top of page

Trị liệu tâm lý, nghi thức điểm đạo và giai đoạn chuyển tiếp trung niên

Jan O. Stein và Murray Stein


Trong nghiên cứu gần đây, Jan và Murray Stein nhận thấy rằng các mô thức tâm lý của giai đoạn chuyển tiếp và biến động tuổi trung niên diễn ra qua ba giai đoạn, tương ứng với ba giai đoạn trong tiến trình điểm đạo xã hội từng được Arnold van Gennep mô tả trong tác phẩm kinh điển Rites of Passage (1960) và sau đó được Victor Turner phát triển tiếp. Hai tác giả chỉ ra những bước cần thực hiện để giải quyết các vấn đề tâm lý trong giai đoạn ngưỡng (liminal/threshold) ở tuổi trung niên—tiến trình có thể mở ra mục đích sống, định hướng và sự sáng tạo mới. Thông qua sự "tái cấu trúc mô thức tự tổ chức", mỗi cá nhân có thể phát triển các cách thức gìn giữ những thấu suốt và định hướng mới. Nói cách khác, tiến trình này có thể che chở, bảo bọc cho nhận thức mới và dẫn lối tới một phương thức hiện hữu mới, tựa như chiếc ô che chở trước cơn bão.


Tiến sĩ Jan Stein là nhà trị liệu tâm lý hành nghề tư nhân tại Wilmette, Illinois. Bà là tác giả của một công trình nghiên cứu chuyên sâu về giai đoạn chuyển tiếp trung niên.


Tiến sĩ Murray Stein là thành viên của Viện Jung Chicago (Chicago Jung Institute), chủ biên cuốn Jungian Analysis (1982) và là biên tập loạt sách của Nhà xuất bản Chiron. Ông là tác giả của các cuốn In Mid-Life (1983) và Jung's Treatment of Christianity (1985). Ông là nhà phân tích tâm lý học trường phái Jung hành nghề tư nhân tại Wilmette, Illinois.


... Tôi muốn nhìn nhận sự chuyển tiếp như một tiến trình, một sự thành hình (becoming), và trong trường hợp của các nghi thức chuyển tiếp (rites de passage), đó thậm chí là một sự chuyển hóa.


Victor Turner


"Một ngày nọ, tôi nhận thấy cổ họng mình như nghẹn lại, tôi cảm thấy mất kết nối với mọi người và với chính bản thân mình... Cảm giác như tôi đang đứng trước một bức tường trống rỗng... hết sức cô độc, hoàn toàn cô độc, và không ai hiểu nổi cảm giác của tôi." Người nói là Pat, 48 tuổi, một phụ nữ đã lập gia đình và có bốn người con, kể về cuộc khủng hoảng tuổi trung niên của mình. "Thế giới bên ngoài của tôi tràn ngập những thành tựu... và tôi đã cố gắng mang [thái độ] đó vào hôn nhân. Bề ngoài chúng tôi thể hiện như một cặp đôi vô cùng thành đạt, nhưng thế giới nội tâm về các mối quan hệ trong gia đình lại không hề giống như những gì chúng tôi muốn người khác nghĩ."


Cecelia, một nhân chứng khác về sự xáo trộn trong giai đoạn chuyển tiếp trung niên, hiện 50 tuổi. Trải qua hai lần ly hôn, bà là mẹ của ba người con. "Tôi nhận ra ngôi nhà đang rơi vào hỗn loạn và tồi tệ dần," bà nói về khởi đầu của tuổi trung niên. "Tôi không còn chút năng lượng nào cho những công việc thường nhật ấy, và chẳng tìm thấy niềm vui nào ở đó. Nhìn từ bên ngoài, điều này giống như sự khởi đầu của một cơn trầm cảm, không màng duy trì mọi thứ... chỉ ngồi thẫn thờ nhìn chăm chú và tự hỏi... Cảm giác thực sự giống như một câu hỏi sống còn... Tôi không có ý định tự tử, nhưng tôi đã đọc... trong các tác phẩm hiện sinh... Sartre từng nói: 'Bạn có thể chọn không tồn tại.' Dù ý định của ông ấy trong đoạn văn đó là gì, những dòng chữ ấy như nhảy xổ ra khỏi trang sách và tôi nhận ra mình sẽ không làm thế."


Jack, nay 56 tuổi, chia sẻ về trải nghiệm tuổi trung niên: "Toàn bộ thế giới của tôi sụp đổ... toàn bộ tấm bản đồ thành phố đã biến mất."


Sue, nay 38 tuổi, đã kết hôn và có hai con, thuật lại một khía cạnh khác của khủng hoảng trung niên: "Có lẽ đó là nhu cầu muốn trở lại thành một sinh thể có sức hấp dẫn tính dục. Đó là nhu cầu được... ừ thì, đột nhiên mọi người bắt đầu khen tôi xinh đẹp, và tôi cảm thấy điều đó khơi dậy đủ mọi thứ bên trong mình."


"Tôi nhớ một giấc mơ đi xuống cầu thang. Chồng tôi đang ở trên lầu. Có một âm thanh và ánh sáng vàng rực đánh thức tôi dậy vào sáng sớm và tôi bắt đầu bước xuống những bậc thang này. Rồi có một lực hút khó tin phát ra từ chiếc hộp đó và kéo tôi lại. Thế nhưng tôi không thể cử động. Chồng tôi vẫn đang ngủ, và tôi không biết mình muốn làm gì. Tôi thức dậy và hét lên. Tôi cảm thấy hoàn toàn mắc kẹt... như đang ở trong một vũng cát lún... như thể nếu cử động, tôi sẽ bị chìm nghỉm."


Những lời chia sẻ này nằm trong một nghiên cứu gần đây về sự phát triển của người trưởng thành và giai đoạn chuyển tiếp trung niên (Stein 1981). Hai mươi năm qua đã chứng kiến sự gia tăng mạnh mẽ mối quan tâm đến các lĩnh vực này, và những gì từng ít nhiều là vùng đất vô danh (terra incognita) đối với giới nghiên cứu học thuật trước năm 1960 nay đã được vẽ lại chi tiết trên bản đồ. Những nhà khai phá lớn gồm các nhân vật nổi tiếng như Neugarten, Guttman, Gould và Levinson; gần đây hơn, nhiều nhà nghiên cứu khác đã đóng góp thêm rất nhiều định nghĩa cho giai đoạn này của đời người.


Một trong những phát hiện lớn từ mối quan tâm và nghiên cứu này là: tuổi trung niên không hề giống như những gì chúng ta từng nghĩ. Giai đoạn mà nhiều nhà lý thuyết tâm lý học, các nhà nghiên cứu phát triển con người thời kỳ đầu, và chắc chắn là cả người bình thường ngoài phố từng giả định là tương đối ổn định, thậm chí nhàm chán ("tuổi trung niên") hóa ra lại mang một diện mạo rất khác. Tập hợp các nghiên cứu gần đây chỉ ra rằng đời sống tâm lý trong những năm tháng trung niên chứa đầy những xung đột và khủng hoảng lớn.


Từ bức tranh tĩnh lặng về một khái niệm chung chung mang tên "tuổi trung niên", một góc nhìn phức tạp hơn nhiều đang dần lộ diện: góc nhìn bao hàm một thời kỳ xáo trộn của sự tái tổ chức tâm lý, được gọi là "giai đoạn chuyển tiếp trung niên". Sự đảo ngược quan điểm căn bản này có thể chỉ là tạm thời—một sự điều chỉnh hơi quá mức đối với những hiểu lầm trước đó—nhưng dường như chắc chắn rằng các giả định về bản chất của tuổi trung niên sẽ bị thay đổi vĩnh viễn theo nhiều cách quan trọng dựa trên các bằng chứng đang tích lũy này.


