Sau khi làm mẹ, bạn là công chúa và cũng là hoàng hậu độc ác
PHẦN I: RƠI XUỐNG ĐÁY GIẾNG
(Down to the well...)
CHƯƠNG 1: MẤT ĐI TỰ DO
“Trừ khi chúng ta chấp nhận số phận của chính mình……
Chẳng có sự tách biệt hay cá nhân hóa nào cả, chúng ta chỉ là một tai nạn tình cờ, một kẻ phàm trần chẳng là gì.”
— Carl Jung, Tiến trình cá nhân hóa
Bị ném xuống giếng khiến chúng ta nhận ra rằng bản thân thực sự bị chi phối bởi những thế lực bên trong và bên ngoài vượt ngoài tầm kiểm soát của ý thức. Trước hết, cú rơi ấy kéo theo rất nhiều mất mát: mất tự do, mất kiểm soát và thậm chí là mất đi chính bản thân mình. Có quá nhiều cách để quật ngã một người mẹ. Việc tìm đường trở lại mặt đất đối với một số người có thể khó khăn hơn, điều này phụ thuộc vào bản chất mối quan hệ giữa chúng ta với con cái, cũng như cách chúng ta được nuôi nấng trưởng thành. Cảm nhận về bản thân (sense of self) đang phát triển của chúng ta chắc chắn phải chịu đựng những tổn thương nhất định trong quá trình lớn lên; những vết thương này sẽ trỗi dậy dưới những hình thái mới khi chúng ta làm cha mẹ. Đó là một thử thách riêng biệt, nhưng đồng thời cũng mở ra cơ hội để chữa lành. Nếu cảm nhận về bản thân của bạn vốn bấp bênh, bạn có thể cảm thấy việc làm mẹ là một mối đe dọa đối với chút tự do hay quyền tự chủ ít ỏi còn lại của mình. Khi ấy, hành trình rơi xuống giếng rất có thể sẽ khiến bạn đau đớn và lo âu, nhưng nó cũng mang lại khả năng kết nối sâu sắc với chính sự tồn tại của bạn.
Những người lớn lên dưới sự nuôi dạy của cha mẹ ái kỷ (narcissistic parents) thường mang trong lòng những vết thương khiến việc làm mẹ trở nên vô cùng chật vật. Nếu cha mẹ từng đòi hỏi bạn phải đáp ứng các nhu cầu của họ, hoặc bắt bạn phải trở thành tấm gương phản chiếu (mirroring) để giúp họ điều hòa cảm xúc của chính mình, thì cảm nhận về bản thân của bạn rất có thể sẽ vô cùng mong manh. Lớn lên theo cách đó, cho đến tuổi trưởng thành, bạn có thể hoàn toàn mù mờ về việc mình thực sự là ai và điều gì mới có ý nghĩa đối với mình. Nhận thức của bạn về việc liệu mình có quyền có cảm xúc riêng hay có quyền đòi hỏi cho nhu cầu của bản thân hay không rất có thể đã bị tổn thương. Bạn sẽ thấy mình khó lòng cam kết trọn vẹn với bất cứ điều gì — kể cả cuộc đời của chính mình. Nếu bạn chưa từng được dạy cách bảo vệ bản thân và cất lên tiếng nói cho chính mình, thì thiên chức làm mẹ sẽ rất dễ nhấn chìm bạn, khiến bạn cảm thấy bị trói buộc và giới hạn.
Thiên chức làm mẹ đẩy chúng ta rơi xuống giếng, và điều đầu tiên nó gợi lên có thể là trải nghiệm bị mắc kẹt — khi tự do và các lựa chọn của chúng ta bị thu hẹp. Nếu trước khi làm mẹ, chúng ta chưa có cơ hội củng cố nhận thức về “mình là ai”, thì sự hạn chế bị áp đặt này có thể bị xem như một sự giam cầm đau đớn. Một người phụ nữ có thể kiệt sức vì phải liên tục đáp ứng vô số nhu cầu khi làm mẹ, vấp phải rào cản khi thiết lập ranh giới hoặc tìm kiếm sự giúp đỡ, từ đó sinh ra lòng oán hận đứa trẻ.
Nếu bạn từng rơi vào cảnh “thiếu vắng tình mẫu tử” (unmothered) do mẹ bạn không thể chăm sóc bạn về mặt thể chất hoặc cảm xúc, điều này có thể khiến bạn phát hiện ra vô số vấn đề chưa được giải quyết trong lòng khi trở thành mẹ. Trong hoàn cảnh ấy, hành trình làm mẹ có thể dẫn bạn đi qua một con đường tăm tối, khơi lại những cảm giác tàn khốc về sự bỏ rơi và cô lập. Khi những nỗi đau quen thuộc tái hiện, hành trình sẽ trở nên gian nan. Nhưng xin hãy tin rằng những vết thương ấy được đánh thức là để bạn có cơ hội chữa lành chúng. Giữ một thái độ cởi mở với thế giới nội tâm của mình, dù đau đớn, nhưng luôn đi kèm với tiềm năng tái sinh.
Bắt cóc và giam cầm
Constance tìm đến trị liệu với tôi không lâu sau khi đứa con đầu lòng chào đời. Sau khi sinh con, cô đã nghỉ việc trợ lý luật sư, cảm thấy vô cùng cô độc và tuyệt vọng trong cuộc hôn nhân của mình. “Tôi cảm thấy mình bị mắc kẹt,” cô nói, “Tôi chỉ muốn bỏ trốn.”
Constance chưa từng có cơ hội thấu hiểu hay khám phá xem bản thân thực sự yêu thích điều gì. Cô chưa bao giờ tìm được một lời “Đồng ý” chân thật, bởi vì cô cũng chưa từng được phép nói một lời “Không” chân thật. Constance sinh ra trong một gia đình giàu có ở Boston, lớn lên trong đặc quyền và sự đủ đầy. Thế nhưng, mẹ cô lại mang nhiều nhu cầu ái kỷ mỏng manh, chưa được thỏa mãn, và ngay từ khi Constance còn rất nhỏ, bà đã đòi hỏi cô phải đáp ứng những nhu cầu đó.
Chẳng hạn, khi Constance mới ba tháng tuổi, mẹ cô đã dồn hết tâm sức lên kế hoạch cho một lễ rửa tội lộng lẫy, cầu kỳ. Bà còn thuê công ty phục vụ tiệc tốt nhất Boston để tổ chức tiệc trưa tại một câu lạc bộ cao cấp ở trung tâm thành phố sau buổi lễ; bạn bè và người thân từ khắp nơi đều đổ về tham dự. Tuy nhiên, vào đúng ngày làm lễ, bé Constance bị sốt. Dù cô bé lờ đờ và thấy rõ là rất khó chịu, mẹ cô vẫn cho cô uống thuốc hạ sốt paracetamol (acetaminophen), rồi tiếp tục mặc cho cô chiếc áo choàng rửa tội đắt tiền đã đặt may riêng. Sau khi nghi lễ ở nhà thờ kết thúc, người mẹ không đưa đứa con ốm yếu về nhà nghỉ ngơi mà giữ cô bé ở lại buổi tiệc trưa suốt cả buổi chiều. Câu chuyện này đã trở thành một giai thoại trong gia đình, nhưng mẹ cô luôn khăng khăng rằng bà không hề biết hôm đó Constance mệt đến mức nào, bởi vì suốt buổi con bé thậm chí còn chẳng khóc lấy một lần. Constance vẫn giữ những bức ảnh chụp trong buổi tiệc ấy: một bé Constance mắt lờ đờ, hai má đỏ bừng vì sốt, bị các họ hàng thay nhau bế chuyền tay và chụp ảnh liên hồi. Hai ngày sau, cô bé phải nhập viện vì nhiễm trùng đường hô hấp và không thể về nhà trong nhiều ngày.
