Sự ra đời của bản ngã
Tại sao bạn cần phải có “Bản ngã”?
Tôi muốn nói rõ với bạn một điểm trước tiên: Dẫu cuốn sách này mượn dùng lý thuyết phát triển tâm lý trẻ em và lấy nhan đề là “Sự ra đời của bản ngã”, thế nhưng đối tượng độc giả chính mà nó hướng tới lại là người trưởng thành.
Bạn có thể sẽ thấy hơi khó hiểu: Người trưởng thành nào mà chẳng có bản ngã cơ chứ? Dẫu sao thì cả ngày chúng ta đều treo chữ “Tôi” ở bên miệng. Nhưng tôi muốn nói cho bạn hay, việc không ngừng thốt ra chữ “Tôi”, việc có ý thức về “Tôi”, hoàn toàn không đồng nghĩa với việc đã hình thành nên bản ngã trên tầng ý nghĩa trừu tượng.
Bản ngã trên tầng ý nghĩa trừu tượng
Làm công việc tư vấn tâm lý suốt ngần ấy năm, tôi đã thực hiện hàng trăm buổi diễn thuyết, và tổng số cơ quan, tổ chức từng mời tôi còn vượt xa con số ấy. Nội dung của những buổi diễn thuyết này thường là tôi chia sẻ về các chủ đề sở trường của mình; thế nhưng phần lớn thời gian — tôi ước tính phải đến chín phần mười — điều mà phía mời tha thiết muốn tôi nói nhất chính là những nội dung về quản lý áp lực và cảm xúc.
Tôi nghĩ, vấn đề áp lực và cảm xúc có lẽ là những khúc mắc tâm lý quấy nhiễu con người nhiều nhất, quá nhiều người thấm thía sâu sắc điều này. Tuy nhiên, ắt hẳn bạn cũng đã quan sát thấy, năng lực ứng phó với áp lực và cảm xúc ở mỗi người là hoàn toàn khác nhau. Có người vừa vững chãi vừa linh hoạt, năng lực ứng phó vô cùng mạnh mẽ; lại có người rất dễ sụp đổ, dễ rơi vào vũng lầy cảm xúc mà chẳng thể tự rút chân ra. Hơn nữa, biểu hiện của con người ở phương diện này luôn có tính nhất quán.
Vậy bạn đã từng nghĩ qua, sự khác biệt này được hình thành như thế nào chưa? Có nguyên do gì ở đây chăng? Kỳ thực, nguyên nhân trọng yếu nhất chính là một người có hình thành nên bản ngã trên tầng ý nghĩa trừu tượng hay không.
Lấy một ví dụ. Tôi có một vị thân chủ, công việc của cô tương tự như một bên trung gian, nội dung công việc là thu mua sản phẩm từ nhà máy bên B rồi bán lại cho bên A. Công việc này mang lại cho cô áp lực rất lớn, bởi cô phải cùng lúc xử lý lợi ích của cả bốn phía: bên A, bên B, công ty của cô và chính bản thân cô — việc này quả thực quá đỗi phức tạp. Khi ứng phó với những mối quan hệ phức tạp, cô có một chiêu thức: đó là làm một người “vô ngã”. Nói một cách đơn giản, cô rất sẵn lòng nhượng bộ, trước sau luôn đặt lợi ích của người khác lên hàng đầu, công ty cũng vì thế mà vô cùng tín nhiệm cô.
Trong mối quan hệ nhị nguyên đơn giản, chiêu này phát huy tác dụng dễ dàng nhất, bởi việc hy sinh bản ngã có thể khiến mọi việc trở nên dễ dàng hơn rất nhiều. Thế nhưng, trong mối quan hệ đa nguyên phức tạp, nếu chỉ đơn thuần không có tư dục thì vẫn chưa đủ, cô rất dễ rơi vào tình cảnh bó tay bất lực. Chẳng hạn, cấp trên ở công ty yêu cầu cô phải ép giá sản phẩm của bên B xuống thật mạnh, cô lập tức cảm thấy một áp lực khổng lồ, bởi vì khi đối diện với bên B, cô cũng rất dễ dàng từ bỏ bản thân mà làm ra sự nhượng bộ.
Không chỉ có vậy, phong cách “vô ngã” của cô kỳ thực còn ẩn giấu một tâm lý: Tôi đã vô tư đến mức này rồi, các người phải ghi nhận điều đó; nếu các người còn không biết điều, tôi sẽ vô cùng phẫn nộ.
Trong việc quản lý cảm xúc, phẫn nộ là một loại cảm xúc then chốt. Người dễ bộc lộ sự phẫn nộ quá mức sẽ lộ rõ vẻ đầy lệ khí. Thế nhưng, nếu quá khó khăn trong việc bộc lộ phẫn nộ, người ta sẽ quay ngược trở lại để tự chèn ép, đè nén chính mình, dễ trở nên bất lực, lại còn vì bản thân biểu hiện nhu nhược yếu đuối như thế mà nảy sinh cảm giác hổ thẹn sâu sắc.
Những cảm giác ấy, trên người vị thân chủ này đều có đủ. Phần lớn thời gian, biểu hiện của cô là nhượng bộ, rồi tự mình tiêu hóa sự suy yếu, bất lực và nỗi hổ thẹn do sự nhượng bộ ấy mang lại. Thi thoảng cô cũng mất kiểm soát, bộc lộ cơn phẫn nộ mãnh liệt, thậm chí là tràn đầy lệ khí, và rồi chuyện làm ăn liền rất khó tiếp tục. Tóm lại, có thể nói cô trước nay luôn là một người thẳng như ruột ngựa, không biết vòng vo, những ai làm việc chung lâu năm đều biết rõ nét tính cách này của cô.
