Chương 5: Trường năng lượng sinh tử trong gia đình
01 Năng lượng sinh tử: Sự quán chú bản năng của cha mẹ lên con cái
Bản năng sống, ban sơ đến từ sự “nhìn thấy” của cha mẹ dành cho đứa con: “Ba mẹ bằng lòng hồi đáp con, thỏa mãn con”; còn bản năng chết, đến từ việc khi chúng ta hướng ra ngoài để vươn mình mở rộng bản thân, lại gặp phải những hành vi cắt đứt dòng năng lượng, phán xét dục cầu, và chối từ hồi đáp tình cảm của chúng ta.
Chiếc SUV của Tesla có một tính năng ẩn thú vị — cánh cửa chim ưng có thể chuyển động lên xuống nhịp nhàng theo điệu nhạc và ánh sáng, hiệu ứng vô cùng mãn nhãn. Có một ngày, tôi biểu diễn tính năng này cho người bạn xem trên đường phố. Đúng lúc ấy, mấy em học sinh cấp hai đạp xe ngang qua, các em liền dừng lại ngắm nhìn, đến khi kết thúc thì rất tự nhiên mà reo hò lớn tiếng, vỗ tay tán thưởng; trong khi tôi và người bạn chỉ mỉm cười một cái. Thân thể chúng tôi cứng đờ; đối diện với những điều tốt đẹp, dẫu trong lòng cũng thích, nhưng chúng tôi chỉ biết cười mỉm, hoặc thốt lên một câu tán thưởng rỗng tuếch: “Tuyệt thật đấy”. Mấy em học sinh kia dường như mới là những con người tự do thực sự, có thể biểu đạt tình cảm một cách thông suốt, tự nhiên. So với các em, chúng tôi chẳng khác nào đang khoác lên mình một lớp áo giáp sắt nặng nề, ngay cả biên độ biểu lộ cảm xúc cũng không thể mở ra quá lớn. Điều đó khiến tôi cảm thấy thật bi ai.
Mỗi người chúng ta khi giáng sinh vào đời đều tươi mới, tràn trề nhựa sống; nhưng chẳng biết tự bao giờ, chúng ta đã học cách đúc mình vào bên trong lớp vỏ sắt, phong kín bản thân lại.
Chuyên gia tư vấn tâm lý Trương Hoành Đào từng miêu tả trong một bài viết của mình một cảnh tượng thế này: Ở đầu thôn, có một cậu bé hơn hai tuổi đang ngồi ăn sáng. Cậu bé vốn hiếu động không chịu ngồi yên, cố làm một động tác có độ khó cao, kết quả là va phải cạnh bàn rồi òa khóc. Người cha liền mắng mỏ: “Sau này còn dám làm trò nghịch ngợm nữa không?” Cậu bé vừa khóc vừa bảo: “Không dám nữa ạ.” Lúc này người mẹ lại bồi thêm: “Lớn ngần này rồi mà sao vẫn không hiểu chuyện thế hả, còn khóc cái gì?” Đoạn, cả bố lẫn mẹ cùng đồng thanh: “Con nhìn xem con nhà người ta kìa, đều đang ngồi yên lặng ăn cơm đàng hoàng, có ai như con không?” Một bà cụ ngồi bên cạnh nghe thấy thế, bụng nghĩ “người ta đang khen cháu gái mình ngoan đấy”, liền lộ vẻ tự hào, nhìn bé gái đang ngoan ngoãn ngồi ăn bên cạnh. Bà thò tay múc một thìa canh, lớn tiếng bảo với đứa bé: “Há miệng ra!”
