PHẦN 4 - TRỞ THÀNH MỘT PHÁP SƯ SHAMAN: THỬ THÁCH KHAI TÂM PHÁP SƯ NAM TÍNH
- Minh Đào
- 11 giờ trước
- 73 phút đọc
9 TIỀM NĂNG SHAMAN Ở NGƯỜI ĐÀN ÔNG ĐƯƠNG ĐẠI: THỬ THÁCH KHAI TÂM PHÁP SƯ
Năng lượng Pháp sư được kêu gọi trong mọi lĩnh vực của đời sống, cả trong công việc lẫn địa hạt cá nhân. Với tư cách là một nguồn năng lượng giúp ta tổ chức tâm trí mình, Pháp sư là không thể thiếu. Năng lượng của người này cho phép chúng ta sống cuộc đời của những người đàn ông trưởng thành, một cách có ý thức, có chủ đích và với sự tự phản tư sâu sắc.
Chúng ta đã xem xét sự thiếu hụt trầm trọng những người đàn ông sẵn sàng hiện thân cho Pháp sư để giúp đỡ người khác vượt qua các cuộc khủng hoảng của họ. Nhưng ngoài kia vẫn có những người đàn ông đang làm điều này, và họ làm rất tốt. Điều này giống như câu chuyện ngạn ngữ về chú chó có thể đi bằng hai chân trước: việc nó đi chưa thật khéo không quan trọng bằng việc nó thực sự đang bước đi.
Nhiều người bước vào các ngành nghề cứu giúp thực chất lại đang tự tìm kiếm sự giúp đỡ cho chính mình. Họ đồng điệu với Pháp sư bởi họ đã cố gắng tiếp cận năng lượng của người này cho cuộc sống của chính họ trong nhiều năm. Các mục sư, nhà trị liệu và sinh viên chuyên ngành tâm lý học thường chỉ nhận ra khi quá trình đào tạo gần kết thúc rằng sự giúp đỡ mới thực sự là điều họ kiếm tìm, và khi không nhận được sự giúp đỡ nào, họ trở thành người cứu giúp như một cách thế chỗ.
Những người cứu giúp không nhận thức được điều này vẫn chưa vượt qua được ngưỡng cửa thứ hai để bước ra khỏi Bụng Cá Voi. Họ thường bắt đầu sự nghiệp với lòng nhiệt thành của các bậc tiên tri, bởi sự kết nối của họ với chính các nguyên mẫu vẫn còn quá trực diện và chưa được điều phối thông qua các cấu trúc Bản ngã vững vàng. Hiện tượng kiệt sức ở người giúp đỡ sẽ sớm xảy ra. Ảo tưởng về việc mình phi thường hơn một con người sụp đổ, và rồi con người thực ấy cũng suy sụp ngay sau đó.
Sẽ rất hữu ích nếu ta nhớ lại những bài học từ một số truyền thống tâm linh vĩ đại trên thế giới. Một bài học quan trọng là: người giác ngộ vốn dĩ rất đỗi bình thường. Anh ta đã vượt qua ngưỡng cửa bước vào giai đoạn khai tâm thứ ba và quay trở lại với không gian đời thường.
Một người đàn ông có sức hút phi thường không đồng nghĩa với việc anh ta đã giác ngộ. Như Moses bước xuống từ Núi Sinai, ông tỏa sáng mà không hề hay biết mình đang tỏa sáng. Và cũng giống như Moses, sự kề cận với cõi linh thiêng siêu phàm (numinous) có thể che mờ khả năng phán đoán của anh ta về việc nên lựa chọn hành động thế nào. Khi chọn cho mình một người dẫn đường, hãy lựa chọn thật cẩn trọng.
Một trong những thành quả tuyệt vời từ Sức mạnh của Thần thoại (The Power of Myth), loạt phỏng vấn truyền hình giữa nhà thần thoại học Joseph Campbell và Bill Moyers, là đã có rất nhiều người đàn ông được dẫn dắt đến với năng lượng Pháp sư một cách êm thấm, không đớn đau. Dù không thể thay thế cho một bậc trưởng lão nghi lễ bằng xương bằng thịt, Campbell đã truyền tải thành công tình yêu thần thoại đến với đông đảo công chúng. Rất nhiều người đàn ông từng bị dán nhãn là ngu ngốc ở một thời điểm nào đó trong đời đến mức họ ngại cầm lên một cuốn sách. Nhưng với loạt chương trình khơi dậy niềm say mê thần thoại này, nhiều người trong số họ đã bắt đầu đọc sách trở lại — và khám phá ra những tiềm năng Pháp sư chưa được khai mở của mình.
Campbell là một ví dụ thú vị về một pháp sư thời hiện đại. Người Tình và Pháp sư rõ ràng là những nguồn năng lượng dẫn đường trong cuộc đời ông. Khi trò chuyện với Moyers về các Chiến binh và những vị Vua, ông nói với vẻ khó chịu. Ông không thích những tôn giáo của Vua hay Chiến binh. Ông thích những truyền thống đề cao sự hóm hỉnh của Pháp sư cùng cả tính từ bi lẫn tính giao cảm nồng nàn của Người Tình.
Người Tình trân trọng mọi thứ và không muốn phải lựa chọn. Người Tình vốn dĩ mang tính ôm trọn tất cả. Và vì thế, Campbell đã đem đến cho chúng ta sự hòa trộn thần thoại đầy hân hoan của ông. Ông yêu mọi thần thoại trên thế giới, và muốn tất cả mọi người cũng yêu chúng. Bill Moyers là đối trọng bổ khuyết hoàn hảo của ông, bởi Moyers tiếp cận nhiều hơn với năng lượng Chiến binh và Vua trong nhân cách của mình. Giữa hai người họ, cả bốn nguyên mẫu của sự nam tính trưởng thành đã hội tụ, và điều này, bên cạnh chủ đề thảo luận, đã giúp loạt chương trình trở nên vô cùng đón nhận trong nam giới.
Campbell cũng không hoàn hảo như bất kỳ ai trong chúng ta, và nhiều góc khuất Bóng tối của ông đã bị báo chí phơi bày sau khi ông qua đời. Chẳng có người đàn ông nào hoàn hảo trên cõi đời này. Chúng ta phải học cách đón nhận những món quà mà một người có thể mang lại cho ta, và đối đãi đầy lòng trắc ẩn với những lỗi lầm của họ. Lỗi lầm của ông tuyệt nhiên không nên bị gạt bỏ qua loa, nhưng cũng không nên bị lợi dụng để phủ nhận toàn bộ con người ông.
Campbell là một bậc đại pháp sư (magus) mà món quà cuối đời để lại là nguồn cảm hứng dạt dào. Ông đã khiến rất nhiều người hào hứng với thần thoại và tâm trí con người. Nhiều người giờ đây bắt đầu nhận ra rằng thế giới thần thoại là có thật, và chúng ta chỉ thực sự tồn tại ở mức độ ta tham gia vào những thần thoại ấy. Họ khắc sâu thông điệp của Campbell — rằng giờ đã đến lúc gom góp tất cả những câu chuyện, dùng chúng để kiến tạo một thần thoại mang tầm hành tinh mới mẻ và khả thi, một thần thoại chấp nhận sự đa dạng của các bộ tộc nhưng vượt lên trên những giới hạn bộ tộc trong hành trình hướng tới một Cộng đồng Trái Đất.
Campbell là một hình tượng pháp sư hiện đại dẫu còn khiếm khuyết nhưng tràn đầy sinh lực sống. Sẽ thật đáng giá khi xem xét một pháp sư đương đại thực sự trưởng thành trông sẽ như thế nào. Chúng ta sẽ bắt đầu bằng việc tìm hiểu những đặc điểm của pháp sư, cá nhân mà chúng tôi tin là hiện thân trọn vẹn nhất của nguyên mẫu này.
PHÁP SƯ SHAMAN VỚI TƯ CÁCH LÀ NGƯỜI THẤU TRIỆT
Shaman là người thấu biết chân lý ẩn giấu. Ông đạt được tri thức thông qua những cuộc du hành vào không gian và thời gian thiêng liêng. Ông là một nhà thám hiểm trong cõi tâm linh. Ban đầu, ông dấn thân vào những cuộc hành trình bên ngoài thực tại thông thường nhằm nỗ lực tự chữa lành và hợp nhất chính mình. Ông có thể không ý thức được đây là động cơ của mình — trên thực tế, ông thậm chí có thể bác bỏ cách diễn giải này. Nhưng các nhà nhân học thường ghi nhận rằng vị shaman mới chớm nở được mời gọi bước vào cõi linh hồn thông qua bệnh tật thể xác và/hoặc những khủng hoảng tâm lý. Và những không gian thiêng liêng mà các shaman mô tả rõ ràng chính là các cấu trúc chữa lành của tâm trí.
Một khi đã ở trong cõi tưởng tượng (imaginal realm), vị shaman học địa lý thiêng liêng của cõi ấy. Ông dần thấu hiểu tường tận những cư dân kỳ lạ nơi đây, có thể nhìn thấy và trò chuyện với họ, nơi mà những người "bình thường" giỏi lắm cũng chỉ trực cảm thấy lờ mờ. Một khi shaman đã quen thuộc với những không gian nội tâm này, ông có thể tự do tiến vào, băng qua và bước ra khỏi các thế giới tưởng tượng theo ý muốn. Thông qua những chuyến xuất thần của tâm linh, ông leo lên "ngọn núi trung tâm" hay "cây thế giới" của mình, và có thể du hành lên các tầng trời hoặc xuống cõi âm ti, dọc theo trục vũ trụ (axis mundi).
Ông học cách rút lấy sức mạnh từ cõi chưa phân định (undifferentiated realm) cho hệ thống tâm lý của riêng mình. Ông là một người thân cận với cái chết, có thể nhìn thẳng vào vực thẳm bóng tối mà không tìm cách trốn chạy vào sự chối bỏ. Như một nghệ sĩ đi trên dây, ông học cách cân bằng các lực nội tâm, và nhờ đó trở nên thuần thục trong việc đón nhận và siêu vượt những mặt đối lập của thế giới trần tục — sự chết và sự sống, bóng tối và ánh sáng, tính chủ động và tính dung nạp. Ông có thể tìm thấy trục vũ trụ trong tâm trí mình, và vì thế có thể đóng vai trò như một tâm điểm hiển hiện cho người khác. Bản năng muông thú và những khát vọng tâm linh của ông được hòa hợp một cách tinh tế, không tiếng nói nào chịu khuất phục trước tiếng nói kia.
Bất kỳ ai có thể sống sót qua quyền năng của cõi thần thánh đều đã phát triển một "trục Bản ngã - Bản thể" (Ego-Self axis) tương thích. Vị shaman đã bọc lót, che chắn các cấu trúc Bản ngã của mình khỏi những "điện áp cao" từ các cấu trúc năng động trong vô thức tập thể. Ông học cách trở thành một chuyên gia về sự dung chứa (containment) — dung chứa Bản ngã của chính mình, các thiên thần và ác quỷ bên trong, cũng như toàn bộ cuộc du hành nội tâm. Nhờ sự linh hoạt, thuần thục về mặt tâm lý, ông là hiện thân thành công của "Bản ngã quan sát" (observing Ego).
Năng lực dịch chuyển ra vào thực tại thiêng liêng ban cho ông khả năng giải quyết vấn đề sáng tạo phi thường. Và khi một shaman khai thác cả năng lượng Người Tình, ông sẽ trở thành nhà thơ sáng tạo, người ca sĩ, người nghệ sĩ và người kiến tạo thần thoại.
Các công cụ của shaman để khơi gợi các trạng thái ý thức biến đổi đã được các nhà nhân học và tâm lý học khám phá một cách khách quan trong những năm gần đây. Có tầm quan trọng hàng đầu là các kỹ thuật hình dung tăng cường — tương tự như các bài tập tưởng tượng chủ động của Jung — được sử dụng để hình dung các nội dung vô thức một cách sống động chi tiết. Ngoài ra, shaman có thể đặt mình vào nhiệt độ khắc nghiệt, hoặc sử dụng các kỹ thuật tước đoạt giác quan để vượt lên trên những xao nhãng của thể xác. Ông có thể sử dụng các chất thức thần, mặc dù việc này tương đối hiếm. Cuối cùng, và phổ biến nhất, ông sử dụng sự kích thích thính giác. Điều này thường ở dạng đánh trống theo nhịp điệu. Một số nhà nghiên cứu tin rằng tiếng trống có thể khuếch đại nhịp sinh học tự nhiên của cơ thể, chẳng hạn như nhịp tim và một số tần số sóng não nhất định — chính là các tần số liên quan đến các trạng thái ý thức biến đổi.
Một shaman truyền thống dĩ nhiên là điều lỗi thời đối với hầu hết người hiện đại. Chúng ta phải tìm cách phát triển những biểu hiện mới phù hợp với các tiềm năng shaman trong một xã hội hậu hiện đại. Như chúng ta đã thấy ở trên, có những người đàn ông đương đại đang tiếp cận các nguồn năng lượng của Pháp sư. Chúng ta hãy cùng điểm lại một số cách mà nam giới ngày nay đang hiện thực hóa các tiềm năng này.
Người đàn ông đương đại tiếp cận các nguồn năng lượng này bước vào không gian thiêng liêng của các trường năng lượng — từ điện trường cho đến năng lượng sinh lực (libidinal) — để có được tri thức trực tiếp về cách vận hành của chúng. Bất kỳ thế giới nào nằm bên dưới và tạo ra thế giới vật chất cùng địa hạt hành vi con người đều là mảnh đất cho sự nghiên cứu của anh ta. Anh ta khảo sát bộ máy vận hành như đồng hồ của vũ trụ, từ trong ra ngoài. Anh ta dần nhận ra những mô thức lực mà người khác không nhìn thấy. Anh ta học cách giải mã các thông tin bí ẩn, dù anh ta là một nhà nghiên cứu thời tiết đang điều tra sự tương tác giữa các luồng khí hay một nhà tham vấn đang lắng nghe bằng chứng về các yếu tố bị đè nén trong nhân cách của thân chủ.
Dù là một chuyên gia kỹ thuật trong lĩnh vực của mình, vị shaman đương đại vẫn đủ bao quát như một nhà tổng quát học để hình thành một nền đạo đức thế giới sâu rộng hơn. Anh ta tránh sự tập trung quá hạn hẹp vào công việc của mình và nhận lãnh trách nhiệm đối với những biến cố xảy ra ở thế giới bên ngoài. Chỉ những ai mắc kẹt trong nguồn năng lượng Bóng tối của Pháp sư mới thiển cận, bị giới hạn bởi sự say mê đối với chuyên môn riêng của họ.
