top of page

Người Mẹ Đủ Tốt

15 giờ trước
34 phút đọc

01 Người mẹ đủ tốt là người mẹ như thế nào?


Một người mẹ đủ tốt có thể thỏa mãn ảo tưởng toàn năng của đứa trẻ trong giai đoạn ban đầu, thuận theo đứa trẻ, kịp thời hồi đáp và đồng điệu cùng con. Khi ảo tưởng toàn năng của con đã được thỏa mãn trọn vẹn, người mẹ lại có thể rút lui đúng lúc, để đứa trẻ trải qua những va vấp thích đáng, từ đó mà có được sự trưởng thành.


Nhà tâm lý học người Anh Donald Winnicott từng đưa ra khái niệm "người mẹ đủ tốt" (good-enough mother). Ông cho rằng, một người mẹ đủ tốt có thể nuôi dưỡng nên một đứa trẻ mang trong mình một "bản ngã chân thật" (chân thật tự thể). Vậy thì, một người mẹ đủ tốt là người như thế nào?


Thứ nhất, người mẹ đủ tốt ở giai đoạn trước và sau khi sinh sẽ ở trong trạng thái "nguyên sơ mẫu ái quán chú" (sự dồn trọn tâm trí của tình mẫu tử thuở ban đầu).


Đặc điểm của "nguyên sơ mẫu ái quán chú" là: từ trước khi đứa trẻ chào đời cho đến vài tuần sau sinh, người mẹ sẽ dồn toàn tâm toàn ý vào đứa trẻ. Trong ba tháng cuối thai kỳ, người mẹ chia sẻ chung cơ quan hô hấp, tiêu hóa và bài tiết với thai nhi; sự sinh trưởng của đứa trẻ lấp đầy cả thân thể lẫn tâm hồn người mẹ, khiến tính chủ thể, sở thích riêng và nhịp sống của người mẹ dần dần lui về phía sau. Toàn bộ sự hiện diện của mẹ lúc này đều biến thành việc thích ứng với nhịp điệu của đứa trẻ, thỏa mãn các nhu cầu của con; đây là một trạng thái cộng sinh ở mức độ cao.


Giữa người mẹ và đứa trẻ thường có một mối liên kết tựa như thần giao cách cảm: người mẹ cảm thấy ngực căng tức sữa, thì vừa vặn lúc ấy đứa trẻ muốn bú; người mẹ hơi thảng thốt bất an, muốn đến bên giường xem con, thì đúng lúc ấy đứa trẻ vừa thức giấc và đang kiếm tìm mẹ. Sự đồng điệu vi diệu này mang nét đẹp tựa như một phép màu. Đứa trẻ tự phát phát ra tín hiệu, được người mẹ nhạy bén nắm bắt, hồi đáp và thỏa mãn, duy trì sự cùng nhịp với con, từ đó gây dựng nên bản ngã chân thật của đứa trẻ.


Một người mẹ tốt cũng giống như một tấm gương: đứa trẻ xuyên qua ánh mắt của mẹ mà nhìn thấy chính mình, và nhờ vậy sự tồn tại của con được xác nhận. Thế nhưng, có những người mẹ không thể bước vào trạng thái toàn tâm của tình mẫu tử này. Ví như người mẹ bị trầm cảm, đứa trẻ ở bên cạnh không ngừng phát ra đủ loại tín hiệu khao khát tương tác, nhưng người mẹ lại mãi chìm đắm trong cảm xúc u uất của riêng mình. Trong tình cảnh đó, đứa trẻ nhìn vào mắt mẹ, nhưng thứ nhìn thấy lại chỉ là trạng thái đông cứng của bản thân người mẹ, chẳng thể soi chiếu được chính mình. Đứa trẻ nhận ra trạng thái tự nhiên, tự phát của mình không có được hồi đáp, liền nghĩ: "Mình phải đi quan sát trạng thái của mẹ, thuận theo mẹ, tạo ra một trạng thái khiến mẹ vừa lòng, có thể đánh thức được mẹ". Vì thế, đứa trẻ phát triển nên một "bản ngã giả tạo" (hư giả tự thể). Nội tâm của con buộc phải phân liệt, đem con người thật của mình giấu đi, tạo ra một bản ngã giả xoay quanh người mẹ, dùng cách thức ấy để bản thân có thể sinh tồn.


Lại có những người mẹ ở giai đoạn cuối thai kỳ, thậm chí ngay trước lúc lâm bồn, vẫn dốc trọn tâm trí vào công việc hay học hành; đứa con trong bụng ngoài việc mang lại chút khó chịu về mặt sinh lý thì gần như chẳng có cảm giác tồn tại nào. Đứa trẻ ngay từ trong bụng mẹ đã có cảm giác cô độc và bị bỏ rơi, tức là đã thất bại trong việc đồng điệu với mẹ.


Thế nào là đồng điệu? Một người bạn kể rằng sau khi sinh giấc ngủ của cô không tốt, cô đã đọc rất nhiều sách về rèn nếp ngủ cho con. Nhưng một câu nói của mẹ cô đã làm cô bừng tỉnh: "Làm gì mà phức tạp thế, còn phải rèn luyện cơ à? Con ngủ thì con cứ chợp mắt theo, bất kể ngày hay đêm, ngủ được bao nhiêu thì ngủ; con thức thì con thức theo, đừng có lúc nào cũng nghĩ đến việc giữ cái nề nếp sinh hoạt của riêng mình, cái gì cũng cứ thuận theo đứa trẻ mà làm, thế là xong!". Người bạn này quả thực đã làm theo lời mẹ, kết quả là chất lượng giấc ngủ trái lại còn tốt hơn cả trước khi sinh con. Có thể nói, thuận ứng và thỏa mãn đứa trẻ, đồng thời cũng chính là lúc người mẹ đang tái nuôi dưỡng "đứa trẻ bên trong" của chính mình.


Thứ hai, người mẹ đủ tốt có thể thỏa mãn cảm giác toàn năng chủ quan của đứa trẻ.


Khi đứa trẻ từ tử cung tối tăm bước ra thế giới rạng ngời, con sẽ có cảm tưởng rằng chính mình đã tạo nên thế giới này. Trên thực tế, đứa trẻ không hề có một chút năng lực nào để tạo ra sự thỏa mãn vật chất, mà chỉ có thể dựa vào ảo tưởng chủ quan của mình để sáng tạo nên tất cả. Chẳng hạn, khi đứa trẻ đói, người mẹ kịp thời đưa bầu ngực tới, thì trong cảm nhận của đứa trẻ, chính ước muốn của con đã tạo ra bầu ngực ấy. Sự đáp lại kịp thời của người mẹ đã trao gửi cả thế giới cho đứa trẻ, khiến con ngỡ rằng tất cả những điều này đều do ý nguyện chủ quan của mình tạo ra, đó chính là thỏa mãn "ảo tưởng toàn năng" của con.


