PHẦN 4: ĐÀN ÔNG TRUNG QUỐC NGÀY NAY
Giải mã đàn ông kiểu Trung Quốc
[ Người đàn ông Trung Quốc không được phép có dục vọng ]
Hình mẫu người đàn ông Trung Quốc kinh điển được ca tụng trong văn hóa truyền thống vốn là mẫu đàn ông chất phác thật thà, không màng dục vọng, không mang tính công kích, đạo đức ngút trời và vô cùng có trách nhiệm. Phụ nữ chưa chắc đã yêu say đắm kiểu người này, nhưng rất nhiều phụ nữ lại chọn kết hôn với họ, bởi thấy mẫu đàn ông này vô cùng chắc chắn, đáng cậy trông. Sự lựa chọn ấy hoàn toàn có lý lẽ của nó: Đối với người phụ nữ vẫn đang dừng lại ở thời kỳ tâm lý trẻ sơ sinh (như hình mẫu “yêu nữ” đã bàn ở phần trước), bản ngã của cô chưa thành hình; cô cần một người đàn ông ổn định, không bao giờ bỏ rơi mình để làm bạn đồng hành, hay nói đúng hơn là làm một chiếc bình chứa dung nạp thứ cảm xúc mang đầy yêu tính của cô. Mẫu đàn ông ấy cùng với “yêu nữ” vừa vặn tạo thành một cặp bài trùng tồn tại vô cùng sâu sắc.
Thế nhưng trong xã hội Trung Quốc, bên cạnh kiểu đàn ông ấy, số lượng “hòa thượng” cũng nhiều vô kể, thậm chí có thể ví là những “thái giám” — tức những người đàn ông đã bị thiến hoạn về mặt tâm lý. Bởi xã hội phong kiến Trung Quốc xưa nay vốn là một xã hội chuyên chế; hệ thống quyền lực được kiến tạo bởi nam giới, phụ nữ tuyệt đối không được tham dự vào. Đã là nền thống trị chuyên chế thì trong toàn bộ hệ thống ấy chỉ được phép có duy nhất một người đàn ông đích thực: đó chính là Hoàng đế. Những gã đàn ông còn lại chỉ là gạch ngói vụn vặt đắp nên cỗ máy quyền lực. Hoàng đế với tư cách là kẻ nắm giữ quyền lực tuyệt đối, luôn đòi hỏi những người đàn ông khác không được phép tạo thành bất kỳ mối đe dọa nào đối với ngai vàng; vì thế phải bảo đảm chỉ có một người đàn ông duy nhất tồn tại, còn tất thảy đàn ông khác đều phải bị thiến hoạn.
Hình dung bằng một bức tranh mang tính biểu tượng: toàn bộ xã hội phong kiến Trung Quốc tựa như một Tử Cấm Thành. Trong hoàng cung chỉ có độc một mình Hoàng đế — chỉ người đàn ông này mới sở hữu bộ phận sinh dục; ngài có muôn vàn thê thiếp, cùng thê thiếp sinh con đẻ cái. Thế nhưng Hoàng đế đâu rảnh rỗi để bầu bạn cùng phi tần, cũng chẳng mấy khi kề cận bên con trẻ; vậy ai là kẻ ngày đêm kề cận người phụ nữ và con thơ? Chính là thái giám.
Bối cảnh gia đình trong xã hội Trung Quốc ngày nay cũng thường xuyên diễn ra cảnh tượng tương tự: Một người phụ nữ sinh con đẻ cái, nhưng người chồng thực sự, người đàn ông đích thực dường như chẳng hề hiện diện bên cạnh; kẻ ngày ngày bầu bạn cùng cô lại là một gã “thái giám” không dục vọng, cũng chẳng có chút cảm xúc bộc lộ nào. Bởi vậy trong nhiều mái ấm hiện đại, có những người phụ nữ cay đắng thốt lên: Chính chồng tôi đã ép tôi phải trở nên cường thế hung hăng như thế này; chính anh ta đã bức tôi biến thành một con người như ngày hôm nay!
Đằng sau hai chữ “ép” và “biến” ấy, là một người đàn ông không chính kiến, không chủ động, không cảm xúc, không giận dữ, thậm chí có phần nhu nhược, hèn kém. Sự bất lực buông xuôi của người đàn ông khiến người phụ nữ cảm thấy: nếu mình không nhảy xổ ra chống đỡ thì cái nhà này làm sao gánh gác, làm sao duy trì cho nổi! Thế là người phụ nữ buộc phải vì chuyện học hành của con mà đấu tranh, vì công việc mà bươn chải giành giật, để rồi ngày càng trở nên cường thế, lấn lướt.
Thế nhưng vì cớ gì người đàn ông ấy lại bất động buông xuôi? Bởi hễ anh ta cựa quậy hành động, anh ta liền tự thấy mình mang tội!
Hệ thống quyền lực trong thực tế được chia làm hai phần: hệ thống quyền lực xã hội và hệ thống quyền lực gia tộc. Vì đàn ông cấu thành nên hệ thống, nên anh ta phải cân đong đo đếm mọi thứ ràng buộc bên trong hệ thống ấy. Trái lại, người phụ nữ bị gạt ra ngoài rìa hệ thống, nhờ thế cô lại có được sự tự do tự tại, có thể thỏa sức giương nanh múa vuốt. Còn nếu người đàn ông dám giương nanh múa vuốt, anh ta sẽ phải đối mặt với tội danh phản bội lại cả gia đình, thậm chí là thách thức toàn bộ hệ thống quyền lực.
Trong tiểu thuyết Thế giới bình phàm, chuyện tình giữa các nhân vật nam nữ chính toàn là cảnh phụ nữ chủ động cọc đi tìm trâu, theo đuổi đàn ông. Vì sao vậy? Bởi người đàn ông phải đắn đo quá nhiều thứ: liên minh quyền lực, ràng buộc lợi ích, sự an nguy của cả gia tộc; hơn nữa anh ta vốn ở trong trạng thái bị thiến hoạn: cấp trên bảo sao phải nghe vậy, tộc trưởng lệnh thế nào phải răm rắp tuân theo, bằng không sẽ giáng tai họa xuống đầu cả dòng họ. Phụ nữ thì đứng đơn độc một mình, nên họ có thể liều mình bất chấp tất cả để lao theo tiếng gọi của tình yêu.
Truyền thống Trung Quốc tuy trọng nam khinh nữ, song xét cho cùng những gã đàn ông bình thường lại vô cùng mất tự do; phụ nữ trái lại còn có được một khoảng không gian tự do nhất định. Luôn có một thứ đạo đức ngột ngạt đè nén lên vai người đàn ông. Kẻ mang thứ đạo đức ấy được xã hội tán dương là người có tinh thần trách nhiệm cao, biết nghĩ cho đại cục... Nhưng dưới lăng kính tâm lý học, đó thực chất là trạng thái không dám sống thật với chính mình. Người đàn ông ấy đã bị hệ thống quyền lực thiến hoạn từ lâu, vậy mà bản thân vẫn đinh ninh mình làm thế là đúng đắn, chưa từng một lần phản tỉnh để nhận ra cảnh ngộ của mình đáng thương và bi ai biết nhường nào.
[ Kiểu đàn ông dị biệt — “Tiểu tiên nhục” ]
Trong thế hệ nam thanh niên 9x hiện nay, xuất hiện một hiện tượng hoàn toàn trái ngược với hình tượng đàn ông truyền thống: đó là sự bùng nổ của các “tiểu tiên nhục” (trai trẻ đẹp mã, trắng trẻo thư sinh), rất nhiều chàng trai mang khí chất vô cùng ẻo lả, nữ tính (“nương”).
Cách đây ít lâu, tuần san Tinh Chu San giật một hàng tít lớn: Đàn ông Trung Quốc đã biến đi đâu hết rồi?. Bài báo nhận định: Đàn ông lẽ ra phải rắn rỏi kiên cường, đầu đội trời chân đạp đất, phải ra dáng một “nam tử hán”. Thế nhưng những chàng trai thời nay phô diễn ra lại là sự rụt rè không dám gánh vác, tính khí như những cậu bé con, răm rắp để mẹ sắp đặt mọi sự từ đầu đến chân, ranh giới giới tính dường như ngày một nhạt nhòa. Họ không còn giống những gã đàn ông chất phác năm xưa nai lưng cõng gánh nặng gia đình rồi đè nén mọi cảm xúc, mà đã sở hữu một mức độ tự do nhất định.
Thế nhưng thật kỳ quặc: một khi có được tự do, họ dường như lại biến thành những bé gái, dùng phương thức của phái nữ để sinh tồn trong xã hội này! Bởi lẽ xã hội này xưa nay vẫn không khuyến khích sự tồn tại của những nhân cách thực sự độc lập, thành thử họ trong vô thức học cách tỏ ra đáng yêu, bắt chước các bé gái làm nũng để nịnh nọt và lấy lòng xã hội quyền lực. Khi họ hành xử như những cô bé con, họ cảm thấy an toàn hơn, bởi họ không tạo ra bất kỳ sự đe dọa nào đối với quyền lực, người đời sẽ dễ dàng bao dung tiếp nhận họ hơn; còn phương diện đầy nam tính bên trong họ — như tính công kích, sự quyết liệt — tuyệt nhiên không bao giờ dám bộc lộ ra ngoài.
Có người bảo đây là ảnh hưởng của văn hóa đại chúng — ví như các nhân vật thiếu niên trong truyện tranh Nhật - Hàn đều mang dáng dấp ấy; lại có người đổ tại trong nhà trẻ toàn các cô bảo mẫu và giáo viên nữ, giáo viên nam hiếm như lá mùa thu nên rất khó rèn giũa khí phách đàn ông cho trẻ nhỏ. Kỳ thực những điều ấy vừa là nguyên nhân, vừa là một mắt xích nằm trong toàn bộ hệ thống. Cả hệ thống ấy đã đúc nên một tầng vô thức tập thể, nhào nặn người đàn ông biến thành bộ dạng như hiện nay.
Nhật Bản và Hàn Quốc cũng giống chúng ta, đều mang cấu trúc quyền lực của văn hóa Nho giáo, thậm chí sự kìm nén ở Nhật và Hàn còn nặng nề hơn chúng ta. Thế nhưng song hành cùng văn hóa Nho gia, tư tưởng tự do phương Tây cũng thẩm thấu vào họ vô cùng sâu sắc; họ hết sức đề cao việc mỗi cá nhân phải được sống là chính mình. So với chúng ta, đàn ông của họ ra dáng đàn ông hơn, và phụ nữ của họ cũng ra dáng phụ nữ hơn. Cho dù có những chàng trai ăn vận rất thời thượng, ngoại hình trông như “tiểu tiên nhục”, song khi mở lời hay làm việc, họ vẫn vô cùng dứt khoát, quyết đoán và cực kỳ dám bộc lộ bản ngã của chính mình.
[ Phương thức nuôi dạy bé trai ]
Các bậc phụ huynh thời nay dường như hoàn toàn thiếu vắng ý thức nuôi dạy con trai trở thành một “nam tử hán”. Dạy dỗ một bé trai, điều cốt tử là phải bồi dưỡng tính độc lập và ý thức tự ngã, để con tập thói quen tự mình gánh vác, học cách chịu trách nhiệm trước những lựa chọn của bản thân, đồng thời biết cách nhìn nhận và xử lý cảm xúc của chính mình; chứ tuyệt đối không phải khi con còn thơ bé đã cấm con không được khóc, ngăn con không được bộc lộ con người chân thực. Những bậc cha mẹ có trí tuệ sẽ có ý thức khôi phục lại thế giới nội tâm chân thực của bé trai, dẫn dắt và bảo bọc tính công kích của con, dạy con học cách đón nhận những dục vọng bản năng, cho phép con sống thật với chính mình — đứa trẻ ấy lớn lên chắc chắn sẽ vô cùng xuất chúng.
Đối với cha mẹ, dùng sự tự do và lòng tin cậy để tôi luyện một bé trai thành một trang nam tử đích thực là một chặng đường dài đằng đẵng. Chúng ta cần phải né tránh những vết xe đổ của hủ tục truyền thống, dẫn dắt con bộc lộ bản thân một cách chân thực và tự kỷ luật, đạt được điểm cân bằng nhuần nhuyễn giữa tự do và kiềm chế, giữa sức mạnh và sự nhẫn nại. Đó là bài học mà bất kỳ bậc phụ huynh nào mong muốn con khôn lớn khỏe mạnh đều phải nghiêm túc đối diện.
Chỉ cần cha mẹ thời nay — đặc biệt là cha mẹ của những bé trai — có ý thức bồi dưỡng những tố chất nền tảng ấy, đứa trẻ sẽ trưởng thành thành một con người chân thực và tràn đầy sức mạnh; cả gia đình lẫn toàn xã hội đều sẽ nhờ đó mà thụ hưởng trái ngọt; phụ nữ cũng chẳng cần phải gồng mình chôn chân nơi vị thế cường thế ngột ngạt nữa, mà có thể thảnh thơi tìm lại thiên tính mềm mại, dịu dàng vốn có của mình. Dĩ nhiên, điều này đòi hỏi một khoảng thời gian dài lâu, và cần sự nỗ lực tiếp nối của biết bao thế hệ.
Đàn ông sau kết hôn không còn “hứng thú tình dục” với vợ?
[ “Hoa hồng trắng” và “Hoa hồng đỏ” ]
Trên hòm thư trang WeChat “Thanh Âm” từng nhận được lời tâm sự của một nữ độc giả: Trước khi cưới, chồng cô trong chuyện chăn gối vô cùng chủ động, nồng nhiệt, thuở ấy hai người hòa hợp tuyệt vời; thế nhưng cưới nhau xong, người chồng đột nhiên mất hẳn hứng thú với cô, đẩy cả hai rơi vào trạng thái “hôn nhân không tình dục”. Người vợ vô cùng hoang mang, âu lo: Liệu có phải chồng đã có bồ nhí bên ngoài? Hay do bản thân mình đã đánh mất sức quyến rũ?
Cô từng muốn đưa chồng đến bệnh viện kiểm tra sức khỏe xem sinh lý có gặp trục trặc gì không. Tuy nhiên, dẫu tần suất quan hệ vô cùng hiếm hoi, nhưng mỗi khi diễn ra tự nhiên, người chồng hoàn toàn không gặp bất kỳ trở ngại chức năng nào. Ngoại trừ chuyện chăn gối gần như bằng “không” ra, các phương diện khác giữa hai người vẫn rất êm ấm, thuận hòa. Cô thực sự bất lực không hiểu nổi rắc rối rốt cuộc bắt nguồn từ đâu.
Trường hợp người phụ nữ này kể thực chất là một ca bệnh vô cùng điển hình. Ở Trung Quốc, rất nhiều đàn ông hễ đụng tới chuyện chăn gối với vợ là lập tức nảy sinh chướng ngại. Những người đàn ông này về mặt sinh lý hoàn toàn không có tổn thương thực thể; khi “tình một đêm” hay gần gũi nhân tình bên ngoài, họ có thể lâm trận hết sức tự nhiên, trơn tru, song hễ đối diện với người vợ tào khang thì lại nguội lạnh không chút hứng thú. Nguyên do ẩn sau điều này phức tạp vô cùng.