Đáng tiếc là hầu hết những người đàn ông được đào tạo trong lĩnh vực kỹ thuật đều bị khuyến khích trở nên thiển cận. Hãy nghĩ đến người sinh viên kỹ thuật chỉ có một hoặc hai môn tự chọn trong suốt khóa học đại học bốn hay năm năm của mình. Bởi xã hội chúng ta hiện nay phụ thuộc hoàn toàn vào tri thức của các chuyên gia, nên thời gian để học một chuyên ngành đã triệt tiêu việc học hỏi bất cứ điều gì khác. Hậu quả là có cả một đội ngũ đông đảo các bác sĩ, thợ sửa ống nước, học giả và luật sư vẫn là những "kẻ mọi rợ về mặt văn hóa" khi bước ra ngoài lĩnh vực của mình. Họ biết rất ít về vũ trụ như một chỉnh thể, về lịch sử văn hóa con người và tâm linh học, và do đó không có phương tiện để hình thành một bức tranh mạch lạc và tinh tế về thế giới. Những cá nhân chưa phát triển đầy đủ này không chỉ tự làm thiệt thòi bản thân — sự thiếu hiểu biết của họ còn ngăn trở họ đóng góp những nỗ lực tốt nhất cho xã hội đang lung lay của chúng ta. Chúng ta đã đặt nấc thang doanh nghiệp vào vị trí chiếc thang dẫn tới các vì sao của người xưa; những khối đá thiêng của chúng ta giờ là những tòa tháp thô kệch trên Phố Wall.
Trong các xã hội truyền thống, vị shaman luôn sở hữu một thế giới quan rộng mở hơn. Do đó, người hiện đại tiếp cận thỏa đáng các tiềm năng shaman của mình sẽ có những mối quan tâm sâu rộng. Anh ta sẽ quan tâm sâu sắc đến xã hội nói chung và đến hành tinh của mình. Anh ta sẽ tìm kiếm các cách thức để hiện thực hóa việc áp dụng đạo đức từ những tri kiến của mình vào các đấu trường khác nhau — luật pháp, chính trị, triết học hay khoa học. Anh ta là kiểu người cam kết vì một cộng đồng dung hợp, đồng hành và dẫn dắt các công dân khác trong nỗ lực chống lại sự nóng lên toàn cầu, nạn đói trên thế giới, ô nhiễm môi trường, sự phá hủy tầng ô-dôn và các vấn đề mang tính hành tinh khác.
Vì mục tiêu tối hậu của anh ta, trong bất kỳ sự nghiệp nào anh theo đuổi, là đóng góp vào việc chữa lành thông qua việc quản trị tri thức của mình, nên vị shaman đương đại luôn cập nhật những bước phát triển mới nhất trong lĩnh vực chuyên môn của mình cũng như trong tri thức chung của nhân loại. Anh ta không tin rằng việc học của mình kết thúc cùng với năm học cuối cùng ở trường, mà tiếp tục nghiên cứu những đam mê của mình trong suốt cả cuộc đời.
Nếu anh ta là một chuyên gia học thuật, anh ta sẽ thấy mình tiếp tục đào sâu vào những điều phức tạp tinh vi của bộ môn mình theo đuổi. Anh ta có thể là một học giả Tân Ước trở lại với các nghiên cứu ngôn ngữ sâu hơn ở tuổi năm mươi để có thể phân tích rõ hơn một văn bản Kinh Thánh then chốt cụ thể. Hoặc anh ta có thể là một triết gia không ngừng xem xét các tiến trình tư duy của mình, tìm kiếm khoảnh khắc mình vượt ra ngoài ranh giới của lập luận hay trường phái tư tưởng của bản thân. Hoặc anh ta có thể là một nhà toán học, trăn trở nghiền ngẫm các phương trình cho đến khi chúng chịu hé lộ những bí mật về con số — mở ra cho chúng ta những vũ trụ khái niệm mới.
Với sự tập trung năng lượng hướng nội, giới học thuật thường bị dán nhãn là "những giáo sư đãng trí". Dẫu họ trông có vẻ như — và thường là — xa cách với thế giới trần tục, những con người này lại có một sự gắn kết ái lực sống động với những thực tại mà chúng ta khó lòng mơ tới. Một cách chính đáng, họ tự xem mình là những người tiên phong về mặt tâm trí, những nhà thám hiểm bước vào những không gian phi thường của tâm thức. Suy cho cùng, chúng ta gọi những nỗ lực tốt nhất của họ là "những bước đột phá", như thể họ đang đục thủng một lỗ hổng nơi giới hạn tri thức của chúng ta, để lại cho phần còn lại của giống loài một kho tàng thông thái mới sẵn có. Đây là một hiện thân quan trọng của các tiềm năng shaman trong đời sống đương đại.
Vị shaman đương đại cẩn thận rà soát đời sống công việc và cá nhân để tìm kiếm bất kỳ dấu hiệu nào của các hành vi lạc lõng hay mang tính hủy hoại. Tuy nhiên, Pháp sư lại là nguyên mẫu của sự hướng nội và phản tư. Người đàn ông chịu sự chi phối của Pháp sư có thể rơi vào cái bẫy của việc băn khoăn xem liệu mình có đang dành quá nhiều thời gian để băn khoăn hay không. Nhưng người đàn ông hiện thân thành công cho các tiềm năng shaman của mình, chấp nhận các nguồn năng lượng nhưng không để chúng chiếm đoạt bản thân, sẽ là người cảnh giác, sắc bén và tỉnh táo. Anh ta nhanh chóng chạm đến trọng tâm của những vấn đề mà người khác không thể dò thấu. Anh ta nhìn xuyên qua từng cái cây để thấy cả khu rừng. Thông thường, anh ta sẽ hiểu người khác hơn chính bản thân họ tự hiểu mình.
Anh ta dành thời gian để ở một mình với chính mình, với những suy nghĩ và cảm xúc của bản thân. Bằng cách đó, anh duy trì sự giao tiếp với chính vô thức của mình. Những người khác bị thu hút về phía anh bởi trật tự và sự bình an nội tâm nơi anh. Anh nhìn thấy bóng tối trong chính mình và ở người khác, đồng thời đối diện với thực tại của cái chết. Cùng lúc đó, anh sống từ một niềm vui sâu thẳm bên trong, thấu biết rằng suy cho cùng sự sống sẽ chiến thắng cái chết.
Sự thấu hiểu của anh kết nối anh với Tâm Điểm, và mang lại tính chân thực cho lời nói cùng hành động của anh. Anh có thể mang một hào quang toát lên chiều sâu thăm thẳm. Những người khác có thể cảm thấy dường như có một sự hiện diện vô hình của một ý thức phi thường luôn cận kề bên anh. Sự thấu thị phi thường tỏa sáng trong đôi mắt anh. Một số người có thể trải qua cảm giác bất an khi thấy anh dường như có thể "nhìn thấu tâm can" họ.
Nhờ có tâm điểm của mình, anh không dễ bị kéo vào sự hỗn loạn của những tranh chấp gia đình hay những va chạm tính cách nơi công sở. Anh quan sát mọi sự một cách cẩn trọng khi chúng bắt đầu rạn nứt, và suy nghĩ mang tính chiến lược trước khi nói hay hành động.
Sự cứng nhắc là dấu hiệu đặc trưng của bất kỳ bệnh lý tâm thần nào. Người đàn ông tiếp cận các tiềm năng shaman của mình có thể nhận ra bên trong bản thân hạt mầm của tất cả các rối loạn nhân cách lớn. Tuy nhiên, anh vẫn tương đối tự do, không bị chúng chiếm hữu, nhờ vào sức mạnh của các cấu trúc Bản ngã và sự linh hoạt về nhận thức lẫn cảm xúc có được từ đó. Phản ứng của anh trước những tình huống khó khăn mang tính trật tự nhưng đầy sáng tạo. Anh trải nghiệm những tai ương tiềm tàng như những cơ hội để học hỏi các kỹ năng ứng phó mới. Và vì anh đã dày công thấu hiểu những vết thương thời thơ ấu của mình, anh đã học được cách nhận lãnh trách nhiệm ngay cả đối với những điều mà ban đầu anh không phải chịu trách nhiệm.
Dù suy ngẫm sâu sắc, anh cố gắng không ám ảnh về các vấn đề. Thay vào đó, anh đánh giá toàn bộ thông tin mình có trong tay, với mục tiêu thực thi một quyết định. Anh lắng nghe các cố vấn của mình và mọi tiếng nói trong tâm trí, giống như một chủ tịch hội đồng quản trị tài ba, rồi hành động với trọn vẹn sự khôn ngoan mà mình có thể tập hợp được.
Một người đàn ông năm mươi lăm tuổi bước vào phân tâm trị liệu khi đang học năm thứ hai tại trường thần học. Thiếu kinh nghiệm về tâm lý học chiều sâu, người đàn ông này không nhận ra mình đang khai thác sâu sắc đến mức nào nguồn năng lượng của Pháp sư. Ông bắt đầu buổi trị liệu với cảm giác mình là "kẻ biết tuốt nhưng chẳng tinh thông nghề gì". Ông từng trải qua hàng loạt công việc, thậm chí là những sự nghiệp đầy tiềm năng mà bất kỳ công việc nào trong số đó cũng có thể dẫn tới một sự nghiệp cả đời đàng hoàng. Ông từng làm thợ sơn và thợ trát vữa; từng làm việc trong nhà kho, xưởng đóng khung tranh và một đại lý xe hơi; từng dạy kịch nghệ ở trường đại học; từng làm tư vấn viên học đường; ông đã từ chối học lên tiến sĩ, bởi mức độ cam kết vào một đề tài hạn hẹp như vậy dường như quá tù túng đối với ông.
Giờ đây ông lại là một sinh viên nghèo túng ở tuổi năm mươi lăm, và ông bắt đầu cảm thấy mình như một kẻ thất bại. Nhưng khi đào sâu khám phá cảm giác thất bại này trong quá trình phân tâm, một niềm tự hào sâu sắc đã tự nhiên trỗi dậy, cùng với niềm tin chắc chắn về những thành tựu có thực. Năng lượng Pháp sư bên trong người đàn ông này, với tư cách là sứ giả của Bản thể, đã truyền đi sự tự tin đắc thắng rằng cuộc đời nghề nghiệp của ông hoàn toàn không phải là một sự thất bại. Trên thực tế, sự phong phú trong trải nghiệm của ông đã bồi đắp cho ông một cách sâu sắc.
Khi ông nói chi tiết hơn về những trải nghiệm cuộc đời mình, mọi sự trở nên rõ ràng rằng ông hoàn toàn không phải là kẻ cái gì cũng biết nhưng chẳng tinh thông việc gì. Thực sự ông là một bậc thầy chân chính của nhiều lĩnh vực. Trong một phiên trị liệu đầy kịch tính, ông đã nhận ra rõ ràng rằng một sự thông thái nội tâm đã dẫn dắt ông theo những cách giúp ông tránh được sự chuyên môn hóa quá hạn hẹp. Kết quả là ông được trang bị một kho tàng tri thức khổng lồ — tri thức kỹ thuật trong nhiều lĩnh vực nghiên cứu, và quan trọng nhất là tri thức phong phú về chính bản thân mình cùng những người khác. Vô thức sử dụng một từ ngữ yêu thích của các nhà giả kim thời Trung Cổ, ông nói dường như mình đã miệt mài làm việc suốt năm mươi lăm năm để nhào nặn nên "kiệt tác" (opus) của đời mình. Giờ đây, ông thấy phạm vi trải nghiệm rộng lớn của mình đã mang lại cho ông một nền tảng phong phú lạ thường để trở thành một nhà lãnh đạo tinh thần thực thụ.
Pháp sư là nguyên mẫu chi phối người đàn ông này. Giống như các pháp sư shaman thời cổ đại, ông đã liên tục dịch chuyển ra vào các không gian tâm lý khác nhau. Xuyên suốt cuộc đời dài lâu và thường gian truân của những chuyến phiêu lưu nội tâm lẫn ngoại giới, ông đã thu nhận được cả tri thức lẫn kỹ thuật của quyền năng tâm lý - tâm linh. Với sự thức nhận này, mọi thứ bắt đầu hội tụ rõ nét đối với thân chủ được phân tâm. Cuộc sống của ông bắt đầu hiển lộ một tính mục đích mà trước đây vốn bị che giấu ngay bên dưới ngưỡng nhận thức. Giờ đây ông có năng lực sống cuộc đời mình một cách có ý thức và có chủ đích hơn. Nhờ việc tiếp cận một cách có ý thức các nguồn năng lượng shaman của mình, năng lực của ông ngày càng gia tăng cùng với niềm hân hoan mà ông tìm thấy trong đó. Ngày nay, ông là một mục sư giáo xứ rất được kính trọng ở khu vực Chicago.
KỸ THUẬT VIÊN CỦA QUYỀN NĂNG
Chúng ta đã thấy ở trên rằng các pháp sư shaman truyền thống là những kỹ thuật viên của quyền năng và sử dụng quyền năng đó để chữa lành cho cá nhân và xã hội. Một khi vị shaman đã tự chữa lành cho chính mình, ông có thể bắt đầu giúp chữa lành cho người khác. Sau biến cố hợp nhất mang tính quyết định ban đầu, một shaman truyền thống không bao giờ chìm đắm trong sự vị kỷ. Với tư cách là kỹ thuật viên của quyền năng, mọi nỗ lực của ông luôn nhằm mục đích giúp đỡ người khác. Vai trò của shaman với tư cách là thầy tế trưởng tại các lễ hội theo mùa đã nhấn mạnh sự dẫn dắt về mặt tâm lý - tâm linh của ông; tri thức của ông về thực tại thiêng liêng là vũ khí chính chống lại bệnh tật của dân làng. Ông cũng đóng vai trò trung gian giữa thế giới trần tục và cõi thần thánh bất cứ khi nào sự hòa giải được kêu gọi. Bằng các nghi thức phụng vụ của mình, ông dẫn dắt mọi người bước vào cái chết một cách tượng trưng trong các lễ hội, và cả trong thực tế — đồng thời giúp bộ tộc của mình bước qua cánh cổng đáng sợ ấy để tiến vào sự sống được đổi mới và sự sống vĩnh hằng.
Ông nỗ lực chữa lành bệnh tật cho người dân bằng cách sử dụng kịch bản khai tâm. Dĩ nhiên, ông chính thức làm lễ điểm đạo cho các bé trai bước vào tuổi trưởng thành theo đúng các nghi thức quy định. Nhưng ông cũng khai tâm cho những người đau ốm bước vào một sự thấu hiểu sâu sắc hơn, phong phú hơn về chính họ để họ có thể nhận ra những nguyên nhân tâm lý - tâm linh tiềm ẩn đằng sau các triệu chứng của mình. Như một phần trong sứ mệnh chữa lành, ông thường giải mã các giấc mơ của bệnh nhân. Đặc biệt hơn, ông giúp họ giao tiếp trực tiếp với những linh hồn đang hành hạ họ.
