Nhập hồn: Giải phẫu học so sánh về tâm trí của Jung
|Lời giới thiệu 1|
Từ nhập hồn đến khải thị: Ánh sáng lóe rạng nơi giao thoa giữa Jung, nhân học và kịch trường trị liệu
Thái Di Giai / Phó Giáo sư Khoa Tôn giáo học, Đại học Phụ Nhân (Fu Jen)
Trong các cung đàn miếu vũ nơi phố phường ngõ hẻm Đài Loan, việc cơ đồng nhờ thần linh nhập xác để hành sự giúp dân chúng là cảnh tượng quen thuộc trong đời sống tôn giáo bản địa. Trong số những người tìm đến cơ đồng để nhờ cậy giải quyết vấn đề, cũng không thiếu những người bị "vong linh/thần linh" ("linh") quấy nhiễu. "Linh" vừa là căn nguyên của vấn đề, lại vừa là phương thức để xử lý vấn đề. Dù "thế giới tâm linh" chưa từng xuất hiện trong sách giáo khoa nhà trường, đó lại là trải nghiệm vừa gần gũi vừa chân thực trong đời sống tôn giáo thường nhật của người dân Đài Loan. Những trải nghiệm như vậy thường gắn liền mật thiết với các nan đề trong cuộc sống, đặc biệt là những bế tắc, rối loạn thân tâm không rõ căn nguyên. Arthur Kleinman, người mang cả hai vai trò bác sĩ tâm thần và nhà nhân học y tế, từng đặt việc hành sự của cơ đồng Đài Loan cạnh sự thăm khám và điều trị của bác sĩ tâm thần để so sánh đối chiếu, qua đó mở ra những kiến giải sâu sắc cho cuộc đối thoại giữa can thiệp tôn giáo và trị liệu tâm thần. Các nhà tâm lý học Đài Loan như Dư Đức Tuệ và Bành Vinh Bang cũng nhìn nhận nghi thức "khiển vong" (dắt hồn người chết) bản địa như một liệu pháp chữa lành văn hóa: thông qua các sư cô làm trung gian nương tựa cho vong linh, họ kết nối người sống với cõi âm, xoa dịu nỗi nhớ nhung cùng niềm đau mất người thân. Những chuyên gia nghi lễ tôn giáo "lấy thân làm thước đo/trung giới" như cơ đồng và linh môi (đồng cốt) ở Đài Loan xuất hiện nhiều vô kể trong các ghi chép dân tộc học của giới nhân học. Nói cách khác, việc nghiên cứu về thế giới ý nghĩa của con người hầu như không thể tách rời việc bàn luận về sự thông hiểu của các nền văn hóa đối với thế giới thần linh; mà sự thông hiểu đối với thế giới thần linh ấy lại thường phải thông qua việc phác họa và tìm hiểu hiện tượng nhập xác.
Dù hiện tượng nhập hồn mang tính phổ quát xuyên văn hóa, nhưng trong tâm lý học khoa học—ngành vốn theo đuổi sự hiểu biết phổ quát về tâm trí con người—nó lại trở thành một bài toán nan giải. Trong bối cảnh ấy, khi có toan tính phản tư lại hiện tượng nhập hồn ngay trong lòng tâm lý học và trị liệu tâm lý đương đại (nơi vốn đã "khử thần linh hóa" triệt để nhất), cũng như thảo luận về ý nghĩa của việc đưa hiện tượng này vào danh mục chẩn đoán bệnh tâm thần, việc quay trở lại phương pháp soi chiếu tương hỗ giữa góc nhìn tâm thần học và nhân học của Arthur Kleinman là điều tất yếu. Một mặt, phương pháp này cho phép tâm thần học phản tư lại chính những "tiền giả định văn hóa" và "logic văn hóa" ẩn sau tuyên bố về tính phổ quát của mình; mặt khác, nó biến các nhận thức và thực hành trung gian nối liền thế giới người – linh thành chiếc "kính chiếu yêu" của thế giới đương đại, phản chiếu nghịch lý trớ trêu: trong nỗ lực mải miết theo đuổi sự "giải thiêng / khử bùa chú", thế giới đương đại lại đánh mất năng lực thấu hiểu và nhận biết bùa chú, để rồi rốt cuộc lại bị chính những bùa chú ấy giam hãm. Lấy hiện tượng nhập hồn làm chủ đề, trải rộng qua lịch sử tôn giáo, tâm lý học, nhân học, tâm thần học, trị liệu tâm lý cùng phân tích kịch trường, cuốn sách này là một tác phẩm quan trọng đưa ra sự phản tư sâu sắc trước tình thế bế tắc trong việc tự nhận thức của thời đương đại kể trên.
