Cảm giác không tồn tại — Nỗi đau khổ đáng sợ nhất
Lời tựa 1: Người dám cầm dao phẫu thuật chính mình
Trương Đức Phân
Bén duyên cùng Lý Tuyết là nhờ một bài viết của cô ấy: “Cảm giác không tồn tại — Nỗi đau khổ đáng sợ nhất”. Khi tôi phát hiện bài viết này thì đã có 840.000 người đọc qua. Tôi liền chia sẻ lại trên Weibo và bình luận rằng: “Viết quá hay! Đã chỉ rõ căn nguyên chịu khổ của mỗi người chúng ta và con đường hóa giải! Những khổ nạn thời thơ ấu đã tôi luyện cho tác giả cái nhìn sâu sắc thấu suốt và trí tuệ như hiện tại. Giữa vai trò nạn nhân và người kiến tạo, cô ấy đã chọn vế sau. Khâm phục! Tán thưởng!” Cứ như thế, tôi quen biết cô nàng tiểu mỹ nhân tinh quái, lém lỉnh này (dẫu bản thân cô ấy tự thấy tuổi đời chẳng còn nhỏ nữa, nhưng trong mắt tôi, cô mãi mãi là một người em gái thông tuệ, đáng yêu).
《Khi tôi gặp một người》 là tác phẩm đầu tay của Lý Tuyết, tôi tin chắc rằng cuốn sách nhất định sẽ giúp ích được cho rất nhiều người. Ngay từ lần đầu gặp gỡ, tôi đã khích lệ Lý Tuyết viết lách, đem những trải nghiệm, đốn ngộ và kiến giải sâu sắc của mình chia sẻ cùng đại chúng. Câu chữ của cô ấy mang sức mạnh lay động lòng người, đồng thời sở hữu năng lực trị liệu chữa lành, bởi từng chữ từng lời đều là sự chứng thực của chính bản thân cô, câu chữ đẫm máu lệ, tuyệt chẳng hề hư ngôn. Rất nhiều người từng trải qua một tuổi thơ trắc trở, chẳng mấy êm xuôi, nhưng chỉ khi sở hữu một trái tim mẫn cảm, tinh tế cùng một khối óc thông tuệ, mẫn tiệp, người ta mới có thể tinh luyện những bài học khổ nạn thành trí tuệ. Lý Tuyết hội tụ đủ cả ba điều ấy. Cô tựa như đóa sen tinh khiết diễm lệ bung nở giữa bùn lầy, vô cùng thành thật và tràn đầy dũng khí bước ra khỏi vai diễn nạn nhân — nơi người ta luôn oán trách cha mẹ, dằn vặt chính mình — để rồi dùng năng lực quan sát nhạy bén cùng khả năng phân tích sắc sảo nhất mà quay về quán chiếu, tự mổ xẻ chính mình. Quá trình này hệt như việc tự cầm dao mổ phẫu thuật cho bản thân, dẫu đau đớn muôn phần, nhưng cô đã làm được. Đó chính là một Lý Tuyết mà tôi biết, luôn mang theo dũng khí lớn nhất cùng nhiệt huyết tràn đầy nhất để khám phá thế giới, không ngừng nỗ lực vươn lên. Cô ấy cũng có những góc tối của riêng mình, nhưng lại luôn có thể tự mình nếm trải, ngộ ra đạo lý, rồi nở nụ cười cùng chút tự trào xuất hiện trước mắt chúng tôi, vẫn xinh đẹp, vẫn chuyện trò rôm rả, vẫn đong đầy nhiệt huyết và những mộng tưởng.
Lý Tuyết bắt đầu từ giai đoạn sơ sinh đau khổ và bị thờ ơ ngó lơ nhất của chính mình, lần giở và phân tích từng hành vi vô thức của các bậc phụ huynh đã gây thương tổn cho con trẻ ra sao, không hề giữ lại chút gì mà sẻ chia trọn vẹn trí tuệ mình đúc kết được đến mọi người. Nhờ nhiều năm làm chuyên viên tư vấn tâm lý, cô đã thu thập muôn vàn ca lâm sàng gia đình phong phú. Vì thế, ngoài những lý thuyết trọng yếu của phân tâm học và tâm lý học, cuốn sách còn chứa đựng vô số câu chuyện sống động, chân thực, nhẹ nhàng và dễ tiếp nhận; tôi tin rằng đại đa số độc giả đều sẽ nhìn thấy bóng hình của chính mình trong đó, tự thấy ứng nghiệm.
