷ; trong lần hạnh ngộ đầu tiên, họ trò chuyện thâu đêm suốt 13 tiếng đồng hồ, sau đó cùng nhận lời mời sang Mỹ dự lễ kỷ niệm thành lập Đại học Clark. Freud xem Jung là “thái tử” kế vị ngai vàng phân tâm học, đề cử ông giữ chức Chủ tịch đầu tiên của Hiệp hội Phân tâm học Quốc tế (IPA) và Tổng biên tập đầu tiên của tạp chí phân tâm học quốc tế. Thế nhưng chúng ta đều biết, về sau hai người đã chia tay nhau trên con đường học thuật; Jung bắt đầu xây dựng hệ thống lý thuyết và thực hành tâm lý học phân tích độc đáo của riêng mình.


Tôi từng theo học cụ Cao Giác Phu – học giả có cống hiến lớn nhất trong việc dịch thuật và du nhập tư tưởng Freud vào Trung Quốc từ cuối thập niên 1920. Khi còn là nghiên cứu sinh, tôi từng tham gia “Khóa tập huấn toàn quốc về Freud lần thứ nhất” do thầy Cao Giác Phu tổ chức vào năm 1985. Hầu hết các bài báo khoa học đầu tay của tôi đều xoay quanh phân tâm học Freud.


Cơ duyên đưa tôi tiếp xúc thực tế với tâm lý phân tích của Jung là vào năm 1993, khi lần đầu tiên sang Mỹ và bắt đầu quá trình tự phân tích, tôi đã gặp Jung trong một giấc mơ. Đến năm 1995, tôi sang Thụy Sĩ và bắt đầu quá trình tiếp xúc chuyên sâu, toàn diện với trường phái tâm lý học phân tích Jung.


Tôi còn nhớ thuở mới sang Thụy Sĩ học tập, tôi thường nhận được câu hỏi: “Anh sang Thụy Sĩ làm gì?” Bà chủ nhà Ruth Ledergerber từng hỏi tôi như vậy. Bà vốn là một nhà phân tích tâm lý kỳ cựu của Viện C.G. Jung tại Zurich.


Tôi đáp: “Tôi sang học tâm lý học phân tích Jung.”


Nhưng bà luôn gặng hỏi: “Điều đó tôi biết rồi, ý tôi là tại sao anh phải lặn lội đường sá xa xôi sang tận Thụy Sĩ này để làm việc đó?”


Về sau tôi mới vỡ lẽ, sở dĩ bà tò mò như vậy là bởi ngay tại Viện C.G. Jung ở Thụy Sĩ, những nội dung mà học viên phải nghiên cứu chuyên sâu vốn dĩ lại chính là văn hóa truyền thống Trung Hoa. Các giáo trình cốt lõi tại đây bao gồm Kinh Dịch (易經), Nho học, tư tưởng Đạo gia và Thiền tông. Bởi vì những di sản phương Đông này chính là nguồn tư liệu quan trọng nhất giúp Jung kiến tạo nên hệ thống lý thuyết và phương pháp thực hành của tâm lý học phân tích.


Mỗi lần từ nước ngoài trở về, các đồng nghiệp trong nước cũng hay hỏi tôi: “Cậu cứ chạy đôn chạy đáo đi xa xôi nghiên cứu tâm lý phân tích rốt cuộc là vì điều gì? Có thể nói gọn trong một câu xem môn này dùng để làm gì không?”


Nếu buộc phải trả lời câu hỏi ấy, tôi luôn giải thích thế này: Trước khi thực hành phân tích tâm lý, vô thức chỉ là một khái niệm hay một lý thuyết nằm yên trên trang sách; chỉ sau khi bước vào phân tích tâm lý, ta mới thực sự thấu hiểu rằng vô thức vốn là một thực tại hiện hữu sống động, chân thực y như bầu không khí và môi trường xung quanh ta vậy. Và trên thực tế, con người chúng ta không thể nào sống thiếu bầu không khí ấy.


Năm 1993, lần đầu đặt chân tới nước Mỹ, khi được hỏi cảm nhận về chuyến xuất ngoại đầu tiên, tôi đã buột miệng nói: Tôi cảm nhận sâu sắc mình là một người Trung Quốc. Chính cảm thức ấy đã thôi thúc tôi dấn thân tìm hiểu cội nguồn văn hóa dân tộc. Khi đó, trong cánh rừng tại thị trấn Edwardsville – nơi đặt cơ sở của Đại học Southern Illinois, tôi đã trải qua ba tháng tự phân tích tâm lý. Cuốn sách duy nhất tôi nghiền ngẫm trong thời gian ấy là tác phẩm Bí mật hoa vàng do Jung và Richard Wilhelm đồng trước tác. Thuở ấy, điều cuốn hút tôi không phải là tên tuổi của tác giả, mà chính là dòng phụ đề: Cuốn sách về sự sống và sinh mệnh Trung Hoa. Đọc xong sách, tôi ghi vào nhật ký: “Sách đã đọc xong, tuy chưa tìm ra bí mật của hoa vàng, nhưng tôi đã phát hiện ra bí mật của tâm lý học Jung – đó chính là mối liên hệ nội tại sâu sắc với văn hóa Trung Hoa.” Đối với tôi, phát hiện ấy tựa như tìm được chiếc chìa khóa mở ra cánh cửa tâm lý học Jung; đồng thời, đó cũng là chiếc chìa khóa để vận dụng tâm lý phân tích soi chiếu lại các giá trị tâm lý học ẩn tàng trong văn hóa truyền thống.


II. Hạt nhân của tâm lý học Jung: Trải nghiệm Tự tính và tiến trình Tự tính hóa


Thuở còn học tại Viện C.G. Jung ở Zurich – lớp chúng tôi có khoảng 200 học viên đến từ 47 quốc gia khác nhau, độ tuổi trung bình khoảng 47 – tôi từng hỏi các bạn đồng môn: “Mục đích các bạn đến đây học tâm lý phân tích là gì?”


Dù câu trả lời muôn hình vạn trạng, nhưng đáp án chung nhất mà ta thường nghe thấy luôn là: Vì “Tự tính hóa” (Individuation).


Vậy khái niệm “Tự tính hóa” này nên được hiểu như thế nào?


