Jung và Trí tưởng tượng giả kim thuật
- Minh Đào
- 1 ngày trước
- 126 phút đọc
CHƯƠNG 1: JUNG NHƯ MỘT TRUYỀN THỐNG TÂM LINH
Tôi đến Zurich vào năm 1972 để theo học tại Viện C. G. Jung. Dù đã tham dự nhiều lớp học ở đó, quá trình đào tạo thực sự của tôi lại gắn liền với một nhóm các nhà phân tích khi ấy được gọi là "Kusnacht Mafia". Đây là nơi quy tụ những cá nhân chịu ảnh hưởng sâu sắc nhất từ các bài giảng của Marie-Louise von Franz. Là một học trò, đồng nghiệp và người bạn của Tiến sĩ Jung, von Franz đối với chúng tôi dường như nắm giữ chìa khóa để hiểu sâu sắc hơn về các lý thuyết của ông. Chúng tôi thường xuyên thảo luận về truyền thống thành văn so với truyền thống truyền khẩu của tâm lý học Jung, bởi có những khác biệt lớn giữa một Jung trong bộ Toàn tập tác phẩm (Collected Works) và một Jung qua lời khắc họa của von Franz. Von Franz đã nói về một Jung là bậc thầy tâm linh, người hiểu rất rõ rằng công việc nội tâm có tầm quan trọng tối thượng. Ông quan tâm đến trải nghiệm thực chứng hơn nhiều so với lý thuyết, và những câu chuyện về vô số chuyến phiêu lưu vào cõi vô thức của ông đầy mê hoặc và truyền cảm hứng.
Đó là một khoảng thời gian đầy hào hứng khi học tập tại Zurich. Nhiều "vị thầy tiền bối" vẫn còn đang hoạt động. Với tư cách là học viên, chúng tôi được trực tiếp trải nghiệm thực tại của Bản thể (the self) và tập trung mọi nỗ lực để sống hòa hợp cùng nó. Chúng tôi được dạy cách nhìn nhận Bản thể như một hình tượng nội tâm có tiếng nói riêng, một tiếng nói có thể được lắng nghe trực tiếp qua những giấc mơ, qua trí tưởng tượng chủ động và thậm chí trong cả những trải nghiệm đời thường. Tôi nhớ Tiến sĩ von Franz từng giải thích cách bà lắng nghe và hòa nhịp nội tâm khi được hỏi một câu hỏi, ngay cả với việc đơn giản như liệu bà có nên đi ăn trưa với ai đó hay không. Bà sẽ tập trung nhận thức của mình vào Bản thể và chờ đợi câu trả lời xuất hiện.
BẢN THỂ
Các trước tác đã xuất bản của Jung không phải lúc nào cũng dễ hiểu, và thường không truyền tải được hết thực tế của việc tiếp xúc trực tiếp với Bản thể. Dù vậy, Jung có viết về những trải nghiệm như vậy. Chẳng hạn, ông tuyên bố rằng Bản thể với tư cách là trung tâm phải trở thành spiritus rector (kim chỉ nam dẫn đường) của đời sống thường nhật.¹ Hơn nữa, trên thực tế, trải nghiệm về Bản thể gần như không thể phân biệt được với trải nghiệm về "điều mà xưa nay vẫn luôn được gọi là 'Thượng đế'".² Dưới góc nhìn của cái tôi (ego), trải nghiệm về Bản thể chính là một trải nghiệm về Đấng thiêng liêng, mang đến cho cái tôi những rắc rối và vấn đề mà nó chỉ muốn né tránh cho xong. Trong cuốn sách mà Jung biên soạn và biên tập cho đại chúng độc giả, Con người và biểu tượng (Man and His Symbols), von Franz đã trình bày quan niệm cơ bản của Jung về cuộc tao ngộ với Bản thể khi bà viết:
Hầu hết mọi người đều từng trải qua một trải nghiệm nội tâm sâu sắc về Bản thể ít nhất một lần trong đời. Dưới góc độ tâm lý học, một thái độ tôn giáo chân chính bao gồm nỗ lực khám phá trải nghiệm độc nhất vô nhị đó, và dần dần giữ sự hòa điệu cùng nó... để Bản thể trở thành một người bạn đồng hành nội tâm mà tâm trí ta luôn hướng về.³
Những lời nhận định này nằm trong một đoạn văn mà von Franz đã đồng nhất Bản thể với hòn đá triết gia, một phép đồng nhất mà chính Jung chưa bao giờ ngừng đưa ra.
Có một số yếu tố đã tác động đến kết luận của Jung rằng hòn đá là biểu tượng cho Bản thể. Ông quan niệm Bản thể là sự hợp nhất của các mặt đối lập và là trung tâm của tâm thức. Hòn đá cũng là sự hợp nhất của các mặt đối lập, và thường được miêu tả như một tâm điểm. Bản thể có thể được nhân cách hóa thành một hình tượng nội tâm, và hòn đá cũng vậy. Bản thể là kho tàng trí tuệ và hòn đá cũng thế. Bản thể là cứu cánh của toàn bộ đời sống tâm thức, và là trạng thái tối hậu mà tiến trình cá nhân hóa hướng tới; trong khi đó, hòn đá là mục đích của mọi nỗ lực giả kim và là kết quả cuối cùng mà mọi tiến trình giả kim nhắm đến. Hơn nữa, Jung cho rằng Bản thể tạo ra các biểu tượng nhằm biểu lộ các phẩm tính của nó, và hòn đá chính là một hình ảnh như vậy.⁴ Jung luôn làm việc dựa trên giả định rằng những gì được nói về hòn đá đều đúng với Bản thể, bởi vì trong hòn đá, Bản thể đã tìm thấy cách để biểu đạt chính mình bằng biểu tượng. Việc so sánh Bản thể với hòn đá đã gắn kết mô hình của Jung với mô hình giả kim thuật. Ông cũng nhờ đó mà khám phá được các ý niệm tâm linh của các nhà giả kim thuật trong mối liên hệ với quan điểm tôn giáo của chính mình.
Jung mô tả "thái độ tôn giáo" là "sự quan sát cẩn trọng và tỉ mỉ đối với... một sự tồn tại hoặc một tác động mang tính động lực không bắt nguồn từ một hành vi ý chí tùy tiện".⁵ Vì Bản thể là sự tổng hòa của những tác động này, tôi có thể mô tả thái độ tôn giáo như việc chú tâm vào Bản thể, hoặc biến nó thành một người bạn đồng hành nội tâm. Cái tôi quan sát một cách tỉ mỉ các biểu hiện của Bản thể và hòa nhịp chính mình với chúng. Đây là truyền thống đã được truyền thụ lại cho tôi ở Zurich, và là con đường tôi đã đi theo suốt ba mươi năm qua. Công thức giản dị này truyền tải cốt lõi và linh hồn trong mô hình tâm linh của Jung. Dù ngày nay nhiều người có thể phủ nhận tầm quan trọng của ông với tư cách là một bậc thầy tâm linh, nhưng đối với những ai trong chúng tôi từng học tập tại Zurich cùng Marie-Louise von Franz và Arnold Mindell, không có gì phải nghi ngờ rằng công việc phân tích tâm lý theo trường phái Jung là một tiến trình tâm linh. Chúng tôi không giới hạn việc làm việc với vô thức trong các buổi phân tích, mà biến nó thành chính bản chất của đời sống mình.
Jung bận tâm đến câu hỏi liệu tâm lý học của ông ăn khớp như thế nào trong bối cảnh truyền thống Tây Âu. Ông tìm thấy những nét tương đồng với quan điểm tâm lý của mình trong dòng truyền thừa của thuật giả kim và thuyết Ngộ đạo (Gnosticism). Trong khi vị trí của Jung trong lịch sử vẫn tiếp tục được tranh luận, thì những người nghiên cứu về cái gọi là "tâm linh bí truyền" (esoteric spirituality) tin rằng ông thuộc về truyền thống đó. Tôn giáo bí truyền bao gồm các bậc thầy như Jacob Boehme, Paracelsus, và trên thực tế là toàn bộ thuật giả kim, cũng như phong trào Hội Thập tự Hoa hồng (Rosicrucian). Trong một bài tiểu luận về tâm linh bí truyền, Gerhard Wehr đã lập luận rằng Jung là một phần của truyền thống bí truyền. Mặc dù thừa nhận có một số khó khăn đối với sự quy kết này, ông lập luận rằng Jung phù hợp với bối cảnh đặc thù này vì hai lý do. Thứ nhất, Jung liên tục viện dẫn và trích dẫn từ các truyền thống tôn giáo cổ xưa hơn để làm sáng tỏ cơ chế hoạt động của vô thức. Lý do thứ hai thuyết phục hơn: Như Wehr chỉ ra, "Trải nghiệm tâm lý học chiều sâu, tức tiến trình cá nhân hóa mà người ta phải trải qua, tự thân nó là một sự kiện bí truyền làm biến đổi con người đến tận chiều sâu bản thể, mở rộng ý thức và đưa nhân cách của họ đến sự trưởng thành toàn vẹn của một con người."⁶ Bản chất của những trải nghiệm nội tâm mà mô hình của Jung tạo ra đã kết nối nó chặt chẽ nhất với các trường phái bí truyền thời kỳ trước.
Việc đặt Jung vào một bối cảnh lịch sử có vẻ như không quan trọng. Tuy nhiên, ngày nay, ngày càng có nhiều nhà tâm lý học phái Jung tái định nghĩa các công trình và khái niệm của Jung với một sự nhấn mạnh dứt khoát phi tâm linh. Đánh mất sự liên hệ với các tầng nghĩa sâu xa trong trước tác của Jung, và với các truyền thống đã góp phần định hình nên ông, sẽ là một điều bi thảm. Bất kể các nhà phân tích và trị liệu lựa chọn ứng dụng tư tưởng của Jung vào bối cảnh lâm sàng như thế nào, thì về nguyên bản và cốt lõi, công trình của Jung là một hệ thống nhằm thúc đẩy trải nghiệm chuyển hóa sâu sắc. Công việc phân tích tâm lý với các cá nhân mà không nuôi dưỡng được những trải nghiệm chuyển hóa như vậy thì chỉ có thể được gọi là phái Jung một cách gượng ép.
Sống cùng Bản thể là thực hành cốt lõi trong mô hình tâm linh của Jung, nhưng Bản thể là gì? Đối thoại với các hình tượng nội tâm là một nét đặc trưng tinh túy trong phương pháp tiếp cận của Jung: Bản thể thường được trải nghiệm theo cách này. Khi được nhân cách hóa thành một hình tượng nội tâm, nó hiện thân cho bản tính cốt tủy của một cá nhân và dù thường mang tính áp đảo, Bản thể vẫn mang một diện mạo tương tự như nhân cách có ý thức. Nhưng Bản thể là gì? Về mặt trải nghiệm, Bản thể là một hình tượng hoặc một trung tâm nội tâm và chủ quan mang lại cảm giác quyền năng, linh thiêng (numinous) và tự thân tròn đầy. Là một cấu trúc lý thuyết, Bản thể mang một số thuộc tính. Nó là trung tâm của toàn bộ nhân cách và do đó có mối liên hệ với cái mà Jung gọi là cái tôi (ego) - trung tâm của ý thức. Trên thực tế, để hiểu về Bản thể, người ta phải hiểu đôi chút về cái tôi và cấu trúc tâm thức theo quan niệm của Jung.
Cái tôi rất dễ trải nghiệm nhưng lại khó định nghĩa. Về mặt trải nghiệm, nó là những gì chúng ta quy chiếu tới khi nói "tôi". Khi một người nói "Tôi đói", "Tôi giận", hay "Tôi là nam giới", thì từ "tôi" trong các phát biểu đó chính là cái tôi. Cái tôi chuyên chở "tính tôi" (I-ness) của nhân cách. Chúng ta thường ngây thơ đồng nhất toàn bộ tâm thức với cái "tôi" này, mà không nhận ra rằng trên thực tế còn có những khía cạnh khác của tâm thức mà ta hoàn toàn không thể đồng nhất. Theo khái niệm của Jung, cái tôi là trung tâm của ý thức và với tư cách đó, nó là công cụ để biến trải nghiệm thành ý thức. Khi cái tôi tiếp xúc với bất kỳ nội dung tâm thức nào, nội dung đó trở nên có ý thức. Khi cái tôi không tiếp xúc, nội dung đó thuộc về vô thức. Sự chú tâm của cái tôi không chỉ mang lại ý thức cho một nội dung tâm thức, mà nó còn có thể kích hoạt một sự thay đổi bên trong nội dung đó. Một phần của tiến trình cá nhân hóa là quá trình cái tôi làm cho trải nghiệm trở nên có ý thức và qua đó tạo ra những biến đổi trong tâm thức.
Những phần của tâm thức không có mối liên hệ với cái tôi tạo thành vô thức, bao gồm cả vô thức cá nhân và vô thức tập thể. Vô thức cá nhân bao gồm các phức cảm và những chất liệu khác thuộc về trải nghiệm sống của cá nhân, nhưng vì nhiều lý do khác nhau, lại không nằm trong mối liên hệ với cái tôi. Phần lớn chất liệu này có thể và cần phải được đưa vào mối liên hệ với cái tôi, và tiến trình thực hiện điều này sẽ củng cố và mở rộng ý thức. Mặt khác, vô thức tập thể bao gồm các nguyên mẫu và những hình ảnh phổ quát không thuộc về bất kỳ cá nhân đơn lẻ nào, mà thuộc về toàn thể nhân loại. Các cấu trúc, mô thức và hình ảnh nguyên mẫu nhào nặn và định hình đời sống con người, và xưa nay vẫn luôn làm như vậy. Chất liệu này không thuộc về ý thức, và mặc dù nó có thể được đưa vào mối liên hệ với cái tôi, nhưng cái tôi không được phép đồng nhất với nó hay đồng hóa nó vào cấu trúc của chính mình. Mọi nỗ lực làm như vậy đều có thể dẫn đến sự thổi phồng cái tôi (inflation) hoặc thậm chí là loạn thần. Tuy nhiên, các nguyên mẫu có thể được đưa vào mối liên hệ với Bản thể, bởi vì Bản thể với tư cách là trung tâm của tâm thức có khả năng tương tác một cách phù hợp với chất liệu tập thể này.
Nói một cách đơn giản, tâm thức bao gồm cái tôi vốn có ý thức, cùng các phức cảm và nguyên mẫu vốn thuộc về vô thức. Giống như cái tôi là trung tâm của ý thức, Bản thể là trung tâm của toàn bộ nhân cách. Bản thể cũng là nguyên mẫu của sự toàn vẹn, và với tư cách đó, nó chuyên chở cảm thức về một nhân cách hoàn chỉnh. Sự toàn vẹn đề cập đến sự hợp nhất của các phần ý thức và vô thức trong nhân cách, và đặc biệt là sự hợp nhất giữa cái tôi và vô thức. Chúng ta có thể xem tiến trình hợp nhất các mặt đối lập này diễn ra dưới sự bảo hộ và đi theo mô hình của Bản thể. Jung giải thích khía cạnh này như sau:
Về mặt tâm lý học, Bản thể là sự hợp nhất của ý thức (nam tính) và vô thức (nữ tính). Nó đại diện cho tổng thể tâm thức. Được trình bày như vậy, nó là một khái niệm tâm lý học. Tuy nhiên, về mặt thực nghiệm, Bản thể xuất hiện một cách tự phát dưới hình dạng của các biểu tượng cụ thể, và tính toàn thể của nó có thể được nhận biết rõ nhất trong đồ hình mandala cùng vô số biến thể của nó.⁷
Bản thể là trung tâm của nhân cách ngay cả trước khi tiến trình cá nhân hóa bắt đầu. Nó chỉ hướng tới sự toàn vẹn một cách biểu tượng, vì sự hợp nhất thực tế giữa ý thức và vô thức là công việc của cả một đời người. Tôi gọi Bản thể trước khi diễn ra sự hợp nhất này là "Bản thể tiềm ẩn" (latent self). Khi tiến trình liên kết hai phần này của tâm thức bắt đầu hé mở, Bản thể ngày càng tiến tới sự biểu hiện của chính nó. Khía cạnh sau này tôi gọi là "Bản thể hiển lộ" (manifest self). Bản thể và sự chuyển hóa của nó từ tiềm ẩn sang hiển lộ là trọng tâm hàng đầu trong mô hình tâm linh của Jung.
Tuy nhiên, điều quan trọng là phải làm rõ chính xác những gì Jung muốn nói qua khái niệm tinh thần/tâm linh (spirit) và thuộc về tâm linh (spiritual), để chúng ta có thể nắm bắt dễ dàng hơn cách thức tiến trình này diễn ra. Trong bài viết "Hiện tượng học về Tinh thần trong Truyện cổ tích", Jung đã trăn trở với vấn đề ý nghĩa của tinh thần. Ông đi đến kết luận rằng có ba thuộc tính chính. Thứ nhất là sự vận động và hoạt động tự phát. Tinh thần tự do hành động và sáng tạo theo ý muốn của nó, và thoát khỏi sự kiểm soát của cái tôi - phần ý thức của nhân cách. Cái tôi có thể trải nghiệm tinh thần, nhưng không thể ra lệnh cho nó. Thuộc tính thứ hai của tinh thần là năng lực tự phát tạo ra các hình ảnh một cách độc lập, và thuộc tính thứ ba là "sự điều khiển tối cao đối với những hình ảnh này".⁸ Về mặt trải nghiệm, mỗi con người đều bắt gặp tinh thần trong các giấc mơ của mình, bởi vì những hình ảnh tràn ngập trong giấc mơ bắt nguồn từ tinh thần. Không chỉ bản thân các hình ảnh, mà tất cả những gì chúng làm trong giấc mơ đều là sự phản chiếu của tinh thần. Theo nghĩa này, cái tôi không tự bịa ra giấc mơ; đúng hơn, nó trải nghiệm chúng khi chúng mở ra thông qua sự hiển lộ tự phát của tinh thần. Jung cảm thấy rằng nguyên mẫu của tinh thần xuất hiện trong các giấc mơ dưới hình tượng một ông lão thông thái.
Ông cũng tin rằng các nội dung của vô thức, bao gồm các phức cảm và nguyên mẫu, có năng lực tự hiển lộ thành các hình ảnh. Chúng ta có thể hình dung tâm thức như một nơi hỗn độn, trong đó mọi thành phần đều có khả năng tự tạo ra hình ảnh của riêng mình. Khi mọi khía cạnh của thế giới nội tâm đều có thể tự nhân cách hóa thành một hình ảnh, kết quả sẽ là một dàn đồng ca gồm những tiếng nói xung đột, mỗi bên hát một giai điệu riêng mà không màng đến những bên khác. Sự hỗn loạn này thể hiện rõ ở những cá nhân bị rối loạn nặng và loạn thần, những người không thể tự bảo vệ mình trước sự hỗn tạp của các tiếng nói tâm linh nội tại.
Tuy nhiên, giúp cân bằng lại sự rối loạn này chính là Bản thể – nguyên lý của trật tự và sự hòa điệu. Trước đó tôi đã mô tả Bản thể trong mối quan hệ của nó với sự toàn vẹn, với tính tổng thể tiềm tàng của nhân cách. Dưới góc nhìn của các hình ảnh được nhân cách hóa, Bản thể như một tổng thể bao hàm toàn bộ chuỗi hình ảnh và tiếng nói phát sinh từ vô thức. Ngoài ra, Bản thể là trung tâm của tâm thức, nơi mà mọi phần khác đều tự định hướng xung quanh nó. Bản thể mang lại trật tự cho tâm thức, và hòa điệu tất cả các khía cạnh của tâm thức để tạo nên một bản giao hưởng được phối khí nhịp nhàng. Nhìn theo cách này, Bản thể là trung tâm của tâm hồn, xung quanh đó các nguyên mẫu được nhóm lại theo trật tự tương ứng của chúng. Mandala là biểu tượng cho Bản thể khi nó vận hành theo phương thức này. Bàn về mandala, Jung viết:
[Mô-típ] cơ bản là dự cảm về một trung tâm của nhân cách, một kiểu điểm trung tâm bên trong tâm thức, nơi mọi thứ đều quy về, nhờ đó mọi thứ được sắp xếp, và tự thân nó là một nguồn năng lượng. Năng lượng của điểm trung tâm được biểu hiện qua sự thôi thúc và sự cưỡng bách gần như không thể cưỡng lại để trở thành chính mình... Mặc dù trung tâm được đại diện bởi một điểm sâu kín nhất, nhưng nó được bao bọc bởi một ngoại vi chứa đựng tất cả những gì thuộc về Bản thể... Tính toàn thể này trước hết bao gồm ý thức, sau đó là vô thức cá nhân, và cuối cùng là một mảng rộng lớn vô hạn của vô thức tập thể mà các nguyên mẫu của nó là chung cho toàn thể nhân loại.⁹
Jung gọi mandala, với sự nhấn mạnh vào trật tự và sự cân bằng hài hòa, là một dự cảm về trung tâm của nhân cách, hay Bản thể. Nó là một dự cảm ở chỗ Bản thể, với tư cách là trung tâm kiến tạo trật tự cho toàn bộ tâm thức, không hề tồn tại sẵn khi ta mới sinh ra. Nó phải được tạo tác thông qua nhiều trải nghiệm tâm lý đa dạng. Để phân biệt giữa Bản thể trước và sau tiến trình cá nhân hóa, tôi dùng khái niệm Bản thể "tiềm ẩn" và Bản thể "hiển lộ". Bản thể tiềm ẩn là một trung tâm yếu ớt, chỉ sở hữu quyền năng hạn chế trong việc tổ chức đời sống tâm thức. Với Bản thể tiềm ẩn, các phức cảm và nguyên mẫu tranh giành quyền kiểm soát tâm thức; tình trạng nội tâm diễn ra đầy hỗn loạn và khó khăn. Cá nhân đó hoàn toàn không trải qua sự hỗn loạn như một bệnh nhân loạn thần, nhưng cảm thức về bản thân của họ rất mong manh.
Cái tôi có thể tự tin rằng mình đang ở một vị thế vững mạnh và kiểm soát được mọi thứ, nhưng các phức cảm có thể xuất đầu lộ diện bất cứ lúc nào, phá vỡ trật tự mà cái tôi đang nhọc công duy trì. Một doanh nhân thành đạt rất "làm chủ tình hình" trong công việc có thể trải qua những cơn thịnh nộ không thể kiểm soát khi ở nhà. Một người phụ nữ của sự nghiệp có thể khóc nức nở không nguôi mà chẳng rõ lý do. Trật tự của cái tôi chỉ là một màn kịch mà một phức cảm có thể dễ dàng chọc thủng. Nếu một cá nhân rơi vào sự chi phối của một nguyên mẫu, cảm thức bản sắc mong manh do cái tôi mang lại có thể dễ dàng bị quét sạch. Những ví dụ rõ ràng là trải nghiệm của những cá nhân bình thường và có vẻ khỏe mạnh nhưng lại bị cuốn theo cảm xúc của đám đông, hoặc khả năng của các chính phủ biến những cá nhân nhạy cảm thành cỗ máy giết người bằng cách khơi gợi lòng yêu nước.
Nguy hại hơn dưới góc độ tâm linh là rủi ro nhầm lẫn các tiếng nói nội tâm khác với tiếng nói của Bản thể. Một cá nhân đang cố gắng lắng nghe tiếng nói của tinh thần nội tại và muốn kết nối với những hình ảnh do nó tạo ra có thể đang phải đối mặt với một phức cảm hoặc nguyên mẫu tự trị, chứ hoàn toàn không phải là Bản thể. Việc quay vào bên trong để tìm kiếm tiếng nói êm đềm, nhỏ nhẹ thường giải phóng một dòng thác những hình ảnh không thể kiểm soát. Những hình ảnh này có thể không liên quan gì đến tiến trình cá nhân hóa, mà liên quan đến các nguyên mẫu hoặc phức cảm chưa phải là một phần của đồ hình mandala mà Jung mô tả.
