Logic hồ dán trong mối quan hệ gia đình
Logic hồ dán trong mối quan hệ gia đình
Dân gian có câu “thanh quan khó xử việc nhà” (thanh quan nan đoạn gia vụ sự), bạn có tán đồng không? Nếu bạn tán đồng, tôi cho rằng điều đó đồng nghĩa với việc gia đình và gia tộc của bạn đang ở trong trạng thái cộng sinh hỗn độn. Còn về thứ logic hồ dán dưới trạng thái cộng sinh hỗn độn này, tôi muốn bắt đầu kể từ một câu chuyện.
Trong số các thân chủ của tôi có một cô gái, một ngày nọ, cô nghe tin bạn trai cũ đính hôn. Vừa nghe tin này, cô có chút buồn bã. Thế nhưng, khi nhìn thấy một bức ảnh chụp tại lễ đính hôn trên vòng bạn bè (WeChat Moments), cô bỗng thấy mình đã có thể chúc phúc cho bạn trai cũ và cô gái kia rồi.
Nhìn như vậy, trông cô ấy rất lương thiện, phải không? Nhưng sau khi trò chuyện sâu hơn cùng cô, tôi mới nhận ra cô kỳ thực là đang chúc phúc cho chính mình. Chuẩn xác mà nói, cô đang thầm may mắn vì người đính hôn kia không phải là mình, bởi bức ảnh nhìn thấy trên vòng bạn bè ấy đã khiến cô có đôi phần sợ hãi.
Sợ hãi điều gì ư? Từ bức ảnh có thể thấy, những người thân quan trọng của cả hai bên gia đình đều tham dự lễ đính hôn, điều này khiến cô cảm thấy: Từ nay về sau, chẳng còn việc gì là chuyện riêng của hai người trẻ tuổi nữa. Tất cả những quyết sách trọng đại của họ, như kết hôn, sinh con và mua nhà, đều cần phải có được sự đồng thuận nhất trí của thân nhân hai họ, đặc biệt là cha mẹ đôi bên thì mới xong, bằng không sẽ chẳng thể nào có được ngày tháng yên ổn.
Sở dĩ cô nghĩ như vậy là bởi vì chính gia đình cô cũng y hệt như thế. Chuyện của cha mẹ cô trước nay chưa từng là chuyện riêng của gia đình hạt nhân nhỏ bé gồm cha mẹ và cô, mà cả hai bên gia tộc đều sẽ nhảy vào can dự. Cho dù chỉ là mâu thuẫn cỏn con, hai bên cũng rất dễ làm ầm ĩ đến mức long trời lở đất. Ngay cả những lúc hòa thuận êm ấm, mối quan hệ giữa đôi bên cũng tựa như một nồi cháo đặc quánh chẳng thể nào khuấy tan.
Sống trong một gia đình như vậy, cô rút ra được hai kết luận: Thứ nhất, bà ngoại muốn kiểm soát mọi người tiếp xúc với bà; thứ hai, bà nội còn đi xa hơn bà ngoại một bước, không chỉ muốn kiểm soát mọi người trực tiếp tiếp xúc với bà, mà còn muốn kiểm soát từng mối quan hệ — người khác đối đãi qua lại với nhau ra sao, bà nội cũng muốn can thiệp.
Trên thực tế, điều mà cô gái này sợ hãi chính là thứ logic hồ dán rất dễ bắt gặp trong các gia đình. Dựa trên kinh nghiệm nhiều năm làm tư vấn tâm lý, tôi đã đúc kết ra sáu điều logic hồ dán.
Logic hồ dán thứ nhất: Việc của tôi cũng là việc của bạn, việc của bạn cũng là việc của tôi; việc của tôi là việc của tất cả mọi người, việc của tất cả mọi người đều là việc của tôi.
Giả sử bạn là A, trong nhà còn có bốn người B, C, D, E; chiếu theo logic hồ dán này, bạn sẽ đi can thiệp vào chuyện của bốn người B, C, D, E; và ngược lại, họ cũng sẽ bận lòng can dự vào chuyện của bạn.
Bạn biết sâu sắc việc thay đổi chính mình gian nan đến nhường nào, nhưng bạn lại ôm giữ một ý nghĩ: Thay đổi người khác sẽ rất dễ dàng. Thế là, bạn có động lực cực kỳ to lớn trong việc bận tâm lo nghĩ cho người khác và muốn đối phương phải thay đổi.
Logic hồ dán thứ hai: Mọi mối quan hệ đều là việc của tôi.
Loại logic này khiến mọi chuyện trở nên phức tạp hơn bao giờ hết. Vốn dĩ bạn có thể có một cách sống giản đơn, có thể chỉ cần xử lý những mối quan hệ trực tiếp liên quan đến bạn — AB, AC, AD và AE; còn mối quan hệ giữa B, C, D, E với nhau, bạn hoàn toàn có thể cố gắng không can dự. Nhưng chiếu theo logic này, B, C, D, E đối xử qua lại với nhau ra sao cũng là việc của bạn, mà bạn qua lại với ai như thế nào cũng là việc của tất cả mọi người.
Nếu ôm giữ logic hồ dán này, con người ta sẽ không còn cảm giác về sự riêng tư, và tất yếu sẽ sa chân vào chốn thị phi khẩu thiệt, bởi bạn sẽ hy vọng tất cả mọi người đều nhìn thấy bạn tốt đẹp trong mọi mối quan hệ; cái tốt của bạn, nỗi oan khuất của bạn, người khác đều nên biết và đều phải lên tiếng nói đỡ cho bạn.
Lấy trải nghiệm của chính bản thân tôi làm ví dụ. Quê tôi ở Hà Bắc, mỗi lần về quê, tôi có thói quen ngồi trò chuyện chuyện nhà chuyện làng với người trong thôn. Nhưng dần dà, tôi phát hiện ra mọi người ai nấy đều chỉ bàn tán về một chuyện: “Tôi đối đãi với B tốt như thế, vậy mà B đối với C lại còn tốt hơn đối với tôi, anh xem thế có đúng không cơ chứ?” Sau khi hiểu rõ điều này, tôi bắt đầu lảng tránh những cuộc trò chuyện kiểu ấy.