Khi tình huống đòi hỏi, ông sẽ can thiệp trực tiếp với các linh hồn. Do đó, ông là người trung gian giữa dân tộc mình và các hình thái thực tại khác. Thường thì vai trò trung gian này mang lại những hiểm nguy rất thực cho bản thân ông. Ông sẽ tự mình tiếp nhận những "chất độc" thể xác và những "linh hồn" tà ác về mặt tâm lý vào chính cơ thể mình, rồi vật lộn với chúng ở đó. Khía cạnh tự hy sinh trong kỹ thuật chữa lành của vị shaman đã trở thành khía cạnh cốt tử nhất, trong thần học Kitô giáo, về hiệu năng cứu chuộc của Đức Giêsu với tư cách là Đấng Pháp Sư.
Bởi ông được tin cậy giao phó toàn bộ những kỹ năng độc nhất này, mọi người trông cậy vào vị shaman trong việc kiến tạo và bảo tồn các thần thoại mà nhờ đó cộng đồng sinh tồn. Ông giáo dục người dân về di sản của chính họ, củng cố những ý niệm tự nhiên và xã hội về sự ổn định và trật tự. Dân làng tin rằng việc ông diễn xướng các thần thoại về nguồn gốc tự thân nó đã mang tính chữa lành và tái tạo. Với tư cách là kho lưu trữ chính của các câu chuyện thần thoại, ông được phép có một sự linh hoạt nhất định trong việc thay đổi chúng.
Chúng tôi muốn nhấn mạnh ở đây rằng mỗi một chức năng của shaman đều có thể được xem là việc khơi gợi, chứa đựng và tiếp cận các nguồn năng lượng nguyên mẫu. Ông hoàn thành những nhiệm vụ này thoạt đầu vì lợi ích của chính mình, nhưng rốt cuộc là vì điều tốt đẹp cho dân tộc ông; cuối cùng, ông giúp những người khác cũng làm được như vậy.
Bằng những cách nào mà một người đàn ông đương đại có thể trở thành một kỹ thuật viên của quyền năng giống như vị shaman? Bất kỳ người đàn ông nào làm việc với công nghệ vật chất đều đang tiếp cận Pháp sư ở một mức độ ít nhất là bề mặt. Điều thú vị hơn đối với chúng tôi là những phân nhánh tâm lý khi khai thác Pháp sư với tư cách là kỹ thuật viên của quyền năng. Nhiều đặc điểm trong số này áp dụng trực tiếp vào thực hành tâm lý trị liệu. Nhưng chúng cũng áp dụng cho bất kỳ người đàn ông nào — bất kể bằng cấp, chứng chỉ hay danh hiệu — đang nỗ lực sống và giúp đỡ người khác sống một cuộc đời có chủ đích và lành mạnh hơn về mặt tâm lý.
Nhờ những trải nghiệm của chính mình với không gian phi thường, người đàn ông này trân trọng các "không gian" tâm lý của người khác. Bằng cách tôn trọng thế giới nội tâm của suy nghĩ, ảo tưởng, cảm xúc và biểu tượng của họ, anh giúp họ trân quý trọn vẹn hơn những chiều kích này trong sự hiện hữu của chính họ. Anh thấu hiểu những cách khác nhau mà họ dùng để mường tượng về niềm vui và nỗi đau, hy vọng và nỗi sợ của bản thân, và nhờ đó anh giúp dẫn lối họ bước vào những không gian nội tâm này. Chính hành động ngắm nhìn và thấu cảm một con người đã giúp chữa lành, phản chiếu và dung chứa người đó, và vị shaman hiện đại làm rất xuất sắc công việc nhìn nhận người khác. Anh làm cho họ những điều mà cha mẹ họ khi xưa thường không thể hoặc đã không làm cho họ khi còn thơ ấu.
Bi kịch là hầu hết chúng ta đều từng bị cha mẹ hạ thấp, chỉ trích hoặc phớt lờ thế giới nội tâm của mình. Chúng ta học từ điều đó việc không hiện diện trọn vẹn trong tâm trí và cảm xúc của chính mình. Chúng ta phủ nhận toàn bộ các tầng lớp nhân cách của mình chỉ để làm hài lòng cha mẹ. Do đó, chúng ta bỏ mặc những vùng rộng lớn của tâm trí không được phát triển, và đôi khi thậm chí còn thù địch với bản sắc có ý thức của chúng ta. "Mầm bệnh" nội tâm này là nguyên nhân của nhiều chứng bệnh về tâm lý, mối quan hệ và thể xác trong cuộc sống sau này.
Tuy nhiên, vị shaman đương đại giúp chúng ta cảm thấy mình có giá trị và tự công nhận bản thân bằng cách lắng nghe chúng ta, đồng cảm với hoàn cảnh của chúng ta. Anh có thể không đồng tình với cách diễn giải sự việc của chúng ta, bởi anh có thể có một góc nhìn rộng lớn hơn. Nhưng anh tôn trọng cảm xúc của chúng ta. Anh sẽ không cố gắng thuyết phục ta từ bỏ cảm xúc của mình, dẫu chúng có thái quá hay không phù hợp đến đâu. Thay vào đó, anh sẽ nói điều gì đó mang tính phản chiếu ta, như: "Hẳn là bạn phải đau đớn lắm khi cảm thấy như vậy." Hoặc nếu cảm xúc cần được phản chiếu là tích cực, anh có thể nói: "Thật tuyệt vời! Tôi rất mừng cho bạn." Nói tóm lại, anh mang đến cho người khác "sự hòa điệu đồng cảm" (empathetic attunement).
Người đàn ông này sẽ tận tụy giúp bản thân và người khác đạt tới chân lý trong bất kỳ tình huống nào. Anh có những quyết định cẩn trọng phải đưa ra về việc nên hé lộ bao nhiêu phần sự thật và cách tốt nhất để tiết lộ nó. Mối bận tâm của anh không phải là nói ra điều gây tổn thương, mà là điều hữu ích. Sẽ có những lúc anh phải kiên quyết. Các bậc cha mẹ, nhà tâm lý học và giáo viên thường được yêu cầu thực hiện hành động cân bằng khéo léo này: vừa khẳng định nỗ lực của người khác trong việc tìm kiếm sự thật, vừa nhẹ nhàng hóa giải bất kỳ cơ chế chối bỏ nào đang cản đường. Phần thưởng sẽ vô cùng lớn lao cho những ai có thể vượt qua các cơ chế tự vệ của mình, cho đến khi họ nhìn thấy những sự thật sâu sắc hơn và chính xác hơn mà vị pháp sư hiện đại nhìn thấy.
Người đàn ông này là một người hỗ trợ quan trọng trong các tiến trình khai tâm của những cá nhân trong cuộc đời anh. Anh nỗ lực cân bằng và hòa giải những nhân cách đối lập của các thành viên trong gia đình và các nhân viên. Nếu công việc đòi hỏi anh phải tương tác với các nhà môi trường học, anh nỗ lực để dung hòa công bằng giữa mối bận tâm của công ty và lợi ích của hành tinh sống. Nếu là một nhà tâm lý trị liệu, anh làm việc để giúp các thân chủ hợp nhất những tiểu nhân cách đang xung đột bên trong họ. Dù ở bất kỳ sự nghiệp nào, anh đều nỗ lực tích hợp các góc nhìn và các tầng mức thực tại khác nhau, với hy vọng giúp những người xung quanh tìm thấy tâm điểm chân thật của chính họ.
Có nhiều thời điểm mà việc đứng về phía chân lý lại gây nguy hại cho sinh mệnh của vị pháp sư hiện đại. Socrates và Chúa Giêsu đều thấu hiểu sự chối bỏ và lòng thù địch của công chúng xoay quanh sự thật lớn đến dường nào. Họ đã phải đứng vững, giống như nhiều người sau họ, mà không có điểm tựa nào ngoài sự chính trực của bản thân; cuối cùng họ bị triệt hạ vì lòng dũng cảm đạo đức của mình. Dẫu người đàn ông tiếp cận Pháp sư đúng mực sẽ không "ném ngọc cho heo", anh vẫn sẽ chấp nhận những rủi ro có tính toán cho những điều mình tin tưởng. Anh sẵn sàng mạo hiểm công việc nếu một sự thật hệ trọng đòi hỏi, hoặc mạo hiểm đánh mất hôn nhân, tình cảm của con cái, hay thậm chí cả mạng sống của mình.
Khi cần thiết, người đàn ông này sẵn sàng hy sinh bản thân. Khi mạo hiểm sự an nguy của mình, anh làm điều đó một cách có chủ đích. Những rủi ro có cân nhắc của anh được thực hiện mà không vướng chút xu hướng khổ dâm nào. Anh hút chất độc ra khỏi người khác không phải để tước đi trách nhiệm của họ, mà là để giảm bớt gánh nặng trên các cấu trúc Bản ngã đang quá tải của họ khi họ đang nỗ lực vươn tới sự trưởng thành.
Có một khắc họa cảm động về sự tự hy sinh mang tính shaman trong bộ phim Star Trek II: Cơn thịnh nộ của Khan. Về cuối phim, phi thuyền Enterprise đã bị tổn hại chí mạng sau cuộc đọ sức với kẻ thù. Chỉ có một cách duy nhất để cứu con tàu và toàn bộ phi hành đoàn. Điều này đòi hỏi một nhiệm vụ cảm tử phải được thực hiện bởi người có hiểu biết kỹ thuật tuyệt đối về các nguồn năng lượng của con tàu. Trong khi những người khác tụ tập ở buồng chỉ huy với cảm giác hoàn toàn bại trận, Spock lặng lẽ rời đi. Spock vốn là hình tượng shaman xuyên suốt loạt phim truyền hình và các bộ phim điện ảnh tiếp theo. Ông là một người chiêm nghiệm thần bí, ẩn dật, người nắm giữ những chân lý vượt xa tầm hiểu biết của các bạn đồng hành con người. Với tư cách là giám đốc kỹ thuật trưởng, ông cũng chính là kỹ thuật viên của quyền năng.
Chẳng mấy chốc, Thuyền trưởng Kirk được gọi đến hệ thống năng lượng của tàu. Ông thấy Spock ở đó, bị phong tỏa phía sau tấm chắn năng lượng trong suốt tại lò phản ứng của con tàu — vùng lõi thiêng liêng của nó. Cơ thể Spock đã bị cháy sém. Bằng chính đôi tay trần, ông đã sửa chữa chỗ hỏng, hoàn tất các kết nối thiết yếu và rồi bị thiêu đốt bởi luồng năng lượng phun trào ngay sau đó. Bị ngăn cách bởi bức tường trong suốt, cả Spock và Kirk cùng sụp xuống sàn. Nước mắt lưng tròng, Kirk hỏi người bạn đang hấp hối của mình: "Tại sao?" "Lợi ích của số đông lớn hơn lợi ích của số ít — hay của một người," Spock đáp lại, áp bàn tay lên vách kính trong cử chỉ chúc phúc của người Vulcan. "Tôi đang là, và sẽ luôn là, bạn của anh." Trong lễ tang, Kirk đã nói về Spock, người mà mọi người từng coi là vô cảm, rằng ông có lẽ là "con người nhất" trong số tất cả những sinh linh mà thuyền trưởng từng biết.
Vị shaman đương đại, ở trạng thái tốt nhất của mình, cũng có một sự kết nối mạnh mẽ với Người Tình và Vua. Anh kết nối giao cảm sâu sắc với người khác. Trong chế độ tự hy sinh, anh thực hiện hành động vĩ đại nhất trong tất cả. Không hề vướng thói khổ dâm, gắn kết với đồng loại bằng một tình yêu thương vô bờ bến, anh sẽ sẵn sàng hiến dâng mạng sống vì họ nếu cần.
Nhà trị liệu sẵn sàng tự hy sinh sẽ đón nhận cơn giận và sự ngờ vực của thân chủ, nhận ra nhu cầu của thân chủ trong việc bước vào các động lực chuyển di tạm thời. Trong vai trò cha mẹ, anh đón nhận sự trút giận của con cái. Trong vai trò một nhà hoạt động, anh có thể hứng chịu sự thù địch của những kẻ đang đè nén mặc cảm tội lỗi của chính họ. Anh khơi gợi những bóng tối ẩn giấu của chúng ta khi anh thấy điều đó là cần thiết — nhằm đưa mọi thứ ra ngoài ánh sáng, nơi chúng có thể được đối diện và vượt qua.
Người đàn ông tổ chức cộng đồng của mình chống lại những kẻ buôn bán ma túy, người đối đầu với những chủ tiệm bán dụng cụ sử dụng chất cấm, người diễu hành đến Tòa thị chính để yêu cầu tăng cường tuần tra cảnh sát và rồi một mình hứng chịu cơn thịnh nộ từ những kẻ buôn bán và người sử dụng ma túy mà anh đang đẩy lui hoạt động — chính là vị shaman đương đại. Anh là người tố giác tại nhà máy điện dám vạch trần các quy trình xây dựng sai sót. Anh là vị mục sư giảng đạo chống lại thói buôn chuyện và gieo rắc thù hận của giáo đoàn, từ đó kéo thứ chất độc tâm linh ấy trút xuống chính mình.
Giống như bậc tiền bối truyền thống, vị shaman đương đại gìn giữ và truyền tải những chuẩn mực cùng giá trị trong lĩnh vực chuyên môn của mình — và lý tưởng nhất là của toàn bộ nền văn hóa. Phần lớn, anh dạy cho học trò những thực hành căn bản và nền tảng trong lĩnh vực của mình, tức sự minh triết trường cửu. Anh đóng góp phần mình vào sự tiếp nối văn hóa. Anh có thể là người hướng dẫn nghệ thuật luôn kiên quyết yêu cầu học viên phải nắm vững tri kiến và kỹ thuật của các bậc thầy tiền bối trước khi tự mở lối đi riêng. Hoặc anh là người thợ mộc bậc thầy luôn yêu cầu học trò thành thạo cách sử dụng các công cụ cơ bản — búa, đinh và cưa — trước khi chuyển sang dùng máy móc chạy điện. Với tư cách là một giảng viên thần học có trách nhiệm, anh yêu cầu sinh viên phải học kỹ các điểm then chốt trong lập luận của các nhà thần học lịch sử và hệ thống, những người tạo nên nền tảng của di sản trí tuệ Kitô giáo, trước khi họ thử nghiệm thần học "kiến tạo".