Điều này xảy ra quá thường xuyên, như nghiên cứu về các trải nghiệm tâm linh đã chứng minh. Hãy lấy một ví dụ duy nhất: các vị giáo phụ Kitô giáo thời kỳ đầu đã đi vào sa mạc để tìm kiếm Thiên Chúa của họ nhưng thay vào đó lại chạm trán với từng bầy quỷ dữ. Rất có thể, những con quỷ hành hạ họ chính là những hình ảnh do các phức cảm hoặc nguyên mẫu bị kích hoạt tạo ra.
Trong đoạn trích trên, Jung đã giải thích cách Bản thể có thể điều phối toàn bộ tâm thức, bao gồm cả vô thức tập thể, xung quanh một trung tâm quyền năng mà tôi gọi là Bản thể hiển lộ. Nhờ vào công việc của tiến trình cá nhân hóa, Bản thể giành được vị thế của lực lượng tâm linh chủ đạo bên trong tâm thức. Khi các hình ảnh hiển lộ, chúng hiển lộ như là Bản thể, và dù không thể bị kiểm soát hay thậm chí không thể đoán trước, chúng vẫn có thể được tin cậy.
Như Jung đã chỉ ra, quyền năng và năng lượng của Bản thể biểu hiện như một thôi thúc gần như không thể cưỡng lại để được là chính mình. Bản thể thúc đẩy người ta trải nghiệm và biểu đạt tính độc nhất vô nhị của bản thân; nhằm đạt được mục đích này, nó phải sắp đặt trật tự cho thế giới nguyên mẫu. Các nguyên mẫu là các lực lượng tập thể, và những hình ảnh mà chúng tạo ra mang tính phổ quát. Một cá nhân có thể chỉ đơn thuần đi theo những hình ảnh này, và qua đó có được những trải nghiệm linh thiêng. Nhưng người đó sẽ không bao giờ kiến tạo nên Bản thể hiển lộ vốn mang tính độc nhất và cá nhân—và giáo lý trung tâm trong mô hình của Jung là người ta phải trở thành chính mình.
Dù Jung không khái niệm hóa tiến trình theo cách này, tôi hình dung về sự sắp đặt trật tự cho mớ hỗn độn tâm thức thông qua hành động của Bản thể. Khi Bản thể đưa các nguyên mẫu vào sự hòa điệu, nó tạo ra trật tự theo mô thức của cấu trúc mandala với mỗi nguyên mẫu ở trong một mối quan hệ bổ sung cho tổng thể. Trong tiến trình này, các nguyên mẫu mất đi các phẩm tính phổ quát và tập thể của chúng, và thực sự đóng góp vào tính độc nhất vô nhị vốn là Bản thể.
Tóm lại, đối với Jung, thái độ tôn giáo bao gồm việc chú tâm đến Bản thể, sống cùng Bản thể như một người bạn đồng hành nội tâm. Bởi vì tinh thần thuộc về Bản thể hiển lộ trong giấc mơ, thị kiến và trí tưởng tượng chủ động, người ta có thể duy trì mối liên hệ với Bản thể bằng cách tương tác với những hình ảnh đó. Tuy nhiên, ở trạng thái tiềm ẩn thông thường, Bản thể phải cạnh tranh với các phức cảm và nguyên mẫu vốn cũng hiển lộ dưới dạng hình ảnh. Khi đó, thái độ tôn giáo không chỉ bao gồm việc chú tâm đến Bản thể, mà còn là làm việc với nó theo cách giúp nó trở nên quyền năng và chiếm ưu thế trong tâm thức. Công việc này—công việc tâm linh xuất sắc bậc nhất—chuyển hóa Bản thể từ trạng thái tiềm ẩn sang trạng thái hiển lộ. Khi làm như vậy, nó biến đổi toàn bộ nhân cách, bao gồm cả cái tôi và vô thức.
Bản thể hiển lộ phải được kiến tạo; nó hiếm khi tự phát nảy sinh từ Bản thể tiềm ẩn. Gắn liền với nhu cầu chuyển hóa Bản thể, Jung thường nói về chủ đề cứu chuộc. Tính tất yếu của sự chuyển hóa và cứu chuộc là một mối tương quan khác với truyền thống tôn giáo bí truyền. Trong thuyết Ngộ đạo và thuật giả kim, cũng như trong nhiều hình thức thần bí học, cá nhân không thể chỉ đơn thuần dựa dẫm vào sự cứu rỗi. Mỗi người phải cần mẫn nỗ lực vì sự cứu rỗi của chính mình, bằng không sẽ không bao giờ đạt được. Thuật giả kim diễn đạt thực tế này bằng hình ảnh luyện tạo hòn đá triết gia từ vật chất thô sơ (prima materia) mà công trình bắt đầu từ đó. Chúng ta có thể xem prima materia như Bản thể tiềm ẩn mà từ đó Bản thể hiển lộ được tạo ra, hoặc thậm chí như trạng thái hỗn độn của tâm thức khi bắt đầu công việc. Hãy nhớ rằng một tên gọi khác của prima materia chính là sự hỗn độn (chaos).
Hình 1 (trang 14) là một ví dụ về cách các nhà giả kim hình dung sự hỗn độn lúc khởi đầu của công việc. Mọi thứ đều rơi vào rối loạn, không có mối liên kết rõ ràng nào giữa các yếu tố rời rạc, những yếu tố dường như hầu như chưa được định hình hay phân biệt. Hình 2 (trang 16) minh họa trật tự được tạo ra khi nhà giả kim đã hoàn thành đại tác phẩm. Sự khác biệt giữa hình ảnh thứ nhất và thứ hai minh họa cho những tác động của sự chuyển hóa lên tâm thức!
Bên trong mỗi cá nhân tồn tại một trung tâm chứa đựng bản thể độc nhất của cá nhân đó. Trung tâm này nỗ lực để biểu đạt chính mình. Những tiếng nói cạnh tranh của các phức cảm và nguyên mẫu, và thậm chí cả của cái tôi, thường ngăn chặn tiếng nói của nó. Bằng cách tuân theo một số tiến trình nhất định, người ta trao quyền cho trung tâm này để nó loại bỏ những tiếng nói cạnh tranh và tổ chức thế giới nội tâm xoay quanh chính nó. Sự hình thành của Bản thể không bao giờ hoàn tất trọn vẹn, vì luôn còn sót lại những chất liệu chưa được tích hợp vào (hoặc chưa được hòa điệu bởi) trung tâm. Tuy nhiên, khi Bản thể trở nên mạnh mẽ hơn, tiếng nói và lực lượng tổ chức của nó sẽ giành ưu thế. Tại thời điểm đó, cái tôi có thể buông lỏng và tin cậy, rồi bắt đầu một cách nghiêm túc việc thực hành tôn giáo là sống cùng Bản thể. Dù vậy, cho đến khi đạt được điểm đó, cái tôi phải dấn thân vào công việc khó khăn nhất là chuyển hóa tình trạng tâm thức nội tâm và trao quyền cho Bản thể. Cho đến lúc đó, cái tôi chưa thể buông lỏng và tin cậy. Thay vào đó, nó phải nỗ lực và tranh đấu để học cách nhận diện Bản thể, và tìm ra những cách thức để trao cho nó năng lượng và sức mạnh mà nó cần. Một phần thiết yếu trong tâm lý học của Jung như một con đường tâm linh liên quan đến việc sử dụng các kỹ thuật khác nhau để biến đổi Bản thể. Đã đến lúc xem xét một số kỹ thuật này.
CHỨC NĂNG SIÊU VIỆT
Trong bài khảo luận về chức năng siêu việt,¹⁰ Jung đã trình bày một mô hình mẫu mực cho tiến trình mà qua đó Bản thể tiềm ẩn chuyển hóa thành Bản thể hiển lộ. Sự chuyển hóa này dựa trên sự hợp nhất của các mặt đối lập. Thật vậy, một trong những đặc tính của Bản thể là khả năng dung hợp tính nhị nguyên của các mặt đối lập: thiện và ác, nam tính và nữ tính, bên trong và bên ngoài, tâm linh và vật chất. Không có cách giải thích tuyến tính nào cho sự hợp nhất của các mặt đối lập; sự hợp nhất của chúng siêu việt lý trí. Một hình ảnh biểu trưng cho sự hợp nhất này là đồ hình mandala và điểm trung tâm của nó, nơi mọi thứ khác được tổ chức xung quanh. Điểm trung tâm chính là Bản thể. Nó được bao quanh bởi tất cả các mặt đối lập, những mặt đã tìm thấy vị trí thích hợp của chúng trong mối tương quan với trung tâm và với nhau. Tuy nhiên, như Jung đã chỉ ra, toàn bộ mandala cũng đại diện cho Bản thể, do đó Bản thể bao hàm tất cả các mặt đối lập. Bản thể không chỉ là điểm ở trung tâm, mà còn là các vòng tròn và các thành phần khác bao quanh trung tâm.
Chúng ta trải nghiệm Bản thể như một sự hợp nhất của các mặt đối lập theo một số cách. Nếu Bản thể hiển lộ đang sống động trong tâm hồn, chúng ta có thể đối diện với mọi tình huống bằng sự phản hồi thích hợp. Chúng ta tử tế khi sự tử tế là phù hợp, và nghiêm khắc khi sự nghiêm khắc là cần thiết. Chúng ta không sợ mặt tối của chính mình, cũng không bị nó chi phối, mà biểu đạt nó theo một cách thích đáng. Chúng ta nhìn thấy tinh thần sáng tạo trong thế giới vật chất, và tận hưởng những thú vui vật chất. Tóm lại, chúng ta không sợ hãi việc biểu đạt tất cả các mặt trong nhân cách của mình và không kìm nén bất kỳ mặt nào. Sự sẵn lòng trở thành tất cả những gì chúng ta vốn là, và đón nhận mọi phần trong ta, cho phép ta trải nghiệm chính mình như những thực thể toàn vẹn. Chúng ta có thể nghĩ về sự hợp nhất các mặt đối lập diễn tiến theo cách này là tuần tự; trước hết một phần của nhân cách biểu đạt chính nó, sau đó đến một phần khác.
[Hình ảnh]
Hình 1. Trạng thái hỗn độn đánh dấu trạng thái ban đầu của vật chất nguyên sơ (prima materia) trong giả kim thuật và tượng trưng cho sự hỗn loạn của tâm thức trước khi thuật giả kim nội tâm bắt đầu. Đây là một trạng thái u ám, nặng nề, trong đó mọi nội dung đều mất trật tự và không có mối liên hệ nào với nhau. Toàn bộ thuật giả kim nội tâm bao gồm sự chuyển hóa từ hỗn độn sang trật tự, vốn được tạo ra xung quanh trung tâm là Bản thể. Hãy chú ý trong hình minh họa này rằng ở giữa sự hỗn độn có thể nhìn thấy một điểm trung tâm—một hình ảnh về Bản thể tiềm ẩn và là lời hứa hẹn cho sự phát triển trong tương lai. (Trích từ cuốn Escalier des Sages của Barent Coenders van Helpen, 1689.)
Một trải nghiệm khác về sự hợp nhất này không mang tính tuần tự mà là đồng thời. Điều này khó giải thích hơn nhiều. Sau khi đã hợp nhất các mặt đối lập bên trong chính nó, Bản thể, do không phải là bất kỳ mặt nào trong số đó, chiếm lĩnh vị trí của mình ở bên ngoài tất cả chúng. Dù nó vẫn vận hành theo cách thức tuần tự đã mô tả ở trên, nhưng trạng thái ý thức gắn liền với Bản thể không còn có thể được định nghĩa theo các cặp đối lập nữa. Cái tôi, một phần của Bản thể hiển lộ, không trải nghiệm chính mình dưới lăng kính nam tính hay nữ tính, cũng không theo lăng kính thiện hay ác; vị trí nhận diện của nó đứng bên ngoài tất cả các thuộc tính này. Vì một trạng thái hiện hữu như vậy vượt khỏi sự miêu tả bằng lời, nên điều tối đa người ta có thể nói là nó bất chấp mọi định nghĩa trong các phạm trù thông thường. Tuy nhiên, như một trải nghiệm, nó mang lại cảm giác hoàn toàn độc nhất và tự thân viên mãn. Một Bản thể như vậy tự định nghĩa chính nó, và chỉ có thể được hiểu như một bản thể độc nhất vô nhị. Việc nó chỉ có thể được định nghĩa theo chính nó không có nghĩa là nó thiếu mối liên hệ với người khác và với thế giới bên ngoài. Mối liên hệ là thiết yếu đối với trải nghiệm sống, và thế giới bên ngoài là một phần của sự hợp nhất các mặt đối lập vốn làm hiển lộ Bản thể. Dù vậy, Bản thể không bị định nghĩa bởi mối liên hệ hay thế giới bên ngoài, mà bởi chính sự hiện hữu và ý thức riêng biệt của nó. Có những tiến trình tâm lý riêng biệt hình thành nên Bản thể độc nhất này, và quan trọng nhất chính là chức năng siêu việt.
[Hình ảnh]
Hình 2. Trái ngược rõ rệt với biểu trưng trước đó, đồ hình mandala này trình bày một vũ trụ có trật tự và hòa điệu. Được kết nối trực tiếp với hòn đá triết gia, bức tranh miêu tả một trung tâm được phân định rõ ràng, nơi ngự trị của thần tính, ở đây được liên hệ với Chúa Kitô. Mọi thứ chuyển động và tập trung xung quanh trung tâm chung này. Bên trong tâm thức, Bản thể hiển lộ đã được tạo ra và trật tự đã được sinh ra từ sự hỗn độn. (Trích từ "Amphitheatrum Sapientiae", 1609.)
Chức năng siêu việt là cơ chế tâm lý giúp hợp nhất các mặt đối lập và đưa Bản thể đến chỗ hiển lộ. Xét như một tổng thể, tâm thức bao gồm tâm trí có ý thức (với cái tôi ở trung tâm) và vô thức. Để tạo ra sự hợp nhất các mặt đối lập, các nội dung của vô thức phải được kết hợp với cái tôi để tạo ra một vị thế thứ ba. Bởi vì chức năng siêu việt "phát sinh từ sự hợp nhất các nội dung có ý thức và vô thức",¹¹ nó tạo ra vị thế thứ ba đó. Người ta có thể hỏi, vai trò của cái tôi trong tiến trình chuyển hóa này là gì?
Mặc dù cái tôi cảm thấy thoải mái nhất với ý thức, nó phải sẵn lòng xem xét khuynh hướng của chính mình và chấp nhận khả năng rằng nó không hề toàn vẹn hay không thể sai lầm. Cái tôi phải cởi mở với ý niệm rằng có những góc nhìn khác ngoài góc nhìn ý thức. Quan trọng nhất, cái tôi phải thừa nhận sự tồn tại của vô thức, và rằng lập trường do vô thức đưa ra là đáng để xem xét. Đây không phải là một yêu cầu nhỏ. Không chỉ dư luận xã hội thường bác bỏ khả năng tồn tại của vô thức, mà cái tôi thông thường còn khiếp sợ viễn cảnh không kiểm soát được đời sống tâm thức của chính mình. Ngay cả khi cái tôi thừa nhận khả năng tính đến vô thức, nó thường đem ảo tưởng thay thế cho một cuộc chạm trán thực sự với vô thức, vì ảo tưởng sẽ chỉ đơn giản giúp duy trì vị thế của cái tôi.
Thông thường chỉ trong bối cảnh phân tích hoặc trị liệu, cái tôi mới thấy mình có thể xem xét lập trường của vô thức. Về nhiều mặt, nhà phân tích đảm nhận chức năng siêu việt thay cho thân chủ bằng cách chú tâm cẩn thận đến các thông điệp của giấc mơ và trao cho chúng sức nặng xứng đáng. Nhà phân tích cố gắng giáo dục thân chủ về giá trị có thể tìm thấy bên trong vô thức. Bằng cách này, bà khuyến khích thân chủ bắt đầu chú tâm đến tiếng nói bên trong. Đồng thời, bà phải mang lại cảm giác an toàn và được bảo vệ cho thân chủ khi công việc nguy hiểm là tương tác với vô thức bắt đầu. Sự trợ giúp từ bên ngoài thường rất cần thiết khi bắt đầu công việc, và ngay cả với những ý định tốt nhất, nhiều người sẽ thấy nhiệm vụ này là bất khả thi nếu tự mình thực hiện.
TRÍ TƯỞNG TƯỢNG CHỦ ĐỘNG
Là bước đầu tiên trong việc vận dụng chức năng siêu việt, cái tôi hướng về vô thức với một thái độ cởi mở và đón nhận. Với thái độ này của cái tôi, công việc tiếp theo là tìm cách trao tiếng nói cho thực thể vô thức, để có thể tiếp cận được lập trường và thông tin của nó. Ở phần trước của chương này, tôi đã xác định khía cạnh tâm linh của các nội dung vô thức là khả năng tạo ra và điều khiển các hình ảnh.¹² Các nguyên mẫu hoặc phức cảm hiển lộ dưới dạng hình ảnh, cái mà Jung gọi là "sự nhân cách hóa".¹³ Giấc mơ cung cấp những ví dụ về tiến trình này, nhưng Jung cảnh báo rằng chúng không hữu ích trong việc thúc đẩy chức năng siêu việt. Trong khi mơ, cái tôi có ý thức đang ngủ và do đó không thể tương tác ở một mức độ bình đẳng với vô thức. Để chức năng siêu việt vận hành thành công, hai mặt đối lập phải được phân biệt rõ ràng và có đủ lực căng (tension) giữa chúng. Cái tôi cần phải hoàn toàn tỉnh táo, nhận biết, và có khả năng giữ vững lập trường của mình trong khi tương tác với hình ảnh vô thức. Hình ảnh do vô thức tạo ra và cái tôi tương tác với nhau, và trong sự tương tác này, chúng tạo ra lực căng cần thiết để khơi gợi chức năng siêu việt. Một kịch bản như vậy thường xảy ra trong những trải nghiệm mà Jung gọi là "trí tưởng tượng chủ động".
Trong quá trình tưởng tượng chủ động, cái tôi, trong khi hoàn toàn tỉnh táo và hoạt động bình thường, trải nghiệm các nội dung hoặc sản phẩm của vô thức, vốn có thể mang hình thức của một hình ảnh, một tiếng nói, một cảm xúc, hay thậm chí là một cảm giác thể xác. Cái tôi, sau khi đã tập trung sự chú ý vào vô thức, phải từ bỏ mọi suy nghĩ phán xét và chỉ đơn giản mở lòng đón nhận bất cứ điều gì mà vô thức đưa ra. Trong trạng thái đón nhận này, nó phải chờ đợi vô thức hiển lộ. Một khi đã nhìn thấy, nghe thấy hoặc cảm nhận được điều gì đó, cái tôi sau đó sẽ phát triển sâu thêm hình ảnh mà nó nhận thấy, hoặc tiếng nói mà nó nghe được, và biểu đạt nó một cách trọn vẹn nhất có thể. Chẳng hạn, cái tôi có thể có một hình ảnh thoáng qua về một thác nước. Sau đó nó có thể vẽ lại thác nước đó, hoặc tiếp tục tưởng tượng mình đang lắng nghe tiếng nước chảy, hoặc thực sự lái xe đến một thác nước thật và ngồi bên cạnh nó trong một buổi chiều. Nó phải làm bất cứ điều gì cần thiết để tiếp thêm sức mạnh cho trải nghiệm.
Sau khi đã phát triển trải nghiệm một cách đầy đủ, bước tiếp theo cái tôi phải xác định ý nghĩa của nó. Điều này có tầm quan trọng sống còn, bởi nếu không đạt được sự thấu hiểu nào đó về ý nghĩa đằng sau sự hiển lộ của vô thức, cái tôi sẽ không thể khám phá ra lập trường mà vô thức đang nắm giữ. Chỉ đơn thuần tận hưởng tiếng nước chảy, hay chiêm ngưỡng bức tranh mình đã vẽ là chưa đủ. Bất chấp những lý thuyết hiện thời nói ngược lại, việc chỉ hiện diện cùng hình ảnh là không đủ; cái tôi phải rút ra được ý nghĩa từ trải nghiệm đó.
Việc nhận thức ý nghĩa không nhất thiết phải liên quan đến một thao tác trí tuệ. Tiếp tục lấy thác nước làm ví dụ, một cách khả dĩ để làm việc với hình ảnh là khám phá xem biểu tượng "thác nước" xuất hiện như thế nào trong thần thoại hay truyện cổ tích, hoặc đọc những gì Jung và những người khác đã viết về nó. Ngoài ra còn có một cách khác, mang tính trải nghiệm nhiều hơn để khám phá ý nghĩa. Việc ngồi bên thác nước nội tâm hoặc thác nước ngoài đời thực tạo ra cảm giác về vẻ đẹp phi thời gian và sự nhận thức đột ngột rằng cuộc sống không chỉ là công việc kinh doanh và thành tựu. Cuộc sống còn là sự hiện hữu và lắng nghe, ngồi yên mà không cần làm gì. Dù đây là một chân lý hiển nhiên khi đọc trên trang sách, nhưng không dễ để sống với nó. Ngồi bên thác nước khiến chúng ta đột nhiên nhận ra mình đã không chú tâm đến mặt kia của cuộc sống. "Ý nghĩa" của thác nước là sống chậm lại, chú tâm đến vẻ đẹp xung quanh chúng ta, và lắng nghe âm thanh của cuộc sống mà chúng ta hầu như luôn phớt lờ. Ý nghĩa này không thuộc về trí tuệ, mà là một cảm xúc được sinh ra bởi chính trải nghiệm. Kết hợp ý nghĩa trải nghiệm của thác nước với sự nhận thức về mặt trí tuệ rằng thác nước tượng trưng cho sự chuyển hóa năng lượng, chúng ta đi đến nhận thức rằng việc dành thời gian để sống chậm lại và lắng nghe tự nhiên có thể mang tính chuyển hóa. Việc hợp nhất sự hiểu biết trí tuệ với trải nghiệm được cảm nhận là một công cụ mạnh mẽ trong việc khám phá ý nghĩa.
Tiến trình này vẫn chưa hoàn tất. Mặc dù cái tôi đã dành chỗ cho vô thức hiển lộ, và đã dành sự chú tâm thỏa đáng cho sự hiển lộ đó để nhận ra ý nghĩa của nó, thì giờ đây nó phải phản hồi lại thông điệp từ vô thức. Điều cốt yếu là phản hồi này phải chân thực và phản ánh chính xác sự hiểu biết và cảm xúc của cái tôi. Để chức năng siêu việt hoạt động, không bên nào trong cặp đối lập được phép áp đảo hoặc triệt tiêu bên kia. Khi bắt đầu tiến trình, cái tôi luôn luôn kìm nén tiếng nói của vô thức. Sau khi dỡ bỏ sự kìm nén này, cái tôi phải cẩn thận không để vô thức, đến lượt nó, dập tắt tiếng nói của mình. Nếu cái tôi chỉ đơn thuần đầu hàng lập trường của nó trước lập trường của vô thức, chức năng siêu việt sẽ không bao giờ vận hành. Cái tôi sẽ vẫn phiến diện y như trước, chỉ có điều sự phiến diện lúc này lại nghiêng về hướng ngược lại. Thay vì bận rộn với những công việc trần tục, nó sẽ từ bỏ mọi thứ để ngồi hàng giờ bên bờ thác nước, hy vọng tìm thấy sự giác ngộ. Sự buồn chán và cằn cỗi nhiều khả năng sẽ là kết quả; không có câu trả lời thần kỳ nào trong các thông điệp của vô thức, mà nó chỉ có trong chức năng siêu việt.