Cảnh tượng tưởng chừng hết sức bình thường này, nghĩ kỹ lại thực sự chẳng khác nào một bộ phim kinh dị. Mỗi một lần năng lượng sống tự phát của đứa trẻ vươn mình duỗi nở, đều bị người lớn nhẫn tâm bóp nghẹt từ trong trứng nước. Đứa bé trai hơn hai tuổi ấy đang khám phá thế giới xung quanh, sức sống nội tại thôi thúc em không ngừng thử nghiệm những động tác mới, rèn luyện để bứt phá giới hạn năng lực cơ thể mình. Thế nhưng, em lại phải hứng chịu sự mỉa mai và công kích từ người cha. Đứa trẻ ắt hẳn sẽ thấy tủi thân, đau đớn; khi em vừa định mượn tiếng khóc để giải tỏa phần năng lượng đang bị tắc nghẽn, thì lại bị người mẹ ngăn chặn. Lời của người mẹ chỉ khiến đứa trẻ cảm thấy rằng bộc lộ cảm xúc là một điều đáng xấu hổ, không an toàn, và sẽ bị những người xung quanh tấn công. Cuối cùng, cả cha lẫn mẹ lại hợp lực phán xét đứa trẻ: “Xem xem con nên trở thành người như thế nào, phải như bé gái ngồi bất động bên cạnh kia kìa”. Còn bé gái nọ thì sao? Bà nội ra lệnh há miệng thì em liền há miệng, ngoan ngoãn đón nhận thức ăn, hệt như một cái xác không hồn đã bị tước đoạt đi linh tính.
Điều này làm tôi nhớ lại một giấc mơ mình từng trải qua. Trong mơ, tôi biến thành một con cá khô bị nhét trong chiếc túi lưới. Khi đi ngang qua một dòng sông, nhìn thấy những chú cá tươi tắn, quẫy mình bơi lội dưới làn nước, tôi chợt nhớ ra: “Ngày xưa mình cũng từng là một chú cá tràn đầy sức sống như thế mà”, rồi òa khóc nức nở. Trong giấc mơ, tôi đau đớn đến mức khóc thành tiếng rồi tỉnh giấc, lồng ngực từng cơn co thắt lại. Trưởng thành đến ngày hôm nay, tôi coi như đã có được một môi trường sống tốt đẹp, làm những công việc mình yêu thích: viết văn, giảng bài, thiết kế thời trang, lập trình phần mềm… hơn nữa việc nào cũng làm rất cừ. Trong cuộc sống không còn những mối quan hệ khiến tôi phải thống khổ nữa; sau ngần ấy năm tu tập, những mối quan hệ đau đớn đối với tôi, chuyện gì cần chuyển hóa đã chuyển hóa, mối nào cần cắt đứt đã cắt đứt. Hiện tại, vây quanh tôi đều là những con người biết nhìn thấy nhau, tình cảm linh động, dạt dào. Thế nhưng, để thực sự có được niềm vui sướng hân hoan phát xuất từ tận đáy lòng lại quá đỗi gian nan. Tôi tự mua cho mình một chiếc Tesla, nhưng niềm vui nó mang lại cho tôi lại chẳng bằng mấy đứa trẻ vô tình nhìn thấy nó trên đường phố. Tôi thấu hiểu đủ thứ đạo lý, lại còn đích thân thực hành, rất nhiều xung đột nội tại lẫn ngoại cảnh đều đã tiêu trừ, vậy mà tìm kiếm niềm vui sao vẫn khó khăn đến thế.
Trong tâm lý học thường hay nhắc đến “bản năng sống” và “bản năng chết”, một đời người có thể xem như quá trình so kè, kiềm tỏa và giằng co giữa hai bản năng ấy. Những ai tràn đầy nhiệt huyết với cuộc sống, thích trải nghiệm những điều mới lạ, dễ xúc động, dễ cảm nhận được niềm vui và sự mãn nguyện, chính là những người mà bản năng sống lớn hơn bản năng chết. Ngược lại, là những người mà bản năng chết lấn át bản năng chết.