Tác giả cuốn sách, Craig Stephenson, mang nền tảng kết hợp giữa tâm lý học Jung, kịch tâm lý và phân tâm học. Tác giả nhận định rằng nhập hồn là hiện tượng then chốt trong tâm lý học phân tích của Jung. Khi làm sáng tỏ luận điểm cốt lõi này, Stephenson không bó hẹp trong lối phân tích hạn định bởi hệ thuật ngữ nội bộ, mà vận dụng phương thức khảo cứu liên ngành để chỉ ra khái niệm nhập hồn đã lý giải các trạng thái đối lập dị biệt ra sao giữa: tâm lý học / nhân học, văn minh / nguyên thủy, khoa học / tôn giáo, tự chủ / tương dữ (cùng tồn tại gắn kết), cũng như ý nghĩa tích cực mà sự soi chiếu và đối thoại đa chiều có thể mang lại. Từ khái niệm nhập hồn (possession) trong lịch sử tôn giáo cho đến "chứng ám ảnh" (obsession) trong tâm thần học, khái niệm này đã chuyển biến từ một trạng thái đượm màu tôn giáo thành một chứng bệnh tâm thần đã bị phi tôn giáo hóa. Qua việc điểm lại tiến trình lịch sử này, tác giả đã đặt khái niệm nhập hồn của Jung vào phả hệ tiến hóa của lịch sử tôn giáo, y học và tư tưởng châu Âu. Vụ việc ám nhập tập thể tại thị trấn Loudun (Pháp) vào thế kỷ XVI đã biểu đạt xung đột gay gắt giữa Công giáo và Tin Lành (Kháng Cách); khung cảnh trừ tà trở thành sàn diễn phô trương và tranh đấu của linh lực, và hiện tượng nhập hồn trở thành "sự trình diễn cho những vấn đề xã hội trọng đại". Tuy nhiên, khi nhập hồn bị thu hẹp thành một phân loại bệnh lý tâm thần, nó lại biến thành "chứng bệnh của cá nhân", không còn giữ được sức mạnh để viết nên lịch sử hay phản tỉnh xã hội. Trước sự hạn hẹp của góc nhìn bệnh lý hóa đơn diện này, tác giả cho rằng cần thông qua các trang viết dân tộc học của giới nhân học về hiện tượng nhập hồn ở các nền văn hóa khác nhau để khơi mở tầng tầng lớp lớp ý nghĩa phong phú của nó; đó cũng chính là điều tác giả muốn nói khi khẳng định tâm lý học hoàn toàn có thể học hỏi từ nhân học.