Khi thực hành trí tưởng tượng chủ động, cái tôi phải đối mặt với những mối nguy hiểm khác. Sức mạnh của vô thức không nên bị đánh giá thấp. Không thể duy trì lập trường của chính mình, cái tôi có thể bị nhấn chìm bởi chất liệu vô thức và trải qua một giai đoạn loạn thần. Hoặc nếu cái tôi từ bỏ góc nhìn của mình và tin theo vô thức quá mức trọn vẹn, những kết quả phiến diện có thể gây ra sự thổi phồng cái tôi.
Cái tôi cần phải hiểu rõ chính mình, và có khả năng duy trì hình ảnh bản thân cùng góc nhìn của mình trước áp lực mạnh mẽ từ các lực lượng nội tâm. Nhiệm vụ của cái tôi không hề dễ dàng, vì nó phải bảo vệ tính toàn vẹn của mình trong khi không quá cứng nhắc hay giáo điều. Đặt đôi chân vững chắc trên mặt đất, nó phải quay vào trong và mở những cánh cửa giải phóng trí tuệ, nhưng cũng là mối nguy hiểm, của vô thức. Thái độ kiên định nhưng linh hoạt này là thiết yếu để chịu đựng được những lực căng cần thiết cho chức năng siêu việt.
Sau khi đã phát triển hình ảnh thác nước và trải nghiệm ý nghĩa của nó, "tôi" phải phản hồi lại thông tin mình đã nhận được. Rất thường xuyên, lúc đầu "tôi" sẽ có một phản hồi tiêu cực, phản hồi mà "tôi" buộc phải đưa ra để không ép mình vào một vị thế thiếu chân thực. "Tôi" có thể quyết định rằng thác nước rất tốt và đẹp, nhưng "tôi" chắc chắn có những việc tốt hơn để làm thay vì ngồi nghe tiếng nước bắn tung tóe. Nếu "tôi" đưa ra phản hồi đó, sau đó "tôi" có nghĩa vụ quay trở lại với vô thức để nhận lời đối đáp của nó. Sau khi nghe lời đáp mới này, "tôi" lại phải phản hồi theo lượt. Và cứ thế tiếp diễn, với sự tranh luận qua lại giữa hai lập trường. Cái tôi không được chỉ đơn thuần tham gia vào một cuộc trò chuyện trí tuệ với vô thức, mà phải cố gắng mang lại càng nhiều cảm xúc chân thực cho cuộc thảo luận càng tốt. Sự chuyển động qua lại này cấu thành nên chức năng siêu việt:
Sự qua lại liên tục của các lập luận và cảm xúc đại diện cho chức năng siêu việt của các mặt đối lập. Sự đối đầu giữa hai lập trường tạo ra một lực căng tích tụ năng lượng và sinh ra một thực thể thứ ba sống động—không phải là một sự đình trệ logic... mà là một sự chuyển động vượt thoát khỏi tình trạng treo lơ lửng giữa các mặt đối lập, một sự sinh thành sống động dẫn đến một mức độ hiện hữu mới, một tình thế mới. Chức năng siêu việt tự biểu hiện như một phẩm tính của các mặt đối lập được liên kết lại.¹⁴
Bản thể là sự hợp nhất của các mặt đối lập, đồng thời là trung tâm của tâm thức. Trung tâm này lớn lên bằng cách tổ chức các lực lượng nguyên mẫu xung quanh chính nó thông qua sự hợp nhất giữa cái tôi và vô thức. Chức năng siêu việt là phương tiện mà nhờ đó các mặt đối lập này được hợp nhất, là tiến trình mà qua đó Bản thể hiển lộ được đưa vào hiện hữu. Mỗi lần cái tôi tiếp xúc với một hình ảnh từ vô thức và can dự vào một cuộc đối thoại có ý nghĩa với nó, nó có thể kích hoạt chức năng siêu việt. Mỗi lần làm như vậy, bất kể vấn đề liên quan có vẻ nhỏ nhặt đến mức nào, nó đã củng cố và chuyển hóa Bản thể. Từ lực căng được tạo ra bởi các quan điểm đối lập của cái tôi và vô thức, từ sự dịch chuyển qua lại giữa các lập trường, một vị thế mới, thứ ba và siêu việt được tạo ra.
Nếu chức năng siêu việt tạo ra một vị thế thứ ba, nó có thể được trải nghiệm theo hai cách. Cái tôi có nhiều việc phải làm và biết rằng các nhiệm vụ hàng ngày của nó có tầm quan trọng lớn. Mặt khác, vô thức đòi hỏi thời gian để hiện hữu và ngồi yên, để suy ngẫm và lắng nghe tiếng nói bên trong. Sử dụng mô hình tuần tự, vị thế thứ ba cho phép cái tôi làm việc trong phần lớn thời gian trong tuần, nhưng cũng dành thời gian để hòa mình vào thiên nhiên hoặc thiền định. Có thời gian cho công việc bận rộn, và có thời gian cho sự suy tư tĩnh lặng. Nhờ sự hợp nhất với vô thức, cái tôi có thể xác định phản hồi nào được đòi hỏi tại một thời điểm nhất định. Nó cảm nhận được khi nào mình đã làm việc quá sức, và nhận ra giá trị của thời gian nghỉ ngơi, nó dành ra một giờ để ngồi yên lặng. Cảm thấy đã được tái kết nối, nó có thể quay trở lại làm việc.
Cách thứ hai mà sự hợp nhất được trải nghiệm là đồng thời. Cái tôi có thể làm việc khi thích hợp, và nghỉ ngơi khi thích hợp, nhưng cách thức mà nó thực hiện cả hai điều này thay đổi đáng kể. Khi làm việc, nó vẫn nhận thức được tiếng nói tĩnh lặng, nhỏ nhẹ bên trong, và không bao giờ quá đồng nhất với công việc của mình đến mức quên đi thế giới nội tâm. Cái tôi theo dõi cảm thức nội tâm về Bản thể ngay cả khi đang làm việc. Tuy nhiên, khi đến lúc nghỉ ngơi bên thác nước, nó cũng không quên đi đời sống công việc của mình. Trong khi nghỉ ngơi, những thấu hiểu sâu sắc về công việc có thể xuất hiện, và cảm thức về năng lực cùng tính kỷ luật mà nó có trong công việc sẽ chuyển hóa thành một phong thái ứng xử hoàn hảo với cõi vô thức. Nó không trải nghiệm sự nghỉ ngơi như một cơ hội để trở nên vô thức và quên đi cuộc sống bình thường, mà là cơ hội để chú tâm đến những ý niệm nội tâm trong khi vẫn giữ được cảm thức rõ ràng về bản sắc của chính mình.
Khi vị thế thứ ba được tạo ra thông qua sự vận hành của chức năng siêu việt, một trạng thái ý thức mới cũng đi vào hiện hữu. Cảm thức của cái tôi về chính mình đã thay đổi, và ý thức của nó an trụ trong Bản thể mới xuất hiện, vốn đã tìm ra cách để hợp nhất những trải nghiệm thư giãn và làm việc. Khoảng cách lớn lao giữa hai mặt đối lập này đã được bắc cầu, và trải nghiệm về Bản thể giờ đây bao hàm cả hai.
Có vẻ như Jung ngụ ý rằng người ta chỉ có thể trải nghiệm chức năng siêu việt bằng cách bước vào một dạng xung đột nào đó với vô thức, nhưng thực tế không phải như vậy. Sự chuyển động qua lại mà ông nói đến có thể mang những hình thức khác ngoài sự đối đầu mang tính đối lập. Đó có thể là sự cùng nhau khai triển một chủ đề, hoặc sự bày tỏ nỗi sợ hãi và phản hồi mang tính trấn an, hoặc yêu cầu cung cấp thêm thông tin. Các khả năng là vô tận, nhưng bản chất của sự tương tác phải đủ chân thực để tạo ra các lực căng tâm lý khi hai lập trường được đưa vào tiếp xúc.
Mô hình tâm thức mà Jung mô tả nhấn mạnh tầm quan trọng và giá trị tối hậu của Bản thể, đồng thời tiết lộ phương tiện mà nhờ đó nó có thể được chuyển hóa thành một trung tâm sống động và quyền năng. Một trong những phương tiện đó là trí tưởng tượng chủ động, phương pháp tốt nhất để trực tiếp vận dụng chức năng siêu việt.
Trí tưởng tượng chủ động, dĩ nhiên, vượt xa khỏi một kỹ thuật đơn thuần; nó có thể trở thành một lối sống. Bàn về giai đoạn sâu sắc trong tiến trình cá nhân hóa, nơi bốn chức năng của tâm thức được cân bằng, Tiến sĩ von Franz đã viết:
Đây là bình diện mà trí tưởng tượng chủ động nắm quyền kiểm soát. Với hạt nhân nội tâm của ý thức, bạn lưu lại ở vị trí trung đạo... có thể nói bạn lưu lại bên trong trí tưởng tượng chủ động của mình, và bạn có cảm giác rằng đây là nơi tiến trình đời sống của bạn diễn ra...
Bạn giữ cho ý thức của mình hướng về những biến cố xảy ra trên bình diện trung đạo, hướng về những biến cố đang mở ra bên trong trí tưởng tượng chủ động của bạn.¹⁵
Càng cá nhân hóa sâu sắc, Bản thể càng trở nên mạnh mẽ. Khi Bản thể gia tăng sức mạnh, cái tôi càng ít gặp khó khăn hơn trong việc tập trung vào nó và gom tụ nhận thức vào vị trí trung đạo mà Bản thể mang lại. Cái tôi càng có ý thức về Bản thể, nó càng sống nhiều hơn trong thế giới của trí tưởng tượng chủ động. Khởi đầu như một kỹ thuật, trí tưởng tượng chủ động trở thành một trạng thái hiện hữu. Trạng thái ý thức mới này định nghĩa vai trò của cái tôi bên trong Bản thể hiển lộ, nhưng ở những giai đoạn đầu của tiến trình cá nhân hóa, trí tưởng tượng chủ động là một kỹ năng cần phải được học hỏi và thực hành siêng năng nếu muốn đạt được bất kỳ kết quả nào.
Sống trong thế giới của trí tưởng tượng chủ động không ngụ ý rằng chúng ta liên tục ở trong một trạng thái ý thức bị biến đổi, với những thị kiến cả ngày lẫn đêm. Nó có nghĩa là sự chú ý của chúng ta không bao giờ xa rời trung tâm, và chúng ta có thể tiếp cận Bản thể rất dễ dàng tại bất kỳ thời điểm nào. Hơn nữa, thế giới trở nên sống động và tràn trề sinh lực, chứa đầy những khả năng kỳ diệu và một nền tảng thiêng liêng huyền bí chỉ cần rất ít tác động là được kích hoạt. Những cá nhân trong trạng thái hiện hữu như vậy luôn có mặt trong khoảnh khắc hiện tại, và tham gia một cách có ý thức vào mọi tình huống. Tuy nhiên, cùng lúc đó, thế giới của vô thức cũng hiện diện, và những cuộc hội ngộ trong tưởng tượng luôn ở rất gần kề.
Trí tưởng tượng chủ động có thể mang nhiều hình thức. Trong khi một số người có thể vẽ một hình ảnh hoặc điêu khắc nó, những người khác có thể nhảy múa theo cảm xúc mà họ đang trải nghiệm, hoặc viết nó thành âm nhạc. Tuy nhiên, theo quan điểm của tôi, hình thức lý tưởng của trí tưởng tượng chủ động là một cuộc đối thoại hoặc trao đổi giữa một hình tượng nội tâm và cái tôi. Hình tượng nội tâm thực sự nhân cách hóa nội dung của vô thức mà chúng ta đang cố gắng tiếp cận, và nó làm như vậy dưới một hình thức có thể trò chuyện và tích cực trao đổi thông tin với cái tôi. Việc duy trì một cuộc đối thoại bằng lời với một hình tượng nội tâm cần có sự thực hành, nhưng một khi đã đạt được, đó là cách thức tối ưu để trao đổi thông tin và tạo ra lực căng cần thiết cho chức năng siêu việt. Như tôi đã nói, có những cách khác để thực hiện tưởng tượng chủ động. Không phải ai cũng có thể đối thoại với các tiếng nói nội tâm, nhưng một chút nỗ lực hầu như luôn mang lại khả năng kết nối bằng lời nói. Nếu chúng ta kết hợp khả năng nhìn thấy và cảm nhận một hình tượng nội tâm với năng lực lắng nghe nó, thì chúng ta đang ở vị thế để thực hiện một số công việc tưởng tượng chủ động rất sâu sắc. Điều này không dễ thực hiện và phải được rèn luyện, giống như cách chúng ta luyện tập một nhạc cụ để đạt đến sự thành thục. Chúng ta càng luyện tập nhiều, chúng ta càng trở nên thuần thục hơn.
Như đã đề cập, một hình tượng nội tâm là sự nhân cách hóa của một nội dung vô thức cụ thể, do đó việc tương tác với hình tượng đó cũng là tương tác với nội dung đang được bàn tới. Ví dụ, giống như việc người ta không mơ về một phức cảm người cha theo nghĩa trừu tượng mà mơ về một người đàn ông mặc bộ vest ba mảnh trông giống như sếp của mình, trong trí tưởng tượng chủ động, nội dung nội tâm không được cảm nhận trực tiếp, mà thông qua một hình ảnh được nhân cách hóa. Đồng thời, hình tượng nội tâm mang tính tự trị; nghĩa là, nó nằm ngoài sự kiểm soát của cái tôi. Tính tự trị và tính thực tại của các hình tượng nội tâm là một khái niệm rất khó nắm bắt. Do đó, một sự kháng cự chủ yếu đối với công việc tưởng tượng chủ động là cảm giác rằng cái tôi chỉ đang "tự biên tự diễn tất cả". Tuy nhiên, hầu như không bao giờ có chuyện như vậy, vì tính tự trị của vô thức thường đủ mạnh để chống lại sự kiểm soát trực tiếp từ phía cái tôi. Cái tôi có thể diễn giải sai, nó có thể đồng nhất, nó có thể tưởng tượng hão huyền, nhưng nó gặp rất nhiều khó khăn trong việc thao túng các hình tượng nội tâm. Nếu trí tưởng tượng chủ động được thực hiện đúng cách, hình tượng nội tâm sẽ cất lên tiếng nói của riêng mình.
Có một nét đặc trưng thú vị khác của hình tượng nội tâm mà Jung đã đề cập. Khi viết về những hình ảnh nguyên mẫu quyền năng, ông lưu ý rằng "thay vì suy ra những hình tượng này từ các trạng thái tâm thức của chúng ta, chúng ta phải suy ra các trạng thái tâm thức của mình từ những hình tượng này".¹⁶ Trong đoạn văn này, tôi ngờ rằng Jung đang đề cập đến cách thức mà các nguyên mẫu có thể quyết định các trải nghiệm tâm lý của ý thức tập thể, nhưng đồng thời, ảnh hưởng này cũng có thể được phát hiện trong tâm thức cá nhân. Hình tượng nội tâm xuất hiện một cách tự trị từ vô thức, và sau đó có thể định hình hoặc ảnh hưởng mạnh mẽ đến các trạng thái tâm lý của những cá nhân trải nghiệm chúng. Ai cũng biết rằng các giấc mơ có thể ảnh hưởng đến tâm trạng hoặc cách nhìn của một cá nhân, ngay cả khi giấc mơ đó không được giải mã. Trí tưởng tượng chủ động cũng có thể có ảnh hưởng mạnh mẽ đến tâm trạng và cảm giác hạnh phúc của một người. Có hai hệ quả quan trọng từ nhận định này của Jung cần phải được xem xét: hình tượng nội tâm đứng bên ngoài trạng thái tâm lý hiện tại của cái tôi, và đồng thời có thể ảnh hưởng trực tiếp đến trạng thái đó.
Để dùng một ví dụ đơn giản, chúng ta hãy giả sử một cá nhân đang rơi vào một phức cảm người cha. Anh ta trải qua nỗi sợ hãi và lo âu khi phải đối phó với những nhân vật quyền lực ngoài đời thực. Nếu có khả năng thực hành trí tưởng tượng chủ động, anh ta có thể triệu hồi một hình tượng nội tâm từng giúp đỡ anh ta trong quá khứ. Vì hình tượng nội tâm này không bị vấy nhiễm bởi trạng thái tâm trí của cái tôi, nó đứng bên ngoài phức cảm và không bị ảnh hưởng bởi phức cảm đó. Hơn nữa, nếu hình tượng nội tâm đủ mạnh, chỉ bằng cách tương tác với cái tôi, nó có thể kéo cái tôi ra khỏi phức cảm và làm thay đổi nhận thức cùng cảm thức về bản thân của cái tôi. Cái tôi giờ đây ở vào vị thế có thể đối mặt với thử thách của thế giới bên ngoài mà không bị tàn tật bởi phức cảm.
Hình tượng nội tâm mà người ta tiếp xúc trong trí tưởng tượng chủ động mang tính tự trị, có khả năng tự biểu đạt mà không bị cái tôi thống trị. Đồng thời, nó có khả năng thực thi một ảnh hưởng mạnh mẽ lên cái tôi và trạng thái tâm lý của chính nó. Theo định nghĩa của Jung, tinh thần ám chỉ sức mạnh tự trị trong việc tạo ra và điều khiển các hình ảnh. Như vậy, mỗi lần tưởng tượng chủ động là một trải nghiệm trực tiếp về quyền năng tâm linh của tâm thức. Chắc chắn có một mặt tiêu cực đối với quyền năng này, vì một hình tượng nội tâm hiện thân cho một nguyên mẫu thực sự có thể tác động đến trạng thái của cái tôi theo một cách phá hủy. Cái tôi phải phát triển các phương tiện để tự bảo vệ mình khỏi ảnh hưởng như vậy cho đến khi Bản thể trở nên đủ mạnh để hòa điệu những sự phóng chiếu nguyên mẫu này.
TÂM THỨC VÀ PSYCHOID
Người ta hoàn toàn có thể tự hỏi Jung đã làm thế nào để xây dựng các lý thuyết của mình về Bản thể và trí tưởng tượng chủ động. Bản thân ông cho chúng ta biết rằng ông đi đến những điều đó bằng cách quan sát những giấc mơ và những trải nghiệm tưởng tượng chủ động của các thân chủ. Khi đọc cuốn Ký ức, Giấc mơ, Suy tưởng (Memories, Dreams, Reflections), ta cũng thấy rõ rằng chính những trải nghiệm tưởng tượng chủ động của bản thân ông đã định hình nên rất nhiều lý thuyết của ông. Ông quy nguồn gốc của nhiều ý tưởng cho người dẫn đường nội tâm của mình, Philemon. Như ông đã tuyên bố: "Tất cả các công trình của tôi, tất cả các hoạt động sáng tạo của tôi, đều bắt nguồn từ những ảo tưởng và giấc mơ ban đầu đó."¹⁷ Ông đã thử nghiệm những ý tưởng này trong sự quan sát của mình đối với những người khác, và trong sự suy xét của ông về các truyền thống thời kỳ trước. Trong sự kết hợp giữa trải nghiệm nội tâm với nghiên cứu bên ngoài, ông cung cấp một phương pháp sâu sắc để nghiên cứu thế giới nội tâm.
Tôi đã cố gắng đi theo mô hình của Jung trong công việc của chính mình. Tôi chú tâm sâu sắc đến những trải nghiệm nội tâm của bản thân, cũng như của bạn bè và thân chủ, nhằm củng cố sự hiểu biết của mình về các cuộc gặp gỡ và công việc mang tính thị kiến. Đồng thời, tôi đã nghiên cứu nhiều truyền thống thị kiến khác để làm phong phú thêm nhận thức của mình bằng những ý tưởng của những người khác đã cống hiến hết mình cho công việc nội tâm. Thông qua trải nghiệm của bản thân cũng như của nhiều cá nhân khác, tôi đã đi đến việc thừa nhận sự tồn tại của cái mà tôi gọi là thế giới psychoid.
Người ta có thể trải nghiệm các hình tượng nội tâm theo nhiều cách. Trí tưởng tượng chủ động kết nối các cá nhân với các hình tượng nội tâm, những hình tượng này dù rất quyền năng nhưng rõ ràng thuộc về cõi tưởng tượng và bắt nguồn từ tâm thức. Những hình tượng này mang lại cảm giác như thể chúng đến từ bên trong chính mình. Thông thường người ta trải nghiệm chúng khi nhắm mắt và hướng sự chú ý vào bên trong. Đây là những hình tượng tâm thức nhân cách hóa các lực lượng của vô thức. Tuy nhiên, thi thoảng, người ta có thể trải nghiệm một hình tượng mang lại cảm giác hoàn toàn khác biệt. Hình tượng này mang lại cảm giác như thể nó đến từ bên ngoài bản thân, như thể nó tồn tại trong thế giới ngoại tại, chẳng hạn như ngay trong căn phòng mà người ta đang ở. Mắt người đó vẫn mở, và cảm giác nhận thấy là người ta tri giác được một hình tượng không đến từ bên trong. Sự chú ý của cái tôi hướng ra bên ngoài chứ không phải vào bên trong. Đây chính là những trải nghiệm mà tôi dùng thuật ngữ "psychoid" để chỉ.
Còn có những thuộc tính khác của các trải nghiệm psychoid. Chúng có nhiều khả năng đi đôi với trải nghiệm mang tính đồng quy (synchronistic), và tác động của chúng thường là về thể chất cũng như tâm lý. Phẩm tính của trải nghiệm ít mang tính "tưởng tượng" hơn và mang tính "thực tế" hơn, mặc dù thực tại mà người ta đang can dự không phải là thực tại của thế giới thông thường.
Dưới đây là một ví dụ cá nhân về những trải nghiệm như vậy. Tôi đang ngủ ở nhà thì thức giấc vào giữa đêm. Vợ tôi đang ngủ bên cạnh, và không có gì vẻ khác thường. Đột nhiên tôi thấy mình đang ở trên đỉnh một ngọn núi, gần như ở ngay sát đỉnh chóp. Độ dốc rất lớn, và nỗi sợ độ cao khiến tôi phải nằm rạp xuống đất và bám chặt lấy vì sợ rằng mình có thể rơi xuống bất cứ lúc nào. Cùng lúc đó, tôi hoàn toàn ý thức được việc mình đang ở nhà trên giường. Tôi nhận biết cả hai thực tại cùng một lúc, và vào thời điểm đó nó không mang lại cảm giác quá kỳ lạ. Tôi không ngủ mà hoàn toàn tỉnh táo, và khung cảnh ngọn núi hoàn toàn có thật. Tôi có thể cảm nhận được cái lạnh và ngửi thấy mùi của đất. Nỗi sợ hãi của tôi rất sắc bén và rõ ràng. Khi tôi nằm ở đó, một hình bóng trùm mũ xuất hiện ngay phía trên tôi và nói: "Con không tin ta ngay cả ở đây sao?" Được khích lệ bởi những lời của người, tôi đứng dậy và nhìn thẳng vào mặt người. Đúng hơn là tôi nhìn vào mắt người, vì bên trong chiếc mũ trùm đầu là một bộ xương với đôi mắt đỏ rực sáng lấp lánh. Thay vì sợ hãi, tôi tràn ngập một cảm giác sâu sắc về tình yêu thương và cảm nhận mình đang được yêu thương. Người đưa tay ra và chạm vào ngực tôi, và tôi thấy mình rời khỏi ngọn núi để trở lại trên giường, nhưng trong một trạng thái ngây ngất sâu xa kéo dài năm hoặc sáu giờ đồng hồ. Nét điển hình của những cuộc gặp gỡ mang tính psychoid là tính chân thực của khung cảnh ngọn núi, sự sống động trọn vẹn của hình bóng trùm mũ, tác động sâu sắc từ cái chạm của người, và trạng thái ngây ngất tột độ.