Dân mạng vẫn lưu truyền những mẩu chuyện cười châm biếm quan tham: “Vợ nhà thì bỏ xó, nhưng nhân tình bên ngoài thì hàng đàn”. Trong nền văn hóa của chúng ta, chuyện đàn ông làm tình với vợ mình dường như nghiễm nhiên phải vấp phải một rào cản tâm lý nào đó; kỳ thực lý thuyết của Freud về “mặc cảm Oedipus” (mặc cảm luyến ái mẹ) của nam giới đã lý giải trọn vẹn hiện tượng này.
Thế nào là mặc cảm luyến mẹ? Freud cho rằng: Con trai từ thuở lọt lòng đều muốn tranh giành mẹ với cha, và dục tính ban sơ của đứa con trai đều hướng thẳng về phía người mẹ. Trước hiện tượng tâm lý ấy, chúng ta cần ứng xử ra sao? Chúng tôi chủ trương: “Cho luân chuyển nhưng không thỏa mãn.”
“Luân chuyển” nghĩa là cha mẹ không cần phải ngăn cấm ý niệm muốn gần gũi mẹ của đứa trẻ, không cần vì thế mà mắng mỏ đòn roi. Rất nhiều cậu bé từng hồn nhiên bảo với mẹ: “Mai này lớn lên con sẽ cưới mẹ!” (thực ra nhiều bé gái cũng từng nói “lớn lên con lấy bố”). Đứa con hoàn toàn có thể gắn bó thân thiết bên mẹ.
Nhưng đồng thời chúng ta tuyệt đối không được “thỏa mãn” ý niệm ấy của con. “Thỏa mãn” nghĩa là khiến đứa con trai ảo tưởng rằng mẹ coi trọng mình hơn bố, mẹ dường như là người tình của riêng mình, còn bố chỉ là kẻ đứng hàng thứ hai trong tim mẹ. Sự “thỏa mãn” lệch lạc ấy sẽ gieo rắc tai ương khôn lường cho đứa trẻ.
Một mặt, cậu con trai sẽ dâng lên một “cảm giác chiến thắng”, tự đắc thấy mình đã đánh bại người cha; song mặt khác, sâu thẳm bên trong nó sẽ xuất hiện một nỗi cắn rứt lương tâm và cảm giác tội lỗi, hổ thẹn tột cùng. Nếu đứa con trai trở thành “kẻ chiến thắng” trong mối quan hệ tam giác với cha mẹ, điều đó sẽ trực tiếp phá hỏng đời sống tình dục của anh ta mai sau. Thuở ban sơ, khi phát hiện ra dục tính của mình hướng về mẹ, đứa trẻ sẽ sinh lòng tội lỗi; nếu nút thắt này không được tháo gỡ thấu đáo, sau khi kết hôn, anh ta sẽ đem nguồn “động lực” ấy phóng chiếu trọn vẹn lên người vợ. Anh ta sẽ có cảm giác làm tình với vợ chẳng khác nào đang làm tình với chính mẹ ruột của mình!
Trong văn hóa Trung Quốc, đàn bà thường bị bóc tách thành hai thái cực: “Hoa hồng trắng” và “Hoa hồng đỏ”:
“Hoa hồng trắng” là thánh nữ — phần tính dục bị triệt tiêu hoàn toàn, thần thánh thanh cao bất khả xâm phạm;
“Hoa hồng đỏ” lại là dục nữ — hóa thân trần trụi của nhục dục đam mê.
Hệ quả là sau khi kết hôn, do sự phóng chiếu của mặc cảm luyến mẹ, người vợ nghiễm nhiên biến thành một đóa “hoa hồng trắng”; mà đứng trước hoa hồng trắng, đàn ông làm sao có thể nảy sinh tình dục cho nổi! Chỉ khi bước chân ra ngoài cánh cửa hôn nhân, anh ta mới có thể thỏa sức giải phóng ngọn lửa tình dục của mình — thông qua việc tìm bồ nhí hoặc lao vào những cuộc tình một đêm chớp nhoáng.
[ Nảy sinh tình cảm nồng nhiệt với vợ là có tội ]
Tôi từng lắng nghe rất nhiều người đàn ông trút bầu tâm sự: Sau khi vợ sinh con xong, bản thân họ bỗng mất sạch cảm giác với vợ, chẳng còn chút ham muốn ân ái nào. Hiện tượng này một mặt có thể liên quan tới chuyện sinh nở — ví như vóc dáng người vợ sồ sề, biến đổi; mặt khác là do người vợ dồn toàn tâm toàn ý cho con thơ nên cũng nguội lạnh với chồng. Thế nhưng biến chuyển tâm lý của người vợ và người chồng lại có mối tương quan mật thiết với nhau.
Ở đây ẩn chứa một ẩn dụ vô cùng sâu sắc: Người đàn ông sau khi có con liền chính thức hóa thân thành “người cha”. Thân phận mới này sẽ đánh thức mảng ký ức về mối quan hệ cạnh tranh vi diệu giữa anh ta và cha mình thuở ấu thơ; kết quả dẫn tới việc anh ta không thể nào chạm tay vào thân xác vợ mình được nữa. Hiện tượng này ở những nơi tư tưởng “trọng nam khinh nữ” càng nặng nề — như vùng Triều Sán hay Khách Gia — lại càng phổ biến hơn bao giờ hết.
Trong trường hợp nêu ở đầu bài: khi yêu thì nhu cầu tình dục bình thường, đính hôn xong bắt đầu giảm sút, cưới xong càng ít ỏi hơn, và nếu tiến xa hơn nữa thì sau khi sinh con gần như triệt tiêu hoàn toàn. Ở đây cũng chứa đựng một ẩn dụ: Người đàn ông sau khi kết hôn dường như đã dõng dạc tuyên cáo với toàn thế giới rằng: người phụ nữ này chính là đối tượng quan hệ tình dục hợp pháp của anh ta!
Người đàn ông trong tiềm thức sẽ thấy dường như tất cả mọi người đều biết tỏng anh ta sẽ lên giường với người phụ nữ này; cái sự “biết tỏng” ấy hệt như có hàng triệu cặp mắt đang chằm chằm soi mói vào anh ta. Bởi thế, anh ta thông qua hành vi “tôi không thèm làm tình với vợ” để ngấm ngầm chứng minh: Thực ra tôi chẳng hề ham hố chuyện thể xác với đàn bà, tôi không hề mắc chứng luyến mẹ! Sau đó, anh ta lén lút giải tỏa nhục dục thông qua những mối tình vụng trộm dưới gầm trời — bởi những thứ đó là điều mắt trần thiên hạ không nhìn thấy được.
Nói cách khác, sự bài xích ban đầu của anh ta bắt nguồn từ cơ chế né tránh tâm lý trước những tình cảm nồng nhiệt dành cho mẹ; dần dà sự “né tránh” ấy hóa thành một thói quen cố hữu, và thói quen ấy tiếp tục đeo bám dai dẳng vào cuộc hôn nhân của anh ta. Sở dĩ anh ta đối xử lạnh nhạt với vợ như vậy, là bởi sâu thẳm bên trong, anh ta đinh ninh rằng việc nảy sinh thứ tình cảm nồng nhiệt cháy bỏng với chính vợ mình là một điều tội lỗi!
Lẽ dĩ nhiên, toàn bộ những “động lực” và “phóng chiếu” ấy đều ẩn sâu dưới đáy tiềm thức. Ở tầng ý thức tỉnh táo, người đàn ông sẽ không bao giờ nhận ra mình mang khuynh hướng lệch lạc này. Song chính sự tồn tại của dòng chảy tiềm thức ấy đã bóp chết mọi ham muốn đụng chạm vào cơ thể người vợ.
[ Mấu chốt nằm ở người đàn ông, không liên quan nhiều đến phụ nữ ]
Những người phụ nữ rơi vào cảnh ngộ “hôn nhân không tình dục” như trong câu chuyện trên ắt hẳn sẽ vô cùng khổ sở, hoang mang. Nếu bạn chính là người vợ ấy, bạn phải làm sao?
Chạm trán tình cảnh này, muốn tháo gỡ thì chìa khóa bắt buộc phải nằm ở người đàn ông. Nếu người chồng đã trượt dài tới mức độ này, phận làm phụ nữ phải tính đường làm sao để tự cứu lấy cuộc đời mình. Lời khuyên cá nhân của tôi là: Nếu mức độ chướng ngại tâm lý của người đàn ông đã chạm tới thang điểm 8,5 (trên thang điểm 10), thì người vợ nên nghiêm túc cân nhắc chuyện ly hôn đi thôi.
Trong chuyện này, mấu chốt nằm ở người đàn ông, chứ tuyệt nhiên không liên quan nhiều đến phụ nữ. Trong đời sống vợ chồng và động lực tình dục, đàn ông luôn là bên nắm giữ vai trò chủ động; một cuộc hôn nhân bất hạnh vì đời sống chăn gối nguội lạnh thì người đàn ông chính là nguyên nhân chủ đạo. Rất nhiều gã đàn ông rơi vào tình trạng này thường kiêng kỵ tuyệt đối việc nhắc tới trục trặc tình dục của bản thân, chẳng bao giờ chịu đụng chạm tới; mẫu đàn ông ấy bắt buộc phải nếm trải thêm vài lần đòn roi đau đớn của cuộc đời thì mới chịu tỉnh ngộ nhận ra bản thân cần phải thay đổi.
Nếu trong nhà nảy sinh vấn đề này, tôi khuyên mọi người đừng chỉ chăm chăm chạy tới bệnh viện khám xem có bị xuất tinh sớm hay liệt dương hay không, mà phải nhận thức rõ ràng rằng đây rất có thể là một vấn đề tâm lý, và thường là vấn đề tâm lý thuần túy. Trong các ca tham vấn tôi từng tiếp nhận, hiện tượng này nhiều vô kể; ngay giữa những người bạn nam giới quanh tôi cũng không hề hiếm gặp.
Liệu tình trạng này có thể “tự lành” được chăng? Điều này phụ thuộc vào mức độ phong bế, cách ly của anh ta đối với “tình dục”. Nếu sự cách ly tâm lý đã ăn quá sâu vào tiềm thức, thì tự thân nỗ lực của một cá nhân tuyệt đối không thể giải quyết hay hàn gắn nổi; anh ta bắt buộc phải cậy nhờ tới sự trợ giúp của các chuyên gia tâm lý.
[ Thuở nhỏ không thiết lập “ranh giới” rõ ràng với mẹ ]
Chiếu theo phương pháp nuôi dạy con khoa học thời nay, muộn nhất là sau ba tuổi, người mẹ tuyệt đối không được đắp chung chăn hay ngủ chung giường với con trai nữa. Bởi việc đó sẽ khiến đứa con trai cảm thấy dục tính của mình nhận được sự thỏa mãn quá lớn. Thế nhưng người Trung Quốc khi nuôi dạy con trai thường mắc phải một cảnh tượng: con đã lớn tướng rồi mà vẫn thản nhiên rúc chung chăn, ngủ chung giường với mẹ; thậm chí có những cậu con trai đã lớn bồng bế mà mẹ vẫn tự tay tắm rửa cho!
Tôi từng nghe có người kể: “Tôi ngủ chung giường với mẹ tới tận năm bốn, năm tuổi.” Người khác bèn chen vào: “Thế đã ăn nhằm gì, tôi ngủ với mẹ tới tận hồi cấp hai đây này!” Một người khác lại bồi thêm: “Tôi còn biết có người ngủ chung với mẹ tới tận cấp ba cơ!” Thậm chí có cậu con trai lên tận đại học vẫn quấn quýt ngủ cùng mẹ. Nhưng đó vẫn chưa phải là chuyện quái gở nhất; tôi từng chứng kiến những người đàn ông đã ngoài năm mươi tuổi, mỗi dịp gia đình tụ họp, cả nhà lại cùng chui vào một chiếc chăn khổng lồ được may riêng!
Bên trong những hành vi ấy ẩn chứa hàm nghĩa “loạn luân” vô cùng nặng nề, châm ngòi cho hàng loạt rắc rối hỗn loạn về mặt tình dục. Người Trung Quốc vì mải mê mưu cầu sự thân mật mù quáng, thường ngây thơ đinh ninh rằng giữa người thân ruột thịt thì tuyệt đối không thể có mối liên hệ dục tính. Song trên thực tế, giữa người thân với nhau, họ trước hết vẫn là đàn ông và đàn bà! Nếu không biết giữ khoảng cách phòng ngừa, những xung động tính dục mãnh liệt vẫn sẽ âm ỉ vận hành bên trong.
Ví như những cô gái ngoài hai mươi tuổi thản nhiên cởi sạch quần áo thay đồ trước mặt cha đẻ; hay cậu con trai đã trưởng thành trong khi người mẹ vẫn còn trẻ trung, lúc con tắm mẹ có thể tự do mở cửa ra vào phòng tắm, thậm chí mẹ chồng của một người bạn tôi còn bĩu môi bảo: “Gớm, có cái gì đâu cơ chứ! Con trai tôi một tay tôi cho bú mớm lớn tướng, trên người nó có cái gì mà tôi chưa từng thấy!”
Điều này một phần có thể bắt nguồn từ hoàn cảnh khách quan như diện tích nhà ở chật chội; song nguyên nhân then chốt nhất vẫn là sự thiếu vắng ý thức: ngỡ rằng ruột thịt thì chẳng việc gì phải giữ kẽ phòng ngừa ranh giới.
Tôi từng tiếp nhận một ca bệnh có trục trặc tình dục vô cùng kỳ quặc: không thể xâm nhập. Về sau qua lời người vợ kể lại, dương vật của anh ta gần như cương cứng suốt 24 giờ mỗi ngày! Chúng ta có thể hiểu thế này: Thuở nhỏ khi ở cạnh mẹ, anh ta liên tục xuất hiện phản ứng tình dục, thậm chí bộ phận sinh dục luôn trong trạng thái cương cứng, chỉ có điều mọi người đều phớt lờ bỏ qua. Nghe qua thì thật đáng thương: Trong quá trình lớn lên, đứa trẻ có xung động tính dục nhưng chưa hề có ý thức về “dục vọng tình dục”; người lớn lại mù tịt kiến thức thường thức này, không hề thiết lập một “ranh giới” rạch ròi với con cái.
Thành thử khi cơ thể phát triển chín muồi, đứng trước vấn đề giới tính, đứa trẻ hoàn toàn không biết hành vi nào là đúng đắn, hành vi nào là sai trái. Dưới sức ép của luân lý xã hội, anh ta theo bản năng và một cách vô thức tự đè nén, kìm kẹp bản thân mình. Một khi sự ức chế ấy biến thành điều cấm kỵ mang tính quán tính, đợi đến khi chính thức bước vào hôn nhân, lúc cần phải phát sinh quan hệ tình dục bình thường, anh ta liền hoàn toàn bế tắc không biết phải đối diện và xử lý ra sao.
Tôi muốn gửi một lời khuyên chân thành tới tất cả những người đàn ông đang gặp trục trặc trong chuyện chăn gối: Nếu bạn nhận thấy thuở nhỏ mình từng quá đỗi quấn quýt thân mật bên mẹ, bên bà ngoại, bà nội hay những người đóng vai “người mẹ thay thế”, thì gốc rễ mọi nỗi bất lực trong tình dục của bạn ngày hôm nay rất có thể bắt nguồn từ chính nơi ấy.