Bài viết này đi theo góc nhìn mới đó về tuổi trung niên. Theo chúng tôi, tuổi trung niên là một thời kỳ biến động và thay đổi nhân cách sâu sắc. Chúng tôi xây dựng luận điểm dựa trên điều mà chúng tôi tin là chưa từng được thấy trước đây: một giai đoạn chuyển tiếp được cấu trúc rõ ràng gồm ba giai đoạn.


Chúng tôi sẽ bắt đầu bằng phần tóm tắt ngắn gọn một số phát hiện gần đây trong lĩnh vực nghiên cứu vòng đời và một số quan sát về cấu trúc của giai đoạn chuyển tiếp này. Khác với một số nghiên cứu hiện nay, cách tiếp cận và mối quan tâm của chúng tôi chủ yếu mang tính tâm lý học, tập trung vào những gì diễn ra trong nội tâm (và ở mức độ nào đó là giữa các cá nhân) suốt giai đoạn chuyển tiếp trung niên. Chúng tôi đặc biệt quan tâm đến ý nghĩa phát triển của những gì diễn ra trong thời kỳ này của một đời người.


Tóm lại, luận điểm chính của chúng tôi như sau: Tuổi trung niên là một giai đoạn chuyển tiếp trong toàn bộ vòng đời. Sự chuyển tiếp này có thể được xem là tương đồng với những bước chuyển mà các nghi thức điểm đạo của các bộ tộc sơ khai được thiết kế để hỗ trợ. Mục đích tâm lý của sự chuyển tiếp này dường như là sự chuyển hóa của ý thức; và trong khi xã hội hiện đại dường như thiếu một tiến trình nghi lễ phù hợp để đi qua thời kỳ chuyển tiếp này, thì trị liệu tâm lý đang ngày càng đảm nhận chức năng đó.


Trước hết, xin làm rõ đôi điều về một số thuật ngữ tâm lý học chuyên môn được sử dụng trong bài viết này. Trong hầu hết các trường hợp, ý nghĩa của các thuật ngữ đã được thể hiện ngay trong văn bản, nhưng với những độc giả chưa quen thuộc với lý thuyết của Jung, điều này có thể dẫn tới sự suy diễn chủ quan. Vì vậy, chúng tôi sẽ định nghĩa cẩn trọng một vài thuật ngữ then chốt tại đây:


Cụm từ "mô thức tự tổ chức chủ đạo" (dominant pattern of self-organization) mang tính chất đặc biệt cốt lõi. Cụm từ này có thể gây bối rối ngay cả với những độc giả am hiểu tư tưởng của Jung, vì nó dựa trên sự phân biệt giữa Self (viết hoa chữ "S") và self (viết thường) mà chúng tôi thấy hữu ích, dù có đôi chút khác biệt với cách dùng kinh điển của Jung.


  • Chúng tôi dùng từ Self (viết hoa - Bản thể) để chỉ toàn bộ nhân cách, bao gồm cả khía cạnh ý thức lẫn vô thức. Về mặt cấu trúc, chúng tôi hiểu Self là tính toàn thể của tâm trí (psychic totality) và là nơi chứa đựng các nội dung mang tính cá nhân cũng như phi cá nhân của tâm trí. Về mặt động lực, Self chi phối, cân bằng và sắp đặt toàn bộ nhân cách, chịu trách nhiệm cho sự phát triển nội tại cũng như những thích ứng mang tính bản năng của nó với thế giới xung quanh. (Các thuật ngữ tâm trí [psyche], nhân cách [personality] và Self mang những sắc thái khác nhau nhưng trong bài viết này có thể xem là tương đương và thay thế được cho nhau).

  • Được viết bằng chữ "s" thường, thuật ngữ self (ngã ý thức / cái tôi-mình) dùng để chỉ một nội dung bên trong ý thức của Cái tôi (ego-consciousness). Điều này được trải nghiệm như cảm nhận về bản thân trong ý thức, và cảm thức về nó giúp định hình các quyết định, lựa chọn cũng như sự tiêu hao năng lượng tâm tinh (libido) của Cái tôi. self là phần "tôi-mình" (me) của ý thức.

  • Ego (Cái tôi), cũng là một nội dung của ý thức, là phần "Tôi" (I): trung tâm của nhận thức ý thức và là nguồn gốc của cảm nhận về ý chí tự do cùng tính chủ đích ở một người. Cùng nhau, self ("me") và Ego ("I") chịu trách nhiệm định hình và chuyển dẫn nguồn năng lượng tinh thần sẵn có cho ý thức. Cả hai cũng là những phản chiếu cục bộ của Self: Ego phản chiếu tác nhân động lực và chức năng định tâm; còn self phản chiếu khả năng dung chứa và bao hàm các nội dung.

  • Mô thức tự tổ chức (pattern of self-organization) chỉ một cấu trúc nền tảng của self. Mô thức này là yếu tố tâm lý mang lại hình thức cho các nội dung của self. Cấu trúc này đến lượt nó lại được nâng đỡ bởi một cấu trúc tâm lý sâu hơn gọi là phần tử chủ đạo (dominant).

  • Thuật ngữ dominant (phần tử chủ đạo / cấu trúc chủ đạo) chỉ nền tảng cổ mẫu của các mô thức cấu trúc nên nội dung của ý thức Cái tôi. Các mô thức định hình nội dung của ý thức Cái tôi—những thứ tạo nên tính cách, phản ứng cảm xúc điển hình và cảm thức về căn tính của một người—bắt nguồn từ các cấu trúc cổ mẫu phi cá nhân của tâm trí.

  • Archetypes (Các cổ mẫu / Nguyên mẫu), theo định nghĩa của Jung, là những khối xây dựng cơ bản của tâm trí con người, là các dạng thức cấu trúc và động lực nền tảng của nó. Các cổ mẫu mang tính phi cá nhân và bẩm sinh đối với sinh thể người: chúng là những mô thức tiềm năng bẩm sinh của chức năng tâm lý, tức là của sự tri giác, hành vi và thái độ ý thức. Các cổ mẫu cụ thể được tụ lại (constellated) bởi cả các yếu tố kích hoạt phát triển bẩm sinh lẫn các tín hiệu và kích thích từ môi trường bên ngoài.

  • Do đó, mô thức tự tổ chức chủ đạo chỉ dạng thức cơ bản, bắt nguồn từ cổ mẫu, dùng để định hình nên self.


Giai đoạn chuyển tiếp trung niên và các nghi thức điểm đạo


Những gì mà một số nhà tư tưởng tâm lý học đã đưa ra một cách trực giác và dè dặt trong suốt bảy mươi năm qua, thì các nhà nghiên cứu gần đây dường như đã xác lập khá vững chắc: Tuổi trung niên là một giai đoạn chuyển tiếp và mang những đặc trưng của các hiện tượng chuyển tiếp. Giả định tuổi thọ thông thường là 70 đến 80 năm, thì khoảng thời gian từ 35 đến 45 tuổi cấu thành phần giữa. Tuổi trung niên là bước ngoặt từ nửa đầu sang nửa sau của cuộc đời (Jung 1969), và sự dịch chuyển này tạo ra những tác động sâu sắc trong đời sống tâm lý cá nhân.


Trong nghiên cứu về các nhà tâm lý học sáng tạo lớn như Freud và Jung, Ellenberger gọi trải nghiệm của giai đoạn chuyển tiếp này là "căn bệnh sáng tạo" (creative illness). Nghiên cứu thực nghiệm gần đây, chẳng hạn như của Levinson và nhiều nhà nghiên cứu khoa học xã hội khác, đã củng cố quan điểm rằng những năm tháng trung niên đầy xáo động về mặt tâm lý trong cuộc đời của nhiều người, chứ không riêng gì những người có sức sáng tạo đặc biệt.