Nhờ vào sự nâng đỡ của người mẹ đối với ảo tưởng toàn năng đó, đứa trẻ sẽ dần dần ươm mầm nên bản ngã chân thật. Nói cách khác, cảm giác toàn năng chủ quan của đứa trẻ được sinh ra chính trong sự dồn trọn tâm trí của tình mẫu tử thuở ban đầu. Cùng với sự lớn lên của đứa trẻ, người mẹ cũng sẽ từ từ rút lui khỏi trạng thái ấy, để đứa trẻ tìm lại tính chủ thể, một lần nữa hướng sự hứng thú ra thế giới bên ngoài bản thân mình. Trong tiến trình này, phản ứng của mẹ đối với đứa trẻ ngày một chậm hơn, nhưng đó không phải là sự cố tình trì hoãn hay hời hợt lơ đễnh; người mẹ vẫn luôn tích cực, chỉ là không còn giữ sự hô ứng hợp nhất tựa như phép màu như thuở ban đầu nữa.


Thứ ba, người mẹ đủ tốt sẽ mang đến cho đứa trẻ những va vấp (thất bại) thích đáng.


Cùng với dòng chảy thời gian, người mẹ không còn giúp đứa trẻ duy trì cảm giác toàn năng chủ quan nữa; những sở thích, nếp sinh hoạt và nhu cầu riêng của người mẹ dần dần quay trở lại. Lúc này đứa trẻ sẽ dần nhận ra: Hóa ra mình không phải là toàn năng, không phải hễ mình có mong muốn gì là có thể lập tức tạo ra hiện thực để thỏa mãn ngay được. Nỗi va vấp này sẽ khiến đứa trẻ cảm thấy đau đớn, nhưng nỗi đau ấy lại mang tính kiến thiết. Đứa trẻ từ khi sinh ra vốn đã dựa dẫm vào mẹ, nhưng bản thân con thực sự cảm nhận được sự "dựa dẫm" thì phải đợi đến lúc này mới bắt đầu (trước đó chìm trong ảo tưởng toàn năng, con cứ ngỡ mình chẳng cần phải dựa dẫm vào bất cứ ai).


Nhờ vậy, đứa trẻ dần ý thức được rằng giữa thế giới khách quan và ý nguyện chủ quan của mình có sự khác biệt; mong muốn có được thỏa mãn không thể chỉ bằng việc phát ra khát khao là xong, mà còn cần phải thương lượng với người khác, đợi khi người khác thấy phù hợp mới có thể tạo ra sự thỏa mãn; và người khác cũng có thế giới riêng, có mong muốn riêng của họ. Sự va vấp như vậy là một sự va vấp thích đáng, là tiến trình tất yếu không thể thiếu để tâm lý của đứa trẻ phát triển hướng về phía trước.


Va vấp "thích đáng" có nghĩa là người mẹ không hề cố tình trì hoãn việc thỏa mãn đứa trẻ, mà là tự thân sự việc về mặt khách quan đòi hỏi phải có thời gian chờ đợi. Ví như một đứa trẻ hai tuổi muốn uống nước, trước hết con phải cảm nhận được mình khát, sau đó nói ra hoặc chỉ tay bày tỏ muốn uống nước. Người mẹ nghe thấy nhu cầu của con, đặt công việc đang làm dở xuống để đi lấy nước, chứ không còn giống như hồi con còn vài tháng tuổi—luôn túc trực cảm nhận và suy đoán nhu cầu của con, đến mức con vừa chớm khát thì đã đưa sẵn bình sữa tới tận miệng rồi.


Vậy thì, một người mẹ không thể hướng sự chú ý trở về bản thân, dốc trọn một lòng vào con cái mà không có cái tôi riêng, sẽ mang lại điều gì cho đứa trẻ? Theo quan sát của tôi, những đứa trẻ lớn lên như vậy có một điểm chung là rất dễ nổi cơn lôi đình, một chút chuyện không như ý là không thể chịu đựng nổi, thậm chí còn tấn công người khác, rất dễ rơi vào trạng thái thiên chấp, hoang tưởng cực đoan.


Người mẹ không có tính chủ thể sẽ khiến đứa trẻ mãi mãi chìm trong ảo tưởng "thế giới này phải hòa làm một thể với ta", đồng thời cũng tước đoạt đi năng lực tự do và trọn vẹn khám phá thế giới khách thể của con. Ví như một đứa trẻ muốn chơi món đồ chơi của bạn khác, đây vốn là một tiến trình khám phá bao gồm: quan sát, thương lượng, có thể gặp thất bại, tiếc thương sự mất mát, hoặc đổi cách khác để tiếp tục thương lượng. Thế nhưng, người mẹ không có bản ngã lại lập tức hiểu ngay nhu cầu của con, đứng ra thay con thương lượng với người khác, khiến đứa trẻ đánh mất cơ hội được tự mình trải nghiệm cả tiến trình ấy.


Thứ tư, người mẹ đủ tốt có thể nhẫn chịu sự sử dụng và tấn công vô tình của đứa trẻ.


Winnicott cho rằng, tính công kích đại diện cho sức sống, là minh chứng của sinh mệnh. Những sự công kích vô tâm ban đầu của đứa trẻ, như gặm, cắn, đạp, vặn vẹo thân mình... vốn không hề có ý định làm tổn thương mẹ, mà chỉ là một phần trong các hoạt động tự phát. Đứa trẻ thông qua công kích để thiết lập mối liên hệ với thế giới bên ngoài, từ đó phát hiện ra khách thể ngoại tại; điều này mang ý nghĩa vô cùng to lớn đối với con. Tính công kích nguyên sơ tựa như một ngọn lửa, tự nhiên muốn vươn dài và chạm tới thế giới bên ngoài; còn việc nguồn năng lượng ấy chuyển hóa thành một cái tát vào mặt mẹ hay là một sự chạm khẽ dịu dàng, đứa trẻ tạm thời chưa thể phân biệt và kiểm soát, trong ý thức của đứa trẻ, chúng đều chỉ là một dạng vận động mà thôi.


Trong tính công kích nguyên sơ ấy chứa đựng tình yêu đầy hưng phấn và nguyên sơ của đứa trẻ dành cho mẹ, thứ tình yêu này đồng thời cũng chính là sự hủy diệt: đứa trẻ bừng bừng vươn mình về phía người mẹ, cắn núm vú, nhéo mẹ, đánh mẹ, sử dụng mẹ một cách vô tình—hủy diệt và biểu đạt tình yêu dường như là cùng một chuyện. Đứa trẻ trước hai tuổi hầu như đều "vô tình" như thế. Phải đến tầm hai tuổi, con mới có thể phát triển nên năng lực biết lo lắng cho khách thể. Đứa trẻ tùy ý, không chút kiêng dè mà sử dụng mẹ, không lo sợ mẹ sẽ bị hủy hoại, còn người mẹ thì hết lần này đến lần khác thỏa mãn đứa trẻ, nhẫn chịu sự vô tình của con. Cứ như vậy, đứa trẻ không cần phải che giấu bản thân, không cần phải tự phân liệt thành bản ngã giả tạo; sự tồn tại chân thật của con được xác nhận, và sức sống của con nhận được sự chúc phúc.