[ “Nhân cách tính dục” có lành mạnh hay không thể hiện ở mọi phương diện cuộc sống ]
Trong quá trình tư vấn tâm lý, tôi đúc kết ra một khái niệm gọi là “nhân cách tính dục”. Một người sở hữu nhân cách tính dục đủ khỏe mạnh thì tâm lý của anh ta ắt không có vấn đề gì lớn. Nếu nhân cách tính dục của một cá nhân bị lệch lạc — bất kể là xấu hổ, tội lỗi, kìm nén quá mức, hay phóng túng buông thả vô độ, nghiện ngập tình dục — thì tâm lý của người ấy chắc chắn đang mang bệnh.
Đây cũng chính là luận điểm cốt tử của Freud: Hai nguồn động lực nguyên thủy của loài người là “động lực tình dục” và “động lực công kích”. Nếu sự biểu đạt của con người ở hai phương diện này xuất hiện vấn đề, chắc chắn sẽ kéo theo những căn bệnh tâm lý ở các phương diện khác.
Dẫu chúng ta đang bàn về “chướng ngại tình dục” giữa vợ chồng, song nó sẽ hiển hiện ở mọi ngóc ngách của đời sống thường nhật: Một người gặp chướng ngại tình dục trong quan hệ hôn nhân, thì ở các khía cạnh khác — như giao tế xã hội, năng lực ứng phó nghịch cảnh, độ dẻo dai của tâm hồn, mối quan hệ cha con, sự xung đột nội tâm bản ngã, hay bước đường phát triển sự nghiệp — chắc chắn sẽ có một hoặc nhiều phương diện trông bề ngoài ngỡ chẳng dính dáng gì tới “tình dục” nhưng kỳ thực lại vô cùng bất thường, thậm chí bệnh hoạn.
Có bạn hỏi tôi: Nếu xung quanh có những người đàn ông như thế, họ có bắt buộc phải cậy nhờ bác sĩ tâm lý chuyên nghiệp can thiệp hay không? Nếu không tìm bác sĩ, mà tự mình đối thoại với bản thân, hoặc ngồi lại nói chuyện thẳng thắn với mẹ để làm rõ căn nguyên, liệu có thể xoay chuyển tình thế chăng?
Câu trả lời dứt khoát của tôi là: Bắt buộc phải có sự can thiệp của chuyên gia! Bởi “tình dục” là một chủ đề vô cùng nhạy cảm và kín đáo; ngay trong giới tư vấn chuyên nghiệp, tình dục luôn là mảng gai góc và gian nan nhất, huống chi là sự tự điều chỉnh mù quáng của cá nhân? Chúng ta có thể dễ dàng tâm sự chuyện mình bị tổn thương, bị phản bội, nhưng tuyệt đối rất khó giữ được sự khách quan khi bàn về chuyện tình dục. Vì sao ư? Bởi tình dục cực kỳ dễ dẫn dụ tâm lý hướng tới ý niệm: “Tôi có tội, tôi đã sai rồi!” Những người từ nhỏ mang nặng cảm giác hổ thẹn về tình dục thường có chung một đặc điểm: khát khao bí mật của mình phải được giữ kín tuyệt đối.
Một thân chủ từng dặn dò tôi: “Thưa thầy, cuộc trò chuyện hôm nay mong thầy giữ bí mật tuyệt đối giúp em.” Tôi hỏi lại: “Thế nào gọi là giữ bí mật tuyệt đối?” Anh ta đáp: “Dẫu thầy có ẩn danh, thì một vài chi tiết nhỏ thầy cũng tuyệt đối không được đưa vào bài viết của thầy!” Thông thường trong thỏa thuận bảo mật, chúng tôi cam kết không làm lộ danh tính và câu chuyện trọn vẹn của thân chủ, một vài chi tiết mang tính minh họa thì vẫn có thể nhắc tới; thế nhưng có những người vẫn nằng nặc yêu cầu đến cả chi tiết vụn vặt cũng không được phép hé lộ nửa lời.
Những ai đòi hỏi “bảo mật tuyệt đối” như vậy đa phần đều là những kẻ mang trong lòng nỗi hổ thẹn tình dục vô cùng trầm trọng. Một người như thế, ngay cả bản thân còn chẳng dám thản nhiên đối diện với chính mình, thì việc mong chờ anh ta tự thân nỗ lực tháo gỡ vấn đề gần như bằng không! Đối với người bình thường — đặc biệt là người Trung Quốc — mảng “tình dục” quả thực quá đỗi sâu kín, bắt buộc phải cậy nhờ vào sự tham vấn tâm lý vô cùng chuyên nghiệp và tuyệt đối riêng tư.
Vì sao “thể diện” lại quan trọng đến thế đối với người Trung Quốc?
[ Thể diện thực chất là một dạng ái kỷ dị tật ]
Có một đề tài mà người Trung Quốc mở miệng ra là nhắc tới: đó chính là thể diện (mặt mũi). Người Trung Quốc đặc biệt mê đắm việc giữ gìn “thể diện” (mặt ngoài), nhưng lại cực kỳ giỏi đày đọa “thực chất bên trong” (lý tử — phần ruột bên trong).
Nhiều năm trước trong đêm hội Xuân Vãn có một tiểu phẩm mang tên Có việc gì anh cứ bảo do Quách Đông Lâm thủ vai; đến tận bây giờ tôi vẫn nhớ như in. Nhân vật nam chính để lấy lòng thiên hạ, cũng là để phô trương mình quen biết rộng, “thể diện lớn”, đã thức trắng đêm ra ga xếp hàng mua vé tàu hộ người ta; mua được vé về lại dối quanh bảo đây là nhờ quan hệ đặc biệt mới lấy được; người ta trả ơn bằng một đống bàn chải đánh răng cũ rích vô dụng, anh ta cũng cười hớn hở nhận lấy như một món quà quý. Kỳ thực bản thân anh ta thừa biết mối quan hệ này hoàn toàn bất bình đẳng, nhưng vẫn cắn răng chấp nhận.
Tình cảnh vì muốn giữ thể diện cho đẹp mặt bề ngoài mà để cho “ruột gan bên trong” phải chịu trăm bề thương tổn xuất hiện nhan nhản trong đời sống thường nhật của chúng ta: chẳng hạn không dám buông lời từ chối người khác, những việc bản thân lực bất tòng tâm cũng cắn răng gật đầu nhận bừa...
Hiện tượng này phổ biến đến mức, bất kể là các nhà tâm lý học trong nước hay quốc tế, khi nghiên cứu về tâm lý người Trung Quốc đều đồng thanh xếp “tâm lý thể diện” ở vị trí số một.
Thể diện rốt cuộc là cái gì? Nó đại diện cho điều chi?
Trước đây tôi từng bàn về “bản ngã chân thực” và “bản ngã giả tạo”; có người ngỡ rằng thể diện chính là sự biểu đạt kinh điển của bản ngã giả tạo. Song cách nói ấy vẫn chưa đủ để lột tả sức nặng chết người của thể diện; bởi có đôi khi, thể diện là thứ có thể đoạt mạng con người!
Trong bộ phim điện ảnh Kill Bill 2, có một phân cảnh: Bạch Môi đạo trưởng cất lời chào phương trượng Thiếu Lâm Tự, kết quả phương trượng phớt lờ không đáp lại; về sau Bạch Môi dẫn người huyết tẩy tàn sát cả chùa Thiếu Lâm! Tình tiết ấy đã khắc họa tột cùng sức mạnh ghê gớm của thể diện. Chúng ta đều biết, ở Trung Quốc, thể diện là một thứ vô cùng “nguy hiểm”; nếu bạn dám không nể mặt, không cho người khác thể diện, hậu quả giáng xuống có thể khốc liệt khôn lường.
Bản thân tôi cũng từng kinh qua một chuyện vụn vặt: Có lần, một người bạn thân đến nghe tôi giảng bài, sau buổi học ấy anh ta lạnh nhạt phớt lờ tôi suốt nửa năm trời. Tính tôi vốn đơn giản vô tư trong giao tế nên chẳng hề hay biết. Về sau anh ta không kìm nén nổi nữa mới bảo: “Thầy Vũ có biết em giận thầy đến mức nào không?” Tôi ngơ ngác đáp: “Tôi thực sự không biết, cậu nói xem tôi đã đắc tội với cậu ở điểm nào?” Anh ta bảo: “Hôm ấy giờ giải lao có một bạn học chạy lên hỏi thầy, em đứng ngay bên cạnh xếp hàng làm người thứ hai đợi hỏi; nào ngờ thầy giải đáp cho bạn kia xong lại quay sang trả lời người khác, để em đứng trơ trọi một hồi lâu mà chẳng thèm đoái hoài lấy một câu! Em thấy thầy coi thường em sâu sắc, em phẫn nộ tột cùng và quyết định tuyệt giao không thèm nhìn mặt thầy nữa!” Lúc ấy tôi mới ngã ngửa hiểu ra: trong nhận thức của anh ta, anh ta cảm thấy tôi đã không cho anh ta thể diện!
Hai câu chuyện trên chạm tới bản chất cốt lõi nhất của thể diện: Thể diện đồng nghĩa với tôn nghiêm, thậm chí đồng nghĩa với cảm giác hiện diện sinh tồn! Nếu bạn không cho tôi thể diện, tôi sẽ cảm thấy mình như sắp chết đến nơi, và tôi hận không thể băm vằn bạn ra từng mảnh — mức độ nghiêm trọng đạt tới cảnh giới ấy! Nhà tâm lý học nổi tiếng Tăng Kỳ Phong từng đúc kết: Thứ tương ứng với thể diện trong tâm lý học phương Tây thực chất là gì? Chính là chướng ngại hình thành tự luyến (narcissistic disorder) — tức những kẻ cuồng ái kỷ: Trong mọi hoàn cảnh tôi luôn luôn đúng; nếu bạn dám chọc thủng ảo tưởng ấy của tôi, bản ngã của tôi sẽ vỡ vụn, và tôi hận không thể giết chết bạn ngay lập tức!
Khái niệm “bản ngã giả tạo” không đủ sức chuyên chở sức tàn phá kinh hoàng của thể diện. Bởi nếu bạn chọc thủng “bản ngã giả tạo” của tôi, tôi vẫn còn “bản ngã chân thực” làm điểm tựa; hoặc bạn có bóc trần nó ra tôi cũng chẳng hề kinh sợ. Nhưng tâm lý thể diện thực chất là một dạng ái kỷ dị tật: nó bắt buộc phải duy trì bằng mọi giá cảm giác “bất kể lúc nào tôi cũng luôn đúng”, để níu giữ ảo tưởng ấy người ta sẵn sàng trả bất cứ giá nào. Điều này lại quay về trạng thái “toàn năng tự luyến” của thời kỳ ẵm ngửa mà chúng ta đã từng mổ xẻ.
[ Chúng ta sẵn sàng tạo ra sự đố kỵ, và cũng sẵn lòng ghen tị với người khác ]
Sự phô diễn thể diện ở Trung Quốc giăng mắc khắp mọi ngóc ngách: Các ứng dụng chỉnh ảnh Meitu, máy ảnh làm đẹp có đất sống màu mỡ ở Trung Quốc, bất kể dung nhan bản gốc ra sao cũng nhất định phải qua vài lớp bộ lọc ảo diệu; trên dòng thời gian bạn bè thì ngày ngày khoe con, khoe bận rộn, khoe tăng ca, đặc biệt mỗi dịp lễ Tết là biến thành một cuộc thi nhiếp ảnh toàn quốc; cho đến cả kiểu du lịch Trung Quốc — lên xe ngủ gật, xuống xe chụp hình — làm như thể bước chân ra đường không phải để thưởng ngoạn, mà cốt để đem những bức ảnh lung linh về khoe khoang với thiên hạ rằng: “Nhìn xem, tôi đã từng đặt chân tới chốn này!” — Tất thảy đều là trò chơi thể diện.
Điểm này khiến tôi ấn tượng sâu sắc: Các đoàn du lịch Trung Quốc xuất ngoại, vừa bước chân xuống máy bay là việc đầu tiên nháo nhào đi tìm Wi-Fi; vừa đặt chân tới khách sạn năm sao, câu đầu tiên hướng dẫn viên dặn dò là thông báo tên và mật khẩu Wi-Fi. Vì cớ gì? Vì phải cuống cuồng đăng bài lên mạng xã hội!
Cảm nhận của tôi là: Mọi người ai nấy đều khao khát đến cháy bỏng việc phải kết nối được với người khác; điều này thực chất là một sự tự hủy hoại bản ngã, chứng minh rằng chúng ta hoàn toàn thiếu vắng một khái niệm: “Bản thân tôi có thể tồn tại độc lập một mình!” Ta bắt buộc phải thông qua sự thừa nhận của người đời, phải bám víu vào sự kết nối với thiên hạ thì mới cảm nhận được bản thân đang tồn tại; và vì quá đỗi ái kỷ, nên phương thức kết nối duy nhất ta chọn là: “Tôi rất có thể diện!” — dùng cách thức ấy để ép người đời phải cúi đầu công nhận mình.
Cho nên, bất kể là mạng xã hội hay các phần mềm chụp ảnh ảo diệu, chúng ta đều tự nguyện đắm chìm trong ảo tưởng về một cuộc sống không có thật. Nói một cách tàn nhẫn hơn: Những thứ ấy chính là sự đố kỵ. Chúng ta cam tâm tình nguyện tạo ra sự đố kỵ cho kẻ khác thèm thuồng, và cũng sẵn lòng ghen ăn tức ở với người khác; tôi nhất quyết phải làm kẻ khiến bàn dân thiên hạ phải đỏ mắt ghen tị; tôi phải sở hữu những thứ ai nấy đều thèm muốn, nhưng phần tôi có phải nhỉnh hơn bạn một chút!
Thế nhưng người Trung Quốc lại mang trong mình một nỗi khủng hoảng ngấm ngầm: Không được phép vượt trội hơn người ta quá nhiều; nếu bạn vượt mặt thiên hạ quá xa, người ta sẽ hận đến mức chỉ muốn trừ khử bạn! Bởi thế tốt nhất là bạn được 8 điểm thì tôi phải được 9 điểm; bạn được 9 điểm thì tôi phải chạm mốc 10 điểm.
Thói đua đòi so bì cũng từ thể diện mà chui ra. So bì nói một cách nôm na chính là “chuộng thể diện”; cốt lõi của nó vẫn là sự đố kỵ — thứ mà tôi gọi là đố kỵ nguyên thủy: Tất thảy những thứ tốt đẹp trên cõi đời này tôi đều phải có, tôi muốn độc chiếm tất cả!
Những kẻ mang lòng đố kỵ nguyên thủy đồng thời cũng chôn giấu một nỗi sợ hãi sâu sắc tự đáy lòng: Nếu bạn ở mọi phương diện đều vượt trội hơn tôi, tôi sẽ hận không thể bóp chết bạn, tôi sẽ ghen tị đến phát điên; bởi thế khi một người tự biết mình đang ở vị thế cao hơn người khác, anh ta sẽ nơm nớp lo sợ bị kẻ khác đố kỵ đến chết. Cho nên người Trung Quốc khi đắc ý khoe khoang cũng phải học cách thu mình lại, nói năng vòng vo tam quốc: “Tôi chỉ hơn anh có một chút xíu thôi mà, anh bận tâm làm gì, thực ra anh cũng có khối điểm tốt đấy thôi...” Thành thử ta luôn cảm thấy những con người ấy sống rất “giả tạo”, muốn khoe khoang nhưng lại vờ vịt làm như chẳng màng.