Cụ thể thì sinh bản năng và tử bản năng là gì? Theo cách hiểu của tôi, sinh bản năng thể hiện ở sự vươn mình của những khát khao nguyên sơ: khát khao đối với vật chất, khát khao đối với các mối quan hệ, khát khao cái đẹp, cùng với khát khao tự do. Trong khi đó, tử bản năng lại thể hiện ở những “vở kịch của tâm trí”, những điều mà đầu óc phán định là nên hay không nên, được phép hay không được phép. Chẳng hạn như, đứa trẻ muốn ăn sô-cô-la, nhưng kịch bản trong đầu người mẹ lại lên tiếng: ăn sô-cô-la rồi thì con sẽ không chịu ăn cơm đàng hoàng nữa, thế nên không thể buông lỏng chiều chuộng nó được. Chính cái kịch bản ấy là tử bản năng; người mẹ thông qua việc kiểm soát chuyện ăn vặt của con, đã trút thứ tử bản năng ấy lên thân tâm đứa trẻ.
Một thân chủ của tôi từng chia sẻ câu chuyện về đứa con của chị. Đứa trẻ này tỳ vị vốn không tốt, thường xuyên đau ốm, nên người mẹ luôn kiểm soát chuyện ăn uống vô cùng gắt gao. Về sau, người mẹ từ tận đáy lòng đã cảm nhận được nỗi thống khổ của đứa con khi bị kìm kẹp, bèn quyết định trao cho con 100% sự tự do. Trong chuyến du lịch Hồng Kông trở về, người mẹ đã cố ý mua tặng con mấy hộp sô-cô-la lớn. Đứa trẻ nhìn thấy nhiều sô-cô-la như vậy, gần như không dám tin vào mắt mình. Người mẹ dùng ánh mắt ngập tràn tình yêu thương dõi theo con, dịu dàng khích lệ: “Tất cả đều là của con, con cứ ăn thoải mái. Trước đây mẹ luôn hạn chế con, là mẹ không đúng. Giờ đây con tự mình quyết định ăn món gì, ăn bao nhiêu. Sau này con muốn ăn thứ gì, mẹ đều sẽ mua cho con, muốn bao nhiêu mua bấy nhiêu.” Đứa trẻ nghe được những lời này, đôi mắt bỗng sáng bừng lên. Một đứa trẻ vốn dĩ vô cùng trầm lặng, ít nói, bỗng chốc trở nên gặp ai cũng cất lời chào hỏi, vui sướng ríu rít như chú chim sẻ nhỏ, lại còn chủ động ngỏ lời muốn mời các bạn cùng chia sẻ sô-cô-la — điều mà trước đây chưa từng xảy ra. Kỳ diệu hơn cả là, kể từ khi hoàn toàn dỡ bỏ mọi giới hạn về đồ ăn vặt, đứa trẻ rất ít khi bị ốm, ăn món gì cũng thấy thơm ngon, thể chất ngày một khỏe mạnh.
Đó chính là sự chuyển biến giữa sinh bản năng và tử bản năng. Đứa trẻ muốn ăn sô-cô-la, trong đó ẩn chứa hai tầng khát khao: một tầng là khát khao đối với bản thân vật chất sô-cô-la; tầng còn lại là khát khao đối với mối quan hệ — mong muốn được người mẹ lắng nghe, hồi đáp và thỏa mãn. Khi người mẹ mang theo tình yêu, thật lòng bằng lòng đáp ứng đứa con, mua cho con mấy hộp sô-cô-la lớn, đó chính là sự quán chú của sinh bản năng. Dưới sự tưới tẩm, rót tràn của sinh bản năng, đứa trẻ tự nhiên sẽ vui vẻ, hân hoan, thích sẻ chia, thích kết nối với mọi người, và cơ thể cũng nhờ thế mà trở nên tráng kiện.