Những năm gần đây, rốt cuộc cũng có người cất tiếng hô hào: “Ở Trung Quốc có những bậc cha mẹ căn bản không đạt chuẩn, con cái không cần phải mù quáng ‘hiếu thuận’ với cha mẹ.” Tôi nghĩ, Lý Tuyết hẳn là một trong những nhà trị liệu sớm nhất trong nước xướng xuất quan niệm này. Cô thừa nhận, khi chấp nhận sự thật rằng bản thân căm ghét mẹ mình, nội tâm trái lại trở nên bình yên hơn. Phải, chỉ khi chúng ta thành thật, không trốn tránh mà đi sâu cảm nhận chính những cảm xúc của mình, thì sự chữa lành thực sự mới có thể diễn ra. Đúng như lời Lý Tuyết từng nói: “Trải nghiệm trọn vẹn chính là giác tri, mà giác tri là khởi đầu, cũng là kết thúc.” Vị đại sư mà cô vô cùng tôn kính — Carl Jung — cũng từng nói: “You have to feel in order to heal.” (Bạn phải cảm nhận thì mới có thể được chữa lành.) Đây chính là điểm tôi khâm phục Lý Tuyết nhất. Những đạo lý này dẫu tôi đều hiểu rõ, cũng từng giảng giải cho người khác nghe, nhưng tôi biết rất rõ ràng: sâu thẳm trong lòng tôi có một góc khuất tuyệt đối chẳng thể chạm vào, thế nên tôi không chịu đối diện, cứ mãi lẩn tránh suốt bao năm tháng. Lý Tuyết bảo với tôi: “Hãy đi mà cảm nhận nó. Chị sẽ thấy đau đến chết đi được, vậy thì cứ để bản thân đau một lần xem, coi thử nó có thực sự làm chị đau đến chết hay không.” Cô ấy bảo bản thân từng thử qua, tinh thần và thể xác như tách rời nhau, không sao gom tụ lại được; thế nhưng chỉ cần can đảm ở lại nơi đó, người ta rồi sẽ sống lại, căng tràn sinh khí, nỗi sợ hãi trong tâm bị đánh bại, và khoảng không gian tâm linh lại được giành lại trọn vẹn. Tôi đã làm theo như thế, dũng cảm đối diện với tâm ma của chính mình, và kết quả là tôi thực sự đã bước ra được! Tôi cảm nhận không gian nội tại của mình đã trở nên rộng mở hơn, tự do hơn!
Điều cuối cùng tôi muốn nói là: tất thảy những người tu hành đều cần đọc cuốn sách này. Bởi lẽ tôi đã từng chứng kiến quá nhiều người mượn danh “tu hành” để trốn chạy bài học cuộc đời của chính mình, rõ ràng nhất chính là mối quan hệ với cha mẹ, mối quan hệ tiền bạc, mối quan hệ thân mật... Lá cờ lớn mang tên “tu hành” quả thực có thể che mưa chắn gió, nhưng sau cùng, chúng ta vẫn phải thành thật đối mặt với tâm ma của bản thân. Bằng không, tu hành cũng chỉ là một sở thích lúc nhàn rỗi hay một nghề nghiệp đơn thuần, chẳng hề có chút giao điểm nào với cuộc đời thực của chúng ta. Kỳ thực, tâm ma của mỗi người đều được gieo mầm từ thuở ấu thơ. Cuốn sách này có thể giúp những ai đã dấn bước trên con đường tu hành nhưng trong lòng vẫn còn chướng ngại và giằng xé biết cách tiếp nạp phần bóng tối của chính mình, tích cực hàn gắn mối quan hệ với gia đình nguyên sinh.