Thế nhưng, sau một thời gian dài làm tư vấn tâm lý, cô nhận thấy mình đã đổi khác, trở nên có sách lược hơn.
Chẳng hạn, có một ngày, vị giám đốc của công ty bên B đầy giận dữ nói với cô rằng sẽ hủy bỏ mối làm ăn nọ, trừ phi phía cô nâng giá thu mua lên thật cao. Nhưng vị thân chủ này biết rõ điều đó là bất khả thi, bởi nếu giá đội lên mức đó, công ty cô lẫn công ty bên A đều không thể nào thông qua. Song đồng thời, thương vụ này có giá trị riêng của nó, đối với cô và công ty đều rất quan trọng.
Trước kia khi gặp phải chuyện này, cô chỉ có hai phản ứng: hoặc là lấy lòng người ta, hoặc là bật lại chan chát. Nhưng lần này, phản ứng của cô đã trở nên khác biệt. Cô không lập tức chìm đắm vào cảm xúc, mà trước tiên tưởng tượng bản thân như một người bàng quan đứng ngoài, kéo dãn một khoảng cách nhỏ để quan sát vị giám đốc kia. Và rồi cô lập tức hiểu ra: Vị giám đốc này chỉ là đang rất phẫn nộ mà thôi, chứ chuyện làm ăn này không thể nào không làm. Có điều, cô không thể vạch trần sự thật này một cách trần trụi, mà còn phải xoa dịu cảm xúc của vị giám đốc ấy.
Thế là, cô nói với vị giám đốc: “Ngài đang rất phẫn nộ, tôi đã lắng nghe và cũng đã cảm nhận được điều đó. Rất xin lỗi ngài, vậy để chúng tôi cân nhắc lại, thương vụ này thôi đành không làm nữa vậy.” Nhưng vừa quay đầu đi, cô liền bảo giám đốc bên A tiếp tục gửi lệnh nhận hàng sang cho bên B. Kết quả là, mối làm ăn này rốt cuộc vẫn thành công trót lọt.
Cô cảm thấy đây là lần đầu tiên trong đời mình trở nên “giảo quyệt” đến thế. Nhưng trên thực tế, cô vốn đã biết từ lâu rằng có thể dùng đủ loại sách lược để ứng phó với áp lực, chỉ là trước đây hễ áp lực ập đến, cảm xúc của cô liền bị kích hoạt, rồi nội tâm bị cảm xúc lấp đầy kín mít, chẳng còn chút không gian nào để suy tính đến những sách lược ấy nữa. Còn hiện tại, cảm xúc không thể chiếm trọn cõi lòng cô, cô có được nhiều không gian hơn, và khi ứng phó với áp lực cũng trở nên linh hoạt hơn rất nhiều.
Đọc tới đây, ắt hẳn bạn sẽ muốn hỏi: Khoảng không gian này làm sao mà dôi dư ra được vậy? Kỳ thực là vì qua sự nỗ lực của chính cô cùng thời gian dài làm tư vấn tâm lý, bản ngã trên tầng ý nghĩa trừu tượng của cô đã bước đầu được thành hình.
Trước kia, thứ cô có chỉ là bản ngã mang ý nghĩa cụ thể; mà bản ngã mang ý nghĩa cụ thể lại bị trói chặt với ý chí cụ thể của cô trong từng sự việc, do đó chẳng có mấy không gian. Bản ngã trên tầng ý nghĩa trừu tượng thì lại giống như một chiếc vật chứa, có thể dung nạp ý chí của cô trong từng sự việc cụ thể, nhờ thế mà mở ra không gian.
“Tôi” và ý chí cụ thể
Dẫu đây chỉ là một trường hợp tôi bắt gặp trong quá trình tư vấn, nhưng tôi cảm thấy nó không đơn thuần là một câu chuyện cá biệt, mà đại diện cho một quy luật — việc bản ngã trên tầng ý nghĩa trừu tượng có hình thành hay không, sẽ mang lại sự sai biệt cực kỳ to lớn đối với việc quản lý áp lực và cảm xúc.
Rất nhiều triết gia đều cho rằng, chỉ có sinh tử mới là đại sự. Triết gia hiện sinh, người từng đoạt giải Nobel Văn học Albert Camus từng nói: “Chỉ có một vấn đề triết học thực sự nghiêm túc, đó là tự sát.”
Thế nhưng, sinh tử kỳ thực hiện diện ở khắp mọi nơi — vừa tồn tại sự sống chết của sinh mệnh thể xác, lại vừa tồn tại sự sống chết trên bình diện tâm lý. Ví như, những người dễ suy sụp thường hay chấp niệm vào những chi tiết cụ thể. Đó là bởi họ xoay quanh chi tiết ấy mà phát xuất ra ý chí của chính mình, rồi ý chí ấy liền biến thành một phần sinh mệnh độc lập. Ý chí được thực hiện, đồng nghĩa với việc phần ý chí ấy đã sống; ý chí thất bại, đồng nghĩa với việc nó đã chết đi.
Điều này dẫn tới một vấn đề then chốt: Trước khi bản ngã trên tầng ý nghĩa trừu tượng được hình thành, con người tất yếu sẽ có một logic thế này: “Tôi” tương đương với bất kỳ một phần ý chí cụ thể nào mà “Tôi” phát xuất ra. Người ta ai nấy đều sợ chết, lại đem sự sống chết của ý chí cụ thể cảm nhận thành sự sống chết của chính “Tôi”; nếu tâm lý của một người dừng ở mức độ này, họ tự nhiên sẽ cố chấp với từng chi tiết. Có thể nói, bản ngã ở mức độ này là bản ngã mang ý nghĩa cụ thể, chứ không phải bản ngã trên tầng ý nghĩa trừu tượng.