Và phần lớn thời gian, người ta chẳng hề đoái hoài tới bản chất sự việc, mà chỉ chăm chăm giữ hòa khí, đừng làm tổn hại thể diện của nhau; đôi bên nể mặt nhau một chút là coi như mọi sự êm xuôi. Bởi lẽ thể diện chỉ là một tấm “họa bì” (lớp da vẽ), bên trong tấm da vẽ mỹ miều ấy là một con quỷ dữ; nếu bạn dám chọc thủng thể diện của người ta, con quỷ bên trong sẽ lập tức nhe nanh múa vuốt xé toạc bạn ra ngay!
[ Bồi đắp “thực chất bên trong”, mới có thể thoát khỏi thế lực hắc ám của “thể diện” ]
Thế nhưng qua quan sát của tôi, thế hệ 9x ngày nay lại có một lối hành xử hoàn toàn khác biệt: họ không quá coi trọng thể diện, thậm chí chẳng thèm để tâm tới cảm xúc của người khác, mà chỉ chăm chút cho cảm nhận của riêng mình. Xét trên một khía cạnh nào đó, đây cũng có thể coi là một bước trưởng thành. Bởi khi một người không còn quá bận tâm tới kẻ khác, đồng nghĩa với việc sự đố kỵ của anh ta đối với người đời cũng giảm bớt đi phần nào. Song đây lại là một trạng thái chặt đứt kết nối để thu mình sống trong ốc đảo của riêng mình: dửng dưng với người khác, lòng ái kỷ vẫn ngùn ngụt cháy, và vẫn đinh ninh rằng mọi thứ tốt đẹp trên đời này nghiễm nhiên phải thuộc về mình. Ví như hiện tượng bán thận để mua điện thoại iPhone: ẩn giấu bên trong là thông điệp — Thứ người khác có thì tôi cũng bắt buộc phải có, tôi không thể thua kém bạn bè, bằng không tôi sẽ mất sạch tôn nghiêm, thậm chí có cảm giác mình sẽ chết mất!
Kỳ thực, tôn nghiêm đích thực chính là cảm giác về giá trị bản thân (self-worth) — tức là trở thành chính mình! Một con người khi đã sở hữu cảm giác giá trị của riêng mình, có được cảm giác hiện diện vững chãi, anh ta sẽ có được một nền tảng tâm lý kiên cố, sở hữu một “thực chất bên trong” (lý tử) đầy đặn để thản nhiên đối diện với bản thân và thế giới. Có được cái cốt lõi bên trong vững vàng, anh ta sẽ chẳng bao giờ bận tâm quá mức tới “thể diện” hư hao bên ngoài.
Thế nhưng đối với một người trưởng thành, điều này muôn phần gian khó. Nếu bản ngã bên trong vốn mong manh rạn nứt, cơ chế phản ứng tâm lý chưa đủ chín muồi, thì việc tôi luyện để đạt tới cảm giác giá trị tự thân là một hành trình vô cùng nhọc nhằn, đòi hỏi sự kiên trì, lột xác và trưởng thành dài lâu.
So với người lớn, việc bồi dưỡng cảm giác giá trị bản thân cho con trẻ lại tương đối dễ dàng hơn. Ngay từ thuở ấu thơ, hãy trao cho con đầy ắp yêu thương và sự bầu bạn, để con cảm nhận được tình yêu, lòng tin cậy và sự tôn trọng; trong tiến trình con học cách chung sống với thế giới, hãy trao cho con sự khích lệ và niềm tin, để con hiểu rằng bản thân mình là một sinh linh có giá trị, đáng tin cậy và tốt đẹp. Khi ấy, đứa trẻ sẽ thiết lập được sự công nhận đối với chính mình, sở hữu được một “cốt lõi bên trong” kiên cường, dẻo dai mà không bao giờ cần phải lao vào những cuộc tranh đoạt so bì “thể diện” với người đời.
Chỉ khi mỗi đứa trẻ đều vững tin rằng bản thân mình có giá trị, trong lòng con ngập tràn niềm tin và sự tự trọng, và giá trị ấy hoàn toàn không phụ thuộc vào những phán xét khen chê từ ngoại giới — khi ấy, con người ta mới có thể vùng vẫy thoát khỏi thế lực hắc ám của hai chữ “thể diện”, để rồi thân tâm thảnh thơi, ngẩng cao đầu rảo bước dưới ánh mặt trời rực rỡ.
Nói một câu “Anh yêu em”, “Xin lỗi” lại khó đến thế sao?
[ “Hận” không thể nói, “Yêu” cũng chẳng thể thốt nên lời ]
Chẳng biết từ bao giờ, người Trung Quốc lại đặc biệt thích treo nơi cửa miệng một câu: “Bất hảo ý tư” (Ngại quá / Thật ngại quá). Thế nhưng câu nói này lại thường khiến tôi cảm thấy vô cùng thiếu chân thành. Làm sai việc gì, cớ sao không thẳng thắn cúi đầu nhận lỗi, nói một câu “Xin lỗi”, mà lại cứ phải thoái thác bằng câu “Ngại quá”, làm như thể chuyện ấy chẳng mấy dính dáng tới mình?
Lại nữa, người Trung Quốc rất hiếm khi nói lời “Cảm ơn”, một lời tri ân chân thành thực sự rất khó nghe thấy. So với sự rạch ròi, kiên định của “Xin lỗi” và “Cảm ơn”, chúng ta lại chuộng một trạng thái nước đôi, mập mờ mang tên “Thật ngại quá”. Rốt cuộc là vì sao?
Có lần, tôi tổ chức một khóa tập huấn kéo dài bốn ngày. Đêm đầu tiên có một khoảng thời gian đặt câu hỏi tự do, kết quả là hầu hết mọi người đều chia sẻ chung một nỗi niềm: cảm giác nơi lồng ngực và cuống họng có một chỗ nghẽn vô cùng nghiêm trọng. Trong hệ thống trị liệu của tôi: lồng ngực quản về tình yêu và cảm xúc, còn cuống họng quản về sự biểu đạt. Mọi người đều cảm nhận thấy khi có một luồng sinh lực cuộn trào muốn cất lời, nó liền bị nghẽn lại ở lưng chừng, kẹt cứng nơi cổ họng không sao thốt ra được.
Khi cùng nhau bóc tách căn nguyên, có học viên bảo: “Thầy Vũ ơi, hễ bộc lộ cảm xúc chân thật — bất kể là cảm xúc gì — em đều cảm thấy vô cùng hổ thẹn, nhục nhã! Chẳng hạn như câu ‘Em đang rất giận anh’, nếu nói ra câu ấy, em có cảm giác mình đang chống đối, đang công kích người ta; sao mình có thể buông lời cay nghiệt như thế được, và em thấy vô cùng xấu hổ. Thế nhưng nỗi hổ thẹn ấy vẫn còn nhẹ; thứ xấu hổ khó cất lời nhất là: ‘Em thích anh lắm’, ‘Anh yêu em rất nhiều’ hay ‘Vô cùng vô cùng cảm ơn bạn!’. Nếu em dốc hết lòng dạ nói ra những lời ấy, ngộ nhỡ đối phương ném lại một ánh nhìn khinh miệt bảo: ‘Thôi bớt diễn đi, nghe giả tạo chết đi được!’ — lúc ấy em sẽ thấy nhục nhã khôn cùng, và nỗi nhục nhã ấy đọng lại thành một khối u uất chặn ngang lồng ngực!”
Yêu và Hận là hai phương diện tình cảm vô cùng hệ trọng; thế nhưng ở Trung Quốc, bất kể là bộc lộ tình yêu hay giãi bày sự oán hận đều gian nan khôn xiết. Nói ra nỗi hận thì sợ bị người ta căm ghét lại, sợ đối phương thấy thể diện bị tổn thương rồi quay sang trả thù, nên ai nấy đều xem oán hận là thứ xấu xa; thế nhưng vì cớ gì bày tỏ tình yêu cũng khó khăn đến nhường ấy?
Bởi lẽ chúng ta từng kinh qua một nỗi đau đớn: Tôi thừa biết bạn không hề yêu tôi, vậy mà tôi lại mù quáng khát khao yêu bạn đến thế, sao tôi lại ngu ngốc đến nhường này! Đã vậy điều xuẩn ngốc hơn cả là tôi lại còn dại dột nói toạc ra! Nhà văn Triệu Triệu từng có cuốn tiểu thuyết mang tên Đụng vào cái gì cũng được, đừng đụng vào tình cảm đã lột tả trọn vẹn tâm lý ái tình kiểu Trung Quốc này: Bộc lộ tình yêu đồng nghĩa với việc tôi mở toang lồng ngực không chút phòng bị trước mặt bạn; nếu bạn không hồi đáp lại bằng yêu thương, hoặc không đáp lại theo cách mà tôi mặc định là “bình thường”, cảm giác của tôi sẽ như bị bạn cắm phập một mũi tên nhọn vào tim — bởi thế chúng ta tuyệt đối không dám mở lời nói tiếng yêu thương.
[ “Thật ngại quá” = Không chuẩn bị tinh thần chịu trách nhiệm ]
Yêu chẳng dám nói, hận không dám buông, cớ sao mở miệng ra là lại tuôn câu “Ngại quá”?
Cảm nhận của kẻ nói câu “Ngại quá” thực chất là: Tôi là tôi, bạn là bạn; dẫu chúng ta có là ruột thịt đi chăng nữa, tôi vẫn cảm nhận sâu sắc rằng giữa đôi ta chẳng hề có tình yêu! Cho nên khi tôi tìm đến bạn, tôi không thể đường hoàng đĩnh đạc, mà cảm thấy mình đang quấy rầy bạn; vì thế trong lòng thấy không thanh thản, bèn buông câu “ngại quá”. Dẫu ngại ngùng, nhưng tôi vẫn bắt buộc phải tìm đến bạn, bắt bạn phải làm giúp tôi việc này việc nọ, bằng không nhiều chuyện tôi chẳng thể tự mình giải quyết nổi. Trong cuộc đời, giữa người với người không thể tránh khỏi những lúc cần lợi dụng lẫn nhau, làm việc hộ nhau, rồi lại tự thấy làm thế là không nên, thành thử mới sinh ra cái sự “ngại quá”.
Vì sao không chịu nói lời “Xin lỗi”? Bởi hai chữ xin lỗi thể hiện một sự cắn rứt lương tâm thực sự; chỉ khi ta làm tổn thương người mà ta hết lòng để tâm, người ta yêu thương, ta mới cảm nhận được nỗi áy náy tội lỗi ấy. Làm tổn thương người mình yêu chẳng khác nào tự đâm vào da thịt mình; thấy đối phương đau đớn, bản thân mình cũng nhói buốt tâm can — đó mới là cảm giác áy náy chân thực.
Thế nhưng nếu bạn không yêu tôi, tôi cũng chẳng yêu bạn; tôi thấy việc tôi làm có quấy rầy bạn một chút, gây cho bạn chút phiền toái bất tiện, nhưng sự bất tiện của bạn thì dính dáng quái gì tới tôi? Tôi đâu có chuẩn bị tinh thần để gánh vác trách nhiệm ấy! Cho nên tôi tuyệt đối không nói lời “Xin lỗi”, mà chỉ buông một câu hời hợt: “Ngại quá nhé!”
Không nói lời “Cảm ơn” mà dùng câu “Ngại quá” cũng chung một căn nguyên: Người nói không xem đối phương là người mình thực sự trân quý, nên anh ta chọn cách nói vòng vo tam quốc, biểu đạt một cách mập mờ kín đáo rằng nội tâm mình không hề muốn thiết lập một mối liên kết chân thực với người ta, và anh ta cũng chẳng tin rằng giữa đôi bên có thể xây dựng nên một mối gắn kết sâu sắc.
Kế đến, bất kể là nói lời xin lỗi, nói lời cảm ơn, hay bộc lộ sự tri ân, lòng cảm kích hay cơn thịnh nộ, người cất lời đều bắt buộc phải chịu trách nhiệm trước luồng cảm xúc ấy. Nếu tôi dõng dạc nói: “Tôi rất yêu bạn”, “Tôi vô cùng căm ghét bạn” hay “Tôi thực sự có lỗi với bạn” — những lời bày tỏ mộc mạc, thuần khiết và đầy sức mạnh ấy có thể lập tức kéo hai con người xích lại gần nhau trong một mối liên kết tình cảm sâu sắc. Còn nếu chỉ buông những lời nhẹ bẫng, mập mờ, vòng vo, điều đó đồng nghĩa với việc anh ta muốn phủi tay không phải chịu trách nhiệm về sợi dây tình cảm trong sự việc này; đồng thời phía đối phương sẽ cảm nhận thấy sự giả tạo, thấy bản thân hoàn toàn không được coi trọng.
[ Giữa lồng ngực và cuống họng, chắn ngang nỗi hổ thẹn ]
Kỳ thực, việc tập nói lời “Xin lỗi” và “Cảm ơn” là một bài tập tâm lý vô cùng hữu hiệu. Song nếu bạn nhận thấy đáy lòng mình trống rỗng, không có tình yêu, thì bài tập ấy hoàn toàn vô tác dụng; bạn bắt buộc phải trải qua một tiến trình học hỏi sâu sắc thì mới có thể tìm lại được tình yêu.
Bài tập tôi dành cho các học viên của mình là: Hãy tự tỉnh thức soi chiếu xem thứ đang chặn đứng giữa lồng ngực và cuống họng rốt cuộc là cái gì? Nhìn sâu vào, thảy đều là sự hổ thẹn, nhục nhã! Sự hổ thẹn ấy bắt nguồn từ đâu? Từ những năm tháng ấu thơ trong gia đình: hễ bộc lộ tình yêu thì bị chối từ, bộc lộ oán hận thì bị vùi dập đòn roi, giãi bày tình cảm chân thành thì bị sỉ nhục chê cười... Tất thảy những vết thương ấy đọng lại thành cảm giác hổ thẹn, nhốt chặt nơi cuống họng và lồng ngực.
Muốn cảm xúc được luân chuyển hanh thông, trước tiên phải để những cảm giác hổ thẹn ấy được phơi bày ra ánh sáng; được giải tỏa rồi, con đường nối giữa lồng ngực và cổ họng mới thông suốt. Khi đường thông hè thoáng, thứ đầu tiên tuôn trào ra luôn luôn là sự giận dữ — bất mãn với sự việc, căm phẫn với tha nhân. Suốt một thời gian dài đằng đẵng, kẻ đang khơi thông dòng chảy cảm xúc sẽ liên tục xả ra nỗi hận thù; còn tình yêu thì phải kiên nhẫn đợi thêm một chút: phải đợi cho đến khi toàn bộ oán hận và đau thương được trút cạn kiệt, thì tình yêu mới có cơ hội đâm chồi nảy lộc.
Bởi thế ta mới thường thấy hiện tượng mượn rượu say xỉn: nơi nào càng kìm nén thì hiện tượng này lại càng phổ biến; một người sau khi say rượu và trước khi uống rượu là hai con người hoàn toàn đối lập! Trước khi uống thì nho nhã lịch thiệp, tu dưỡng ngút trời; uống đẫy rượu vào rồi thì bắt đầu tuôn ra muôn vàn phẫn nộ, dục vọng cuồng loạn, hoặc trở nên cợt nhả không ra thể thống gì. Nhưng nếu một người ngày thường không sống trong kìm nén, luôn biết chịu trách nhiệm trước cảm xúc của chính mình, thì dẫu có say mèm anh ta cũng tuyệt đối không bao giờ biến thành bộ dạng quái gở như vậy.