Đối với những người làm trong ngành tâm lý học, tư vấn tâm lý, hoặc những ai sắp sửa làm cha mẹ, cuốn sách này cũng là một giáo trình không thể bỏ qua. Tôi thực sự vô cùng vui mừng khi lại có thêm một nữ tác giả xuất sắc nhường này bước vào lĩnh vực tâm lý học và trưởng thành tâm thức, dùng chính trải nghiệm của bản thân mình, từng bước từng bước vững vàng thị phạm cho chúng ta thấy: cô ấy là một ngọn lửa sống động, không phải là tiêu bản vô hồn, mà là một tấm gương mẫu mực. Lý Tuyết tương lai còn cả một chặng đường dài phía trước, tôi kỳ vọng cô ấy sẽ có thêm nhiều trải nghiệm nhân sinh đặc sắc cùng những sẻ chia tâm hồn sâu sắc hơn nữa!
Lời tựa 2: Gặp gỡ Lý Tuyết
Võ Chí Hồng
Quen biết Lý Tuyết là chuyện của 7 năm trước. Khi ấy cô vừa tốt nghiệp khoa vật lý, lần đầu tiên đọc một cuốn sách tâm lý học viết về lý thuyết quan hệ đối tượng. Đọc sách xong, Lý Tuyết đã viết một bài luận, mổ xẻ tường tận và chuẩn xác hơn về động lực của một dạng đồng nhất hóa phóng chiếu vốn chưa được cuốn sách giải thích thật rõ ràng. Khi đọc bài viết đó, tôi không kìm được lòng khâm phục năng lực tư duy logic cùng cái nhìn thấu suốt của cô, trong bụng thầm nghĩ, nếu cô dấn thân vào mảnh đất tâm lý học, có lẽ sẽ trở thành một kỳ tài.
Quả nhiên, Lý Tuyết từ đó dấn bước không dứt ra nổi, say mê tâm lý học đến cuồng nhiệt. Cô không còn kỳ vọng một ngày nào đó sẽ dùng vật lý học để giải thích toàn bộ thế giới nữa, mà tin chắc rằng tâm lý học chính là một trong những chiếc chìa khóa dẫn lối tới chân tướng. Cô học tâm lý học thông qua việc tự phân tích chính mình, mà điều này lại vừa khéo chính là con đường tắt để học tâm lý học, cũng là một trong những ý nghĩa sống của cô — nhận thức chính mình.
Trong số những độc giả chung của tôi và Lý Tuyết, có rất nhiều người bảo rằng họ thích Lý Tuyết hơn. Về điều này, lòng tôi rất thản nhiên. Tôi cảm nhận từ tận đáy lòng rằng, câu chữ của Lý Tuyết luôn lấp lánh một điều rất đỗi đặc biệt, và điều đó chính là kết tinh giữa một chỉ số thông minh cao cùng năng lực giác tri sâu sắc. Tôi từng chứng kiến rất nhiều lần Lý Tuyết có thể bóc tách, mổ xẻ một người ngay trong lần đầu gặp gỡ, để rồi cuối cùng khiến đối phương phải bội phục vô cùng. Quá trình ngỡ như thần kỳ ấy, thực chất là nhờ vào cảm nhận tinh nhạy, cộng hưởng cùng khả năng suy luận logic kín kẽ, nhanh tựa tia chớp của cô.
Sự mẫn cảm cùng năng lực tư duy logic mạnh mẽ của Lý Tuyết được thể hiện một cách đủ đầy, trọn vẹn trong cuốn sách này. Sự mẫn cảm của cô không chỉ hướng ra thế giới bên ngoài, mà còn hướng vào chính bản thân. Những phần ngập tràn cảm xúc trong sách phần nhiều bắt nguồn từ chính sự phản tư của cô về bản thân, mà sự phản tư ấy lại mang phong vị của sự không thỏa hiệp. Trái lại, tôi là người dễ thỏa hiệp, vì thế câu chữ của tôi thường vương chút băn khoăn, giằng xé.
Văn như người, cá tính của Lý Tuyết cũng không hề thỏa hiệp. Điều này khiến cô dễ dàng đẩy một số đạo lý cùng trải nghiệm lên đến tột cùng, đánh thẳng vào trái tim người đọc. Thêm vào đó là tầng tầng logic đan cài khít khao, móc xích chặt chẽ, khiến người đọc cả về mặt cảm xúc lẫn lý trí đều cảm thấy vô cùng sảng khoái, thông suốt. Bởi vậy, đọc câu chữ của Lý Tuyết đã trở thành một niềm thụ hưởng về mặt tinh thần.