Trong hệ thống tâm lý học Jung, cái tôi theo nghĩa thông thường được gọi là “ego” (bản ngã), tức cái tôi ở bình diện ý thức. Bản ngã này chính là cái “tôi” trong đời sống thường nhật, là sự đồng nhất hóa chủ quan theo thói quen.


Thế nhưng, nơi tầng sâu thẳm trong nội tâm mỗi con người còn tồn tại một cái tôi đích thực bên trong, được gọi là “Tự tính”, Jung dùng chữ “Self” viết hoa để định danh.


Khi sử dụng khái niệm “Tự tính hóa”, Jung muốn diễn tả một tiến trình: một con người cuối cùng trở thành chính mình, một tiến trình phát triển mang tính toàn vẹn, tích hợp trọn vẹn nhưng vẫn giữ được nét cá tính độc nhất vô nhị không hòa lẫn với người khác. Tự tính hóa đồng nghĩa với sự hoàn thiện và phát triển nhân cách, đồng nghĩa với việc chấp nhận và dung chứa mối quan hệ với tập thể, đồng nghĩa với việc hiện thực hóa tính độc đáo của riêng mình.


Khoảng 12 năm trước, phái đoàn 5 người gồm Chủ tịch IAAP Thomas Kirsch và Tổng thư ký Murray Stein khi sang Trung Quốc giao lưu học thuật đã gặp phải khó khăn trong việc dịch thuật và thấu hiểu các thuật ngữ chuyên ngành, bao gồm cả từ “Self” của Jung. Khi ấy Murray Stein có xu hướng muốn dùng chữ “Đạo” (道) để giải thích, nhưng tôi đề xuất dùng hai chữ “Tự tính” (自性) và chú giải chiết tự cho ông như sau:


⚬ Chữ “Tự” (自) nguyên thủy là hình vẽ chiếc mũi của con người, vốn dùng để chỉ bản thân, tự mình; đồng thời mang hàm nghĩa về nguồn gốc khởi nguyên, sự tự nhiên và vốn sẵn có.

⚬ Chữ “Tính” (性) kết hợp từ bộ Tâm (心 - tấm lòng) và chữ Sinh (生 - sinh ra), chỉ gốc rễ của tính, bản chất và đạo lý nội tại. Đúng như Tuân Tử khẳng định: “Sinh chi sở dĩ nhiên giả vị chi tính” (Bản chất sinh ra vốn tự nhiên như thế gọi là tính – Tuân Tử · Chính Danh). Sách Trung Dung cũng viết: “Thiên mệnh chi vị tính” (Mệnh trời ban cho gọi là tính), “Tự thành minh vị chi tính” (Từ sự chân thành mà thấu suốt sáng tỏ gọi là tính).


Bởi vậy, “Tự tính” hàm ý về bản chất tâm lý nguyên sơ nhất bẩm sinh sẵn có, mang trọn vẹn ý nghĩa tâm lý đối với sinh mệnh và cuộc sống của chúng ta.


Trong hệ thống của Jung, Tự tính là một hình tượng nguyên mẫu đại diện cho toàn bộ tiềm năng của nhân loại và tính chỉnh thể toàn vẹn của nhân cách. Đóng vai trò là quy luật tích hợp nội tại của tâm linh con người, Tự tính gắn liền mật thiết với đời sống tâm lý và vận mệnh cả đời của một cá nhân, nắm giữ vị trí và ý nghĩa trung tâm. Đôi khi Jung xem Tự tính là cội nguồn của đời sống tâm lý, nhưng có lúc ông lại xem tiến trình Tự tính hóa như một đích đến tối hậu. Trong cuộc đời của mỗi người, Tự tính luôn đòi hỏi phải được nhận biết, được tích hợp và được hiện thực hóa.


Nếu nói theo ngôn ngữ của Trang Tử, cái tôi ý thức (ego) phần nhiều là sản phẩm nhân tạo do hoàn cảnh nhào nặn; trong khi Tự tính (Self) bên trong lại thuần khiết gần gũi với thiên tính tự nhiên. Bản thân Jung từng tự nhận mình là môn đệ, là người noi theo dấu chân Trang Tử. Toàn bộ hệ tư tưởng của ông chịu ảnh hưởng sâu đậm từ văn hóa Trung Hoa. Còn tiến trình Tự tính hóa, nếu đặt trong hệ quy chiếu văn hóa phương Đông, chính là sự theo đuổi cảnh giới siêu việt “Thiên nhân hợp nhất”.


Do đó, việc để Tự tính hiển lộ, trở thành trung tâm của đời sống và sinh mệnh chính là tiến trình Tự tính hóa, và đó cũng là chìa khóa then chốt cùng mục đích tối thượng của tâm lý học phân tích Jung.


Vậy tư tưởng cốt lõi này của Jung đã được hình thành như thế nào?


Trong cuốn tự truyện Ký ức, Giấc mơ, Suy tưởng, ở chương “Đối diện với vô thức”, Jung đã thuật lại giai đoạn sau khi đoạn tuyệt với Freud, bản thân ông rơi vào khủng hoảng trầm trọng, sụp đổ xuống “vực thẳm vô thức”… Jung viết: “Trong lòng tôi dâng lên một cảm giác mất phương hướng hoàn toàn. Không hề phóng đại khi nói rằng tôi đã đánh mất la bàn cuộc đời. Tôi cảm thấy mình lơ lửng giữa không trung, bởi vì lúc ấy tôi chưa tìm được điểm tựa vững chắc cho đôi chân mình.”


Đứng trước cơn khủng hoảng ấy, Jung nhận thấy mọi lý thuyết tâm lý học đương thời, kể cả học thuyết của Freud, đều trở nên bất lực. Bản thân ông buộc phải trực tiếp đối diện với vô thức, tự mở đường tìm kiếm phương thức giao tiếp với cõi vô thức sâu thẳm.


Đối diện với vô thức cũng chính là đối diện với thế giới nội tâm của bản thân, cùng những hình tượng (ý tượng) cuộn trào từ thế giới ấy. Tìm kiếm con đường giao tiếp với vô thức đồng nghĩa với việc tìm kiếm sự thấu hiểu các hình tượng nội tại, cùng ý nghĩa được chưng cất từ sự thấu hiểu đó.