Dù là để khắc họa lịch sử, kể lại tình cảnh của những thân phận bên lề xã hội, hay đóng vai trò như sự biểu đạt của nỗi thống khổ nội tâm, hiện tượng nhập hồn—với tư cách là sự hiển lộ của muôn trùng xung đột—đều hướng tới việc tìm kiếm sự thấu hiểu về mặt ý nghĩa cùng con đường chuyển hóa. Stephenson chỉ ra cách Jung đã chủ ý vận dụng ngôn ngữ "nước đôi / đa nghĩa" để đưa ra một lối tiếp cận gần gũi với trải nghiệm thực tế và phi quy giản, nhằm bảo toàn sự phong phú vốn khó bị logic duy lý vét cạn của hiện tượng nhập hồn. Jung cho rằng việc truy vấn ý nghĩa của sự nhập hồn quan trọng hơn nhiều so với việc chỉ đơn thuần triệt tiêu triệu chứng. Tư duy triệu chứng thường sa vào việc truy tìm căn nguyên nhân quả mang tính sinh học hoặc cơ giới luận, trong khi sự diễn giải ý nghĩa lại hướng về tương lai hoặc kiếm tìm ý nghĩa tối hậu. Trong chương 1 về cuộc truy nguyên lịch sử của các diễn ngôn nhập hồn, những cá nhân oằn mình chịu đựng nỗi khổ bị nhập đã toan tính thoát khỏi tư thế thụ động trong các nghi thức trừ tà công khai; họ mượn ngôn ngữ của chủ nghĩa thần bí và hạnh tích các thánh để tìm cho trải nghiệm của mình một chiếc bình dung chứa, qua việc chấp nhận và nhìn thẳng vào "tâm ma" mà trở thành "người chữa lành mang thương tích" (wounded healer). Cách đối diện với nỗi đau này có sự tương đồng sâu sắc với truyền thống Saman giáo cũng như quan niệm trị liệu của Jung. Những ghi chép và diễn giải về hiện tượng nhập hồn trong các bản dân tộc học nhân học (chương 2) cũng soi chiếu tương hỗ với ba phương diện chuyển hóa mà tác giả đề xuất khi luận bàn về trị liệu tâm lý Jung (chương 5), bao gồm: trải nghiệm ngưỡng của "thánh sở / vòng bảo hộ", sự "nhân vật hóa / mô phỏng" nhằm đắp da thịt, dựng khung xương và trao tiếng nói cho những linh hồn không thân xác, cùng quá trình chịu đựng sự thật của chính mình thông qua sự "tích hợp / hợp nhất" để an trú trong một bản ngã đa nguyên, lưu chuyển. Cội rễ mặc khải tiềm tàng trong hiện tượng nhập hồn đã vươn mình thành cây lớn chính tại điểm giao thoa giữa tâm lý học Jung và nhân học. Mặc khải ấy có thể là sự trình diễn của những xung đột xã hội đương thời, sự cất lời và trao quyền cho những hoàn cảnh bên lề, sự hàn gắn những đứt gãy, hay là cơ duyên cho sự chuyển hóa.
Bằng thủ pháp dàn dựng kịch trường, Stephenson đã phơi bày những diện mạo gấp nếp nhiều tầng của hiện tượng nhập hồn: trong bối cảnh lịch sử tôn giáo, trong cơn chấn động của các nhà nhân học khi bước vào các nền văn hóa tha dị, trên những trang cẩm nang phân loại bệnh lý tâm thần, và ngay trong chính kịch trường trị liệu mang tính phân tích. Ở phần mở đầu và kết thúc cuốn sách, tác giả chia sẻ câu chuyện về một bé gái bị vong hồn người anh trai nhập vào; trong trải nghiệm nhập hồn ấy, em đã giãi bày nỗi đau mất người thân và niềm khát khao được gắn kết. Trải nghiệm ấy chẳng hề xa lạ với nền văn hóa tôn giáo của chúng ta: tại nơi mà bản ngã phải hứng chịu cú va đập dữ dội, bản ngã lại trở thành chốn nương náu cho cái phi-ngã. Sự "tương dữ" (gắn kết cùng nhau) giữa bản ngã và cái phi-ngã là vấn đề cốt lõi trong trị liệu phân tích của Jung, đồng thời cũng là một ẩn dụ quan trọng trong các trước tác văn hóa của nhân học. Trong cuốn sách đầy ắp kiến giải sâu sắc này, thông qua lộ trình giao hội giữa tâm lý học Jung và nhân học, Stephenson đã chỉ ra cho chúng ta thấy sự trù phú về mặt ý nghĩa của hiện tượng nhập hồn. Những độc giả sẵn sàng mở lòng với tri thức liên ngành, đặc biệt là những ai quan tâm đến tôn giáo, lịch sử, tâm lý, văn hóa hoặc y học tâm thần, chắc chắn sẽ gặt hái được những thu hoạch vô cùng phong phú từ cuốn sách này.
Bình luận