Từ các nghiên cứu này, khó có thể tránh khỏi kết luận rằng tuổi trung niên là một điểm chuyển tiếp lớn trong cuộc đời của những người bình thường, và sự hỗn loạn tâm lý cũng như sự gián đoạn trong giai đoạn này không nhất thiết là dấu hiệu của bệnh lý tâm thần hay sự mất cân bằng tâm trí nghiêm trọng. Do đó, cụm từ "căn bệnh sáng tạo" có thể gây đôi chút hiểu lầm khi nó hàm ý một góc nhìn bệnh lý học. Các hiện tượng chuyển tiếp là điều được dự liệu ở tuổi trung niên, giống như chúng ta dự liệu chúng ở các giai đoạn chuyển tiếp khác như tuổi vị thành niên.


Thừa nhận rằng tuổi trung niên là một giai đoạn chuyển tiếp trong vòng đời người bình thường, chúng tôi muốn liên kết điều này với thực tế là trong các xã hội truyền thống và sơ khai, các giai đoạn chuyển tiếp được nâng đỡ và đánh dấu bởi các nghi lễ chuyển tiếp (rites of passage). Đây là các nghi thức điểm đạo/nhập môn, có chức năng đưa cá nhân đi qua các giai đoạn chuyển tiếp trong đời và biến các bước chuyển này thực sự trở thành sự chuyển hóa (Turner 1967). Chúng cũng trao cho những bước chuyển này ý nghĩa về mặt cá nhân, xã hội và văn hóa. Những bước chuyển từ thời thơ ấu sang tuổi vị thành niên, từ vị thành niên sang giai đoạn đầu trưởng thành, từ độc thân sang kết hôn, từ chưa làm cha mẹ sang làm cha mẹ, từ cấp bậc này sang cấp bậc khác trong hệ thống tôn giáo, từ cõi đời này sang thế giới bên kia (hoặc từ sự sống sang cái chết)... đều được hỗ trợ và đánh dấu bằng các nghi lễ chuyển tiếp.


Chúng ta có thể học hỏi rất nhiều về các bước chuyển tâm lý từ việc quan sát các nghi thức điểm đạo này. Van Gennep nhận thấy rằng các nghi lễ chuyển tiếp chia thành ba nhóm: nghi thức phân ly (tách biệt), nghi thức ngưỡng (trung gian), và nghi thức tái hòa nhập. Các nghi thức này lần lượt gắn liền với ba giai đoạn của tiến trình chuyển tiếp:


  1. Giai đoạn thứ nhất: Người thụ giáo được tách biệt bằng nghi lễ khỏi nhóm xã hội vốn từ trước đến nay vẫn định hình vai trò và căn tính văn hóa của họ, rồi được đưa đến một nơi đặc biệt, thường là biệt lập.

  2. Giai đoạn thứ hai: Mở ra giai đoạn ngưỡng và các nghi thức của nó. Chính trong giai đoạn ngưỡng này, các nghi lễ tôn giáo và giáo phái quan trọng nhất được thực hành; ở đây, sự chuyển hóa được thực hiện khi các cấu trúc nội tâm thuộc căn tính cũ tan rã và các cấu trúc mới được kích hoạt.

  3. Giai đoạn thứ ba: Khi giai đoạn này hoàn tất, sẽ có các nghi thức tái gia nhập xã hội; người thụ giáo giờ đây được tái hòa nhập vào cộng đồng, nhưng với tư cách là một "con người mới".

Victor Turner đã kế thừa phân tích của van Gennep và bổ sung nhiều chi tiết đáng kể, đặc biệt là đối với giai đoạn ngưỡng (liminality). Giai đoạn này đặc biệt cuốn hút chúng tôi vì nội dung tâm lý phong phú và nhiều điểm tương đồng với trải nghiệm chuyển tiếp trung niên. Turner nói về tính ngưỡng như một sự tồn tại "lấp lửng ở giữa" (betwixt-and-between) các căn tính vững chắc, và ông phác họa những đặc tính và nội dung của nó như sau:


"Chủ thể của nghi lễ chuyển tiếp, trong thời kỳ ngưỡng, về mặt cấu trúc—nếu không muốn nói là cả về mặt thể chất—trở nên 'vô hình'...


Hệ thống biểu tượng gắn liền và bao quanh nhân vật ở trạng thái ngưỡng rất phức tạp và kỳ lạ. Phần lớn trong số đó được mô phỏng theo các tiến trình sinh học của con người... Chúng mang lại một hình thức hữu hình bên ngoài cho một tiến trình nội tâm và mang tính khái niệm... các biểu tượng đại diện cho chúng, trong nhiều xã hội, được rút ra từ sinh học của cái chết, sự phân hủy, quá trình dị hóa và các tiến trình thể xác khác mang sắc thái tiêu cực, chẳng hạn như kinh nguyệt (thường được xem là sự vắng mặt hoặc mất mát bào thai)... Người mới gia nhập có thể bị chôn vùi, bị buộc phải nằm bất động theo tư thế và hướng chôn cất thông thường, có thể bị bôi đen, hoặc có thể bị buộc phải sống một thời gian cùng phường hát kịch đeo mặt nạ quái dị đại diện cho người chết, hoặc tệ hơn là những kẻ 'bất tử/xác sống'. Ẩn dụ về sự tan rã thường được áp dụng cho những người mới: họ được phép sống bẩn thỉu và đồng hóa với đất đai, thứ vật chất phổ quát mà mọi cá nhân cụ thể đều bị phân rã trở về...


Khía cạnh khác, việc họ chưa được phân loại, thường được thể hiện qua các biểu tượng mô phỏng tiến trình thai nghén và sinh nở. Những người mới được ví như hoặc được đối xử như phôi thai, trẻ sơ sinh hoặc trẻ còn bú mẹ bằng các phương tiện biểu tượng khác nhau tùy theo từng nền văn hóa...


Đặc điểm cốt lõi của những biểu tượng hóa này là người mới vừa không sống vừa không chết ở khía cạnh này, lại vừa sống vừa chết ở khía cạnh khác. Tình trạng của họ là sự mơ hồ và nghịch lý, một sự xáo trộn mọi phạm trù thông thường. Tính ngưỡng có thể được coi là lời 'Phủ định' đối với mọi khẳng định mang tính cấu trúc tích cực, nhưng theo một nghĩa nào đó cũng là cội nguồn của tất cả chúng, và hơn thế nữa, là cảnh giới của khả năng thuần túy—nơi các cấu hình mới của tư tưởng và các mối quan hệ có thể nảy sinh... Chúng ta không thể biết liệu các nghi thức điểm đạo sơ khai chỉ đơn thuần bảo tồn truyền thống hay chúng còn sản sinh ra tư tưởng mới và tập tục mới.


... Chúng ta không đối diện với những mâu thuẫn cấu trúc khi bàn về tính ngưỡng, mà đối diện với cái về cơ bản là 'phi cấu trúc' (vừa bị phá vỡ cấu trúc vừa tiền cấu trúc), và bản thân các tộc người thường nhìn nhận điều này dưới góc độ đưa người mới tiếp xúc gần gũi với thần linh hoặc với sức mạnh siêu nhiên—với những gì trên thực tế thường được coi là vô biên, vô tận, vô hạn...


Một đặc tính tiêu cực hơn nữa về mặt cấu trúc của hữu thể chuyển tiếp là họ 'không có gì cả'. Họ không có địa vị, tài sản, phù hiệu, trang phục thế tục, cấp bậc, vị trí thân tộc, không có gì để phân biệt họ về mặt cấu trúc với đồng loại. Tình trạng của họ thực sự là nguyên mẫu của 'sự nghèo khó thiêng liêng'... Sự tháo dỡ, tan rã, phân hủy luôn đi kèm với các tiến trình tăng trưởng, chuyển hóa và tái định hình các yếu tố cũ thành những mô thức mới."