Trong suốt quá trình lớn lên, Constance luôn bị kỳ vọng phải là một đứa trẻ ngoan ngoãn và duyên dáng. Mẹ cô rất gầy và luôn ăn kiêng. Nhưng Constance lại là một đứa trẻ tròn trịa, đến tuổi dậy thì cân nặng lại càng tăng. Constance cay đắng nhớ lại những trại giảm cân mà mẹ bắt cô tham gia thời cấp hai và cấp ba, cùng những phòng khám và bác sĩ giảm cân mà cô bị đưa tới. Cô cảm thấy mình không đủ xinh đẹp và thon thả, rằng mình đã làm mẹ thất vọng. Trong các buổi trị liệu, Constance mang đến những bức ảnh thời thơ ấu, nhờ vậy tôi mới có dịp nhìn thấy hình ảnh lúc cô còn “béo”. Trong một bức ảnh, Constance mười hai tuổi đứng cùng cô em họ trên bãi biển, cả hai đều mặc đồ bơi; Constance nhìn vào ống kính với nụ cười ngập ngừng, bất an. Cô bé trông hơi mũm mĩm, phần hông lộ ra khỏi bộ đồ bơi, nhất là khi đứng cạnh cô em họ có tay chân khẳng khiu như hươu cao cổ. Nhưng Constance năm mười hai tuổi hoàn toàn không béo chút nào. Nhìn vào bức ảnh ấy, thấy nụ cười dò xét trên gương mặt và dấu hỏi trong ánh mắt cô bé, tôi hiểu rằng ngay từ lúc đó, cô đã bắt đầu bị mẹ ép phải “ăn kiêng”.
Khi trưởng thành, Constance đã quá quen với việc dò xét và đáp ứng nhu cầu của những người xung quanh. Trước khi làm mẹ, cô lèo lái cuộc đời mình bằng một chiến lược sống còn mà cô đã được rèn luyện để tồn tại bên cạnh người mẹ ái kỷ: chiều theo ý người khác. Hầu như ngay khi cô và Charles vừa bắt đầu hẹn hò, Charles đã ráo riết muốn tiến tới hôn nhân. Constance nhớ lại rằng lúc đó cô thậm chí còn không chắc chắn về tình cảm của mình dành cho Charles; cô cảm thấy mình bị sự kiên quyết của anh cuốn đi, và cô chưa từng giữ vững lập trường để làm chậm tiến trình lại. Trong vòng hai năm, họ kết hôn và sinh con.
Constance yêu con trai mình và là một người mẹ chu đáo, đầy tình thương. Nhưng cậu bé là một đứa trẻ khó nuôi, có những nhu cầu y tế đặc biệt và đòi hỏi sự chăm sóc, theo dõi sát sao. Vì Constance chưa từng thực sự tự mình lựa chọn kết hôn và sinh con, nên đối với cô, cả cuộc hôn nhân lẫn những nỗi thất vọng và thử thách mà thiên chức làm mẹ mang lại đều trở nên vô cùng nặng nề. Cô chỉ vừa mới bắt đầu mở ra những tiềm năng cho bản thân thì đứa trẻ đã xuất hiện, như thể tước đoạt đi sự phát triển và khám phá mà cô mới chỉ vừa kịp hình dung.
Có một câu chuyện cổ tích Scotland mô tả rất rõ trạng thái tâm lý của người phụ nữ thiếu đi cảm nhận vững chắc về bản thân. Nàng dâu Selkie là câu chuyện về một người phụ nữ cảm thấy mình bị bắt cóc và giam cầm bởi hôn nhân và thiên chức làm mẹ.
Nàng dâu Selkie
Thuở xưa, có một chàng nông dân nghèo nọ, vào một đêm trăng giữa mùa hạ, tình cờ bắt gặp ba thiếu nữ xinh đẹp đang ca hát bên bờ biển. Chàng say đắm đứng nấp trong bóng tối ngắm nhìn họ, nhưng khi chàng bước ra định tiến lại gần, các thiếu nữ liền nhanh chóng khoác lên mình chiếc áo choàng màu xám và lặn biến vào làn nước.
Chàng nông dân thẫn thờ, tương tư những thiếu nữ kiều diễm ấy và không ngừng mơ ước một trong số họ sẽ trở thành vợ mình.
Sau đó, chàng tìm đến một bà lão thông thái. Bà nói cho chàng biết những thiếu nữ đó là người Selkie — ở dưới nước họ là hải cẩu, nhưng khi lên bờ họ có thể cởi bỏ lớp da hải cẩu để đi lại như con người. Bà chỉ cho chàng một cách để bắt giữ và giữ một nàng Selkie ở lại bên mình.
Đến đêm giữa hạ năm sau, biết rằng các nàng Selkie sẽ lại xuất hiện, chàng nông dân nấp sẵn chờ đợi. Chàng thấy họ ngoi lên mặt nước và cởi bỏ những tấm da hải cẩu xám. Thời cơ đến, chàng lao ra khỏi bóng tối và cướp lấy một tấm da. Hai nàng Selkie hoảng hốt khoác vội da của mình rồi lao nhanh xuống nước, chỉ còn lại nàng thiếu nữ cuối cùng bàng hoàng, đau đớn nhìn quanh. Các chị em của nàng gọi với lên từ ngoài biển khơi, nhưng nàng thiếu nữ trơ trọi đứng trần truồng, run rẩy một mình bên bờ cát nhìn ra đại dương. Chàng nông dân tiến lại gần, nhẹ nhàng khoác chiếc áo khoác của mình lên người nàng, đưa nàng về nông trại nhỏ và hứa sẽ trở thành một người chồng tốt.
Kể từ ngày đó, họ sống bên nhau như vợ chồng. Người nông dân quả thực làm đúng như lời hứa, là một người chồng tốt, chăm chỉ làm lụng để nuôi sống gia đình nhỏ. Theo lời dặn của bà lão thông thái, chàng cẩn thận giấu tấm da hải cẩu sau một viên gạch lỏng lẻo trên tường, mỗi năm lại lén lấy ra một lần để bôi dầu bảo dưỡng, đảm bảo nó không bị hư hại. Nàng dâu Selkie cũng tận tụy quán xuyến gia đình cho chồng, sinh ra vài đứa con xinh xắn, đứa nào cũng có đôi mắt nâu buồn bã, đáng yêu giống mẹ. Thế nhưng, nàng thường ra bờ biển lúc hoàng hôn, đứng trầm ngâm dõi mắt nhìn xa xăm ra đại dương. Dù nàng hết lòng yêu thương các con, nhưng lũ trẻ chưa từng một lần nhìn thấy nụ cười của mẹ.
Một ngày nọ, đứa con trai út chạy đến hỏi nàng tại sao cha lại giấu một tấm da sau viên gạch lỏng. Nàng Selkie thoạt đầu bàng hoàng, rồi đôi mắt bỗng sáng rực lên. Nàng quỳ xuống bảo con dẫn mình đi xem. Khi cầm lại được tấm da hải cẩu, nàng ôm ghì lấy con trai một cái thật chặt, rồi không ngoảnh đầu lại, chạy thẳng ra bờ biển và biến mất, không bao giờ quay trở lại nữa.
Trong các câu chuyện về người Selkie, luôn có những người phụ nữ biến hình xinh đẹp bị đàn ông loài người bắt cóc ngoài ý muốn; những câu chuyện ấy thấm đẫm nỗi buồn và sự khắc khoải. Dưới góc độ tâm lý học, những câu chuyện này phản ánh điều gì sẽ xảy ra khi một người phụ nữ chưa từng có cơ hội tự do lựa chọn cách sống của chính mình. Cuối cùng, sự cam kết bị trải nghiệm như một sự hy sinh tự do đến mức không thể chịu đựng nổi; cô khao khát trốn chạy, tưởng tượng rằng việc chạy trốn có thể bảo vệ được cái tôi mong manh của mình.
Hành vi đánh cắp tấm da thường được hiểu là biểu tượng của việc phụ nữ bị ép buộc phải quy phục, và đó quả thực là một cách hiểu xác đáng. Để đáp ứng những kỳ vọng truyền thống về hôn nhân và thiên chức làm mẹ, phụ nữ thường bị đòi hỏi phải tách rời bản thân khỏi phần hoang dã sâu thẳm bên trong mình. Theo cách hiểu này, tình thế tiến thoái lưỡng nan này dường như không có lối thoát thực sự. Việc phụ nữ đánh mất tự do là điều không thể tránh khỏi, bi thảm và không thể vãn hồi. Nếu phiên bản này là sự thật của chúng ta — dẫu đau lòng, nhưng tôi tin đối với một số người quả đúng là như vậy — thì việc làm mẹ sẽ không phải là một trải nghiệm trưởng thành, mà là một sự cản trở. Để cân bằng giữa việc giữ vững nhu cầu, khát vọng của bản thân với việc hy sinh chúng để phụng sự cho một điều gì đó lớn lao hơn, người ta đòi hỏi sự kiên cường và óc sáng tạo. Một người bạn đời thấu hiểu, một gia đình, môi trường làm việc và các chuẩn mực xã hội mang tính nâng đỡ sẽ tạo nên sự khác biệt hoàn toàn.