Dẫn nhập: Nhìn thấy là khởi đầu của sự chữa lành
Một thân chủ từng kể với tôi rằng, thuở nhỏ anh rất thích chơi bóng rổ, mỗi lần vận động xong cơ thể đều cảm thấy sảng khoái khôn cùng. Anh đem niềm mãn nguyện và niềm vui ấy chia sẻ cùng cha, người cha liền tiếp lời khích lệ: “Sở thích chơi bóng rổ này rất tốt đấy! Rèn luyện thân thể, bồi dưỡng ý chí, con phải cố gắng kiên trì, chơi bóng rổ cho thật giỏi!” Nghe xong câu nói ấy, anh cảm thấy dòng năng lượng đang lưu chuyển trong cơ thể bỗng chốc tắc nghẽn nơi lồng ngực, tức giận mà lại chẳng biết trút vào đâu, bởi người cha chẳng hề nói sai một lời nào.
Một người bạn của tôi thuở nhỏ học đàn dương cầm, cô miêu tả cảm giác khi người cha ngắm nhìn mình chơi đàn: ông hệt như đang thưởng lãm một nàng geisha do chính tay mình mua về. Trong ví dụ này dẫu có ẩn chứa xung đột Oedipus (1), nhưng hàm nghĩa cốt lõi nhất chính là: cha mẹ không nhìn thấy bản thân đứa trẻ, thứ họ nhìn thấy chỉ là giá trị công năng của nó.
Đây không phải là một lời trách cứ cha mẹ có lòng vụ lợi, có lẽ họ chẳng hề đòi hỏi con mình phải công thành danh toại. Thế nhưng, liệu cha mẹ có thể nhìn thấy sự tồn tại tự thân của đứa trẻ, thay vì dùng giá trị ngoại tại để định nghĩa một “nó” mang tính vật chất hay không — chính điều này quyết định việc sâu thẳm trong lòng đứa trẻ có thể cảm nhận trực tiếp được tình yêu hay không. Nếu như sự tồn tại bản nhiên của đứa trẻ không được nhìn thấy, thì dẫu cha mẹ có dốc trọn mọi thứ vì con, đứa trẻ cũng chỉ là đạo cụ để cha mẹ diễn đạt tình yêu của chính họ. Có lẽ trong lý trí, đứa trẻ thừa nhận cha mẹ đã hy sinh vì mình rất nhiều, thừa nhận cha mẹ rất yêu mình, nhưng thứ nó cảm nhận được trong tâm can lại là một nỗi cô đơn, quạnh quẽ dài lâu.
Triết gia Do Thái Martin Buber từng nói, mối quan hệ được chia thành hai loại: "Tôi và Bạn", "Tôi và Nó". Khi tôi buông bỏ mọi kỳ vọng và toan tính, dùng trọn vẹn bản chân đích thực của mình để thiết lập mối quan hệ với một người hoặc một sự vật, tôi sẽ tương ngộ với toàn bộ bản chân của sự tồn tại ấy; mối quan hệ không mang theo bất kỳ kỳ vọng hay toan tính nào như thế, chính là quan hệ "Tôi và Bạn". Trong mắt Martin Buber, "Tôi và Bạn" chỉ là những khoảnh khắc lóe sáng của sinh mệnh. Cảnh giới tương ngộ ấy có lẽ quá đỗi cao xa, nhưng với tư cách là những con người bình thường, chí ít chúng ta có thể học cách tôn trọng đứa trẻ như một sinh mệnh độc lập, chứ không phải là sự nối dài của cha mẹ, càng không phải chỉ là "nó", dùng để hiện thực hóa giá trị công năng trong tưởng tượng của cha mẹ.
Trải nghiệm chơi bóng rổ, cảm giác mãn nguyện và tâm trạng vui sướng — những điều đó đều làm hiển lộ cảm giác tồn tại của một sinh mệnh. Còn giá trị công năng mà việc chơi bóng rổ mang lại, chỉ là một cái "nó" do đầu óc chúng ta đúc kết ra. "Nó" chẳng phải là không thể tồn tại, nhưng nếu chúng ta chỉ nhìn thấy "nó" — những ích lợi phụ kèm như rèn luyện thân thể, bồi dưỡng ý chí — thì ta sẽ chẳng nghe thấy hơi thở gấp gáp rộn rã của đứa trẻ, chẳng nhìn thấy vẻ mặt ngập tràn thỏa mãn của con. Niềm vui toát ra từ sâu thẳm bên trong đứa trẻ không thể cộng hưởng với chúng ta, và như thế, chúng ta cùng đứa trẻ căn bản chẳng hề cùng tồn tại trong một không gian. Chúng ta mở to mắt, nhưng lại mù lòa hoàn toàn.