Winnicott cho rằng, sức sống và cảm giác thực sự đang sống gắn liền mật thiết với tính công kích. Thậm chí ông còn nhận định, tính tự phát của đứa trẻ chính là tính công kích. Khi người mẹ "sống sót" nguyên vẹn qua những đòn công kích của đứa trẻ, vừa không vì thế mà cự tuyệt, trừng phạt con, bản thân lại cũng không sụp đổ, thì đứa trẻ sẽ trải nghiệm được trọn vẹn cả một tiến trình: "Tôi tạo ra bà ấy, tôi vô tình sử dụng bà ấy, nhưng bà ấy không hề bị tôi hủy diệt, mà vẫn kiên định và dịu dàng hiện diện ở đó".


Điều này giúp đứa trẻ cảm nhận được rằng, thế giới bên ngoài có một sự tồn tại nằm ngoài sự kiểm soát toàn năng chủ quan của mình, và sự tồn tại ấy thật vững chãi, lại chan chứa thiện ý. Chính điều này đã xây dựng nên mối quan hệ khách thể nền tảng giữa đứa trẻ và thế giới bên ngoài: "Tôi không cần phải lo lắng rằng việc vươn tỏa năng lượng của bản thân sẽ hủy diệt thế giới bên ngoài, hay sẽ bị thế giới bên ngoài trả thù". Một đứa trẻ như thế có thể gìn giữ được sức sống bừng nở của chính mình, đồng thời cũng có thể đón nhận những va vấp có thật trong đời.


Nhìn một cách tổng thể, một người mẹ đủ tốt có thể thỏa mãn ảo tưởng toàn năng của đứa trẻ trong giai đoạn ban đầu, thuận theo đứa trẻ, kịp thời đáp lại và đồng điệu cùng con. Khi ảo tưởng toàn năng của con đã được thỏa mãn trọn vẹn, người mẹ lại có thể rút lui đúng lúc, để con trải qua những va vấp thích đáng, từ đó mà có được sự trưởng thành. Điều quan trọng nhất là, người mẹ phải "sống sót" qua những đòn công kích vô tình của con: không đánh trả, không cự tuyệt, cam tâm tình nguyện để cho con sử dụng. Có như vậy, đứa trẻ mới phát triển nên một bản ngã chân thật, gìn giữ được sức sống bừng bừng và thiết lập nên một mối quan hệ nền tảng hài hòa với thế giới này.


02 Không ở trong tình yêu, ắt ở trong sợ hãi


Trước khi cất lời đối diện với con cái hay người thân, chúng ta có thể chậm lại một chút, tự lắng lại quán chiếu tâm mình: liệu ta đang đứng ở vị trí của yêu thương, hay ở vị trí của sự phân liệt? Lời nói một khi thốt ra, sẽ khiến mối quan hệ trở nên gần gũi hơn, hay lại càng thêm xa cách?


Điểm khác biệt cốt lõi giữa cha mẹ tốt và cha mẹ chưa tốt nằm ở chỗ: cha mẹ mong muốn con trở thành chính bản thân con, hay muốn con trở thành con người trong tưởng tượng của cha mẹ. Nếu là vế trước, dẫu cha mẹ chẳng phải nhân vật thành đạt gì, chẳng thể lúc nào cũng hồi đáp con mọi giây mọi khắc, thì cũng không sao cả, đứa trẻ một đời vẫn sẽ sống tiêu dao tự tại. Nhưng nếu rơi vào vế sau, dẫu cha mẹ có học bao nhiêu phương pháp nuôi dạy con, nói chuyện với con lúc nào cũng ôn hòa, thấu tình đạt lý, thì đứa trẻ vẫn sẽ sinh lòng phản cảm, kháng cự. Tôi thường gặp những bậc phụ huynh theo học phương pháp "kỷ luật tích cực", họ học rất nhiều, nhưng thứ họ học được rốt cuộc lại là sự ôn hòa mà kiên định để kiểm soát và cải tạo đứa trẻ. Bất luận những lời họ nói ra có đạo lý đến đâu, đúng đắn nhường nào, thì mối quan hệ với con cái vẫn cứ gượng gạo, mắc kẹt.


Để con trở thành chính mình, chứ không phải trở thành con người trong tưởng tượng của cha mẹ, ấy là một cảnh giới rất đỗi thâm sâu. Nếu một người có thể tu dưỡng đến mức đối với bất kỳ ai, bao gồm cả chính mình, đều không còn dục vọng muốn cải tạo đối phương, thì người đó chính là người "tỉnh thức". Trong Kinh Thánh có một câu nói vô cùng sâu sắc: Không ở trong tình yêu, ắt ở trong sợ hãi. Tình yêu mang lại sự trọn vẹn "như nó vốn là" (như kỳ sở thị), mang lại sự thuận phục trước sự thật và trí tuệ để hành động; còn nỗi sợ hãi lại mang tới sự phân liệt, đem lại sự phán xét đúng sai, và tạo nên sự giằng co giữa "nên" và "không nên".


Tôi thường nhắc đến câu chuyện giữa tôi và em gái mình: Em gái tôi mua một đống bánh mì về để trong tủ lạnh rồi quên bẵng không ăn, khi nhìn thấy, tôi không kìm được mà muốn giáo huấn em: "Bánh mì phải ăn kịp thời, đừng có lãng phí tiền bạc". Những lúc như thế, chính là tôi đang muốn cải tạo em gái, tâm tôi đã chẳng còn đứng ở vị trí của yêu thương, mà đang ở vị trí của sự phân liệt. Vị trí phân liệt này bắt nguồn từ nỗi sợ hãi do chính tâm trí tôi vọng tưởng thêu dệt nên: "Nếu mình không dạy dỗ nó, hôm nay nó không biết quý trọng thức ăn như thế này, sau này sẽ mãi như vậy, rồi dần dần trở thành một kẻ hoang phí thành tật". Thời thơ ấu, tôi cũng suốt ngày bị cha mẹ vọng tưởng như thế, phải sống trong những kịch bản của nỗi sợ hãi, tạo ra sự phân liệt, phán xét và xung đột không dứt. Vì vậy, khi nhận biết được bản thân đã đi chệch khỏi vị trí của yêu thương, tôi liền lập tức kéo mình quay trở về, chỉ mang theo tình yêu mà nói với em thật giản dị: "Bánh mì ở tiệm này không có chất bảo quản, chỉ để được ba ngày thôi, quá ba ngày là không ăn được nữa đâu". Em gái tôi "ồ" lên một tiếng, nhưng từ đó về sau lần nào cũng ăn bánh mì đúng lúc, thỉnh thoảng còn nhắc tôi: "Bánh mì sắp hết hạn rồi đấy".


Thử tưởng tượng xem, nếu tôi đứng ở vị trí của sự phân liệt mà đi giáo huấn em gái không được lãng phí lương thực, con bé ắt hẳn sẽ cảm nhận được tầng năng lượng đằng sau lời nói của tôi. Năng lượng ấy là sự phán xét, là sự không đón nhận; bởi thế, cho dù về mặt ý thức con bé không phản kháng, thì trong tâm lý cũng chắc chắn sẽ dần xa cách tôi. Đó chính là lý do vì sao có những người cả đời nói năng làm việc đều vô cùng "đúng đắn", nhưng mối quan hệ với người thân lại lạnh nhạt, xa cách. Trong bộ phim truyền hình Doctor Foster, người cha từng nói với Foster khi cuộc hôn nhân của cô tan vỡ: "Con luôn luôn có thể làm tổn thương người khác một cách hết sức 'đúng đắn'". Việc có làm tổn thương người khác hay không, vốn dĩ không nằm ở chỗ lời bạn nói ra có đúng hay không, có đạo lý hay không, mà nằm ở tâm bạn — tâm bạn đang đứng ở vị trí của yêu thương, hay ở vị trí của sự phân liệt?