Phần thưởng của sự hy sinh
Tuy nhiên, còn có một cách hiểu khác về việc đánh cắp tấm da. Một trong những nhiệm vụ phát triển cốt lõi của sự trưởng thành là hy sinh tiềm năng vô hạn mà chúng ta có khi còn trẻ để đổi lấy những giới hạn và sự ổn định của tuổi trưởng thành. Khi còn trẻ, chưa có những cam kết nghiêm túc với bạn đời, con cái hay sự nghiệp, chúng ta nắm giữ mọi khả năng trên lý thuyết. Nhưng đến một thời điểm nào đó, chúng ta sẽ được yêu cầu phải hy sinh những khả năng vô hạn ấy cho đời sống thực tế. Thiên chức làm mẹ thường là lúc mà nhiều người phải đối mặt với sự hy sinh này, và chính ở giai đoạn phát triển này, nàng Selkie đã gặp phải bế tắc.
Nếu chấp nhận sự hy sinh ấy, chúng ta sẽ biến đổi, thậm chí có thể trưởng thành theo những cách khiến chính mình kinh ngạc. Thế nhưng, nếu không thể thực hiện sự hy sinh cần thiết, chúng ta có thể sẽ tiếp tục sống như một “cô gái vĩnh cửu” (puella aeterna), dẫu mang vẻ ngoài của một người trưởng thành nhưng lại khước từ việc từ bỏ những đặc quyền của tuổi trẻ. Trong tâm hồn (psyche), khi chúng ta không thể để một điều gì đó chết đi, kết quả là chúng ta cũng không thể sống một cách trọn vẹn.
Để đứng vững trong cuộc đời độc nhất của mình, bạn buộc phải hy sinh những tiềm năng vô hạn để đối diện với thực tại của một số phận bình phàm. Khi làm được điều đó, nói theo lời của nhà phân tích Jungian Marie-Louise von Franz, bạn chấp nhận sự cần thiết của việc “bị ràng buộc, hòa nhập hoàn toàn vào thời gian và không gian, được định vị thành một hình thái cố định nào đó” — đó chính là sự hy sinh bắt buộc để đón nhận sự chín muồi.
Tấm da hải cẩu giữ lại lựa chọn quay về sống nơi vùng nước mênh mông; nó có thể tượng trưng cho một giai đoạn quan trọng trong cuộc đời người thiếu nữ, khi cô có thể tự do thử nghiệm mọi điều và chỉ cần tập trung vào chính mình. Nhưng đến một lúc nào đó, tấm da ấy cũng nên được gác lại sang một bên, nhường chỗ cho một cuộc sống mới, phục vụ cho một mục tiêu lớn lao hơn — có thể là một mối quan hệ, sự nghiệp, hoặc việc nuôi nấng một đứa trẻ. Khi chúng ta hạ quyết tâm bằng mọi giá phải bám víu lấy thời tuổi trẻ của mình, việc tấm da hải cẩu bị tước đoạt sẽ bị coi như một sự xâm phạm khủng khiếp, trong khi thực chất đó lại là điều tạo ra cơ hội cho sự trưởng thành của chúng ta.
Đánh mất tấm da
Nếu chúng ta suy ngẫm câu chuyện này dưới góc độ tâm lý, người nông dân muốn trói buộc nàng Selkie vào hình hài cố định của một người phụ nữ trần gian chính là một dạng năng lượng nội tâm (hãy nhớ rằng chúng ta giả định mỗi nhân vật trong truyện đều đại diện cho một phần của tâm hồn). Đối với người mang tâm lý Selkie, người nông dân đại diện cho phần nhân cách muốn an cư lạc nghiệp, sống một cuộc đời tương đối bình dị. Vì anh ta là một nông dân nhỏ, chúng ta có thể thấy phần tâm hồn này thực sự rất chất phác và thực tế, không giống như nàng Selkie trơn trượt khó nắm bắt. Giải thích câu chuyện theo góc độ này sẽ mang lại cảm giác đầy mâu thuẫn: Phải chăng năng lượng của người nông dân mang tính áp bức? Hay anh ta cũng có thể là một thôi thúc tích cực, giúp ta cắm rễ vào thực tế, mở ra con đường dẫn đến một đời sống mới và sự trưởng thành mới?
Theo một cách hiểu về câu chuyện này, nàng Selkie đã có cơ hội trưởng thành bằng cách cắm rễ vững chắc vào mặt đất, nhưng cuối cùng nàng đã không làm được. Phần mở đầu câu chuyện ám chỉ rằng cảm nhận về bản thân của nàng quá yếu ớt, không đủ sức trải qua sự biến đổi cần thiết. Nàng Selkie này không có tên, cũng chẳng có danh tính riêng biệt; người nông dân vơ đại một tấm da mà không hề chọn lựa một đối tượng cụ thể nào. Nhân vật nữ chính cũng chưa từng tách biệt ra khỏi những chị em Selkie khác; ngay cả khi đã ở trên đất liền một thời gian dài như vậy, nàng dâu Selkie vẫn không thể củng cố được tính cá nhân của mình, và một khi trên cạn không còn điều gì níu giữ, nàng rất dễ dàng quay trở lại với vùng vô thức mênh mông, loãng như nước kia.
Những người phụ nữ biểu hiện mô thức này có thể chưa từng có cơ hội phát triển sở thích, cá tính độc đáo của riêng mình; họ có thể thiếu vắng một cảm nhận mạnh mẽ về bản thân, hoặc chưa từng tách rời về mặt tâm lý khỏi cha mẹ. Người phụ nữ Selkie trong quá trình lớn lên chưa bao giờ được phép làm người khác thất vọng hay phật lòng. Nếu chúng ta không có được cảm giác an toàn để biết rằng, dù mình bất đồng ý kiến hay không làm vừa lòng ai đó thì mình vẫn được yêu thương và chấp nhận, chúng ta sẽ không thể biết được diện mạo chân thật của mình là gì và điều gì mới thực sự quan trọng đối với mình. Chúng ta sẽ cảm thấy việc xung đột hay tức giận với người mình yêu là vô cùng bất an; vì thế, chúng ta phó mặc bản thân cho những mong muốn, nhu cầu và đòi hỏi của người khác, bởi ta không có khả năng nói “Không” hay kiên định với nhu cầu của chính mình. Trong trạng thái không được bảo vệ và cực kỳ dễ bị tổn thương ấy, người khác rất dễ cướp đi cái tôi của ta, đánh cắp đi tấm da danh tính mỏng manh của ta.
Chưa từng có ai giúp Constance cảm nhận và bộc lộ những phản ứng chân thật của cô. Constance là người nhạy cảm, trực giác sắc bén, tính cách hướng nội. Cô nhận thấy mỗi khi tương tác với bất kỳ ai (bạn bè, gia đình, thậm chí là nhân viên bán hàng), cô đều khó lòng ngừng việc chú ý đến nhu cầu của họ và tìm cách làm hài lòng họ; có thể hình dung điều đó nặng nề và kiệt sức đến mức nào. Cô nhận ra rằng chỉ khi ở một mình, cô mới có thể là chính mình. Còn khi ở bên người khác, cô luôn phải giữ vẻ “tử tế”, biến mình thành hình mẫu phù hợp với kỳ vọng của đối phương. Do đó, cô dành phần lớn thời gian sống tách rời khỏi bản chất thực của mình, và trong trạng thái ấy, cô ngày càng trở nên kiệt quệ và trầm cảm.