Thứ logic hồ dán này chính là mấu chốt khiến các mối quan hệ gia đình luôn biến thành một mớ bòng bong bầy hầy, ai muốn ôm đồm quản chuyện thì người đó sẽ mệt đến kiệt sức. Mà cái người sốt sắng muốn quản việc nhất ấy, thường lại chính là nguồn cơn của mọi xung đột, bởi người đó đã nhảy vào quấy đục tất cả các mối quan hệ, tạo ra vô vàn vấn đề rắc rối.
Logic hồ dán thứ ba: Các người = Bạn, Chúng tôi = Tôi.
Theo thứ logic này, bất kỳ ai bên nhà bạn khiến tôi phật ý, bạn đều phải chịu trách nhiệm; bạn làm tôi bực bội, tôi sẽ tìm cả nhà bạn để gây chuyện. Chẳng hạn, con dâu xảy ra xung đột với mẹ chồng thì trút giận lên đầu chồng; chồng mâu thuẫn với vợ thì liền đi mách cha mẹ. Dưới sự chi phối của logic này, người ta luôn luôn đi “mách tội”, mức độ phức tạp của sự việc do đó mà rất dễ leo thang.
Sở dĩ có kiểu tư duy thô thiển đơn tuyến này, thực chất là vì chưa phân hóa rạch ròi giữa “Tôi” và “Bạn”, càng chưa phân hóa nổi giữa “Tôi” với “Chúng tôi”, giữa “Bạn” với “Các người”.
Tôi quen một vị thẩm phán, ông từng bảo với tôi rằng, ông cho rằng có tới chín phần mười các vụ ly hôn đều là do cha mẹ bức bách ép buộc. Tôi cũng biết rất nhiều vụ ly hôn mà căn nguyên đều là do các bậc cha mẹ thích gây chuyện không hề coi gia đình của đôi trẻ là một gia đình độc lập, mà vẫn xem bản thân cùng đứa con là “Chúng tôi”, còn bạn đời của con cùng cha mẹ bên kia là “Các người”.
Ví như, tôi có một thân chủ nam giới, khi nhen nhóm ý định ly hôn vợ, anh rơi vào nỗi lo âu vô cùng mãnh liệt. Anh kể với tôi rằng anh và vợ cùng là người một vùng, gia tộc hai bên ở địa phương đều có thế lực và tiếng nói, nhìn chung quan hệ hai nhà cũng khá tốt. Hơn nữa, nơi quê hương họ rất coi trọng truyền thống, nếu hai người ly hôn, e là sẽ khiến hai gia tộc trở mặt thành thù, thậm chí đi tới bước tuyệt giao cạch mặt. Kỳ thực, đây chính là việc không thể xử lý chuyện giữa “Tôi” và “Bạn”, mà bắt buộc phải nghĩ đến cái “Chúng tôi” và “Các người” do gia tộc đôi bên cấu thành trước tiên.
Logic hồ dán này sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến hạnh phúc của gia đình hạt nhân. Gia đình hạt nhân còn gọi là gia đình tái sinh (family of procreation), là một khái niệm mang tính đối ứng với gia đình nguyên sinh (family of origin), chỉ gia đình được thành lập sau khi chúng ta trưởng thành; gia đình nguyên sinh sẽ ảnh hưởng hoặc quyết định cục diện của gia đình hạt nhân.
Có quá nhiều gia đình, dẫu hai người đã kết hôn, nhưng người trẻ tuổi vẫn xem “Tôi” là một thành viên của gia đình nguyên sinh, xem tôi cùng gia đình nguyên sinh là “Chúng tôi”, còn bạn đời lại là người ngoài nằm ngoài cái “Chúng tôi” ấy. Chẳng hạn, vợ chồng cãi nhau vì chuyện gia đình, cho dù người nhà làm sai thật, vẫn thường có người đứng ra biện hộ kiểu này: “Họ là người nhà của tôi cơ mà!” Ý tứ ở đây chính là: họ cùng với tôi hợp thành “Chúng tôi”, chúng tôi là một thể thống nhất, còn những kẻ khác thảy đều là “Các người”. Sự biện hộ như vậy chính là đã đẩy bạn đời sang bờ chiến tuyến đối lập.
Thế nhưng, ở điểm này lại có sự khác biệt về giới tính — đàn ông dễ xem mẹ và người nhà là người mình, xem vợ là người ngoài; còn dưới ảnh hưởng của văn hóa truyền thống, phụ nữ không có nhà mẹ đẻ để lui về tựa nương, nên sau khi kết hôn rất khó tiếp tục duy trì cảm nhận “Chúng tôi” với gia đình nguyên sinh của mình, mãi cho đến khi sinh con đẻ cái, họ mới có thể cùng đứa con cấu thành nên một cái “Chúng tôi”.
Logic hồ dán thứ tư: Quy kết mọi vấn đề trong mối quan hệ nhị nguyên cho đối phương, tức là “Bạn”.
Dưới sự chi phối của logic này, hình thức phổ biến nhất chính là: Tôi sống không tốt là tại vì “Bạn”. Ví dụ, quá nhiều người khi ly hôn sẽ đổ lỗi rằng đối phương không đủ tốt, không mang lại cho mình cuộc sống hay hạnh phúc như mong muốn. Thực tế, theo sự tìm hiểu của tôi, đây thường chỉ là sự quy kết, đổ lỗi mà thôi. Rất nhiều khi, dẫu có đổi sang một người bạn đời hoàn hảo trong mộng, họ cũng chẳng thể nào cảm nhận được hạnh phúc và sự thỏa mãn.
Logic hồ dán thứ năm: Quy kết vấn đề trong mối quan hệ nhị nguyên cho “Kẻ đó” (người thứ ba).
Logic này rất dễ hiểu, tức là giữa A và B nảy sinh vấn đề, nhưng lại đổ riệt lên đầu C. Đây là nhằm bảo vệ bản thân và khách thể quan trọng, thế là đem mọi vấn đề trong mối quan hệ giữa “Tôi” và “Bạn” quy kết hết cho “Kẻ đó” — người thứ ba.
Tình huống này rất phổ biến trong các mối quan hệ tay ba. Chẳng hạn, chúng ta thường thấy khi người phụ nữ phát hiện chồng ngoại tình, điều đầu tiên họ nghĩ tới không phải là công kích người chồng, mà là trút hết cơn lôi đình thịnh nộ lên kẻ thứ ba chen chân vào mối quan hệ của họ.