Trong tự truyện, Jung miêu tả rằng ở giai đoạn này, cõi vô thức của ông hoạt động mãnh liệt bất thường. Có cuộc đối thoại trong mơ với chú chim bồ câu trắng, có hình ảnh cái tôi thuở ấu thơ chơi trò xếp hình bằng đá, có sự xuất hiện của nhà tiên tri Do Thái Elijah, có nàng Salome mù lòa, và cả con cự xà màu đen mang khí chất người hùng… Cho đến một ngày, Jung đã hội ngộ với Philemon (斐樂蒙):


“…Trong giấc mơ hiện ra một bầu trời xanh thẳm như đại dương, lơ lửng trên trời không phải mây mà là những tảng đất màu nâu phẳng lặng. Các tảng đất dường như đang nứt vỡ ra, hé lộ làn nước biển trong xanh biếc. Nhưng làn nước ấy chính là bầu trời xanh. Đột nhiên, một sinh mệnh có cánh bay ngang qua bầu trời từ bên phải. Tôi nhận ra đó là một ông lão có sừng bò. Ông đeo một chùm gồm bốn chiếc chìa khóa, tay nắm chặt một chiếc như thể chuẩn bị mở khóa. Ông mang đôi cánh của loài chim bói cá, với sắc lông rực rỡ y hệt chim bói cá…”


Đó là những dòng đầu tiên Jung khắc họa về Philemon. Jung kể tiếp: “Vì không hiểu được hình tượng trong giấc mơ này, tôi liền vẽ nó ra để khắc sâu vào tâm trí. Đúng vào những ngày tôi đang mải miết vẽ bức tranh ấy, tại khu vườn ven hồ của tôi, tôi bỗng phát hiện xác một con chim bói cá! Tôi bàng hoàng như bị sét đánh, bởi vì ở vùng Zurich này, chim bói cá vô cùng hiếm gặp, trước đó tôi chưa từng thấy xác chim bói cá bao giờ. Con chim này chỉ mới chết cách đó chừng hai ba ngày, trên mình hoàn toàn không có vết thương nào.”


Jung từng chia sẻ rằng hình tượng Philemon đã mang lại cho ông vô vàn sự thức ngộ, mà điều quan trọng nhất chính là nhận thức về sự chân thực của tâm linh (the reality of the psyche); sự chân thực của tâm linh lại chính là công năng căn bản của Tự tính. Đạt được thức ngộ này cũng đồng nghĩa với việc nắm giữ ý nghĩa trọng yếu của tiến trình Tự tính hóa.


Theo Jung, xét về mặt tâm lý học, Philemon đại diện cho tuệ giác thấu triệt ở tầng bậc cao hơn. Jung nói Philemon “đối với tôi hiện lên vô cùng chân thực, sống động như một con người bằng xương bằng thịt”. Rất nhiều tư tưởng tâm lý học trọng đại của ông đều bắt nguồn từ những hình tượng nội tại sống động này. Trong Ký ức, Giấc mơ, Suy tưởng, Jung khẳng định: “Tất cả các tác phẩm, toàn bộ hoạt động sáng tạo của tôi” đều khởi nguồn từ những hình tượng ban sơ ấy; “những gì tôi đạt được trong những năm tháng tuổi già đều đã được thai nghén sẵn bên trong chúng”.


Philemon từng được Giáo sư David Rosen gọi là “Bậc hiền triết Đạo gia của Jung”. David Rosen là bạn tôi, Giáo sư danh dự đầu ngành về tâm lý phân tích Jung tại Hoa Kỳ. Tôi và học trò Phạm Quốc Bình đã dịch tác phẩm Đạo của Jung của ông sang tiếng Hán (xuất bản trong tủ sách “Điểm kim thạch” của NXB Khoa học Xã hội Trung Quốc). Để hoàn thành cuốn sách này, David Rosen đã cất công bay sang Zurich để phỏng vấn Marie-Louise von Franz và C.A. Meier – hai học trò xuất sắc và tiêu biểu nhất của Jung thời bấy giờ. Câu hỏi ông đặt ra là: “Bà/Ông có cho rằng Jung là một người theo Đạo gia không?”


Bà von Franz khẳng định: “Đúng vậy, Jung rất sùng kính Đạo gia, và bản thân ông đã đích thân thực hành lối sống theo triết học Đạo gia.”


Còn Meier trả lời: “Đúng thế, Jung chính là một bậc Đạo gia. Hiện nay người ta vẫn chưa nhận ra rằng tâm lý học về sự thống nhất của các mặt đối lập của Jung về bản chất hoàn toàn tương đồng với tư tưởng Đạo gia. Người đời cứ muốn gò ép biến Jung thành một mẫu người khác với bản chất thực của ông. Ông cắm rễ sâu vào tự nhiên cùng tính đối lập và thống nhất của nó. Lòng sùng kính và sự say mê của ông đối với Đạo gia sâu sắc đến mức việc xem Jung là một người theo Đạo gia là điều rõ ràng hơn bao giờ hết.”


Trên thực tế, bản thân Jung cũng từng bày tỏ điều này rất rõ ràng. Trong tập Thư tín của Jung (1950, tr. 626), trong bức thư gửi học giả Trương Chung Nguyên, Jung viết: “Tôi là người vô cùng ngưỡng mộ triết học Trang Tử. Khi nhận được thư của ngài, tôi đang một lần nữa đắm mình nghiên cứu các tác phẩm của Trang Tử… Thuyết phục người đời mở mắt nhìn vào chân lý tiềm ẩn để đạt được trải nghiệm tâm lý chân thực là điều vô cùng nan giải. Chân lý là duy nhất, vĩnh hằng bất biến. Tôi buộc phải thốt lên rằng: Đạo gia chính là sự biểu đạt hoàn mỹ nhất về chân lý duy nhất ấy mà tôi từng được diện kiến.” Học giả Trương Chung Nguyên là một nhà triết học gốc Hoa tại Mỹ, khi ấy vừa hoàn thành chuyên khảo nghiên cứu về Trang Tử và viết thư mời Jung viết lời tựa. Bạn tôi – nhà phân tích tâm lý học Jung Stan Marlan – từng theo học văn hóa Trung Hoa với cụ Trương, và cụ từng cho ông xem bức thư quý giá này.