Khi bạn không biết nhu cầu của mình là gì hoặc cảm thấy mình không có quyền lên tiếng cho nhu cầu ấy, bạn sẽ đối mặt với nguy cơ bị trói buộc bởi những người đưa ra yêu cầu đối với bạn. Khi Constance gặp Charles, cô bận rộn vô thức chiều theo các nhu cầu và sở thích của anh đến mức hầu như chẳng còn thời gian để nhận biết cảm xúc thực sự của mình dành cho anh. Chính vì thế, trước khi kịp thử nghiệm các khả năng khác nhau của cuộc sống, trước khi kịp hiểu rõ mình là ai và có thể đưa ra lựa chọn có ý thức, cô thấy mình đã bị “bắt cóc” vào mối quan hệ này.
Thông thường, những phụ nữ mang tâm lý Selkie đều có người mẹ ái kỷ — những người mẹ bản thân họ cũng cần được con gái phản chiếu (mirrored) và chăm sóc về mặt cảm xúc. Nữ diễn viên Brooke Shields là một ví dụ điển hình về người phụ nữ Selkie. Cô từng viết về mối quan hệ phức tạp giữa mình và mẹ, Teri. Teri bao bọc con gái quá mức, nhưng đồng thời cũng dính mắc, phụ thuộc vào cô. Trong cuốn hồi ký về mẹ, Shields liệt kê vô số cách cô phải chăm sóc cảm xúc cho người mẹ nghiện rượu và mỏng manh của mình. Trong một ví dụ, Shields kể về việc cô đã khó khăn thế nào khi trải qua lần quan hệ tình dục đầu tiên với bạn trai thời đại học, bởi vì hành vi làm tình mang lại cảm giác như một sự phản bội, một sự tách rời khỏi mẹ, và bản thân cô cũng không rõ mình muốn gì. Cô không thể biết được sở thích thật của mình, không thể quyết định xem mình có muốn trao sự trinh trắng cho bạn trai hay không, bởi vì người mẹ đã chiếm một vị trí quá lớn trong tâm hồn cô. “Ngay cả khi mẹ không ở bên cạnh, tôi vẫn cảm thấy như bà đang đứng nhìn,” Shields viết.
Những người buộc phải thỏa mãn nhu cầu cảm xúc của cha mẹ như Constance hay Brooke Shields bị ép phải từ bỏ cảm nhận về sự chân thật (sense of truth) của mình, vì thế họ đánh mất (hoặc chưa từng có được) cảm giác thuộc về chính mình. Đối với một người mang tâm lý Selkie, sự cam kết không bao giờ là tự nguyện, bởi vì cô ấy chưa từng thực sự thuộc về mình, nên cô ấy cũng không thể trao trọn bản thân cho bất kỳ ai hay bất cứ điều gì. Do đó, những cam kết như hôn nhân hay con cái đối với họ chẳng khác nào một sự trói buộc cưỡng ép. Khi một người phụ nữ như vậy sinh con, trải nghiệm làm mẹ có thể bị cảm nhận như một sự mất mát tàn khốc về các lựa chọn, bị mắc kẹt trong một hình thái cố định mà ý thức không hề chủ động lựa chọn.
Cam kết tạm thời
Tấm da hải cẩu của nàng Selkie bị giấu sau một viên gạch lỏng lẻo — đó là hình ảnh tượng trưng cho một sự cam kết mang tính tạm bợ. Mối dây liên kết với cuộc sống cũ chưa hề bị cắt đứt hoàn toàn; phần tâm hồn đại diện cho người nông dân vẫn đính kèm một sự gắn bó thầm kín với đời sống vô lo vô nghĩ trước kia — ẩn dụ cho sự cam kết đầy dè dặt và mâu thuẫn của tâm hồn đối với cuộc sống mới. Câu chuyện về những nàng dâu (hoặc chàng rể) đội lốt động vật là mô-típ phổ biến trên khắp thế giới. Trong một số câu chuyện, người bắt giữ phải nhanh chóng đốt cháy tấm da động vật của cô dâu; dẫu điều này nghe có vẻ bạo lực và áp bức, nhưng những câu chuyện đó thường có một kết thúc có hậu. Bởi vì sự thiêu đốt là một biến đổi hóa học triệt để từ chất này sang chất khác, nên việc tấm da bị đốt cháy trong truyện có thể được hiểu về mặt tâm lý là danh tính mới (con người) đã được tích hợp hoàn toàn. Con vật biến hình ấy đã thực sự thay đổi, cuộc đời cũ đã bị hy sinh trong ngọn lửa chuyển hóa, nhờ đó nó có thể sống trọn vẹn và đón nhận cuộc đời mới.
Giống như nàng Selkie, Constance chưa từng thực sự cam kết với cuộc hôn nhân của mình. Mỗi khi mối quan hệ giữa cô và chồng trở nên căng thẳng, ý nghĩ bỏ trốn lại luôn xuất hiện, hệt như tấm da hải cẩu giấu sau viên gạch, và cô vô cùng miễn cưỡng không muốn từ bỏ tấm da ấy. Đã có vài lần tình hình nghiêm trọng đến mức cô và chồng chuẩn bị tìm đến trị liệu cặp đôi, nhưng lần nào Constance cũng chùn bước. Khi tôi cùng cô khám phá nguyên do, chúng tôi bắt đầu hiểu ra rằng việc đưa ra mức độ cam kết như vậy với cuộc hôn nhân (thực sự nỗ lực giải quyết những khúc mắc đang bủa vây họ) mang tính đe dọa quá lớn đối với Constance. Làm như vậy chẳng khác nào đem đốt tấm da hải cẩu, và cô sẽ không thể trốn về với biển cả được nữa, đường lui của cô sẽ bị cắt đứt hoàn toàn. Ý nghĩ có thể rời đi bất cứ lúc nào giúp cô cảm thấy mình đang ở trong một trạng thái dễ chịu đựng hơn.
Những lợi ích tiềm ẩn khi là một phụ nữ Selkie
Ở lại trong hình thái của một người phụ nữ Selkie cũng có những lợi ích tiềm ẩn riêng. Dẫu cái giá của lối sống này là không thể củng cố được một cảm nhận vững vàng về bản thân, nhưng bù lại, nó giúp người ta không phải đối mặt với những giới hạn mà tuổi tác mang lại. Một số phụ nữ chấp nhận trả giá bằng cách sống theo kỳ vọng của người khác để làm hài lòng những người xung quanh; nhưng đồng thời, họ cũng tiếp tục tận hưởng lợi thế của việc không phải đưa ra bất kỳ cam kết lâu dài nào. Giống như các nữ nhân vật biến hình trong truyện cổ tích, họ có thể nhẹ nhàng bay lượn, chuyển dịch uyển chuyển giữa các hình thái sống khác nhau. Họ có thể trở về với đại dương bất cứ lúc nào, quay lại với những tiềm năng vô hạn của vô thức. Jung gọi đặc tính này là “cô gái vĩnh cửu” (puella / puella aeterna). Đối với người phụ nữ Selkie, việc trở thành một puella có sức cám dỗ đặc biệt lớn.
Khi tôi gặp Pete lần đầu tiên, anh thú nhận rằng vợ chồng anh đã kết hôn nhiều năm, nhưng cuộc hôn nhân của họ vô cùng tẻ nhạt, đoan trang và đúng mực, thiếu vắng sự thân mật và cũng chẳng hề có đụng chạm thể xác. Ngược lại, người vợ Julie thì nhỏ nhắn, xinh đẹp, dù đã bốn mươi tuổi nhưng trông vẫn như một cô bé hai mươi ba. Cô diện váy ngắn, đi bốt cao cổ và mặc áo ren. Julie dường như chưa từng cần biết mình thực sự là ai; cô tận hưởng sức hút mà mình tạo ra nơi cánh đàn ông, tận hưởng việc không phải gánh vác bất kỳ trách nhiệm nào. Julie lao vào những mối tình ngoài luồng với những người đàn ông đầy thú vị, nhưng rồi lại thất vọng khi họ từ chối đưa ra cam kết. Không có được sự cam kết từ người tình, Julie lại thấy mình không thể từ bỏ sự ổn định mà cuộc hôn nhân mang lại.