Logic hồ dán thứ sáu: Giao tiếp vòng vo (giao tiếp đi đường vòng).
A bất mãn với B, không trực tiếp nói với B, mà lại nói cho C nghe để C truyền đạt lại cho B.
Học giả Đại học Bắc Kinh Ngô Phi (Wu Fei) trong tác phẩm xã hội học kinh điển Phù sinh thủ nghĩa từng viết về nhiều câu chuyện tương tự, trong đó có một mẩu chuyện thế này: Một người cha muốn con trai sửa sang nhà cửa cho mình, nhưng ông không nói thẳng với con, mà lại ngồi trước mặt một người khác buông lời trách cứ đứa con không chịu sửa nhà cho cha. Ông muốn thông qua cách thức này để người kia đến nói với đứa con rằng: Bố cậu muốn cậu sửa nhà cho ông ấy đấy. Nhưng người con trai lại vô cùng chán ghét cách hành xử này của cha nên phớt lờ không bận tâm, kết quả là người cha liền làm ầm ĩ đòi tự sát.
Ngô Phi thích dùng thuật ngữ “vốn đạo đức” (moral capital) để giải thích hiện tượng này, mang hàm ý rằng: Nếu người cha chủ động mở lời bảo đứa con hy vọng con sửa nhà cho mình, thì điều đó sẽ làm tiêu hao vốn đạo đức của bản thân, khiến ông đánh mất đi đôi phần cảm giác ưu việt về mặt đạo đức trong mối quan hệ với đứa con.
Nhìn từ góc độ tâm lý học, nguyên nhân chủ yếu khiến người cha hành xử như vậy gồm có ba điểm:
1. Việc bày tỏ khát khao hoặc nỗi bất mãn trong mối quan hệ nhị nguyên mang trương lực quá lớn, hơn nữa những người có nhân cách chưa trưởng thành thường muốn biểu đạt những suy nghĩ và yêu cầu có phần phi thực tế.
2. Nếu tôi trực tiếp tìm bạn để nói chuyện, tôi rất dễ nảy sinh cảm giác bất tài vô năng và nỗi hổ thẹn.
3. Nếu không phải do tôi trực tiếp nói cho bạn biết, tôi sẽ không cần phải chịu trách nhiệm về chuyện này, vậy nên bất kể bạn cự tuyệt hay nhận lời, trải nghiệm cảm xúc của tôi cũng đều sẽ nhẹ đi rất nhiều.
Trên đây là những đúc kết chưa đầy đủ của tôi về thứ logic hồ dán thường gặp trong các mối quan hệ gia đình. Trên thực tế, ngoài những điều này ra, logic hồ dán giữa những người thân trong nhà chắc chắn vẫn còn rất nhiều.
Nhìn một cách tổng thể, những logic hồ dán này có một tác dụng: Dời điểm hội tụ chú ý ra khỏi cá thể, cũng không quy tụ vào mối quan hệ nhị nguyên giữa Tôi và Bạn, mà đan dệt sự việc vào trong các mối quan hệ chằng chịt, khiến mọi chuyện ngày càng trở nên phức tạp, đến mức thực sự rơi vào trạng thái “thanh quan khó xử việc nhà”. Thế nhưng, khi chúng ta hoàn nguyên tiêu điểm về mối quan hệ nhị nguyên, thậm chí hội tụ vào chính cá thể, bạn sẽ nhận ra rằng, mọi sự sẽ trở nên sáng rõ và giản đơn hơn rất nhiều.
Câu hỏi suy ngẫm:
Theo quan sát của bạn, giữa những người thân trong gia đình còn có những loại logic hồ dán nào nữa? Khi đối diện với những tình huống ấy, bạn đã xử lý ra sao?
Triết lý hồ đồ trong mối quan hệ xã hội
Trong gia đình, người ta thường thể hiện ra thứ logic hồ dán; còn ở ngoài xã hội, chúng ta cũng thường bắt gặp những người ôm giữ thứ logic tương tự, và đó chính là triết lý hồ đồ mà tiết mục này muốn bàn tới.
Trong những mối quan hệ gia đình dính quánh và những mối quan hệ xã hội phức tạp, triết lý hồ đồ dường như đã trở thành một đạo sinh tồn. Thế nhưng, trong một xã hội đương đại coi trọng pháp chế và khế ước, triết lý hồ đồ lại tạo ra sức tàn phá khổng lồ. Về điểm này, trước tiên chúng ta hãy nhìn vào một kiểu sự việc: Người già ngã sõng soài trên mặt đất “ăn vạ” (ngoa trá - đổ vạ) người ra tay nâng đỡ.
Trong tình huống thông thường, khi người già té ngã, người đi đường — đặc biệt là người trẻ tuổi — nên làm gì? Đương nhiên là đến đỡ người già dậy. Song le, nếu ngay sau đó người già kia rất có thể sẽ nói: “Chính anh đã đâm ngã tôi, nếu không thì cớ sao anh lại đỡ tôi?”, bạn sẽ phải làm sao? Bạn có thể vẫn mang lòng dũng khí mà nói rằng: “Tôi chọn đỡ, bởi hệ thống xã hội sẽ trả lại công bằng cho tôi.” Nhưng, giả như khi xử án, do chứng cứ không đầy đủ, hoặc có những thẩm phán xuất phát từ góc độ xem người già là kẻ yếu thế mà cuối cùng phán quyết bạn phải gánh chịu một phần trách nhiệm thích đáng, thì bạn lại phải làm sao đây?
Những vụ việc kiểu này luôn đặc biệt khiến lòng người rét buốt, và cũng cứ năm lần bảy lượt tái diễn. Rất nhiều người cho rằng, chính những vụ việc này đã dẫn tới sự trượt dốc không phanh của đạo đức xã hội. Về sau, hễ có người già té ngã, “không dám đỡ” liền trở thành một thứ tâm thái thường tình. Kỳ thực trong những vụ việc thế này, có hai câu hỏi vô cùng đáng để suy ngẫm: Thứ nhất, vì sao người già té ngã lại lấy oán báo ân? Thứ hai, vì sao những người già ấy lại có thể đắc thủ (toại nguyện), và xưa nay chưa từng phải chịu sự trừng phạt của pháp luật?