Do loại trải nghiệm này, tôi bắt đầu trăn trở với ý niệm rằng ắt phải có những tầng bậc khác nhau của những biến cố thị kiến. Tôi cảm thấy rằng việc gán nhãn tất cả chúng là trải nghiệm tâm thức hoặc trải nghiệm vô thức là thiếu đi sự phân định đầy đủ. Tám trăm năm trước khi Jung viết về trí tưởng tượng chủ động, nhà thần bí Sufi vĩ đại Ibn 'Arabi đã giảng dạy về bản chất của các trạng thái tưởng tượng và đề cập đến cuộc gặp gỡ với các hình tượng nội tâm. Trong tác phẩm Fusus al-Hikam hay Những con dấu của sự thông thái (The Seals of Wisdom),¹⁸ ông đã viết về các cấp độ khác nhau của những trải nghiệm tưởng tượng. Ông phân biệt giữa năng lực tưởng tượng của con người bình thường với năng lực tưởng tượng của bậc ngộ đạo (gnostic), lập luận rằng trí tưởng tượng của bậc ngộ đạo tạo ra những trải nghiệm và thực thể có thật tồn tại độc lập với năng lực tưởng tượng. Mặt khác, trí tưởng tượng của người bình thường tạo ra những hình ảnh chỉ có thực tế bên trong trí tưởng tượng của người đó. Nói cách khác, trong trí tưởng tượng chủ động thông thường, trải nghiệm chỉ thuộc về tâm thức, nhưng trong trải nghiệm psychoid, hình ảnh và cuộc hội ngộ với nó mang một thực tại siêu việt lên trên tâm thức. Hơn nữa, Ibn 'Arabi đã phân biệt giữa trải nghiệm về Thượng đế như là Bản thể và trải nghiệm về Thượng đế như là Đấng Khác Biệt (other). Trải nghiệm sau được ông mô tả là xảy ra trong lời cầu nguyện, nhưng chỉ khi cá nhân thực sự có khả năng nghe và thấy Thượng đế.
Do đó, có thể có hai loại hình tượng nội tâm. Loại thứ nhất bắt nguồn từ thế giới vô thức nội tâm và nhân cách hóa các nguyên mẫu cùng phức cảm. Những hình tượng này cũng có thể hiện thân cho Bản thể với quyền năng và trí tuệ của nó. Loại còn lại bắt nguồn từ thế giới psychoid, từ một thế giới tưởng tượng mang tính thực tại tự thân, và siêu việt lên trên thế giới tâm thức của con người. Các hình tượng thuộc loại thứ hai có thể giáng nhập từ thực tại khác này vào tâm thức của con người.
Khai triển thêm về các hình tượng này, Ibn 'Arabi đã viết rằng "hình tướng liên hệ với thực thể tâm linh giống như ánh sáng chiếu từ ngọn đèn vào các góc phòng liên hệ với ngọn đèn... hình tướng không phải là cái gì khác ngoài chính thực thể tâm linh; trái lại, nó đồng nhất với thực thể đó, ngay cả khi nó được tìm thấy ở một ngàn nơi, hoặc ở mọi nơi và mang hình thù đa dạng".¹⁹ Nói cách khác, hình tướng mà một thực thể psychoid đảm nhận trong tâm thức, tức hình tượng nội tâm mà nó hiển lộ, đồng nhất với thực thể psychoid đó. Không có sự khác biệt nào giữa chính thực thể tâm linh và hình tướng tưởng tượng mà qua đó người ta trải nghiệm nó. Do đó, trí tưởng tượng chủ động với một hình tượng như vậy sẽ kết nối người ta với thế giới vượt ra ngoài tâm thức, với cảnh giới tâm linh và thực tại nơi thần tính ngự trị. Dù có thể không bao giờ trải nghiệm được thực tại đó trong tự thân nó, người ta vẫn có thể trải nghiệm nó thông qua hình tướng mà nó đảm nhận. Vì hình tướng đó không khác gì chính thực tại ấy, cuộc gặp gỡ trong tưởng tượng với hình tướng chính là cuộc gặp gỡ với thực thể thần thánh bắt nguồn từ đó.
Tôi đưa ra chủ đề về psychoid tại thời điểm này nhằm minh họa tầm quan trọng của tiềm năng mà trí tưởng tượng chủ động nắm giữ, không chỉ cho sự hình thành của Bản thể, mà còn cho trải nghiệm về những thực tại vượt ra ngoài phạm vi thông thường của chúng ta. Hơn nữa, việc hiểu được bản chất psychoid của một số trải nghiệm tưởng tượng chủ động sẽ làm sáng tỏ các biểu tượng giả kim nhất định, cũng như cách thức mà các nhà giả kim nhìn nhận trí tưởng tượng và tác động của nó đối với công việc của họ. Như Tiến sĩ Jung đã viết: "Bản thân trải nghiệm mới là điều quan trọng, chứ không phải sự đại diện hay sự làm sáng tỏ về mặt trí tuệ của nó, điều vốn chỉ chứng tỏ có ý nghĩa và hữu ích khi con đường dẫn đến trải nghiệm nguyên bản bị chặn đứng."²⁰ Công thức của tôi phù hợp với bản chất của trải nghiệm psychoid, và được thiết kế để tạo thuận lợi cho việc đi vào các cảnh giới này đối với những ai mà con đường của họ có thể bị cản trở. Nó cũng được thiết kế để làm sáng tỏ đại tác phẩm giả kim thuật (opus), vốn có thể được hiểu một cách rất hữu ích trong mối liên hệ với việc kiến tạo Bản thể và sự giáng nhập của các lực lượng psychoid.
THỰC HÀNH TRÍ TƯỞNG TƯỢNG CHỦ ĐỘNG
Trí tưởng tượng chủ động là phương pháp hàng đầu giúp đưa chức năng siêu việt vào vận hành, đồng thời nó cũng có thể mở ra những cánh cửa sổ dẫn đến các thế giới tưởng tượng khác. Nhưng trí tưởng tượng chủ động bao gồm những gì? Nó được trải nghiệm như thế nào? Để thuận tiện, tôi chia tiến trình tưởng tượng chủ động thành bảy giai đoạn chính. Dù có phần mang tính quy ước, bảy giai đoạn này phản ánh bản chất của một trải nghiệm tưởng tượng chủ động trọn vẹn. Giai đoạn thứ nhất bao gồm việc chuẩn bị tâm trí để bước vào không gian tưởng tượng. Tâm trí có ý thức phải được lắng dịu và định tâm, để cái tôi có cơ hội đón nhận thông điệp từ vô thức. Những suy nghĩ tản mạn thông thường phải chấm dứt, và cái tôi phải bước vào một trạng thái tĩnh lặng chờ đợi. Trạng thái tâm trí này có thể đạt được bằng sự vận động thể chất, chẳng hạn như yoga, hoặc bằng các bài tập thiền định, như đếm hơi thở hoặc tập trung vào một điểm duy nhất. Phương pháp cụ thể không quan trọng, nhưng nên là phương pháp mang lại sự thoải mái cho người thực hành. Yêu cầu duy nhất là người ta phải lắng dịu tâm trí mình và bước vào trạng thái an tĩnh nội tâm.
Một khi đã đạt được trạng thái này, cái tôi mời gọi vô thức giao tiếp với mình. Qua nhiều năm tháng, tôi phát hiện ra rằng cách tốt nhất để làm điều này là cái tôi nên có sẵn trong tâm trí một hình ảnh cụ thể, hoặc ít nhất là một câu hỏi cụ thể mà nó muốn giải quyết. Việc chỉ đơn thuần mở lòng với vô thức thường tạo ra vô số hình ảnh gây bối rối và xung đột. Tuy nhiên, nếu cái tôi có trong tâm trí một hình tượng nội tâm cụ thể mà nó muốn tiếp xúc, hoặc quay trở lại một khung cảnh hay một cuộc gặp gỡ trong một giấc mơ cụ thể, thì chủ đích này sẽ đóng vai trò tập trung vô thức theo một cách dứt khoát. Người ta có thể bỏ qua một cách an toàn bất kỳ hình ảnh nào khởi lên mà cảm thấy không liên quan đến hình ảnh đang được xét đến. Tôi gọi giai đoạn này của công việc là giai đoạn gợi mở hoặc khởi ý (evocation or intention). Sau khi đã lắng dịu, cái tôi giữ vững chủ đích của mình trong tâm trí và chờ đợi. Nếu một cá nhân có khả năng hình dung các hình tượng nội tâm một cách dễ dàng, ở giai đoạn này của tiến trình, người đó có thể chỉ cần hình dung hình tượng mà mình muốn tiếp xúc. Hãy giữ hình tượng đó trong tâm mắt cho đến khi nó tự chuyển động hoặc hành động theo ý riêng của nó. Đối với những ai không hình dung một cách dễ dàng, chỉ cần giữ vững chủ đích trong tâm trí cho đến khi có điều gì đó bắt đầu xuất hiện.
Chỉ có một vài quy tắc áp dụng cho giai đoạn này của công việc. Các hình tượng nội tâm, bất cứ khi nào có thể, không nên là những người có thật, dù còn sống hay đã khuất. Hình tướng được nhân cách hóa nên xuất hiện từ vô thức, và nên mang tính độc nhất đối với người thực hiện trí tưởng tượng chủ động. Việc thực hành với hình ảnh của những người có thật là không công bằng đối với những cá nhân đó, vì họ có thể bị ảnh hưởng theo những cách thức không lường trước được. Các cuộc tấn công và xâm lấn tâm linh có thể xảy ra thông qua cảnh giới tưởng tượng, và một cách để phát động một cuộc tấn công như vậy là thực hiện trí tưởng tượng chủ động. Dù điều này hiếm khi là cố ý, nó vẫn có thể xảy ra trong mọi trường hợp. Do đó, tốt hơn hết là không nên sử dụng một người có thật trong cuộc gặp gỡ tưởng tượng, để tránh xảy ra một cuộc tấn công vô tình. Tốt nhất cũng không nên sử dụng hình ảnh của một người đã khuất, vì việc sử dụng như vậy có thể tạo ra sự phụ thuộc vào người quá cố. (Tôi đã từng chứng kiến những trường hợp mà những người mất đi người thân yêu đã thực hành với hình ảnh của họ nhằm níu giữ họ—ngay vào thời điểm mà đáng lẽ ra họ nên đau buồn và để người thân ra đi). Dịp duy nhất mà trí tưởng tượng chủ động với một người đã khuất được kêu gọi là khi tồn tại những khúc mắc chưa được giải quyết giữa người thực hành và người đã khuất. Ví dụ, nỗi đau và cơn thịnh nộ chưa được giải tỏa đối với một người cha/mẹ đã qua đời có thể cản trở sự phát triển tâm thức cho đến khi nó được xử lý và để cho lắng xuống. Trí tưởng tượng chủ động là một cách tốt để giải quyết những tổn thương và nỗi đau trong quá khứ.
Giai đoạn thứ ba bắt đầu khi vô thức trở nên sống động theo một cách nào đó. Đây là giai đoạn vô thức được kích hoạt và nó mang nhiều hình thức. Người ta có thể trải nghiệm một cảm xúc, một cảm giác cơ thể, một tiếng nói, hoặc một ý nghĩ kỳ lạ. Trong mô hình tôi đang sử dụng, một hình tượng nội tâm sẽ xuất hiện tại thời điểm này. Bất kể vô thức xuất hiện theo cách nào, cái tôi giờ đây phải phản hồi lại nó. Lời phản hồi bắt đầu giai đoạn tưởng tượng chủ động mà tôi gọi là tương tác và đề cập đến sự chuyển động qua lại mà Jung đã mô tả. Lấy ví dụ về hình tượng nội tâm trong giai đoạn kích hoạt, hình tượng nội tâm xuất hiện và có thể nói, cất lời chào, hoặc đưa ra một lời chào đón nào đó. Nó có thể hỏi cái tôi muốn gì, hoặc cái tôi dạo này thế nào. Cái tôi phải trả lời. Đến lượt mình, nó có thể hỏi hình tượng nội tâm đang thế nào, rồi nêu rõ lý do tại sao nó muốn nói chuyện cùng hình tượng ấy. Trong giai đoạn tương tác, diễn ra một cuộc đối thoại giữa hình tượng nội tâm và cái tôi, một cuộc đối thoại nên được để cho diễn ra theo bất kỳ hướng đi tự phát nào.
Giai đoạn tương tác của trí tưởng tượng chủ động có thể kéo dài trong một thời gian dài, đôi khi hàng tuần hoặc thậm chí hàng tháng. Giai đoạn này nên được kết hợp với một bước của công việc thực sự diễn ra bên ngoài buổi thực hành. Giai đoạn này tôi gọi là phản tư (suy ngẫm). Phản tư đề cập đến sự cần thiết của cái tôi trong việc suy nghĩ cẩn thận về những trải nghiệm mà nó đã có. Như tôi đã thảo luận trước đó, cái tôi không được từ bỏ lập trường của mình, mà phải giữ vững nó trong khi xem xét tất cả những gì mà hình tượng nội tâm đã chỉ ra cho nó. Trong suốt quá trình phản tư này, trí tuệ đóng một vai trò quan trọng, vì cái tôi phải suy nghĩ nghiêm túc về tất cả những gì nó đã trải nghiệm. Đồng thời, nó cần phải cảm nhận sâu sắc trải nghiệm đó để đánh giá nó từ góc độ cảm xúc. Những gì hình tượng nội tâm nói có mang lại cảm giác tốt đẹp không? Nó có hợp lý về mặt lý trí không? Bằng cách dành ra một khoảng thời gian phản tư, cái tôi tự bảo vệ mình khỏi việc ngây thơ rơi vào một lập trường vô thức, hoặc đơn thuần chấp nhận theo nghĩa đen những gì một hình tượng nội tâm đang nói với nó. Trong giai đoạn này, cái tôi có thể chọn chia sẻ trải nghiệm của mình với một nhà phân tích, một nhà trị liệu, hoặc chỉ là một người bạn tốt, nhằm có được một số phản hồi khách quan. Khi cái tôi đã đi đến một số kết luận, nó có thể quay trở lại với trí tưởng tượng chủ động và tái can dự với hình tượng nội tâm.
Sự tương tác và phản tư có thể tiếp tục trong một khoảng thời gian, nhưng sớm hay muộn, trí tưởng tượng chủ động sẽ bước vào một giai đoạn mà tôi gọi là giải quyết (hóa giải), khi mà chủ đích ban đầu hoặc câu hỏi mà từ đó buổi thực hành bắt đầu được giải quyết theo một cách nào đó. Chẳng hạn, tôi có thể mong muốn hiểu cách nuôi dưỡng bản tính nữ tính của chính mình. Tôi yêu cầu một hình tượng nội tâm là một người phụ nữ thông thái xuất hiện và dạy cho tôi về phần này của Bản thể. Bà xuất hiện và bắt đầu dạy tôi về cảm xúc và các mối quan hệ. Tôi kháng cự, vật lộn, có những thắc mắc, và chúng tôi giải quyết từng điều này khi chúng xuất hiện. Tôi bắt đầu hiểu được về mặt trí tuệ tính nữ trông như thế nào, nhưng tôi vẫn chưa thực sự "thấm" nó. Rồi một ngày nọ, trong buổi thực hành, tôi cảm nhận được trong cơ thể và trong toàn bộ bản thể mình điều mà mối quan hệ thực sự có ý nghĩa, và tôi có được một cái nhìn thấu suốt (insight) chân thực đến mức nó trở thành một phần trong nhận thức của tôi kể từ đó về sau. Sự hóa giải đã diễn ra, và chức năng siêu việt đã ăn khớp vào vị trí, mãi mãi biến đổi ý thức của tôi và tạo ra một trạng thái mới của Bản thể hiển lộ. Trong giai đoạn tương tác, tôi có khả năng trải qua những mức độ căng thẳng và khó chịu khác nhau, khi tôi hợp nhất lập trường của riêng mình với lập trường của hình tượng nội tâm. Lực căng đôi khi trải qua trong quá trình tương tác với một hình tượng nội tâm có thể rất đau khổ, thậm chí biểu hiện ra thành thể xác. Một số người cảm thấy khó tiếp tục các buổi thực hành khi lực căng đạt đến mức độ dữ dội tột cùng. Tuy nhiên, điều quan trọng là phải tiếp tục thực hành, bất chấp sự khó chịu, vì nếu lực căng được giải tỏa một cách không thỏa đáng, chức năng siêu việt sẽ không xảy ra. Dù vậy, khi sự hóa giải diễn ra một cách tự nhiên, lực căng đó sẽ được hóa giải trong cái nhìn thấu suốt tự bộc lộ.
Cuối cùng là sự tích hợp, giai đoạn cuối cùng của trí tưởng tượng chủ động. Tại thời điểm mà cái tôi đạt được một cái nhìn thấu suốt, nó phải nỗ lực toàn diện để tích hợp cái nhìn thấu suốt đó vào đời sống bên ngoài của mình. Chẳng hạn, nếu tôi đã có được sự thấu hiểu sâu sắc về bản chất của các mối quan hệ, thì tôi phải hành động để mang sự nhạy bén thấu triệt đó vào tất cả các mối quan hệ của tôi với những người tôi biết và yêu thương. Nếu tôi không thể hoặc không sẵn lòng thực hành sự thông thái mới của mình trong thế giới bên ngoài, thì buổi thực hành tưởng tượng chủ động đã thất bại. Chỉ khi tôi có khả năng sống trong đời sống hàng ngày của mình bằng những gì tôi đã học được từ thế giới nội tâm, thì một buổi thực hành tưởng tượng chủ động mới trọn vẹn. Nỗi sợ hãi mà một số người ấp ủ rằng việc làm việc với trí tưởng tượng chủ động hoặc Bản thể sẽ cô lập người ta khỏi cuộc sống và khỏi các mối quan hệ là không có cơ sở. Thế giới nội tâm và thế giới bên ngoài phải nuôi dưỡng lẫn nhau và liên kết với nhau thông qua những nỗ lực của cái tôi, cái tôi vốn đứng với một chân ở mỗi thế giới. Cái tôi có thể quay vào bên trong để trải nghiệm trí tuệ sâu sắc của các hình tượng nội tâm, rồi sau đó bước ra bên ngoài để đưa trí tuệ đó vào thực hành. Trong khả năng bắc cầu nối hai thế giới này, cái tôi khám phá ra Bản thể và trải nghiệm sự đa dạng vô hạn trong sự toàn vẹn của chính mình.
Jung đã định nghĩa tâm linh là sự sáng tạo và điều khiển các hình ảnh một cách tự trị. Các thực thể tâm linh được phú cho năng lực này. Nếu chúng bắt nguồn từ bên trong tâm thức, chúng là các hình tượng và thực thể nguyên mẫu, còn nếu bắt nguồn từ bên ngoài tâm thức, chúng là các thực thể psychoid. Vì trí tưởng tượng chủ động là tiến trình mà qua đó các hình tượng nội tâm như vậy được can dự và cho phép biểu đạt chính mình thông qua sự mở ra tự phát của các hình ảnh, nên trí tưởng tượng chủ động chính là một tiến trình tâm linh xuất sắc bậc nhất. Thông qua trí tưởng tượng chủ động, chức năng siêu việt được đưa vào vận hành, và thông qua chức năng siêu việt, Bản thể được chuyển hóa từ trạng thái tiềm năng, tiềm ẩn thành một hình thức sống động, tích cực và hiển lộ. Luận điểm của tôi, cũng như của Jung, là ba khía cạnh này của sự phát triển nội tâm tạo thành nền tảng của thuật giả kim. Thuật giả kim quan tâm đến Bản thể và sự tạo tác Bản thể, và các biểu tượng của nó khắc họa trải nghiệm về trí tưởng tượng chủ động cùng chức năng siêu việt.
Ban đầu, Jung không nhận ra giá trị của thuật giả kim đối với việc tìm hiểu tiến trình cá nhân hóa. Thực tế, ông đã phải mất một khoảng thời gian để khám phá ra sức mạnh của các hình ảnh giả kim thuật và sự thích hợp của chúng đối với cách thức ông hiểu về sự phát triển bản thân. Sau khi mua một cuốn sách chuyên luận giả kim cổ, thi thoảng ông lại liếc nhìn nó, để rồi bị dập tắt hứng thú bởi sự vô nghĩa biểu kiến của nó:
Tôi để cuốn sách này nằm nguyên không đụng đến trong gần hai năm. Thỉnh thoảng tôi lại nhìn vào các bức tranh, và mỗi lần tôi lại nghĩ: "Lạy Chúa, thật là nhảm nhí! Thứ này không tài nào hiểu nổi." Nhưng nó cứ dai dẳng cuốn hút tôi, và tôi quyết tâm đi sâu vào nó kỹ lưỡng hơn... Tôi... nhanh chóng thấy nó đầy kích thích và hào hứng... Cuối cùng tôi nhận ra rằng các nhà giả kim đang trò chuyện bằng các biểu tượng.²¹
Sự nhận thức của Jung rằng các nhà giả kim đang giao tiếp bằng các biểu tượng, và rằng những biểu tượng này có thể được giải mã, đã mở ra cánh cửa giúp ông giải mã những bí mật của trí tưởng tượng giả kim thuật. Giờ đây, chúng ta đang ở vào vị thế để bắt đầu cuộc khảo sát về thế giới tưởng tượng đó và hành trình khám phá những gì nó có thể chỉ dạy cho chúng ta trong cuộc tìm kiếm để hiểu biết và trao quyền cho Bản thể.
CHÚ THÍCH
C. G. Jung, Mysterium Coniunctionis, Toàn tập tác phẩm, tập 14, R. F. C. Hull dịch, Bollingen Series XX (Princeton: Princeton University Press, 1970), đoạn 777. Từ đây trở đi tôi sẽ quy chiếu tập này là CW 14.
CW 14, đoạn 778.
M.-L. von Franz, “The Process of Individuation” trong C. G. Jung, Man and His Symbols (Garden City: Doubleday, 1964), tr. 210.
Để tìm hiểu thảo luận về Bản thể và sự tạo tác biểu tượng của nó, xem C. G. Jung, Aion, Toàn tập tác phẩm, tập 9ii, R. F. C. Hull dịch, Bollingen Series XX (Princeton: Princeton University Press, 1968), đoạn 121 trở đi. Các quy chiếu tiếp theo về tập này sẽ là CW 9ii.
C. G. Jung, Psychology and Religion (New Haven: Yale University Press, 1938), tr. 4.
Gerhard Wehr, “C. G. Jung in the Context of Christian Esotericism and Cultural History” trong Antoine Faivre và Jacob Needleman, chủ biên, Modern Esoteric Spirituality (New York: Crossroad, 1995), tr. 382.
CW 9ii, đoạn 426.
C. G. Jung, The Archetypes and the Collective Unconscious, Toàn tập tác phẩm, tập 9i, R. F. C. Hull dịch, Bollingen Series XX (Princeton: Princeton University Press, 1969), đoạn 393. Các quy chiếu tiếp theo về tập này sẽ là CW 9i.
CW 9i, đoạn 634.
C. G. Jung, The Structure and Dynamics of the Psyche, Toàn tập tác phẩm, tập 8, R. F. C. Hull dịch, Bollingen Series XX (Princeton: Princeton University Press, 1969), đoạn 131–193. Các quy chiếu tiếp theo sẽ được dẫn là CW 8.