Julie vẫn chưa chấp nhận sự cần thiết của việc phải từ bỏ những tiềm năng vô hạn; cô khăng khăng muốn để ngỏ mọi lựa chọn của mình và sống theo mô thức của một thiếu nữ vĩnh cửu (puella). Dù rất thích những cuộc đi chơi thâu đêm và sự hào hứng, mới lạ mà các nhân tình mới mang lại, cô vẫn không hề có sự chuyển hóa hay phát triển nào về mặt tâm hồn.
Để bản thân từ bỏ tự do và đón nhận một số phận bình phàm là một sự “sa sút”, một bi kịch nho nhỏ. Constance luôn nuôi dưỡng ảo tưởng bỏ trốn trong tâm trí; cô luôn có cảm giác mơ hồ rằng ở một nơi nào đó vẫn còn tồn tại những tiềm năng vô hạn. Mỗi khi chuẩn bị thực sự dấn thân vào đời sống hiện tại, cô thường bị bủa vây bởi nỗi hoảng loạn ngột ngạt như chứng sợ không gian kín. Bởi vì làm như vậy đồng nghĩa với việc phải chấp nhận rằng cuộc đời là hữu hạn và đầy khuyết điểm, rằng nó ít ỏi hơn những gì cô từng hão huyền tưởng tượng. Mặt khác, điều đó có nghĩa là cuối cùng cô phải trở thành một con người bằng xương bằng thịt, được tạo nên từ những chất liệu vững chắc, dẫu chẳng hề hoàn hảo.
Brooke Shields cũng từng nếm trải nỗi khó khăn khi phải đưa ra cam kết cần thiết cho thiên chức làm mẹ. Trong cuốn hồi ký dũng cảm bộc bạch về chứng trầm cảm sau sinh, cô đã mô tả chi tiết sự suy sụp mà mình phải trải qua sau khi con gái chào đời. Từ nhỏ đã phải chăm sóc mẹ và phục tùng ý kiến của mẹ, cô dễ dàng bị đè bẹp bởi những đòi hỏi chăm sóc một đứa trẻ sơ sinh. Cả đời đã phải chịu trách nhiệm cho người mẹ nghiện rượu của mình, nên khi nhận ra giờ đây mình lại phải gánh trách nhiệm cho một sinh linh bé nhỏ mới mẻ này, việc cô cảm thấy bị nuốt chửng và nảy sinh lòng oán hận cũng là điều dễ hiểu.
Phụ nữ Selkie luôn mơ về sự trốn chạy. Ảo tưởng bỏ trốn của Shields là một ví dụ điển hình cho tâm lý Selkie; cô thừa nhận mình đã “dành hàng giờ để mơ mộng về việc biến mất mãi mãi”. Một trong những chi tiết gây nhức nhối nhất trong các câu chuyện cổ tích là người mẹ luôn dễ dàng rũ bỏ con cái để rời đi. Chúng ta thấy nàng sống trên cạn bao nhiêu năm, chưa từng nguôi ngoai nỗi khao khát trở về với biển, và nàng luôn rình rập chờ đợi một cơ hội như thế. Điều đau lòng là chúng ta nhận ra nàng chưa từng thực sự gắn bó trọn vẹn với bất kỳ ai.
Khi chưa từng phát triển được một cảm nhận vững chắc về bản thân, việc trốn chạy khỏi con cái, rũ bỏ cam kết và cao chạy xa bay dường như là một giải pháp màu nhiệm. Khi Constance cảm thấy bị chồng bỏ rơi về mặt cảm xúc trong năm đầu tiên đầy khó khăn sau khi sinh con, cô lập tức chìm vào tuyệt vọng câm lặng. Việc cất lời nói rằng cô cần một sự kết nối hòa hợp hơn với anh còn đáng sợ hơn nhiều so với việc cứ tê dại chịu đựng. Constance bị kẹt giữa hai trạng thái: một mặt cảm thấy cô đơn và đau buồn trong mối quan hệ, mặt khác lại sợ rằng việc thể hiện lập trường sẽ châm ngòi cho xung đột. Ngoài việc bỏ trốn, cô không tìm thấy bất kỳ giải pháp thỏa đáng nào khác. Cô mơ tưởng về việc rời bỏ chồng con, dọn đến miền Tây sống một mình. Trốn chạy dường như là câu trả lời duy nhất cho tình thế nan giải của cô. Cô không thể hình dung ra cách nào khác để vừa ở lại trong mối quan hệ này, vừa giữ được sự chân thành với cảm nhận mới manh nha về bản thân mình.
Suy cho cùng, Nàng dâu Selkie là câu chuyện về một sự khai tâm (initiation) thất bại. Người mẹ trong truyện đứng trước một thử thách vô cùng gian nan: phải cắm rễ trưởng thành trong mảnh đất của cái tôi chân thật và kết hợp trọn vẹn với nguồn năng lượng của người nông dân nội tâm; nhưng nàng không biết làm cách nào để đạt được điều đó. Như một loài cây rơi xuống lớp đất cằn cỗi, nông choèn, rễ không thể đâm sâu, người phụ nữ Selkie rất dễ bị cuốn trôi, ngay cả một cơn gió nhẹ cũng có thể quật ngã nàng. Việc nàng trở về với biển cả trong hình hài hải cẩu đồng nghĩa với việc nàng đã trở nên kém ý thức hơn; nàng quay lại làn nước, trở về với dạng tồn tại chưa hề được phân hóa của loài hải cẩu. Ở phần kết, nàng không hề biến đổi mà chỉ đơn thuần quay về trạng thái ban đầu. Theo nghĩa này, người phụ nữ Selkie rất giống người con gái lười biếng rơi xuống giếng trong truyện Hai chiếc hộp — không thể thực hiện những hy sinh cần thiết để chuyển hóa và trưởng thành.
Nếu nhiệm vụ của cuộc đời là trở thành con người mà số phận định sẵn, thì người phụ nữ Selkie có những bài học mà cuộc đời đã an bài riêng cho nàng. Thiên chức làm mẹ mang đến cho người phụ nữ Selkie một cơ hội mới để nhận ra điều gì thực sự quan trọng đối với mình; đó có thể là chất xúc tác để nàng tách rời khỏi cha mẹ và bắt đầu thấu hiểu bản chất chân thật của bản thân. Đối với người phụ nữ Selkie, làm mẹ là cơ hội để phân định rạch ròi nhu cầu của mình với nhu cầu của người khác, xác lập lập trường và đưa ra cam kết với chính mình. Vậy khi chúng ta có thể đón nhận thử thách, trải qua sự chuyển hóa cần thiết và trở về với kho báu trong tay, diện mạo ấy sẽ trông như thế nào? Để trả lời câu hỏi này, chúng ta hãy cùng đến với một câu chuyện cổ tích khác về thiếu nữ biến hình.
Nàng thiếu nữ Thiên Nga
Thuở xưa, có một chàng thợ săn vào một buổi hoàng hôn nọ đi đến bên bờ hồ. Khi nhìn ra mặt nước, chàng thấy bảy con thiên nga đáp xuống hồ, chúng bơi vào bờ rồi lần lượt trèo lên bãi cỏ, cởi bỏ bộ lông thiên nga mềm mại và hóa thành những thiếu nữ xinh đẹp tuyệt trần. Trong số đó, người đáng yêu nhất chính là nàng thiếu nữ trẻ tuổi nhất. Chàng thợ săn ngắm nhìn đến mê mẩn, nhưng chàng không hề mất đi lý trí. Chàng rón rén tiến lại gần, bất thình lình vươn tay chộp lấy chiếc áo choàng lông vũ của nàng thiếu nữ thiên nga nhỏ tuổi nhất. Các thiếu nữ hoảng hốt, ai nấy nhanh chóng khoác áo thiên nga rồi bay vút lên bầu trời, chỉ còn lại nàng út ngồi co ro một mình, tuyệt vọng che chắn thân thể trần trụi. Chàng thợ săn cởi áo choàng của mình khoác lên người nàng, đưa nàng về nhà và cưới nàng làm vợ.