Tâm lý tìm một người để trách tội
Trước hết hãy xem xét câu hỏi đầu tiên: Vì sao người già té ngã lại lấy oán báo ân? Về điều này, một cách nói phổ biến lưu truyền là: Không phải người già biến thành kẻ xấu, mà là kẻ xấu đã già đi, cho rằng những cụ già này thời trẻ vốn dĩ đã là những “kẻ xấu” có tố dưỡng đạo đức kém cỏi; lại có một cách nói thường thấy khác là: các cụ già làm vậy là vì tiền.
Cá nhân tôi cảm thấy cả hai cách giải thích này đều thiếu sức thuyết phục, bởi trong không ít vụ án, những cụ già “đổ vạ” người nâng đỡ thực chất chẳng hề thiếu tiền. Ngoài ra, tôi nhớ có hai vụ án mà chính cảnh sát là người cứu giúp cụ già té ngã, hơn nữa cả hai cụ lúc đó đều đã ngất lịm đi, thế nhưng khoảnh khắc đầu tiên sau khi tỉnh lại, họ đều theo bản năng túm chặt lấy cảnh sát mà chất vấn: “Sao anh lại đâm vào tôi?” Trong hai vụ án đó, may thay đều có video ghi hình chứng minh là cụ già tự mình vấp ngã.
Sau khi lưu tâm theo dõi những vụ việc như vậy, cuối cùng tôi đã rút ra kết luận của riêng mình: Sở dĩ những cụ già này lấy oán báo ân, là bởi vì mức độ phát triển tâm lý của họ tương đối thấp kém, không thể tiếp nhận nổi sự thật rằng “Tôi đã già rồi, tôi không còn khống chế tốt thân thể của mình nữa”. Cho nên, một khi việc té ngã không phải do vấn đề của cá nhân “Tôi” gây ra, thì ắt hẳn phải có một thứ ngoại lực nào đó đã đánh gục tôi.
Phía trước đã nói, những người chưa hình thành bản ngã có năng lực quản lý áp lực và cảm xúc vô cùng kém cỏi. Một chuyện xử lý không xong, họ liền cho rằng cái “Tôi” trong sự việc ấy đã bị giết chết. Cảm giác này vô cùng tồi tệ, thế nên cách tốt nhất là giải tỏa nỗi lo âu về cái chết này ra ngoài, chẳng hạn như tìm lấy một người để trách tội.
Tìm một người để trách tội là một hiện tượng hết sức phổ biến, không chỉ xuất hiện trong những vụ việc người già té ngã.
Chẳng hạn, trong nhà bị thiếu hụt chút tiền bạc, cha mẹ hoặc người già thường hay nghi ngờ là con trẻ lấy trộm, thế là đánh mắng đứa trẻ một trận tơi bời, nhưng sau đó mới phát hiện ra là chính mình đã cất tiền ở một nơi khác.
Lại ví như, lúc hiện tượng “y náo” (gây rối bệnh viện / làm loạn ngành y) mới manh nha xuất hiện, các kênh truyền thông chính thống và dư luận xã hội — bao gồm cả bản thân tôi — rất dễ đứng về phía bệnh nhân để trách tội bệnh viện và bác sĩ, thế nhưng sự việc lại năm lần bảy lượt đảo chiều. Chỉ đến khi chân tướng lộ diện, dư luận mới dần chuyển sang đứng về phía thấu hiểu và cảm thông cho bác sĩ.
Lại ví như, hiện nay một số trường tiểu học và trung học cơ sở đã không còn dám mở các tiết học thể dục nữa; một trường tiểu học trọng điểm ở Quảng Châu thậm chí còn dứt khoát hủy bỏ bài thể dục giữa giờ, chuyển sang cho các em tập thể dục ngón tay. Sở dĩ xuất hiện tình trạng này, một phần nguyên nhân đến từ áp lực của hệ thống giáo dục ứng thí (thi cử), nhưng còn có một nguyên nhân hiển nhiên và hệ trọng khác: đó là một khi đứa trẻ xảy ra tai nạn ngoài ý muốn tại trường học — chẳng hạn như bị thương trong giờ thể dục — phụ huynh sẽ rất dễ làm một trận ầm ĩ dữ dội, và điều này rốt cuộc thường bắt nhà trường cùng giáo viên phải trả một cái giá nào đó. Trong số các thân chủ của tôi có không ít giáo viên tiểu học và trung học, trong đó có hai người từng phải trả giá vì những vụ việc tương tự, và điều đó khiến họ sợ hãi việc dẫn dắt học sinh tham gia bất kỳ hoạt động thể chất nào.
Đọc tới đây, có thể bạn sẽ tự hỏi: Tại sao những người này lại cứ phải làm ầm ĩ lên? Tại sao bắt buộc phải tìm một người hoặc một cơ quan tổ chức nào đó để trách tội? Dưới đây, tôi xin nêu ra một ví dụ để diễn giải tường tận hơn.
Tôi có một người bạn thân. Nhiều năm trước, mỗi khi trong nhà xảy ra chuyện “bất trắc ngoài ý muốn” — chẳng hạn như không tìm thấy một chiếc áo, hoặc vị trí kê đặt đồ đạc trong nhà có sự dịch chuyển — cô ấy liền tốn rất nhiều công sức vào đó, nhất quyết phải tìm ra một câu trả lời, bắt buộc phải xác định cho bằng được những “bất trắc” ấy rốt cuộc đã xảy ra như thế nào.
Sau khi trò chuyện sâu với cô ấy, tôi phát hiện ra trong thâm tâm cô có một logic tiềm ẩn: Mọi bất trắc đều là mất khống chế; một khi sự việc không phải do tôi làm, thì tất yếu phải có một thế lực nào đó bên ngoài tôi làm. Nhưng tôi lại sống một mình, nếu những việc này là do kẻ trộm, hay thậm chí là ma quỷ làm ra, thì kết luận ấy quả thực quá đỗi kinh hoàng.
Trên thực tế, mỗi lần cái gọi là “bất trắc” ấy đều chẳng phải là bất trắc thật sự, mà chỉ là do cô đã quên khuấy đi những việc đó — chẳng hạn như tiện tay quẳng chiếc áo vào một góc nào đó, hoặc vô tình xê dịch đồ đạc trong nhà, vân vân.