(Turner 1967, tr. 95-99)


Mô tả nhân học này về tính ngưỡng rất hữu ích để quan sát những gì nhiều người hiện đại trải qua giữa giai đoạn chuyển tiếp trung niên. Những hình ảnh tự phát xuất hiện về sự mất mát, cái chết và sự phân hủy; những huyễn tưởng về sự trần trụi, sự mất chuẩn mực (anomie) và cái chết nổi lên; những giấc mơ về sự tái sinh và đổi mới xuất hiện phổ biến. Đây là những hiện tượng đặc trưng trong trải nghiệm về tính ngưỡng ở tuổi trung niên.


Sự tương đồng giữa những gì van Gennep và Turner mô tả về cấu trúc cùng nội dung của các nghi thức điểm đạo sơ khai với những gì nghiên cứu thực nghiệm phát hiện về các cuộc chuyển tiếp trung niên đương đại là hết sức nổi bật, gợi ý về một nền tảng cổ mẫu chung. Nghiên cứu chỉ ra rằng giai đoạn chuyển tiếp trung niên chia thành ba giai đoạn tương ứng với ba chặng của nghi lễ chuyển tiếp, và các hiện tượng đặc trưng của những giai đoạn này tương ứng với các hiện tượng ở các chặng tương đương của nghi thức điểm đạo.


Do đó, tên gọi chúng tôi chọn cho các giai đoạn chuyển tiếp trung niên gần như trùng khớp với thuật ngữ của van Gennep: Tách biệt (Separation), Ngưỡng (Liminality), và Tái hợp nhất hoặc Tái cấu trúc mô thức tự tổ chức (Reintegration/Reconstitution). Vì chúng tôi xem xét chuyển tiếp trung niên như một hiện tượng tâm lý chứ không phải hiện tượng xã hội học hay văn hóa, nên thuật ngữ thứ ba khác với từ "tái hòa nhập" (reincorporation) mang tính xã hội học hơn của van Gennep. Các nội dung và cấu trúc mà chúng tôi quan tâm thuộc về tâm lý học, và sự thay đổi mà chúng tôi tìm kiếm là sự chuyển hóa của ý thức—dù những điều này được phản chiếu rõ nét qua các hành động bên ngoài của các nghi thức chuyển tiếp sơ khai.


Để phân tích và thảo luận về các nội dung và động lực tâm lý của ba giai đoạn chuyển tiếp trung niên, chúng tôi dựa trên lý thuyết của Jung.


1. Giai đoạn Tách biệt (Separation)


Giai đoạn tách biệt chủ yếu đặc trưng bởi một tiến trình phá vỡ cấu trúc tâm lý (destructuring) diễn ra mạnh mẽ. Giai đoạn này bị chi phối bởi việc Cái tôi tách rời khỏi một cấu trúc tâm lý gọi là Mặt nạ xã hội (Persona)—mô thức về căn tính và tổ chức tâm lý - xã hội vốn được hình thành trong thời kỳ vị thành niên và đầu tuổi trưởng thành.


Mô thức tự tổ chức trước đó cũng tự tan rã. Thông thường, mô thức này phần lớn được định hướng bởi và hướng tới những kỳ vọng, đòi hỏi của gia đình và xã hội: nó được dẫn dắt bởi sự sẵn lòng của cá nhân trong việc đồng thuận với người khác về việc mình là ai và mình như thế nào. Dưới áp lực của động lực này, một người thừa nhận một số đặc điểm, thôi thúc, nét tính cách, giá trị và phẩm chất nhất định là "thuộc về mình" (self), và chối bỏ những phần khác là "không thuộc về mình" (not-self). Các "nội dung thuộc về mình" khi đó rơi vào khuôn khổ của Persona, còn các "nội dung không thuộc về mình" đi vào Phần bóng (Shadow).


Khi Cái tôi đồng nhất với các "nội dung thuộc về mình" này, nó tạo ra một trạng thái phiến diện và mất cân bằng tâm lý, được củng cố bởi các cơ chế phòng vệ nguyên thủy như phép phóng chiếu (projection). Khi mô thức tự tổ chức này tan rã, những sự phân định rạch ròi ấy sụp đổ, và con người ta rơi vào trạng thái băn khoăn tự hỏi rốt cuộc mình là ai và mình như thế nào.


Cấu trúc nội tâm này được chuyển hóa ở tuổi trung niên. Giai đoạn tách biệt chứng kiến sự suy giảm sức mạnh của mô thức này trong việc tổ chức cảm thức về căn tính và chuyển dẫn năng lượng tinh thần (libido) vào hành vi. Nó ngày càng kém khả năng định hình đời sống tâm lý.


Các hiện tượng cảm xúc và tinh thần báo hiệu sự khởi phát và sự hiện diện tiếp diễn của giai đoạn này rất đa dạng:


  • Cảm giác buồn chán kéo dài và mãnh liệt.

  • Sự vỡ mộng đối với cuộc sống; sự phai nhạt của những "ước mơ" tuổi trẻ.

  • Những đợt trầm cảm ngập tràn hoài niệm và tiếc nuối.

  • Cảm nhận ngày càng sắc sắc bén về sự mong manh và hữu hạn của đời người.

  • Những hành vi mới mẻ, khó lường.

Thực trạng này biểu thị sự tan rã của các cấu trúc nội tâm vốn trước đây giữ vững những tham vọng, bổn phận và mối quan tâm cụ thể, cũng như sự cam kết đối với các hình ảnh bản thân và những người xung quanh. Điển hình là sự mất hứng thú với sự nghiệp, bạn đời, đời sống gia đình và bạn bè. Cảm giác thất bại, tự ti, đau buồn và cảm thức mất mát sâu sắc là những đặc tính cố hữu của giai đoạn tách biệt: vì những hình ảnh trước đây về bản ngã và căn tính đang bị từ bỏ, cái tôi trước kia giờ đây được trải nghiệm như một "cái tôi đã mất", trong khi chưa có nội dung mới nào xuất hiện vững chắc để lấp đầy khoảng trống này.


Sự trồi sụt của tâm trạng và sự dao động giữa các trạng thái cảm xúc tự tôn quá mức (inflated) và trầm uất (depressed) cũng đặc trưng cho giai đoạn này. Những đợt dao động này dường như bắt nguồn từ sự kết hợp của nhiều động lực nội tâm: một mặt, Cái tôi đang bị tách khỏi các sự đồng nhất hóa trước đây, tạo ra cảm giác trống rỗng và mất mát ("những nốt trầm"); mặt khác, nó lại gắn kết thoáng qua với những khía cạnh mới nổi lên hoặc từng bị chối bỏ của nhân cách, tạo ra sự tự tôn/hưng phấn quá mức của Cái tôi ("những nốt thăng"). Sự kết hợp phức tạp của các động lực này giải thích cho sự thất thường của tâm trạng và hành vi khó đoán mà những người thân cận thường nhận thấy ở những ai đang trong giai đoạn chuyển tiếp trung niên.


2. Giai đoạn Ngưỡng (Liminality)


Khi tách khỏi Persona trong giai đoạn đầu tiên, con người dần bước vào một thời kỳ tương ứng về cảm xúc, âm hưởng và hình ảnh với những gì van Gennep và Turner mô tả là tính ngưỡng (liminality). Tại đây, cảm thức căn tính cũ tiếp tục bị bào mòn và tan rã. Con người cảm thấy xa lạ với các thiết chế xã hội xung quanh. Họ thấy mình "lơ lửng ở giữa" những cấu trúc nội tâm vững chãi. Họ có xu hướng "trôi dạt" từ việc này sang việc khác, cảm thấy mình vô hình và thiếu thực chất. Họ như thể bị liệt vào hàng ngũ những người đã khuất, bởi sự tồn tại ấy mang dáng dấp của bóng ma.