Đôi vợ chồng sống bên nhau hạnh phúc suốt nhiều năm trời và sinh được hai người con, một trai một gái. Người mẹ hết lòng yêu thương các con. Một ngày nọ, lũ trẻ chơi trò trốn tìm, cô con gái tình cờ phát hiện một chiếc áo choàng lông vũ bám đầy bụi bị nhét sâu trong góc gác xép. Tò mò, cô bé mang chiếc áo đến tìm mẹ. Người mẹ ôm lấy vai con gái, nhìn thẳng vào mắt con và nói: “Hãy nói với cha con rằng, nếu chàng còn muốn gặp lại ta, chàng phải tìm đến vùng đất nằm ở phía đông mặt trời và phía tây mặt trăng.” Dứt lời, nàng khoác áo lông vũ lên mình và bay vút đi.
Người chồng trở về nhà, vừa nghe tin liền lập tức lên đường. Trải qua muôn vàn gian nan, nhờ sự giúp đỡ của Vua muôn thú, Vua muôn loài chim và Vua muôn loài cá, chàng cuối cùng cũng tìm được đến vùng đất xa xôi ấy. Trên đường đi, chàng gặp hai anh em đang cãi nhau nảy lửa vì tranh chấp gia tài, gồm một chiếc mũ tàng hình và một đôi giày ma thuật có thể đưa người mang đến bất cứ nơi nào họ muốn. Chàng thợ săn lừa hai anh em, chiếm lấy hai bảo vật rồi dùng chúng để bay đến Ngọn núi Pha lê nơi vợ chàng đang sống.
Chàng thợ săn yết kiến Vua của Ngọn núi Pha lê, giải thích rằng chàng là chồng của cô con gái út và đến để đón nàng về. Nhà vua phán: “Nếu ngươi có thể nhận ra nàng trong số các chị em của nàng, ta sẽ tin lời ngươi nói là thật.”
Nhà vua gọi bảy người con gái đến trước mặt chàng thợ săn; tất cả đều xuất hiện trong bộ áo choàng lông vũ, trông giống hệt nhau, từng con thiên nga đều không có chút khác biệt.
Chàng thợ săn không hề nản lòng. “Nếu mình có thể nhìn bàn tay của họ, mình nhất định sẽ nhận ra vợ mình,” chàng thầm nhủ, bởi vì trong những năm tháng may vá quần áo cho các con, nàng đã để lại một vết kim châm trên ngón trỏ tay phải. Chàng chăm chú quan sát bàn tay của từng nàng thiếu nữ thiên nga, và quả nhiên nhanh chóng nhận ra vợ mình. Vua Ngọn núi Pha lê ban tặng cho đôi vợ chồng rất nhiều lễ vật quý giá rồi tiễn họ hồi hương. Chẳng bao lâu sau, họ đã về đến nhà, đoàn tụ với các con và sống hạnh phúc bên nhau trọn đời.
Câu chuyện về Nàng thiếu nữ Thiên Nga thoạt nhìn rất giống với chuyện Nàng dâu Selkie, nhưng ta sẽ nhanh chóng nhận ra những điểm khác biệt mang tính cốt tử. Đáng chú ý là trong phần lớn các câu chuyện về Selkie, người nông dân chỉ nhặt đại một tấm da hải cẩu một cách ngẫu nhiên, với mong muốn bắt được bất kỳ cô gái Selkie nào cũng được. Sự thiếu vắng tính cá nhân này đã báo trước việc nàng Selkie cuối cùng không thể củng cố được một danh tính độc nhất. Ngược lại, trong truyện Nàng thiếu nữ Thiên Nga, người thợ săn đã nhìn ra tấm da của nàng thiên nga trẻ nhất, đẹp nhất và cố ý chọn chính xác tấm da đó. Mô thức này một lần nữa tái hiện ở cao trào của câu chuyện, khi người thợ săn buộc phải phân biệt được vợ mình giữa những nàng thiên nga khác.
Như vậy, Nàng thiếu nữ Thiên Nga ngay từ đầu đã có một nhận thức sơ khởi về tính cá nhân độc nhất của mình; nàng ngay từ đầu đã được nhìn nhận là một cá thể duy nhất, và đến cuối câu chuyện, tính cá nhân ấy đã được phát triển và củng cố một cách trọn vẹn.
Bạn vừa độc nhất, vừa bình phàm
Câu chuyện này ẩn chứa một chủ đề quan trọng liên quan đến khái niệm về tính cá nhân hóa (individuality). Việc thấu hiểu những phẩm chất độc đáo của bản thân là yếu tố then chốt quyết định liệu chúng ta có thể trở thành con người mà số phận đã định sẵn hay không. Để phát triển một cảm nhận vững chắc hơn về bản thân, người phụ nữ cần hiểu rõ những sở thích và nét tính cách độc đáo làm nên con người riêng biệt của mình. Cô ấy sẽ dám bộc lộ những điều mình thích và không thích, thay vì cứ mãi trôi theo dòng xoáy mong ước của người khác.
Câu chuyện cổ tích này chỉ ra rằng: làm mẹ có thể là một trải nghiệm giúp ta sản sinh ra cảm nhận độc nhất về bản thân. Ngón tay của Nàng thiếu nữ Thiên Nga lưu lại vết sẹo kim châm từ việc may vá quần áo cho con. Những thử thách vụn vặt thường ngày của thiên chức làm mẹ quả thực sẽ để lại những vết sẹo, đánh dấu người phụ nữ như một cá thể mang lịch sử độc nhất của riêng mình. Ngay cả khi đã qua đời từ rất lâu, chỉ nhìn vào hài cốt của một người mẹ, người ta vẫn có thể nhận ra bà từng sinh nở; thiên chức làm mẹ sẽ khắc ghi những dấu ấn vĩnh viễn trên cơ thể chúng ta.
Ở đây, chúng ta nhìn thấy tầm quan trọng của Nàng thiếu nữ Thiên Nga và ngón tay mang sẹo của nàng. Bằng cách quy phục số phận bình phàm của một người mẹ, cùng vô số những việc vụn vặt bất tận mà thiên chức ấy mang lại, nàng đã trở thành một cá thể độc nhất và trọn vẹn. Nàng đã rời bỏ vương quốc của những khả năng vô hạn — nơi người ta không bao giờ phải già đi và cũng chẳng phải đối mặt với bất kỳ rủi ro nào — để đón nhận một cách cụ thể cơ hội bước vào những điều ngọt ngào sâu thẳm của cuộc đời mình.
Một khi thiên chức làm mẹ đã in dấu lên nàng, Nàng thiếu nữ Thiên Nga không còn khó để phân biệt giữa các chị em của mình nữa. Qua những nỗ lực tận tụy mỗi ngày vì con cái, nàng đã trở thành chính mình, độc nhất vô nhị. Giống như người con gái lương thiện rơi xuống đáy giếng trong truyện Hai chiếc hộp, nàng đã mang thái độ đúng đắn để thực hiện những hy sinh cần thiết cho sự lột xác; Nàng thiếu nữ Thiên Nga cũng từ một con thiên nga cao quý hạ cánh xuống để trở thành một người phụ nữ trần gian đích thực. Dù ở giữa câu chuyện, nàng từng thể hiện thái độ mâu thuẫn đối với đời sống mới, nhưng ở phần kết, nàng đã hy sinh ảo tưởng về tuổi trẻ vĩnh hằng và chấp nhận sự bình phàm của chính mình. Hành động như Nàng thiếu nữ Thiên Nga đòi hỏi chúng ta phải từ bỏ những tiềm năng vô hạn đầy hào hứng nhưng hão huyền, tự phụ, để đổi lấy một trải nghiệm về bản thân được cắm rễ vững chắc trong tính chân thật của chính mình.
Đón nhận cuộc sống đòi hỏi bạn phải đón nhận số phận bình phàm của con người một cách thanh thản. Chú ngựa da (Skin Horse) trong câu chuyện cổ tích kinh điển Chú thỏ nhung (The Velveteen Rabbit) hiểu rất rõ rằng: khi chúng ta từ bỏ sự tự phụ hoàn hảo và thừa nhận sự bình phàm của mình, chúng ta sẽ nhận được một kho báu vô giá:
“Để trở thành 'thật'…… phải mất một thời gian rất dài. Đó là lý do vì sao điều này không thường xảy ra với những món đồ chơi dễ vỡ, sắc cạnh, hoặc những thứ phải được giữ gìn cẩn thận. Thông thường, khi cháu biến thành 'thật', phần lớn lông trên người cháu đã bị rụng hết vì được yêu thương, mắt cháu rơi ra, các khớp nối lỏng lẻo và cả người trở nên tồi tàn, cũ kỹ. Nhưng tất cả những điều đó chẳng hề gì, bởi vì một khi cháu đã trở thành 'thật', trừ những kẻ không hiểu chuyện ra, sẽ chẳng có ai chê cháu xấu xí cả.”