Đồng thời, bản thân anh cũng là một nhà đổi mới dày dạn kinh nghiệm. Anh khuyến khích tính độc bản ở những học trò ưu tú, nhưng chỉ trong khuôn khổ của những truyền thống được kế thừa. Nhờ sự sáng tạo được neo giữ trong các truyền thống lớn, tính độc bản của họ sẽ mang một hình thái dễ hiểu và có chiều sâu. Và khi anh ngày càng chịu ảnh hưởng sâu sắc hơn từ Người Tình, anh sẽ dần bước ra ngoài các chuẩn mực đã thiết lập, để lại những đổi mới của mình cho các thế hệ mai sau.
Tóm lại, vị shaman bên trong mỗi người đàn ông có ba trách nhiệm thiết yếu trong toàn bộ hệ thống tâm trí. Thứ nhất là đóng vai trò như một kênh dẫn giữa Bản ngã và vô thức. Ông định vị, thánh hóa và quản trị trục Bản ngã - Bản thể, trục vũ trụ nội tâm mà từ đó tâm trí có được sự ổn định cùng tính năng động, và là trục mà tâm trí xoay quanh. Trách nhiệm chính thứ hai là trao quyền cho Bản ngã hiện thực hóa những thôi thúc của Bản thể trong đời sống thường nhật. Điều này bao gồm việc chuyển dịch các ý niệm từ thực tại phi thường thành các sự kiện cụ thể, hữu hình trong địa hạt đời thường. Trong quá trình này, tâm trí — và đặc biệt là Bản ngã — học được giá trị của sự phục tùng, sự che chắn cách ly và sự dung chứa. Thứ ba, vị shaman nội tâm phải quản trị hệ thống thần thoại hiện có của tâm trí cá nhân, đồng thời nhận định những thần thoại mới khi chúng trỗi dậy từ vô thức.
Nhiệm vụ cuối cùng này đòi hỏi sự thực thi, thoạt đầu là trong cõi tưởng tượng, và sau đó (sau quá trình gọt giũa và cân nhắc cẩn trọng) là trong các địa hạt đời sống xã hội và cộng đồng. Những giả định làm nền tảng cho cuộc sống của chúng ta không bị vị Pháp sư bên trong vứt bỏ một cách tùy tiện. Ông cố gắng đảm bảo rằng chúng ta đang tiến xa hơn chúng, khi ông nhận định và đánh giá những phương hướng mới mà Bản thể đang hướng tới. Ông nỗ lực để đảm bảo rằng sự mở ra của cuộc đời một người đàn ông sẽ tao nhã và viên mãn nhất có thể.
Nếu một người đàn ông kích hoạt được Pháp sư bên trong mình, anh ta sẽ hiện thân cho cấu trúc và sự thông thái trên mỗi bước đường tiến bước — cả về tri thức lẫn sự thuần thục với tư cách là một kỹ thuật viên của quyền năng. Anh sẽ chia sẻ tri thức của mình với người khác nhằm thúc đẩy các tiến trình chữa lành và khai tâm đang diễn ra bên trong cộng đồng nhân loại. Nhưng làm thế nào để một người đàn ông đạt tới mức độ vận hành trưởng thành này của một pháp sư nhân bản? Theo truyền thống, con người vẫn gọi tiến trình học cách quản trị các quyền năng bẩm sinh là quá trình khai tâm. Giờ đây chúng ta hãy chuyển sang thử thách của sự khai tâm nam tính nói chung — và nhiệm vụ khai tâm Pháp sư nói riêng.
BỐN QUYỀN NĂNG NAM TÍNH, BẢY GIAI ĐOẠN KHAI TÂM
Trước khi khép lại chương này với một phác thảo về nội dung của cuộc khai tâm Pháp sư nam tính, chúng tôi muốn mời bạn cùng suy ngẫm về các giai đoạn trong tiến trình khai tâm của một người đàn ông đối với bất kỳ quyền năng nào trong bốn quyền năng của Bản thể nam tính. Nếu một người đàn ông muốn có khả năng tiếp cận các tiềm năng Pháp sư của mình và thể hiện chúng qua vai trò lãnh đạo như một bậc trưởng lão nghi lễ, anh ta cần nhiều hơn là một vài ý niệm giản đơn về sự khai tâm và các hình thức nghi lễ.
Các nghi lễ, bao gồm cả nghi lễ khai tâm, luôn được thiết kế để tạo ra hoặc thúc đẩy một kết quả nhất định bên trong và vì lợi ích của những người tham gia. Điều này có nghĩa là người ta cần phải có nhận thức thỏa đáng về nhiệm vụ cần đạt được trước khi bắt đầu định hình các thực hành nghi lễ. Trong các bộ tộc truyền thống và các nền văn hóa tiền hiện đại khác trên khắp thế giới, người ta đều thừa nhận rằng sự khai tâm nam tính không phải là một tiến trình đơn giản chỉ bao gồm một lần chuyển giao duy nhất. Quả thực, các nền văn hóa khác nhau đã đưa ra những lý thuyết khác nhau liên quan đến số lượng các giai đoạn khai tâm cần thiết cho sự trưởng thành. Có lẽ sự nhấn mạnh rộng rãi nhất là vào bảy giai đoạn khai tâm. Sau nhiều suy ngẫm về các nền văn hóa bộ tộc dưới ánh sáng của tâm lý học đương đại và tâm lý học phân tích trường phái Jung, chúng tôi muốn đề xuất một cách tư duy về các giai đoạn khai tâm có thể được áp dụng bình đẳng cho từng "tiến trình phát triển" trong bốn tiến trình của tâm trí nam tính — cho từng cuộc khai tâm trong bốn cuộc khai tâm nam tính:
Ở giai đoạn đầu tiên của sự khai tâm trong một quyền năng hoặc tiềm năng nam tính cụ thể, cá nhân không thể trải nghiệm quyền năng đang xét như một phần trong các nguồn lực của chính mình. Trên thực tế, cá nhân đó mất kết nối đến mức đối với nguồn năng lượng hoặc năng lực tâm lý - tâm linh còn thiếu hụt, anh ta trải nghiệm sự vắng mặt của nó như một nỗi bất an, trống rỗng hoặc khao khát mơ hồ, đi kèm với sự lo âu, trầm cảm hoặc các hành vi cưỡng bách. Chính trong hoàn cảnh tâm lý - tâm linh như thế này mà nguyên mẫu khai tâm được kích hoạt và cá nhân trở thành một "Kẻ tìm kiếm" (Quester), như đã được thảo luận ở nơi khác. Anh ta không thực sự biết mình đang thiếu điều gì hay đang tìm kiếm điều gì, nhưng anh ta đã bắt đầu "chuyến hải trình vượt biển đêm" (night-sea journey) của mình.
Ở giai đoạn thứ hai của sự khai tâm, cá nhân định vị được những phẩm chất "hoàng kim" mà mình hằng khao khát. Tuy nhiên, thoạt đầu anh ta chỉ có thể trải nghiệm tiềm năng hay phẩm chất đó dưới dạng phóng chiếu lên một người, một đối tượng hay một thiết chế khác. Từ góc nhìn phân tâm học, chúng tôi nói rằng anh ta trải nghiệm nó trong thứ gọi là sự chuyển di lý tưởng hóa (idealizing transference) lên một người khác. Thành tựu ở đây là việc tìm thấy phần "thất lạc" của Bản thể. Thách thức còn lại là nội hóa, làm chủ và quản trị nó.
Ở giai đoạn thứ ba của sự khai tâm, cá nhân bắt đầu trải nghiệm phẩm chất hoặc quyền năng đó trong chính mình. Đây thường là một trải nghiệm mạnh mẽ và nhanh chóng dẫn đến điều mà các nhà tâm lý học phái Jung gọi là "sự vĩ cuồng / thổi phồng" (inflation). Những người khác gọi giai đoạn này là giai đoạn "bất tài vô thức" (unconscious incompetence). Jung thường gọi đây là sự biểu hiện của một "nhân cách mana" (mana personality). Người đó bị tràn ngập bởi sức mạnh nguyên mẫu thô mộc đang được tiếp cận và nhanh chóng tin rằng mình đang hiện thân cho bản chất cốt tủy của nó. Tóm lại, người đó bị nguyên mẫu "chiếm đoạt" ít nhất là trong thoáng chốc, mà không nhận thức được rằng bùa mê sẽ bị phá vỡ ngay khi sự thật về những đòi hỏi phát triển tiềm năng trở nên hiển hiện qua sự đối đầu với thực tại của đời sống thường nhật. Điều này ngày nay thường thấy khi những người đàn ông tham gia vào các hành trình tìm kiếm khải tượng (vision quests), chạm trán nguyên mẫu, huyễn tưởng mình là những người mang "lông vũ vàng" mới, và trở về xã hội tự phong mình là những vị shaman có tài thấu thị — thường kèm theo một mặc khải "bộ tộc" cũ hoặc mới. Đây là một giai đoạn phổ biến và nguy hiểm trên con đường trưởng thành của các tiềm năng Pháp sư. Có những biểu hiện tương tự trong ba quyền năng nam tính còn lại.
Giai đoạn thứ tư của sự khai tâm là phát triển lòng dũng cảm để đối mặt với những thử thách cam go cần thiết nhằm đạt được sự khai tâm trong quyền năng nam tính đang tìm kiếm. Giai đoạn này được gọi là giai đoạn "bất tài có ý thức" (conscious incompetence), và là điều mà một số nhà tâm lý học gọi là "đạt tới vị thế trầm cảm" (achieving the depressive position). Đây thực sự là một thành tựu bởi cá nhân giờ đây đã vượt qua được sự chối bỏ của mình và bắt đầu thừa nhận những thách thức mà anh ta phải đối mặt trong quá trình phát triển góc phần tư tâm trí đang xét. Lúc này, cá nhân đã đi từ sự thiếu ý thức đầy phiền muộn về quyền năng, sang sự chiếm đoạt đầy ảo tưởng bởi nó, và giờ đây bước tới nhiệm vụ khó khăn hơn nhiều là nhận ra cần phải nỗ lực biết bao nhiêu để phát triển nó lên một mức độ trưởng thành và hữu dụng. Nhiệm vụ của anh ta lúc này là đối diện với nỗi xấu hổ và muộn phiền của mình theo một cách mang tính xây dựng, cho phép anh ta tránh việc đơn giản là bỏ cuộc trong cơn trầm cảm vỡ mộng — vốn thường dẫn đến sự tiếp tục chối bỏ các thách thức phát triển đang gặp phải. Ở đây, anh ta đang vật lộn với nhiệm vụ phát triển "sự khiêm nhường đích thực": biết rõ những giới hạn của mình và nhận sự trợ giúp cần thiết trong hành trình. Tại đây anh ta phải tìm kiếm những người thầy bậc thầy và quy phục kỷ luật cùng những tổn phí liên quan trong cuộc đấu tranh để đạt tới sự tinh thông.
Giai đoạn thứ năm của sự khai tâm đánh dấu việc đạt được mức độ năng lực cơ bản hoặc mức độ của một người thợ lành nghề (journeyman level) trong tiềm năng nam tính đang được phát triển. Giai đoạn này được gọi là "năng lực có ý thức" (conscious competence), và đánh dấu sự củng cố việc vận hành "đủ tốt" trong một khu vực cụ thể của Bản thể. Các biểu hiện Bóng tối của nguyên mẫu được giảm bớt ở mức độ đáng kể và nỗi lo âu về lĩnh vực này trong cuộc sống bắt đầu lắng xuống, trong khi lòng tự trọng bắt đầu hiển lộ ở "góc phần tư" này của tâm hồn. Dù người đó có thể cảm thấy mình chưa hoàn toàn sẵn sàng để trở thành một người thầy hay người cố vấn cho người khác, anh ta đang trên đường đạt tới mức độ tinh thông cao hơn, bớt lý tưởng hóa người khác hơn và có khả năng ngưỡng mộ những người cố vấn cần thiết một cách đúng mực hơn. Tiến trình này tiếp diễn trong khi người đó thực hiện các công việc còn lại cần thiết để đạt được sự cân bằng thỏa đáng giữa các mặt đối lập trong tâm hồn, và trở nên gắn kết, được trao quyền nhiều hơn trong cả bốn góc phần tư của Bản thể nam tính.
Giai đoạn thứ sáu phản ánh mức độ tinh thông quyền năng bẩm sinh hiển lộ trong góc phần tư cụ thể này của Bản thể nam tính. Giai đoạn này được gọi là giai đoạn "năng lực vô thức" (unconscious competence). Ở mức độ này, bậc thầy của quyền năng đã có thể tích hợp tiềm năng đang xét vào "dòng chảy" vận hành của mình đến mức nó hiển hiện một cách tự nhiên, nhẹ nhàng và không hề gượng ép đối với người khác. Nghiên cứu não bộ gần đây đã ghi nhận rằng có một sự thay đổi thực sự trong chức năng não bộ một khi đạt tới mức độ này. Tại đây, chúng ta lại thấy những khám phá của khoa học đương đại xác tín những khẳng định của các truyền thống thông thái cổ xưa về tiềm năng của tiến trình khai tâm. Việc vận dụng quyền năng nam tính đang xét giờ đây đã chuyển sang một mức độ đặc trưng bởi tính tự phát và hiệu quả mà trước đây vốn thiếu vắng.
Giai đoạn cuối cùng của sự khai tâm trong một quyền năng nam tính — "sự khai tâm cấp độ bảy" — là năng lực của cá nhân trong việc quản trị quyền năng đó vì lợi ích của cộng đồng nhân loại rộng lớn và dung hợp nhất mà anh ta biết tới. Đây không nghi ngờ gì chính là nhiệm vụ phát triển cốt tử nhất đang đặt ra trước mắt chúng ta. Các nhà tâm lý học trường phái Adler từ lâu đã nhấn mạnh tầm quan trọng của điều mà họ gọi là tâm lý học về sự sử dụng (psychology of use) thay vì tâm lý học về sự sở hữu (psychology of possession). Bằng thuật ngữ này, họ muốn đề cập đến niềm tin của Alfred Adler rằng câu hỏi thực sự về sức khỏe tâm lý và sự trưởng thành của con người là liệu chúng ta có thể đưa các tiềm năng và năng lực của mình vào phụng sự "mối quan tâm xã hội" (social interest) — phụng sự cộng đồng nhân loại rộng lớn nhất có thể hay không. Nói tóm lại, chúng ta sử dụng những khả năng và năng lực mà mình đã phát triển như thế nào? Có hàng triệu người đàn ông đã đạt được sự khai tâm "cấp độ sáu" ở một vài góc phần tư của Bản thể nam tính. Những người này là những chiến binh, pháp sư, thậm chí có thể là những người tình vô cùng có năng lực — nhưng vẫn chưa bắt đầu nhận ra rằng thách thức còn lại và mang tính quyết định nhất của họ là sự quản trị vì cộng đồng Trái Đất. Các truyền thống tâm linh nhân loại đã cung cấp cho chúng ta nhiều hình ảnh về mức độ khai tâm này. Trong tiến trình phát triển của Pháp sư, một hình ảnh phổ biến về năng lực quản trị các tiềm năng Pháp sư vì sự giải phóng và chữa lành trong cộng đồng nhân loại chính là hình ảnh của vị pháp sư shaman, như chúng ta đã thấy.