Tôi phán đoán rằng, một người như cô ấy thì bên cạnh bắt buộc phải có người ở cùng. Làm như vậy, cô không chỉ có được sự ấm áp và cảm giác an toàn do sự kề cận của người khác mang lại, mà khi xảy ra cái gọi là “bất trắc”, cô còn có thể ngay lập tức quy tội cho người này, nhờ đó mà chẳng cần phải lo âu về cảm giác bị bức hại mơ hồ kia nữa.
Logic này đã bám riết lấy người bạn thân của tôi suốt bao năm ròng, mãi cho tới vài năm gần đây, cô mới có được sự biến chuyển mang tính căn bản, không còn lo âu thảng thốt như trước nữa. Đó là bởi cô đã thiết lập được những mối quan hệ rất tốt đẹp, và bản ngã của cô cũng đã dần dần thành hình.
Sự nảy sinh của triết lý hồ đồ
Từ những nội dung trên có thể thấy, việc có được một người để trách tội quan trọng biết nhường nào. Bằng không, những kẻ dễ làm loạn này sẽ chẳng thể dừng lại được, mà sẽ càng quấy đảo dữ dội hơn. Điều này cũng có thể giải thích cho câu hỏi thứ hai: Vì sao những cụ già này lại có thể đắc thủ, và xưa nay chưa từng phải chịu sự trừng phạt của pháp luật? Nói cách khác, tại sao lại xuất hiện thứ triết lý hồ đồ trong xử thế này? Căn nguyên sâu xa nằm ở chỗ: Những kẻ này một khi đã quấy rối thì vô cùng cố chấp, chi bằng cứ để cho họ bám riết lấy một người hoặc một cơ quan tổ chức nào đó cho xong chuyện.
Bản thân tôi từng vì gặp phải chuyện tương tự mà báo án. Đến đồn cảnh sát, viên cảnh sát nói với tôi rằng: Anh đừng tưởng chỉ có mỗi anh là chẳng dễ dàng gì, anh chẳng qua chỉ là chạm trán một kẻ như vậy mà thôi; còn phần lớn thời gian của chúng tôi đều bị tiêu hao vào những kẻ thích gây chuyện làm loạn thế này đấy.
“Kẻ này khó chơi quá, chi bằng cứ để hắn quấn lấy một người khác đi cho rồi” — thứ triết lý hồ đồ này kỳ thực rất đỗi phổ biến. Chẳng hạn, tôi từng thuê một cô giúp việc theo giờ, chồng cũ của cô là một kẻ “hoang tưởng thiên chấp” (paranoia - thiên chấp cuồng) nặng nề. Vì người chồng cũ ngoại tình và bạo lực gia đình nghiêm trọng nên họ đã ly hôn. Sau khi ly hôn, người chồng cũ sống không như ý, thế là quay sang làm loạn với cô, thậm chí quấy rối, đe dọa người nhà của cô. Kết quả là người thân trong gia đình cô đua nhau khuyên can: “Con xem, con tuổi tác cũng chẳng còn nhỏ nữa, lại cùng nó sinh mấy mặt con rồi, con đâu thể đi bước nữa được, chi bằng tái hợp với nó đi.” Về sau, gã chồng cũ rốt cuộc cũng không quấy phá nữa; hỏi ra mới hay, thì ra là gã đã có bạn gái mới.
Cách làm của gia đình người giúp việc theo giờ này chính là kiểu “hòa bùn loãng” (hòa hi nê), không màng thị phi đúng sai, không tôn trọng sự thật và logic, mà chỉ mưu cầu “tàm tạm là được rồi”.
Tôi cho rằng, triết lý hồ đồ có tính hợp lý nhất định của nó. Khi trong một xã hội có quá nhiều kẻ thích quấy rối làm càn, mà họ một khi đã làm loạn thì lại quá đỗi dữ dội, vậy thì chẳng thà để cho họ dính chặt lấy một con người hoặc một cơ quan tổ chức nào đó. Cách này tuy bất công, nhưng hữu dụng.
Nếu cứ theo logic này mà suy diễn tiếp, sự việc sẽ đi tới mức độ vô cùng nghiêm trọng. Trong khoảng hai năm trở lại đây, có một vài vụ án phòng vệ chính đáng từng trở thành đề tài tâm điểm nóng bỏng của xã hội. Trong những vụ án ấy, hung thủ dùng thủ đoạn tàn độc để hành hung, nạn nhân phản kháng dẫn tới kẻ thủ ác trọng thương, thậm chí tử vong. Thế nhưng trước khi chân tướng sự việc ngã ngũ, thoạt tiên dư luận xã hội đều nhao nhao cho rằng đó là phòng vệ quá giới hạn.
Có một số liệu thống kê cho thấy, trong hơn 4 triệu bản án hình sự được thu thập trên Trang mạng Văn bản Phán quyết của Tòa án Nhân dân Tối cao, có 12.346 vụ án hình sự áp dụng chiến lược biện hộ phòng vệ chính đáng, nhưng cuối cùng chỉ có vỏn vẹn 16 vụ được công nhận là phòng vệ chính đáng. Theo góc nhìn của tôi, logic đằng sau những sự việc này có thể ví như “mỗi bên đánh năm mươi trượng” (các đả ngũ thập đại bản), bất kể anh là kẻ tấn công hay người phản kích, cứ phạt cả đôi bên trước rồi tính sau.
Nhưng bạn thử nghĩ mà xem, khi bản thân chúng ta sắm vai trọng tài phân xử, chẳng phải chúng ta cũng rất dễ sử dụng thứ logic tương tự hay sao? Chẳng hạn, khi trong chính gia đình bạn có người làm ầm ĩ dữ dội, bạn sẽ công khai vạch rõ một người nào đó có vấn đề, hay là sẽ tìm cách “hòa bùn loãng”? Lại ví như, hai đứa trẻ nhà bạn đánh nhau, có phải bạn cũng thường hay nói: “Bất kể đứa nào đúng đứa nào sai, cứ động tay động chân là đều sai hết”? Hay như khi đứng trước nhiều tin tức xã hội nóng hổi, có phải bạn cũng thường buông câu: “Một bàn tay vỗ chẳng nên kêu”?