Vết sẹo của Nàng thiếu nữ Thiên Nga và lớp da sờn rách của Chú ngựa da đều vô cùng đẹp đẽ, bởi vì chúng là minh chứng cho một hành trình độc nhất, là dấu ấn của một cuộc đời đã từng sống và từng yêu thương trọn vẹn.
Lắng nghe tiếng nói của chính mình
Nuôi dưỡng cảm nhận độc nhất về bản thân đòi hỏi chúng ta phải biết lắng nghe tiếng nói bên trong mình. Brooke Shields nhận ra rằng việc làm mẹ đã giúp cô lắng nghe những tiếng nói ấy, và cuối cùng có thể thấu hiểu bản năng, trực giác và suy nghĩ của chính mình. Cô đã có thể phân tách bản thân khỏi người mẹ của mình và nghe thấy những khát khao chân thật nhất:
“Tôi đã mất một thời gian dài, trải qua rất nhiều thử nghiệm và sai lầm đau đớn mới có thể thoát khỏi sự trói buộc cảm xúc từ mẹ, để bắt đầu có niềm tin vào các giá trị của chính mình. Khi học đại học, qua việc rèn luyện trí tuệ, tôi đã nếm trải hương vị của quyền tự chủ, nhưng điều đó chỉ giới hạn trong phạm vi học tập. Mãi rất lâu về sau, tôi mới bắt đầu hình thành những suy nghĩ của riêng mình và dùng bản năng sáng tạo để cất lên tiếng nói. Thiên chức làm mẹ đã thúc đẩy sự trưởng thành này, mang lại cho tôi sự tự tin ngày một lớn dần.”
“Sau khi sinh bé Rowan, tiếng nói nội tâm của tôi trở nên rõ ràng hơn bao giờ hết. Đối với tôi, đó là một sự thức tỉnh, bởi vì dẫu suy nghĩ của tôi có khác với mẹ tôi (và những người khác), điều đó không có nghĩa là tôi sai. Khi tôi phải nuôi dạy đứa con của chính mình, dường như mọi thứ được bắt đầu lại từ đầu, và lần này tôi sẽ đi theo trực giác của bản thân. Mọi chuyện không diễn ra sau một đêm; thuở ban đầu, vì trầm cảm, tôi thậm chí còn rất khó tìm thấy trực giác của mình, nhưng cuối cùng, niềm tin và những chính kiến vững vàng của tôi vẫn trỗi dậy.”
Một khi có thể lắng nghe các giá trị và sở thích của mình, chúng ta sẽ càng có khả năng đưa ra những cam kết có ý thức với chúng. Tuy nhiên, đúng như Shields đã chỉ ra, quá trình này cần thời gian và có thể trải qua nhiều thăng trầm.
Giống như nàng Selkie, Nàng thiếu nữ Thiên Nga ban đầu không thể đưa ra một cam kết trọn vẹn với cuộc sống trần thế. Nàng dường như bằng lòng và đã an cư với cuộc sống của mình, nhưng một số việc dở dang chưa được giải quyết (unfinished business) vẫn bị lãng quên, treo lơ lửng trên gác xép tâm hồn nàng, cho đến khi cô con gái đang lớn khơi dậy mâu thuẫn ấy. Quả thực thường là như vậy: khi con cái chúng ta (đặc biệt là con gái) bước vào một giai đoạn phát triển nhất định, khi chúng đối mặt với những thử thách trong cuộc sống mà bản thân chúng ta từng chưa thể giải quyết ổn thỏa, các vấn đề cũ của chúng ta sẽ bị đánh thức. Chiếc áo lông vũ treo trên gác xép là một hình ảnh ẩn dụ; nó có thể là những số phận lớn nhỏ trong đời mà ta chưa từng làm hòa. Chúng ta ai cũng có thể mang những thôi thúc thầm kín muốn trốn chạy số phận, mơ mộng thoát khỏi sự bình phàm; nhưng làm như vậy, chúng ta đã không thực sự cam kết với chính mình và cuộc đời.
Khi tôi khoảng mười một, mười hai tuổi — ngay trước ngưỡng cửa bước vào giai đoạn dậy thì vừa kỳ diệu vừa đầy hiểm nguy — tôi đã có một tình bạn sâu sắc với cô bé hàng xóm. Đó là một gia đình đến từ Pháp, cha mẹ cô bé nói chuyện bằng chất giọng Pháp vô cùng quyến rũ. Mọi thứ trong cuộc sống của Celine đều khiến tôi say đắm: phong cách ăn mặc thanh lịch của mẹ cô ấy, những kỳ nghỉ trượt tuyết ở châu Âu, những món ăn mẹ cô ấy chuẩn bị và cách bài trí tinh tế trong ngôi nhà — tôi hoàn toàn bị Celine và gia đình cô ấy hớp hồn. Mẹ tôi có chút dè chừng trước vẻ thanh lịch kiểu châu Âu này, đặc biệt là trước sự si mê của tôi đối với nó. Tôi nhớ mỗi lần tôi đi chơi từ nhà Celine về, mẹ thường gay gắt chỉ trích rằng tôi đang bắt chước cách nói chuyện của Celine.
Suy cho cùng, tình bạn của tôi với Celine là một nỗi khát khao đơn phương: khao khát được đón nhận vào một tầng lớp đầy quyến rũ và tinh tế. Nỗi khao khát lo âu muốn được chấp nhận theo cách đó bắt nguồn từ một căn nguyên rất sâu xa: mẹ tôi vốn là một cô gái nông thôn vùng Georgia sống ở vùng ngoại ô Connecticut, bà luôn cảm thấy mình lạc lõng, không hòa nhập được với xung quanh. Đó thực sự là một món nợ quá khứ chưa được hóa giải.
Khi con gái tôi trạc tuổi tôi hồi kết bạn với Celine, con bé cũng xây dựng một tình bạn kỳ diệu với một cô bé sống cùng khu phố. Olivia lớn hơn con bé một chút, sành sỏi và từng trải hơn. Bố mẹ Olivia đều là nhà văn: bố là giáo sư kiêm nhà thơ, còn mẹ thì viết một cuốn hồi ký rất nổi tiếng. Mẹ của Olivia nhỏ nhắn, thời thượng, dù mặc trang phục mốt nào trông cũng toát lên vẻ cuốn hút tự nhiên. Ngôi nhà của họ được bài trí khéo léo với những bộ sưu tập đặc biệt, thường xuyên tổ chức những bữa tiệc ngẫu hứng; khách mời đều là những nghệ sĩ, học giả và trí thức địa phương phóng khoáng, và là một trong những người được mời, tôi cảm thấy vô cùng hãnh diện.
Olivia duyên dáng, thông minh, sáng tạo. Cô bé luôn là đứa trẻ nổi bật nhất trong nhóm bạn, và cô bé lập tức có cảm tình với con gái tôi; hai đứa trẻ cùng nhau tạo dựng nên những thế giới tưởng tượng trong các trò chơi. Thú thực, tôi cũng bị mê hoặc, hệt như tôi từng mê gia đình Celine nhiều năm về trước. Tôi rất sẵn lòng gửi gắm con gái vào tình bạn mới này, cho phép con bé ở lại nhà Olivia hàng giờ liền. Khác với mẹ tôi ngày xưa, tôi không hề kiềm chế xu hướng muốn bắt chước Olivia của con gái, nhưng đáng sợ là tôi lại gián tiếp khuyến khích điều đó. Làm như vậy, tôi đã vô tình đẩy con gái mình vào một áp lực tinh vi, khiến con không được bảo vệ; áp lực ấy biến con bé thành một người không giống với chính mình. Mãi cho đến khi con bé bắt đầu trở về với vẻ ủ rũ sau mỗi lần chơi với Olivia, tôi mới giật mình nhận ra điều gì đang xảy ra và hành động để cứu vãn tình hình.