Ngược lại, một người có bản ngã trên tầng ý nghĩa trừu tượng sẽ có một logic khác: Mỗi một phần ý chí đều chỉ là một bộ phận của “Tôi”, chứ không phải bản thân “Tôi”. Vì thế, sự sống chết của bất kỳ một ý chí cụ thể nào, cũng chỉ là sự sống chết của riêng phần ý chí cụ thể ấy mà thôi, tuyệt nhiên không phải sự sống chết của “Tôi”.
Bản ngã nội tụ (Cohesive Self)
Heinz Kohut là người sáng lập trường phái Tâm lý học Tự thể (Self Psychology) của Hoa Kỳ. Ông là một trong những bậc thầy quan trọng của phân tâm học, người đã mở rộng tầm nhìn của phân tâm học, đưa sự tôn trọng và tính nhân văn vào việc thấu hiểu cũng như thực hành phân tâm học đối với con người, phát triển nên một trong ba học phái chủ lưu lớn nhất của phân tâm học — Tâm lý học Tự thể. Các tác phẩm tiêu biểu của ông có thể kể đến như Sự phân tích tự thể (The Analysis of the Self), Sự tái thiết tự thể (The Restoration of the Self)...
Kohut từng đưa ra một khái niệm gọi là “bản ngã nội tụ” (cohesive self), đây chính là sự miêu tả chuẩn xác hơn về bản ngã trên tầng ý nghĩa trừu tượng.
Kohut nói, sự hình thành của bản ngã nội tụ là một sự kiện mang tính cột mốc trong tiến trình phát triển của tâm hồn, đồng thời cũng là mấu chốt của năng lực dung chứa cảm xúc, bởi những cơn sóng to gió lớn của cảm xúc chỉ có thể làm rung lắc bản ngã nội tụ, chứ không dễ dàng làm nó sụp đổ tan tành. Bên trong bản ngã nội tụ có một thứ lực hướng tâm, khiến cho những mảnh vụn tâm hồn của con người có thể được ngưng tụ lại cùng nhau. Mà lực hướng tâm ấy, lại được xây dựng trên nền tảng của cảm giác: “Về cơ bản, tôi là tốt đẹp.”
Hạt nhân của bản ngã nội tụ là sức sống tươi mới và luân chuyển không ngừng, lớp vỏ ngoài của nó tựa như làn da, gắn kết tự nhiên với máu thịt của tâm hồn, vừa có tính đàn hồi lại vừa mang tính tương tác. Thế nên, khi áp lực từ bên ngoài xuất hiện, người đã hình thành được bản ngã nội tụ không chỉ không dễ bị đè bẹp, mà còn có thể tương tác đầy đủ với thế giới bên ngoài.
Nếu như bản ngã của một người phải chịu sự công kích dữ dội, dẫu “làn da” bị xé toạc, hạt nhân cũng chịu thương tổn, nhưng chỉ cần nội tụ lực vẫn còn đó, những mảnh vụn tâm hồn vẫn có thể tái tổ chức lại cùng nhau; người đó liền có thể đón nhận sự tái sinh, thậm chí có thể trở nên trưởng thành hơn, mạnh mẽ hơn.
Vậy thì, bản ngã nội tụ được hình thành như thế nào? Nói một cách đơn giản, một người cần phải đạt được một cảm giác: Chân thực bộc lộ ý chí, và tin tưởng sâu sắc rằng ý chí của mình về cơ bản có thể thực hiện được. Ý chí của bản thân về cơ bản có thể thực hiện được, chính là một cảm giác nền tảng mang ý nghĩa trừu tượng: “Tôi có thể sống sót”. Sau khi cảm giác này được hình thành, con người ta liền được giải thoát ra khỏi sự sống chết của từng phần ý chí cụ thể.
Chúng ta thường hay nói về “cảm giác tồn tại”, cụm từ này nghe có vẻ hơi huyền diệu viển vông; nếu đổi thành “Tôi có thể sống sót”, thì sẽ dễ hiểu hơn rất nhiều. Khi cảm giác này sinh khởi, sự lo âu của con người sẽ vơi bớt đi, nội tâm sẽ trở nên tự tại. Cho nên, một người có bản ngã hay không tuyệt đối chẳng phải chỉ liên quan đến việc quản lý áp lực và cảm xúc, nó còn mang những phần sức hút diệu kỳ hơn thế.
Về điều này, thầy Giả Hành Gia — tác giả chuyên trách của ứng dụng Dédào — từng có một cách diễn đạt vô cùng thi vị. Thầy nói rằng trong sự quan sát của mình, những người có bản ngã tựa như từng pho “tiểu thần” (vị thần nhỏ); họ không chỉ tự tại, mà còn tràn trề cảm giác tôn nghiêm và cảm giác toàn vẹn. Mà cuốn sách này, ngoài việc giảng giải rõ ràng cho bạn nghe về câu chuyện sự ra đời của bản ngã, còn mang lại cho bạn một số sản phẩm phụ — đó là giúp bạn quản lý áp lực và cảm xúc tốt hơn, trở nên tự tại hơn, có tôn nghiêm và tính toàn vẹn hơn, chẳng khác nào một pho “tiểu thần”.
Đương nhiên, để làm được những điều này là vô cùng chẳng dễ, nhưng chí ít chúng ta có thể hoàn thiện nhận thức của mình trước tiên, và có được những trải nghiệm bước đầu về nó. Ngoài ra, nếu bạn vốn đã có rất nhiều trải nghiệm xoay quanh sự ra đời và phát triển của bản ngã, cuốn sách này sẽ giúp bạn đào sâu và nhận thức một cách có hệ thống về điều đó.