Rất nhiều phụ huynh hỏi tôi chuyện con cái đánh nhau, ví như: "Mấy đứa trẻ tranh giành đồ chơi, con tôi lao vào cắn bạn khác, tôi phải làm sao?". Khi cha mẹ hỏi như vậy, năng lượng ẩn sau câu hỏi đã là sự phân liệt rồi — "Con cắn người là sai trái, con phải trở thành một đứa trẻ lễ phép, không gây rắc rối cho tôi, vậy nên xin hãy dạy cho tôi phương pháp cải tạo chuẩn xác". Nhưng vấn đề lại nằm ở chỗ: một khi tâm của cha mẹ xa rời tình yêu thương, họ sẽ không thể nhìn thấy đứa trẻ chân thật nữa. Vào lúc ấy, dẫu cha mẹ có nói gì, làm gì cũng đều trở nên vô nghĩa. Tôi tin rằng rất nhiều cha mẹ từng có trải nghiệm này: càng nghiêm khắc dạy bảo con không được đánh nhau, con lại càng hay đánh bạn, những đứa trẻ tính khí bướng bỉnh thậm chí còn tự làm tổn thương chính mình.


Vậy thì, hành xử khi đứng ở vị trí của tình yêu sẽ như thế nào? Tình yêu là nhìn thấy đứa trẻ chân thật. Chỉ khi buông bỏ ý niệm muốn cải tạo con, ta mới có thể nhìn thấy con người thật của con, nhìn thấy những cảm xúc và rung động ẩn sau hành vi đánh nhau ấy. Trẻ con xô xát, đùa nghịch đôi khi chỉ là một trò chơi; đánh nhau xong, chẳng cần người lớn can thiệp, ba phút sau đã lại làm hòa. Có những đứa trẻ sở dĩ cắn người, ẩn sâu bên dưới có thể là nỗi sợ hãi: sợ món đồ chơi của mình bị tước đoạt, sợ bản thân không đủ năng lực tự bảo vệ mình. Những đứa trẻ như vậy, có lẽ từ thuở ấu thơ đã từng nếm trải quá nhiều cảm giác bất lực và sợ hãi do bị tước đoạt mà nên.


Khi ta nhìn thấy đứa trẻ chân thật, ta sẽ biết phải dùng tình yêu để hồi đáp ra sao. Đối với đứa trẻ cắn người, hãy để con cảm nhận được rằng mình đang được chở che, được yêu thương bao bọc, dùng tình yêu để làm tan chảy nỗi bất lực và sợ hãi nơi đáy lòng con. Khi những trải nghiệm ấm áp bên trong đứa trẻ ngày một nhiều lên, cảm giác bất lực ngày một ít đi, con tự nhiên sẽ không còn cắn người nữa.


Con vẹt nhà tôi hồi nhỏ rất hay cắn người. Có một lần, nó cắn một đứa bé đến nhà tôi chơi; cụ thể vì sao thì tôi không nhìn thấy, nhưng tôi thấy sau khi cắn người, con vẹt tràn ngập nỗi sợ hãi. Thế là tôi nhờ người khác chăm sóc đứa bé bị cắn, còn mình thì ôm chú vẹt vào phòng ngủ, nhẹ nhàng vỗ về nó và bảo: "Không sao đâu, tao sẽ bảo vệ mày, không sao hết". Tôi đã nhìn thấy con vẹt chân thật, nó đang rất sợ hãi, thế nên tình yêu đã tự nhiên dẫn lối tôi đến vỗ về nó, chứ không phải đi phán xét, giáo huấn hay trừng phạt nó. Chú vẹt này vốn do ấp nhân tạo mà nở ra, vô cùng thiếu cảm giác an toàn; điều tôi có thể làm là gắng hết sức dùng yêu thương để làm tan biến nỗi sợ của nó. Cùng với sự gia tăng của cảm giác an toàn, số lần nó cắn người ngày càng ít dần.


Nhưng trong một trường hợp, con vẹt vẫn sẽ bay tới cắn người, đó là khi nó bị bắt nạt. Quả thực có một số đứa trẻ chưa hiểu chuyện sẽ chủ động trêu chọc nó, và nếu đứa trẻ bị cắn, điều đó thực sự sẽ mang lại rắc rối cho tôi. Thế là tôi liền nói với chú vẹt: "Tao đưa mày xuống khu dân cư đi dạo, nếu có đứa trẻ nào trêu chọc mày, mày đừng cắn người có được không? Vì như thế sẽ khiến tao rất khó xử lý đấy". Sau lần đó, có một hôm, chú vẹt đang đậu nghỉ trên lan can khu chung cư, một đứa bé chạy lại trỏ ngón tay chỉ trỏ, nói những lời rất không thân thiện. Tôi nhắc nhở đứa bé đừng trêu chọc con vẹt, nó sẽ cắn đấy; đứa bé lùi lại vài mét, nhưng vẫn tiếp tục chỉ trỏ. Đúng lúc ấy, chú vẹt vút bay tới, đứa bé lập tức ôm trán khóc òa lên, bảo vẹt cắn mình. Mẹ đứa bé vội chạy lại xem xét, thì thấy trên trán chẳng hề có một vết thương nào. Hóa ra chú vẹt chỉ bay tới húc nhẹ vào đứa bé chứ không hề cắn. Nó vừa trút được cơn giận của mình, lại không gây rắc rối cho tôi; tôi thực sự khâm phục trí tuệ của nó. Chú vẹt sở dĩ hiểu lòng người, sẵn lòng phối hợp với tôi, là bởi vì tôi hầu như chưa từng phán xét nó, luôn luôn thấu hiểu và chở che cho nó, nên tự nhiên nó cũng sẵn lòng thấu hiểu và bảo bọc tôi.


Động vật còn như thế, huống chi là những đứa trẻ giàu trí tuệ hơn? Cha mẹ và con cái tựa như những hạt lượng tử vướng víu (lượng tử rối), nếu nội tâm của cha mẹ không có sự phân liệt, sợ hãi và xung đột, thì biểu hiện bên ngoài của đứa trẻ cũng sẽ chẳng phải là xung đột và đối lập. Đứa trẻ là tấm gương phản chiếu nội tâm của cha mẹ; bất kỳ vấn đề nào cha mẹ nhìn thấy nơi con cái đều có thể dùng để phản quan nội chiếu (soi rọi lại chính mình). Khi cha mẹ hóa giải được sự phán xét và đối lập bên trong mình, đứa trẻ sẽ chẳng còn vấn đề gì nữa.


Trước khi cất lời đối diện với con cái hay người thân, chúng ta có thể chậm lại một chút, tự lắng lại quán chiếu tâm mình: liệu ta đang đứng ở vị trí của yêu thương, hay ở vị trí của sự phân liệt? Lời nói một khi thốt ra, sẽ khiến mối quan hệ trở nên gần gũi hơn, hay lại càng thêm xa cách? Kỳ thực, sâu thẳm trong tim ta đều đã biết rõ câu trả lời. Giữa dòng đời, hãy chậm rãi tỉnh thức nhận biết xem nội tâm mình đang là hợp nhất hay phân liệt, đang ở trong tình yêu hay đang ở trong nỗi sợ hãi — đó chính là con đường giải thoát.