[ Tình yêu đích thực là nỗ lực hành động, là sẻ chia nguồn dưỡng chất phong phú nơi nội tâm ]
Từ việc nói lời “Xin lỗi” và “Cảm ơn” mở rộng ra, chính là sự biểu đạt của tình yêu.
“Cảm ơn bạn” vốn dĩ là một hình thức biểu đạt của tình yêu thương. Người Trung Quốc rất khó cất lời “Cảm ơn”, bên cạnh việc giao tiếp không thông suốt, còn có một căn nguyên vô cùng sâu sắc: Tôi đâu có cảm thấy bạn yêu thương tôi nhường nào, mắc mớ gì tôi phải mở lời cảm ơn! — ví như con cái thời nay đối với cha mẹ thường mang nặng tâm lý này. Cha mẹ một đời lam lũ nhọc nhằn, cớ sao lại khó nhận được lòng biết ơn của con cái? Bởi các bậc cha mẹ Trung Quốc thường xuyên truyền đi một thông điệp nghiệt ngã vào tâm can đứa trẻ: Mày đang mắc nợ tao!
Tôi từng nhận định: Cha mẹ Trung Quốc — đặc biệt là các bà mẹ — là những bậc thầy đỉnh cao trong việc thao túng cảm giác tội lỗi!
Những người mẹ Trung Quốc, nếu trong lòng họ chan chứa yêu thương, tình yêu họ trao cho con sẽ diễn ra hết sức tự nhiên, chẳng chút gượng gạo nhọc nhằn; dòng suối yêu thương sẽ tự nhiên chảy từ mẹ sang con. Nhưng nếu đáy lòng người mẹ hoàn toàn trống rỗng kiệt quệ, bản thân bà chưa từng được yêu thương, thì việc đi yêu một đứa trẻ đòi hỏi bà phải gồng mình dốc sức, và luôn kèm theo một cảm giác hy sinh ngút trời: Tôi đã trút hết vốn liếng của mình cho anh rồi, tôi chẳng còn lại gì nữa! Thế nên lẽ đương nhiên bà mặc định đứa con đang mắc nợ mình, ngỡ rằng mình vừa làm một việc vô cùng vĩ đại và nhọc nhằn khôn xiết!
Lẽ tự nhiên, đứa con sẽ vô cùng bài xích cái thông điệp nặng nề ấy; nhưng đối với người mẹ, cảm giác ấy lại hết sức bình thường, bởi đáy lòng bà làm gì có tình yêu! Bà chưa từng được ai yêu thương, nên bà dùng cảm giác tội lỗi để thao túng, kìm kẹp đứa con. Kết cục đứa trẻ rơi vào trạng thái phân liệt sâu sắc: về mặt lý trí, con biết mình phải biết ơn công lao sinh thành dưỡng dục của cha mẹ; nhưng về mặt cảm xúc, con lại chán ghét tột cùng, bởi suốt bao năm tháng qua con đã bị thứ cảm giác tội lỗi ấy thao túng đến mức ngột ngạt không thở nổi!
Bạn thân của một người bạn tôi là một bà mẹ đơn thân, một mình gồng gánh nuôi hai cậu con trai, nay cả hai đều đã ra nước ngoài du học. Khi ngồi trò chuyện về việc dạy con, cô ấy bảo: “Tôi chỉ dạy hai đứa đúng hai điều: Thứ nhất là tình yêu — học cách yêu bản thân và yêu người khác; Thứ hai là trách nhiệm — con phải tự chịu trách nhiệm về những việc mình làm.” Cô tâm sự: “Các con tôi đều biết thừa tôi yêu chúng nhường nào, nhưng tôi chưa bao giờ mở miệng bảo: ‘Mẹ yêu các con lắm, mẹ vất vả vì các con biết bao nhiêu!’ Tôi thấy những lời kể công ấy là một sự thao túng tàn nhẫn, khiến con trẻ phải gánh gác áp lực ngàn cân. Bạn yêu con, bạn chẳng cần phải ra rả nói; mọi việc bạn làm, sự bao dung và đón nhận bạn dành cho con, tự khắc đứa trẻ sẽ cảm nhận được trọn vẹn tình mẫu tử.”
Đó thực sự là một người mẹ vô cùng thông tuệ! Cô hiểu rằng tình yêu đích thực và khỏe mạnh là nỗ lực hành động, tự trao cho mình tình yêu, rồi đem nguồn dưỡng chất phong phú ngập tràn trong tâm hồn mình sẻ chia cho đối phương; chứ tuyệt đối không phải để lòng mình trống rỗng kiệt quệ rồi gồng mình “hy sinh cống hiến” cho người ta. Tâm niệm “mày nợ tao” và cảm giác hy sinh kể công tuyệt đối không phải là tình yêu!
Trong câu chuyện này, nếu người mẹ ấy có thể tự nhiên, thoải mái nói với con một câu “Mẹ yêu con”, điều đó cũng tuyệt vời biết bao: vừa hành động chu toàn, lại vừa diễn đạt bằng ngôn từ thanh thản, chẳng còn gì đẹp hơn. Người phương Tây mở miệng ra là nói “I love you”, dòng cảm xúc luân chuyển hanh thông; song người phương Đông trong cách biểu đạt cảm xúc xưa nay vẫn luôn chuộng nét hàm súc, kín đáo và ý nhị hơn.
Tác hại của “người tốt kiểu Trung Quốc” trong hôn nhân
[ Trong lòng “người tốt” ẩn giấu dục vọng hủy diệt ]
Khái niệm “người tốt kiểu Trung Quốc” lần đầu tiên được xướng lên trên tạp chí Tâm Lý Nguyệt San. Chúng tôi đúc kết những đặc điểm điển hình của mẫu người này gồm:
Cực kỳ sĩ diện, đối xử tệ bạc với người nhà nhưng lại hết lòng săn đón người ngoài;
Giỏi nhẫn nhục chịu đựng, không bao giờ dám dũng cảm thốt lên chữ “Không”, chữ “Tôi muốn” hay than vãn “Tôi đau quá”;
Mang lại cảm giác không chỉ là một kẻ dĩ hòa vi quý hiền lành, mà tinh thần trách nhiệm và đạo đức đều cao ngút trời;
Song trên thực tế, trong lúc oằn mình cõng gánh nặng đạo đức ấy, họ lại thường xuyên làm ra những việc cực kỳ thiếu đạo đức căn bản, và hầu như chẳng bao giờ dám đứng lên bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình.
Khái niệm này được định hình vào năm 2011, khởi nguồn từ việc tôi xem bộ phim truyền hình Khát vọng. Nhân vật nữ chính Lưu Huệ Phương trong phim đích thị là một “người phụ nữ tốt kiểu Trung Quốc”. Trong nền văn hóa của chúng ta, bề ngoài người ta luôn mong mỏi phụ nữ phải dịu dàng, nết na, hiểu biết, luôn biết nghĩ cho người khác mà quên đi bản thân; song qua quan sát của tôi, tình trạng này ở nam giới lại phổ biến hơn rất nhiều. Hình mẫu “Lưu Huệ Phương” là thứ văn hóa chúng ta mải miết tôn sùng, nhưng ngoài đời thực những người như thế hiếm hoi vô cùng; ngược lại, mẫu đàn ông thụ động, tiêu cực, đối đãi rất tốt với thiên hạ, cam chịu gánh vác áp lực và trách nhiệm lại nhiều như nấm sau mưa.
Dĩ nhiên điều này có thể liên quan tới trải nghiệm cá nhân tôi. Tôi từng nói đùa: Ngày xưa lúc yêu đương về ra mắt nhà bạn gái, sở dĩ tôi rất dễ chiếm trọn cảm tình của mẹ vợ là bởi trên mặt tôi luôn “khắc” rõ mấy chữ: chất phác, thật thà, đáng tin cậy! Nghĩ lại điều này, tôi thấm thía vô cùng.
Những con người như thế tồn tại với số lượng khổng lồ, là một hình tượng vô cùng kinh điển. Thế nhưng kỳ thực, sâu trong lòng “người tốt” này lại đang nuôi dưỡng một thứ vô cùng kinh hoàng: Dục vọng phá hoại, thậm chí có thể gọi là sự thịnh nộ và thù hận tột cùng! Gương mặt “người tốt” ấy thực chất chỉ là tấm khiên phòng vệ dùng để trấn áp con quỷ dữ và tính công kích bên trong mình mà thôi.
Một hiện tượng rất thường thấy: Một người phụ nữ lấy phải một “anh chàng tốt bụng” làm chồng, người ngoài nhìn vào ai nấy đều tấm tắc khen ngợi anh ta tốt tính nhường nào, tuyệt vời ra sao; thế nhưng trong chính mái ấm ấy, người vợ lại ngậm đắng nuốt cay, nỗi khổ tâm chẳng biết tỏ cùng ai!
Bức tượng điêu khắc của nghệ sĩ Nhạc Mẫn Quân — một “người đỏ” nhắm nghiền hai mắt, ngoác miệng cười ngoác tận mang tai trông vô cùng rùng rợn — tôi thấy đó chính là sự biểu đạt kinh điển và tập trung nhất về “người tốt kiểu Trung Quốc”. Tôi từng trích dẫn tranh của Nhạc Mẫn Quân lên Weibo, có độc giả hỏi: “Nếu gã mở mắt ra thì trông sẽ thế nào?” Tôi nghĩ: nếu gã mở mắt ra, cảnh tượng ắt sẽ kinh hoàng tột độ! Một mặt người ngoài nhìn vào sẽ thấy khiếp đảm; mặt khác chính bản thân gã cũng sẽ kinh hoàng, bởi có quá nhiều sự thật trần trụi mà gã không bao giờ dám đối diện.
[ Giá trị của bạn được xây dựng trên giá trị bạn mang lại cho người khác? ]
Nhiều người mặc định rằng cá nhân đơn lẻ vốn không có giá trị, chỉ khi hòa tan vào tập thể thì cá nhân mới có giá trị tồn tại. Nói cách khác: Bạn phải làm một người “tốt” với thiên hạ thì bạn mới được phép tồn tại! Giá trị của bạn được xây dựng trên giá trị mà bạn mang lại cho người khác, chứ không phải bản thân sinh mệnh bạn tự tỏa sáng giá trị trước rồi mới dẫn dắt tha nhân. Đó là hàm nghĩa văn hóa đè nặng lên vai “người tốt”. Trong gia đình, gia tộc cũng tồn tại hủ tục “trọng nam khinh nữ”, coi “đàn ông là bộ mặt, là biểu tượng của dòng họ”.
Nhà tâm lý học Lý Mạnh Triều từng nhận định: Đàn ông là những “mặt trời bé con”; những mặt trời ấy bị gia đình ký thác biết bao kỳ vọng ngút trời, kết cục là họ không còn được làm chính mình nữa, bởi họ buộc phải trở thành “con người mẫu mực” trong mắt cha mẹ và người thân; trong khi phụ nữ vì bị ghẻ lạnh bỏ bê nên trái lại còn có cơ hội được sống thật với bản ngã của mình.
Chiếu theo thuyết nhân cách của Freud, nhân cách con người gồm ba phần: Siêu ngã (Superego), Bản ngã (Ego) và Bản năng nguyên thủy (Id). Những “người tốt kiểu Trung Quốc” sở hữu một Siêu ngã vô cùng hùng mạnh; Siêu ngã quá bạo ngược ấy đã đè nén Bản năng nguyên thủy đến mức nghẹt thở, châm ngòi cho muôn vàn cơn thịnh nộ âm ỉ; sự giận dữ của Bản năng cùng sự kiểm soát độc tài của Siêu ngã đã bóp nghẹt sự phát triển của Bản ngã, khiến họ không thể nào tiến hóa thành một Bản ngã khỏe mạnh. Bởi thế, thứ mà người đời nhìn thấy ở “người tốt kiểu Trung Quốc” thực chất chỉ là một “cái vỏ rỗng tuếch”!
Thông thường, mức độ “tốt” càng cao thì độ “rỗng tuếch” lại càng trầm trọng. Anh ta càng tỏ ra tốt đẹp, người xung quanh lại càng thấy anh ta nhạt nhẽo, vô hồn, thiếu vắng sức sống nguyên bản; dẫu có kết giao với anh ta cũng chẳng bao giờ chạm tới được cõi lòng chân thực, cảm giác anh ta lúc nào cũng đeo một chiếc mặt nạ dính chặt vào da thịt.
Có những cặp vợ chồng nhìn vào hệt như cảnh “một bên là thiên thần, một bên là ác quỷ”. Vốn dĩ “ác quỷ” chẳng hề muốn làm quỷ dữ, chính kẻ đóng vai “thiên thần” kia đã bức ép người ta biến thành quỷ dữ! Tôi thường bảo các cặp vợ chồng đến tham vấn: Trong nhà các vị chỉ có độc hai chiếc ghế — một chiếc của thiên thần, một chiếc của ác quỷ. “Thiên thần” cứ chễm chệ ngồi lì trên ghế không chịu bước xuống, người kia muốn tương tác được với bạn đành ngậm ngùi ngồi vào ghế của “ác quỷ” để diễn cho tròn vai mà thôi!
[ Tàn nhẫn với chính mình, tàn nhẫn hơn nữa với người thân ruột thịt ]
“Người tốt kiểu Trung Quốc” trước khi cưới — tức thuở đang yêu — ai nấy đều thấy anh ta thật tuyệt vời: Trông bề ngoài chất phác, thật thà, đầy tinh thần trách nhiệm; dẫu đôi khi hơi tẻ nhạt thiếu thú vị, song lại mang đến trải nghiệm ngọt ngào của một “ấm nam” (chàng trai ấm áp), đích thị là bến đỗ an toàn mà muôn vàn cô gái mải miết kiếm tìm.
Thế nhưng khi đã thực sự bước chân vào cánh cửa hôn nhân, cảm nhận của người vợ có thể sẽ quay ngoắt 180 độ: cô dần dà bàng hoàng nhận ra anh ta đối xử với người nhà chẳng ra cái thể thống gì! Vì cớ gì lại như vậy?
Cái gọi là “người tốt” của thiên hạ là chỉ tốt với người ngoài, còn với người nhà thì anh ta dứt khoát không bao giờ tốt được như thế! Rắc rối bắt đầu phát sinh từ đây: Người ngoài mãi mãi là người ngoài, còn người thân lại là một phần máu thịt của chính anh ta. Thuở yêu đương, “người tốt” còn ôm ấp tâm niệm “tôi phải chăm sóc em thật chu đáo”; nhưng cưới nhau rồi, người nhà của “người tốt” nghiễm nhiên biến thành đối tượng bị bỏ bê, ghẻ lạnh nhất! Bởi vì anh ta vốn dĩ quen thói bỏ bê chính bản thân mình, nên anh ta cũng sẽ bỏ bê luôn cả người thân — bởi người thân trong mắt anh ta tương đương với một phần của chính mình.