Trước đây cũng có người mẹ than phiền với tôi: “Con tôi mê chơi game, tôi đã làm theo cách của cô, mở hết giới hạn cho con rồi, nhưng nó đã cày game suốt ba ngày liền, mỗi ngày nhìn nó tôi lo đến thắt ruột thắt gan. Tôi cho nó tự do rồi, rốt cuộc chừng nào nó mới học được tính tự giác, tự kỷ luật đây? Liệu nó có chơi mãi như thế rồi không thèm làm bài tập nữa không?” Những người mẹ như vậy, bề ngoài tưởng như đã buông bỏ giới hạn, nhưng thực chất trong tâm can vẫn nắm chặt không buông, không phải thật lòng muốn thỏa mãn con một cách toàn vẹn, cũng chẳng phải thực sự trao cho con tự do. Tâm thức lo âu và kiểm soát ấy quán chú vào đứa trẻ, vẫn chỉ là tử bản năng; nó khiến đứa trẻ không thể tự do kết nối với cơ thể mình, không thể lắng nghe sự chỉ dẫn tinh thần tự bên trong. Dù có cho con vài ngày tự do, đứa trẻ cũng chẳng thể nào an nhiên quay về với nhịp điệu nội tại của chính mình.
Sinh bản năng, ban sơ đến từ sự nhìn thấy của cha mẹ dành cho con cái: “Ba mẹ bằng lòng hồi đáp con, thỏa mãn con”; còn tử bản năng, đến từ việc khi chúng ta vươn mình ra thế giới bên ngoài, lại gặp phải những hành vi ngăn trở dòng năng lượng, phán xét dục cầu, và cự tuyệt hồi đáp tình cảm của chúng ta.
02 Nhận diện sự truyền dẫn bản năng chết trong gia đình
Nếu người mẹ dốc lòng xoa dịu những khó chịu của đứa trẻ, giúp con được kịp thời hồi đáp và đáp ứng, thì bản năng chết trong con sẽ giảm bớt; để rồi dưới sự thôi thúc của bản năng sống, con sẽ vươn mình mạnh mẽ, khám phá thế giới này và tìm kiếm sự thỏa mãn ở một thế giới rộng lớn bao la bên ngoài.
Bản năng chết là khái niệm do Sigmund Freud đề xướng. Ông cho rằng trong mỗi con người đều tồn tại một động lực hướng về cái chết và sự hủy diệt, muốn thoái lui (1) về trạng thái trước khi sinh ra. Bởi lẽ cái chết mới là sự giải thoát tối hậu cho mọi nỗi thống khổ, giải phóng chúng ta một cách triệt để khỏi những căng thẳng, lo âu và sợ hãi.
Bản năng chết vận hành theo hai hướng: một là hướng vào bản thân, hai là hướng về người khác. Bản năng chết hướng vào bản thân, ở mức độ nghiêm trọng sẽ dẫn đến trầm cảm, thậm chí tự sát; còn bản năng chết hướng về người khác lại biểu hiện thành tính công kích, dục vọng hủy diệt — nghĩa là chuyển nguồn năng lượng tự hủy diệt mình sang hủy diệt thế giới bên ngoài.
Đứa trẻ sơ sinh từ tử cung ấm áp, dễ chịu bước ra thế giới bên ngoài là một quá trình vô cùng khó chịu và bất an. Có thể nói, trẻ vừa lọt lòng đã mang theo bản năng chết — khao khát được quay về nơi tử cung tăm tối, nơi từng hòa làm một với người mẹ. Nếu người mẹ dốc lòng giảm thiểu những khó chịu của đứa trẻ, giúp con được hồi đáp và thỏa mãn kịp thời, thì bản năng chết trong con sẽ lắng xuống; từ đó, bản năng sống sẽ thúc đẩy con vươn mình mạnh mẽ, khám phá thế giới xung quanh và hướng ra thế giới bao la bên ngoài để tìm kiếm sự đủ đầy. Nhưng nếu ngay từ khi chào đời đã phải đối diện với sự thờ ơ, lạnh nhạt không lời hồi đáp, đứa trẻ sẽ sinh ra một sức mạnh hủy diệt khổng lồ, muốn tự hủy chính mình lẫn cả thế giới. Đó là lý do vì sao có những bậc cha mẹ trông bề ngoài tính tình rất hiền lành, nhưng đứa con lại vô cùng cáu bẳn, hung hăng; bởi cha mẹ chỉ cần "lãnh cảm" không hồi đáp cảm xúc của con, chẳng cần động tay động chân, bản năng chết trong đứa trẻ đã tự bùng nổ dữ dội, khiến nó sinh lòng thù ghét thế giới một cách cuồng loạn.