03 Cha mẹ vững chãi là nguồn cội sức sống của con trẻ


Chúng ta có thể lựa chọn để bản thân dần trở thành một con người vững chãi, có thể đón nhận xung đột, cũng có thể đón nhận sự hòa giải. Chúng ta cũng có thể lựa chọn để cho ý chí tự do được nở rộ trong các mối quan hệ, học cách thương lượng và thỏa hiệp ngay trong mối quan hệ ấy.


Ở Luân Đôn có một trung tâm phân tâm học nổi tiếng tên là Trung tâm Tavistock (Tavistock Centre). Một nhà phân tâm học từng tu nghiệp nhiều năm tại đây chia sẻ rằng, điều giúp ích nhiều nhất cho sự trưởng thành của mình chính là "nhóm động lực" (dynamic group / nhóm trị liệu động lực). Đây là một phương thức trị liệu tâm lý áp dụng cho tập thể, nó cho phép các thành viên tự do bộc lộ mô thức quan hệ nội tâm của mình trong nhóm, sau đó tiến hành nhận biết (quán chiếu), hồi đáp lẫn nhau, từ đó mà có được sự trưởng thành.


Trong nhóm động lực kéo dài suốt nhiều năm, vị chuyên gia phân tâm học này hầu như ngày nào cũng cùng các thành viên khác phóng chiếu lẫn nhau, xung đột lẫn nhau, nhìn bề ngoài tựa như những cuộc cãi vã thường ngày trong đời sống. Ông nói mỗi lần "cãi" xong bản thân đều vô cùng lo lắng, ngỡ rằng mối quan hệ này thế là tan vỡ rồi; thế nhưng ngần ấy năm trôi qua, mối quan hệ giữa mọi người vẫn cứ tốt đẹp. Điều này đối với ông là một sự chữa lành vô cùng to lớn.


Mối quan hệ vốn không mong manh dễ vỡ như chúng ta tưởng. Đối phương chẳng hề mong manh như thế, và chúng ta cũng chẳng hề yếu ớt đến vậy; nhờ đó mà vị chuyên gia phân tâm học này mới không cần phải sống một cách căng thẳng, cẩn trọng quá mức, có thể tự tại hơn, chân thật hơn làm chính mình, và mối quan hệ với người khác cũng trở nên dễ chịu, buông lỏng hơn.


Phần lớn chúng ta trong thời thơ ấu đều chưa từng được trải nghiệm tính dẻo dai linh hoạt của các mối quan hệ, mà trái lại đã trải qua quá nhiều sự "nâng quan điểm", "xé chuyện bé ra to". Cha mẹ tựa như những vật phẩm dễ cháy dễ nổ, vô cùng mong manh; hễ đứa trẻ có chút chuyện cỏn con không như ý cha mẹ, họ sẽ lập tức bị "châm ngòi". Chẳng hạn như con thi cử điểm không tốt, người cha liền nổi trận lôi đình, người mẹ thì than khóc nỉ non: "Cái nhà này hết hy vọng rồi, sống sao nổi nữa đây".


Có những đứa con dẫu đã lớn khôn, đã đi làm và lập gia đình, cha mẹ vẫn tiếp tục diễn vở kịch "anh/chị không làm theo ý tôi thì tôi sẽ tỏ ra thê thảm, đáng thương cho anh/chị xem". Bởi thế mà có không ít người than thở: "Tôi muốn làm chính mình, muốn bảo vệ ranh giới của mình, muốn ở riêng không sống cùng cha mẹ, nhưng họ quả thực rất đáng thương, về già không nơi nương tựa, sức khỏe lại yếu, làm sao tôi mở miệng nói cho đành?".


Bên cạnh tôi có một người bạn thân như vậy: mẹ anh ấy cứ nằng nặc đòi ở chung với anh, mỗi lần anh ngỏ ý muốn mẹ về quê sống cùng bố thì bà lại gặp chuyện: đổ bệnh, thậm chí còn ngã gãy xương, khiến cho người con trai mang mặc cảm tội lỗi vô cùng nặng nề. Những bậc cha mẹ như vậy thực sự quá đỗi mong manh yếu ớt, yếu ớt đến mức đứa con chỉ có thể sống theo ý nguyện của cha mẹ. Họ không có một cái tôi hoàn chỉnh, cần phải ký sinh lên người con, xem con cái như một phần của chính mình để sử dụng, bòn rút năng lượng của con. Một khi đứa con muốn vạch rõ ranh giới với cha mẹ, cự tuyệt việc bị kiểm soát, cha mẹ liền sẽ héo hon, khô héo. Còn nếu đứa con biết nghe lời, ngoan ngoãn ở cùng cha mẹ, cha mẹ sẽ trở nên tươi tỉnh, tràn đầy sinh khí, nhưng đứa con thì lại ngày càng u uất, suy kiệt và bất lực.


Vậy thì, một người cha người mẹ vững chãi sẽ như thế nào?


Cha mẹ vững chãi (kết thật), khi con còn nhỏ, bất luận con thể hiện ra trạng thái hay hành vi nào, họ đều không cảm thấy mình bị tổn thương. Cha mẹ có thể bị đứa trẻ chọc giận, sinh ra cảm xúc tiêu cực, nhưng cảm xúc ấy chỉ là phản ứng ngay tại khoảnh khắc đó mà thôi, hoàn toàn không phá vỡ bản chất mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái, cha mẹ cũng không vì thế mà đắm chìm vào những "vở kịch nội tâm" không dứt ra nổi. Cha mẹ vững chãi, khi con cái khôn lớn rời xa vòng tay gia đình, sẽ không vì thế mà đánh mất đi trọng tâm đời mình, họ vẫn có cuộc sống của riêng mình. Đoàn tụ cùng con cái cố nhiên là niềm vui, nhưng không phải ngoài chuyện đó ra là cuộc đời chẳng còn niềm vui nào khác.


Cha mẹ vững chãi chính là lời chúc phúc tuyệt vời nhất cho sức sống của đứa con. Đứa trẻ sẽ nhận ra rằng: "Mình tràn trề sinh lực lớn lên, làm chính mình, sẽ chẳng làm tổn thương ai cả; sức sống của mình được thế giới này hoan nghênh chào đón; mình có thể trọn vẹn đi kiến tạo những trải nghiệm cuộc đời mà mình mong muốn, không cần phải cõng cha mẹ trên lưng mà tiến bước, không cần phải ôm lòng áy náy, tội lỗi với cha mẹ".