Tôi có quen một cặp vợ chồng, người chồng đích thị là một “người tốt” như thế. Anh ta có một đặc điểm: người ngoài nhìn vào ai cũng khen nức nở không chê vào đâu được; thế nhưng hễ mở miệng nói chuyện với người nhà là lời lẽ cay độc tàn nhẫn khôn cùng! Người vợ cay đắng kể: “Em không bao giờ dám xảy ra mâu thuẫn với chồng; hễ có xích mích là từng lời anh ấy buông ra hệt như những nhát roi quất thẳng vào tim em! Đối với người ngoài anh ấy chưa bao giờ như thế, chỉ chăm chăm trút lên đầu vợ con; việc gì anh ấy cũng nghĩ cho thiên hạ trước, cuối cùng mới đoái hoài tới gia đình, lúc nào cũng mang bộ dạng: ‘Người nhà thấu hiểu và nhường nhịn tôi là điều đương nhiên phải thế!’ — Sống bên cạnh một người như vậy, em ngột ngạt và đau đớn vô cùng!”
Nỗi niềm mà người vợ ấy chưa thể thốt nên lời chính là: Càng sống lâu bên nhau, bạn sẽ càng phát giác ra “người tốt” này thực chất chỉ là một cái xác không hồn! Bạn sẽ vô cùng phẫn nộ, bởi bạn cảm thấy lạnh lẽo, côi cút, không tài nào giao tiếp nổi. Bạn khao khát anh ta có thể sống bật ra sức sống của chính mình, thậm chí trong vô thức bạn sẽ buông lời công kích anh ta. Thế nhưng logic của “người tốt” lại vận hành thế này: “Tôi đã dâng hiến tất thảy cho cái nhà này rồi, cô còn chưa vừa lòng sao? Cô lại còn dám quay sang cắn tôi, cái đồ vong ân bội nghĩa!” — Và rồi cơn thịnh nộ cùng đòn công kích của “người tốt” sẽ nhân lên gấp bội. Bởi thế, những gia đình có “người tốt” lại là những nơi dễ ngập tràn sự giận dữ nhất!
Một thân chủ của tôi tên Tiểu Hoa (tên đã thay đổi), mẹ cô vốn là một “siêu thặng nữ” (gái ế lâu năm), về sau lấy một gã đàn ông tồi tệ — tức bố của cô. Mẹ Tiểu Hoa là người vợ thứ hai, người vợ trước đã để lại vài đứa con riêng cho bố cô nuôi nấng.
Mẹ Tiểu Hoa xưa nay dứt khoát không bao giờ chịu gần gũi, âu yếm con gái ruột; Tiểu Hoa uất ức hỏi mẹ: “Có phải mẹ đang cố tình bỏ bê con không?” Người mẹ thản nhiên đáp: “Đúng vậy, mẹ cố tình ghẻ lạnh con đấy, bởi mẹ cần phải giữ sự công bằng! Bằng không thiên hạ người ta sẽ đàm tiếu rằng mẹ chỉ biết thương con đẻ mà hắt hủi con chồng; để tránh cái tiếng xấu ấy, mẹ bắt buộc phải giữ khoảng cách với con!” — Đó chính là logic quái đản của “người tốt kiểu Trung Quốc”: Tàn nhẫn với chính bản thân mình, và tàn nhẫn hơn gấp vạn lần đối với chính những người thân ruột thịt!
[ Mức độ “tốt” càng trầm trọng, mức độ “hận” càng sâu cay ]
Theo quan sát của tôi, “người tốt kiểu Trung Quốc” bên cạnh việc làm đảo lộn mối quan hệ vợ chồng và con cái, đẩy người nhà vào hố sâu tuyệt vọng, thì bản thân sức khỏe của họ cũng rất dễ phát sinh vấn đề nghiêm trọng. Bởi vì liên tục tiến hành đòn “tự công kích nội tại”, hệ miễn dịch của anh ta sẽ bị chính anh ta tự tay tàn phá!
Vì cớ gì lại có sự “tự công kích” ấy? Bởi muốn làm một “người tốt”, anh ta bắt buộc phải triệt tiêu toàn bộ tính công kích hướng ra bên ngoài; thế là mọi xung lực tấn công đều quay ngoắt trở lại tự đâm vào chính cơ thể mình, và đâm vào người thân. Nhiều bệnh nhân mắc bệnh tim mạch, cao huyết áp, thậm chí cả bệnh nhân ung thư đều rơi vào tình cảnh này. Họ luôn phân bua rằng do mình quá mệt mỏi, gánh vác quá nhiều; song kỳ thực không phải vậy — mà là do cơn thịnh nộ bị dồn nén bên trong họ quá khủng khiếp!
Rất nhiều khi, các bệnh nhân ung thư hay trầm cảm đều buông một tiếng thở dài: “Tâm mệt quá!” Bởi cảm xúc của họ bị đè nén quá sâu; tất thảy những cảm xúc bị bóp nghẹt, bị phủ nhận triệt để ấy rốt cuộc sẽ biến tướng thành tế bào ung thư để trồi lên phơi bày trên thân thể!
Một người bạn thân của tôi là bệnh nhân trầm cảm, còn tôi lại là người chuyên trị liệu cho các bệnh nhân trầm cảm. Trong suốt quá trình đồng hành cùng căn bệnh này, tôi rút ra một thể nghiệm vô cùng sâu sắc: Trầm cảm chính là bản án trừng phạt tối hậu giáng xuống đầu những kẻ không biết tự yêu lấy bản thân mình! Bởi anh ta không biết yêu mình, mà chỉ chăm chăm dùng các tiêu chuẩn ngoại giới để đày đọa bản thân. Bệnh nhân trầm cảm thường rất giống “người tốt kiểu Trung Quốc”: đa phần đều đặt ra yêu cầu bản thân cực cao, biểu hiện trong công việc vô cùng hoàn mỹ, không ngừng ép mình phải hoàn hảo hơn nữa, và cực kỳ bận tâm tới miệng lưỡi thế gian; tâm tư tinh tế nhạy cảm, và lực tự công kích bên trong vô cùng tàn khốc. Nếu đà tự công kích này tiếp tục leo thang, nó sẽ biến tướng thành các chứng bệnh tâm thần như trầm cảm, rối loạn lo âu, hoặc các chứng bệnh thực thể như tim mạch, cao huyết áp, thậm chí là ung thư!
Chiếu theo thuyết động lực sinh mệnh của Freud: “Tính dục” và “Công kích” là hai nguồn động lực nguyên thủy của loài người; kẻ đã tự tay bóp chết tính công kích thì lẽ đương nhiên chỉ là một hình nhân giả tạo. Dân gian Trung Quốc có câu tục ngữ: “Người tốt chẳng thọ, kẻ xấu sống dai vạn năm” — ngẫm ra đó là một sự thật trần trụi! Vì sao người tốt lại đoản mệnh? Bởi trong tim họ đang giam cầm một con quỷ dữ. Người tốt quá đỗi kinh khiếp con quỷ ngập tràn oán hận ấy; mức độ “hận” càng cao thì cái mác “tốt” gồng lên lại càng lớn; mà mức độ “tốt” càng trầm trọng thì oán hận chôn giấu trong lòng lại càng sâu cay tột cùng!
Qua những trải nghiệm trị liệu thực tế, tôi thấy mình hoàn toàn có thể chắp bút viết nên một cuốn sách mang tên Người tốt kiểu Trung Quốc, thậm chí muốn mở hẳn một “Trại cải tạo người tốt”! Đối với những “người tốt”, nếu họ thực sự muốn tự chữa lành và thay đổi cuộc đời mình: Điều tối quan trọng trước hết là phải ý thức được sự đè nén của bản thân đối với tính công kích; kế đến là phải dũng cảm, thản nhiên đối diện với tính công kích của chính mình, học cách dùng những phương thức lành mạnh, thỏa đáng để biểu đạt và giải tỏa nó ra ngoài. Có như thế, bạn mới có thể từng bước sống thật với một bản ngã chân chính.
“Người tốt kiểu Trung Quốc” phá giải thế nào?
[ Tiêu chuẩn phán đoán của “người tốt”: Ngày tháng trôi qua có dễ chịu hay không ]
Phần trước chúng ta đã mổ xẻ những hiểm họa mà “người tốt kiểu Trung Quốc” gieo rắc vào các mối quan hệ gia đình; phần này chúng ta sẽ cùng bàn về lộ trình cải tạo mẫu người này. Trong đời sống, “người tốt kiểu Trung Quốc” nhiều vô kể, thậm chí ở một chừng mực nào đó chính chúng ta cũng là một mắt xích trong số đó; mảnh đất văn hóa của chúng ta chính là mảnh đất màu mỡ dung dưỡng nên mẫu người này. Nếu không cậy nhờ tới sự can thiệp của bác sĩ tâm lý, làm sao để chúng ta có thể tự tỉnh thức, tự cải tạo và tự mình trưởng thành?
Trước khi bắt tay vào cải tạo, “người tốt” cần phải có một thước đo chuẩn xác: Ngày tháng bản thân đang trải qua rốt cuộc có dễ chịu, thanh thản hay không?
Đối với mỗi cá nhân, thứ hệ trọng nhất chính là “cuốn tự truyện” của đời mình — hay còn gọi là “khái niệm bản ngã” (self-concept): tức nhận thức, định nghĩa, phán đoán và cách giải thích của một người về chính mình và cuộc đời mình. Sở dĩ tôi luôn đau đáu quan sát “người tốt kiểu Trung Quốc” và “cự anh” (đứa trẻ to xác), trước hết là bởi trong cuốn tự truyện của đời tôi, tôi từng tự định danh mình là một “người tốt kiểu Trung Quốc”, là một “cự anh”. Trông bề ngoài ngỡ như tôi đang mổ xẻ thiên hạ, nhưng thực chất là tôi đang tự phân tích và thấu hiểu chính bản thân mình.
Là một người từng thuộc nhóm “người tốt kiểu Trung Quốc”, tôi thấm thía vô cùng: Tôi từng gặp gỡ rất nhiều doanh nhân mang mác “người tốt”, doanh nghiệp của họ phất lên được là nhờ họ đối xử cực tốt với mọi người, vô cùng giữ chữ tín, biết gánh vác, trượng nghĩa giang hồ... Thế nhưng những con người ấy bản thân lại sống chẳng hề dễ chịu chút nào! Phổ biến nhất là: luôn cảm thấy vô cùng ngột ngạt, gò bó, không được tự tại. Rốt cuộc họ đang “ngột ngạt” và “gò bó” vì điều chi? Đó là bước thứ hai cần mổ xẻ.
Bước đầu tiên: Xin những “người tốt kiểu Trung Quốc” hãy tự lắng lòng cảm nhận xem cuộc sống của mình có thực sự thanh thản, dễ chịu hay không. Nếu tự thấy thoải mái (không tính trò tự lừa mình dối người) thì hiển nhiên chẳng có vấn đề gì; còn nếu thấy ngột ngạt, bức bối, ta mới cần bước sang nấc thang thứ hai: nhận diện sâu sắc hơn xem thứ đang khiến mình không dễ chịu rốt cuộc là cái gì!
Tôi từng đúc kết một câu: “Thế giới này luôn vận hành theo chiều hướng ngược lại.” Tức là: Khi trên người một cá nhân xuất hiện thuộc tính A, đồng nghĩa với việc bên trong anh ta cũng tồn tại thuộc tính -A! Chẳng hạn, bạn thấy Vũ Chí Hồng đạt thang điểm “người tốt” là 8,5, thì độ “ma quỷ” trong lòng ông ấy cũng chạm mốc 8,5; bạn thấy Thanh Âm dịu dàng đạt mức 8,5, thì nét nổi loạn bên trong cô ấy cũng ngùn ngụt ở mức 8,5!
Bởi thế, “người tốt” bắt buộc phải nhận thức được rằng trong tim mình luôn tồn tại mặt đối lập: đó chính là sự xấu xa, độc hại! Trong các bài viết của mình, tôi từng chỉ rõ: Nét “tốt” của người tốt kiểu Trung Quốc thực chất là một cơ chế phòng vệ để chống lại nỗi “kinh hoàng” bên trong, chống lại cái “xấu” nơi đáy lòng. Chúng ta nhất định phải thấu suốt điều này.
Xét theo một nghĩa nào đó, “người tốt kiểu Trung Quốc” thực chất là những kẻ “xấu” đang gồng mình cố sống cố chết làm người tốt; và những kẻ ấy lại cực kỳ dễ biến tướng thành những kẻ tàn độc nhất! Ví như trong các vụ thảm sát diệt môn: những gã đàn ông thẳng tay tàn sát cả gia đình mình hay tru diệt cả nhà vợ đều có chung một đặc điểm — ngày thường đều là những người tốt được thiên hạ hết lời ca tụng, lại còn hướng nội trầm mặc vô cùng (như vụ án Lý Lỗi ở Đại Hưng năm nào).
Bởi vì mức độ “tốt” nơi họ tương đương với mức độ kìm nén uất ức, và cũng chính là mức độ cuồng nộ của con “quỷ dữ” bên trong. Thông thường, một người nếu điểm “tốt” chạm ngưỡng 8,5, tôi cho rằng người ấy đã hoàn toàn mất khả năng tự kết nối và chạm tay vào con quỷ nội tâm của mình; đến mức độ ấy, ngày thường đụng chuyện gì anh ta cũng chỉ biết cắn răng nhẫn nhục, nhưng một khi đã vượt qua ngưỡng chịu đựng giới hạn bùng nổ, anh ta có thể gây nên những thảm án đẫm máu kinh hoàng! Cho nên, mẫu “người tốt cực đoan” ấy lại là kẻ dễ biến thành kẻ tồi tệ nhất.
[ Bước đầu tiên phá bỏ lời nguyền “người tốt”: Học cách bảo vệ quyền lợi của mình ]
Đã biết không thể để sự “tốt” đi tới bờ vực cực đoan, vậy làm sao để chúng ta giải phóng nét “xấu” bên trong một cách thỏa đáng ngõ hầu tìm lại sự cân bằng? Chẳng lẽ phải đi vượt đèn đỏ, vi phạm luật giao thông ư? Hoàn toàn không cần thiết!
Muốn phá bỏ lời nguyền “người tốt”, bài học đầu tiên chúng ta bắt buộc phải học là: Biết bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình, và học cách chủ động nói “KHÔNG”! Phàm là chuyện gì xâm phạm tới quyền lợi của bản thân, dứt khoát không làm!
Thuở mới bắt đầu tập đối tốt với chính mình, những “người tốt” sẽ thấy vô cùng ngượng ngùng, không tự nhiên; “đối tốt với mình” có khi còn thấy rất gượng gạo, thậm chí phải có chút ép buộc bản thân. Chẳng hạn trước năm 2008, người ta mời tôi đi giảng bài — dẫu năm 2005 tôi đã nổi tiếng khắp chốn — nhưng mỗi khi có ai hỏi: “Thầy Vũ ơi, mời thầy giảng nửa ngày thì học phí bao nhiêu ạ?”, tôi đều ấp úng bảo: “Các anh chị cứ tùy tâm xem gửi được bao nhiêu thì gửi.” Vì sao không dám sòng phẳng bàn về tiền bạc? Bởi tôi thấy mở miệng nói về tiền tài, dục vọng là một chuyện vô cùng nhục nhã; tôi không thể làm một kẻ “xấu”, không dám bộc lộ khát khao kiếm tiền chân thực nơi đáy lòng.