Bản năng chết khi hướng vào bản thân sẽ dẫn đến trầm cảm, thậm chí tự vẫn; vì vậy một số người chọn cách phóng chiếu bản năng chết lên người khác — tức là đi hủy hoại người khác. Tình huống này thường diễn ra nhất trong mối quan hệ cha mẹ và con cái, bởi vì đứa trẻ nhỏ bé, yếu ớt, không có khả năng phản kháng, nên dễ trở thành nơi hứng chịu bản năng chết của người lớn trong gia đình nhất. Cha mẹ thường phóng chiếu bản năng chết lên con cái qua hai phương thức:
Cách thứ nhất là kìm hãm sức sống của con trẻ. Một cư dân mạng từng để lại bình luận: “Bố mẹ tôi chẳng hề công kích hay mắng chửi tôi, nhưng tôi luôn thấy sống trên đời chẳng có ý nghĩa gì. Hồi em trai tôi học tiểu học, nó cũng bảo sống thật vô vị. Sau này tôi dần nhận ra, tuy bố mẹ không lộ rõ sự công kích, nhưng con cái hễ muốn làm bất cứ điều gì cũng không nhận được sự ủng hộ; chúng tôi chỉ được phép sống theo một khuôn mẫu duy nhất, mọi sự thử nghiệm khác đều bị cảnh cáo, hủy bỏ. Cuộc sống như thế quả thực không hề có một chút sinh khí nào.” Với những bậc cha mẹ như vậy, cách họ phóng chiếu bản năng chết là: con không được phép có bất kỳ hướng vọng nào về những điều tốt đẹp, không được nhen nhóm nhiệt huyết; con phải cẩn trọng từng li từng tí như cha mẹ, nép mình sống trong quỹ đạo định sẵn. Trong những gia đình ấy, dưới mắt nhìn của cha mẹ, sinh khí chính là tội lỗi, tất cả mọi người đều phải cùng nhau hóa đá, đông cứng lại.
Cha mẹ đánh mất đi sức sống của bản thân đã là điều rất đỗi bi ai, vậy cớ sao họ lại muốn biến con cái mình cũng trở nên như thế?
⚬ Một là vì cảm giác an toàn: “Nếu chúng ta là cùng một loại người, chúng ta sẽ mãi sống chung trong một thế giới. Còn nếu con tràn đầy sức sống, tích cực vươn ra ngoài khám phá, thì cuối cùng con chắc chắn sẽ rời xa ta, bỏ rơi ta.”
⚬ Hai là để trốn tránh nỗi đau đớn: cũng giống như một người ở trong bóng tối quá lâu, đột nhiên nhìn thấy ánh mặt trời, phản xạ đầu tiên không phải là vui mừng mà là cảm giác mắt mình bị thiêu đốt, chói lóa. Một đứa trẻ tràn đầy sinh khí sẽ kích động đến cha mẹ, phá vỡ thế cân bằng vốn có của họ. Đối với những bậc cha mẹ có nội lực nhân cách quá yếu ớt, họ hoàn toàn không thể chịu đựng nổi sự phá vỡ ấy, không có khả năng tái hợp nhất và nâng tầm bản thân sau những rạn vỡ. Họ sẽ xem sự phá vỡ này như một đòn công kích nhắm vào mình, càng làm cộm lên nỗi bất lực của bản thân, đẩy họ vào sự tuyệt vọng trước cuộc đời thất bại. Đứa trẻ càng dồi dào sinh khí, lại càng giống như một cái tát vào mặt cha mẹ; bởi thế, họ buộc phải dập tắt sức sống của con, đè nén bản năng sống của con, dìm mức năng lượng của con xuống thấp ngang bằng với mình, để hai bên có thể "bình an vô sự" mà duy trì trạng thái cân bằng bệnh hoạn cũ kỹ kia.