Trong cuốn sách này, tôi sẽ mượn dùng lý thuyết của phân tâm học về việc đứa trẻ phát triển bản ngã ra sao trong mối quan hệ tam nguyên với cha mẹ; những trường hợp được nhắc tới trong đó phần lớn là các ca lâm sàng mà tôi tiếp xúc trong quá trình làm tư vấn tâm lý. Đương nhiên, quá trình viết nên cuốn sách này cũng là một lần trải nghiệm trưởng thành của chính cá nhân tôi, bởi cho đến tận hôm nay, bản thân tôi vẫn đang phải đối diện với đề tài về sự ra đời và phát triển của bản ngã.
Vậy nên, chúng ta hãy cùng nhau đi hết đoạn đường này nhé.
Bạn cần trải qua những giai đoạn nào mới có thể hình thành bản ngã?
Sự phát triển của lý thuyết phân tâm học chia làm ba giai đoạn: Phân tâm học kinh điển, lý thuyết quan hệ đối tượng và tâm lý học tự thể. Lý thuyết của Freud được xem là phân tâm học kinh điển, ông đặt trọng tâm vào giai đoạn Oedipus từ 3 đến 6 tuổi, coi trọng mối quan hệ tam nguyên giữa đứa trẻ và cha mẹ. Các nhà lý thuyết quan hệ đối tượng lại tập trung chú ý vào mối quan hệ mẹ con trước 3 tuổi, cho rằng lúc này giá trị của người cha là cung cấp sự nâng đỡ cho người mẹ, chứ không trực tiếp tham gia vào tương tác với đứa trẻ; Margaret Mahler chính là một nhà phân tâm học quan hệ đối tượng. Tâm lý học tự thể do Kohut cùng những người tiếp bước ông sáng lập, được xem là giai đoạn thứ ba trong sự phát triển của phân tâm học. Nhưng điều này không đồng nghĩa đây là giai đoạn cao cấp hơn; trên thực tế, một số nhà phân tâm học vẫn không mấy thừa nhận tâm lý học tự thể.
Nền tảng lý thuyết của cuốn sách này bao gồm hai phần: Một phần là các lý thuyết kinh điển trong phân tâm học — gồm thuyết các giai đoạn phát triển tâm lý trẻ sơ sinh và ấu nhi của nhà phân tâm học Margaret S. Mahler, cùng lý thuyết về giai đoạn Oedipus của người sáng lập phân tâm học Sigmund Freud; phần còn lại là sự đúc kết từ chính những suy ngẫm của tôi, được khái quát thành Lý thuyết 5 giai đoạn ra đời và phát triển của bản ngã.
Lý thuyết của Mahler luận bàn về mối quan hệ giữa đứa trẻ trước 3 tuổi với người mẹ, trong khi giai đoạn Oedipus mà Freud nói tới lại bàn về sự phát triển của đứa trẻ sau 3 tuổi — thời điểm người cha tham gia sâu vào mối quan hệ mẹ con, cùng với mẹ và con cấu thành nên mối quan hệ tam nguyên phức tạp. Dưới đây, chúng ta hãy cùng xem xét cụ thể xem các lý thuyết này rốt cuộc giảng giải về những điều gì.
Margaret Mahler và lý thuyết phát triển tâm lý trẻ sơ sinh – ấu nhi
Mahler cho rằng, sự phát triển tâm lý của trẻ trước 3 tuổi trải qua 3 giai đoạn:
Giai đoạn 1: Giai đoạn tự bế bình thường (Normal Autistic Phase — từ lúc mới sinh đến 1 tháng tuổi)
Chỉ có sự tự bế trong giai đoạn này mới là bình thường, mọi sự tự bế về sau thảy đều là bệnh thái (bệnh lý).
Ở giai đoạn này, thể xác của đứa trẻ tuy đã ra đời, nhưng về mặt tâm lý dường như con vẫn sống bên trong một lớp vỏ trứng khép kín, biểu hiện ra là không có chút hứng thú nào với thế giới bên ngoài. Thế nhưng, tuyệt đối không thể lơ là bất cẩn trong giai đoạn này, không thể vì thấy đứa trẻ dường như chẳng đoái hoài gì tới thế giới ngoại tại mà lơ là việc chăm sóc. Ngược lại, người mẹ cùng những người nuôi dưỡng cần cung cấp một môi trường ấp nở tốt lành, để con có thể phá vỡ lớp vỏ trứng tâm lý này mà bước ra ngoài, chuyển từ tự bế đi về phía cởi mở.
Giai đoạn 2: Giai đoạn cộng sinh bình thường (Normal Symbiotic Phase — từ 2 tháng đến khoảng 6 tháng tuổi)
Tương tự như giai đoạn thứ nhất, chỉ có sự cộng sinh ở giai đoạn này mới là bình thường, mọi sự cộng sinh về sau đều là cộng sinh bệnh thái.
Chẳng hạn, ta thường thấy các bà mẹ nói: “Con nhà tôi mười mấy tuổi rồi, nhưng hai mẹ con thân thiết như thể là một người vậy, nó có chuyện gì cũng kể cho tôi nghe, hoàn toàn không có chút bí mật nào với tôi.” Đây kỳ thực chính là sự cộng sinh bệnh thái. Về điều này, nhà phân tâm học nổi tiếng Trung Quốc Tăng Kỳ Phong từng nói: Không có bí mật, đứa trẻ sẽ chẳng thể lớn lên, chẳng thể bước về phía độc lập.