Trong tự truyện, sau khi miêu tả hình tượng Philemon, Jung thuật lại trải nghiệm vẽ tranh Mandala (Mạn-đà-la). Điểm then chốt ở đây là phải cụ thể hóa các nội dung vô thức, để chúng tự bộc lộ và hiển hiện qua hình thái thích hợp. Vẽ Mandala chính là phương thức vừa vặn nhất với phong cách của Jung.


Một ngày năm 1928, Jung vẽ một bức Mandala và đặt tên là “Tòa lâu đài hoàng kim”.


Vẽ xong, ngắm nhìn tác phẩm của mình, Jung cứ tự hỏi mãi: “Sao nó lại giống tranh Trung Quốc đến thế này?” Jung viết: “Tôi bị ấn tượng mạnh bởi việc lựa chọn hình khối và màu sắc, trong lòng cứ linh cảm thấy nó có mối liên hệ mật thiết với Trung Quốc… Thật là một sự trùng hợp kỳ lạ, ngay sau đó tôi nhận được bản thảo văn bản nội đan Đạo gia ‘Thái Ất kim hoa tông chỉ’ (Bí mật hoa vàng) do Richard Wilhelm gửi tới qua đường bưu điện, nhờ tôi viết lời bình. Tôi ngấu nghiến đọc hết bản thảo trong một hơi thở, bởi những luận giải trong đó đã chứng thực một cách kỳ diệu cho những suy nghĩ của tôi về Mandala và xu hướng quy tâm – điều mà ngay trong mơ tôi cũng chưa từng dám nghĩ tới. Đó là sự kiện đầu tiên phá tan nỗi cô độc bấy lâu trong tôi. Tôi dần nhận ra một sự đồng điệu sâu xa, rằng cuối cùng tôi đã có thể kết nối được với một sự việc và một con người.”


Trong một thời gian dài, Jung vẽ rất nhiều Mandala, đến mức bản thân ông cũng không nhớ nổi đã vẽ bao nhiêu bức và vì sao mình lại làm thế. Nhưng Jung chia sẻ: “Mãi về sau tôi mới dần nhận ra thế nào là một Mandala đích thực: ‘Định hình, biến hình, sự sáng tạo vĩnh hằng của tâm linh vĩnh cửu.’ Và đó chính là Tự tính, là tính toàn vẹn của nhân cách.”


Năm 1994, khi phái đoàn IAAP do Thomas Kirsch và Murray Stein dẫn đầu sang thăm Trung Quốc, tại một buổi tọa đàm, Thomas Kirsch đã nhận định: Xét về quá trình hình thành tư tưởng tâm lý học của Jung, tầm ảnh hưởng của Richard Wilhelm vượt xa Freud hay bất kỳ ai khác. Richard Wilhelm (Vệ Lễ Hiền) là nhà Hán học lừng danh người Đức, từng sống ở Trung Quốc hơn 20 năm, dịch Kinh Dịch cùng các kinh điển Nho - Đạo sang tiếng Đức, trọn đời cống hiến cho việc truyền bá văn hóa Á Đông, được tôn xưng là “Người Trung Quốc vĩ đại mang quốc tịch Đức”. Nhận định này hoàn toàn khớp với lời tự sự của Jung trong tập 15 Toàn tập tác phẩm: “Trên thực tế, tôi cho rằng Richard Wilhelm đã mang lại cho tôi nguồn khai sáng vô tận, ảnh hưởng của ông đối với tôi vượt xa bất kỳ ai khác…” Nguồn cảm hứng mà Wilhelm mang lại cho Jung cũng chính là nguồn cảm hứng mà văn hóa Trung Hoa đã tưới mát tâm hồn ông.


Tháng 9 năm 2002, tại Diễn đàn Quốc tế về Phân tích Tâm lý và Văn hóa Trung Hoa lần thứ hai, Murray Stein (lúc đó là Chủ tịch IAAP) đã có bài diễn thuyết đặc biệt với chủ đề “Ảnh hưởng của tư tưởng Trung Hoa đối với Jung và lý thuyết tâm lý học của ông”. Dựa trên nguồn tư liệu gốc là 13 bức thư trao đổi giữa Wilhelm và Jung, ông khẳng định: “Chính nhờ công trình của Wilhelm mà Jung đã khám phá ra kho báu trong tư tưởng Trung Hoa – kho báu đã đồng hành và định hình tư tưởng của Jung suốt cả cuộc đời… Sự hợp tác giữa họ khởi đầu từ sứ mệnh chung là bắc nhịp cầu nối Đông - Tây… để rồi kiến tạo nên một hệ thống tâm lý học phức hợp dựa trên nền tảng ‘sự chân thực của tâm lý’ và ‘chức năng siêu việt’, dung hợp hài hòa giữa tư tưởng Đạo gia phương Đông và lý thuyết khoa học châu Âu.”


Tại lễ tưởng niệm Richard Wilhelm, Jung xúc động phát biểu: “Bất kỳ ai nếu may mắn như tôi, được trải nghiệm sự giao hòa tâm linh với Richard Wilhelm và cảm nhận ảnh hưởng thiêng liêng của Kinh Dịch, thì sẽ không thể nào làm ngơ trước một sự thật rằng: tại nơi đây, chúng ta đã chạm tới một điểm tựa Archimedes đủ sức làm rung chuyển tận gốc rễ thái độ tâm lý của phương Tây.”


Điểm tựa Archimedes ấy chính là Tự tính. Lý thuyết Tự tính hóa phái sinh từ đó trở thành xương sống của tâm lý học phân tích Jung.


Jung viết: “Nó dẫn thẳng tôi tới quan niệm về ‘Đạo’ của Trung Hoa… Chỉ khi tư tưởng và nghiên cứu của tôi chạm tới điểm then chốt – tức là chạm tới Tự tính, tôi mới tìm lại được con đường trở về với thế giới này.”


Tựa như huyền thoại người anh hùng được Joseph Campbell đúc kết trong Người hùng mang ngàn gương mặt: Khởi đầu từ “phân ly”, lắng nghe “tiếng gọi phiêu lưu”, trải qua muôn vàn thử thách hiểm nguy, đón nhận “sự truyền trao bí mật”, để rồi “khải hoàn trở về” tạo dựng sự nghiệp vĩ đại.