Năm 2009, lần đầu tiên tôi tự mở lớp giảng dạy của riêng mình, để lại số điện thoại của tôi và bạn gái tôi; tôi là một “người tốt”, còn cô ấy lại là một “kẻ xấu”. Bởi vì cô ấy có nhu cầu vô cùng rạch ròi và minh bạch đối với tiền bạc và quyền lợi, nên cô ấy thấy thiên hạ đang bóc lột tôi quá mức; thế là cô đứng ra bảo vệ lợi ích cho tôi: “Mức giá một nghìn, ba nghìn tệ làm sao mà chấp nhận được!” Kết quả thật thú vị: Những ai gọi điện cho cô ấy đăng ký học, tuyệt nhiên không một ai dám mặc cả giá; thế nhưng những ai gọi vào số của tôi, ai nấy đều xúm vào mặc cả từng đồng — hệt như chính cõi lòng tôi đã “dụ dỗ” họ đến để kỳ kèo bớt một thêm hai vậy!
Về sau tôi mới vỡ lẽ: Rất nhiều khi sự rẻ rúng, sự tùy tiện hay thói bắt nạt mà người đời đối xử với chúng ta, thảy đều do chính chúng ta tự đày đọa bản thân mà rước lấy! Người đời sẽ soi vào cách bạn đối đãi với chính mình để đối xử lại với bạn. Bạn tối ngày tự hạ thấp bản thân, tự công kích chính mình, thì người ngoài lẽ tự nhiên cũng sẽ khinh rẻ và công kích bạn y như thế.
Bởi vậy, muốn bẻ gãy lời nguyền “người tốt”, điều đầu tiên ta phải học là tự đối xử thật tốt với chính mình. Phải có ý thức chủ động yêu chiều bản thân, liên tục tự nhắc nhở mình: Tôi tuyệt đối không được tự bắt nạt chính mình, tôi phải đối xử tử tế với bản thân hơn một chút, tôi xứng đáng được tận hưởng những điều tốt đẹp mà mình hằng ao ước!
[ Bước thứ hai phá bỏ lời nguyền “người tốt”: Thiết lập ranh giới ]
Sau khi đã học được cách bảo vệ quyền lợi và biết dõng dạc nói “KHÔNG” với người khác, bước thứ hai để phá tan lời nguyền là: Thiết lập những “ranh giới” rạch ròi khi ở bên cạnh người khác. Đời sống muôn hình vạn trạng, việc nào là việc của bạn — do bạn toàn quyền quyết định; việc nào là việc của người khác — không thuộc trách nhiệm của bạn; tất thảy đều phải dần dà hình thành nên những phán đoán rõ ràng, dứt khoát, và thể hiện nhất quán qua từng hành động cụ thể.
Con người ta sinh ra ai nấy đều có cảm xúc và dục vọng tự nhiên, cần phải cất lên tiếng nói của riêng mình: Khi người khác làm mình khó chịu, hoặc khi bản thân có những đòi hỏi chính đáng, hãy thản nhiên nói thẳng ra; khi bản thân không hề muốn đáp ứng yêu sách của người khác, hãy dứt khoát chối từ. Đó là lẽ tự nhiên của tạo hóa, tuyệt đối không phải là “xấu xa”!
Nếu bạn đinh ninh làm vậy là “xấu”, xin hãy tự vấn xem bản thân liệu đã thực sự hiểu thế nào là “tốt” hay chưa. Cái “tốt” chân chính là: Bạn phải tốt trước, rồi mới lan tỏa kéo mọi người cùng tốt lên; còn bản thân bạn đã khổ sở ngột ngạt thì mọi người xung quanh cũng sẽ phải chịu trận u uất theo bạn mà thôi! Thứ lòng tốt lấy sự hy sinh bản thân làm tôn chỉ vĩnh viễn chẳng thể mang lại cảm nhận tốt đẹp cho bất kỳ ai; thứ “tốt” ấy thực chất là “đại bất hảo” — nó kìm kẹp khiến ai nấy đều không thể sống thật với chính mình, không biết cách tự yêu lấy mình, đó mới là bi kịch tồi tệ nhất!
Bởi thế, xin nhắc nhở tất cả những “người tốt” không còn muốn làm một cái vỏ rỗng tuếch: Hãy thường xuyên tự nhủ với lòng mình, và cũng dõng dạc tuyên bố với thiên hạ rằng: Tôi là người tốt, nhưng tôi không phải là kẻ dễ bị bắt nạt! Hãy kiên định bảo vệ “ranh giới” trong mọi sự vụ của mình, giữ vững lập trường và hết lòng nâng niu, che chở cho bản thân.
Thiết lập ranh giới đòi hỏi phải tôi luyện qua từng việc nhỏ nhặt nhất. Chẳng hạn như thái độ đối với tiền bạc: Trước đây tôi thừa biết tiền là thứ tốt, nhưng khát khao kiếm tiền của tôi hoàn toàn bị đè nén xuống đáy sâu; giờ đây tôi có thể thản nhiên ngồi đàm phán sòng phẳng về thu nhập, có thể thỏa sức tận hưởng cảm giác có tiền hóa ra lại tuyệt vời và thư thái đến nhường ấy! Thứ cảm giác tự do thả lỏng ấy đẹp đẽ khôn xiết. Thế nên tự đáy lòng, tôi chân thành cảm tạ tất thảy những ai đã giúp đỡ tôi về mặt tài chính: những người mua sách của tôi, những học viên tham gia khóa học, và những thân chủ tìm đến tôi... Tóm lại, tôi biết ơn tất cả!
Việc thiết lập ranh giới rõ ràng, rành mạch giúp tôi được thụ hưởng sự tự do thảnh thơi tuyệt mỹ, khiến lòng tôi dâng tràn niềm tri ân; và chính lòng biết ơn sâu sắc ấy lại tiếp thêm nguồn động lực to lớn để tôi say mê chia sẻ những hiểu biết tâm lý học của mình, mang lại sự trợ giúp thiết thực cho mọi người — đó mới đích thực là cái “TỐT” trọn vẹn.
[ Bước thứ ba phá bỏ lời nguyền “người tốt”: Yêu lấy chính mình ]
Nhắc tới lòng biết ơn của tôi dành cho những người từng tương trợ mình, người bạn tôi từng bảo: “Kỳ thực người đầu tiên anh cần phải cảm ơn chính là bản thân anh! Những quan điểm anh sẻ chia, những trang viết anh chắp bút, những chương trình phát thanh anh thực hiện đều mang lại sự khai sáng vô cùng to lớn cho cộng đồng, mọi người ai nấy đều phải cảm ơn anh mới phải! Tôi luôn tin tưởng sâu sắc rằng tâm hồn giữa người với người tựa như muôn ngàn tinh tú giữa bầu trời đêm, nhất định sẽ soi rọi lẫn nhau. Cho nên một ngày nào đó, khi anh tiến bộ tới mức bắt đầu tự đáy lòng cất lời cảm ơn chính bản thân mình, thì tiến trình cải tạo của anh mới chính thức hoàn tất. Tôi tin chắc anh sẽ làm được: ‘Cảm ơn Vũ Chí Hồng: Tôi trí tuệ dường này, tôi đã đào tạo nên bấy nhiêu học trò xuất sắc, biết bao độc giả say mê đọc sách của tôi; Vũ Chí Hồng, cậu cừ lắm! Vũ Chí Hồng, tôi yêu cậu rất nhiều!’ — Khi nào anh có thể dõng dạc nói với mình những lời ấy, anh mới thực sự dẫn dắt mọi người học được cách yêu lấy chính mình!”
Thực ra, tôi đối với bản thân mình quả thực khá hài lòng. Tôi luôn tự nhủ: Chẳng sao cả, bản thân được 70 điểm là đã quá cừ rồi! 70 điểm nhan sắc, 70 điểm thông minh, 70 điểm năng lực, 70 điểm cần cù; gộp tất thảy lại, cố gắng thêm một chút là chạm mốc 80 điểm, cuộc đời như thế là quá đỗi tốt lành rồi! Làm người thì phải chừa lại cho mình một kẽ hở; thế nên dẫu biết mình đầy rẫy khuyết điểm, tôi vẫn thấy bản thân mình thật tuyệt.
Có một câu nói tôi thường nhắc nhở thính giả trên sóng phát thanh: Học được cách yêu lấy chính mình, bạn mới có thể tựa như một mạch nước nguồn tuôn trào tưới mát cho người khác; bằng không, bạn sẽ chỉ là một vũng nước tù đọng mà thôi! Một khi chính nội tâm bạn đã bốc mùi hôi thối, làm sao bạn có thể bùng phát ra dòng sinh khí dồi dào cho đời? Mong rằng mọi người hãy từ tận đáy lòng đối xử thật tốt với chính mình trước tiên. Chỉ khi thực sự biết yêu bản thân, bạn mới có thể yêu thương người khác một cách trọn vẹn nhất.
Chồng là “trai bám mẹ”, phá giải thế nào?
[ Đặc trưng của “trai bám mẹ”: Luôn hòa làm một thể với mẹ ]
Tôi có một người bạn năm nay đã 34 tuổi, nhưng chưa từng trải qua một mối tình nào sâu sắc và bền lâu; hẹn hò cô nào cũng chỉ dăm bữa nửa tháng là đường ai nấy đi. Dùng chính lời của anh ta giải thích thì là: “Mẹ tôi không ưng” hoặc “Thấy cô ấy không hợp tính với mẹ tôi”. Mỗi khi trò chuyện bàn về quan điểm gì, anh ta luôn mở miệng là: “Gia mẫu từng dạy rằng...”, “Gia mẫu thấy rằng...”, giọng điệu sặc mùi chữ nghĩa cổ hủ.
Ban đầu tôi đồ rằng liệu có phải anh ta là người đồng tính? Nhưng về sau quan sát thấy không phải, anh ta tuyệt nhiên không hề có chút rung động hay say mê nào với người cùng giới; câu cửa miệng thường trực nhất vẫn là “Gia mẫu, gia mẫu”. Lúc ấy tôi mới ngộ ra: Gã này đích thị là một “trai bám mẹ” (má bảo nam)!
Hiện nay hình mẫu “trai bám mẹ” dường như nhiều vô kể. Trong hòm thư của trang WeChat “Thanh Âm”, thường xuyên bắt gặp những lời than vãn của chị em phụ nữ về việc chồng hay bạn trai mình là “trai bám mẹ”, chuyện gì cũng răm rắp nghe lời mẹ đẻ, vô cùng phiền toái, mệt mỏi. Vậy thì mẫu đàn ông thế nào sẽ bị xếp vào hàng ngũ này? Tôi đúc kết ra ba đặc trưng kinh điển nhất của “trai bám mẹ”:
Kiểu thứ nhất: Mẹ vĩnh viễn luôn đúng.
Học giả Đài Loan Tôn Long Cơ trong cuốn sách bàn về văn hóa Mỹ có nhắc tới chủ nghĩa “Đại Ma-mi” (Big Momism). Người bình thường do ảnh hưởng của phim ảnh nên hay có ấn tượng về văn hóa cha con của Mỹ: phim Mỹ đa phần phản ánh mối quan hệ giữa cha và con cái, như Batman hay Spider-Man toàn kể về việc người đàn ông chung sống và giải quyết khúc mắc với cha mình ra sao. Nhưng Tôn Long Cơ chỉ ra rằng nước Mỹ tồn tại một “văn hóa sát mẫu” — tức mọi đứa trẻ trước ba tuổi đều bắt buộc phải vùng vẫy thoát khỏi sự ỷ lại và cộng sinh tâm lý với người mẹ; trên bình diện tưởng tượng, hay nói đúng hơn là trong tiềm thức, phải “giết chết” người mẹ đi!
Tương ứng với điều đó, người Mỹ còn có một chủ nghĩa “Đại Ma-mi”. Nơi người bạn “trai bám mẹ” của tôi phô diễn trọn vẹn chủ nghĩa này: “Mẹ tôi vĩnh viễn luôn đúng”, “Đây là mẹ tôi dạy”, “Gia mẫu bảo thế”, “Gia mẫu thấy rằng”... Hai chữ “mẹ bảo” đã biến thành câu cửa miệng, lời mẹ phán chẳng khác nào thánh chỉ hoàng triều! Trong gia đình ấy, trong mối quan hệ ấy, anh ta thực chất chỉ là một gã “trai bám mẹ” vô cùng đáng thương: người mẹ là nữ hoàng tối thượng, còn anh ta chỉ là một đứa bé ngoan ngoãn nghe lời mẹ mà thôi.
Kiểu thứ hai: Mãi mãi là bảo bối nơi đầu quả tim của mẹ.
Dù trong nhà nuôi một chú mèo Garfield hay một chú vẹt, hễ con vật học được bất kỳ trò gì mới, phản xạ của chúng ta đều là: “Oa! Đáng yêu quá!”, “Oa! Giỏi quá đi mất, cưng cừ thật đấy!” Chẳng hạn chú vẹt biết tự mở cửa lồng, một mặt ta thấy lo vì sợ nó bay mất, nhưng mặt khác lại trầm trồ: “Oa, mày cừ thật đấy!” Từ chuyện này ta liên tưởng tới góc nhìn của người mẹ đối với con thơ: người mẹ nhìn con mình lại càng mang cảm xúc ấy mãnh liệt gấp bội — đứa trẻ làm bất cứ việc gì cũng đều là phi thường vĩ đại! Con biết bi bô tập nói, con biết chập chững tập đi, con biết tự xúc cơm ăn, con biết lăn lê bò toài... tất thảy đều khiến cha mẹ thấy ngập tràn sự kinh ngạc, diệu kỳ.
Thậm chí khi đứa con đã khôn lớn, đã thành gia lập thất, nếu mẹ chồng sống chung cùng đôi vợ chồng trẻ, thì trong mắt bà mẹ chồng, cậu con trai vẫn mãi là một bé cưng nhỏ bỏng; bà vẫn đinh ninh bất cứ việc gì con trai mình làm cũng đều xuất chúng, phi thường! Đứa con trai là bảo bối trọn đời của mẹ, điều đó có thể thấu hiểu được; thế nhưng mẹ nhìn con như thế, mà bản thân đứa con trai cũng tự mãn chôn chân trong cái lốt ấy, ắt hẳn sẽ châm ngòi cho đại họa!
Bởi người vợ của anh ta chắc chắn sẽ có một cách nhìn hoàn toàn trái ngược: Người vợ cần một người đàn ông đích thực — một người có sức mạnh, có thể che chở bảo bọc cô, có thể chống đỡ mái nhà, chí ít phải là một người đàn ông bình đẳng, độc lập và có tinh thần trách nhiệm. Hơn nữa phụ nữ luôn kỳ vọng đàn ông sẽ là chỗ dựa vững chãi cho mình; thành thử người vợ rất dễ sinh lòng bất mãn với chồng, và mâu thuẫn gia đình từ đó bùng nổ. Trong khi đó mối dây liên kết giữa người đàn ông và mẹ đẻ lại khăng khít hơn nhiều so với mối liên kết với vợ — đó đích thị là mẫu “trai bám mẹ” kinh điển.
Kiểu thứ ba: “Tôi và mẹ là một thể thống nhất.”
Từ tấm bé đã như vậy, và mối quan hệ ấy tiếp tục kéo dài nguyên vẹn tới tận tuổi trưởng thành.