Chúng tôi muốn nhấn mạnh rằng "cấp độ bảy" của sự khai tâm này là một khả năng tồn tại trong mỗi góc phần tư của Bản thể con người. Đó là tiềm năng của giống loài con người — được mã hóa trong di sản tiến hóa của chúng ta và là điều mà chúng ta phải luôn giữ trong ý thức với tư cách là những người đàn ông và phụ nữ khi đối mặt với những thách thức của thời kỳ then chốt nhất trong lịch sử nhân loại. Nếu không đón nhận thách thức của "sự khai tâm cấp độ bảy" này của con người trong bốn phần của tâm hồn, chúng ta sẽ không thể thúc đẩy sự chuyển hóa mang tính toàn cầu đang ở thế chông chênh trong thời đại của mình. Trước khi chuyển sang cuộc thảo luận về các phương tiện để trao quyền trong khu vực Pháp sư của Bản thể nam tính, chúng tôi muốn phác thảo các nhiệm vụ của cuộc khai tâm Pháp sư nam tính — những nhiệm vụ nhằm xây dựng và trao quyền cho các cấu trúc Pháp sư trong một Bản thể nam tính trưởng thành của người đàn ông.
CÁC NHIỆM VỤ TRONG CUỘC KHAI TÂM PHÁP SƯ: MỘT PHÁC THẢO
Chúng ta đã thảo luận ở trên về Bóng tối lưỡng cực của nguyên mẫu Pháp sư. Dĩ nhiên, việc có thể nhận diện được sự biểu hiện của thao túng xa cách và chối bỏ ở bản thân và người khác là vô cùng quan trọng. Nhưng chỉ nắm bắt được các động lực của Bóng tối lưỡng cực của nguyên mẫu Pháp sư thôi là chưa đủ. Cuộc khai tâm Pháp sư của một người đàn ông phải được phản chiếu qua hàng loạt phẩm chất, giá trị và thành tựu tích cực có ảnh hưởng đến cách anh ta sống cùng các thái độ và sự dấn thân của anh ta trong cộng đồng nhân loại rộng lớn hơn. Trong phần thảo luận sau đây, chúng tôi trình bày một vài chiếc chìa khóa có thể được sử dụng để nhận biết sự trưởng thành dọc theo tiến trình phát triển của Pháp sư. Những "chiếc chìa khóa" này sẽ giúp bạn trong nhiệm vụ nhận định xem mình đang làm như thế nào trong nỗ lực hướng tới việc được trao quyền trọn vẹn trong khu vực này của tâm trí. Chúng tôi khuyến nghị bạn nên suy ngẫm sâu sắc về những câu hỏi sau:
Một người đàn ông đã qua khai tâm phải có khả năng đòi lại quyền thừa kế trí tuệ bẩm sinh đã được người đàn ông hai triệu năm tuổi bên trong trao truyền lại cho anh ta. Trừ trường hợp tổn thương não không thể phục hồi, một người nam có khả năng phát triển các năng lực nhận thức và sự thông thái vượt xa mức độ mà các chuyên gia đương đại về "giáo dục" khiến chúng ta tin tưởng. Hãy suy ngẫm về những câu hỏi sau: Tôi có từng bị hệ thống gia đình hay xã hội dạy rằng mình "ngu ngốc", là một "kẻ chậm tiến" "chỉ là không thể học được" hay không? Gia đình hay xã hội có thuyết phục tôi rằng tôi mắc phải một "khuyết tật học tập" vô phương cứu chữa khiến mọi nỗ lực học tập thêm đều trở nên vô ích hay không? Thường thì trong các gia đình, anh chị em bị chia tách thành những người được phép, thậm chí được khuyến khích phát triển Pháp sư, và những người mà đối với họ, các nỗ lực và thành công về mặt trí tuệ là điều cấm kỵ. Có rất nhiều người đàn ông đã không lấy được bằng tốt nghiệp trung học hay bằng đại học vì lời nguyền này giáng lên tiềm năng Pháp sư của họ bởi hệ thống gia đình, hoặc do vị thế xã hội của họ trong một xã hội phân biệt chủng tộc hay giai cấp. Những người khác lại né tránh bậc cao học hoặc các chương trình học tập tiếp tục khác vì khu vực này trong tâm trí họ chưa bao giờ nhận được lời chúc phúc từ những người quan trọng xung quanh. Văn hóa Mỹ nói riêng mang tính bài xích trí thức cao và tác động của truyền hình đang dẫn dắt chúng ta lún sâu hơn vào niềm tin sai lầm rằng bất cứ điều gì đáng giá cũng có thể được truyền tải qua một "đoạn tin ngắn" và được tiếp thu chỉ với chút ít nỗ lực. Chủ nghĩa bộ tộc, chủ nghĩa vị chủng, chủ nghĩa phân biệt giới tính và phân biệt chủng tộc ngày càng gia tăng trong giới giáo dục đang làm nản lòng việc nghiên cứu các lĩnh vực to lớn trong kho tàng văn hóa và trí tuệ của nhân loại. Dẫu có thể phải đi ngược lại những giả định phổ biến của các chuyên gia giáo dục và những quy chuẩn thịnh hành của tính đúng đắn chính trị (political correctness), một người đàn ông cần phải được trao quyền đầy đủ trong khu vực này của bản thân để đòi lại quyền cơ bản được tiếp cận toàn bộ di sản văn hóa, trí tuệ, khoa học và tâm linh nhân loại từ mọi chủng tộc, văn hóa và truyền thống tâm linh. Mọi người đàn ông đều cần được trao quyền để nhìn nhận bản thân một cách nghiêm túc như một trí tuệ con người — một trí tuệ có năng lực tham gia vào và đóng góp cho vũ trụ nhận thức được đại diện bởi tri thức và sự thông thái tích lũy của nhân loại.
Một người đàn ông đã qua khai tâm cần sự tiếp cận đầy quyền năng tới các tiềm năng Pháp sư của mình mà không để chúng chiếm đoạt bản thân và đẩy anh ta một cách cưỡng bách vào sự cô lập, sự suy ngẫm xa cách và các hình thái thụ động khác khiến anh ta xa rời sự dấn thân và cam kết cụ thể, chân thực trong thế giới xã hội của mình. Tôi có xu hướng rút lui vào sự cô lập khi mọi việc không suôn sẻ với mình hay không? Tôi có né tránh việc dành đủ năng lượng và thời gian cho việc vun đắp tình bạn và các mối quan hệ yêu đương hay không? Tôi có rút lui khỏi thế giới để chui vào đầu óc mình thông qua việc học tập hoặc làm việc trí óc một cách cưỡng bách hay không? Do đó, tôi có xu hướng chọn một vị thế của kẻ bàng quan nhìn trộm (voyeuristic) trong lối sống của mình hay không? Khi nguyên mẫu Pháp sư có quá nhiều ảnh hưởng mạnh mẽ nhưng vô thức lên chúng ta, nó có xu hướng đẩy chúng ta vào sự xa cách cưỡng bách và vào các vai trò — cả trong xã hội lẫn nghề nghiệp/chuyên môn — vừa thúc đẩy vừa che đậy sự chiếm đoạt vô thức đó của Pháp sư. Ví dụ, giới học thuật, các nhà tâm lý trị liệu và các nhà lãnh đạo tôn giáo thường lựa chọn sự nghiệp của mình dưới ảnh hưởng vô thức mạnh mẽ của nguyên mẫu này và tiếp tục sống cuộc đời mình phần lớn trong không gian của Pháp sư một cách cưỡng bách. Trong hoàn cảnh này, những đòi hỏi của cơ thể, của các mối quan hệ và của trách nhiệm công dân thường bị phớt lờ.
Một người đàn ông đã qua khai tâm sẽ phát triển năng lực của khu vực Pháp sư để "nhận diện những điều nhảm nhí / dối trá" (bullshit detecting) mà không để nó đẩy anh ta một cách cưỡng bách vào một mối quan hệ bên lề, hoài nghi yếm thế và hư vô chủ nghĩa đối với thế giới của mình. Dẫu có thể "nhìn thấu" sự giả tạo, vẻ màu mè và sự chối bỏ của chính mình, anh ta vẫn sẽ gìn giữ các lý tưởng và tiếp tục định hình tầm nhìn cùng các kế hoạch mang tính xây dựng cho cả bản thân lẫn thế giới. Tôi là một kẻ thích đùa cợt thực tế không thể nghiêm túc về bất cứ điều gì, hay là một kẻ hoài nghi hư vô không thể nhìn thấy bất cứ điều gì có đủ giá trị để hào hứng hoặc đấu tranh vì nó? Nếu bạn trả lời là có, sự châm biếm ăn mòn của Kẻ giảo quyệt trong khu vực Pháp sư đã tước đi của bạn phần tham gia vào việc kiến tạo một thế giới (một "vũ trụ trật tự" mang tính thần thoại) đáng để sống. Ẩn sâu bên dưới bề mặt, đây là sự rút lui vào một hình thái của "sự vĩ cuồng Pháp sư" đầy kiêu ngạo, vốn khinh miệt cự tuyệt ngay cả khả năng của một hành động xây dựng có ý nghĩa, thậm chí mang tính quyết định trong thế giới.
Một người đàn ông đã qua khai tâm sẽ phát triển các tiềm năng Pháp sư của mình để tiếp cận năng lực thấu hiểu bản thân — nhận biết chính mình, các mô thức của mình, các xu hướng Bóng tối của mình, những điểm mạnh và điểm yếu, những mục tiêu đấu tranh chính yếu trong hành trình tiến tới sự toàn vẹn và trao quyền trọn vẹn trong tư cách một người đàn ông. Anh ta sẽ làm những gì cần thiết và trả giá để tiến tới sự nhận thức trưởng thành về các động lực tâm lý - xã hội biểu hiện ở bản thân và ở người khác. Tôi có trải qua những mô thức thất bại và thất vọng lặp đi lặp lại trong đời sống cá nhân và/hoặc nghề nghiệp mà tôi không hiểu và chưa từng nỗ lực một cách kỷ luật và có phối hợp để điều tra, thấu hiểu và thay đổi hay không? Tôi có để cho chi phí và sự cam kết về thời gian của việc tâm lý trị liệu cá nhân và/hoặc nhóm làm nản lòng những nỗ lực hướng tới sự thấu hiểu và chuyển hóa này hay không? Nếu tôi gặp vấn đề với việc lạm dụng chất hoặc các hành vi cưỡng bách khác, tôi có né tránh những cơ hội phát triển vị Pháp sư nội tâm vốn được mang lại một cách vô cùng hiệu quả bởi nhiều chương trình 12 Bước trên khắp thế giới hay không? Xét theo hệ thống thấu hiểu tâm trí nam giới của chúng tôi, chúng ta có thể đặt câu hỏi theo cách này: Tôi có hiểu ở mức độ cơ bản các tiềm năng tích cực và tiêu cực của từng khu vực trong bốn khu vực của tâm trí nam tính — Vua, Chiến binh, Pháp sư, Người Tình — hay không? Hãy lấy sơ đồ về Bản thể nam tính trong Phụ lục A của cuốn sách này và tô bóng những khu vực mà tôi đã đạt được sự tinh thông cơ bản và đánh dấu những nơi tôi vẫn cần nỗ lực nhiều hơn? Tôi có kế hoạch nào để thúc đẩy việc tiếp tục trao quyền cho mình trong mỗi góc phần tư trong bốn góc phần tư này hay không?
Một người đàn ông đã qua khai tâm sẽ không phải là con mồi dễ dàng cho những tầm nhìn giản đơn, toàn trị và mang tính bộ tộc được đưa ra bởi những kẻ bịp bợm tâm linh, chính trị hay tư tưởng trong thời đại của anh ta. Anh ta sẽ không để cho những "tín đồ cuồng tín" của bất kỳ chủ nghĩa sùng đạo toàn trị nào thu hẹp cách nhìn của mình về quá khứ hay tương lai của nhân loại. Anh ta sẽ tìm ra những phương tiện khác để chế ngự nỗi lo âu của mình mà không đầu hàng tự do tư tưởng trước các nhà tư tưởng học. Tôi có phải là một "tín đồ cuồng tín" nhẹ dạ cả tin vào một giáo phái mang tính giáo điều căn bản, dù là về mặt tư tưởng, chính trị, tâm lý hay tôn giáo hay không? Những người theo chủ nghĩa giáo điều căn bản thuộc đủ mọi thể loại đang trỗi dậy trên toàn cầu ngày nay. Có những người Do Thái, Kitô giáo, Hồi giáo, Ấn Độ giáo, Phật giáo, người Mỹ bản địa... theo chủ nghĩa giáo điều. Trong tâm lý học, có những người theo chủ nghĩa giáo điều trường phái Freud, Adler, Jung, Kohut, Klein, v.v. Có những người Dân chủ và Cộng hòa mang tính giáo điều căn bản. Thậm chí còn có cả những "nhà giải cấu trúc" và những người được gọi là "hậu hiện đại" mang tính giáo điều căn bản, những kẻ tuyên bố đứng lên chống lại các chủ nghĩa giáo điều như vậy nhưng trên thực tế lại đang tiếp tay cho sự phân mảnh liên văn hóa và chủ nghĩa bộ tộc độc hại ngày càng gia tăng hiện nay. Nhiệm vụ nhìn thấu sự vĩ cuồng vô thức của Pháp sư trong tất cả các chủ nghĩa giáo điều căn bản đương đại là một nhiệm vụ ngày càng lớn đang đặt ra trước mắt chúng ta, cả về mặt cá nhân lẫn chính trị.