Đó chính là huyền thoại về Jung: sự trở về của tâm lý học phân tích mang theo tuệ giác phương Đông cùng sự thấu hiểu độc đáo về nhân tính, hoàn thiện các phương pháp kỹ thuật trị liệu, tạo nên bước nhảy vọt mới trên nền tảng phân tâm học mà Freud đã khai phá. Bản thân Campbell chịu ảnh hưởng sâu sắc từ Jung, và trong cấu trúc huyền thoại của ông cũng thấp thoáng bóng hình Jung. Đó là sự phác họa sống động về hành trình Tự tính hóa.


III. Sự phát triển của Tâm lý học Phân tích Jung tại Trung Quốc


Năm 2000, nguyên Chủ tịch IAAP Thomas Kirsch xuất bản cuốn Nhà phân tích tâm lý học Jung: Lăng kính lịch sử và so sánh – công trình lịch sử đầu tiên về trường phái này. Trong sách, ông dành riêng một phần viết về “Sự phát triển của tâm lý học Jung tại Trung Quốc” cùng ý nghĩa sâu xa của nó:


“Trong tất cả các quốc gia châu Á, Jung dành niềm say mê lớn nhất cho tâm lý học, triết học và tôn giáo Trung Hoa. Khoảng năm 1920, nhờ sự trợ giúp của người bạn tri kỷ – nhà Hán học lừng danh Richard Wilhelm, Jung đã hoàn toàn say đắm thuật giả kim và tư tưởng Đạo gia Trung Quốc. Năm 1929, ông xuất bản bài bình luận tâm lý học về trước tác thuật giả kim cổ xưa ‘Bí mật hoa vàng’ – đây là tác phẩm nhập môn của Jung về thuật giả kim, chủ đề cuốn hút ông nhất trong phần đời còn lại.”


Thomas Kirsch nhấn mạnh: “Mối liên hệ giữa tâm lý học phân tích và Trung Quốc là vô cùng trọng đại… Jung được khai sáng sâu sắc từ trí tuệ cổ xưa của Trung Hoa. Giữa tâm lý học phân tích và văn hóa Trung Hoa luôn tồn tại một mối liên kết bền chặt và luôn tươi mới theo thời gian!”


Chính Thomas Kirsch, trong nhiệm kỳ Chủ tịch IAAP, cùng Tổng thư ký Murray Stein đã chính thức mở ra các hoạt động giao lưu học thuật giữa IAAP và giới học thuật Trung Quốc qua chuyến thăm năm 1994 với bài thuyết trình trọng tâm: “Jung và Đạo”.


Năm 1998, với sự bảo trợ của IAAP, chúng tôi đã tổ chức thành công “Diễn đàn Quốc tế về Phân tích Tâm lý và Văn hóa Trung Hoa lần thứ nhất”. Chủ tịch IAAP lúc bấy giờ là Luigi Zoja phát biểu: “Tâm lý học phân tích Jung từ lâu đã kết mối duyên sâu nặng với Trung Quốc và văn hóa Trung Hoa. Tôi tin chắc rằng nếu Giáo sư Jung còn sống và biết quý vị đang tổ chức hội nghị này, ông nhất định sẽ cảm thấy vô cùng an ủi từ tận đáy lòng.” Giáo sư Leland van den Daele thuộc Viện Nghiên cứu Tích hợp California (CIIS) cũng khẳng định: “Bản thân Jung vô cùng trân trọng các kinh điển như Kinh Dịch, Bí mật hoa vàng; nhưng sự trân trọng ấy cũng chính là niềm kỳ vọng trao gửi cho thế hệ học giả tương lai tiếp tục khám phá. Diễn đàn này là một cột mốc lịch sử cho hành trình khám phá ấy.”


Đến năm 2002, Diễn đàn lần thứ hai được tổ chức quy tụ ba đời Chủ tịch IAAP, các viện trưởng viện đào tạo phân tích tâm lý quốc tế cùng hơn 200 học giả. Chủ tịch Murray Stein phát biểu khai mạc: “Jung cảm nhận sâu sắc rằng tư tưởng phương Đông có thể bù đắp cho những khiếm khuyết phiến diện của truyền thống duy lý phương Tây… Sự hội ngộ giữa tư tưởng Đông và Tây không phải là sự loại trừ mà là sự dung hội, thông suốt. Muốn đạt được điều đó, cần phải đối thoại chân thành trên tinh thần tôn trọng và lắng nghe lẫn nhau.”


Tháng 9 năm nay (2007), chúng tôi sẽ tổ chức Diễn đàn lần thứ ba với chủ đề “Đạo đức và Trí tuệ: Đông và Tây” tại Thanh Đảo, đồng thời tổ chức hội thảo chuyên đề “Jung và Trung Quốc” ngay tại tư gia cũ của Richard Wilhelm.


Trong một thập kỷ qua, chuyên ngành Phân tích Tâm lý và Văn hóa Trung Hoa của chúng tôi đã đào tạo hơn 10 tiến sĩ tốt nghiệp, trong đó có 3 người đã vượt qua kỳ sát hạch gắt gao của IAAP. Đề tài luận án của các nghiên cứu sinh tập trung vào nhiều hướng nghiên cứu sâu sắc: Nghiên cứu phân tích tâm lý về phức cảm tự sát, Nghiên cứu về phức cảm ám ảnh cưỡng chế, Nghiên cứu về hiện thân ý tượng, Nhân cách ranh giới, Chấn thương và chia ly, Khám phá tính phức hợp của các yếu tố chữa lành trong phân tích tâm lý, Nghiên cứu hình tượng văn hóa trong Kinh Thi; cùng các luận án của nghiên cứu sinh quốc tế: Nghiên cứu phân tích tâm lý về văn hóa ẩm thực Trung Hoa, Nghiên cứu về ý tượng tâm thần của Jung, Chữ ‘Thành’ trong sách Trung Dung dưới góc nhìn phân tích tâm lý. Hai nghiên cứu sinh sau tiến sĩ của chúng tôi gồm một tiến sĩ Đông y nghiên cứu đề tài “Trị liệu tình chí trong Trung y và phân tích tâm lý”, và một tiến sĩ tôn giáo học nghiên cứu đề tài “Nội đan Đạo gia và phân tích tâm lý”.