Toàn năng tự luyến (Omnipotent Narcissism) còn được gọi là cảm giác toàn năng. Lý thuyết phân tâm học cho rằng, trẻ sơ sinh khi vừa chào đời đều sống trong toàn năng tự luyến. Chúng cảm thấy thế giới này là một khối hỗn nhiên không phân biệt bạn và tôi, cảm thấy mình tựa như “Thần”, hễ phát xuất ra một niệm đầu thì thế giới liền đưa ra hồi đáp tức thì. Nếu thế giới bên ngoài không vận hành theo ý muốn của mình, chúng sẽ nảy sinh cảm giác bất lực to lớn, và từ “Thần” liền thoắt biến thành “Ma”, hận không thể hủy diệt cả thế giới bên ngoài — đó chính là cơn thịnh nộ tự luyến (narcissistic rage). Đến tuổi trưởng thành mà vẫn còn sống sâu nặng trong toàn năng tự luyến và thịnh nộ tự luyến là biểu hiện của mức độ phát triển tâm lý cực kỳ thấp kém. Kiểu người này sống hoàn toàn trong thế giới nhất nguyên (thế giới một chiều), chỉ có thể cảm nhận được ý chí của chính mình, chứ không thể cảm nhận được người khác cũng là một thực thể tồn tại bình đẳng và độc lập.
Sự cộng sinh bệnh thái giữa cha mẹ và con cái thường là do cha mẹ muốn dính mắc cộng sinh cùng con, và phần lớn là ý chí của cha mẹ xâm chiếm lấy sinh mệnh của đứa trẻ. Đối với đứa trẻ mà nói, điều đó hoàn toàn không cần thiết. Nhưng trẻ sơ sinh trước 6 tháng tuổi thì lại khác: Một mặt, chúng sống trong toàn năng tự luyến, cảm thấy mình chính là “Thần”; mặt khác, chúng lại cực kỳ yếu ớt và bất lực, mọi nhu cầu căn bản từ ăn uống, đại tiểu tiện, ngủ nghê cho đến chơi đùa đều phải trông cậy vào sự đáp ứng của mẹ, vậy nên chúng bắt buộc phải cộng sinh cùng người mẹ. Đây là một nhu cầu chân thực, vì thế sự cộng sinh lúc này là cộng sinh bình thường.
Trong giai đoạn này, đứa trẻ sẽ cảm thấy “tôi chính là mẹ, mẹ chính là tôi”, tôi và mẹ hợp thành một chỉnh thể, cả thể xác lẫn tâm lý đều gắn liền làm một — trạng thái này được gọi là “chỉnh thể cộng đồng mẹ con” (mẫu anh cộng đồng thể).
Giai đoạn 3: Giai đoạn phân tách và cá thể hóa (Separation-Individuation Phase — từ khoảng 6 tháng đến 36 tháng tuổi)
“Phân tách” là chỉ sự độc lập về mặt thể xác, “cá thể hóa” là chỉ sự độc lập về mặt tâm lý. Khi đứa trẻ đạt được sự độc lập, bản ngã cá thể hóa của con cũng theo đó mà thành hình.
Trong giai đoạn này, năng lực của đứa trẻ ngày càng mạnh mẽ hơn, cuối cùng có thể tự mình thực hiện các sinh hoạt cơ bản và có thể tách rời khỏi mẹ, khiến chỉnh thể cộng đồng mẹ con đi đến chỗ tan rã. Đây là một tiến trình dài lâu, chẳng thể diễn ra trong một sớm một chiều. Ví như, khi trẻ học được các động tác bò, lật mình, ngồi dậy..., tính tự luyến của con sẽ bùng nổ, con muốn lập tức dựa vào sức mình để hoàn thành đủ mọi sự khám phá. Nhưng hễ gặp phải trắc trở, con sẽ lại rơi vào trạng thái suy yếu bất lực, quay lại bám víu vào mẹ. Cùng với việc năng lực không ngừng gia tăng, tính tự luyến của trẻ lại bùng lên, con sẽ liên tục bồi hồi giằng co giữa độc lập và phụ thuộc. Mahler đã đúc kết quá trình này thành 4 phân đoạn nhỏ:
⚬ Phân đoạn 1: Phân hóa và hình ảnh thân thể (khoảng từ 4 - 5 tháng đến 10 tháng tuổi)
Lúc này, trẻ bắt đầu cựa quậy tách rời thân thể khỏi người mẹ, bắt đầu có mưu cầu độc lập, ngày càng trải nghiệm nhiều hơn cảm giác phân tách với mẹ, nhưng chưa đủ sức đi xa, chỉ có thể quanh quẩn chơi đùa dưới chân mẹ; trẻ sẽ bắt đầu kiểm tra xem điều gì thuộc về mẹ, điều gì không thuộc về mẹ.
⚬ Phân đoạn 2: Giai đoạn thực hành (khoảng từ 10 tháng đến 15 - 16 tháng tuổi)
Đặc trưng rõ rệt là trẻ bắt đầu dùng tứ chi để bò, các cơ năng như tri giác vận động phát triển và con học được cách đi đứng. Điều này thúc đẩy trẻ ngày càng rời xa mẹ để đi mạo hiểm, tập dượt khả năng chịu đựng nỗi lo âu phân tách, từng bước phát triển thành một cá thể độc lập. Song song đó, trẻ vẫn luôn tìm kiếm sự hiện diện của mẹ, chốc chốc lại ngoái nhìn xác nhận nhằm tìm kiếm sự “nạp năng lượng cảm xúc”. Trong thời kỳ này, tính tự luyến của ấu nhi đạt tới đỉnh điểm.