Có một lần, bạn tôi đến làm khách tại nhà một cậu bé, muốn chia sẻ với cậu một mẩu chuyện trải nghiệm. Cậu bé nghiêm túc nói với cô: “Dì ơi, cháu đang ăn kẹo mút, không thể nghe dì nói chuyện được ạ.” Một lát sau, cậu bé ăn xong kẹo, bèn chạy sang tìm và bảo: “Bây giờ cháu có thể nghe dì nói chuyện rồi ạ”, rồi nhìn dì vô cùng chăm chú. Bạn tôi cảm nhận được rằng đứa trẻ này có ranh giới bản thân rất rõ ràng, lớn lên rất tốt; thế nhưng, cha mẹ của cậu bé lại không thể chấp nhận những lời từ chối tương tự như thế từ con mình.
Tại sao cha mẹ thường khó lòng chấp nhận việc con cái có ranh giới bản thân rõ ràng? Nếu tôi nhấc điện thoại lên gọi, màn hình lại hiện dòng chữ “Tôi tạm thời không muốn bị sử dụng, xin hãy gọi lại sau”, thì chắc chắn tôi sẽ mang nó đi sửa chữa ngay. Bởi lẽ chiếc điện thoại chỉ là một đồ vật, mà đồ vật thì làm sao có cảm xúc và ranh giới riêng của mình. Có bao nhiêu bậc cha mẹ cũng coi con cái là một đồ vật, là sự kéo dài ý chí của chính mình như thế? Có những người lớn thấy đứa trẻ quá đỗi đáng yêu, liền nhào tới đòi ôm ấp, đòi đứa trẻ phải nói chuyện với mình, nào có từng để tâm đến trạng thái và cảm xúc của con? Liệu đứa trẻ có bằng lòng thiết lập mối quan hệ với người lớn vào lúc ấy hay không?
Cha mẹ không ngừng lo âu khi thấy con không giống với mường tượng của mình, và để xua tan nỗi âu lo đó, họ liền dùng đủ mọi biện pháp để “sửa chữa” đứa trẻ, ép con phải thể hiện đúng theo hình mẫu trong tâm tưởng họ. Kỳ thực, đứa trẻ là một sinh mệnh độc lập khác; việc con không giống với tưởng tượng của cha mẹ mới là lẽ thường tình, còn nếu giống, đó hoàn toàn chỉ là ngẫu nhiên trùng hợp.
Rất nhiều bậc cha mẹ sẽ bảo rằng, con cái nên sống theo một cách sống đúng đắn của đời người: “Tôi yêu cầu con phải giống như những gì tôi tưởng tượng là vì muốn tốt cho con, điều đó hoàn toàn có lý”. Những bậc cha mẹ mang suy nghĩ ấy có thể thử nhìn lại trọn vẹn cuộc đời mình xem: khi cha mẹ của chính bạn cũng đối xử và đòi hỏi bạn như vậy, bạn có sống một đời rực rỡ hay không? Cuộc đời bạn có nở hoa trong niềm vui sướng hay không? Hầu như những nhân vật kiệt xuất nhất trong mọi lĩnh vực, như Steve Jobs, George Soros..., đều đúc kết nên một tổng kết nhân sinh tương tự: Hãy trở thành chính mình, chứ đừng trở thành một phiên bản đúng đắn trong mắt người khác, khi ấy sinh mệnh mới thực sự có ý nghĩa.