Có thể nói, ẩn sâu trong tất cả những sự việc này là một thứ logic chung: Chúng ta rất khó lòng chỉ xử lý thuần túy một cá thể, cho nên luôn muốn biến mọi chuyện trở nên phức tạp, lôi kéo cá thể này với một người khác, thậm chí là nhiều người khác dính chùm vào nhau — giống như thể một người không thể tự chịu trách nhiệm cho hành vi của chính mình, mà bắt buộc phải kéo thêm một kẻ đệm lưng (chịu trận cùng) mới cam lòng.
Câu hỏi suy ngẫm:
Bạn nhìn nhận thế nào về tâm lý trách tội, đổ lỗi cho người khác này? Nếu để bạn làm trọng tài phân xử, bạn cho rằng phương thức tư duy ra sao mới có thể tránh được phán quyết hồ đồ kiểu “mỗi bên đánh năm mươi trượng”?
Tư duy dính quánh khiến bạn dính liền cùng người khác
Hai tiết mục phía trước lần lượt bàn về logic hồ dán và triết lý hồ đồ thường gặp trong các mối quan hệ gia đình và xã hội; ở tiết này, chúng ta đổi sang một góc nhìn khác để xem tại sao lại xuất hiện hiện tượng ấy.
Muốn nói rõ được điểm này, bắt buộc phải quay trở về trên thân của từng cá thể. Kỳ thực, tuyệt đại đa số con người đều tồn tại một phương thức tư duy sai lệch, tôi gọi đó là tư duy dính quánh (niêm trù tư duy). Chính bởi phương thức tư duy này mà chúng ta khi xử lý đủ loại mối quan hệ mới rơi vào cảnh "càng gỡ càng rối, chẳng thể phân minh".
Sự dính bết giữa người với người
Hồi mới làm tư vấn tâm lý chưa được bao lâu, tôi từng tiếp nhận một ca khiến tôi vô cùng ấn tượng. Vị thân chủ đó là một cô gái mang khuynh hướng hoàn mỹ chủ nghĩa, cô kể rằng trong tâm trí mình thường hay hiện lên một hình ảnh biểu tượng (ý tượng) — một nàng công chúa tạc bằng pha lê, trong suốt không tì vết, chẳng vướng chút tạp chất nào. Cô biết rõ, đó chính là hình ảnh bản ngã (tự ngã ý tượng) của mình.
Về sau, trong quá trình tư vấn tôi từng gặp qua rất nhiều “nàng công chúa pha lê” như vậy, trông họ sạch sẽ tinh khôi đến cực điểm. Đây là một nét đẹp rất dễ làm lay động lòng dạ đàn ông, mà phụ nữ cũng dễ sinh lòng thương xót nâng niu. Thế nhưng, nhìn từ một mặt khác, điều này cũng tiềm ẩn vấn đề. Rốt cuộc, muốn trong suốt không tì vết đến mức ấy thì phải gột sạch mọi tạp chất bên trong pha lê. Nhưng những tạp chất đó là gì? Tôi cho rằng đó chính là những dục vọng đủ loại của “Tôi”, cùng với những cảm xúc tiêu cực vốn rất dễ bị chúng ta cảm nhận thành màu đen tối. Thế nhưng, con người đâu thể không có dục vọng và cảm xúc tiêu cực. Vì vậy, khi một cô gái cảm thấy mình là nàng công chúa pha lê, điều đó đồng nghĩa với việc cô đang vô cùng đè nén, những tạp chất ấy thảy đều bị ức chế dồn nén xuống tầng tiềm thức.
Kỳ thực, không chỉ riêng nữ giới, nam giới cũng có hình ảnh bản ngã tương tự, chẳng hạn như tôi. Có một lần, khi tìm đến nhà phân tâm học của mình để làm phân tích, trong tâm trí tôi đã nảy sinh một ý tượng thế này: Tôi nằm trên giường bệnh, lồng ngực và ổ bụng đều bị mổ phanh ra, bên cạnh có một bác sĩ mặc áo blouse trắng đang đứng. Tôi kể lại ý tượng này cho nhà phân tích nghe, ông giải thích rằng: “Có lẽ trải nghiệm của anh là cảm thấy sự phân tích của tôi đối với anh quá đỗi vô tình, giống như bác sĩ đang giải phẫu anh vậy.”
Tôi cảm nhận lại một chút, thấy lời giải thích này vẫn chưa đủ “đượm vị”, bởi sự phân tích ấy không hề khiến tôi thấy đau đớn, mà ngược lại khiến tôi cảm thấy thản nhiên đến tột cùng. Về sau tự tôi mới phân tích sáng tỏ: Trong ý tượng ấy, không phải người khác mổ phanh tôi ra, mà chính là tôi tự mổ phanh bản thân mình; sự thản nhiên trong đó tựa như đang muốn nói rằng: “Xin hãy nhìn xem, tôi chẳng có chút tâm địa mờ ám quanh co nào cả.” Mà cái tâm địa quanh co (hoa hoa tràng tử) ấy, chính là những dục vọng và cảm xúc tiêu cực đủ loại của tôi.
Ảo tưởng trong suốt
“Ảo tưởng trong suốt” (thấu minh huyễn giác — Transparent Illusion) là một thuật ngữ do tôi đưa ra, chỉ trạng thái: bạn không cần nói, tôi cũng biết rõ bạn ra sao; tôi không cần nói, bạn cũng thấu suốt tôi thế nào; giữa đôi bên chúng ta hoàn toàn trong suốt, căn bản chẳng cần đến giao tiếp, chỉ liếc nhìn một cái là lập tức tỏ tường về nhau.
Đọc tới đây, có thể bạn sẽ nhanh chóng liên tưởng tới một logic thường thấy ở những phụ nữ đang yêu: Nếu anh yêu em, dẫu em không nói thì anh cũng phải hiểu tâm tư của em. Phụ nữ ôm giữ thứ logic này rất dễ cự tuyệt giao tiếp, bởi họ cảm thấy làm vậy là không cần thiết.
Rất nhiều khi, căn nguyên sinh ra tư duy dính quánh chính là nằm ở một mức độ ảo tưởng trong suốt nhất định.