Một người đàn ông đã qua khai tâm sẽ không cho phép mình phớt lờ trách nhiệm đạo đức và tâm linh đối với việc quản trị những thành tựu nhận thức, trí tuệ và học thuật của mình. Anh ta sẽ kiên quyết đấu tranh chống lại sự làm hoen ố, bán rẻ trí tuệ của mình cho những lợi ích kinh tế và chính trị bất công, phản xã hội — vốn là kẻ thù của một tương lai nhân loại dung hợp. Tôi đang thực hiện việc quản trị tri thức và sự tinh thông của mình đối với kho tàng khoa học, văn hóa và tâm linh của nhân loại đã được tổ tiên trao truyền lại như thế nào? Tôi có đang phung phí nó vào những trò theo đuổi tầm thường hay không? Tôi có đang tích trữ nó và thao túng quyền lực mà tôi có được thông qua nó chỉ vì những lợi ích ích kỷ của các mục đích thuần túy cá nhân hoặc của giai cấp xã hội, chủng tộc, giới tính, hội đoàn hay nhóm nghề nghiệp nội bộ của tôi hay không? Tôi có cố gắng giữ cho tri thức kỹ thuật của mình trở nên bí truyền để "quần chúng" — những người nam và nữ bình thường trong cộng đồng nhân loại — sẽ phải mua nó từ tôi với giá cắt cổ hay không? Hay tôi đang tìm mọi phương tiện có thể để làm cho những lợi ích giải phóng và chữa lành của tri thức cùng sự tinh thông này thực sự có thể tiếp cận được đối với cộng đồng nhân loại rộng lớn và dung hợp nhất có thể?
Một người đàn ông đã qua khai tâm sẽ không tìm cách né tránh nỗ lực học tập đầy gian khó, sự chuẩn bị về mặt trí tuệ và tâm linh vốn được đòi hỏi nếu anh ta muốn đảm nhận trọn vẹn vai trò của mình như một bậc trưởng lão nghi lễ của con người cho một cộng đồng nhân loại dung hợp. Tôi đã bắt đầu và tôi có đang kiên trì trong những nghiên cứu cần thiết để tôi trở thành một người tham gia và người lãnh đạo có trách nhiệm trong một Cộng đồng Trái Đất dung hợp, phi bộ tộc, đa chủng tộc, đa đức tin hay không? Một số người muốn chúng ta tin rằng sự khai tâm trong khu vực Pháp sư có thể được đơn giản hóa một cách triệt để và đạt được thông qua một vài thực hành nghi lễ hoặc sùng kính tương đối dễ dãi. Đáng tiếc thay, đây lại là một hình thái vĩ cuồng Pháp sư khá phổ biến khác mang lại giấc mơ của kẻ lười biếng: một chứng chỉ Pháp sư giả hiệu, bài xích trí thức, dễ dàng đạt được. Những lời chào mời về các khóa hội thảo cuối tuần khai tâm Pháp sư/shaman này xuất hiện dưới đủ mọi thương hiệu từ Apache đến Sufi, từ Baptist đến Phật giáo. Chắc chắn rằng chúng thường làm rất hiệu quả việc đưa chúng ta thoái lùi vào trải nghiệm trực tiếp về nguyên mẫu Pháp sư, nguyên mẫu khai tâm, và không gian chuyển hóa (liminal) hoặc tiệm cận ngưỡng (liminoid). Tin tốt là có một di sản phong phú, đa bộ tộc, đa văn hóa để chúng ta chạm tới và quản trị, cùng nhiều người sẽ giúp chúng ta học hỏi những điều các bộ tộc mang lại. Tin xấu là những đòi hỏi của sự phát triển Pháp sư có trách nhiệm trong thời kỳ then chốt của chúng ta không có chỗ cho một thứ sùng đạo bộ tộc giản đơn mới mẻ vốn quay lưng lại với những đòi hỏi của việc học tập chuyên sâu để chuẩn bị cho bản thân trở thành những công dân có trách nhiệm của một cộng đồng phi bộ tộc dung hợp. Những nghiên cứu này phải bao gồm việc mở rộng nhận thức và sự thấu hiểu của chúng ta về các truyền thống thần thoại và tâm linh lớn trên thế giới cũng như những tri kiến từ các ngành khoa học nhân văn cần thiết để thấu hiểu sự thống nhất về mặt tâm lý và tâm linh của con người làm nền tảng cho những truyền thống đa dạng này. Đây không phải là nhiệm vụ chỉ dành cho những ai muốn tự phong mình là tầng lớp tinh hoa trí thức. Những người đàn ông bình thường thuộc mọi tầng lớp xã hội hiện đang theo đuổi những nghiên cứu như vậy và chia sẻ chúng với nhau cũng như với cộng đồng của họ.
Nói tóm lại, tôi đã thực hiện công việc cần thiết để chuẩn bị cho bản thân trở thành một Bậc Trưởng lão Nghi lễ cho gia đình mình, cho những người đàn ông và các bé trai khác, cho cộng đồng nhân loại rộng lớn hơn của tôi hay chưa? Rốt cuộc chúng ta không thể ủy thác trách nhiệm Pháp sư của mình cho những người tự xưng là "chuyên gia" có bằng cấp, dù là giới học giả/nhà giáo dục, nhà tâm lý trị liệu hay các nhà lãnh đạo tôn giáo. Chúng ta phải nhận lãnh sự dấn thân và trách nhiệm của chính mình đối với sự dẫn dắt đạo đức và tâm linh liên tục, các lễ kỷ niệm và các nghi lễ chuyển giao (rites of passage) trong đời sống cá nhân, gia đình và cộng đồng của chúng ta.
Việc hoàn thành một "hành trình tìm kiếm khải tượng", một bằng Thạc sĩ Thần học, một bằng tiến sĩ tâm lý học hay tâm thần học, không phải là sự bảo đảm rằng một người đàn ông đã thực hiện công việc tâm linh khai tâm cần thiết để vận hành như một bậc trưởng lão nghi lễ của con người. Một vị đại pháp sư shaman từng trao cho chúng tôi một phép thử then chốt về vấn đề này: Ngài nói, "Cứ xem quả thì biết cây." Sự hiện diện của họ có giúp con người được giải phóng, trao quyền và chữa lành hay không?
Chúng ta nên áp dụng phép thử này cho chính mình khi đánh giá sự phát triển của bản thân trong lĩnh vực này. Chủ nghĩa hoàn hảo là một ảo ảnh ma quỷ, không phải là một tiêu chuẩn thực tế. Một người đàn ông với một cuộc khai tâm Pháp sư "đủ tốt" sẽ trở thành — như tổ tiên của anh ta trong các nền văn hóa bộ tộc — một Bậc Trưởng lão Nghi lễ có trách nhiệm với dân tộc mình. Anh ta có thể không kiếm sống bằng việc đảm nhận sự lãnh đạo như vậy — nhưng giống như Sứ đồ Phaolô, anh ta có thể cống hiến nó để phục vụ một tầm nhìn rộng lớn hơn, dung hợp hơn. Anh ta có thể thể hiện sự lãnh đạo này trong các nghi lễ và lễ kỷ niệm cá nhân cùng gia đình, trong các nhóm nam giới, trong vai trò lãnh đạo ở các nhóm tôn giáo, Hướng đạo, các nhóm phục hồi, và thông qua nhiều tổ chức cộng đồng khác. Điều chắc chắn là anh ta sẽ mang lại sự dẫn dắt nghi lễ mang tính giải phóng, trao quyền và chữa lành cho người dân của mình. Anh ta sẽ quản trị tiềm năng shaman của mình vì cộng đồng Trái Đất.
10 KẺ HỌC VIỆC CỦA PHÙ THỦY: TIẾP CẬN VÀ LÀM CHỦ CÁC TIỀM NĂNG PHÁP SƯ
Jung tin rằng khi ta quan sát cuộc đời mình từ một góc nhìn "bên ngoài" bản thân — nói cách khác, bên ngoài ý thức Bản ngã thông thường — ta có xu hướng nhận thức được một tâm điểm vô hình. Trong tiểu luận Biểu tượng Giấc mơ trong Mối liên hệ với Giả kim thuật, ông nhận định:
Chúng ta khó lòng tránh khỏi cảm giác rằng tiến trình vô thức vận động theo hình xoắn ốc quanh một tâm điểm, dần dần tiến lại gần hơn, trong khi các đặc tính của tâm điểm ấy ngày càng trở nên rõ nét. Hoặc có lẽ ta có thể diễn đạt theo chiều ngược lại rằng chính tâm điểm ấy — về căn bản là bất khả tri — hoạt động như một thanh nam châm hút các chất liệu và tiến trình rời rạc của vô thức, rồi dần dần kết tinh và định hình chúng như trong một mạng tinh thể.
Tâm điểm vô hình này, như Jung chỉ ra, chính là Bản thể nguyên mẫu (archetypal Self), nơi mọi chất liệu tâm trí cá nhân được tổ chức xoay quanh. Bản thể là trục vũ trụ (axis mundi) của thế giới tâm trí. Từ mớ hỗn mang, nó sắp đặt nên một nhân cách, rồi hướng nhân cách ấy đối diện với vũ trụ trật tự (cosmos).
Jung hình dung Bản thể như một mandala. Mandala là một hình tượng phổ quát về Bản thể trọn vẹn, một biểu tượng tròn hoặc vuông đại diện cho tính toàn thể. Từ tiếng Phạn mandala xuất phát từ truyền thống Phật giáo Tây Tạng. Mandala là những bức họa hình tròn vô cùng phức tạp về vũ trụ do các nhà sư tạo tác. Phòng thiết triều, quần thể cung điện - đền đài, các trung tâm đô thị lớn xuyên suốt lịch sử giống loài, những không gian tròn thiêng liêng như Stonehenge và các thánh địa ma thuật khác, rốt cuộc đều đại diện cho một Bản thể có trật tự và cân bằng bên trong mỗi con người. Trật tự sáng tạo tương tự tìm thấy ở một cá nhân cũng tồn tại bên trong tâm trí tập thể của toàn thể nhân loại — chờ đợi được khám phá và hiện thân.
Một người đàn ông thường quay lại suy ngẫm về cuộc đời mình vào một thời điểm nào đó trong nửa sau của đời người. Khi làm điều này, anh có thể nhìn lại và nhận ra những mô thức cùng cấu trúc của các nguồn năng lượng đã nhào nặn nên mình. Chúng đã hiện diện ngay cả trước khi anh nhận diện được chúng, dẫn dắt cuộc đời anh theo một tiến trình do chính Bản thể định đoạt. Anh có thể nhìn thấy không gian và thời gian phi thường mà mình mang theo ở trung tâm tâm trí, nơi thỉnh thoảng lại bùng phát, đưa anh qua các trạng thái chuyển tiếp. Anh có thể nhận thấy cuộc đời mình thực chất đã và đang xoắn ốc ngày càng gần hơn tới ý thức về bản chất cốt tủy của nó. Sau những cuộc chạm trán với Bóng tối (Shadow), Nàng thơ (Anima), cùng tất cả các phức cảm (complexes), chứng loạn thần kinh (neuroses) và các nguồn năng lượng nguyên mẫu khác, rốt cuộc anh chạm tới tâm điểm vô hình, huyền bí sâu thẳm của mình. Nếu anh có thể hồi đáp những tiếng gọi tìm đến mình — trong chấn thương và thất vọng, khủng hoảng và điên rồ — thì anh đã bước qua một tiến trình tự chữa lành và hợp nhất sâu sắc. Anh đã được khai tâm vào sự viên mãn của Bản thể nguyên mẫu — Kim Cương Thể (Diamond Body) bên trong.
CÁC KỸ THUẬT TIẾP CẬN
Bằng cách học cách tiếp cận các nguyên mẫu của sự nam tính trưởng thành một cách đúng mực, chúng ta tạo điều kiện cho bản thân trở thành "những người đàn ông kiến tạo" (generative men). Sự tiếp cận đúng mực đòi hỏi phải cho phép vị Pháp sư bên trong che chắn các cấu trúc Bản ngã của chúng ta, và duy trì các ranh giới giữa những cấu trúc đó với các nguồn năng lượng khổng lồ của các nguyên mẫu. Khi đó, Bản ngã có thể khai thác các nguồn năng lượng ấy một cách an toàn, và sử dụng các hình thái sinh lực chuyên biệt của chúng cho một lối sống viên mãn, cam kết và sáng tạo hơn.
Những người đàn ông kiến tạo là những người kiến tạo thế giới. Họ có ý thức lựa chọn trở thành một phần của giải pháp chứ không phải vấn đề. Họ giúp xã hội chúng ta, bằng những cách thức nhỏ bé lẫn lớn lao, trở thành những người quản trị chân chính cho mọi hệ thống sự sống trên Mẹ Trái Đất và dưới Cha Bầu Trời.
Người đàn ông đương đại có thể tiếp cận năng lượng Pháp sư bằng chính xác những phương pháp mà họ dùng để tiếp cận các nguyên mẫu nam tính trưởng thành khác. Trong các tập sách trước, chúng tôi đã trình bày chi tiết các phương pháp này. Trong cuốn The King Within (Vị Vua bên trong), chúng tôi đã phác thảo các kỹ thuật khách quan hóa (objectification), hình dung hóa (imaging) và thực hành trí tưởng tượng chủ động dưới nhiều hình thức khác nhau — bao gồm các dạng thức cầu nguyện và thiền định. Tiến trình tâm lý trị liệu cũng có thể rất hữu ích. Chúng tôi đã nhấn mạnh tầm quan trọng của sự gắn kết với những người đàn ông khác, và việc đọc tiểu sử của những vĩ nhân — những người dẫu còn nhiều khuyết điểm nhưng đã hiện thân cho một số khía cạnh của năng lượng Vua. Trong cuốn The Warrior Within (Chiến Binh bên trong), chúng tôi đã viết về việc giải mã giấc mơ và các cuộc đối thoại bằng trí tưởng tượng chủ động như những kỹ thuật để đạt tới sự tiếp cận trọn vẹn các nguyên mẫu.
Những kỹ thuật tương tự cần được thực hành bởi người đàn ông muốn vượt ra ngoài sự chiếm đoạt của Bóng tối lưỡng cực Pháp sư, và tiến tới việc tiếp cận Pháp sư theo hướng nâng tầm sự sống. Giống như các pháp sư shaman thời xưa, một người đàn ông như vậy sẽ cần tiếp cận người thấu thị và kỹ thuật viên quyền năng bên trong mình để giúp tự khai tâm bản thân vào một phương thức hiện hữu hợp nhất, có ý thức và có chủ đích hơn. Rốt cuộc, cũng như các shaman cổ đại, anh ta sẽ tiếp cận Pháp sư để giúp người khác làm cho cuộc sống của chính họ trở nên ý nghĩa và giàu tính kiến tạo hơn.