Mục tiêu và nỗ lực của chúng tôi là phát triển một hệ thống lý thuyết, phương pháp và kỹ thuật phân tích tâm lý hiệu quả trên nền tảng văn hóa phương Đông. Tâm lý phân tích không chỉ dừng lại ở cấp độ lâm sàng cá nhân để chữa lành tâm bệnh, mà còn giúp phát triển tâm lý, tăng cường sức khỏe tinh thần và phát huy giá trị giáo dục tâm lý; đồng thời ở cấp độ nhận thức bản ngã và thấu triệt ý nghĩa nhân sinh, nó mang lại trải nghiệm Tự tính hóa và cảm thức “Thiên nhân hợp nhất”.


Bên cạnh đó, sự phát triển của tâm lý học phân tích Jung tại Trung Quốc còn thể hiện qua công tác đào tạo và ứng dụng kỹ thuật Liệu pháp Trò chơi cát (Sandplay Therapy). Năm 1995, sau khi tiếp cận liệu pháp này tại hội nghị của IAAP ở Zurich, tôi và Cao Lam đã thành lập ba phòng trị liệu trò chơi cát trong nước và hướng dẫn học viên nghiên cứu hệ thống: từ nghiên cứu lý thuyết của Dora Kalff và Margaret Lowenfeld, đến các nghiên cứu kỹ thuật như mã hóa khay cát ban đầu, chủ đề khay cát, thao tác khay cát nhóm, cho tới các nghiên cứu ứng dụng điều trị chứng tự kỷ và trầm cảm. Hiệp hội Quốc tế về Liệu pháp Trò chơi Cát (ISST) luôn đồng hành, cử các chuyên gia hàng đầu như Chủ tịch Ruth Ammann, Tổng thư ký Eva Pattis, cựu Chủ tịch Harriet Friedman sang Trung Quốc giảng dạy và giám sát chuyên môn.


Bà Dora Kalff khi xây dựng cuốn sách nền tảng Liệu pháp trò chơi cát: Con đường chữa lành tâm linh đã dùng triết học Chu Đôn Di làm lý thuyết trụ cột, vận dụng Lão - Trang và Kinh Dịch để phân tích ca bệnh. Khép lại cuốn sách, bà luận giải ý nghĩa tâm lý học của quẻ Khảm (坎卦). Khảm trên Khảm dưới, tượng là Nước, là nơi hiểm trở. Lời thoán viết: “Tập Khảm: hữu phu, duy tâm hanh, hành hữu thượng” (Nạn hiểm trùng trùng, giữ lòng chí thành tin tưởng thì tâm hanh thông, tiến bước được tôn kính). Lời thoán truyện giải thích: “…Thủy lưu nhi bất doanh, hành hiểm nhi bất thất kỳ tín. ‘Duy tâm hanh’, nãi dĩ cương trung dã” (Nước chảy mà không ứ đầy, đi qua nơi hiểm mà không mất chữ tín. Tâm hanh thông là nhờ sự cứng cỏi, vững vàng ở vị trí trung chính). Kalff cho rằng dòng nước trong quẻ Khảm chính là sự khắc họa chân thực tiến trình phát triển của tâm linh: Chỉ khi thấu hiểu quẻ Khảm, đạt được trải nghiệm ấy và sự hài hòa nội tại, chúng ta mới có thể chạm tới ân điển và sự vẹn toàn.


Song song với trò chơi cát, chúng tôi phát triển kỹ thuật Hiện thân Ý tượng (Embodied Imagination), tập trung vào làm việc với giấc mơ, do nhà phân tích Robert Bosnak – Chủ tịch Hiệp hội Nghiên cứu Giấc mơ Quốc tế – đồng hành thúc đẩy từ năm 2000. Bosnak nhận thấy kỹ thuật giấc mơ và hiện thân ý tượng nhận được nguồn cảm hứng vô tận từ văn hóa Trung Hoa: Kinh Dịch, Hoàng Đế Nội Kinh, Đạo gia, lời dạy của Khổng Tử và tinh thần Thiền tông… Sự quan tâm sâu sắc đến tâm linh trong văn hóa truyền thống là nguồn tài nguyên vô giá để phát triển kỹ thuật này.


Tôi xem sự kết hợp giữa tâm lý phân tích và văn hóa Trung Hoa là nền tảng, còn liệu pháp trò chơi cát và kỹ thuật hiện thân ý tượng tựa như hai bàn tay trái và phải. Trò chơi cát là sự hiển hiện hữu hình của giấc mơ, còn công việc với giấc mơ chính là một khay cát vô hình. Điểm tinh diệu nằm ở chỗ: “Đắc chi vu tâm, ứng chi vu thủ” (Hiểu rõ nơi tâm, ứng hiện nơi tay). Chúng ta có thể dùng tiến trình ngũ thể mang đậm nét văn hóa phương Đông để diễn đạt kỹ thuật này: Thể nhận (體認) – Thể hội (體會) – Thể hiện (體現) – Thể nghiệm (體驗) – Thể ngộ (體悟); trong đó cốt lõi tối thượng là lấy tâm làm gốc, dĩ tâm truyền tâm.


Biểu trưng của diễn đàn chúng tôi lấy hình ảnh chữ “Tư” (思) – cái tâm tư duy hay sự tư duy của tâm. Chữ “Tư” dung hợp cả đầu và tâm làm một thể toàn vẹn, vừa có đầu, vừa có tâm, đồng thời siêu việt lên trên cả hai, mang ý nghĩa biểu tượng nguyên mẫu sâu sắc.


Đó chính là tinh hoa cốt lõi của tâm lý học phân tích Jung và cũng là chìa khóa cho sự phát triển của môn học này tại Trung Quốc. Khi thực sự đến gần Jung, chúng ta đang bước vào chính mình, khám phá vẻ đẹp kỳ diệu của Tự tính, đón nhận chiều sâu của tâm lý học văn hóa và tìm lại ý nghĩa vốn có của tâm linh.


Xin chân thành cảm ơn quý vị!


Hỏi đáp


【Hỏi】 Cơ duyên nào đã khiến ông lựa chọn tâm lý học phân tích Jung? Trường phái này có ý nghĩa như thế nào đối với riêng cá nhân ông?


【Thân Hà Vĩnh】 Cảm ơn câu hỏi của bạn. Sự “lựa chọn” của tôi trước hết bắt đầu từ niềm đam mê với tâm lý học, nhưng bản thân sự lựa chọn ấy xuất phát từ một nhu cầu thôi thúc tự bên trong. Tôi từng theo học cụ Cao Giác Phu – người có công lớn đưa phân tâm học Freud vào Trung Quốc. Ban đầu tôi chủ yếu nghiên cứu Freud và không mấy bận tâm đến Jung, dù khoảng năm 1985 tôi từng làm phiên dịch cho một học giả trường phái Jung do thầy Cao mời sang.