Trong quá trình tư vấn, tôi thường gặp rất nhiều thân chủ vô cùng căng thẳng. Tôi hỏi họ cớ sao lại căng thẳng đến thế, họ bèn bảo: Thầy là một chuyên gia tư vấn lợi hại như vậy, chắc chắn chỉ liếc mắt một cái là biết tỏng tôi đang nghĩ gì; thế nhưng sâu thẳm trong lòng tôi lại có quá nhiều bí mật chẳng dám cho ai hay, sợ thầy nhìn thấu nên tôi mới thắc thỏm bất an. Những bí mật chẳng dám cho ai hay ấy, cũng chính là tạp chất.
Gặp phải những thân chủ như vậy, ngay từ đầu tôi sẽ giải thích rành rọt rằng: Tôi căn bản không tài nào chỉ nhìn một cái là biết ngay bạn đang nghĩ gì. Có đôi khi tôi sẽ nảy sinh đủ loại cảm giác, rồi căn cứ vào những cảm giác ấy mà suy luận xem bạn có thể đang gặp phải chuyện gì, nhưng đó cũng chỉ là suy luận mà thôi. Bạn mới chính là bậc quyền uy để giải thích về chính bản thân bạn; con đường đáng tin cậy duy nhất để tôi hiểu được bạn, chính là sự giãi bày của bạn. Bạn không rộng mở bản thân với tôi, tôi sẽ chẳng thể nào thấu hiểu được bạn.
Những thân chủ không mắc ảo tưởng trong suốt quá nặng sẽ lập tức tiếp nhận lời giải thích này và thở phào nhẹ nhõm. Còn những thân chủ mắc nặng cũng sẽ thở phào, nhưng đồng thời lại cảm thấy thất vọng về tôi, bởi họ ôm mối kỳ vọng rằng tôi có thể nhìn thấu tâm can họ chỉ qua một ánh nhìn. Cùng với sự tiến triển của quá trình tư vấn, nỗi khát khao và ảo tưởng này của họ sẽ còn được gợi lại nhiều lần.
Điều này là cực kỳ hệ trọng, chuyên gia tư vấn cần phải giải thích và làm sáng tỏ điểm này với thân chủ vào thời điểm thích hợp, bởi ảo tưởng trong suốt là câu chuyện hai chiều. Khi họ cho rằng chuyên gia tư vấn sở hữu năng lực ấy, điều đó cũng đồng nghĩa với việc họ nghĩ bản thân mình cũng có năng lực đó — chẳng cần chuyện trò giao tiếp cũng biết tỏng chuyên gia tư vấn đang nghĩ gì.
Năng lực kiểm định thực tế (Reality Testing) là chỉ năng lực phân biệt rõ ràng giữa hoạt động tâm lý chủ quan với hiện thực xã hội của một con người. Đây là tiêu chuẩn trọng yếu để phân biệt giữa người bình thường và bệnh nhân mắc chứng rối loạn tâm thần nghiêm trọng.
Chỉ cần suy luận một chút là sẽ thấy, nếu một người ôm giữ ảo tưởng này, người đó sẽ giảm thiểu giao tiếp với người khác một cách đáng kể, từ đó nảy sinh vô số hiểu lầm. Bởi vì đem trí tưởng tượng cô độc của chính mình coi là thông tin chân thực, nên họ sẽ thiếu đi năng lực kiểm định thực tế căn bản. Khi điểm này trở nên đặc biệt nghiêm trọng, nó ngụ ý rằng trạng thái này rất có thể đã mang tính loạn thần (psychotic), và lúc đó sẽ không còn là thứ mà tư vấn tâm lý đơn thuần có thể giải quyết được nữa. Tuy nhiên, theo kinh nghiệm của tôi, rất nhiều người nhìn bề ngoài có vẻ không gặp vấn đề tâm lý quá nặng nề, nhưng lại có mức độ ảo tưởng trong suốt khá cao — đây là điều hoàn toàn có thể đem ra thảo luận, nhận diện và xử lý.
Vậy thì, ảo tưởng trong suốt nảy sinh như thế nào? Nguyên mẫu của nó chính là sự khao khát tình mẫu tử hoàn mỹ của trẻ sơ sinh. Trẻ sơ sinh chưa biết nói, thế nên người mẹ lý tưởng tất yếu phải là người dẫu con không nói cũng biết tỏng con đang gặp chuyện gì. Thế nhưng, người trưởng thành nếu vẫn ôm giữ thứ logic này thì sẽ rất dễ rơi vào trạng thái thiên chấp, hoang tưởng. Chẳng hạn, chúng ta thường nghe thấy những lời oán thán như: “Sao anh lại có thể không hiểu tôi đang nghĩ gì cơ chứ?”, “Anh là cái thói như thế đấy, tôi còn lạ gì nữa!”... chính là biểu hiện của thứ logic này.
Theo nhận thức của tôi, ảo tưởng trong suốt vô cùng phổ biến trong xã hội. Chúng ta phải có một biện pháp vụng về nhưng hữu hiệu để ứng phó với nó, đó chính là: giao tiếp nhiều hơn. Chúng ta bắt buộc phải giả định rằng để hiểu được một con người là điều tương đối chẳng dễ dàng, mà thấu hiểu chính mình kỳ thực cũng chẳng dễ dàng gì hơn. Trong một mối quan hệ, chỉ có giao tiếp nhiều mới hiểu được đối phương, chỉ có thăm dò nội tâm nhiều mới hiểu được chính mình. Thứ cảm giác trong tích tắc liền biết tỏng nhau ra sao thông thường thảy đều là ảo giác, hoặc họa hoằn lắm mới xảy ra.
Những người mắc ảo tưởng trong suốt đặc biệt nghiêm trọng có thể từ tận bản chất vốn đã bài xích việc giao tiếp, bởi giao tiếp sẽ khiến họ nhìn thấy rằng: Đối với cùng một sự việc, họ có một cách nhận thức, còn người khác lại có một cách nhận thức khác; trong khi họ lại chỉ mong muốn đối với sự việc đó chỉ có độc nhất một nhận thức mà thôi — tức nhận thức của chính họ.