Có thêm hai kỹ thuật cần nhấn mạnh trong việc tiếp cận năng lượng Pháp sư. Hãy nhớ lại ví dụ về chàng trai trẻ rệu rã cảm thấy mất phương hướng và lạc lõng trong chính căn hộ của mình, người cần cô bạn gái cung cấp cho một tâm điểm sắp đặt trật tự. Người đàn ông này bị ám ảnh cưỡng chế về hai dạng hành vi "bình thường" có liên quan của con người. Anh kể về sự bận tâm quá mức của mình đối với việc sắp đặt vị trí các đồ vật: trên bàn làm việc ở văn phòng, trên bàn ở nhà, trên tủ trang điểm. Trên thực tế, bất cứ khi nào cần đặt một thứ gì đó xuống — tách cà phê, cây bút, chiếc giẻ lau bát hay một mẩu giấy — anh đều bị "khựng lại" về mặt thể xác trong khi quyết định xem nên đặt nó ở đâu. Chỉ khi tìm được một vị trí "cảm thấy đúng đắn" cho đồ vật, anh mới có thể đặt nó xuống. Việc tìm được đúng vị trí mang lại cho anh sự nhẹ nhõm to lớn. Các con số là nỗi ám ảnh thứ hai của anh. Anh đếm số lần mình rít thuốc lá, số lần nhấp ngụm cà phê, và số lần chải tóc.
Hành vi đầu tiên là một nỗ lực nhằm tìm kiếm tâm điểm của chính mình, và "định hướng" cảm xúc của bản thân trong mối quan hệ với thế giới nội tâm và ngoại giới. Một khi điều này được chỉ ra cho anh, anh lập tức được giải thoát khỏi nỗi lo âu về thói quen kỳ lạ này. Anh nhận ra rằng nỗi ám ảnh với việc đặt đồ vật thực chất là một bước khởi đầu hữu ích trong việc tìm kiếm tâm điểm cho bản thân. Và qua một thời gian, khi anh bắt đầu có thêm cấu trúc nội tâm, các hành vi định tâm này đã giảm đi rõ rệt. Cuối cùng, chúng lắng xuống mức độ mà những người khác vẫn thường làm theo thói quen khi cố gắng bài trí đồ đạc hoặc tạo kiểu tóc cho đến khi trông "vừa mắt".
Nỗi ám ảnh về các con số của anh một lần nữa có thể hiểu được như một nỗ lực định tâm, lần này là bằng cách sử dụng một dạng toán học nội tâm. Có một quan niệm rất phổ biến của trường phái Jung về tầm quan trọng của các con số đối với tâm trí, đặc biệt là xét về giá trị chẵn hay lẻ. Như bất kỳ nhà toán học nào cũng sẽ nói với chúng ta, các con số là những biểu tượng. Jung tin rằng con số là một trong những hệ thống biểu tượng mà chúng ta sử dụng để hình dung các tiến trình và cấu trúc tâm lý cho chính mình. Dựa trên các giấc mơ và mối bận tâm của các thân chủ được phân tâm, đồng thời bổ sung những tri kiến từ các truyền thống số học cổ xưa, Jung nhận thấy rằng các số chẵn có xu hướng đóng vai trò là biểu tượng của sự toàn vẹn và sự ổn định định tâm, trong khi các số lẻ đại diện cho sự chưa hoàn tất và sự vận động tiến về phía trước đầy năng động.
Do đó, các số chẵn đại diện cho tâm trí ở trạng thái nghỉ ngơi, trong một giai đoạn tự hợp nhất. Các số lẻ thể hiện tâm trí trong tiến trình dấn thân ra bên ngoài chính nó. Điều này rất dễ so sánh với các tiến trình căn bản của sự co tâm thu và giãn tâm trương, hay của sự hít vào và thở ra vốn rất quan trọng đối với sự hợp nhất trong các truyền thống thần bí phương Đông. Các giai đoạn của tiến trình khai tâm phản ánh mô thức này. Sau sự nâng tầm vị thế mang tính mở rộng, người thụ lễ chuyển sang một bình nguyên cấu trúc (các số chẵn) và sau đó lại bước vào một thời kỳ chuyển hóa (liminality) đầy năng động (các số lẻ).
Jung đã phát triển một cách diễn giải khá công phu về các tiến trình tâm trí theo góc độ con số mà chúng tôi sẽ không kể lại ở đây. Chỉ cần lưu ý đến cảm xúc của chàng trai trẻ về các số chẵn và lẻ mà anh sử dụng trong các nghi thức đếm của mình. Anh cảm thấy an toàn và định tâm nếu các thói quen của mình kết thúc ở một số chẵn, và bồn chồn khi kết thúc ở một số lẻ — thúc đẩy một động lực tiến về phía trước khi anh tìm kiếm một con số khác để hóa giải cảm giác "chưa trọn vẹn" mà các số lẻ mang lại. Sau khi được ý thức hóa về cách thức mà các nghi thức đếm chạm vào các cấu trúc và năng lượng tâm lý nội tâm, anh đã có thể đón nhận chúng mà không còn lo âu. Và một lần nữa, khi các cấu trúc nội tâm của anh được củng cố, các nghi thức đếm của anh giảm dần xuống mức mà hầu hết mọi người thực hiện một cách vô thức như sự hình dung bình thường.
Chúng tôi đã thử một thí nghiệm để khai thác độ nhạy bén rõ nét của chàng trai trẻ đối với các con số và vị trí. Lấy cảm hứng từ những chỉ dẫn của Don Juan dành cho Carlos Castaneda, chúng tôi gợi ý chàng trai trẻ thử một bài tập. Anh đã thử nó vào một trong những buổi chiều thứ Bảy trống trải, khi anh có một khoảng thời gian đáng kể ở một mình trong căn hộ. Như đã được gợi ý, anh không bật TV hay dàn âm thanh, mà thay vào đó dâng một lời nguyện cầu tới vị Pháp sư bên trong. Sau đó, anh ngồi khoanh chân trên sàn và chờ đợi, không cử động, để xem mình sẽ bắt gặp những cảm xúc gì ở vị trí đó và những con số nào có thể xuất hiện trong tâm trí. Anh ghi lại các con số và cảm xúc của mình vào một cuốn sổ tay mang theo bên mình.
Anh di chuyển quanh căn hộ, thử hết vị trí này đến vị trí khác. Anh lập một bản đồ toàn bộ diện tích sàn của căn hộ, cố gắng tìm ra "điểm quyền năng" (power spot) hoặc những nơi mà anh cảm thấy định tâm, mạnh mẽ, có cấu trúc và tràn đầy sức sống nhất. Những "không gian thiêng liêng" này sau đó anh sẽ có thể tùy ý bước vào trong tương lai, bất cứ khi nào anh cảm thấy cần tiếp xúc với đặc tính mang âm hưởng cảm xúc (feeling-toned character) của chúng như một biểu hiện của Tâm Điểm nội tâm.
Dĩ nhiên ở một tầng mức nhất định, điều anh đang làm là lập bản đồ các cấu trúc và năng lượng nội tâm của chính mình. Anh thấy bài tập này vô cùng kích thích và an tâm. Nó mang lại cho anh hai điều cùng một lúc. Trước hết, nó mang lại hình thái cho không gian căn hộ vốn trước đây vô cấu trúc của anh. Giờ đây anh có thể tự định hướng ngay lập tức khi bước qua cánh cửa. Thứ hai, khi tiến trình phân tâm tiếp diễn, anh có thể thấy bản đồ bên ngoài là sự phóng chiếu của chính địa lý nội tâm của mình như thế nào. Trên thực tế, anh đã khám phá ra một không gian đặc biệt, gần bức tường phía tây phòng khách. Ở đó, anh cảm thấy trục vũ trụ (axis mundi) nội tâm của mình được kích hoạt mạnh mẽ nhất. Anh bắt đầu cấu trúc các hoạt động của mình quanh những khung giờ khác nhau, ghi nhận những cảm xúc khác biệt được gợi lên vào giờ này hay giờ khác. Anh vẽ biểu đồ sự thăng trầm của các mức năng lượng, sự khởi phát của cảm giác uể oải, và sự bắt đầu của cảm giác tràn trề sinh lực. Cuối cùng, tất cả những khám phá này được tích hợp vào phần còn lại của công việc phân tâm, và chàng trai trẻ trở nên hòa điệu hơn với những không gian và thời gian tái tạo phi thường mà anh mang trong mình. Bằng cách sử dụng các kỹ thuật shaman cổ xưa, anh đã tiến một bước dài hướng tới việc tiếp cận thành công vị Pháp sư bên trong mình.
NĂM GIAI ĐOẠN ĐỂ TIẾP CẬN VỊ PHÁP SƯ BÊN TRONG
David Feinstein đã phác thảo "Mô hình năm giai đoạn để nuôi dưỡng một hệ thần thoại cá nhân được hồi sinh" trong một tiểu luận về shaman giáo. Nó mang lại một kỹ thuật tuyệt vời để triệu hồi vị Pháp sư bên trong, và để sử dụng năng lượng Pháp sư cho mục đích tự phản tư và chuyển hóa cá nhân. Chúng tôi đã dựa nhiều vào phương pháp của Feinstein, dẫu có sử dụng hệ thống từ vựng hơi khác một chút, trong phần thảo luận dưới đây.
Giai đoạn Một — Nhận diện khi một thần thoại dẫn đường không còn là đồng minh, mà là kẻ thù
Khi bắt đầu suy ngẫm về các tiến trình tâm trí của mình, chúng ta sẽ khám phá ra nhiều trường hợp mà mọi thứ đơn giản là không còn vận hành hiệu quả. Chúng ta nhận thấy những mô thức gia đình lệch lạc từng được dạy, những "cuộn băng cũ" thuyết phục ta rằng mình không có giá trị, rằng mình không thể thành công hay hạnh phúc, đang ngáng đường ta. Những cách trải nghiệm bản thân và diễn giải ý nghĩa cuộc đời cũ kỹ không còn giá trị nữa. Những trải nghiệm chuyển tiếp thường thúc đẩy nhận thức của chúng ta về những thần thoại dẫn đường không còn sử dụng được.
Các sự kiện sang chấn, khủng hoảng cuộc đời, chia ly và mất mát — cũng như các sự kiện tích cực như thăng chức, kết hôn, sinh con — đều có thể làm rung chuyển tận gốc rễ những thói quen sống của chúng ta. Cảm giác bất mãn, lo âu hoặc trầm cảm ngày càng tăng cũng có thể báo hiệu rằng chúng ta đang bắt đầu vượt ra ngoài những bản sắc cũ của mình. Sự ám ảnh với các hành vi mang tính nghi thức, như trường hợp của chàng trai trẻ được mô tả ở trên, có thể thông báo cho chúng ta biết rằng mình đang được mời gọi bước vào thực tại phi thường, để được khai tâm vào tri thức sâu hơn về chính mình và về cuộc đời mình.
Nếu tiếp cận Pháp sư một cách thỏa đáng, chúng ta sẽ nhận ra những biến cố gây xáo trộn, đôi khi là thảm khốc như vậy báo trước điều gì. Chúng ta sẽ cho phép vị Pháp sư bên trong hé lộ những đòi hỏi của Bản thể, vốn thúc đẩy chúng ta tiến bước trong hành trình xoắn ốc hướng tới Tâm Điểm. Suy ngẫm sâu sắc, chúng ta có thể khám phá ra rằng những thần thoại đời sống từng nâng đỡ mình trước đây giờ đang kìm hãm chúng ta. Nếu đây là phát hiện của mình, thì chúng ta phải nhận ra những thần thoại cũ này là những kẻ ức chế, thậm chí là kẻ thù không đội trời chung, chứ không còn là đồng minh của chúng ta nữa.
Giai đoạn Hai — Đưa những thần thoại xung đột vào ý thức
Khi ngày càng nhận thức rõ hơn về những thần thoại cũ mà nhờ đó chúng ta từng sống cuộc đời mình, chúng ta cũng sẽ thấy những xung năng khác ghi dấu trong ý thức, những món quà từ người thấu triệt bên trong. Chúng ta có thể có những hình ảnh khác cho cuộc đời mình, những hy vọng và tầm nhìn bị đè nén cần khám phá, và những con đường để bước ra khỏi quá khứ. Chúng ta cần chú tâm cẩn thận đến những xung năng thoáng qua này, và khám phá chúng một cách có ý thức nhất có thể. Chúng ta sẽ cần sử dụng các kỹ thuật trí tưởng tượng chủ động cùng các phương pháp hình dung và khách quan hóa khác để làm điều này. Khi có thể đặt các thần thoại mới và cũ cạnh nhau trong ý thức của mình, chịu đựng những căng thẳng đau đớn từ sự đối lập của chúng, chúng ta có thể bắt đầu khám phá ý nghĩa trọn vẹn của từng thần thoại.
Giai đoạn Ba — Khơi gợi một tầm nhìn thần thoại mới
Sau đó, chúng ta bắt đầu khuếch đại (amplify) các hình ảnh, cảm xúc và mô thức khải tượng mà ta thấy tuôn trào từ vô thức. Thông qua đối thoại bằng trí tưởng tượng chủ động, giải mã và khuếch đại giấc mơ, chúng ta sẽ tìm kiếm sự rõ ràng ngày càng lớn hơn từ những hình ảnh đang trỗi dậy.
Chúng đang nói gì với chúng ta? Chúng mang lại những ý nghĩa mới nào cho cuộc đời ta? Chúng đang chỉ dẫn ta theo những hướng nào? Và khi đạt được một tầm nhìn mạch lạc hơn cho bản thân, chúng ta sẽ khám phá ra những hàm ý mà tầm nhìn đó mang lại cho hành động của ta trong thế giới — cho thiên hướng nghề nghiệp (vocation) hay sứ mệnh trong đời.
Có một giai đoạn trong tiến trình tâm lý trị liệu gọi là "sự thực thi/diễn xướng" (enactment), và đây là lúc các hướng hành động khả dĩ được nghiền ngẫm và tập dượt trong cõi tưởng tượng. Dù một người đàn ông được trao cho tầm nhìn mới nào, anh ta phải hình dung thật cụ thể xem nó sẽ trông như thế nào xét trên đời sống thực tế của mình. Có thể anh được kêu gọi thay đổi nghề nghiệp, chuyển nơi ở, hoặc thay đổi các mô thức thiết lập mối quan hệ với người khác. Anh cần gọt giũa tầm nhìn trong một cuộc đối thoại với vô thức. Bằng cách này, anh có thể tìm ra những chiến lược thực tế mà mình có thể triển khai nhằm hiện thân điều phi thường trong cái đời thường. Khai thác các nguồn năng lượng của Pháp sư, anh biến mình thành người trung gian giữa các tầng mức thực tại khác nhau trong cuộc đời mình.
Giai đoạn Bốn — Cam kết với thần thoại mới
Nếu đang tham gia vào một tiến trình tâm lý trị liệu, chúng ta có thể thực hiện cam kết này dưới hình thức một bản hợp đồng với nhà trị liệu của mình. Nếu không, chúng ta có thể lập hợp đồng trực tiếp với vị Pháp sư, và xa hơn nữa, với Bản thể chân thực của chúng ta. Trong bản hợp đồng này, chúng ta sẽ cam kết cuộc đời thực của mình, như những bước tiến hướng tới một sự hợp nhất sâu sắc và có chủ đích hơn, với thần thoại mới. Chúng ta sẽ đón nhận nghĩa vụ, trong chừng mực có thể, mang thiên đường xuống trần thế, khi chúng ta hóa thân năng lượng thần thánh vào đời sống con người thường nhật.