⚬ Phân đoạn 3: Giai đoạn hòa giải / tái hòa nhập (khoảng từ 15 - 16 tháng đến 24 tháng tuổi)
Ở giai đoạn này, cảm giác toàn năng của trẻ lại một lần nữa vấp phải trắc trở, làm nảy sinh mâu thuẫn giữa độc lập và ỷ lại: vừa muốn phân tách, lại vừa sợ đánh mất; con có thể dung chứa nỗi lo âu phân tách tốt hơn, nhưng cái giá phải trả là phải gánh chịu nhiều nỗi cô đơn, yếu mềm và phụ thuộc. Lúc này, các cung bậc cảm xúc của trẻ được mở rộng, năng lực ngôn ngữ không ngừng nâng cao, khách thể và các quy tắc bắt đầu được nội hóa vào bên trong.
⚬ Phân đoạn 4: Hằng định đối tượng cảm xúc và cá thể hóa (từ 24 đến 36 tháng tuổi)
Trong tiến trình này, đứa trẻ từng bước xác định rõ bản thân mình là ai. Nhiệm vụ chủ yếu là hình thành nên biểu tượng nội tâm ổn định về người mẹ, duy trì được hình ảnh vững vàng về mẹ cùng vạn vật, có thể nội hóa người mẹ; dù mẹ không hiện diện trước mắt, trong tâm trí trẻ vẫn duy trì được hình ảnh nội tại vững chắc về mẹ. Giai đoạn này cũng đánh dấu các chức năng nhận thức tổng hợp của trẻ dần trở nên sáng rõ.
Dưới sự dưỡng dục tốt lành, đứa trẻ tròn 3 tuổi sẽ hình thành nên bản ngã cá thể hóa. Đồng thời, người mẹ duy trì mối quan hệ cơ bản ổn định và chăm sóc chu đáo sẽ được nội hóa vào sâu trong nội tâm đứa trẻ, khiến trong lòng con có một “người yêu thương” ngự trị. Đây là thời khắc mang tính biểu tượng: Bản ngã cá thể hóa được hình thành đồng nghĩa với việc đứa trẻ đã có “Tôi ở nội tại”, còn việc trong lòng có một người mẹ yêu thương ngự trị đồng nghĩa với việc con đã có “Bạn ở nội tại”.
Sự phát triển tâm hồn của con người thú vị ở chỗ, nó giống như việc không ngừng nội hóa những thứ bên ngoài vào trong. Khi sự nội hóa hoàn tất, sự chấp niệm của con người đối với các sự vật bên ngoài sẽ giảm đi rất nhiều. Chẳng hạn, nếu cá thể hóa chưa hoàn thành, con người ta sẽ có một sự kiên trì đầy thiên chấp đối với ý chí của “Tôi”; nhưng một khi đã có một “Tôi” nội tại, “Tôi” đã có thể tồn tại bên trong tâm hồn, thì việc “Tôi” có hiện diện trên một sự vật bên ngoài hay không sẽ không còn là điều khiến người ta quá đỗi cố chấp nữa. Lại ví như trong những mối quan hệ trọng yếu, có người có thể chịu đựng được sự chia cách bởi trong lòng họ vốn đã có một người yêu thương nội tại; nhưng có người lại chẳng thể dung nạp nổi sự chia ly, bởi trong tim họ không có một “Bạn ở nội tại”, họ bắt buộc phải có một “Bạn ở ngoại giới” kè kè bên cạnh.
Sigmund Freud và lý thuyết về giai đoạn Oedipus
Bản ngã cá thể hóa và việc trong lòng có một người yêu thương ngự trị là hai điều tối quan trọng. Phải có được cả hai, tâm hồn của đứa trẻ mới có thể bước vào đề tài giai đoạn Oedipus mà Freud đã chỉ ra.
Freud cho rằng giai đoạn Oedipus diễn ra từ 3 đến 6 tuổi. Trong thời kỳ này, trung tâm khoái cảm của trẻ chuyển từ vùng miệng, hậu môn sang vùng cơ quan sinh dục, vì thế giai đoạn này còn được gọi là thời kỳ sinh dục (Phallic stage). Về sau, trường phái Quan hệ đối tượng do Melanie Klein đại diện đã đưa ra chỉnh sửa: Họ cho rằng xung đột Oedipus đã bắt đầu nảy mầm từ vài tháng sau khi đứa trẻ chào đời, chỉ là phát triển đến đỉnh cao vào độ tuổi từ 3 đến 6. Lúc này, trẻ bắt đầu nhận biết sự khác biệt giới tính; về mặt tâm lý, con có thể nảy sinh tâm lý cạnh tranh và ghen tị với phụ huynh cùng giới tính. Freud nhận định rằng xung đột Oedipus là số phận phổ quát của nhân loại, tức mỗi một người cho tới lúc chết đều sẽ giữ lại ít nhiều tàn dư của xung đột này, chỉ là nhiều hay ít mà thôi.
Giai đoạn Oedipus diễn ra vào khoảng từ 3 đến 6 tuổi, còn được gọi là thời kỳ luyến phụ - luyến mẫu. Trong thời kỳ này, bé trai sẽ “cạnh tranh” với cha để giành tình yêu của mẹ, còn bé gái sẽ “cạnh tranh” với mẹ để giành tình yêu của cha. Nhưng đồng thời, sự cạnh tranh này không được phép trở nên quá thù địch, cũng không thể thực hiện một cách triệt để. Muốn vượt qua thời kỳ này một cách thuận lợi, đứa trẻ cần hoàn thành sự nhận đồng (đồng nhất hóa) với phụ huynh cùng giới: Bé trai nhận đồng với cha, bé gái nhận đồng với mẹ, và chuyển hóa mục tiêu thành việc đi tìm một người yêu khác giới giống như mẹ hoặc giống như cha.