Ví dụ, có một thân chủ luôn cảm thấy việc luôn có thể đạt được nhận thức chung (đồng thuận) với người khác trong một sự việc nào đó là vô cùng tốt đẹp. Nhưng đột nhiên vào một ngày nọ, cô giác ngộ ra rằng: Luôn luôn đạt được đồng thuận đồng nghĩa với việc trong sự việc ấy, nhận thức của một người đã bị bóp chết. Mà nếu cô cứ luôn trông mong một ai đó bên cạnh có thể đạt được đồng thuận với mình, thì điều đó ngụ ý rằng hoặc là người ấy, hoặc là nhận thức của chính cô đã bị triệt tiêu hoàn toàn.
Sự dính bết giữa việc này với việc khác
Những người bị chi phối bởi tư duy dính quánh, ngoài việc thường đem người với người dính chặt vào nhau để nhìn nhận, cũng thường đem việc này với việc khác dính chặt vào nhau. Điều này có thể giải thích vì sao hai vợ chồng cãi nhau có thể bắt đầu từ một chuyện lông gà vỏ tỏi vụn vặt, rồi lật lại cả một đời nợ cũ ân oán; bởi vì mọi sự việc đều bị dính quánh vào nhau, sự việc nhỏ nhặt trong hiện tại căn bản không hề có tính độc lập.
Điều này còn dẫn tới một vấn đề khác — bạn đời không tài nào nhớ nổi cái tốt của bạn, nhưng lại có thể khắc cốt ghi tâm cái xấu của bạn muôn đời muôn kiếp. Không chỉ có vậy, họ còn nhào nặn những cái xấu ấy thành một chỉnh thể, rồi mãi mãi mang theo chỉnh thể ấy để soi xét hiện tại.
Rất nhiều bậc cha mẹ cũng có thứ tư duy dính quánh tương tự. Chẳng hạn, cha mẹ thường bảo với con cái: “Bố là bố con (mẹ là mẹ con), lẽ nào bố mẹ lại hại con hay sao?” — tức cái gọi là “thiên hạ không có cha mẹ nào sai” (thiên hạ vô bất thị chi phụ mẫu). Trong mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái, bất kể cha mẹ làm gì cũng đều không thể sai, kẻ sai vĩnh viễn chỉ có thể là con cái. Đây cũng chính là việc nhào nặn tất cả mọi vấn đề thành một khối chỉnh thể.
Giữa nhân viên và ông chủ cũng sẽ xuất hiện hiện tượng này. Lấy chính bản thân tôi làm ví dụ: Là một người chủ, tôi thường nghe nhân viên nói “tôi đã tận tâm tận lực vì công ty”. Về sau, tôi thực sự phát sợ cách nói này, bởi tôi phát hiện ra ban đầu quả thực họ nghĩ như vậy và làm như vậy, đối với tôi và công ty đều vô cùng để tâm, điều này rất tuyệt vời; nhưng thời gian lâu dần, mặt trái của câu nói này liền lộ rõ — “Một khi tôi đã tận tâm tận lực rồi, thì tôi không thể có vấn đề gì được nữa.”
Triết lý hồ đồ trên thân gia đình, xã hội và cá nhân dẫu nhìn bề ngoài có vẻ khác nhau, nhưng kỳ thực chúng đều phát huy cùng một tác dụng: Khiến chúng ta rất khó lòng hội tụ vào đúng sự việc ở thời khắc hiện tại để bàn việc theo việc (tựu sự luận sự). Trên thực tế, thứ logic này chính là sự biểu hiện của tâm lý cộng sinh thời kỳ đầu sơ sinh. Nhưng điều này lại dẫn tới một câu hỏi: Tại sao lại có nhiều người mãi dừng chân tại tâm lý cộng sinh thời sơ sinh đến như vậy?
Cố kết (Cố Trước - Fixation — 固著 / 固着) là chỉ sự phát triển tâm lý của một người bị ngưng trệ ở một giai đoạn nào đó, người ấy sẽ liên tục tìm kiếm phương thức thỏa mãn của giai đoạn này. Chẳng hạn, nếu một người đặc biệt ham ăn, thì sự phát triển tâm lý của người đó rất có thể đã bị cố kết ở thời kỳ môi miệng (Oral stage).
Khái niệm Phức cảm / Tình kết (Complex — 情結 / 情结) giữ một vị trí vô cùng trọng yếu trong tâm lý học phân tích của Carl Jung. Jung cho rằng, nội dung của vô thức cá nhân chủ yếu là các phức cảm, nhằm chỉ phần nội dung vô thức chịu trách nhiệm tạo ra sự can nhiễu đối với ý thức trong vô thức cá nhân. Nói cách khác, phức cảm là nội dung tự phát mang sắc thái của vô thức cá nhân, thông thường được tạo nên bởi vết thương tâm hồn hoặc nỗi đau đớn kịch liệt. Freud nói “Giấc mơ là con đường hoàng gia dẫn tới tiềm thức”, còn Jung lại nhận định “Phức cảm là con đường hoàng gia dẫn tới vô thức”.
Freud cho rằng, nếu một người ở một giai đoạn phát triển nào đó nhận được quá nhiều sự thỏa mãn hoặc vấp phải sự thiếu thốn trầm trọng, sự phát triển tâm lý của người ấy sẽ bị cố kết (fixation) ở giai đoạn đó, hình thành nên phức cảm (complex).
Freud nhận định con người dừng chân trong tâm lý cộng sinh là bởi ở một giai đoạn nào đó nhận được quá nhiều sự thỏa mãn hoặc chịu sự thiếu thốn trầm trọng; nhưng tôi cho rằng chủ yếu vẫn là vì sự thiếu thốn. Có thể nói, sở dĩ hiện tượng này phổ biến đến vậy, nguyên nhân căn bản chính là do nhu cầu cộng sinh thời sơ sinh của rất nhiều người đã không được thỏa mãn đầy đủ. Nhu cầu cộng sinh, dẫu đặt lên người trưởng thành rất dễ khiến người ta cảm thấy có điều bất thường, nhưng đối với trẻ sơ sinh, nó lại mang giá trị to lớn cùng cực, là nhu cầu chính đáng không thể chính đáng hơn của một sinh linh mới chào đời.
Câu hỏi suy ngẫm:
Nếu để bạn giải quyết vấn đề con người quấn bện vào nhau trong trạng thái cộng sinh hỗn độn, bạn sẽ bắt tay vào từ những phương diện nào? Bạn cảm thấy trong quá trình này nên chú ý tới những điều gì?
Bình luận