C. G. Jung, CW 8, đoạn 131.
Jung nói Chúa Thánh Thần "là kết quả... từ sự phản tư của con người:" nghĩa là,... "sáng tạo ra một hình ảnh, và thiết lập một kết nối nội tâm tới đối tượng bên ngoài cũng như dàn xếp thỏa hiệp với nó." (Trích từ “On the Psychology of the Concept of the Trinity”, G. V Hartman dịch, Quadrant, XXXVII: I. Mùa đông, 1998.)
Xem C. G. Jung, Analytical Psychology: Its Theory and Practice (New York: Pantheon, 1968), tr. 80–81.
C. G. Jung, CW 8, đoạn 189.
Marie-Louise von Franz, “The Inferior Function” trong M.-L. von Franz và James Hillman, Lectures on Jung's Typology (Dallas: Spring Publications, 1984), tr. 69. Chữ in nghiêng là nguyên bản của tác giả. Được sử dụng theo sự cho phép.
C. G. Jung, Alchemical Studies, Toàn tập tác phẩm, tập 13, R. F. C. Hull dịch, Bollingen Series XX (Princeton: Princeton University Press, 1970), đoạn 299.
C. G. Jung, Memories, Dreams, Reflections (New York: Vintage Books, 1963), tr. 192.
Tôi đã tham khảo hai bản dịch của tác phẩm này: Ibn 'Arabi, Muhyi-D-Din, The Wisdom of the Prophets, bản dịch từ tiếng Ả Rập sang tiếng Pháp kèm chú giải của Titus Burckhardt, và bản dịch từ tiếng Pháp sang tiếng Anh của Angela Culme-Seymour (Gloustershire: Beshara Publications, 1975); và The Seals of Wisdom (New York: Concord Grove Press, 1983).
Trích trong William Chittick, Imaginal Worlds: Ibn al-'Arabi and the Problem of Religious Diversity (Albany: State University of New York Press, 1994), tr. 94.
C. G. Jung, CW 14, đoạn 777.
C. G. Jung, Memories, Dreams, Reflections, tr. 204.
CHƯƠNG 2: TRÍ TƯỞNG TƯỢNG GIẢ KIM THUẬT
Sự phát triển then chốt trong việc tìm hiểu thế giới nội tâm trong thế kỷ vừa qua là sự tái khám phá trí tưởng tượng. Không ai đóng góp nhiều hơn cho bước tiến hóa này ngoài C. G. Jung. Sự nhấn mạnh của ông về trí tưởng tượng chủ động đã mở ra những lĩnh vực nghiên cứu mới, bao gồm việc nhận diện các hình tượng nội tâm và khám phá thế giới của cõi tưởng tượng (imaginal). Trí tưởng tượng có một lịch sử lâu dài và ấn tượng, giữ vai trò trung tâm trong các tư tưởng về sự phát triển tâm linh, đặc biệt là trong dòng truyền thừa bí truyền, chẳng hạn như các truyền thống ma thuật và giả kim thuật. Điều này không nhằm ngụ ý rằng mọi nhà giả kim đều chấp nhận khái niệm về trí tưởng tượng. Tuy nhiên, có một lý thuyết rất quan trọng về cõi tưởng tượng được tìm thấy trong trước tác của một số nhà giả kim. Quan điểm của họ về cõi tưởng tượng có nhiều điều để chỉ dạy cho chúng ta về lý thuyết và thực hành trí tưởng tượng chủ động cũng như vai trò của nó trong tiến trình cá nhân hóa. Việc nghiên cứu về trí tưởng tượng vẫn còn ở giai đoạn sơ khai, và có một số văn bản truyền thống cần được khảo sát. Lượng tư liệu bàn về trí tưởng tượng trong các văn bản giả kim thuật là vô cùng ấn tượng và không thể bao quát hết trong cuốn sách này.
Để hiểu được quan điểm truyền thống về trí tưởng tượng, điều quan trọng là phải gạt bỏ những định kiến hiện đại. Ngày nay, ảo tưởng (fantasy) và trí tưởng tượng (imagination) hiếm khi được phân biệt rõ ràng; cả hai đều bị xem là không có thực, và việc gọi bất cứ điều gì là thuộc về tưởng tượng về cơ bản đồng nghĩa với việc gạt bỏ nó như một thứ vô giá trị. Một số tác giả, chẳng hạn như Corbin, Hillman và những người khác, trong những năm gần đây đã cố gắng phục hồi quan niệm về trí tưởng tượng, nhưng dường như chưa đạt được mấy thành tựu trong việc thay đổi nhận thức tập thể về nó. Trong một cuộc thảo luận gần đây về bản chất của cõi tưởng tượng, tôi đã gợi ý rằng hòn đá triết gia có thể được hiểu như một sản phẩm của trí tưởng tượng. Những người tham gia cuộc thảo luận đã tỏ ra phẫn nộ vì cho rằng tôi nói hòn đá chỉ là thứ tưởng tượng. Đối với họ, tất nhiên, điều đó có nghĩa là tôi đang bảo hòn đá không có thật. Họ không hề hay biết rằng một điều gì đó có thể thuộc về trí tưởng tượng mà đồng thời vẫn có thật.
Đối với nhà giả kim, pháp sư, nhà thần bí Sufi và đối với Jung, trí tưởng tượng hoàn toàn không phải là thứ không có thật. Những sự kiện trong tưởng tượng được nhìn nhận là diễn ra trong một thế giới mà dù khác biệt với thế giới thông thường, nhưng cũng có giá trị và chân thực không kém. Trí tưởng tượng được xem là có tác động thực sự lên tâm thức, và thậm chí lên cả thực tại vật lý, cũng như giúp tạo ra những trải nghiệm trực tiếp về Đấng thiêng liêng. Các nhà giả kim tin rằng trí tưởng tượng là hoàn toàn có thật, là một phần không thể thiếu của công trình giả kim thuật. Và Jung nghĩ rằng trí tưởng tượng có tầm quan trọng lớn đến mức trong thế giới quan giả kim, ông đã viết rằng "khái niệm về imaginatio có lẽ là chìa khóa quan trọng nhất để hiểu về đại tác phẩm (opus)".¹ Vậy còn nơi nào tốt hơn để bắt đầu việc nghiên cứu thuật giả kim của chúng ta ngoài trí tưởng tượng?
ẢO TƯỞNG VÀ TRÍ TƯỞNG TƯỢNG
Giống như những người nghiên cứu thế giới nội tâm đương đại, các nhà giả kim rất chú trọng đến việc phân biệt trí tưởng tượng (imagination) với ảo tưởng (fantasy). Họ nhận thức được rằng trí tưởng tượng chân chính sở hữu một sức mạnh và chiều sâu mà ảo tưởng không thể có được. Jacob Boehme là một trong những người đã lên tiếng cảnh báo về sự mê lầm của ảo tưởng. Mặc dù không phải là một nhà giả kim thực hành, Boehme là một nhà thần bí đã sử dụng thuật ngữ và biểu tượng của thuật giả kim để diễn đạt những thị kiến thần bí đầy kinh ngạc của mình. Sinh năm 1575, Boehme là một tín đồ Luther sống qua thời kỳ chiến tranh tôn giáo khủng khiếp tàn phá nước Đức. Một phần vì bạo lực và hận thù mà ông chứng kiến đã làm ông vỡ mộng, Boehme nhấn mạnh đến sự tranh đấu để được cứu chuộc, và nhu cầu trải nghiệm những chân lý nội tâm cao hơn. Trí tưởng tượng là một khái niệm then chốt trong hệ thống thần bí của ông; nó không chỉ hữu ích trong hành trình tìm kiếm sự cứu chuộc của linh hồn, mà còn là phương tiện nhờ đó Thượng đế tạo dựng thế giới. Trí tuệ Thiêng liêng, hay Sophia, quyền năng sáng tạo của Thượng đế, đóng một vai trò lớn trong hệ thống của ông, và Nàng đối với ông là một "Trí tưởng tượng Thiêng liêng".² Lý thuyết về trí tưởng tượng của ông là một phần của hệ thống thần học thần bí rất phức tạp, và tôi sẽ không bàn sâu về nó, nhưng ông đã phân biệt rõ ràng giữa trí tưởng tượng tốt và xấu. Trí tưởng tượng xấu là "phantasia" vốn chịu trách nhiệm cho sự sa ngã của Lucifer, và ở con người nó tạo ra những ảo tưởng cùng ham muốn sai lầm khiến người ta xa rời Thượng đế. Bằng việc hướng về ảo tưởng thay vì trí tưởng tượng chân chính, linh hồn bị lạc lối trong ảo ảnh và rời xa sự hiện diện của Thượng đế.³ Mặt khác, trí tưởng tượng chân chính là hiện thân của trí tuệ thiêng liêng trong tâm hồn, và có thể dẫn đến sự cứu chuộc cùng sự hợp nhất với Thượng đế.
Theophrastus Bombastus von Hohenheim, thường được biết đến với tên Paracelsus, sống trước Jacob Boehme khoảng tám mươi năm. Ông có lẽ là một trong những nhà giả kim có tầm ảnh hưởng lớn nhất, và đã xác lập quan điểm rằng muối có giá trị tương đương với lưu huỳnh và thủy ngân. Trên hết, ông là một thầy thuốc, và coi thuật giả kim là một công cụ mạnh mẽ trong cuộc chiến chống lại bệnh tật. Ông không mấy quan tâm đến việc tạo ra hòn đá hay chuyển hóa kim loại, mà chú tâm nhiều hơn đến việc điều chế các tiên dược (elixirs) và cao thơm (balsams) hữu ích trong việc chữa trị bệnh tật. Ông là một người nóng nảy, ngạo mạn và mang đầy sự thổi phồng bản ngã, kết thù chuốc oán dễ hơn nhiều so với kết bạn, nhưng trước tác của ông có sự hấp dẫn và giá trị to lớn, bao gồm cả cách ông luận bàn về trí tưởng tượng, điều có sức ảnh hưởng rất lớn. Giống như Boehme, người chịu ảnh hưởng từ ông, ông tin vào sức mạnh của trí tưởng tượng, nhưng cũng tin vào những mối nguy hiểm của ảo tưởng:
Hơn nữa, có những thầy thuốc không có trí tưởng tượng, không có đức tin, những người được gọi là kẻ ảo tưởng (phantastics). Ảo tưởng (phantasy) không phải là trí tưởng tượng (imagination), mà là ranh giới của sự điên rồ. Những kẻ này làm việc vì bất kỳ kết quả nào, nhưng họ không học tập trong ngôi trường mà họ đáng lẽ phải theo học. Kẻ nào sinh ra trong trí tưởng tượng sẽ tìm ra những lực lượng tiềm tàng của Tự nhiên, điều mà thể xác với thứ ảo tưởng đơn thuần của nó không thể tìm thấy; bởi trí tưởng tượng và ảo tưởng khác biệt nhau. Trí tưởng tượng tồn tại trong tinh thần hoàn hảo, trong khi ảo tưởng tồn tại trong thể xác mà không có tinh thần hoàn hảo. Kẻ nào tưởng tượng sẽ buộc các loài thảo mộc phải phô bày bản tính ẩn giấu của chúng.⁴
Boehme và Paracelsus đã phân biệt rõ ràng giữa ảo tưởng và trí tưởng tượng. Cả hai đều quy trí tưởng tượng cho tinh thần, và nhìn thấy ở nó một chức năng tâm linh, trong khi ảo tưởng thuộc về thế giới vật chất và tách rời khỏi những chân lý sâu xa hơn. Ảo tưởng tạo ra ảo ảnh và sự dại dột, trong khi trí tưởng tượng tạo ra sự giải phóng và sức mạnh chữa lành.
Paracelsus phân biệt giữa ảo tưởng và trí tưởng tượng không chỉ bằng cách quy yếu tố sau cho tinh thần, mà còn bằng cách liên hệ nó với các lực lượng của Tự nhiên, những điều mà ảo tưởng không thể khám phá. Sự hợp nhất của trí tưởng tượng với tự nhiên không chỉ riêng có ở Paracelsus; một nhà giả kim khác đã quy các cơ chế hoạt động của thế giới tự nhiên cho "ý chí của Thượng đế và trí tưởng tượng của Tự nhiên".⁵ Các nhà giả kim tin rằng công việc của họ phải thuận theo các quy luật của tự nhiên thì mới thành công, và họ nhìn thấy ở tự nhiên một người thầy vĩ đại, đồng thời là một kho tàng chứa đựng những quyền năng và ảnh hưởng tiềm tàng. Theo Paracelsus, trí tưởng tượng là con đường chính để người ta có thể khám phá những bí mật của tự nhiên và giải phóng những quyền năng tiềm ẩn của nàng. Trong khi ảo tưởng chỉ nhận thức được ở tự nhiên thực tại vật lý hiển nhiên, thì trí tưởng tượng có thể chạm sâu xuống bên dưới bề mặt để nhìn thấy vô vàn bí mật của tự nhiên. Trí tưởng tượng phát hiện ra rằng thế giới vật chất không thể được thấu hiểu nếu không bao hàm tinh thần.
Bất kỳ ai nỗ lực trải nghiệm thế giới nội tâm thông qua trí tưởng tượng chủ động, sớm hay muộn, cũng sẽ phải đối mặt với vấn đề nan giải về ảo tưởng và mê lầm, đặc biệt nếu người đó đang giảng dạy hoặc làm việc với các cá nhân trong trị liệu hoặc phân tích tâm lý. Trong khi trí tưởng tượng mở ra cánh cửa dẫn đến những trải nghiệm sâu sắc về Bản thể, và làm cho sự hình thành của Bản thể trở nên khả thi, thì ảo tưởng dẫn đến sự trương phình ngã mạn, ảo ảnh và sự đình trệ. Không phải lúc nào cũng dễ dàng nhận ra sự khác biệt này ở chính mình hay ở người khác, nhưng những thấu suốt từ Paracelsus và Boehme đem lại một số chỉ dẫn về phương diện này.
Boehme tin rằng trí tưởng tượng chính là "Sophia", người là trí tuệ của Thượng đế và với tư cách là một quyền năng nữ tính, đã đóng vai trò to lớn trong thuật giả kim. Tiến sĩ von Franz đã thảo luận về bản chất của Sophia trong bài phân tích của bà về Aurora Consurgens, một văn bản giả kim thuật từ đầu thế kỷ 13. Trong nghiên cứu của mình, bà kết luận rằng Sophia tượng trưng cho một quyền năng siêu cá nhân đã mang lại "động lực nguyên sơ hướng tới mọi hiện hữu và mọi hiểu biết trong những hình thức đa dạng vô tận của chúng".⁶ Đồng thời, Sophia là một "nguyên lý kiến tạo trật tự" dẫn dắt và chỉ đường cho các bước đi của các nhà giả kim. Hình 3 (trang 46) là bản sao của một biểu trưng tuyệt đẹp từ Michael Maier mô tả người dẫn đường nữ tính, có thể là Tự nhiên hoặc Trí tuệ, đang chỉ đường cho nhà giả kim đang nhọc công bước theo Nàng. Biểu trưng này nắm bắt ý niệm rằng nhà giả kim phải nỗ lực hết mình để đi theo con đường của Tự nhiên, hoặc đi theo sự dẫn dắt của Trí tuệ. Trong cả hai trường hợp, chính trí tưởng tượng cho phép nhà giả kim khám phá ra con đường ẩn giấu.
Sophia là một lực lượng siêu cá nhân sáng tạo không ngừng nghỉ, đồng thời soi sáng con đường dẫn đến cứu cánh tối hậu. M.-L. von Franz diễn giải biểu tượng này về mặt tâm lý học với hàm ý rằng "tồn tại trong tự nhiên và trong vô thức tập thể, ít nhất là ở dạng tiềm năng, một loại ý thức hay tâm trí khách quan mà từ đó ý thức-cái tôi cá nhân chỉ bắt nguồn một cách thứ cấp và nhờ đó nó được mở rộng bởi 'sự khai sáng'".⁷ Sophia ám chỉ đến một Tâm trí nội tâm, một trí tuệ không thuộc về cái tôi mà thuộc về vô thức, dù thi thoảng nó có thể soi sáng cho cái tôi. Theo công thức của Boehme, tâm trí nội tâm—cốt lõi của trí tuệ bên trong—chính là trí tưởng tượng. Trí tưởng tượng là chức năng tâm linh, và thuộc về bất kỳ tác nhân tâm linh nào. Các nguyên mẫu có quyền năng hiển lộ thông qua hình ảnh, và đây là lý do tại sao von Franz quy trí tuệ cho vô thức tập thể. Tuy nhiên, dù sự hiểu biết nội tâm này có thể được quy cho vô thức tập thể, nó tìm thấy sự biểu đạt thuần khiết nhất ở Bản thể. Trên thực tế, von Franz cuối cùng đã kết luận rằng Trí tuệ là hình thức nữ tính của Thượng đế. Trong những thị kiến ngây ngất cuối cùng của Aurora Consurgens, có một sự kết hợp giữa Trí tuệ và người tình của nàng mang lại sự hiển lộ sâu sắc của Thượng đế.⁸ Sự hiển linh này tượng trưng cho sự xuất hiện của Bản thể hiển lộ vốn diễn ra thông qua sự dẫn dắt của Sophia.
Trí tuệ là quyền năng tưởng tượng của Bản thể, dẫn dắt cái tôi hướng tới việc kiến tạo Bản thể hiển lộ. Trí tưởng tượng chân chính siêu việt cái tôi, và tạo ra những trải nghiệm nhờ đó cái tôi có thể chạm trán với thế giới nội tâm. Hơn nữa, tiến trình tưởng tượng đóng vai trò như một người mở đường cho người đang nhọc công tìm đường hướng tới sự chuyển hóa và cuộc hội ngộ với Bản thể. Dưới góc nhìn thần bí hơn, trí tưởng tượng là phương tiện giúp linh hồn trải nghiệm Thượng đế và chia sẻ trong sự biểu đạt sáng tạo của Đấng thiêng liêng.
Mặt khác, ảo tưởng không bao giờ vượt quá cái tôi. Trong khi trí tưởng tượng chứa đựng thông tin về các phần khác của tâm thức và hé lộ con đường cần đi theo, thì ảo tưởng lại xoay quanh những nhu cầu, ham muốn và sự mưu cầu khuếch trương của cái tôi. Rơi vào tâm trạng ảo tưởng, tôi có thể đắm chìm trong việc chiêm ngưỡng thành công vĩ đại của mình với tư cách là một nhà văn, và cách mà cả thế giới giờ đây sẽ săn đón tôi, vân vân. Một người khác có thể dấn vào những ảo tưởng tình dục diễn xuất những ước muốn cấm kỵ của cái tôi, trong khi một người khác nữa sẽ ảo tưởng về sự thăng tiến đến danh vọng và giàu sang chính trị. Trong hầu hết mọi trường hợp, ảo tưởng, dù nó có thể phản ánh sự góp phần của cả phức cảm lẫn nguyên mẫu, vẫn chỉ tập trung vào cái tôi chứ không phải bất cứ điều gì siêu việt. Trong ảo tưởng không có trải nghiệm thực sự nào về trí tuệ nội tâm; nó chỉ là sự diễn ra hết hình ảnh này đến hình ảnh khác nhằm kích thích, tiêu khiển, hoặc thậm chí làm khiếp sợ. Tuy nhiên, ngay cả trong trường hợp ảo tưởng tiêu cực, cái tôi vẫn là ngôi sao của vở kịch.
Giả sử rằng Bản thể của một cá nhân đang bày tỏ nhu cầu muốn chơi nhạc. Trong một buổi tưởng tượng chủ động, cái tôi bắt gặp hình tượng nội tâm của một nhạc sĩ, người thôi thúc anh ta phát triển khía cạnh âm nhạc trong nhân cách của mình. Anh ta kháng cự vì nghĩ rằng việc đó sẽ tốn quá nhiều công sức và anh ta không có đủ thời gian; vả lại, anh ta sẽ chẳng bao giờ chơi giỏi được. Hình tượng nội tâm phản bác lại rằng sự điêu luyện không phải là điều bắt buộc, mà chỉ cần nỗ lực chơi đàn. Cuối cùng, người đó nhận ra rằng chơi nhạc là sự biểu đạt từ trái tim và niềm vui thích, chứ không phải là việc thể hiện kỹ năng thuần thục. Anh ta ướm thử bắt đầu học các bài học piano, và dành một chút thời gian mỗi ngày cho nó. Đây là một ví dụ về trí tưởng tượng, vì hình tượng nội tâm xuất hiện với một thông điệp rõ ràng từ thế giới nội tâm, và cái tôi đối diện với sứ giả đó bằng sự chân thành ngay thẳng.
[Hình ảnh]
Hình 3. Trí tuệ nội tâm, quyền năng tưởng tượng của Bản thể, để lại những dấu chân của nàng, tức các biểu tượng do nàng tạo ra, mà nhà giả kim nội tâm lần theo trên con đường của mình. Đeo cặp kính của cái nhìn thấu suốt, được soi đường bởi ngọn đèn của ý thức, được nâng đỡ bởi cây gậy của thẩm quyền nội tâm, nhà giả kim nỗ lực bước theo sự dẫn dắt của Sophia. Hãy chú ý đến cây cỏ và hoa trái tượng trưng cho sự sáng tạo vô tận của Sophia. (Trích từ Atalanta Fugiens của Michael Maier, 1618.)
Trong một ảo tưởng, nhu cầu sáng tạo âm nhạc sẽ khiến cái tôi mường tượng cảnh mình đang biểu diễn ở Thính phòng Carnegie, hoặc sáng tác nên một bản đại hòa tấu nước Mỹ. Thông điệp từ vô thức khi ấy không còn là về thế giới nội tâm hay sự hiển lộ của Bản thể nữa, mà là về nhu cầu khuếch trương trương phình của cái tôi. Ảo tưởng được tạo ra như vậy có thể dẫn đến việc học đàn piano, nhưng khi người đó nhận ra mình không phải là một tài năng xuất chúng, anh ta sẽ sớm từ bỏ nỗ lực.⁹
Dĩ nhiên, ai cũng từng rơi vào ảo tưởng. Điều đó không có gì sai trái, bởi vì ảo tưởng có thể hữu ích. Đôi khi nó rất hữu ích, chẳng hạn trong việc tìm hiểu xem cái tôi muốn trương phình ngã mạn về điều gì. Những ảo tưởng mà nó thêu dệt sẽ thường tiết lộ những nơi cần diễn ra công việc phát triển. Tuy nhiên, việc nhầm lẫn ảo tưởng với trí tưởng tượng, và đánh đồng trí tưởng tượng chủ động với sự thao túng của cái tôi là điều có hại và đôi khi nguy hiểm. Việc không có khả năng phân biệt ảo tưởng với trí tưởng tượng chủ động sẽ ngăn cản một mối quan hệ thực sự với Bản thể, và kéo dài những ảo tưởng của cái tôi rằng chỉ riêng nó mới có giá trị.