Tâm trạng của giai đoạn ngưỡng trung niên thường được diễn tả bằng những tính từ như "lạc lối" và "bối rối", cùng những hình ảnh như "lang thang một mình giữa sa mạc", "lạc lõng trong một thành phố không có bản đồ", hay "sự phẳng lặng, tính hai chiều". Tâm trí không chốn nương thân, và con người cảm thấy mình đang lênh đênh giữa những vùng nước đầy hiểm nguy.


Trong khi đó, vô thức—vốn hoạt động cực kỳ mạnh mẽ trong giai đoạn này—sản sinh ra những hình ảnh và biểu tượng giấc mơ vô cùng sống động và quyền năng. Các nội dung tâm trí thường xuất hiện trong giấc mơ, huyễn tưởng và sự phóng chiếu gồm có:


  • Phần bóng (Shadow): Hình tượng thâu tóm mọi khía cạnh bị chối bỏ và dồn nén của nhân cách, những mảnh vụn bị loại bỏ trong quá trình định hình tính cách ("những bóng ma" của quá khứ).

  • Anima hoặc Animus: Các hình tượng mang giới tính đối lập, hiện thân cho các thành tố giới tính đối lập của nhân cách, mang quyền năng và uy quyền của các nam thần và nữ thần.

  • Self (Bản thể): Thường được biểu tượng hóa một cách trừu tượng, đại diện cho sự hợp nhất của các mặt đối lập bên trong nhân cách (một đồ hình mandala, cấu trúc bộ bốn [quaternity], hay Linh hồn Vũ trụ [World Soul]).

Các nội dung do những hình tượng và biểu tượng này đại diện không nhất thiết xuất hiện từ vô thức theo đúng trình tự này, nhưng trật tự đó biểu thị "chiều sâu" ngày càng tăng của nhân cách—nơi các nội dung này phát xuất.


Các giấc mơ trong giai đoạn này thường mang tính "linh thánh" (numinous) như cách Jung gọi: chúng gợi lên sự kinh sợ kính cẩn và để lại ấn tượng sâu sắc cho người mơ; chúng mang phẩm tính tôn giáo, biểu tượng hoặc thần thoại; chúng mang tính phi cá nhân và không dễ liên hệ với đời sống thường nhật. Tính ngưỡng, như Turner chỉ ra, diễn ra trong sự biệt lập, bên ngoài các cấu trúc của đời sống bình thường. Trong giai đoạn ngưỡng, một người đang ấp ủ tương lai, và những giấc mơ này là sự biểu đạt của các cấu trúc và nội dung tâm lý mà cuối cùng sẽ hợp nhất lại để tạo nên nền tảng mới cho nhân cách ý thức. Nhưng trong giai đoạn này, chúng vẫn còn tiềm ẩn, chìm sâu trong vô thức và không ngừng biến đổi.


Với chúng tôi, tính ngưỡng chính là trái tim của sự chuyển tiếp trung niên và là chìa khóa để hiểu bản chất cũng như chức năng tâm lý của nó. Thông thường nó kéo dài từ 18 tháng đến 2 năm, nhưng có thể kéo dài hơn, lên tới 4 năm theo các phát hiện của chúng tôi (Stein 1981). Những gì diễn ra về mặt tâm lý trong thời kỳ biến động và tái tổ chức nội tâm này tạo tiền đề cho các cấu trúc ý thức sẽ xuất hiện vào cuối cuộc chuyển tiếp.


Bởi vì vô thức xuất hiện quá sống động trong thời kỳ này và thu hút sự chú ý của con người một cách mạnh mẽ, việc gọi tính ngưỡng trung niên là có tiềm năng chuyển hóa trong sự phát triển tâm lý tổng thể của ý thức cá nhân là hoàn toàn có cơ sở. Giữa dòng chảy cảm xúc và sự hỗn loạn của trạng thái ngưỡng, con người phải vật lộn với những chia rẽ và động lực nền tảng của nhân cách, trải qua những biến đổi cấu trúc nội tâm sẽ tác động vĩnh viễn lên thái độ và phản ứng cảm xúc của họ. Kết quả ròng sẽ là sự chuyển hóa của ý thức.


Khi giai đoạn ngưỡng khép lại và một người bắt đầu bước vào giai đoạn cuối cùng của quá trình chuyển tiếp, một loạt đặc điểm tâm lý nổi bật xuất hiện, mang lại cho giai đoạn quá độ này một nét đặc thù riêng:


  • Họ chia sẻ về một cảm nhận vững chắc đang lớn dần về việc mình là ai và mình muốn làm gì, thay thế cho cảm giác mất mát về con người mà họ không còn có thể trở thành nữa.

  • Những cuộc lang bạt ít nhiều vô định trong giai đoạn ngưỡng trở thành sự khám phá có chủ đích hơn về những khả năng mới cho tương lai.

  • Sự định hình vững chắc về mục đích và phương hướng này đi kèm với sự chấp nhận có ý thức đối với các nội dung và khía cạnh từng bị phóng chiếu của nhân cách (Shadow, Anima/Animus, và Self).

  • Những gì từng tỏ ra mới mẻ hay "xa lạ" trong giai đoạn tách biệt, và từng phải vật lộn đấu tranh trong giai đoạn ngưỡng, nay được đưa vào trung tâm của sự tự nhận thức và trở thành một phần rõ ràng, tích hợp hơn của bản thân.

3. Giai đoạn Tái cấu trúc mô thức tự tổ chức (Reconstitution of the Pattern of Self-Organization)


Giai đoạn thứ ba của chuyển tiếp trung niên tiếp nối những gì đã bắt đầu vào cuối giai đoạn ngưỡng và đưa nó đến sự hoàn thiện. Giai đoạn cuối này chứng kiến sự định hình vững chắc dần dần của một mô thức tự tổ chức chủ đạo mới, được tạo nên từ sự hòa trộn giữa các nội dung và hình ảnh trước đây ("quá khứ tâm lý") với các nội dung mới xuất hiện từ vô thức trong giai đoạn ngưỡng. Chúng được cấu trúc bởi một cổ mẫu nền tảng (phần tử chủ đạo - "dominant") đã được kích hoạt trong giai đoạn ngưỡng. Cảm thức căn tính của một cá nhân sẽ được định hình bởi và phản chiếu phần tử chủ đạo mới này.


Về mặt đặc trưng, phần tử chủ đạo này hướng về Self (Bản thể) nhiều hơn và ít hướng về người khác hơn so với phần tử chủ đạo trước đây vốn hình thành nên cấu trúc nền tảng của Persona. Mô thức tự tổ chức mới được hình thành sẽ thể hiện mức độ nhân cách được tích hợp, nay bao gồm cả những khía cạnh từng bị dồn nén, chối bỏ cũng như các yếu tố tâm lý vô thức khác xuất hiện trong hai giai đoạn trước.


Khi giai đoạn thứ ba này phát triển, các cá nhân cảm nhận được rằng căn tính ý thức (self) giờ đây là sự phản chiếu chân thực và chính xác hơn về toàn bộ nhân cách (Self) so với trước kia: họ cảm thấy cuộc sống của mình hiện thể hiện một "bản ngã đầy đủ hơn" (fuller selfhood) so với trước khi quá trình chuyển tiếp trung niên bắt đầu.


Những người trải qua sự chuyển hóa tâm lý đáng kể trong giai đoạn trung niên bước ra khỏi thời kỳ này với cảm thức về tính cá nhân và sự phức tạp tâm lý vượt xa những gì họ từng trải nghiệm hay thể hiện trước đây:


  • Họ có khả năng dung chứa các mặt đối lập bên trong ý thức tốt hơn và ít có xu hướng chia cắt tâm lý (splitting) hay phóng chiếu.

  • Họ có được sự tự thấu hiểu bản thân gia tăng và một mức độ "nghi ngờ bản thân lành mạnh": họ nhận ra rằng sự toàn vẹn bao hàm cả sự bất toàn, và không ai—dù ở mức độ phát triển tâm linh hay tâm lý nào—có thể rũ bỏ hoàn toàn những yếu đuối, đổ vỡ và mù quáng của con người. Phần bóng tối vẫn còn đó, nhưng nó được nhận thức rõ hơn và phải chịu trách nhiệm nhiều hơn.