Còn có một kiểu cha mẹ mong manh khác: nhìn bề ngoài họ không hề kiểm soát hay áp đặt mạnh mẽ, nhưng năng lượng tự thân của họ lại cực kỳ thấp. Mỗi ngày gắng gượng duy trì ba bữa cơm, đi làm về, làm xong những việc nhà cơ bản nhất đã là quá đỗi chật vật, hầu như chẳng còn chút năng lượng và nhiệt tình nào để hồi đáp con cái. Lâu dần, nhu cầu của đứa trẻ không nhận được sự đáp lại, con sẽ dần cảm thấy: "Mình muốn chơi đùa cùng bố mẹ, khóc lóc mè nheo mong cầu sự chú ý của bố mẹ, những nhu cầu này thật đáng xấu hổ. Bố mẹ đã quá vất vả rồi, để lo cho cái ăn cái mặc của mình họ đã dốc cạn kiệt sức lực. Nếu mình vẫn không biết đủ mà còn đòi hỏi hết cái này đến cái khác, thì đúng là kẻ không có lương tâm".


Nhưng vấn đề là ở chỗ, có nhu cầu tình cảm đối với cha mẹ, khao khát tương tác với cha mẹ và nhận được sự hồi đáp nhiệt tình, đó là nhu cầu cảm xúc hết sức bình thường của một con người! Chỉ vì sức sống tự thân của cha mẹ quá yếu ớt, hoặc mọi tâm sức đều đã bị tiêu hao cho sự sinh tồn cơ bản, đứa trẻ mới lấy nhu cầu của mình làm xấu hổ, cảm thấy việc cất tiếng hướng ra bên ngoài là điều hổ thẹn, chuyện gì cũng tự mình gánh vác, hễ có thể không nhờ vả ai thì tuyệt đối không nhờ vả.


Đứa trẻ lớn lên như vậy sẽ không biết cách từ chối người khác, không dám bộc lộ tính công kích của mình, không thể bảo vệ ranh giới của bản thân. Con sẽ mang tâm lý phóng chiếu rằng người khác ai ai cũng mong manh yếu ớt: "Mình không thể đưa ra yêu cầu với người khác, không được làm phiền người ta, càng không được công kích người ta, lỡ như đối phương không chịu nổi thì sao". Vì thế, người đó thường vô duyên vô cớ gánh vác chuyện của người khác, sống một đời cẩn trọng, khép nép, e dè.


Ở đây có một điểm rất đáng lưu tâm: cái mà anh ta tự cho rằng mình cần phải gánh vác thay người khác, thực chất phần nhiều không phải là hiện thực, mà chỉ là sự phóng chiếu của chính anh ta mà thôi. Nói cách khác, anh ta đã phóng chiếu đối phương thành người cha người mẹ yếu ớt của mình, cảm thấy cần phải gánh vác thay cho họ, nhưng đối phương rất có thể hoàn toàn chẳng có nhu cầu đó.


Đứa trẻ lớn lên theo cách này, trên người thường toát ra sự oán khí (nỗi oán hờn, ấm ức ngấm ngầm). Bởi vì nhu cầu chân thật của bản thân bị đè nén trong thời gian dài, nên tỏa ra oán khí; bởi vì không thể từ chối người khác, nên tỏa ra oán khí; rồi cuối cùng lại vì mang oán khí, người đó buộc phải càng thêm đè nén chính mình, vì oán khí đều là thứ độc hại, nếu phát tiết ra làm tổn thương người khác thì sao? Cứ như thế tuần hoàn lặp đi lặp lại, rốt cuộc hình thành nên một hệ thống phòng thủ dị thường kiên cố, sinh khí bị phong ấn, và "người tốt kiểu Trung Quốc" (Trung Quốc thức hảo nhân) ra đời.


"Người tốt kiểu Trung Quốc" nhìn bề ngoài rất sốt sắng giúp đỡ người khác, gần như sẽ nhận lời mọi thỉnh cầu, nhưng thẳm sâu trong lòng họ thực ra lại chẳng hề tình nguyện muốn làm vừa lòng đối phương. Cho nên những "người tốt" này có một đặc điểm chung, đó là thói trì hoãn (chần chừ, dây dưa). Tuổi càng lớn, oán khí tích tụ càng nhiều, sự trì hoãn lại càng thêm trầm trọng.


Bậc cha mẹ hư nhược, bất lực về mặt tình cảm sẽ khiến con trẻ cảm thấy việc đưa ra những nhu cầu bình thường là một điều vô cùng xấu hổ. Cảm giác hổ thẹn (tu sỉ cảm) này khắc sâu nơi tầng sâu tiềm thức, "người tốt" thông qua cách thức không đưa ra yêu cầu để tránh việc phải nếm trải cảm giác xấu hổ ấy. Thế rồi trong các mối quan hệ, họ lại thông qua sự trì hoãn để đối phương nếm trải sự xấu hổ này: Anh cần tôi, nhưng tôi cứ không đáp lại đấy; nếu anh thỉnh cầu tôi thêm lần nữa, anh nhất định sẽ vì cái chuyện "anh cần tôi" mà cảm thấy xấu hổ khôn cùng. Cứ như vậy, "người tốt" đã thành công chuyển giao cảm giác xấu hổ vốn bị đè nén sâu thẳm trong tiềm thức của chính mình sang cho người khác.


Nếu chúng ta không may mắn có được những người cha người mẹ chưa vững chãi, thì ta phải tự học cách phân định ranh giới — tôi là tôi, người khác là người khác; mỗi một người, dẫu kiên cường hay yếu mềm, đều phải tự chịu trách nhiệm cho cuộc đời của chính mình, và cũng chỉ có thể chịu trách nhiệm cho cuộc đời của chính mình mà thôi. Chúng ta có thể lựa chọn để bản thân dần trở thành một con người vững chãi, có thể đón nhận xung đột, cũng có thể đón nhận hòa giải. Chúng ta cũng có thể lựa chọn để cho ý chí tự do được nở rộ trong các mối quan hệ, học cách thương lượng và thỏa hiệp ngay trong mối quan hệ ấy.


Ví như trong mối quan hệ với cha mẹ, trường hợp xấu nhất là ta chọn quay về làm chính mình và cha mẹ vì thế mà đau đớn chẳng muốn sống tiếp. Khi ấy, chúng ta cũng cần phải thấu tỏ rằng: nỗi đau khổ của cha mẹ là trải nghiệm mà chính linh hồn họ lựa chọn mong muốn, chúng ta chỉ có thể tôn trọng họ "như họ vốn là" (như kỳ sở thị), không đối kháng so kè, không tìm cách cải tạo, không mong cầu biến cha mẹ thành dáng vẻ mà ta cho là "nên như thế". Cho phép cha mẹ có đủ mọi cảm xúc, nhưng không cần phải chịu trách nhiệm thay cho cảm xúc của họ, đồng thời để bản thân sống một cuộc đời khác biệt với họ. Đây là sự "thí phụ thí mẫu" (giết cha giết mẹ) trên bình diện tinh thần, nhưng đồng thời cũng là thái độ chan chứa lòng từ bi nhất đối với các đấng sinh thành.


Tôi từng dẫn dắt một nhóm trưởng thành nội tâm; có một học viên đã tự mình nhận thức, quán chiếu về đủ mọi "vở kịch" trong quá trình trưởng thành của bản thân, trong đó có một vở kịch xoay quanh lý do vì sao cô lại phát tướng béo phì. Cô phát hiện ra rằng, hóa ra việc phát tướng lại là một sự tự trừng phạt bản thân, trừng phạt việc mình được sống hạnh phúc: vợ chồng ân ái mặn nồng, con cái đáng yêu, kinh tế gia đình cũng rất khá giả. Những niềm hạnh phúc ấy khiến cô nảy sinh cảm giác tội lỗi, bởi vì mẹ cô cả đời sống trong oán hờn cay đắng, hoàn toàn cách biệt với hạnh phúc, vậy mà nay bản thân cô lại có thể sống êm đềm thuận lợi đến thế.