Sau khi hoàn thành chương trình tiến sĩ, tôi dành hơn một năm đi phỏng vấn các nhà tâm lý học lão thành trong nước để tìm hiểu “sự hình thành của tâm lý học Trung Quốc”. Nghĩ lại, dẫu đã có bằng tiến sĩ dưới sự dẫn dắt của thầy Cao Giác Phu, bên trong tôi vẫn tồn tại một khát khao nội tại chưa được lấp đầy; hay nói đúng hơn, chính việc học với thầy Cao đã nuôi dưỡng và kích hoạt khát vọng tìm kiếm chiều sâu tâm lý ấy.


Từ nền tảng đó, một cơ duyên mang tính bước ngoặt đã mở ra. Năm 1993, tôi một mình sang Mỹ, đến thị trấn Edwardsville nơi đặt Đại học Southern Illinois. Ba tháng đầu, tôi gần như vùi mình trong thư viện, tham lam muốn đọc cạn mọi cuốn sách ở đó – dĩ nhiên đó là điều bất khả. Rồi một hôm, một bà cụ người Mỹ đã vô tình chỉ cho tôi “con đường tôi nên đi”. Trước đó, ngày nào tôi cũng đạp xe đến trường men theo con đường cao tốc đầy xe cộ. Hôm ấy, bà cụ dẫn tôi vào một cánh rừng, chỉ cho tôi con đường mòn rợp bóng cây có thể đạp xe qua. Lần đầu tiên đặt chân vào đó, tôi hoàn toàn bị cảnh sắc thiên nhiên hớp hồn. Kể từ hôm ấy, tôi hiếm khi lên trường nữa mà tự phát bước vào ba tháng tĩnh lặng để tự phân tích tâm lý.


Suốt ba tháng ấy, tôi chỉ nghiền ngẫm đúng một cuốn sách: Bí mật hoa vàng. Tôi thậm chí chẳng buồn để ý tác giả là ai, bởi điều lôi cuốn tôi là dòng phụ đề: “Cuốn sách về đời sống và sinh mệnh Trung Hoa”. Đọc xong sách, trải qua ba tháng tự phân tích, tôi ghi vào nhật ký: Cuối cùng đã đọc xong, dẫu chưa thấu tỏ bí mật của “hoa vàng”, nhưng tôi đã nhìn ra bí mật của tâm lý học Jung – đó chính là mối liên kết ruột thịt với văn hóa Trung Hoa.


Ít lâu sau, trên chuyến tàu hỏa từ St. Louis đi Los Angeles, tôi đã trải qua một giấc mơ – giấc mơ thực sự dẫn dắt tôi bước hẳn vào tâm lý học phân tích Jung: Trong mơ, tôi tự tay tháo chiếc đầu của mình ra đặt lên bàn đối diện. Đồng thời, tôi gỡ bỏ chiếc mặt nạ sắt đã bám chặt vào khuôn mặt mình suốt bao năm trời; chiếc mặt nạ sắt găm rất sâu, khi bóc ra còn kéo theo cả những vệt máu tươi từ vết sẹo trên đầu. Mà trên đầu tôi, từ thời Cách mạng Văn hóa, thực sự có một vết sẹo sâu hoắm – đó là vết thương đầu đời tôi còn nhớ được, và cũng là ký ức khắc sâu về thời kỳ biến động ấy.


Đến Los Angeles, bạn bè là các nhà phân tích Jung đã hào hứng giúp tôi phân tích giấc mơ này. Về sau, rất nhiều nhà phân tích kỳ cựu khác cũng đã cùng tôi làm việc trên giấc mơ ấy.


Giấc mơ đó tựa như một sự thức tỉnh nội tâm, giống như cảnh giới “tâm trai” mà Trang Tử từng miêu tả: nhắc nhở tôi hãy nhìn bằng “tâm”, hãy lắng nghe bằng “tâm”. Nó cũng mang một thông điệp sâu sắc: Tôi bắt đầu hành trình tâm lý phân tích Jung với một vết thương mang sẵn trên mình. Vết thương ấy vừa thuộc về cá nhân tôi – minh chứng là vết sẹo hữu hình trên đầu; vừa thuộc về nỗi đau chung của cả một nền văn hóa bị chấn thương sau thời kỳ biến động.


Bởi vậy, việc học và dấn thân vào tâm lý học phân tích bản thân nó chính là một tiến trình tự chữa lành, là sự kiếm tìm ý nghĩa nội tại cho cuộc sống và sinh mệnh của chính mình.


【Hỏi】 Điểm khác biệt lớn nhất giữa tâm lý phân tích của Jung và phân tâm học của Freud là gì?


【Thân Hà Vĩnh】 Đây là một câu hỏi rất cốt lõi. Để tôi xem có thể tiếp cận từ những góc độ nào.


Trước hết là sự khác biệt về mặt nhân cách. Người ta thường ví von: Nếu bạn là một người con ngoan của người cha, bạn hãy tìm đến phân tâm học Freud; còn nếu bạn là đứa con gắn bó với người mẹ, bạn hãy đến với tâm lý học phân tích của Jung. Freud đại diện cho uy quyền nghiêm khắc của người cha; trong khi Jung lại mở ra tình mẫu tử bao dung và tính dưỡng dục của người mẹ.


Sau khi rạn nứt quan hệ, khoảng năm 1913, hai ông từng có giai đoạn trao đổi thư từ bí mật, cố gắng phân tích lẫn nhau để tìm nguyên nhân bất đồng. Đến năm 1921, khi hoàn thành công trình Các kiểu nhân cách (Psychological Types), Jung nhận ra rằng sự xung đột giữa ông và Freud không đơn thuần nằm ở bình diện ý thức hay nhận thức, mà bắt nguồn sâu xa từ cấu trúc nhân cách; điều tương tự có lẽ cũng xảy ra trong cuộc chia tay giữa Alfred Adler và Freud.