Khi nhìn lại, những người này thường không cảm thấy rằng họ đã kiểm soát được các tiến trình tâm lý diễn ra trong thời kỳ chuyển tiếp trung niên. Dù Cái tôi có thể đã ứng phó ít nhiều thành công với tiến trình này, và ít nhiều dàn xếp ổn thỏa với các kết quả của nó, nhưng rõ ràng nó không phải là tác nhân gây ra hay kiểm soát tiến trình. Nhận thức về sự thật này mang lại cho họ cảm nhận về tính tương đối của Cái tôi trong mối tương quan với toàn bộ tâm trí.


Trị liệu tâm lý như một nghi thức điểm đạo hiện đại cho chuyển tiếp trung niên


"Khủng hoảng trung niên" thường bị xem là một sự gián đoạn đáng tiếc trong một mô thức đời sống vốn dĩ khá tĩnh tại và đáng tin cậy, giống như tuổi vị thành niên từng bị nhìn nhận trước khi bản chất của việc hình thành căn tính trong thời kỳ đó được hiểu biết rộng rãi. Cho đến gần đây, chức năng và ý nghĩa tâm lý của giai đoạn chuyển tiếp trung niên vẫn còn mơ hồ đối với tầm nhìn văn hóa và xã hội đương đại. Nếu có, nó thường bị quy cho thời kỳ mãn kinh hoặc các biến đổi thể chất khác diễn ra trong thời gian này, còn lại nó vẫn bị coi là phi lý và do đó gây sợ hãi.


Thậm chí ngày nay, một người đang trải qua thời kỳ biến động và thay đổi nội tâm này vẫn thường bị chế giễu—một hành vi rõ ràng mang tính phòng vệ (apotropaic) từ phía những kẻ chế giễu, những người hy vọng tránh được sự xáo trộn tương tự trong cuộc đời mình. Việc không đánh giá đúng các hiện tượng chuyển tiếp trung niên bắt nguồn từ sự thiếu hiểu biết về tâm lý, nhưng cũng từ sự thiếu vắng sự công nhận mang tính văn hóa đối với bản chất và ý nghĩa chuyển tiếp của tuổi trung niên. Đối với thanh thiếu niên và người trẻ tuổi, giờ đây chúng ta thường chấp nhận ý niệm rằng một thời kỳ tạm hoãn xã hội kéo dài (moratorium) thường là một giai đoạn thiết yếu cho sự phát triển tâm lý của họ. Nhưng liệu chúng ta có sự bao dung và thấu hiểu tương tự cho những người ở tuổi trung niên đang trải qua những cuộc khủng hoảng căn tính và chuyển hóa nội tâm hay không?


Nếu tuổi trung niên là bước chuyển sang một giai đoạn mới của đời sống tâm lý và sang một mô thức tự tổ chức chủ đạo mới, và nếu bước chuyển này có thể được phân tích thành các yếu tố cấu trúc và động lực tương đồng với các mô thức điểm đạo sơ khai, chúng ta phải đối diện với câu hỏi: liệu có điều gì trong văn hóa đương đại tương đương với các "nghi lễ chuyển tiếp" sơ khai—vốn có chức năng nâng đỡ, tôn vinh và đánh dấu những bước chuyển lớn của đời người? Mặc dù rõ ràng không có điều gì trong văn hóa hiện đại chính thức thực hiện chức năng này, nhưng dường như có ít nhất một khuôn khổ "không chính thức" được văn hóa chấp nhận mà trong đó tiến trình chuyển hóa này có thể diễn ra, đó chính là trị liệu tâm lý.


Trị liệu tâm lý thực hiện, hoặc có thể thực hiện, chức năng đánh dấu và hỗ trợ giai đoạn chuyển tiếp trung niên cho con người sống trong xã hội hiện đại. Ở khía cạnh này, trị liệu tâm lý là một phiên bản hiện đại của một nghi thức điểm đạo. Trong trị liệu, các hiện tượng chuyển tiếp vừa được thấu hiểu vừa được bao dung dung chứa. Hơn thế nữa, chúng được đánh giá rất cao vì được xem là thiết yếu cho sự phát triển tâm lý của một người. Ngày càng nhiều người trong nền văn hóa của chúng ta tìm đến trị liệu tâm lý khi các dấu hiệu chuyển tiếp trung niên bắt đầu xuất hiện. Thông thường, những người này đang ở nửa sau của giai đoạn tách biệt, hoặc đã bước sâu vào giai đoạn ngưỡng khi họ bước vào phòng trị liệu. Những gì họ tìm thấy ở đó, hy vọng rằng, sẽ là sự bao dung, thấu hiểu và cảm nhận về ý nghĩa to lớn của cuộc vật lộn tâm lý hiện tại của họ.


Chúng tôi cho rằng điều tối quan trọng là các nhà trị liệu tâm lý phải nhận thức được mình đang đối diện với điều gì trong những trường hợp này. Bản chất và ý nghĩa tâm lý của giai đoạn chuyển tiếp trung niên đặt ra những đòi hỏi cụ thể đối với kỹ năng của nhà trị liệu và đòi hỏi những thái độ, kỹ thuật cùng sự thấu hiểu tâm lý chuyên biệt để chăm sóc và điều trị tối ưu. Mặc dù các nhà trị liệu đương nhiên phải chú ý cẩn trọng đến những khiếm khuyết của Cái tôi ở những người đang trong quá trình chuyển tiếp, nhưng điều quan trọng hơn là phải nắm bắt được những gì đang diễn ra trong self và trong các tầng sâu hơn của nhân cách, khi một mô thức tự tổ chức chủ đạo đang tan rã và một mô thức khác đang thành hình.


Sự chuyển hóa đang diễn ra trong self thường tạo ra một bức tranh méo mó về những tổn thương và khiếm khuyết nghiêm trọng nơi Cái tôi, vượt xa mức độ thực tế. Các phương pháp điều trị và mục tiêu dành cho những người này cần được điều chỉnh cho phù hợp với những gì đang diễn ra trong toàn bộ tâm trí, chứ không chỉ trong phạm vi ý thức của Cái tôi, nếu trị liệu tâm lý thực sự muốn đóng vai trò là một tác nhân nâng đỡ hiệu quả cho sự chuyển hóa tâm lý ở những người đang trải qua giai đoạn chuyển tiếp trung niên.


Luận điểm của chúng tôi là: trị liệu tâm lý là một hình thức văn hóa hiện đại khả dĩ để dẫn dắt con người đi qua các giai đoạn chuyển tiếp trung niên và hỗ trợ họ trong tiến trình mà phần nhiều chính là sự ra đời của một bản ngã mới.


Phương pháp Đỡ đẻ tâm lý (Maieutics) trong Trị liệu


Thái độ mà chúng tôi đánh giá là phù hợp nhất cho sự can thiệp trị liệu trong giai đoạn chuyển tiếp trung niên được biểu thị qua thuật ngữ "đỡ đẻ" (maieutic). "Thuật đỡ đẻ" (maieutics) chỉ khoa học và nghệ thuật đỡ đẻ, việc chăm sóc cho tiến trình sinh nở. Vì người trong giai đoạn chuyển tiếp trung niên sau cùng là đang khai sinh một bản ngã mới, mục tiêu của nhà trị liệu tâm lý là hỗ trợ cho tiến trình này. Thuật đỡ đẻ tâm lý, do đó, là khoa học và nghệ thuật tạo thuận lợi cho sự chuyển hóa của tâm trí và sự xuất hiện của các cấu trúc tâm lý mới.


Nhưng trước hết phải có một cái chết, và vì thế phải có một sự chôn cất:


  • Mô thức tự tổ chức chủ đạo trước đây đang tan rã, và cái self dựa trên cấu trúc cổ mẫu này trải qua một tiến trình phân hủy.