Đối với Paracelsus, trí tưởng tượng thuộc về tinh thần, trong khi ảo tưởng thuộc về thể xác. Trí tưởng tượng khám phá ra những lực lượng tiềm tàng trong tự nhiên, và buộc các loài thảo mộc phải phát lộ quyền năng của chúng. Không có gì đáng ngạc nhiên khi trí tưởng tượng được ghép đôi với tinh thần, vì tinh thần đã được định nghĩa là năng lực tạo ra hình ảnh. Trí tưởng tượng có thể hé lộ các quyền năng của tự nhiên, bởi Paracelsus tin rằng, giống như Boehme, trí tưởng tượng có thể được đánh đồng với trí tuệ. Trí tuệ của trí tưởng tượng giảng dạy những điều huyền bí của cả tâm hồn lẫn thế giới bên ngoài. Bằng cách sử dụng năng lực tưởng tượng, nhà giả kim có thể nhìn thấu phía sau hình tướng vật lý bên ngoài của thảo mộc hay kim loại, và nhận ra ý nghĩa biểu tượng của nó. Nhờ làm như vậy, ông hiểu được những công dụng đích thực và bản tính cốt tủy của nó. Đây là một ý niệm được phổ biến rộng rãi trong thời kỳ Phục hưng; mỗi vật thể đều có một ý nghĩa ẩn giấu vượt ra ngoài diện mạo vật lý của nó. Nếu người ta có thể hiểu được bản chất bí mật, họ sẽ có thể sử dụng chất đó theo những cách thức ma thuật, giả kim hoặc chữa lành. Trong bài tiểu luận của mình, "Bàn về Dấu ấn của những Vật thể Tự nhiên", Paracelsus đã viết rằng diện mạo bên ngoài của một người cho biết bản tính thực sự của người đó, chẳng hạn như "đôi mắt lớn biểu thị một kẻ tham lam, phàm ăn, đặc biệt nếu chúng lồi hẳn ra ngoài đầu".¹⁰
Chắc chắn rằng, phần lớn những gì Paracelsus viết ngày nay khiến chúng ta thấy ngớ ngẩn và mê tín. Nhưng việc gạt bỏ những ý tưởng như vậy theo cách đó là đã bỏ lỡ vấn đề cốt lõi. Ý nghĩa thực sự của cái được gọi là "dấu ấn của vạn vật" là mọi thứ trên thế giới đều có thể được thấu hiểu ở cả bình diện vật lý lẫn bình diện tưởng tượng. Paracelsus nhìn thấy trong tự nhiên một sự mầu nhiệm chứa đựng một thế giới ẩn giấu của các biểu tượng và dấu hiệu. Nhà giả kim chân chính phải có khả năng nhìn thấu bên dưới bề mặt. Về mặt này, ảo tưởng liên quan đến tư duy lý trí, tâm trí bị khóa chặt vào các biểu hiện bề ngoài, vốn không bao giờ có thể xuyên thấu ý nghĩa ẩn giấu phía sau bề mặt. Mặt khác, trí tưởng tượng là ánh sáng của tự nhiên giúp hé lộ tất cả những bí mật của nàng và cho phép người thầy thuốc xác định đúng chất liệu để chữa lành một căn bệnh cụ thể. Thật đáng để suy ngẫm khi biết rằng Paracelsus rất có thể sẽ dán nhãn toàn bộ nền khoa học của chúng ta và phần lớn nền y học của chúng ta là ảo tưởng!
Lý thuyết về trí tưởng tượng mà Paracelsus và những người khác đang phát triển là tiền thân cho quan điểm của Jung rằng cuộc sống luôn mang ý nghĩa. Jung tìm thấy ý nghĩa trong những biểu đạt trực tiếp của vô thức, chẳng hạn như giấc mơ và trí tưởng tượng chủ động, nhưng cũng biết rằng có ý nghĩa trong các sự kiện của thế giới bên ngoài, chẳng hạn như trong các hiện tượng đồng quy. Các nhà giả kim cũng lập luận rằng có ý nghĩa trong toàn bộ đời sống bên ngoài. Ẩn giấu bên trong diện mạo vật lý của sự vật là một phần thuộc về tưởng tượng có thể được nhìn thấy và sử dụng. Trong khi Paracelsus xem ảo tưởng là niềm tin vào diện mạo vật lý của sự vật, thì văn hóa hiện đại của chúng ta dường như thực sự tin vào diện mạo vật lý. Chẳng hạn, nếu một người quan tâm đến bệnh ung thư và cách điều trị của nó, người ta chỉ tìm cách tìm ra gen gây ung thư, hoặc loại thuốc ung thư mới, hoặc chế độ ăn uống giúp bảo vệ khỏi nó, nhưng không ai tự hỏi ý nghĩa của ung thư ở một con người cụ thể vào một thời điểm cụ thể có thể là gì. Đúng là những người theo phong trào Thời đại mới (New Age) và những người quan tâm đến các liệu pháp thay thế có hứng thú với việc tìm hiểu lý do tại sao người ta bị bệnh, nhưng thường chỉ để tìm ra xem người đó đã làm sai điều gì khiến mình mắc bệnh ngay từ đầu. Chúng ta vẫn đang bỏ lỡ việc đi vào cốt lõi.
Người ta có thể nói rằng bất kỳ tình huống "trần tục" bên ngoài nào cũng có thể cung cấp manh mối về một điều gì đó mang ý nghĩa. Nhiều tình huống bên ngoài chỉ đến một hình ảnh nội tâm có thể được trải nghiệm trực tiếp thông qua trí tưởng tượng chủ động. Bằng cách tìm kiếm ý nghĩa của các biến cố trong cuộc sống, cái tôi thoát khỏi thế giới ảo ảnh của ảo tưởng vốn chỉ nhìn thấy thực tại cụ thể và các biểu hiện bề ngoài. Một cuộc xung đột với cấp trên, một vụ tai nạn xe hơi, một cơn đau đầu, một con thú cưng bị ốm—tất cả những sự kiện này—đều có thể được tri giác bằng đôi mắt của trí tưởng tượng. Góc nhìn như vậy giải phóng người ta khỏi cảm giác bị mắc kẹt trong tình huống, và cho phép người ta tìm kiếm ý nghĩa liên quan đến nó. Làm việc với ý nghĩa sẽ mở ra những tiềm năng trước đây từng bị che giấu. Người ta nhìn nhận một tình trạng sự vụ bên ngoài như thể đó là một giấc mơ. Giấc mơ có thể được giải mã và thấu hiểu; người ta không chỉ đơn thuần cần phải đồng nhất với chúng.
Chẳng hạn, tôi từng làm việc với một nữ thân chủ cảm thấy bị áp bức bởi những mưu mô của người chị dâu/em dâu. Bất kể thân chủ làm gì, người chị dâu đều diễn giải sai các ý định và động cơ của cô, đồng thời bêu xấu cô trước toàn thể gia đình dưới lăng kính tồi tệ nhất có thể. Thân chủ cảm thấy mình như một nạn nhân, và không thể nghĩ ra cách nào để thoát khỏi tình thế tiến thoái lưỡng nan đó. Chúng tôi đã chuyển trọng tâm từ tình huống ngoài đời thực sang các biểu tượng chứa đựng trong nghịch cảnh đó. Người chị dâu có thể được nhận diện là nguyên mẫu của người chị ghẻ độc ác, luôn ghen tị với nhân vật nữ chính và gây ra muôn vàn rắc rối cho cô. Việc nhìn nhận người chị dâu như một nguyên mẫu đã dẫn đến việc thân chủ của tôi thực hành trí tưởng tượng chủ động với hình tượng người chị ghẻ độc ác. Sau rất nhiều tranh luận với hình tượng này, thân chủ của tôi đã có thể nhận ra rằng cô đã bị mắc kẹt trong một khuôn mẫu cụ thể trong hầu hết cuộc đời mình. Cô luôn bị hiểu lầm và suy diễn sai lệch, ngay từ khi còn là một đứa trẻ. Người chị ghẻ độc ác đã tiết lộ cho cô những cách thức mà chính cô đã mời gọi tiến trình này, và cuối cùng chỉ cho cô những cách để thoát khỏi nó. Người chị dâu ngoài đời thực không bao giờ thay đổi thái độ, nhưng thân chủ của tôi đã nhìn nhận bà ta như hiện thân của một khuôn mẫu. Cô cảm thấy rằng mình sau đó đã có thể giải phóng bản thân khỏi khuôn mẫu đó, bất kể người chị dâu thật sự làm gì hay nói gì. Dù không thể thay đổi con người bên ngoài, cô đã có thể thay đổi cách phản hồi của chính mình, và giải phóng bản thân khỏi nguyên mẫu đã thống trị cuộc đời cô bấy lâu nay. Bằng cách nhìn qua đôi mắt của trí tưởng tượng, cô nhận ra những khuôn mẫu ẩn giấu đang chi phối cuộc đời mình, và có thể tự giải thoát khỏi chúng. Bằng cách này, chúng ta sử dụng các tình huống của đời sống bên ngoài như những biểu đạt tưởng tượng của các lực lượng và quyền năng ẩn giấu, đồng thời khám phá ra phương thuốc chữa trị thích hợp thông qua công việc tưởng tượng tiếp theo.
Trí tưởng tượng không chỉ mở ra những chiều kích ẩn giấu của thế giới bên ngoài; nó còn kích hoạt quyền năng của thảo mộc, nếu dùng theo cách diễn đạt của Paracelsus. Người ta có thể nói rằng việc tri giác ý nghĩa ẩn giấu của một nội dung hay một tình huống bên ngoài sẽ kích hoạt một dạng quyền năng chứa đựng trong tình huống đó. Paracelsus đã đề cập đến hiệu năng chữa lành của thảo mộc, sao cho việc hiểu được ý nghĩa thực sự của một loài thảo mộc cho phép người thầy thuốc sử dụng nó đạt hiệu quả tốt nhất. Rất có thể việc nhìn nhận một tình huống bên ngoài bằng thị kiến tưởng tượng sẽ khơi dậy một tiến trình chuyển hóa và chữa lành tác động trực tiếp lên tình huống đó. Trí tưởng tượng không chỉ tạo ra những cái nhìn thấu suốt, mà còn tạo ra sự chuyển hóa. Việc thân chủ của tôi nhận thức được rằng người chị dâu tượng trưng cho một khuôn mẫu nguyên mẫu đã giúp giải phóng cô khỏi khuôn mẫu này, cũng như khỏi sự thao túng của con người bên ngoài. Việc giải thoát khỏi khuôn mẫu đã mở ra những cách thức mới để biểu đạt bản thân, những cách thức phù hợp hơn nhiều với bản tính nội tâm của cô. Nhìn thấu ảo ảnh do ảo tưởng tạo ra sẽ kích hoạt các tiến trình tự biểu đạt và chuyển hóa, đồng thời cho phép quyền năng tưởng tượng mở khóa những cách thức hiện hữu mới.
Tóm lại, ảo tưởng giải quyết những nhu cầu và ham muốn của cái tôi, trong khi trí tưởng tượng siêu việt cái tôi để mang lại cái nhìn thấu suốt vào bản tính của Bản thể. Trí tưởng tượng là trí tuệ của Bản thể, nơi Bản thể dẫn dắt và khuyến khích các tiến trình biểu hiện của chính nó. Cái tôi đi theo những cái nhìn thấu suốt do các trải nghiệm tưởng tượng mang lại sẽ hòa hợp với Bản thể và đang trên con đường dẫn đến sự cứu chuộc của chính mình. Cái tôi đắm chìm trong ảo tưởng bị tách rời khỏi Bản thể và lạc lối trong một thế giới ảo mộng. Ảo tưởng tạo ra niềm tin rằng thế giới vật lý là thế giới duy nhất, và sự mê lầm này ngăn chặn khả năng nhìn thấu vào tâm điểm và ý nghĩa của một tình huống để đạt được trí tuệ về nó, cũng như tạo ra những thay đổi bên trong nó.
Cá nhân thực hành trí tưởng tượng chủ động, hoặc cố gắng hướng dẫn người khác trong nỗ lực này, nên có khả năng phân biệt giữa ảo tưởng và một trải nghiệm tưởng tượng chân chính. Cần phải tự hỏi liệu trải nghiệm đó có siêu việt các nhu cầu của cái tôi và hướng tới một điều gì đó vượt ra ngoài hay không. Trải nghiệm đó phải cung cấp thông tin mới, và mở ra cánh cửa dẫn đến ý nghĩa của bất kỳ tình huống nào mà người ta đang xem xét. Một buổi tưởng tượng chủ động tốt sẽ dẫn đến những điều bất ngờ, đồng thời tạo ra cái nhìn thấu suốt cùng một góc nhìn mới mẻ. Ngược lại, ảo tưởng mang tính lặp đi lặp lại và chỉ bận tâm đến cái tôi. Nó mang lại cảm giác cằn cỗi, dù có vẻ quyến rũ, và không cung cấp thông tin hay cái nhìn thấu suốt mới nào. Việc ghi nhớ những ý niệm này trong tâm trí sẽ cho phép một cá nhân dấn thân vào cuộc phiêu lưu nguy hiểm nhưng đầy hào hứng của việc trải nghiệm các thế giới đa dạng của trí tưởng tượng.
GIẢ KIM THUẬT VÀ TRÍ TƯỞNG TƯỢNG
Nhà giả kim nhìn nhận trí tưởng tượng như chiếc chìa khóa dẫn đến sự khải thị, điều thường được xem là phương tiện không thể thiếu để thực hiện thành công công việc giả kim. Nhà giả kim không thể khám phá ra prima materia (vật chất nguyên sơ) nếu không làm việc với một vị thầy, hoặc không có sự giao tiếp trực tiếp từ thế giới tinh thần. Calid đã nói thay cho mọi nhà giả kim khi ông viết rằng "sự tinh thông và trọng trách cao quý của chúng ta đối với Hòn đá bí mật là một bí mật trong những bí mật của Thượng đế, điều mà Ngài đã giấu kín khỏi dân chúng của Ngài, và Ngài cũng không khải thị nó cho bất kỳ ai, ngoại trừ những kẻ, như những đứa con, đã xứng đáng nhận nó bằng sự trung tín...".¹¹ Sự mầu nhiệm của hòn đá là một trong những bí mật lớn nhất của Thượng đế, và chỉ Thượng đế mới có thể khải thị nó, và cũng chỉ khải thị cho những ai đã chứng tỏ mình xứng đáng. Không nên bỏ qua thực tế rằng thuật giả kim là một dạng tôn giáo huyền bí, dựa trên truyền thống và sự khải thị trực tiếp. Nó đặt một trách nhiệm lớn lao lên cá nhân nhà giả kim trong việc chứng minh rằng mình xứng đáng với tri thức mà mình tìm kiếm, bởi vì tri thức này là chìa khóa mở ra những bí mật của sự bất tử và trí tuệ thiêng liêng. Khải thị là điều tất yếu, và sự khải thị gắn liền trực tiếp với trí tưởng tượng.
Có nhiều cách mà các nhà giả kim đã cố gắng để xứng đáng nhận được nguồn cảm hứng thiêng liêng, bao gồm việc sống một cuộc đời đạo đức, cống hiến hết mình vì lợi ích của người khác, và từ chối bị cám dỗ bởi thứ vàng mà bề ngoài họ đang cố gắng tạo ra. Họ chưa bao giờ tìm kiếm sự giàu có vật chất vì chính bản thân nó, mà chỉ vì điều tốt lành mà nó có thể mang lại. Nhưng như trong tất cả các hệ thống ngộ đạo, việc sống có đạo đức và luân lý là chưa đủ để đảm bảo việc tiếp nhận trí tuệ. Các nhà giả kim phải lao tác vì sự khải thị của mình, và công việc đó bao gồm cầu nguyện, thiền định và quán tưởng. Tất cả những hình thức hoạt động nội tâm này đều liên quan trực tiếp đến việc thực hành trí tưởng tượng chủ động.
Một nhà giả kim đã tuyên bố rằng bất kỳ ai dấn thân vào thuật giả kim đều biết lời cầu nguyện hiệu quả như thế nào, và "biết bao lần những điều mà người đó tìm kiếm bấy lâu mà không thấy, đã được truyền thụ cho trong một khoảnh khắc, như thể được rót xuống từ trên cao, hoặc được chỉ bảo bởi một vị Thần hộ mệnh (Genius) tốt lành nào đó".¹² Ngoài ra, ông còn khẳng định rằng sự thấu hiểu các văn bản khó chỉ có thể đến qua sự khải thị và "sự giải mở Câu đố này hé lộ cho bạn sự mầu nhiệm của mọi điều vĩ đại và chỉ cho bạn thấy Lời cầu nguyện hữu ích biết bao để đạt được những điều Tâm linh và Vĩnh cửu".¹³
Cầu nguyện tạo thành một phần trong những lao tác của nhà giả kim khi ông tìm kiếm tri thức cần thiết để đưa công trình của mình đến chỗ đơm hoa kết trái. Ngoài ra, thông qua cầu nguyện, ông có thể thỉnh cầu thế giới tinh thần, để một vị thần hộ mệnh tốt lành nào đó chỉ bảo cho ông thông tin được yêu cầu, hoặc truyền cho ông trí tuệ thiêng liêng. Phải có một sự hợp tác diễn ra giữa nhà giả kim và tinh thần, bằng không công trình sẽ thất bại. Paracelsus đã nói về sự hợp tác này khi ông viết rằng khi một người tưởng tượng bên trong chính mình, "trí tưởng tượng của người đó hợp nhất với thiên đường, và thiên đường cùng vận hành với người đó để khám phá ra nhiều điều hơn những gì dường như có thể đạt được bằng các phương pháp thuần túy của con người".¹⁴ Các quyền năng và tinh thần nơi thiên giới hợp tác với nhà giả kim để tạo ra nhiều điều hơn những gì bản thân nhà giả kim có thể tự tạo ra. Cầu nguyện là phương tiện nhờ đó nhà giả kim triệu thỉnh các tinh thần cho nỗ lực chung nhằm luyện tạo hòn đá.
Nhiều nhà giả kim trông cậy vào sức mạnh của thiền định để khám phá những bí mật trong công việc của họ, và Paracelsus đã chỉ rõ rằng trí tưởng tượng là một phần của thiền định. Thông qua trí tưởng tượng, nhà giả kim trải nghiệm những phương thức nhận biết dường như siêu việt "các phương pháp thuần túy của con người", như Paracelsus đã diễn đạt. Việc những phương thức nhận biết này có liên hệ với trí tưởng tượng chủ động đã được làm rõ qua định nghĩa mà Ruland, một môn đệ của Paracelsus, người đã viết một từ điển giả kim thuật, đưa ra cho thiền định:
Tên gọi của một Cuộc trò chuyện Nội tâm của một người với một thực thể vô hình khác, như trong việc thỉnh cầu Thần linh, hoặc sự tương giao với chính mình, hoặc với vị thiên thần hộ mệnh tốt lành của mình.¹⁵
Jung rất quan tâm đến câu trích dẫn này. Ông lập luận rằng nó chứng minh rằng khi các nhà giả kim nói về thiền định, họ muốn nói "một cách rõ ràng về một cuộc đối thoại nội tâm và do đó là một mối quan hệ sống động với tiếng nói hồi đáp của kẻ khác bên trong chính chúng ta...".¹⁶ Thiền định, ít nhất là một phần, là một hình thức của trí tưởng tượng chủ động mang tính đối thoại, và như nhiều tài liệu quy chiếu về Eugenius hay vị thần hộ mệnh tốt lành chỉ ra, nhà giả kim đã hình dung các cuộc đối thoại với những tinh thần trợ giúp và các thiên thần tốt lành. Những thực thể tâm linh này sẽ khải thị cho họ những bí ẩn của đại tác phẩm.
Cuộc tìm kiếm cái nhìn thấu suốt về bản chất của công trình đã đưa các nhà giả kim vào những gì mà chúng ta gọi là những trải nghiệm tưởng tượng chủ động. Các nhà giả kim rất cởi mở với nhiều loại trải nghiệm thị kiến, chẳng hạn như nhìn thấy các tinh linh và hình ảnh đủ loại. Chẳng hạn, Raymond Lully đã viết: "bạn có thể thấy những tinh linh thoắt ẩn thoắt hiện ngưng tụ trong không khí dưới hình thù của nhiều loại quái vật, dã thú và con người, chúng chuyển động như những đám mây qua lại nơi này nơi khác".¹⁷ Đề cập đến công việc giả kim và những trải nghiệm mà nó có thể tạo ra, Sendivogius, một trong những nhà giả kim có tầm ảnh hưởng lớn nhất ở thời kỳ sau, đã viết rằng "đôi mắt của những người bình thường không nhìn thấy chúng, nhưng đôi mắt của sự hiểu biết và của trí tưởng tượng lại tri giác chúng bằng thị kiến chân thực và chân xác nhất".¹⁸ Trí tưởng tượng là phương tiện giúp nhà giả kim có thể trải nghiệm trí tuệ cao hơn, trí tuệ cần thiết để luyện tạo hòn đá. Nhà giả kim đã trải nghiệm trí tưởng tượng trong các trạng thái thị kiến, nhưng đặc biệt là trong những gì ngày nay được gọi là trí tưởng tượng chủ động.
Nếu áp dụng những giáo huấn của các nhà giả kim liên quan đến sự khải thị vào đại tác phẩm thời hiện đại, chúng ta có thể nói rằng các phương tiện nhờ đó Bản thể có thể được trải nghiệm và hiển lộ sẽ không bao giờ được biết đến chỉ bằng việc đọc sách hay nghiên cứu trí thức thuần túy. Trên thực tế, sự thành tựu mỹ mãn của công trình đòi hỏi sự khải thị, điều đó có nghĩa là các tinh thần bên trong phải chỉ dạy cho cá nhân cách tiến hành hành trình tìm kiếm của mình. Nếu không hợp tác với các lực lượng tưởng tượng, không có cách nào người ta có thể đạt tới Bản thể. Đây đôi khi là một khái niệm khó nắm bắt đối với mọi người, bởi vì dường như thường có cảm tưởng rằng thiện chí, sự sẵn lòng học hỏi và sự chú tâm cẩn thận đến các tình huống đời sống bên ngoài có thể là đủ. Nhưng chúng không đủ; bởi vì nếu không có trải nghiệm về sự phân định vốn thường đi sau sự tương tác trực tiếp với các hình tượng nội tâm, Bản thể vẫn sẽ luôn xa vời và nằm ngoài tầm với của cái tôi. Tiến trình cá nhân hóa, được định nghĩa là sự tạo tác nên Bản thể hiển lộ, cũng tương tự như nỗ lực giả kim nhằm luyện tạo hòn đá; cả hai đều sẽ không thành công nếu không có sự khải thị trực tiếp từ các hình tượng nội tâm.
Các nhà giả kim đã đề cập đến ba đặc điểm của sự khải thị: Đòi hỏi sự nỗ lực, tranh đấu và sự cầu nguyện tha thiết; sự can dự với một hình tượng nội tâm chẳng hạn như một vị thần hộ mệnh tốt lành; và sự truyền thụ tri thức từ thiên giới. Paracelsus chỉ ra rằng điều sau cùng diễn ra khi trí tưởng tượng được hợp nhất với thiên đường. Trong tất cả các trường hợp này, đều có hàm ý về mối quan hệ giữa nhà giả kim và các tinh thần mà ông đang làm việc cùng. Từ mối quan hệ này nảy sinh trí tuệ cần thiết. Nhà giả kim, hay cái tôi, phải tự mình lao tác rất chăm chỉ để hiểu mình phải làm gì nhằm tạo ra sự phát triển. Nếu không có nỗ lực lặp đi lặp lại từ phía cái tôi, các tinh thần sẽ không hiển lộ trải nghiệm cốt yếu. Ngoài việc lao tác chăm chỉ, cái tôi phải cầu nguyện hoặc thỉnh cầu các tinh thần. Cuối cùng, trí tưởng tượng phải hợp nhất với thiên đường; nghĩa là, một cuộc gặp gỡ thực sự với một hình tượng nội tâm phải diễn ra.