Nếu chúng ta không xuất phát từ những trải nghiệm của chính bản thân để sống, mà lại sống trong hệ giá trị ngoại tại, sống trong ánh nhìn của người đời, thì mối quan hệ đã bị vật hóa. Trong một mối quan hệ bị vật hóa, phông nền của sinh mệnh chính là nỗi sợ hãi. Rất nhiều phụ nữ vào lúc không có ham muốn tình dục lại chẳng thể dứt khoát cự tuyệt đòi hỏi tình dục của bạn đời; nếu từ chối, trong lòng họ sẽ dấy lên cảm giác tội lỗi vô cùng sâu sắc. Tâm lý này không đơn thuần là “cảm giác giá trị bản thân thấp” như chúng ta thường hiểu; trên thực tế, một người phụ nữ không biết cách cự tuyệt tình dục vẫn có thể là một người vô cùng ưu tú, rất đỗi tự tin. Vấn đề nằm ở chỗ: khi cô ấy sống trong thân phận vai diễn của phái nữ, chứ không phải hiện hữu như giá trị tự thân của một người phụ nữ, thì làm sao cô có thể chối từ công năng quan trọng bậc nhất của thân phận vai diễn ấy — tình dục? Nói một ví dụ có phần khó nghe: một món đồ chơi tình dục dẫu cao cấp, tinh xảo đến đâu, nếu không còn công năng trợ hứng, thì cũng trở nên hoàn toàn vô giá trị và đáng bị vứt bỏ. Rất nhiều phụ nữ ở những phương diện khác đều sống một đời rạng rỡ, tự tin, nhưng lại chẳng thể thoát khỏi nỗi sợ hãi căn bản nhất này: với tư cách là một người phụ nữ, sự tồn tại tự thân của bạn không có giá trị.
Khi một bé gái cất tiếng khóc chào đời, dẫu là trong một gia đình không hề trọng nam khinh nữ, cô bé vẫn sẽ cảm nhận được sự kỳ vọng ngấm ngầm từ cha mẹ — “Con gái nhà mình phải tiền đồ, bản lĩnh hơn cả con trai nhà người ta”, hoặc “Làm một đứa con gái ngoan ngoãn, ưu tú, mục tiêu lớn nhất của đời người là gả cho một tấm chồng tốt”. Ở đây, giá trị của người phụ nữ hoặc là ganh đua với nam giới, hoặc là dùng thân phận nữ giới để đánh đổi lấy sự chở che của nam giới, chứ sự tồn tại tự thân của cô ấy lại chẳng hề có giá trị. Trong khi đó, nam giới lại mặc nhiên được gán cho những giá trị về mặt thể diện và tinh thần như “nối dõi tông đường, duy trì hương hỏa”. Dĩ nhiên, đó cũng là những giá trị bị vật hóa, và trong hệ giá trị bị vật hóa ấy, nam giới cũng khó lòng tìm thấy chính mình.
Chúng ta suốt dọc đường đời đều sống trong sợ hãi: thời mẫu giáo thì nơm nớp sợ “không nghe lời là khổ rồi”, lúc đi học thì sợ “thành tích không tốt là cả đời hết hy vọng”, khi đi làm lại sợ “thể hiện không tốt thì tiền đồ tan biến”... Chúng ta cứ thế xoay vần theo cỗ xe vật hóa, không dám dừng lại dù chỉ một giây, chẳng dám hình dung xem “nếu như bản thân không còn bất kỳ giá trị công năng nào, chuyện gì sẽ xảy ra”. Chúng ta là một “vật” mang giá trị công năng, hay là một con người thực sự tồn tại — điều đó phụ thuộc vào việc liệu chúng ta đã từng được một người khác chan chứa thâm tình nhìn thấy hay chưa.
Giờ đây, hãy dừng lại một chút và thử nghĩ xem: nếu bóc tách hết thảy mọi giá trị công năng, tôi là ai? Tất cả những gì tôi đang mải miết mưu cầu rốt cuộc là điều bản thân thực sự mong muốn, hay chỉ là sự kiếm tìm bị thúc bách bởi nỗi sợ hãi? Một tôi không còn bất kỳ nhãn dán ngoại tại nào, liệu đôi bàn chân có còn vững vàng giẫm trên mặt đất mà cảm nhận được sự tồn tại của chính mình?
Nhìn thấy, mới là tình yêu đích thực.
(1) Oedipus là một nhân vật trong thần thoại Hy Lạp, người đã giết cha và lấy mẹ mình. "Mặc cảm Oedipus" (Oedipus complex) chỉ tâm lý quyến luyến cha mẹ khác giới. Ở đây đề cập đến tâm lý bé trai muốn cạnh tranh với cha để giành lấy tình yêu của mẹ, đồng thời cảm thấy xấu hổ vì điều đó và sợ hãi sự trừng phạt từ người cha.
Bình luận