  • Trong giai đoạn mà chúng tôi gọi là tách biệt, một khoảng cách mở ra giữa Cái tôi (Ego) và cái tôi trước đây (former self), tức là giữa "Tôi" (I) và "tôi-mình" (me), đến mức "Tôi" không còn có thể bám víu như trước vào các hình ảnh, ký ức và ý niệm nội tâm cụ thể để tìm kiếm cảm thức về căn tính và sự quen thuộc với chính mình.

  • Sự thay đổi này trong thế giới nội tâm có thể được biểu tượng hóa trong giấc mơ qua các chủ đề như: chuyển vào nhà mới, phá hủy các tòa nhà cũ, thay đổi đồ nội thất, hoặc triệt để hơn là những cảnh tượng mất một đứa con, cha mẹ, hay một người thân cận từng là người định hình bản ngã của họ.

  • Khi self bắt đầu tan rã, Cái tôi tách khỏi nó, và điều này được cảm nhận như sự mất mát hay cái chết. Do đó, giai đoạn này thường gây mất phương hướng cao độ cho ý thức Cái tôi.

Nhiệm vụ của nhà trị liệu theo phương pháp đỡ đẻ trong giai đoạn này là thừa nhận tiến trình thay đổi nội tâm đang diễn ra, nhận diện ý nghĩa tâm lý của nó và duy trì nhận thức về khoảng cách đang mở ra này. Mục tiêu ở đây là giúp thân chủ chịu đựng được sự căng thẳng và thậm chí mở rộng khoảng cách đó hơn nữa, nhằm gia tăng cường độ của tiến trình phi đồng nhất hóa (disidentification).


Khoảng cách giữa cái tôi cũ của thân chủ và một Cái tôi ngày càng trôi dạt tự do hoàn toàn có thể kích hoạt sự lo âu nơi nhà trị liệu. Sự lo âu này thường nảy sinh từ phản ứng trước cường độ cảm xúc của thân chủ và sự dao động nhanh chóng giữa các trạng thái ý thức trầm uất và tự tôn hưng cảm. Liệu thân chủ có sụp đổ thành trầm cảm loạn thần, hay đột ngột lao vào một cuộc đời mới đầy hưng cảm dựa trên sự đồng nhất hóa nhất thời với một nội dung cổ mẫu mới chưa được tiết chế?


Sự lo âu này có thể thôi thúc nhà trị liệu tìm kiếm một giải pháp sớm, điều mà Jung gọi là "sự phục hồi thoái lùi của Mặt nạ xã hội" (regressive restoration of the persona) (1966)—một sự rút lui về lại các sự đồng nhất và gắn kết cũ. Chiến lược này về cơ bản đi ngược lại phương pháp đỡ đẻ, vì nó cố gắng hồi sinh một quá khứ đã chết và nhét sinh linh non nớt đang trồi lộ trở lại vào bụng mẹ, hoặc phá bỏ nó. "Bà đỡ" đã trở nên sợ hãi trước tiến trình đang diễn ra.


Vai trò của nhà trị liệu ở đây là tạo thuận lợi cho tiến trình, chứ không phải sửa chữa tổn thương (việc đó sẽ đến sau, ở giai đoạn thứ ba). Điều này được thực hiện bằng cách "dung chứa" cảm xúc và hành vi phát xuất từ những biến đổi nội tâm; một thái độ thấu hiểu và bao dung vừa linh hoạt vừa vững vàng là điều cần thiết, cùng với một sự khích lệ để tiếp tục đương đầu với những công việc thường nhật và các đòi hỏi của Cái tôi trong mức độ hợp lý nhất có thể.


Đồng hành qua giai đoạn Ngưỡng


Khi giai đoạn tách biệt hòa vào giai đoạn ngưỡng, cường độ cảm xúc của một người thường nhường chỗ cho một dạng thức trôi nổi của Cái tôi: tự do, không gắn kết và có phần tách biệt. Giai đoạn này trông giống dạng phân liệt (schizoid) hơn là hưng-trầm cảm (manic-depressive). Đây là giai đoạn then chốt của quá trình chuyển tiếp trung niên, vì các nội dung tâm lý mới xuất hiện trong thời kỳ này sẽ tạo nên chất liệu đi vào mô thức tự tổ chức chủ đạo mới.


Tại đây, vai trò của nhà trị liệu về cơ bản vẫn là một bà đỡ: hỗ trợ ý thức duy trì sự cởi mở và linh hoạt trong suốt thử thách này; ngăn ngừa sự đóng khung non nớt (premature foreclosure), dù bằng sự thoái lùi hay bằng sự đồng nhất với một cổ mẫu mới được khám phá; chăm sóc một tâm hồn vừa đang sinh nở vừa đang được sinh ra.


Một người nên làm gì trong giai đoạn ngưỡng? Liệu Cái tôi có thể làm được điều gì, hay nó chỉ có thể chịu đựng? Một nhiệm vụ của Cái tôi dường như là thiết yếu cho giai đoạn này—nhiệm vụ giúp ích chứ không cản trở mục đích của chuyển tiếp trung niên. Chúng tôi xem đây là một nhiệm vụ tinh tế và phức tạp về mặt tâm lý, vì nó không đòi hỏi hành động cũng chẳng phải sự thụ động, mà là điều chúng tôi gọi là sự suy ngẫm tỉnh thức (alert reflection).


Mục tiêu là trở nên thấu hiểu sâu sắc các nội dung của tâm trí—hình ảnh, cảm xúc, ký ức, cùng các nội dung cá nhân và cổ mẫu của nó khi chúng xuất hiện trong giai đoạn này—mà không đồng nhất hóa với bất kỳ nội dung nào trong số đó. Để làm được điều này:


"khả năng nhận biết phải thoát khỏi xu hướng thông thường là tự gắn mình vào đối tượng của nhận thức, để rồi đánh mất khả năng suy ngẫm về đối tượng đó" (Watkins, tr. 19).


Sự kết hợp giữa nhận thức tâm lý và sự tách rời này chính là tính phức hợp của thái độ mà chúng tôi thấy là cốt yếu để thực hiện nhiệm vụ của giai đoạn này.


Khái niệm của Winnicott về "không gian chuyển tiếp" (transitional space) và giá trị của "ảo tưởng" (illusion) trong không gian này—nơi "không bị thách thức về việc nó thuộc về thực tại nội tâm hay thực tại bên ngoài (chia sẻ chung)"—rất hữu ích ở đây. Đối với một người đang ở giai đoạn ngưỡng trung niên, nhà trị liệu cần tạo ra một không gian chuyển tiếp và bước vào không gian đó cùng thân chủ.


Tính ngưỡng đòi hỏi không gian chuyển tiếp, và thái độ cũng như bầu không khí trị liệu phải phản chiếu điều này nếu muốn giúp ích cho các thân chủ:


  • Trong giai đoạn ngưỡng, các nội dung bị dồn nén hoặc vô thức của tâm trí cần được phép tự do trỗi dậy bên trong ý thức mà không bị chất vấn về những góc nhìn ảo tưởng và méo mó của chúng.

  • Thái độ không phán xét của nhà trị liệu đối với những "ảo tưởng" này tạo thuận lợi cho dòng chảy của chúng vào ý thức.

  • Bên trong "môi trường nâng đỡ/dung chứa" (holding environment) trị liệu này, một người có thể đối diện với những nội dung tâm lý thường rất mạnh mẽ này và trở nên quen thuộc sâu sắc với chúng.