Cách thứ hai là khiến đứa trẻ cảm thấy mình hoàn toàn vô dụng, kém cỏi. Bản thân cuộc đời cha mẹ vốn chẳng có gì đáng tự hào, nhưng họ lại luôn săm soi, bới móc những điểm chưa tốt ở con mình; dù đứa trẻ có nỗ lực đến nhường nào, cha mẹ cũng luôn khiến con cảm thấy mình chẳng làm nên tích sự gì. Những bậc phụ huynh bị bản năng chết chi phối nặng nề thường sẽ phóng đại từng thất bại nhỏ nhặt thành những hậu quả mang tính hủy diệt. Chẳng hạn, khi đứa trẻ chỉ hơi tỏ vẻ phản kháng chuyện học hành một chút, hay lỡ thi cử điểm kém một lần, cha mẹ liền gầm rú lên: “Mày sau này khỏi đi học nữa, chỉ tổ tốn tiền tốn của của cái nhà này!” Có thể hình dung, đứa trẻ lớn lên trong hoàn cảnh ấy ắt hẳn sẽ sống khép nép, co ro cúm rúm; hễ phạm một lỗi lầm nhỏ hay va vấp chút trắc trở là đã cảm giác như trời sắp sập xuống đầu.
Một cư dân mạng chia sẻ: “Bố mẹ tôi chính là như thế. Trước đây ở nhà, tôi từng bị dồn ép đến mức phải nhảy lầu. Mấy ngày trước, em trai tôi cũng bị dồn đến bước đường uống thuốc trừ sâu tự tử. Bố mẹ đối với chúng tôi mãi mãi là oán thán, trách móc, xem chúng tôi như thùng rác để trút toàn bộ cảm xúc tiêu cực; trong khi bản thân họ chưa từng muốn thay đổi, người sai bao giờ cũng là con cái.” Nếu đứa trẻ không nhận diện được sự phóng chiếu bản năng chết này, rất có thể con sẽ vô thức phối hợp với cha mẹ, thực sự tự biến mình thành một kẻ bỏ đi, vô giá trị.
Bản năng chết trong gia đình tựa như bóng ma quỷ quyệt, luôn tìm mọi cơ hội để bám víu lên thân người khác. Nếu cha mẹ không có sự tự tỉnh thức, không thể chịu trách nhiệm cho chính cuộc đời mình, thì nỗi thống khổ ấy chắc chắn sẽ bị trút hết lên thân tâm đứa con.
Có thể nói, mỗi đứa trẻ có ý nghĩ tự sát đều là đang “chết thay” cho cha mẹ. Đứa trẻ yêu thương cha mẹ một cách vô điều kiện; khi cha mẹ chuyển giao nỗi đau sang con, con trẻ không đủ năng lực để phân biệt nỗi đau này rốt cuộc là của ai, chỉ biết ôm trọn lấy tất cả vào lòng, và thực lòng tin rằng bản thân mình không xứng đáng được sống trên cõi đời này. Thế nhưng trong thực tế, sinh mệnh của đứa trẻ mới chỉ vừa bắt đầu, còn biết bao điều chưa biết đang chờ đón con khám phá. Mỗi một đứa trẻ đều tò mò về thế giới này, và đều khao khát được sống.
(1) Thoái lui (退行 - Regression): Thuật ngữ tâm lý học chỉ cơ chế phòng vệ khi một người đối diện với thất bại, lo âu hay sang chấn, có xu hướng từ bỏ các phản ứng thích nghi trưởng thành vốn có để quay về áp dụng những phương thức ứng phó mang tính nguyên sơ, ấu trĩ thời thơ ấu.
Bình luận