Về mặt lý thuyết, cuốn Biểu tượng và sự chuyển hóa của Libido xuất bản năm 1912 của Jung là nguyên nhân trực tiếp dẫn tới sự đổ vỡ, phản ánh hai cách hiểu hoàn toàn khác nhau về vô thức. Với Freud, Libido đồng nghĩa với năng lượng tình dục, là những xung năng tính dục thuần túy. Nhưng với Jung, dù tính dục rất quan trọng đối với mọi giống loài, song Libido phải được hiểu là năng lượng sinh mệnh hay xung lực sống nói chung; bước vào nền văn minh nhân loại, năng lượng ấy đã trải qua những bước chuyển hóa trọng đại để trở thành các ý nghĩa biểu tượng văn hóa.


Thêm nữa, đối với Freud, phức cảm Oedipus (thần thoại Oedipus) là trung tâm tuyệt đối của phân tâm học. Nhưng với Jung, dù thần thoại Oedipus rất quan trọng, song điều cốt yếu hơn không nằm ở bản thân cốt truyện thần thoại, mà nằm ở năng lực sáng tạo thần thoại của tâm trí: chính tâm linh con người đang không ngừng kiến tạo nên thần thoại.


Điều này dẫn tới cấu trúc lý thuyết khác biệt: Freud xem tiềm thức (tiểu ngã vô thức) chủ yếu mang tính cá nhân, là nơi dồn nén của những ẩn ức tính dục hay các phức cảm cá nhân. Còn Jung mở rộng vô thức sang bình diện tập thể – vô thức tập thể, với các thành tố nòng cốt là các nguyên mẫu (archetypes) và hình tượng biểu tượng.


Một điểm bổ sung thú vị: Jung và các môn đệ của ông luôn dành sự trân trọng đặc biệt cho văn hóa phương Đông và duy trì sự giao lưu sâu sắc với văn hóa Trung Hoa. Trong khi đó, Freud dẫu từng viết vài lá thư cho học giả Trung Quốc nhưng không có sự tiếp xúc thực chất. Hiện nay, hầu hết trong số hơn 3.000 nhà phân tích của IAAP đều quen thuộc với Kinh Dịch, từng đọc cuốn Thái Ất kim hoa tông chỉ (Bí mật hoa vàng) và yêu thích tư tưởng Lão - Trang.


【Hỏi】 Xét về hiệu quả trị liệu và phân tích trên lâm sàng, ông có thể so sánh giữa phương pháp của Jung và phương pháp của Freud không?


【Thân Hà Vĩnh】 Câu hỏi này chạm tới vấn đề thực chất phía sau lý thuyết. Về kỹ thuật: Freud chủ yếu dựa vào “liên tưởng tự do”, “giải mã giấc mơ” và “phân tích chuyển di”, cùng các thao tác xử lý cơ chế kháng cự và phòng vệ. Jung cũng tập trung vào “làm việc với giấc mơ”, phân tích chuyển di và phức cảm, nhưng công cụ độc đáo nhất của ông là kỹ thuật “tưởng tượng tích cực” (Active Imagination).


Khi đánh giá hiệu quả, trước hết phải xét tới bối cảnh thời đại và đối tượng thân chủ. “Yếu tố thân chủ” là một biến số cực kỳ quan trọng quyết định hiệu quả công việc.


Sự thành công mở đường của Freud gắn liền với những ca bệnh huyền thoại, tiêu biểu như ca bệnh “Anna O.”. Qua quá trình điều trị cùng Josef Breuer và Freud, bà đã thoát khỏi chứng nhiễu tâm nghiêm trọng để rồi cống hiến cho văn chương và hoạt động thiện nguyện, để lại cho hậu thế câu chuyện kinh điển về “trị liệu bằng trò chuyện” (talking cure).


Phương pháp của Jung cũng ghi dấu những câu chuyện trị liệu kỳ diệu không kém. Điển hình là nhà văn Hermann Hesse (giải Nobel Văn học 1946), từ khoảng năm 1917 đã trải qua quá trình phân tích với Jung và các cộng sự trong giai đoạn khủng hoảng tâm lý và bế tắc cuộc sống tột cùng. Quá trình trị liệu không chỉ giúp Hesse vượt qua khó khăn tâm lý mà còn khơi nguồn cho những sáng tạo văn chương bất hủ sau này. Nhà vật lý Wolfgang Pauli (giải Nobel Vật lý 1945) cũng từng là thân chủ của Jung. Jung đã cùng Pauli phân tích hơn 1.300 giấc mơ; và chính tư liệu từ các giấc mơ của Pauli đã hỗ trợ đắc lực giúp Jung hoàn thành công trình nghiên cứu kinh điển về thuật giả kim và tâm lý học.


Bởi vậy, cả phân tâm học Freud lẫn tâm lý học phân tích Jung đều mang lại hiệu quả trị liệu to lớn, dù tiến trình phân tích luôn mang tính cá nhân hóa sâu sắc tùy thuộc vào từng con người cụ thể. Bản thân tôi từng trải qua ba nhà phân tích tâm lý, trong đó có một người xuất thân thuần túy từ trường phái Freud và vẫn dùng kỹ thuật liên tưởng tự do cổ điển; tôi cũng từng được đào tạo về Gestalt, tâm lý học nhân văn và tâm lý học siêu cá nhân… Nhưng đối với tôi, tâm lý phân tích – bao hàm trọn vẹn cả phân tâm học bên trong – vẫn là phương thức trị liệu sâu sắc và hiệu quả nhất. Bởi vì tâm lý phân tích không đơn thuần là chữa bệnh, mà đó là một cuộc thám hiểm tâm linh, là hành trình truy tìm ý nghĩa tối hậu của cuộc sống và sinh mệnh con người.

 
 
 

Bài đăng gần đây

Xem tất cả
CHƯƠNG BẢY Người anh em Lustig:

Phần 1. Người anh em linh hồn NGƯỜI ANH EM LUSTIG (Cổ tích Đức) Ngày xưa có một người đàn ông tên là Lustig (hay Người anh em Lustig), từng phục vụ trong đội quân của Đức vua. Sau nhiều năm chiến tran

 
 
 
6. CHIẾN BINH

6. CHIẾN BINH Chúng ta đang sống trong một thời đại mà con người nhìn chung cảm thấy e ngại và bài xích nguồn năng lượng nam tính của Chiến Binh—và điều đó xuất phát từ những lý do hoàn toàn chính đán

 
 
 

Bình luận


bottom of page