Đối với người đang ở giai đoạn ngưỡng trung niên, nhà trị liệu lý tưởng một mặt là một người đỡ đẻ, mặt khác là một người bạn đồng hành thấu cảm, tốt nhất là người đã từng đi qua giai đoạn ngưỡng trung niên và hiểu rõ những cạm bẫy lớn của nó. Nhà trị liệu phải thấu hiểu áp lực to lớn tồn tại trong thân chủ về việc muốn "giải quyết vấn đề" bằng cách hành động (kết hôn, ly hôn, sinh thêm con, đổi việc) và bằng cách đồng nhất với khía cạnh này hay khía cạnh khác của tâm trí.


Ở mức độ lớn, tính ngưỡng là một thời kỳ cần phải chịu đựng. Nó thường kéo dài từ nhiều tháng đến nhiều năm, và thông thường, cả nhà trị liệu lẫn thân chủ đều có lúc mất phương hướng về việc mình đang ở đâu và đang đi về đâu. Nhà trị liệu đồng hành cùng thân chủ trong những chuyến lang thang này:


  • Ghi nhận các đặc điểm của cảnh quan tâm lý khi chúng xuất hiện trong giấc mơ, huyễn tưởng, phản ứng cảm xúc và các phức cảm tự trị.

  • Cẩn trọng quan sát ký ức quá khứ và hình ảnh tương lai.

  • Lắng nghe và suy ngẫm về những kế hoạch xuất hiện bất thình lình rồi biến mất cũng nhanh không kém.

  • Gom nhặt tất cả những mảnh ghép của tâm trí khi chúng tuôn chảy vào ý thức.


Nếu nhà trị liệu có thể dung chứa khối chất liệu tâm lý phong phú này và luôn giữ một mắt hướng về góc nhìn đặt tính ngưỡng trong khuôn khổ của sự phát triển tâm lý, cả hai người có thể duy trì được đôi chút định hướng và có khả năng chịu đựng sự căng thẳng của việc không hành động, trong khi họ suy ngẫm về sự xuất hiện của những phần xa lạ của Self, dung chứa và tôn vinh chúng, đồng thời kiềm chế không đồng nhất hóa với chúng. Sự an ủi từ mối quan hệ đồng hành này có thể chuyển hóa trải nghiệm lang thang vô định trong trạng thái ngưỡng thành cảm giác chủ động khám phá những lãnh địa nội tâm chưa từng biết đến.


4. Đồng hành trong Giai đoạn Tái cấu trúc


Trong giai đoạn cuối cùng của chuyển tiếp trung niên, một mô thức tự tổ chức chủ đạo mới bắt rễ từ cấu trúc cổ mẫu dần thành hình trong vô thức và giống như một thỏi nam châm hút các mảnh vỡ của Self (cả phần cá nhân lẫn cổ mẫu) vốn được khai mở và trải nghiệm trong giai đoạn ngưỡng lại với nhau.


Một cách tối ưu, cảm thức về bản thân nảy sinh từ sự gắn kết này trong vô thức sẽ phản chiếu sự phức tạp tâm lý đã được ý thức hóa trong các giai đoạn tách biệt và ngưỡng trước đó. Khi sự tự hiểu mình mới đạt được này cùng nhận thức về các nội dung và động lực vô thức đi vào đúng vị trí, sẽ xuất hiện bên trong ý thức một mô thức mạch lạc nhưng cũng đầy nghịch lý về sự toàn vẹn và tính liên tục của tâm lý. Đây là một cái "tôi-mình" (me) mới, nhưng nó cũng chứa đựng tất cả những "tôi-mình" cũ từng có trước đây.


Các can thiệp trị liệu tâm lý trong giai đoạn cuối này phải được hiểu dưới ánh sáng của cả những gì đang diễn ra về mặt tâm lý lẫn các can thiệp trước đó. Giả định rằng nhà trị liệu đã làm việc với thân chủ trong một thời gian—có lẽ suốt phần lớn giai đoạn chuyển tiếp trung niên—thì các mục tiêu trị liệu trong giai đoạn cuối này sẽ tập trung phần lớn vào việc tích hợp những gì đã được khai mở và trở nên có ý thức, và cuối cùng là kết thúc tiến trình trị liệu.


Để đạt được sự ổn định, điều thiết yếu là cảm thức mới về bản thân này phải được liên kết mật thiết với tất cả các thời kỳ phát triển khác:


  • Nhà trị liệu giờ đây có thể hoạt động tích cực hơn, liên kết cái mới với cái cũ bằng cách diễn giải mối quan hệ giữa những gì đang xảy ra trong hiện tại với những gì đã xảy ra trong quá khứ.

  • Cung cấp sự thấu suốt về tính liên tục, thường dựa trên các quan sát về chuyển di (transference) và chuyển di ngược (countertransference).

  • Bằng cách này, những phát triển và nội dung mới được liên kết chặt chẽ với (nếu không muốn nói là hoàn toàn phái sinh từ) các giai đoạn phát triển và xung đột trong quá khứ—những nơi mà các phức cảm tâm lý từng hoạt động gây rối loạn trong lịch sử cá nhân.

  • Bằng việc giữ cho tính phức tạp của các yếu tố mới và cũ, cá nhân và cổ mẫu này nguyên vẹn, không phần nào của tâm trí bị đè nén bởi sự xuất hiện của mô thức tự tổ chức chủ đạo mới.


Nếu giai đoạn ngưỡng được chịu đựng đủ lâu và được xử lý sâu sắc, mô thức tự tổ chức chủ đạo mới sẽ chứa đựng một sự hòa trộn phức hợp của nhiều yếu tố cổ mẫu và cá nhân. Nó sẽ không dựa trên một hoặc hai khuôn mẫu văn hóa hay những hình tượng nội hóa cùng các mô thức cổ mẫu nền tảng của chúng (người hùng, người mẹ, người chồng/vợ...) như trường hợp phổ biến trước khi cuộc chuyển tiếp và trị liệu diễn ra. Nhưng nếu đúng như vậy, mô thức tự tổ chức chủ đạo mới sẽ không tạo ra một cảm thức bản thân không có căng thẳng. Thậm chí, quan sát thực tế chỉ ra điều ngược lại. Nhưng giờ đây, đây là những căng thẳng có ý thức hơn, và điều này cho phép một người chịu đựng những nghịch lý của sự phức tạp tâm lý một cách có ý thức thay vì mù quáng.


Xuyên suốt giai đoạn "đan kết lại" cuối cùng này, nhà trị liệu đóng vai trò duy trì nhận thức về sự phức tạp và ngăn chặn những sự dồn nén mới. Trong khi nhà trị liệu vẫn giữ thái độ của một người đỡ đẻ, việc hoàn tất sinh nở cũng đòi hỏi sự chăm sóc thuộc một dạng thức khác. Một bản ngã mới đã chào đời và giờ đây cần được chăm sóc, nuôi dưỡng trong thế giới bên ngoài. Thời kỳ ấp ủ đã kết thúc, và thời kỳ nuôi nấng, dưỡng dục sinh linh mới này bắt đầu.


Sự chú ý chuyển sang việc thích ứng với thế giới xã hội và các mối quan hệ liên cá nhân; và trong khi nhà trị liệu có thể tiếp tục hiện diện với tư cách là một cố vấn, thì công việc nội tâm sâu sắc của sự ấp ủ và sinh nở tâm lý đã hoàn tất, và những chuẩn bị cho một cuộc chia tách mới phải bắt đầu.


Một cách tối ưu, hình ảnh được nội hóa về nhà trị liệu sẽ luôn tiếp tục đại diện cho sự dung chứa tối đa tính phức tạp tâm lý và sự toàn vẹn đầy nghịch lý.

 
 
 

Bài đăng gần đây

Xem tất cả
Chuyển di - Phản chuyển di

Mọi nhà trị liệu đều từng trải nghiệm tình yêu trong chuyển di; đó là một điệp khúc vô thức (rondo unconscioso) tất yếu được thân chủ phóng chiếu lên nhà trị liệu. Chúng ta không biết nó diễn ra như t

 
 
 

Bình luận


bottom of page