Hãy lấy trường hợp của một người phụ nữ cần phát triển cảm thức về sức mạnh nội tâm để cho phép cô đối mặt với những thử thách của thế giới bên ngoài. Cô phải học cách đối diện với những thử thách đó bằng cách tin tưởng vào trí tuệ nội tâm của chính mình. Nếu cô phát triển được sức mạnh nội tâm này và đủ tin tưởng vào những ý tưởng của chính mình, cô bắt đầu trở thành con người độc lập của chính mình và có thể đi theo những thấu hiểu sâu sắc của bản thân. Cô biết mình cần phải làm công việc này, nhưng cô không biết phải tiến hành như thế nào. Cô tìm đến nhà phân tích tâm lý của mình, người biết nhiều kỹ thuật và đưa ra nhiều gợi ý tuyệt vời, nhưng dường như không có gợi ý nào giúp ích được nhiều cho cô. Cô rất chân thành và mong muốn làm theo những gợi ý này, nhưng dường như không có điều gì tạo ra sự khác biệt. Đến một thời điểm nào đó, cả người phụ nữ và nhà phân tích của cô đều phải thừa nhận rằng họ đơn giản là không biết làm thế nào để tạo ra một nguồn sức mạnh nội tâm như vậy. Cô phải tìm kiếm sự trợ giúp của Bản thể để hoàn thành nhiệm vụ này. Cô tiếp tục chật vật xây dựng niềm tin vào bản thân, và đau khổ vì biết rằng sức mạnh cần thiết vẫn còn thiếu. Tuy nhiên, giờ đây, cô bắt đầu cầu nguyện và thỉnh cầu Bản thể bằng cách xin những giấc mơ, hoặc thực hành trí tưởng tượng chủ động và cầu xin một người dẫn đường chỉ lối cho mình. Cuối cùng, sau nhiều nỗ lực, một hình tượng nội tâm xuất hiện, người là hiện thân của sức mạnh. Hình tượng nội tâm đến dưới dạng một hiệp sĩ chiến binh, người đưa cô vào một cuộc phiêu lưu tìm kiếm và chỉ cho cô thấy việc chiến đấu với quái vật và bảo vệ chân lý đến cùng là như thế nào. Sau nhiều buổi thực hành như vậy, cô có được cảm nhận về việc sức mạnh nội tâm mang lại cảm giác ra sao, và bằng cách nỗ lực tích hợp cảm giác này, cô cho phép chức năng siêu việt phát huy phép màu của nó. Cô đã tích hợp một khía cạnh của hiệp sĩ, tạo ra trong mình cảm thức rằng cô có thể chiến đấu vì lập trường của chính mình, và đánh bại những con quái vật nội tâm của sự tự hoài nghi và sợ hãi.
Bất cứ khi nào tìm kiếm sự chuyển hóa, cá nhân tìm kiếm nó sớm hay muộn cũng phải thừa nhận rằng tri thức của cái tôi là không đủ. Chỉ có sự hợp tác với vô thức mới có thể tạo ra các điều kiện cần thiết cho phép sự thay đổi diễn ra. Trong phân tích tâm lý, nhà phân tích phải tin tưởng vào những khải thị nội tâm của thân chủ hơn bất kỳ tri thức kỹ thuật nào. Cuộc gặp gỡ trong tưởng tượng giữa cái tôi và vô thức mang lại hai loại tri thức cốt yếu: nó soi sáng giai đoạn tiếp theo của công trình, qua đó chỉ ra con đường mà cái tôi phải đi theo, và nó mang lại cuộc chạm trán trải nghiệm với một hình tượng nội tâm vốn thực sự tạo ra sự thay đổi đang được tìm kiếm. Ngày nay, Bản thể, giống như hòn đá của nhiều thế kỷ trước, chỉ có thể được tạo ra khi ý thức và trí tưởng tượng cùng hợp tác để làm nảy sinh những tiến trình và trải nghiệm bắt buộc.
Trí tưởng tượng là phương tiện nhờ đó tri thức nội tâm được tiếp thu, và trong cuộc gặp gỡ nơi cõi tưởng tượng với các hình tượng nội tâm, người ta đạt được sự ngộ đạo (gnosis). Các nhà giả kim biết rằng trí tưởng tượng là chìa khóa mở ra trí tuệ. Một trong những vai trò chính mà trí tưởng tượng nắm giữ đối với các nhà giả kim, và đối với chúng ta ngày nay, là việc đạt được trí tuệ tâm linh. Dù vậy, đó không phải là vai trò duy nhất của nó, vì nó còn là nguồn gốc của quyền năng cần thiết để biến đổi các thành phần vật lý và tâm thức.
Các nhà giả kim tin rằng trí tưởng tượng sở hữu một quyền năng vượt xa bất cứ điều gì chúng ta có thể hình dung ngày nay. Nó không chỉ có thể làm thay đổi bản tính của các chất vật lý, mà còn có thể chữa lành cơ thể và thậm chí định đoạt số phận của một đứa trẻ chưa chào đời. Trí tưởng tượng cũng có thể quy định các trải nghiệm sống của chính một người, đến mức gần như không có điều gì mà trí tưởng tượng không thể hoàn thành. Nhiều nhà giả kim tin rằng trí tưởng tượng là cần thiết cho sự luyện tạo hòn đá, và bản thân hòn đá có mối liên hệ mật thiết với trí tưởng tượng. Quan điểm của họ về trí tưởng tượng và mối quan hệ của nó với sự hình thành hòn đá mang nhiều hàm ý về tiến trình cá nhân hóa, cũng như bản chất mối liên hệ giữa Bản thể với trí tưởng tượng.
Rằng có một quyền năng trong con người có thể tác động đến thực tại bên ngoài đã được tuyên bố từ rất sớm trong lịch sử của ma thuật và giả kim thuật. Tiến sĩ Jung, trong phần thảo luận về tính đồng quy, đã đưa ra câu trích dẫn sau từ Albertus Magnus:
Tôi đã khám phá ra một lời giải thích đầy tính chỉ dẫn [về ma thuật] trong cuốn Liber sextus naturalium của Avicenna, nói rằng một quyền năng nhất định để làm biến đổi vạn vật ngự trị trong tâm hồn con người và bắt những thứ khác phải phục tùng nàng, đặc biệt là khi nàng bị cuốn vào sự thái quá mãnh liệt của tình yêu hay lòng thù hận hoặc những điều tương tự.¹⁹
Các nhà giả kim đã kết nối "quyền năng nhất định" này với trí tưởng tượng. Bằng phong cách thẳng thắn thường thấy của mình, Paracelsus đã viết về trí tưởng tượng:
Điều cần thiết là bạn nên biết những gì có thể đạt được bởi một trí tưởng tượng mạnh mẽ. Nó là nguyên lý của mọi hành động ma thuật... tất cả những đau khổ của chúng ta, tất cả những thói tật của chúng ta không là gì khác ngoài trí tưởng tượng... Và trí tưởng tượng này là thứ xuyên thấu và thăng lên cõi thiên đường tối cao, và đi từ vì sao này sang vì sao khác. Chính cõi thiên đường này nó vượt qua và dung hòa... Vì vậy, một trí tưởng tượng mạnh mẽ cũng là nguyên nhân của cả vận may lẫn điều bất hạnh.²⁰
Một người khác viết: "Con người là vị trí trung tâm của mọi tạo vật. Nhờ vào lực của trí tưởng tượng của mình (đây là tiêu điểm của mọi thứ), vạn vật trên thế giới phải vâng phục người đó, như trước sự Sa ngã."²¹ Sendivogius viết rằng linh hồn là ngai tòa của trí tưởng tượng, và rằng nó "có quyền năng tuyệt đối và độc lập để làm những việc khác ngoài những điều thể xác có thể nắm bắt. Nhưng khi nó mong muốn như vậy, nó có quyền năng lớn nhất đối với thể xác, vì nếu không thì triết học của chúng ta sẽ trở nên vô ích".²² Và cuối cùng, Henry Cornelius Agrippa đã viết:
Các triết gia, đặc biệt là những người Ả Rập, nói rằng tâm trí con người, khi chuyên tâm nhất vào bất kỳ công việc nào, thông qua niềm đam mê và các hiệu ứng của nó, sẽ kết hợp với tâm trí của các vì sao và các trí tuệ siêu nhiên, và việc được kết hợp như vậy là nguyên nhân khiến cho một đức năng kỳ diệu nào đó được truyền vào các tác phẩm và sự vật của chúng ta; điều này là bởi vì trong đó có một sự lĩnh hội và quyền năng của vạn vật, nên mọi sự đều có sự thuận phục tự nhiên đối với nó, và tất yếu mang lại một hiệu lực cùng nhiều điều hơn thế cho kẻ mong muốn chúng với một ước nguyện mãnh liệt.²³
Quyền năng của trí tưởng tượng bao gồm khả năng thay đổi cơ thể và các phản ứng hóa học, định đoạt số phận của chính mình và giành quyền kiểm soát nó khỏi các vì sao, và trên thực tế, sắp đặt trật tự cùng kiểm soát toàn bộ đời sống. Trí tưởng tượng gắn liền với vị trí đặc biệt của con người trong trật tự của tạo hóa. Để hiểu tại sao các nhà giả kim tin vào quyền năng của trí tưởng tượng, người ta cần hiểu cách họ định nghĩa nó. Sự biểu đạt rõ ràng nhất về định nghĩa này đến từ Ruland, người định nghĩa nó là "ngôi sao trong con người, thể dạng thiên giới hoặc siêu thiên giới".²⁴ Tiến sĩ Jung thấy định nghĩa này vô cùng đáng kinh ngạc và đã cố gắng làm sáng tỏ các hàm ý của nó:
Định nghĩa đáng kinh ngạc này soi rọi một thứ ánh sáng rất đặc biệt lên các tiến trình ảo tưởng/tưởng tượng gắn liền với đại tác phẩm. Chúng ta phải quan niệm về các tiến trình này không phải như những bóng ma phi vật chất mà chúng ta thường gán cho các hình ảnh tưởng tượng, mà như một thứ gì đó có tính vật chất, một "thể tinh vi" (subtle body), có bản tính bán tâm linh... Do đó, imaginatio, hay hành vi tưởng tượng, là một hoạt động thể chất có thể khớp vào chu trình biến đổi vật chất, vừa tạo ra những biến đổi này vừa được sinh ra bởi chúng theo chiều ngược lại. Bằng cách này, nhà giả kim không chỉ liên hệ bản thân với vô thức mà còn trực tiếp với chính chất thể mà ông hy vọng sẽ chuyển hóa thông qua quyền năng của trí tưởng tượng. Lời biểu đạt độc đáo astrum (ngôi sao) là một thuật ngữ của Paracelsus, trong bối cảnh này có nghĩa gần giống như tinh chất (quintessence). Trí tưởng tượng do đó là một chiết xuất cô đọng của các lực sống, cả về thể chất lẫn tâm thức.²⁵
Trí tưởng tượng là một ngôi sao bên trong tâm hồn con người, hoặc là một "chiết xuất cô đọng của các lực sống" có thể làm thay đổi không chỉ thế giới nội tâm của vô thức, mà cả thế giới bên ngoài của thực tại vật lý. Cần lưu ý rằng khi Jung sử dụng từ fantasy trong trích dẫn của mình, ông thực sự muốn nói đến trí tưởng tượng (imagination), chứ không phải ảo tưởng theo nghĩa tiêu cực đã thảo luận trước đó. Lời giải thích này rất sâu sắc, và làm sáng tỏ quan điểm của chính ông về trí tưởng tượng. Jung không viết nhiều về chủ đề này, và đây chắc chắn là một trong những phát biểu hấp dẫn nhất của ông liên quan đến nó.
Có một khía cạnh của trí tưởng tượng siêu việt thế giới nội tâm của tâm thức, bởi vì nó có những tác động lên thế giới bên ngoài, ít nhất là theo các nhà giả kim. Bằng cách đặt trí tưởng tượng vào cảnh giới tinh vi (subtle realm), và đồng nhất nó với thể tinh vi (subtle body), cả Ruland và Jung đều ngụ ý rằng nó không chỉ thuần túy thuộc về tâm thức; nó có một chiều kích thể chất hoặc vật chất trong đó. Việc nó có một chiều kích như vậy giải thích cách nó có thể tác động đến thế giới vật chất, nhưng đồng thời làm dấy lên những câu hỏi về bản tính nền tảng của trí tưởng tượng. Nó cũng đặt ra những câu hỏi về bản tính của Bản thể.
Bản thể hiển lộ khi các mặt đối lập được hợp nhất để tạo thành một trạng thái mới của ý thức và hiện hữu. Trung tâm mới được hình thành như vậy là một sự hợp nhất của các mặt đối lập. Vì Bản thể bao hàm các chiều kích thực tại bên trong và bên ngoài, nên nó sẽ siêu việt cả thực tại tâm thức lẫn thực tại vật lý, và sống trong thế giới vượt ra ngoài cả hai, dù là một thế giới cũng bao gồm cả hai. Ghi nhớ các mô hình đã thảo luận ở chương trước, có thể nói rằng một sự hợp nhất tuần tự các mặt đối lập tạo ra một Bản thể mà trong các biểu hiện của nó thì khoảnh khắc này là tâm thức và khoảnh khắc tiếp theo là vật chất. Tuy nhiên, xét từ góc độ hợp nhất đồng thời, Bản thể vừa thuộc về vật chất vừa thuộc về tâm thức cùng một lúc. Do đó, Bản thể không hoàn toàn thuộc về thực tại nào, mà thuộc về một thực tại thứ ba hợp nhất chúng. Chính theo nghĩa này mà Bản thể hiển lộ không chỉ tồn tại trong thế giới bên ngoài đơn thuần, hay trong thế giới tâm thức, mà trong thế giới của các thể tinh vi, nơi vật chất và tâm thức được hợp nhất. Giống như Ruland đã định nghĩa trí tưởng tượng là một thể tinh vi, Bản thể mà nó thuộc về cũng là một thể tinh vi.
Marie-Louise von Franz đã đưa ra một nhận định rằng con người đã cá nhân hóa sống trong thế giới của trí tưởng tượng chủ động; rằng cái tôi không đồng nhất với thế giới bên ngoài, cũng không đồng nhất với thế giới bên trong, mà với thế giới tưởng tượng—nơi bao hàm cả hai thế giới kia. Cái tôi có ý thức được hợp nhất với Bản thể hiển lộ sẽ trải nghiệm cuộc sống từ một vị thế trung tâm đặt nền tảng trong các thế giới tưởng tượng, và không đồng nhất với các sự kiện đời sống bên ngoài cũng như không đồng nhất với các trạng thái nguyên mẫu bên trong. Sự hợp nhất của cái tôi với Bản thể sẽ không chỉ đơn thuần được biểu hiện trong một trạng thái nhận thức, mà trong một trải nghiệm sáng tạo và tưởng tượng liên tục. Ý thức-cái tôi thông thường sẽ được thay thế bằng một ý thức tưởng tượng vốn ngắm nhìn thế giới qua đôi mắt của trí tưởng tượng. Nó sẽ nhìn thấu bên dưới tính chất vững chắc biểu kiến của thực tại thông thường để thấy ý nghĩa ẩn giấu ở đó. Nó sẽ chiêm ngưỡng các quyền năng tâm linh đang vận hành trong đời sống thường nhật, và nó sẽ sở hữu sự tự do mà việc tri giác theo biểu tượng ban tặng.
Trí tưởng tượng như sự biểu hiện tâm linh của Bản thể có sức mạnh tác động lên cả thế giới vật lý và thế giới tâm thức bởi vì Bản thể siêu việt các thế giới này, nhưng đồng thời vẫn bao hàm chúng. Quyền năng tưởng tượng mà nhà giả kim mô tả chỉ là tiềm năng bên trong Bản thể tiềm ẩn, nhưng với sự xuất hiện của Bản thể hiển lộ, tiềm năng đó sẽ được hiện thực hóa.
Bản thể có một quyền năng cô đọng bên trong nó—quyền năng của trí tưởng tượng. Khi Bản thể trỗi dậy từ trạng thái tiềm ẩn của nó và trở nên có ý thức hơn, các quyền năng tưởng tượng của nó tăng lên và nhân bội. Trí tưởng tượng như quyền năng tâm linh của Bản thể là điều bắt buộc trong quá trình chuyển dịch của nó từ tiềm ẩn sang hiển lộ. Quyền năng này là thiết yếu cho sự chuyển hóa của chính nó, và thông qua nó, Bản thể sẽ tác động lên cả thực tại bên trong lẫn bên ngoài nhằm thúc đẩy sự phát triển của chính mình. Điều quan trọng cần nhớ là những quyền năng đang được thảo luận không thuộc về cái tôi. Thuật giả kim không phải là sự trương phình ngã mạn của cái tôi thông qua việc đồng nhất với các khả năng tưởng tượng như vậy, mà đúng hơn là về sự biểu đạt quyền năng tưởng tượng của Bản thể vì sự tự tạo tác của chính nó. Cái tôi là một phần thiết yếu của tiến trình này, nhưng hoàn toàn không ở vào vị thế có thể thao túng những quyền năng vĩ đại đang được bàn đến. Nếu nó cố làm như vậy, trải nghiệm tưởng tượng sẽ thoái hóa thành ảo tưởng đơn thuần, và chính những quyền năng mà cái tôi đang tìm kiếm sẽ biến mất.
TRÍ TƯỞNG TƯỢNG VÀ PSYCHOID
Tôi đã đề cập trong chương trước rằng bản chất của một số trải nghiệm nội tâm nhất định có thể đòi hỏi sự phân biệt giữa các hình tượng nội tâm thuộc tâm lý học và những hình tượng mà tôi gọi là mang tính psychoid. Một số đặc điểm của trải nghiệm psychoid bao gồm tác động sâu sắc lên cơ thể và tâm trí, cùng cảm thức rằng hình tượng đó đến từ bên ngoài tâm thức. Việc hiểu trí tưởng tượng theo cách các nhà giả kim đã làm khiến cho các trải nghiệm psychoid dường như trở nên hợp lý hơn. Trí tưởng tượng như một thể tinh vi là sự hợp nhất của vật chất và tâm thức, và như một phần của Bản thể, nó có thể tạo ra những trải nghiệm thuộc về tâm thức, thuộc về vật chất, hoặc cả hai. Tuy nhiên, Jung đã chỉ ra rằng trí tưởng tượng không chỉ thuộc về Bản thể, mà còn thuộc về các nguyên mẫu. Rất có thể các hình tượng psychoid cũng biểu đạt chính mình thông qua quyền năng của trí tưởng tượng, xuất hiện dưới dạng hình ảnh và hình tượng. Các thực thể làm nảy sinh những hình tượng và trải nghiệm như vậy rất có thể thuộc về cảnh giới của các thể tinh vi, giống như Bản thể hiển lộ. Trong trường hợp này, dù chúng không thuộc về tâm thức con người, chúng hợp nhất trong chính mình những đặc tính vừa thuộc về vật chất vừa thuộc về tâm thức, nhưng lại không phải là cái nào trong hai cái đó, mà là một trạng thái thứ ba nào đó mà chúng ta có thể gọi là psychoid. Bởi vì các hình tượng nội tâm hiện thân cho các thực thể psychoid đến từ chiều kích mà trong đó các mặt đối lập của vật chất và tâm thức đã được hợp nhất, chúng có quyền năng và tác động lớn hơn nhiều, đồng thời có khả năng tạo ra những thay đổi về mặt vật chất. Thế giới psychoid về mặt lý thuyết sẽ tương ứng với thế giới của các thể tinh vi, và những trải nghiệm đầy hiệu lực mà chúng tạo ra sẽ bắt nguồn từ quyền năng tưởng tượng của chúng. Trí tưởng tượng sẽ bao gồm cả những trải nghiệm thuần túy tâm thức cũng như những trải nghiệm mang tính psychoid.
Nếu chúng ta tham khảo lại một lần nữa các lý thuyết của những người Sufi, chúng ta sẽ tìm thấy sự chứng thực cho những ý tưởng như vậy. Theo Ibn 'Arabi, các tinh thần nhập thể chính mình thông qua quyền năng của trí tưởng tượng.²⁶ Chúng làm điều này bằng cách khoác lên những đặc tính của thế giới vật chất để biểu đạt chính mình. Chẳng hạn, một thực thể tâm linh có thể xuất hiện trong trí tưởng tượng của một người dưới dạng một sinh vật xinh đẹp có đôi cánh. Đôi cánh, được vay mượn từ thế giới vật chất, biểu thị bản tính tâm linh của hình tượng, gợi ý về sự bay lượn và tự do. Một thân chủ của tôi từng có một giấc mơ về một con mèo ma thuật, trong đó con mèo nói rằng nó chắc chắn hoàn toàn không phải là một con mèo, mà là một thực thể tâm linh chỉ có thể biểu đạt chính mình thông qua hình ảnh con mèo. Những thực thể psychoid trỗi dậy từ những cảnh giới tinh vi này sở hữu quyền năng của trí tưởng tượng. Thông qua quyền năng này, chúng biểu đạt chính mình dưới dạng những hình tượng được nhân cách hóa. Sau đó, chúng ở vào vị thế có thể tương tác với con người.
Cũng thật thú vị khi lưu ý rằng cuộc tìm kiếm sự bất tử của các nhà giả kim thường mang hình thức tạo tác một thể tinh vi. Cảnh giới tinh vi hợp nhất và siêu việt vật chất cùng tâm thức, và khi Bản thể dần dần hợp nhất các mặt đối lập thông qua các trải nghiệm tưởng tượng chủ động, nó ngày càng trở thành một phần của cảnh giới tinh vi. Khi Bản thể tiềm ẩn trở nên hiển lộ, nó có thể cảm nhận sự dịch chuyển vào cảnh giới tinh vi như một cảm thức hữu hình về việc trở nên bất tử. Trí tưởng tượng do đó gắn liền mật thiết với việc tạo ra thể xác bất tử mà các nhà giả kim tìm kiếm.
Để điểm lại ngắn gọn, định nghĩa do Ruland đưa ra đặt trí tưởng tượng vào cảnh giới tinh vi hoặc cảnh giới psychoid, ít nhất là ở dạng tiềm năng. Như một ngôi sao trong tâm thức con người, trí tưởng tượng sẽ tương ứng với Bản thể, hoặc là một biểu hiện của quyền năng tâm linh của Bản thể. Quyền năng này không thuần túy thuộc về tâm thức cũng không thuần túy thuộc về vật chất, mà là sự hợp nhất của cả hai, tạo ra một trạng thái thứ ba rất khó để khái niệm hóa. Khi Bản thể hợp nhất những mặt đối lập này thông qua các trải nghiệm tưởng tượng, nó gia tăng sức mạnh và sự vững chắc. Khi làm như vậy, các quyền năng tưởng tượng của chính nó lớn mạnh, dẫn đến những trải nghiệm mới có tác động lớn hơn nữa, và đến lượt chúng lại dẫn đến việc củng cố Bản thể hơn nữa. Bản thể càng phát triển, các quyền năng tưởng tượng của nó càng giúp nó phát triển. Cái tôi, trong sự hợp nhất với Bản thể hiển lộ, sống trong một thế giới tưởng tượng, một thế giới của trí tưởng tượng chủ động nhưng đủ chân thực để siêu việt thực tại thông thường, dù đồng thời nó vẫn bao hàm thực tại này. Cái tôi không ở vào vị thế kiểm soát trải nghiệm tưởng tượng, vốn nhắm tới sự biểu đạt của Bản thể. Những quyền năng mà trí tưởng tượng sở hữu là cần thiết trong công việc ban đầu là kiến tạo Bản thể hiển lộ, và trong công việc sau này là cho phép Bản thể biểu đạt chính nó.
GIẢ KIM THUẬT VÀ TRÍ TƯỞNG TƯỢNG CHỦ ĐỘNG
Albertus Magnus chỉ ra rằng con người, đặc biệt là trong các trạng thái kích động mạnh mẽ, có thể tác động đến các sự kiện và vật chất bên ngoài. Các nhà giả kim nghĩ rằng khả năng này là thiết yếu để tạo ra những thay đổi bên trong kim loại của họ. Họ tin rằng quyền năng này sẽ hiển lộ khi trí tưởng tượng của nhà giả kim kết hợp với các lực lượng thiên giới vốn được miêu tả mang tính biểu tượng như thiên đường và các vì sao ngự trị trên đó. Hợp nhất tâm trí của mình với quyền năng của các vì sao, họ sẽ tập trung lực lượng thiên giới bên trong hòn đá mà họ đang tạo tác, nhằm truyền cho nó những quyền năng ma thuật. Họ cũng có thể tập trung lực lượng thiên giới vào một dung dịch hoặc hợp chất cụ thể để tạo ra những sự biến đổi ma thuật của nó.