Bản ngã cá thể hóa chính là nền tảng để đứa trẻ bước vào cuộc cạnh tranh. Nếu không có một bản ngã vững chãi, thì dù là con trai cạnh tranh với cha hay con gái cạnh tranh với mẹ đều quá đỗi gian nan. Đứa trẻ cần hoàn thành sự nhận đồng với phụ huynh cùng giới, mà nền tảng để sự nhận đồng ấy diễn ra êm đẹp chính là việc trong tim con đã có một người yêu thương ngự trị.
Ở giai đoạn Oedipus, đứa trẻ bước đầu nếm trải sự cạnh tranh và hợp tác; sau đó con sẽ bước vào xã hội, đi ra ngoài gia đình để học hỏi sự cạnh tranh và hợp tác mang tính trương lực lớn hơn, để rồi cuối cùng tự kiến tạo nên cuộc sống của chính mình.
Lý thuyết 5 giai đoạn ra đời và phát triển của bản ngã
Là một chuyên gia tư vấn theo khuynh hướng phân tâm học, đúc rút từ nhiều năm kinh nghiệm thực hành lâm sàng, tôi đưa ra một cách hiểu mang tính hình tượng hơn về sự ra đời và phát triển bản ngã của một cá thể. Tôi cho rằng, tiến trình này có thể chia thành 5 giai đoạn:
1. Vỏ bọc tự luyến (Tự luyến chi xác)
2. Vòng tay tình mẹ (Mẫu ái hoài bão)
3. Bến đỗ gia đình (Gia đình cảng loan)
4. Lò luyện xã hội (Xã hội dung lô)
5. Thế giới vô hạn (Vô hạn thế giới)
Sức sống của đứa trẻ cần không ngừng vươn mình trong những không gian rộng lớn hơn. Trước tiên, con phải chọc thủng lớp vỏ bọc tự luyến cô độc để bước vào vòng tay tình mẹ — đây là mối quan hệ nguyên sơ nhất. Kế đó, con phải vượt thoát khỏi vòng tay tình mẹ để bước vào bến đỗ gia đình do cha mẹ cùng nhau gây dựng. Tiếp theo, con phải rời bến đỗ gia đình để bước vào lò luyện xã hội thuộc nền văn hóa của mình. Cuối cùng, con phải phá vỡ lò luyện xã hội ấy để tiến nhập vào thế giới vô hạn.
Về 5 giai đoạn này, ta có thể dùng một hình ảnh ẩn dụ sinh động để thấu hiểu:
Hãy tưởng tượng một chú chim ưng con: Ban đầu nó nằm trong quả trứng, tức là nằm trong vỏ bọc tự luyến; nếu tình mẹ cung cấp một môi trường ấp nở tốt lành, nó sẽ tự nhiên phát triển rồi phá vỏ chui ra. Chú chim ưng non vừa rời vỏ mỏ còn chưa đủ nhọn, móng vuốt chưa mọc, đôi cánh cũng mới chỉ là phôi thai — nói tóm lại, năng lực tấn công của nó vẫn chưa hình thành. Lúc này, nó cần tiếp tục lớn lên trong vòng tay tình mẹ, trông hệt như một chú gà con không có chút tính công kích nào. Đợi đến khi năng lực tấn công bước đầu được thành hình, nó mới biến thành một chú chim ưng thực thụ, cần bước vào một môi trường giàu thách thức hơn để trui rèn bản lĩnh cạnh tranh.
Đứa trẻ trước 3 tuổi tựa như một “chú gà con” không có tính công kích; nhưng sau 3 tuổi, đứa trẻ sở hữu bản ngã cá thể hóa sẽ hóa thân thành một “chú chim ưng non”. Lúc này, chim ưng non phải đập vỡ lớp vỏ của vòng tay tình mẹ để bước vào bến đỗ gia đình, tập dượt thứ lực tấn công sơ khai trong mối quan hệ phức tạp do cha mẹ tạo nên. Sau đó, nó tiến vào lò luyện xã hội, và cuối cùng là sải cánh bay lượn giữa thế giới vô hạn.
Đây chính là sự khắc họa mang tính hình tượng về 5 giai đoạn ra đời và phát triển của bản ngã, hay còn gọi là mô hình “Trứng — Gà — Ưng”. Trong cuốn sách này, tôi sẽ lấy 5 giai đoạn này làm trục logic xuyên suốt, từng bước dẫn bạn đi qua trọn vẹn cả chặng đường và tìm hiểu những tri thức tâm lý học ẩn sau mỗi giai đoạn.
Sự thỏa mãn căn bản và ranh giới tất yếu
Trong tiến trình hình thành và phát triển bản ngã, tồn tại một cặp mâu thuẫn cốt lõi: đó là mâu thuẫn giữa sự thỏa mãn căn bản và ranh giới tất yếu.
Đứa trẻ bắt buộc phải nhận được sự thỏa mãn căn bản, chỉ có như vậy con mới cảm nhận được rằng: “Nhu cầu của tôi là tốt đẹp”, rồi từ đó đúc kết thành niềm tin: “Tôi là tốt đẹp” — đây chính là cội nguồn tạo nên lực hướng tâm của bản ngã nội tụ. Thế nhưng đồng thời, cha mẹ bắt buộc phải tôn trọng ranh giới của đứa trẻ, và để con dần thấu hiểu rằng cha mẹ cũng có ranh giới của riêng mình.