Giai đoạn Năm — Hiện thân thần thoại mới trong đời sống thường nhật
Một khi đã lập bản hợp đồng, chúng ta sẽ cần phải hoàn thành nó bất kể điều đó có thể đau đớn hay hao tổn tâm lực đến đâu. Những mô thức sống cũ sẽ tìm mọi cách để tái khẳng định quyền lực cứng nhắc, chối bỏ sự sống của chúng. Các Bóng tối vốn ngoan cố và khó trị. Chúng không thể bị vượt qua đơn thuần bằng một hành vi ý chí. Chúng không thể bị xua đuổi bằng những ý định tốt đẹp. Những mô thức lệch lạc sẽ chiến đấu đến cùng để tồn tại. Do đó, chúng ta phải thực hành sự siêu cảnh giác và tính tự kỷ luật của vị shaman. Chúng ta phải thiết lập những ranh giới mà mình đã cam kết và bảo vệ chúng, như thiên thần đã canh gác ranh giới của Vườn Địa Đàng bằng thanh gươm lửa. Chúng ta sẽ rút ra những "cây đũa phép" — quyền năng dương vật (phallic power) của chúng ta trong hình thái Pháp sư — để củng cố các cấu trúc Bản ngã mới và bảo vệ trục Bản ngã - Bản thể mong manh của mình.
Những mô thức cũ có xu hướng thôi thúc sự thoái lùi với sức mạnh của một đợt thủy triều. Bởi hoạt động của nó mang tính vô thức, dòng ngầm thoái lùi này đặc biệt nguy hiểm. Nhưng nếu chúng ta cam kết với một tầm nhìn mới về bản thân trong thế giới, và nỗ lực hiện thân thần thoại mới, chúng ta có thể hoàn thành các cuộc khai tâm của mình một cách thành công. Chúng ta có thể kêu gọi Kỹ thuật viên của Quyền năng đưa chúng ta từ sự non nớt đến sự trưởng thành.
Cuối cùng, chúng ta sẽ tiến tới một vị thế sức mạnh mà từ đó Bản ngã có thể tiếp cận cả bốn nguyên mẫu của sự nam tính trưởng thành. Bởi như William Blake chắc chắn đã khám phá ra trong một chuyến du hành shaman vào vô thức tập thể:
Bốn Đấng Hùng Cường ngự trong mỗi Con Người;
Một Sự Thống Nhất Hoàn Hảo
Không thể hiện hữu, ngoại trừ từ Tình Huynh Đệ Vũ Trụ của Địa Đàng
Con Người Vũ Trụ. Đấng ngự trị
Vinh Quang Đời Đời Amen.
PHÁT TRIỂN VỊ SHAMAN TRONG TÂM TRÍ NAM GIỚI: TỔNG KẾT
Suốt hàng ngàn năm, các phù thủy loài người đã sử dụng sự huyền bí hóa và những "thần chú ma mị" như một phần trong việc trau dồi "mặt nạ Pháp sư" (magician persona) khi hành nghề. Một số người giải thích điều này đơn thuần là một biểu hiện khác của xu hướng lừa mị và thao túng thường thấy ở những người thực hành vai trò xã hội này. Tuy nhiên, chúng tôi tin rằng có thể có một lời giải thích khác cho việc sử dụng kỹ thuật kịch nghệ này trong sự vận hành của Pháp sư/shaman. Vì hầu hết mọi người, trong quá khứ cũng như hiện tại, đều có xu hướng đánh giá thấp quy mô và độ khó khăn của một cuộc khai tâm Pháp sư thỏa đáng, nên các pháp sư con người có thể đã sử dụng các kỹ thuật sân khấu nhằm duy trì sự hứng thú của môn đệ trong suốt những năm tháng học tập mệt nhoài cần thiết để trở thành một đại pháp sư. Chúng ta phải nhớ rằng trong nhiều nền văn hóa trước thời hiện đại, người ta không kỳ vọng một ai đó đạt được sự trưởng thành cần thiết cho vai trò Bậc Trưởng lão Nghi lễ trước tuổi bốn mươi là sớm nhất. Thời đại của chúng ta đòi hỏi một mức độ nghiêm túc tương đương từ phía chúng ta. Xét theo một vài khía cạnh, nhiệm vụ khai tâm Pháp sư thời kỳ phi bộ tộc còn thách thức hơn bất kỳ giai đoạn nào trước đây trong lịch sử nhân loại — và quan trọng hơn đối với tương lai loài người.
Trong các tập sách trước của bộ sách này, chúng tôi đã trình bày các phương tiện khác nhau để tiếp cận bốn quyền năng của tâm trí nam giới, nhiều phương tiện trong số đó có thể áp dụng cho việc thực hành với từng nguyên mẫu khác nhau. Chúng tôi đã điểm lại một số phương pháp này trong phần thảo luận ở trên. Nhưng trước khi kết thúc những suy ngẫm về thách thức to lớn của một cuộc khai tâm Pháp sư tương thích với thời kỳ then chốt của chúng ta, chúng tôi muốn một lần nữa tóm tắt một số phương tiện hữu ích nhất để phát triển trong lĩnh vực then chốt này của sự trưởng thành nam tính:
Lên lịch trình cho những khoảng thời gian tĩnh tâm và tự phản tư một cách đều đặn trong cuộc sống của bạn. Giống như "thời gian làm vườn" dành cho khía cạnh Người Tình của Bản thể phải được lên lịch và bảo vệ cẩn thận, không gian thiêng liêng của sự chiêm niệm và chuyển hóa cũng phải được định vị cẩn trọng, tiếp cận, sử dụng thường xuyên và bảo vệ khỏi những đòi hỏi bên ngoài. Không có cách nào người ta có thể dành đủ năng lượng cho nhiệm vụ phát triển Pháp sư của mình nếu thiếu đi không gian và thời gian dành riêng như vậy.
Bắt đầu nỗ lực tìm kiếm và nghi thức hóa các địa điểm cùng thời gian thiêng liêng của riêng bạn cho công việc nội tâm. Những điều này có thể bao gồm các kỳ tĩnh tâm đặc biệt xa nhà được lên kế hoạch đều đặn, cũng như những không gian và thời gian dành riêng trong ngôi nhà và lịch trình hàng ngày của bạn. Bạn càng có kỷ luật trong việc nghi thức hóa không gian và thời gian này bao nhiêu, thì sự vận hành của Pháp sư trong bạn càng được trao quyền bấy nhiêu để phụng sự các khu vực khác của bản ngã và cuộc sống.
Nỗ lực hướng tới việc sử dụng có kỷ luật việc giải mã giấc mơ và trí tưởng tượng chủ động. Một cuốn cẩm nang thực hành tuyệt vời cho cả hai phương tiện này hướng tới sự tự thấu hiểu bản thân là cuốn sách xuất sắc Inner Work của Robert Johnson. Không có phương tiện nào mạnh mẽ hơn để phát triển một mối quan hệ bền vững với Bậc Hiền Triết bên trong chúng ta, và Johnson là một bậc thầy của môn nghệ thuật này. Bạn có thể muốn tìm kiếm một nhà trị liệu có năng lực để hỗ trợ bạn trong hành trình cho đến khi bạn cảm thấy có khả năng tiếp tục cuộc tìm kiếm dưới sự dẫn dắt của những người dẫn đường nội tâm.
Bắt đầu viết nhật ký cá nhân như một vật chứa liên tục cho công việc nội tâm của bạn. Hãy tìm đến các Hội thảo Nhật ký Chuyên sâu (Intensive Journal Workshops) do Ira Progoff phát triển. Progoff là một nhà phân tâm học trường phái Jung, người tin tưởng rất đúng đắn rằng việc ứng dụng những tri kiến từ tâm lý học chiều sâu không thể chỉ giới hạn trong phòng tham vấn của nhà phân tâm. Ông đã phát triển một kỹ thuật viết nhật ký chuyên sâu mang lại sự dấn thân có cấu trúc và sâu sắc với những câu hỏi lớn về ý nghĩa và thiên hướng nghề nghiệp trong đời người. Có những chuỗi hội thảo này diễn ra liên tục mang lại cơ hội không ngừng cho sự thấu thị và tự phản tư sâu sắc.
Tìm một nhóm nam giới đang sinh hoạt đều đặn nhằm tìm cách phát triển các tiềm năng nam tính ở các thành viên và không ngại thử nghiệm với việc nghi thức hóa mang tính sáng tạo. Các tài liệu hữu ích ở đây bao gồm cuốn sách xuất sắc của Bill Kauth, A Circle of Men, và tuyển tập Wingspan: Inside the Men's Movement, do Christopher Harding biên tập. Cả hai đều bao gồm các hướng dẫn tài liệu và thư mục hữu ích cho các cuộc khám phá trong lĩnh vực này. Sự tham gia như vậy sẽ không chỉ mang lại cho bạn một vật chứa cho việc khám phá liên tục các vấn đề cá nhân và giữa các cá nhân, mà còn cho bạn cơ hội phụng sự người khác như một bậc trưởng lão nghi lễ. Việc thực hành trong một nhóm nghi lễ nam giới sẽ mang lại cho bạn kinh nghiệm, năng lực và sự tự tin cần thiết trước khi bạn cảm thấy sẵn sàng đảm nhận vai trò lãnh đạo trong các lĩnh vực mở rộng của đời sống gia đình và cộng đồng. Một đóng góp cực kỳ quan trọng của việc tham gia đều đặn vào một nhóm nam giới là nó giúp người ta tránh được sự xa cách kinh niên vốn thường đi kèm với việc khám phá khu vực Pháp sư của Bản thể. Một đóng góp khác là "công cụ nhận diện sự nhảm nhí / dối trá" của những người đàn ông khác trong nhóm sẽ giúp bạn tự bắt quả tang chính mình khi bạn bắt đầu bay bổng lên "vùng đất không tưởng", và các mối quan hệ cùng sự hợp tác liên tục sẽ giữ cho bạn đứng vững trên mặt đất. Cuối cùng, sự dung chứa và nâng đỡ liên tục của nhóm sẽ hỗ trợ bạn vượt qua sự chối bỏ của chính mình, chịu đựng nỗi đau của sự thấu thị ngày càng tăng, và huy động lòng dũng cảm cho những thay đổi mang tính giải phóng trong lối sống của bạn.
Bất chấp những kẻ làm bạn xấu hổ về khả năng trí tuệ của mình hoặc những kẻ tìm cách giới hạn phạm vi hoặc chiều sâu học tập của bạn. Hãy đòi lại trí tuệ hai triệu năm tuổi vốn là quyền thừa kế bẩm sinh của bạn! Hãy xây dựng thư viện cá nhân của bạn một cách không e sợ và để nó cất lên tiếng nói với những người xung quanh. Hãy để những cuộc điều tra nghiên cứu của bạn trải rộng từ văn hóa, thần thoại và nghi lễ bộ tộc đến các cuộc khám phá trong triết học và tôn giáo Đông - Tây. Bất chấp những lời đao to búa lớn của các nhà tư tưởng "không biết gì" đương đại, hãy đòi lại quyền học tập và nghiên cứu từ di sản trí tuệ được để lại bởi những Người Nam và Người Nữ Trái Đất từ tất cả các bộ tộc trên Hành Tinh Quê Hương của chúng ta. Điều này bao gồm cả di sản trí tuệ của nền văn minh phương Tây. Bạn có quyền thụ hưởng từ sự chỉ dẫn của một E. D. Hirsch về những đòi hỏi của năng lực tri thức ngày nay và thâm nhập vào các tầm nhìn siêu hình học của một Paul Tillich hay một Alfred North Whitehead. Đừng để chủ nghĩa bộ tộc mới của một số người trong xã hội chúng ta ngày nay làm giảm bớt tự do của bạn trong việc khám phá bất kỳ vùng đất nào của khoa học và nhân văn vốn là di sản của nhân loại bạn. Hãy theo đuổi đam mê trong việc học tập và đừng ngần ngại hy sinh để biến chúng thành hiện thực. Việc quản trị các tiềm năng trí tuệ của bạn không đơn thuần là "ích kỷ". Các nghiên cứu của bạn sẽ nâng cao chất lượng lãnh đạo mà bạn có thể cống hiến cho cộng đồng của mình.
Cuối cùng, hãy nhớ rằng những góc nhìn thịnh hành mới nhất đang được thúc đẩy bởi truyền thông, các nhà lãnh đạo tôn giáo hoặc "giới giáo sĩ" học thuật thống trị có thể không hữu ích cho việc chữa lành hành tinh của chúng ta, sự kiến tạo Cộng đồng Trái Đất, hay sự phát triển và thực thi một nền đạo đức giống loài phi bộ tộc. Hãy giữ cho bộ nhận diện "những điều dối trá và nhảm nhí" của bạn luôn hoạt động tốt. Trong vài thập kỷ then chốt sắp tới, bạn sẽ cần đến chúng hơn bao giờ hết. Lấy ví dụ về định kiến chống lại trường phái Jung trong giới học thuật và tôn giáo đương đại. Chúng tôi vô cùng kinh ngạc khi thấy rất nhiều người có tiềm năng trở thành các nhà lãnh đạo trí tuệ và tâm linh lại không nỗ lực vượt qua những định kiến giản đơn về các công trình của C. G. Jung và sự thích ứng đương đại của chúng. Trên thực tế, Jung và di sản trí tuệ của ông mang lại cho chúng ta một trong số ít những tầm nhìn rộng lớn về một Con Người Khả Dĩ — một tầm nhìn không làm mất đi vẻ tráng lệ cùng sự huy hoàng của giống loài chúng ta và các tiềm năng của nó. Truyền thống của Jung muốn chúng ta bắc cầu nối giữa khoa học và tôn giáo, đồng thời nhìn xa hơn những tầm nhìn bộ tộc vốn chia rẽ chúng ta như một giống loài. Với tư cách là một trong những shaman hậu hiện đại thực thụ đầu tiên, ông đã để lại cho chúng ta một thách thức để tiến tới một tính bao hàm mới trong tâm linh của mình. Sau Jung, mọi tầm nhìn bộ tộc đều phải được tái định hình trong bối cảnh của một Cộng đồng Trái Đất dung hợp. Nói tóm lại, những shaman trưởng thành trong tương lai phải tìm kiếm sự thông thái và tầm nhìn để trở thành những Shaman Trái Đất. Bất cứ điều gì kém hơn thế đều sẽ là một sự phản bội đối với giống loài của chúng ta.
Bình luận