Tình bạn giữa con gái tôi và Olivia đã đánh thức những vấn đề dở dang trong quá khứ của tôi. Cảm giác tự ti về sự thiếu hụt và khao khát trở thành một ai đó khác — hệt như chiếc áo choàng lông vũ của Nàng thiếu nữ Thiên Nga — đã được giấu khéo léo suốt bao năm trên gác xép, nhưng chưa bao giờ được giải quyết triệt để. Điều đó khiến tôi dễ dàng phó mặc bản thân (và con gái tôi) cho ảo tưởng mà mình hằng mong ước bấy lâu. Hành động ấy chẳng khác nào tôi đã bay vút đi, tạm thời đào tẩu khỏi vị trí của mình và sa vào một nỗ lực nông nổi nhằm nắm bắt một điều gì đó hư ảo và không chân thật.
Giống như Nàng thiếu nữ Thiên Nga, tôi đã tạm thời thoái lùi về giai đoạn phát triển ban đầu của mình. Đối với tôi, đó là sự nhìn lại những tổn thương và những khúc mắc chưa có lời giải về cảm giác thuộc về và nỗi sợ bị gạt ra ngoài lề. Nhưng khi làm vậy, tôi đã bỏ rơi con gái mình về mặt cảm xúc. Đó là một bài học đau đớn, nhưng nó giúp tôi thấu suốt những món nợ tâm lý từ thuở nhỏ. Nhìn thấy nỗi khổ tâm của con gái, tôi buộc phải nỗ lực làm một việc: thừa nhận vai trò của chính mình trong hoàn cảnh đó. Tôi phải từ bỏ ảo tưởng về việc thuộc về một “vòng tròn hào nhoáng”, bằng lòng trở về với sự bình phàm của bản thân, cắm rễ vững chắc vào vai trò của mình: trở thành người bảo vệ cho quyền tự chủ và cảm nhận về bản thân của con gái. Tôi chọn sự chân thật và bình phàm, và qua việc làm đó, tôi đã trở về với chính mình, trở nên khiêm nhường hơn một chút, nhưng cũng sáng suốt và mạnh mẽ hơn.
Thông qua việc đối diện với những thử thách của thiên chức làm mẹ, một người phụ nữ Selkie có thể nhận ra rằng mình hoàn toàn có thể học cách thấu hiểu tính cá nhân độc nhất của bản thân; cô có thể phân định rạch ròi giữa nhu cầu của chính mình với những kỳ vọng và đòi hỏi của người khác. Khả năng đứng lên và bảo vệ chính mình sẽ giúp cô có thể đưa ra những cam kết chân thành với con cái, gia đình hoặc sự nghiệp. Nếu bạn nhận thấy mình mang đôi chút bóng dáng của người phụ nữ Selkie, việc làm mẹ có thể mang lại cảm giác như một chiếc bẫy và sự mất mát tự do. Nhưng đó cũng chính là cơ hội để bạn giành lại sự bình phàm độc nhất vô nhị của mình, để bạn có thể trở thành con người mà số phận định sẵn. Nếu mọi sự thuận buồm xuôi gió, người phụ nữ Selkie sẽ lột xác thành Nàng thiếu nữ Thiên Nga — những người dám đón nhận thử thách để trở thành phiên bản chân thật nhất của chính mình, và tìm thấy sự biến đổi vĩ đại trong chính hành trình đó.
Gợi ý suy ngẫm về sự mất đi tự do……
1. Cả nàng Selkie và Nàng thiếu nữ Thiên Nga đều bị đánh cắp tấm da trong lúc hoàn toàn không phòng bị và ở trạng thái dễ tổn thương nhất. Đã bao giờ bạn cảm thấy một phần quan trọng nào đó của mình bị tước đoạt, khiến bạn cảm thấy bị mắc kẹt chưa?
2. Có nơi nào trong cuộc sống mà chính bạn cũng đang tự đánh cắp tấm da của mình không? Có thể là bạn đã cam kết làm một việc mà một phần bên trong bạn thực chất không hề muốn làm và cảm thấy bất an. Hoặc có thể bạn đã để bản thân bị giam cầm bởi một ý tưởng, một vai trò, một con người hay một công việc. Lợi ích tiềm ẩn của sự giam cầm này là gì? Liệu đó có thể là một nỗ lực nào đó hướng tới sự phát triển lành mạnh hay không?
3. Phần nào bên trong bạn giống như nàng Selkie — vô lo vô nghĩ, chuyển dịch uyển chuyển giữa các hình thái khác nhau của bản thân? Và phần nào bên trong bạn giống như người nông dân — vững chãi, chất phác, nhưng có lẽ đôi khi cũng hơi tẻ nhạt và đơn điệu?
4. Bạn có đang giấu phần bí mật nào của mình sau một viên gạch lỏng lẻo hay trên gác xép tâm hồn không? Những cảm xúc chưa được giải quyết nào đang trói buộc bạn với quá khứ, khiến cuộc sống hiện tại của bạn không còn nhiều khoảng trống thảnh thơi?
5. Ở những khía cạnh nào bạn mới chỉ đưa ra những cam kết mang tính tạm bợ đối với cuộc đời mình?
6. Người thợ săn đã phải nỗ lực phi thường và trải qua vô vàn thử thách mới tìm lại được vợ mình. Trong cuộc sống của bạn, có điều gì đòi hỏi bạn phải trải qua một cuộc tìm kiếm lâu dài và gian khổ mới có thể tìm lại được không?
7. Vết sẹo mà Nàng thiếu nữ Thiên Nga phải chịu khi chăm sóc con cái cuối cùng đã giúp nàng phân biệt được mình với các chị em, đồng thời neo giữ nàng lại với cuộc sống trần thế. Bạn cảm thấy trải nghiệm làm mẹ đã để lại những dấu ấn nào trên con người bạn, biến bạn thành một cá thể độc nhất phân biệt với những người khác?
Chú thích cuối chương 1
⚬ Chú thích của dịch giả: Donald Winnicott và Heinz Kohut đều từng đề cập đến khái niệm "phản chiếu" (mirroring). Winnicott cho rằng ở giai đoạn sơ sinh sớm nhất, đứa trẻ chưa phát triển được cảm nhận ổn định về bản thân; đứa trẻ cần cảm nhận được chính mình qua ánh mắt, biểu cảm nét mặt và cử chỉ cơ thể của người mẹ, từ đó dần hình thành cảm nhận về bản thể (sense of self). Quá trình này được gọi là sự phản chiếu.
⚬ Chú thích của dịch giả: Acetaminophen, còn gọi là paracetamol, là một loại thuốc dùng để giảm đau và hạ sốt.
⚬ Chú thích của dịch giả: Selkie là một sinh vật huyền thoại trong truyện cổ tích Scotland; ở dưới nước họ là hải cẩu, nhưng khi lên bờ họ có thể trút bỏ lốt hải cẩu để trở thành con người.
⚬ Chú thích nguyên tác: Marie-Louise von Franz, The Problem of the Puer Aeternus (Bản dịch tiếng Trung: Vĩnh hằng thiếu niên: Khám phá sự từ chối trưởng thành dưới góc nhìn Jungian, Từ Bích Trinh dịch, Đài Bắc: Tâm Linh Công Phường, 2018), tr. 2.
⚬ Chú thích nguyên tác: Brooke Shields, There Was a Little Girl: The Real Story of My Mother and Me (New York: Dutton, 2014), tr. 221.
⚬ Chú thích nguyên tác: Brooke Shields, Down Came the Rain: My Journey through Postpartum Depression (New York: Hyperion, 2005), tr. 91.
⚬ Chú thích của dịch giả: Hai chiếc hộp (The Two Caskets) là một câu chuyện cổ tích vùng Scandinavia được Benjamin Thorpe thu thập trong cuốn Yule-Tide Stories: A Collection of Scandinavian and North German Popular Tales and Traditions.
⚬ Chú thích nguyên tác: Margery Williams, The Velveteen Rabbit (Bản dịch tiếng Trung: Chú thỏ nhung, Tạ Tĩnh Văn dịch, Đài Bắc: Nam Phương Gia Viên, 2017), tr. 5–6.
⚬ Chú thích nguyên tác: Brooke Shields, Down Came the Rain, tr. 156–157.
Bình luận