Về điểm này, “ấp nở” là một ẩn dụ trọng yếu — cha mẹ phải nhìn thấy rằng đứa trẻ có một lớp vỏ bọc tự luyến, đó chính là ranh giới của con, và ranh giới ấy bắt buộc phải được tôn trọng; cha mẹ tuyệt đối không thể manh động, tự tiện giúp con đập vỡ vỏ trứng. Vì thế, ranh giới đối với sự trưởng thành của một con người là điều tối quan trọng. Thế nhưng, tôn trọng ranh giới lại là thứ mà chúng ta cực kỳ thiếu thốn. Trong cuốn sách này, tôi sẽ cùng bạn đào sâu về ý thức ranh giới. Có thể nói, “Kiến tạo ý thức ranh giới của bạn” chính là một nhan đề ẩn khác của cuốn sách này.
“Ý thức ranh giới rất quan trọng” đã trở thành một nhận thức chung của xã hội hiện đại. Ý thức ranh giới vừa là điều kiện tiên quyết để bản ngã cá thể hóa nảy mầm, lại vừa nhờ sự phát triển của bản ngã cá thể hóa mà ngày càng được củng cố. Nếu nói sự phát triển của bản ngã cá thể hóa là sự tôn trọng đối với “Tôi”, thì bạn cũng sẽ thấy rằng khi điều này được xác lập, nó cũng sẽ gia tăng sự tôn trọng của một người dành cho “Bạn”. Hai điều này tương hỗ, thành toàn cho nhau chứ tuyệt đối không hề bài xích đối lập.
Thế nhưng, một khi ý thức ranh giới và sự phát triển của bản ngã cá thể hóa bị cản trở, bạn sẽ bắt gặp những hiện tượng vô cùng quen thuộc — triết lý hồ đồ và logic hồ dán nhão nhoét (hồ đồ triết học dữ tương hồ la-tập). Tôi khái quát chúng thành sự cộng sinh hỗn độn (hỗn độn cộng sinh), và đó cũng chính là nội dung sẽ được mổ xẻ tường tận trong chương tiếp theo.
Cộng sinh hỗn độn bắt nguồn từ tâm lý cộng sinh
Cái gọi là cộng sinh hỗn độn (hỗn độn cộng sinh), là chỉ việc giữa người với người như thể quấn chặt lấy nhau, thiếu vắng đi ranh giới rõ ràng.
Tôi vô cùng yêu thích loạt tranh thuộc hệ liệt “loạn bút” (nét cọ rối) của họa sĩ đương đại nổi tiếng Tăng Phạn Chí (Zeng Fanzhi). Trong khung hình, ẩn sau những bụi gai chằng chịt cành nhánh rối bời là từng sinh linh bị quấn chặt lấy, như hổ, sư tử, những chú thỏ khổng lồ hay con người. Tôi cảm thấy những bức họa này chính là một sự biểu đạt chuẩn xác về cộng sinh hỗn độn — các mối quan hệ giữa người với người quấn bện phức tạp, khóa chặt từng cá thể độc lập. Chính các mối quan hệ người - người quấn bện phức tạp này mới thai nghén nên triết lý “nan đắc hồ đồ” (hiếm khi hồ đồ / hồ đồ là phúc).
Ngọn nguồn của triết lý hồ đồ chính là tâm lý cộng sinh. Trẻ sơ sinh trước sáu tháng tuổi sẽ cảm thấy: tôi chính là mẹ, mẹ chính là tôi, tôi và mẹ gắn liền làm một cả về thể xác lẫn tâm lý, trạng thái này có thể gọi là “chỉnh thể cộng đồng mẹ con”. Đối với đứa trẻ ở thời điểm này, cộng sinh là điều tất yếu, là bình thường; nhưng về sau, mọi sự cộng sinh thảy đều là bệnh thái.
Triết lý hồ đồ về cơ bản đều là sự hỗn loạn bắt nguồn từ việc không thể phân định rạch ròi “tôi là tôi, bạn là bạn”. Mà một khi thứ triết lý này thịnh hành, tất sẽ dẫn tới trạng thái quấn bện của sự cộng sinh hỗn độn.
Trong chương này, tôi sẽ thông qua việc phân tích các ca bệnh mà tôi gặp phải trong quá trình tư vấn tâm lý để giải mã hiện tượng kinh điển này. Tôi cho rằng, giúp bạn nhận diện rõ ràng những hiện tượng ấy chính là khởi đầu cho việc thoát khỏi sự quấn bện này.
Nhìn từ toàn bộ hệ thống của cuốn sách, chương này tương đương với một khúc dạo đầu.
Trong những quan sát lâm sàng qua nhiều năm làm tư vấn tâm lý, tôi phát hiện ra rằng: Bản ngã cá thể hóa của rất nhiều người vẫn chưa hề ra đời, họ trước sau vẫn dậm chân tại chỗ trong vòng tay tình mẹ, thậm chí là trong vỏ bọc tự bế. Nói theo mô hình hình tượng hóa “Trứng — Gà — Ưng”, chỉ khi một người trở thành một chú chim ưng non thì mới đánh dấu sự ra đời của bản ngã cá thể hóa. Do đó có thể nói, những người đang ở trong trạng thái cộng sinh hỗn độn thực chất vẫn chỉ là những chú gà con cần sự chở che ấp ủ của gà mẹ.
Đương nhiên, cũng có những người sẽ sắm vai chú gà mẹ chở che cho gà con, song họ lại chẳng phải là một người mẹ trưởng thành, mà là kẻ bắt buộc phải cộng sinh cùng chú gà con thì mới có thể cảm nhận được cảm giác tồn tại.
Dưới đây, chúng ta hãy chính thức bước vào nội dung của chương này.
Bình luận