Một người bạn thân của tôi kể rằng: mẹ chồng cô tới nhà họ ở chơi; giữa mùa hè oi bức, người chồng vẫn đang ngồi lù lù trong phòng mà bà mẹ chồng thản nhiên cởi phăng quần áo bắt đầu thay nội y! Cô bạn kinh ngạc đến chết điếng, vội vàng giục chồng: “Anh mau ra ngoài đi, mau ra ngoài đi!” Đúng lúc này bà mẹ chồng bĩu môi bảo: “Gớm, có cái gì đâu cơ chứ! Nó là do tôi cho bú mớm lớn tướng, trên người nó có cái gì mà tôi chưa từng thấy!” Về sau lại xảy ra cảnh tượng đúng năm giờ sáng bà mẹ chồng thản nhiên xộc thẳng vào phòng ngủ của hai vợ chồng để... lau đầu giường!
Bạn tôi cảm thấy cuộc sống riêng tư của mình hoàn toàn bị mẹ chồng giẫm đạp xâm phạm; thế nhưng cả chồng lẫn mẹ chồng đều trơ tráo thấy chuyện đó có sao đâu! Người chồng thậm chí còn quay sang quát mắng vợ: “Mẹ đến đây, mẹ chăm chỉ đỡ đần việc nhà cho hai đứa như thế, cô còn chưa vừa lòng nỗi gì!”
Chúng ta đều biết, đối với mọi sinh linh khi mới lọt lòng, sự chăm chút của người mẹ sẽ khiến đứa trẻ có cảm giác cộng sinh làm một thể với mẹ; song trạng thái này thông thường chỉ được phép tồn tại trước năm ba tuổi. Căn nguyên nhào nặn nên một gã “trai bám mẹ” mấu chốt nằm ở chỗ: nay anh ta đã ba bốn mươi tuổi đầu rồi mà vẫn sống chết hòa làm một thể với mẹ, vẫn là đứa bé cưng nơi khóe mắt, đầu môi và đáy tim mẹ, chưa từng trải qua sự chia tách tâm lý, chưa từng để bản thân lớn khôn thành một người trưởng thành độc lập.
[ “Tình yêu” của “trai bám mẹ” là sự phòng vệ trước “nỗi căm hận” ]
Bàn sâu hơn về chủ đề “trai bám mẹ”, chúng ta sẽ bóc trần một sự thật: Kỳ thực những kẻ bám mẹ ấy vô cùng đáng thương! Trông bề ngoài, một gã đàn ông to xác đường hoàng làm con trai, ngày ngày thảnh thơi thụ hưởng mối quan hệ khăng khít không kẽ hở với mẹ, ngỡ như hạnh phúc lắm; song đó chỉ là ảo ảnh nơi bề mặt.
Trong rất nhiều ca tham vấn tôi từng thực hiện, các gã “trai bám mẹ” thực chất cực kỳ căm ghét việc mẹ cứ dính chặt cộng sinh lấy mình: Kỳ thực họ hận mẹ thấu xương!
Bởi thế trên mạng mới xuất hiện thêm một thuật ngữ: “Hội chứng chán ghét phụ nữ” (Misogyny — Yếm nữ chứng). Những gã “trai bám mẹ” thể nặng trong lòng đều mang hội chứng ghét đàn bà vô cùng trầm trọng, chỉ có điều bản thân họ không tự nhận biết được mà thôi. “Trai bám mẹ” không phải kiểu người đồng tính “vô cảm trước phái đẹp”, mà là do suốt bao năm tháng bị người mẹ kiểm soát, xâm phạm quá đà, dính mắc với mẹ quá sâu, thành thử sinh ra nỗi ác cảm bài xích đối với toàn bộ giới nữ!
Khi tình cảnh này xuất hiện, anh ta sẽ dồn hết phần “tốt đẹp” ra để đối đãi với duy nhất người mẹ của mình, còn đối với những người phụ nữ khác — đặc biệt là người vợ đầu ấp tay gối — anh ta sẽ trút trọn vẹn phần “chán ghét, thù hằn đàn bà” lên đầu cô ấy! Bởi thế, làm vợ của một kẻ bám mẹ là một nỗi bi kịch khổ ải tột cùng.
Như người bạn thân của tôi từng cay đắng bảo: Chồng cô chưa bao giờ thực sự thân mật với cô. Trước khi cưới, thấy anh đối xử với mẹ chu đáo nhường ấy, cô xúc động nghẹn ngào, đinh ninh người đàn ông hiếu thảo này mai này chắc chắn cũng sẽ hết lòng yêu thương mình. Nào ngờ cưới nhau rồi cô mới ngã ngửa phát hiện ra: anh ta chỉ tốt với duy nhất một mình mẹ anh ta, còn với tất thảy những người đàn bà khác trên đời, anh ta đều đối xử tệ bạc vô cùng!
Dưới lăng kính tâm lý học, sở dĩ anh ta chỉ tốt với mẹ là bởi anh ta đã phong bế triệt để phần “oán hận” dành cho mẹ. Cho nên nếu muốn chữa trị cho một gã “trai bám mẹ” (từng có những ca rất nặng tìm đến tôi), bài tập đầu tiên tôi bắt anh ta phải làm là: Nhìn thẳng vào nỗi căm hận của chính mình đối với mẹ đẻ!
Triệu chứng bám mẹ càng nặng, sự thao túng của người mẹ càng sâu thì nỗi căm hận của anh ta đối với mẹ lại càng khủng khiếp. Khủng khiếp tới mức độ nào? Nặng nề tới mức họ từng vô số lần nung nấu ý nghĩ muốn giết chết mẹ mình! Trong tiềm thức của những gã bám mẹ luôn cháy bỏng một thôi thúc muốn đuổi phăng người mẹ đi, không muốn bà hiện diện trong cuộc đời mình nữa.
Khi Tôn Long Cơ bàn về “văn hóa sát mẫu” của Mỹ, ông chỉ ra rằng: mọi đứa trẻ trước ba tuổi đều cần phải “giết chết” người mẹ trong tâm tưởng. Lẽ dĩ nhiên đây là sự “giết chết” trên bình diện tâm lý, chứ không phải hành vi thực tế ngoài đời. Tức là đứa trẻ bắt buộc phải rời xa mẹ, tách mình ra khỏi mối quan hệ mẫu tử sơ sinh; và trong giai đoạn cắt rốn tâm lý ấy, đứa trẻ rất cần sự tiếp sức của người cha thì mới có thể hoàn tất suôn sẻ.
Ẩn sau tình yêu thương nồng nhiệt của mỗi gã “trai bám mẹ” trưởng thành dành cho mẹ, kỳ thực đều chôn giấu một nỗi căm hận ngút trời. Chiếu theo lý thuyết tâm lý học: Nếu không thể tự do oán hận, sẽ chẳng bao giờ có được tình yêu đích thực; nếu không thể buông lời chối từ, sẽ vĩnh viễn không thể chạm tới sự thân mật thực sự! Cho nên, cảnh tượng gã bám mẹ dường như chỉ có tình yêu và sự quấn quýt bên mẹ thực chất chỉ là một màn kịch giả tạo; và như một sự thay thế nghiệt ngã, người vợ đứng cạnh gã bám mẹ sẽ liên tục phải nếm trải nỗi cô đơn chí mạng đến nghẹt thở!
Đối với gã bám mẹ, việc mẹ xâm phạm thô bạo vào cuộc sống của mình khiến lòng anh ta vô cùng khó chịu, nhưng anh ta tuyệt đối không dám mở lời. Nội tâm anh ta tựa như một hồ chứa nước khổng lồ: nỗi “oán hận” mẹ chính là dòng nước cuộn trào bên trong, còn con đê ngăn nước lại được đắp bằng thứ mang tên “tình yêu”. Anh ta không dám để con đê ấy xuất hiện dẫu một kẽ nứt nhỏ; bởi chỉ cần một kẽ hở xuất hiện, cơn cuồng nộ hận thù sẽ vỡ bờ cuốn phăng tất cả, xả sạch ra ngoài! Nỗi oán hận mẹ trong lòng anh ta nặng nề đến mức đã vô số lần anh ta muốn trừ khử mẹ; và chính sự hận thù ấy lại là điều bản thân anh ta khiếp sợ không dám đối diện. Hễ hé mắt nhìn thấy mình căm hận mẹ đến mức ấy, trong lòng anh ta lại trào dâng cảm giác tội lỗi ngập tràn.
Chính cảm giác tội lỗi ấy là chiếc gông cùm xiềng xích trói chặt tâm can gã bám mẹ, và đó cũng là hạt nhân cốt tử của căn bệnh này.
Nói một cách nôm na: Thẳm sâu trong lòng gã bám mẹ tuyệt nhiên không hề mong muốn mẹ dính chặt lấy mình như thế, nhưng năng lượng nội tại của anh ta chưa đủ mạnh để đẩy người mẹ ra xa. Anh ta khao khát tháo chạy, không muốn dây dưa trong mối quan hệ ngột ngạt này; thế nhưng người mẹ lại hy sinh vì anh ta quá nhiều, thành thử anh ta vừa muốn trốn chạy, lại vừa dằn vặt cắn rứt lương tâm vì ý nghĩ đào tẩu ấy — cứ thế trượt dài trong vòng lặp giằng xé khôn nguôi.
Nói một cách tỉnh táo: Tình cảm của gã bám mẹ dành cho mẹ mình vô cùng phức tạp, nặng nề và mang sắc màu xám xịt u uất, chứ tuyệt nhiên chẳng hề khỏe mạnh, thanh thản hay vui vẻ gì!
Tôi quan sát thấy rất nhiều gã “trai bám mẹ” khi tuổi đời còn rất trẻ mà mái đầu đã bạc trắng một nửa. Tôi vô cùng thấu hiểu nỗi âu lo và giằng xé sâu kín trong lòng họ: Suốt đời bị mẹ giam cầm bên cạnh, suốt đời cộng sinh bên mẹ — trạng thái ấy bất kể với con trai hay con gái đều là một sự trói buộc ngột ngạt; song đối với nam giới, đó lại càng là một chiếc gông cùm nghiệt ngã, bởi dưới chiếc gông ấy, toàn bộ sức mạnh giống đực đầy kiêu hãnh của người đàn ông hoàn toàn bị bóp nghẹt, không tài nào ngóc đầu lên nổi!
[ Gặp phải “trai bám mẹ”, bạn nên làm gì? ]
Không ít người tìm đến tôi hỏi: Chồng em đích thị là “trai bám mẹ”, hoặc bạn trai hiện tại của em mang trọn vẹn những thói ấy, giờ em phải làm sao?
Nói thực lòng, cá nhân tôi thấy cục diện này chẳng mấy lạc quan. Lời khuyên của tôi là: Trước tiên bạn hãy xem xét mức độ nghiêm trọng của anh ta đến đâu, rồi hẵng tính bước tiếp theo.
Chúng ta đều biết sự vật luôn có hai mặt: Nếu mức độ răm rắp nghe lời mẹ của anh ta đạt thang điểm 9, thì nỗi căm hận anh ta dành cho mẹ cũng ngùn ngụt ở mức 9 điểm! Nhưng 9 điểm hận thù ấy nằm sâu dưới tiềm thức, ở tầng ý thức anh ta không dám xả ra với mẹ; thế nên như một sự bù trừ nghiệt ngã, anh ta bắt buộc phải trút trọn vẹn 9 điểm hận thù ấy lên đầu người vợ — bởi thế làm vợ họ khổ ải vô cùng.
Vì vậy tôi khuyên: Nếu mức độ “trai bám mẹ” đã vượt ngưỡng 8,5 điểm, bạn tuyệt đối đừng bao giờ dại dột lấy anh ta làm chồng! Hãy để mặc anh ta ở một mình với mẹ anh ta đi! Chỉ khi nào anh ta tự thấy đau đớn đến cùng cực, anh ta mới có thể nung nấu ý định thay đổi. Còn nếu ở mức dưới 8,5 điểm, chúng ta vẫn có thể làm được đôi điều, song chặng đường ấy cũng muôn phần gian nan trắc trở.
Đối với những người phụ nữ đã trót kết hôn, có ông chồng là “trai bám mẹ” thể nặng, tôi thực sự chẳng biết phải giúp bạn thế nào. Tôi nghĩ điều duy nhất các bạn có thể làm là dắt gã bám mẹ ấy đến gặp tôi, tôi có thể có phương pháp trị liệu; nhưng nếu người đàn ông ấy đã bệnh quá nặng, hoàn toàn không tự ý thức được vấn đề của mình, lại khăng khăng từ chối cùng vợ nỗ lực chữa lành, thì tôi chỉ biết gửi tới những người vợ ấy sự thấu cảm và niềm thương xót vô hạn — các bạn thực sự đã quá đỗi nhọc nhằn, cay đắng!
Những người phụ nữ ấy xin hãy biết tôn trọng cảm xúc của chính mình: Nếu sống trong ngôi nhà ấy bạn thấy cô đơn tột cùng, thấy oán hận, thấy giận dữ nghẹn ngào, bạn nhất định phải xả nó ra!
Còn đối với những ai có người bạn đời mắc chứng “bám mẹ” ở mức độ nhẹ hơn, dưới đây là vài phương pháp các bạn có thể thử áp dụng:
Giúp anh ta nhận thức được vấn đề:
Trong tâm lý học có một chân lý: Khi bạn thực sự nhận ra một chỗ nào đó đang có vấn đề, hoặc vấn đề ấy là gì, bạn tự khắc sẽ biết mình phải làm sao mà chẳng cần ai phải cầm tay chỉ việc. Bởi thế, nếu bạn có thể kéo chồng cùng học hỏi những kiến thức tâm lý liên quan, giúp anh ta tỉnh ngộ nhận ra những rắc rối đang tồn tại, sự đổi thay mới có cơ hội bắt đầu.
Tìm đến bác sĩ tâm lý:
Nếu người vợ thấy nội tâm mình quá đỗi kiệt quệ, không tài nào tự hóa giải nổi những tổn thương mà thói bám mẹ của chồng giáng xuống đầu mình, hãy chủ động tìm đến chuyên gia tâm lý để giãi bày và trị liệu.
Nỗ lực tự thân trưởng thành, bồi đắp sức mạnh nội tại:
Bản thân người vợ hãy tập trung hoàn thiện chính mình. Trên nền tảng bản thân đã đủ độc lập, đủ mạnh mẽ, hãy kiên trì giao tiếp đối thoại với chồng, dẫn dắt anh ta cùng bạn lớn khôn. Song đây là một hành trình dài đằng đẵng và vô cùng gian nan, đòi hỏi bạn phải dành cho anh ta một tình yêu thương vô cùng to lớn.
Biết xót thương lấy mình, trả lại nỗi đau cho người đàn ông:
Nếu phát hiện chồng là “trai bám mẹ” nhưng bạn lại không muốn ly hôn, cũng chẳng nỡ rời bỏ anh ta; vậy thì trên tiền đề bạn đã thấu suốt toàn bộ chân tướng sự việc, hãy đối đãi thật tốt với chính mình, tự sống một cuộc đời rực rỡ, thảnh thơi — hãy quẳng lại toàn bộ nỗi đau đớn và sự cô đơn cho gã đàn ông ấy tự gánh lấy! Bởi lẽ thông thường, chỉ khi người đàn ông nếm trải nỗi đau đớn tột cùng, anh ta mới bắt đầu khao khát muốn thay đổi.
Sau cùng, có một lời cảnh tỉnh tối quan trọng: Nếu chồng bạn đã trót mang hình hài như thế, xin bạn trăm ngàn lần đừng bao giờ nuôi dạy con trai mình biến thành một gã “trai bám mẹ” tiếp theo, và cũng đừng bao giờ nhào nặn con gái mình thành một kẻ dính chặt lấy bạn không rời!
Bình luận