Cho nên, chính vào những lúc cuộc sống êm ấm dễ chịu nhường ấy, cơ thể cô bắt đầu phát tướng. Sau khi có được sự giác ngộ này, cô bắt đầu yêu thích việc dọn dẹp, mỗi ngày đều chăm chút nhà cửa tinh tươm, ngăn nắp đẹp đẽ. Còn trước đây, cô vô cùng kháng cự chuyện làm việc nhà, vì trong quá khứ mẹ cô cứ mỗi lần làm việc nhà là lại oán khí ngút trời. Người học viên này đã nhìn thấu "vở kịch" của chính mình, đắm mình trong niềm hỷ lạc to lớn và sự giải phóng năng lượng mạnh mẽ; chiếc xiềng xích mang nặng ngần ấy năm cuối cùng cũng được tháo dỡ — cô hoàn toàn có thể "phản bội" mẹ để tận hưởng cuộc đời của chính mình, sống trọn vẹn niềm hạnh phúc của riêng mình!


Nếu thời thơ ấu chúng ta không có được những người cha người mẹ vững chãi, thì cũng chẳng sao cả, chúng ta có thể làm người cha, người mẹ tốt nhất của chính mình. Hãy tái nuôi dưỡng bản thân, nuông chiều và yêu thương chính mình, để sức sống bất tận cuộn trào, và trực tiếp dấn thân trải nghiệm cuộc đời mà ta hằng mong muốn.


04 Đằng sau xung đột quan niệm nuôi dạy con là đấu tranh quyền lực gia đình


Sự xung đột về quan niệm nuôi dạy con giữa vợ chồng, nhìn trên bề mặt là quan niệm khác nhau, nhưng thực chất mổ xẻ sâu vào bên trong, chẳng qua là một loại đấu tranh quyền lực — trong quá trình nuôi dạy con, rốt cuộc ai chiếm thượng phong, ai là người có quyền lực giáo dục con cái hơn.


Có một người mẹ nói với tôi: "Thưa cô Lý Tuyết, em rất đồng thuận với quan niệm nuôi dạy con của cô, em cũng dùng tình yêu và tự do để đối đãi với con, thế nhưng chồng và người già trong nhà lại hoàn toàn khác quan niệm với em, thường xuyên nảy sinh xung đột, phải làm sao đây?" Cô ấy còn đưa ra một ví dụ: Chồng không chịu nói chuyện tử tế với con, hở ra một tí là quát tháo con, cô ấy lo lắng con sẽ bị tổn thương về mặt tâm lý, thế là tìm chồng để nói lý lẽ, kết quả hai người nảy sinh xung đột. Người mẹ này hỏi tôi: "Rốt cuộc là em nên bảo vệ đứa trẻ, hay là nên nhẫn nhịn một chút để tránh nảy sinh xung đột với chồng?"


Thực ra, bên trong điều này ẩn chứa một dục vọng cải tạo rất kinh điển — "Tôi muốn cải tạo chồng, khiến anh ấy phải có quan niệm nhất trí với tôi". Người mẹ có thể sẽ cảm thấy tủi thân: "Em không phải muốn cải tạo chồng, mà là lo lắng cho sức khỏe tâm lý của con mà!" Nếu thực sự chỉ là quan tâm đến đứa trẻ, vậy thì khi người chồng quát tháo con, người mẹ trước tiên phải đi quan sát đứa trẻ, xem cảm nhận cảm xúc của nó — có cảm thấy sợ hãi hay đau buồn hay không. Nếu đứa trẻ cần, mới đi vỗ về xoa dịu, chứ không phải bỏ mặc đứa trẻ mà trực tiếp đi tìm chồng để nói lý lẽ.


Tôi từng gặp rất nhiều ví dụ như thế này: người mẹ cho đứa trẻ đầy đủ tình yêu và sự tự do, cảm giác ranh giới của đứa trẻ vô cùng rõ ràng. Khi đứa trẻ bị bố quát, mẹ hỏi con có cảm nhận thế nào, đứa trẻ nói: "Không có chuyện gì đâu ạ, con biết đó là cảm xúc của riêng bố, không liên quan đến con. Bố phê bình con, thực ra là vì nội tâm của chính bố đang đau khổ." Xem kìa, đứa trẻ như vậy trí tuệ biết bao, trung tâm nội tại của nó vững chắc biết bao! Nó căn bản không cần mẹ phải thay nó đi giải quyết những xung đột ngoại tại này.


Cho nên, nếu người mẹ thực sự quan tâm đến đứa trẻ, thì sẽ không ngay lập tức đi nảy sinh xung đột với chồng, mà sẽ quan tâm và hồi đáp đứa trẻ, nhìn thấy con người thật của con. Trừ phi xảy ra tình huống đặc biệt nghiêm trọng, ví như có người đang làm tổn thương thân thể của đứa trẻ, khi ấy người mẹ mới cần lập tức xông lên để bảo vệ con.


Còn về sự xung đột quan niệm nuôi dạy con giữa vợ chồng, nhìn trên bề mặt là quan niệm khác nhau, thực chất mổ xẻ sâu vào bên trong, chẳng qua là một loại đấu tranh quyền lực — trong quá trình nuôi dạy con, rốt cuộc ai chiếm thượng phong, ai có quyền lực giáo dục con hơn. Cảm giác quyền lực này, thông thường còn quan trọng hơn cả việc cụ thể là đang nắm giữ quan niệm nuôi dạy con nào. Đôi khi vì để giành lấy quyền lực, một bên trong vợ chồng sẽ liều mạng đi bảo vệ một lý luận mà ngay cả bản thân cũng chưa chắc đã tin tưởng, chỉ cốt để tranh giành thắng thua, áp đảo đối phương.


Tranh đoạt quyền lực có rất nhiều thủ đoạn, ví như bạo lực, bao gồm bạo lực về mặt thể xác: "Anh không nghe tôi, tôi sẽ làm thể xác anh bị thương"; hoặc lợi dụng vị thế ưu thế về kinh tế: "Cô không làm theo ý muốn của tôi, tôi sẽ khiến cô bị tổn thất về vật chất"; hoặc lại lấy vốn liếng đạo đức ra để uy hiếp: "Tôi vì anh mà hy sinh nhiều như vậy, anh bắt buộc phải nghe tôi". Đây đều là những thủ đoạn tranh đoạt quyền lực rất rõ ràng, rất nhiều cặp vợ chồng đều hiểu rõ trong lòng.


Còn có một phương thức tranh đoạt quyền lực ẩn giấu hơn, phương thức này kín đáo đến mức có thể ngay cả bản thân người tranh đoạt cũng không ý thức được, đó chính là "Tôi đúng đắn hơn, anh/cô nên nghe theo tôi". Niềm tin này không chỉ vô cùng phổ biến trong gia đình, mà ngoài xã hội cũng có thể bắt gặp ở khắp mọi nơi.


Ví như, thời kỳ Chiến tranh thế giới thứ hai, phát xít Đức cho rằng tiêu diệt người Do Thái là đúng đắn, cho nên mỗi một người Đức hễ nhìn thấy người Do Thái thì đều nên tố giác. Lại như, chính phủ Mỹ từng cho rằng uống rượu là không đúng, đã ban bố lệnh cấm rượu, kết quả đã tạo nên sự kiện tử vong do nghiện rượu có quy mô lớn nhất trong lịch sử và sự phồn vinh chưa từng có của giới xã hội đen. Học giả nổi tiếng Friedrich Hayek trong cuốn sách Đường về nô lệ từng nói: "Trên con đường dẫn tới địa ngục trải đầy thiện ý, những thiện ý này chính là sự đúng đắn mà chúng ta tự cho là." Bạn cho rằng điều gì là đúng đắn rồi tự mình đi thực hiện, điều này không có vấn đề gì. Nhưng nếu bạn đem sự đúng đắn tự cho là ấy cưỡng ép lên người khác, vậy thì đó chính là con đường dẫn tới địa ngục rồi.


Trong gia đình, có những bậc phụ huynh sẽ cho rằng: "Tôi đã học giáo dục học, tâm lý học, quốc học... Tôi là đúng đắn, cho nên anh/cô nên nghe theo tôi." Cách nghĩ này thông thường ẩn giấu một quỹ đạo: Tôi rõ ràng là muốn anh/cô khuất phục tôi, nhưng tôi sẽ không nói thẳng ra như thế. Tôi sẽ nói điều mình nói là tư tưởng của bậc tiền triết nào đó, quan niệm của chuyên gia nào đó, là đạo lý đúng đắn khoa học tiên tiến nhất. Anh/cô không đồng ý điều tôi nói, chính là phỉ báng bậc tiền triết, hoài nghi chuyên gia, là sẽ không có được hạnh phúc. Cứ như vậy, họ đem quan điểm của mình đánh đồng với quan điểm của bậc tiền triết, đem bản thân mình đánh đồng với bậc tiền triết. Nhưng vấn đề là, ngay cả bản thân bậc tiền triết cũng chưa từng nói mình là đúng đắn duy nhất, càng không đi nguyền rủa những người có quan điểm bất đồng sẽ gặp phải bất hạnh.


Trước đây khi tôi dẫn dắt các lớp thực hành (workshop), lúc bắt đầu và kết thúc tôi đều nhấn mạnh: Quan niệm mà tôi giảng dạy, công dụng duy nhất là để tự mình nhận biết, tự mình trưởng thành, đừng đem ra để yêu cầu người khác, đặc biệt đừng đi yêu cầu bạn đời và cha mẹ.


Từng có một học viên nói rằng, cô ấy nghe một đoạn lời nói của tôi cảm thấy rất tâm đắc, thế là đem lời tôi nói không đổi một chữ nào nói lại cho chồng nghe, kết quả là chồng rất tức giận, cô ấy cảm thấy vô cùng khó hiểu. Nguyên nhân thực ra rất đơn giản: Khi tôi nói là tôi đang chia sẻ chặng đường nội tâm của chính mình, hoàn toàn không muốn thay đổi học viên; nhưng học viên khi về nhà thuật lại cho chồng, mục đích lại là thay đổi người chồng. Bề mặt ngôn ngữ nói như thế nào không quan trọng, dẫu cho một chữ cũng không đổi, thì năng lượng truyền tải đằng sau vẫn là: "Tôi là đúng đắn, anh là sai trái; tôi cao minh hơn anh, cho nên anh nên sửa đổi". Có ai lại thích bị dán lên cái nhãn sai trái? Cho nên, cô ấy càng nói chồng, người chồng lại càng ra sức phản kháng để chứng minh bản thân không sai, và càng kiên trì hơn với niềm tin vốn có của mình. Ví như, người vợ rất đồng thuận với việc cho con tình yêu và tự do, vốn dĩ người chồng đối với quan niệm này cũng có phần tán đồng, nhưng qua một hồi phân bua lý lẽ và phán xét của người vợ, anh ấy vì để phản kháng vợ, ngược lại sẽ dốc toàn lực đi bảo vệ bài cũ của chính mình.


Một người nếu thực sự đi thực hành tình yêu và tự do, thì sẽ không đi phán xét, không đi cải tạo người khác, mà sẽ lựa chọn lắng nghe và nhìn thấy. Dùng phương thức như vậy để đối đãi với bạn đời của mình, chỉ cần bạn đời cảm nhận được sự tôn trọng, được nhìn thấy, không cần phải giảng giải bất kỳ đạo lý nào, người đó tự nhiên sẽ tán đồng bạn, và trong sự mưa dầm thấm lâu sẽ cùng bạn trưởng thành. Đã có mấy học viên phản hồi rằng, ban đầu chồng không tán thành quan niệm tình yêu và tự do, nhưng sau này nhìn thấy người bạn đời của mình ngày càng bình hòa, vui vẻ, liền nảy sinh lòng hiếu kỳ đối với quan niệm của Lý Tuyết, chủ động yêu cầu đọc sách học tập.


Đương nhiên, cũng có một khả năng, đó là bất luận bạn tôn trọng ranh giới, lắng nghe bạn đời ra sao, đối phương vẫn cứ cố thủ, khép kín trong thế giới của riêng mình. Vậy thì, mối quan hệ của hai người cũng sẽ không thể lâu bền. Nói cách khác, trong một mối quan hệ, nếu mức độ tiến triển linh hồn của một bên cao hơn rất nhiều so với bên kia, thì mối quan hệ này cũng sắp sửa đi đến hồi kết thúc. Mà bên trưởng thành nhanh hơn kia, sống một mình sẽ càng phong phú dồi dào hơn; nếu bước vào một mối quan hệ tiếp theo, thứ có được cũng sẽ là một mối quan hệ nuôi dưỡng lẫn nhau.


Quan niệm giáo dục không nhất trí, điều này rất bình thường. Nếu chúng ta vì việc này mà nảy sinh cảm xúc, vừa vặn có thể mượn cơ hội này để nhận biết dục vọng cải tạo đằng sau cảm xúc đó, và tự thăm hỏi bản thân ở tầng sâu hơn: Vì sao dục vọng này lại bám rễ sâu bền đến như vậy?





 
 
 

Bài đăng gần đây

Xem tất cả
Chương 5: Trường năng lượng sinh tử trong gia đình

01 Năng lượng sinh tử: Sự quán chú bản năng của cha mẹ lên con cái Bản năng sống, ban sơ đến từ sự “nhìn thấy” của cha mẹ dành cho đứa con: “Ba mẹ bằng lòng hồi đáp con, thỏa mãn con”; còn bản năng ch

 
 
 
Chương 4: Kết nối với bản chất của sự vật

01 Tách rời kịch bản, thay đổi mô thức quán tính Khi một người không còn đồng nhất bất kỳ vai diễn kịch bản nào thành chính mình, liền sẽ phát hiện ra chân tướng tối hậu: "Tôi" kỳ thực vốn không tồn t

 
 
 

Bình luận


bottom of page