Hãy hình dung nhà giả kim đang ngồi trong phòng thí nghiệm của mình. Ông có một dung dịch đang được đun nấu trong bình chứa. Mục tiêu của ông là chuyển hóa vật chất trong dung dịch thành một thứ gì đó mới, một chất liệu mới có quyền năng tâm linh cô đọng bên trong nó. Nếu ông có thể hoàn thành nhiệm vụ này, chất liệu mới sau đó sẽ có khả năng tác động ma thuật lên các chất liệu khác, biến đổi chúng từ trạng thái hiện tại thành vàng. Hoặc ông có thể mong muốn tạo ra một tiên dược ma thuật, có khả năng chữa lành cơ thể. Trong cả hai trường hợp, chất mà ông cố gắng tạo ra phải chứa đựng sức mạnh của các vì sao thì mới có hiệu lực. Phương tiện nhờ đó ông có thể trải nghiệm năng lượng tinh tú và tập trung nó vào dung dịch của mình chính là trí tưởng tượng. Điều này có thể diễn ra như thế nào?
Có lẽ có vô số cách để nhà giả kim thực hiện điều này, nhưng có một cách tương ứng với trí tưởng tượng chủ động. Ruland định nghĩa thiền định là một cuộc đối thoại giữa nhà giả kim và một thực thể vô hình. Nếu nhà giả kim tìm cách làm giáng nhập quyền năng của một vì sao vào vật chất, ông sẽ tham gia vào một cuộc đối thoại với vì sao đó, vì sao này trước hết phải hiển lộ dưới dạng một hình tượng được nhân cách hóa nào đó. Vì sao có thể là một thực thể tâm linh, hoặc một lực lượng nguyên mẫu xuất hiện như một hình ảnh nhập thể mà nhà giả kim có thể đối thoại cùng. Trong sự giao tiếp của mình với hình tượng nội tâm, ông có thể yêu cầu nó chỉ dạy cho ông cách biến đổi vật chất của mình. Hoặc cách khác, ông có thể yêu cầu nó hiển lộ bên trong hình thái vật chất và do đó ban tặng quyền năng của nó cho vật chất. Sự tương tác tưởng tượng với những hình tượng như vậy sẽ là phương tiện để tạo ra các chất vật lý ma thuật. Jung đã giải thích tiến trình này bằng cách nói: "thông qua một cuộc đối thoại với Thượng đế, thậm chí sẽ có nhiều tinh thần hơn được truyền vào hòn đá, tức là nó sẽ càng trở nên mang tính tâm linh hơn, dễ bay hơi hơn hoặc được thăng hoa hơn".²⁷ Cuộc đối thoại không nhất thiết phải với Thượng đế, vì bất kỳ vì sao nào cũng được, nếu bản chất tinh thần của nó được chuyển vào hòn đá.
Là một phần trong các tiến trình của thuật giả kim nội tâm, nỗ lực tưởng tượng này rất có ý nghĩa. Hòn đá tương ứng với Bản thể, vốn khá kém phát triển tại thời điểm này. Nhà giả kim nội tâm mong muốn trao quyền năng cho nó để giúp nó phát triển, và sẽ cố gắng làm điều này bằng cách kích hoạt gom tụ quyền năng của một vì sao cụ thể. Về mặt biểu tượng, vì sao biểu thị cho một nguyên mẫu, và liên quan đến chủ đề về các scintillae mà Jung đã thảo luận kỹ lưỡng trong cuốn Mysterium Coniunctionis.²⁸ Ông đã liên hệ các scintillae, hay những tia lửa ánh sáng nhìn thấy trong các thị kiến và được miêu tả trong một số biểu tượng giả kim, với các phần bị phân tách của tâm thức, chẳng hạn như các phức cảm hoặc các nguyên mẫu. Những tia sáng phân tán là những biểu tượng được tìm thấy trong nhiều truyền thống tâm linh và thường gắn liền với giáo lý cứu chuộc. Theo những niềm tin này, Thượng đế đã bị phân tán khắp vũ trụ dưới dạng những tia lửa ánh sáng, và nhà thần bí phải từng bước khám phá ra những tia sáng này và hợp nhất chúng thành một tổng thể, điều sẽ phục hồi Thượng đế và đưa Ngài trở lại trạng thái toàn vẹn của Ngài.²⁹ Tất cả những tia lửa ánh sáng li ti, đại diện cho các phức cảm và nguyên mẫu, được gom lại thành một thể thống nhất. Một số văn bản miêu tả tiến trình này như sự tạo ra một ngọn lửa rạng rỡ duy nhất bừng sáng với quyền năng của những tia lửa nhỏ hơn. Hình ảnh của ngọn lửa duy nhất sẽ biểu thị cho Bản thể đi vào hiện hữu khi các khía cạnh phân mảnh của tâm thức được hợp nhất thành một tổng thể và được hòa điệu xung quanh một điểm trung tâm.
Nhà giả kim nội tâm đang cố gắng tương tác với một nguyên mẫu, và thông qua sự tương tác này, chuyển kênh quyền năng của nó vào Bản thể tiềm ẩn, tạo ra một sự biến đổi sinh ra Bản thể hiển lộ. Cô chỉ có thể làm điều này thông qua trí tưởng tượng chủ động, trong đó cô trải nghiệm nguyên mẫu như một hình tượng nội tâm mà cô tương tác cùng. Mục tiêu của cô là kết nối với hình tượng nội tâm này với đủ chiều sâu để kích hoạt chức năng siêu việt. Khi chức năng siêu việt vận hành, thực thể nội tâm được chuyển hóa theo cách để trở thành một phần của Bản thể. Tiến trình mà nhờ đó nhà giả kim hợp nhất trí tưởng tượng của mình với sức mạnh của các vì sao do đó được trải nghiệm như trí tưởng tượng chủ động với các nguyên mẫu.
Tôi từng mơ thấy mình đang đứng bên một hồ nước ma thuật. Làn nước của hồ này có đặc tính phản chiếu bản tính chân thật của một người. Khi tôi nhìn vào đó, thần Chiến tranh Mars bước qua. Ông là một người khổng lồ cao hai mươi foot, nhưng tôi biết đó là Mars. Tôi cũng biết rằng mình phải tóm lấy ông ta và bắt ông ta nhìn vào hồ nước đó. Nếu tôi có thể làm như vậy, ông ta sẽ thấy bản tính chân thật của mình và nhận ra rằng mình thuộc về một tổng thể lớn hơn, và không còn có thể làm bất cứ điều gì mình thích, chẳng hạn như gây ra những cuộc chiến tranh vô nghĩa và tàn phá bừa bãi. Tuy nhiên, cùng lúc đó, Mars nhận thức được rằng nếu nhìn vào hồ nước, ông ta sẽ mất đi sự tự do của mình, và vì vậy ông ta đã kháng cự. Giấc mơ kết thúc với cảnh tôi cố gắng tóm lấy ngón chân cái (!) của Mars để ép ông ta nhìn vào hình ảnh phản chiếu của mình dưới nước.
Giấc mơ đã mở ra một giai đoạn dài làm việc căng thẳng, trong đó tôi đối thoại với Mars và nghiên cứu về chiến tranh dưới góc độ lịch sử và thần thoại. Tôi biết nếu mình có thể làm việc đủ nhiều với ông ta, ông ta sẽ được chuyển hóa, và cơn thịnh nộ mà ông ta nắm giữ sẽ không còn chuyển động một cách tự trị bên trong tôi nữa, mà sẽ trở thành một phần của Bản thể. Mars liên tục xuất hiện trước tôi như một hình tượng nội tâm có kích thước khổng lồ, nhưng dần dà từng chút một, ông ta trở nên có phần gắn kết với tôi. Thông qua các cuộc đối thoại của chúng tôi, tôi đã cố gắng thuyết phục ông ta rằng sự hung hăng thuần túy vì chính nó là không hữu ích cho ông ta lẫn cho tôi, và đến lượt mình, ông ta đã cố gắng thuyết phục tôi về sức mạnh và những lợi ích chuyển hóa của chiến tranh và xung đột. Cuối cùng, khi chức năng siêu việt xảy ra, khả năng chiến đấu và quyết liệt vào đúng thời điểm đã trở thành một phần của Bản thể tôi.
Chức năng siêu việt không chỉ là sự thay đổi trong ý thức, mà còn là một sự thay đổi về mặt năng lượng. Khi chức năng siêu việt hợp nhất hai mặt đối lập từng bị tách rời trước đó, năng lượng tâm lý thuộc về mỗi bên sẽ được chuyển hóa, và một phần của nó trở nên sẵn có cho Bản thể. Bản thể nhờ đó nhận được năng lượng tâm lý, cho phép nó biểu đạt chính mình dễ dàng hơn và trở thành một thành phần tâm thức mạnh mẽ hơn, ổn định hơn. Thuật giả kim không chỉ ám chỉ những thay đổi trong ý thức diễn ra thông qua trí tưởng tượng chủ động, mà còn là những thay đổi về trạng thái năng lượng của các hình tượng bên trong tâm thức.
Sự hợp nhất của nhà giả kim với các vì sao tượng trưng cho những trải nghiệm tưởng tượng chủ động, trong đó các nguyên mẫu vừa được kết nối vừa được chuyển hóa. Quyền năng của chúng được biến đổi vào Bản thể. Các nguyên mẫu, dù năng lượng mà chúng sở hữu bị giảm đi nhiều, không hề biến mất. Tuy nhiên, giờ đây chúng được tổ chức xung quanh Bản thể. Do đó, quyền năng của trí tưởng tượng mà các nhà giả kim mô tả chính là quyền năng kích hoạt chức năng siêu việt, và chuyển hóa trạng thái của vô thức.
Còn có một quyền năng khác của trí tưởng tượng mà Paracelsus đã đề cập. Ông viết rằng trí tưởng tượng có sức mạnh xuyên thấu các tầng trời, đi từ vì sao này sang vì sao khác, vượt qua và dung hòa thiên đường. Một mặt, sự miêu tả này đề cập đến tiến trình tôi vừa thảo luận, bởi vì quyền năng dung hòa các tầng trời bằng cách di chuyển từ vì sao này sang vì sao khác chính là việc thuần hóa các nguyên mẫu bằng cách giải quyết từng nguyên mẫu một, và tổ chức chúng xung quanh Bản thể. Tuy nhiên, Paracelsus cũng kết nối tiến trình này với số phận, tuyên bố rằng một trí tưởng tượng mạnh mẽ là nguồn gốc vận mệnh của một người, dù tốt hay xấu.
Khi các nhà giả kim nói về các vì sao, luôn có sự quy chiếu đến chiêm tinh học, vì họ tin rằng các vì sao và các hành tinh ảnh hưởng đến sự hình thành kim loại ở trung tâm trái đất, và cũng ảnh hưởng đến số mệnh của một con người. Trí tưởng tượng đã mang lại một con đường giúp con người giải phóng bản thân khỏi sự áp đặt của số phận, và tự định đoạt số mệnh của chính mình.
Jung đã thảo luận về mô-típ này trong mối liên hệ với tính biểu tượng của sự thăng hoa qua các tầng cầu hành tinh, một hành trình trong cõi tưởng tượng thường xuất hiện trong các văn bản giả kim thuật. Jung giải thích sự thăng hoa này bằng cách thảo luận về vai trò của chiêm tinh học trong thời Trung cổ. Vào thời điểm đó, các hành tinh riêng lẻ tương quan với các khí chất cụ thể; do đó, vị trí của các hành tinh trong một lá số chiêm tinh quyết định nhân cách của một cá nhân. Sự thăng hoa qua các hành tinh "mang ý nghĩa tương tự như việc rũ bỏ các phẩm tính tính cách được biểu thị bởi lá số tử vi, một sự giải phóng mang tính thoái lùi khỏi tính cách được in dấu bởi các archon (những kẻ thống trị)".³⁰ Jung đã so sánh một cách đúng đắn hành trình tìm kiếm này với sự thăng thiên của người theo thuyết Ngộ đạo, người tìm cách giải phóng mình khỏi mọi ảnh hưởng giả tạo và tìm đường trở về với Thượng đế chân thật.
Ý niệm được các nhà giả kim bày tỏ là thông qua những trải nghiệm và tiến trình nhất định, người ta có thể giải phóng bản thân khỏi số phận, và khỏi những trải nghiệm mang tính quy định từ trước. Thay vì là một sản phẩm của môi trường sống hay thời đại mà mình sinh ra, người ta có thể rũ bỏ những ảnh hưởng này để tìm thấy chân lý về bản thể của chính mình. Bản thể là tự quyết, và mô-típ thăng hoa trong thuật giả kim chỉ ra quyền năng của Bản thể trong việc rũ bỏ những ảnh hưởng không mong muốn và khám phá bản tính cốt tủy của chính nó. Sống tự do khỏi sự kiểm soát bên ngoài và những sự cưỡng bách phổ quát của các nguyên mẫu, người ta sẽ sống từ chính trung tâm của mình và biểu đạt ra thế giới những gì chân thật với trung tâm đó.
Paracelsus dường như là người độc đáo ở chỗ ông liên hệ sự thăng hoa qua các tầng trời với trí tưởng tượng, và chỉ ra rằng thông qua các trải nghiệm tưởng tượng, người ta có thể thoát khỏi các ảnh hưởng tập thể và nguyên mẫu vốn không đúng với bản tính của mình. Thông qua tiến trình tưởng tượng chủ động, cá nhân có thể nhận diện và ý thức hóa những ảnh hưởng mang tính cưỡng chế mà trước đây mình chưa từng biết đến. Cá nhân củng cố Bản thể đủ mạnh để hòa điệu và tổ chức những ảnh hưởng đó theo cách giúp chúng hỗ trợ thay vì cản trở sự phát triển của nhân cách. Sự tự do để là chính mình và biến Bản thể đó thành trung tâm của đời sống có lẽ là quyền năng quan trọng nhất mà trí tưởng tượng sở hữu. Tuy nhiên, vẫn còn một thuộc tính của trí tưởng tượng mà tôi chưa xem xét: khả năng chữa lành các bệnh tật thể xác.
SỰ CHỮA LÀNH VÀ TRÍ TƯỞNG TƯỢNG
Ngay từ buổi đầu của thuật giả kim, các hành giả đã quan tâm đến việc tạo ra các độc dược/tiên dược và nguyên liệu chữa bệnh, thứ quyền năng nhất trong số đó là hòn đá triết gia. Paracelsus đã viết về ảnh hưởng của trí tưởng tượng đối với bệnh tật, nhưng phải đến một trong những học trò thời kỳ sau của ông thì ý niệm này mới được phát triển một cách có hệ thống và chi tiết. Joan Baptista Van Helmont (1579–1644) đóng một vai trò quan trọng trong lịch sử khoa học, nhưng người viết tiểu sử chính của ông, học giả về giả kim thuật và lịch sử khoa học Walter Pagel, đã hé lộ sự dựa dẫm của ông vào quan điểm tâm linh, và đặc biệt là việc ông sử dụng trí tưởng tượng trong các tiến trình chữa lành. Thật không may, gần như không thể có được bất kỳ văn bản nào của Van Helmont bằng tiếng Anh,³¹ vì vậy tôi phải dựa vào các lời giải thích và trích dẫn của Pagel. Xét đến danh tiếng của Pagel với tư cách là một học giả, và thực tế là ông đã nghiên cứu Van Helmont trong năm mươi năm, đây dường như là một rủi ro có thể chấp nhận được.
Dĩ nhiên tôi không thể trình bày chi tiết tất cả các lý thuyết của Van Helmont, mà sẽ chỉ thảo luận về cách hiểu của ông đối với trí tưởng tượng. Điều quan trọng cần nhớ là Van Helmont là một nhà giả kim và tin vào khả năng tạo ra hòn đá triết gia. Các tác phẩm của ông về trí tưởng tượng tạo thành một phần của truyền thống giả kim thuật. Chịu ảnh hưởng bởi Paracelsus, nhưng ông vẫn là một nhà tư tưởng độc đáo và sáng tạo theo cách riêng của mình, và không ngần ngại bất đồng quan điểm với Paracelsus khi cảm thấy phù hợp.
Trong hệ thống của Van Helmont, trung tâm của cá nhân là archeus, một đơn vị cá thể mà trong đó "tinh thần và vật chất đã được hợp nhất để trở nên không thể tách rời và không thể phân biệt trong một thực thể mới. Đây không phải là vật chất cũng không phải là tinh thần, mà mang một chút của cả hai, cụ thể là một khía cạnh thể chất và một khía cạnh mang tính psychoid...".³² Mặc dù các phép so sánh luôn có phần nguy hiểm và dễ gây hiểu lầm, nhưng dường như archeus có thể được so sánh với Bản thể tiềm ẩn. Archeus đóng vai trò như một dạng trung gian giữa các hình ảnh mầm mống in dấu lên vật chất và chính thế giới vật chất. Archeus có trí tưởng tượng riêng của nó, nhờ đó nó dẫn dắt những hình ảnh này theo cách thức được yêu cầu, bởi vì archeus có "sự hiểu biết về những gì cần phải làm".³³ Khi trí tưởng tượng này bị bóp méo thông qua một dạng "hạt giống xấu", kết quả cuối cùng là bệnh tật. Trong trường hợp như vậy, hình ảnh sẽ chiếm quyền kiểm soát từ tinh thần sinh mệnh, và con người phát triển "bệnh tật thông qua một chuỗi phức tạp gồm các sự kiện tâm-thể, trong đó trí tưởng tượng, 'sự hấp dẫn từ tính' của mầm bệnh, và trên hết là nỗi sợ hãi, đóng một vai trò nổi bật".³⁴ Pagel đã chỉ ra rằng Paracelsus đã ảnh hưởng rất lớn đến các tư tưởng của Van Helmont, và đối với cả hai người, bệnh tật là "kết quả của một cuộc đối thoại giữa các tinh thần, nghĩa là, các quyền năng vô hình với một năng lượng tinh tú vượt trội hơn nhiều so với bất cứ thứ gì trong tầm với của các thể dịch vật chất đơn thuần".³⁵ Dưới góc nhìn này, bệnh tật là một thực thể tâm linh, nghĩa là, nó thuộc về cõi tưởng tượng, và trong sự hiển lộ của nó nơi trí tưởng tượng, nó làm vấy bẩn và bóp méo trí tưởng tượng của archeus. Nó giống như thể có một tiến trình tưởng tượng chủ động trong vô thức đang diễn ra giữa hình ảnh của căn bệnh và archeus, và thông qua cuộc đối thoại này, cái trước đã khuất phục cái sau. Không khó để so sánh mô hình này với mô hình của một buổi tưởng tượng chủ động mà trong đó một nguyên mẫu chế ngự Bản thể, tạo ra nếu không phải là một căn bệnh thể xác thì ít nhất cũng là một căn bệnh tâm lý. Mọi bệnh tật đều có thể được quy cho trí tưởng tượng của các nguyên mẫu can thiệp vào sự phát triển và biểu đạt của Bản thể. Lý thuyết cho rằng bệnh tật có thể có một hạt nhân tưởng tượng gần đây đã được Tiến sĩ Arnold Mindell và trường phái Tâm lý học Định hướng Tiến trình (Process Oriented Psychology) của ông khai triển, nơi đã phát triển nhiều phương pháp làm việc với các triệu chứng cơ thể dưới dạng hình ảnh.³⁶
Vì trí tưởng tượng chịu trách nhiệm cho sự khởi phát của bệnh tật, nó cũng có một vai trò to lớn trong việc chữa lành. Hình ảnh đang gây ra bệnh tật, và một hình ảnh khác phải được đưa vào để tạo ra sự chữa lành, và trên thực tế là tương tác với cũng như khắc chế ý niệm bệnh tật. Điều này được thực hiện thông qua một số phương pháp, bao gồm những lời quyền năng và các arcana (bí thuật/bí dược).³⁷ Có những quyền năng ẩn chứa trong một số khoáng chất và đá nhất định, và chắc chắn là trong hòn đá triết gia. Những quyền năng này tác động để tạo ra một phản-ý niệm trong trí tưởng tượng của bệnh nhân. Lời giải thích của Pagel về cách điều này diễn ra trở nên đứt đoạn tại điểm này, và không được rõ ràng cho lắm. Nếu chúng ta nhớ lại sự miêu tả về cách thức bệnh tật bắt đầu, chúng ta có thể đi đến một công thức tốt hơn. Vì bệnh tật xảy ra như kết quả của một cuộc đối thoại giữa hai tinh thần, việc bổ sung một lời quyền năng, hoặc một vị thuốc mạnh, đã đưa một ý niệm hoặc hình ảnh thứ ba vào tâm trí của bệnh nhân. Hình ảnh này, liên quan đến phương thuốc hoặc quyền năng của người thầy thuốc, tham gia vào cuộc thảo luận, và nếu đủ mạnh, sẽ khắc chế hình ảnh của căn bệnh, giải phóng archeus khỏi tác động độc hại của hình ảnh đó, và hợp nhất nó với hình ảnh chữa lành.
Archeus không phải là một thực thể vật lý, cũng không đơn thuần là một thực thể tâm linh; đúng hơn nó mang tính psychoid ở chỗ nó hợp nhất yếu tố tâm linh và vật chất bên trong chính nó. Điều này liên kết archeus với định nghĩa về Bản thể như một sự hợp nhất của các mặt đối lập, và với những mô tả về trí tưởng tượng như một thể tinh vi. Thật thú vị khi nhận thấy có biết bao khái niệm quan trọng trong thuật giả kim liên quan đến bình diện psychoid. Archeus vận hành ít nhiều trong vô thức, và chắc chắn không kết nối với cái tôi. Ý thức chỉ bước vào bối cảnh thông qua sự can thiệp của người thầy thuốc, người chủ ý cố gắng tạo ra một hình ảnh mới trong tâm thức của bệnh nhân. Bệnh tật, với nguồn gốc tâm linh của nó, có quyền năng tạo ra hình ảnh, và do đó chỉ có thể được điều trị thành công trong cảnh giới của trí tưởng tượng.
Ngoài một số phương pháp được Tiến sĩ Mindell khai triển, trí tưởng tượng chủ động vẫn là một lực lượng đầy hiệu lực trong việc điều trị bệnh tật. Giả định của Paracelsus và Van Helmont—rằng bệnh tật tạo ra một hình ảnh—có nghĩa là thông qua trí tưởng tượng chủ động, cái tôi có thể tương tác với hình ảnh đó. Bằng cách làm cho hình ảnh bệnh tật trở nên có ý thức và kết nối với nó, cái tôi tìm ra những cách thức để chuyển hóa nó và tạo ra một trải nghiệm chữa lành. Mục tiêu là tìm ra hình ảnh liên quan đến căn bệnh và sau đó tương tác với nó, giống như cách người ta làm với một hình ảnh bắt nguồn từ một nguyên mẫu. Nếu hình ảnh bệnh tật bước vào mối quan hệ với Bản thể thông qua một trải nghiệm về chức năng siêu việt, thì ý nghĩa của căn bệnh như được biểu đạt trong hình ảnh của nó có thể trở thành một phần của Bản thể.
Chẳng hạn, giả sử Janet bị chứng đau nửa đầu. Về mặt giả kim thuật, người ta có thể nói rằng hình ảnh của cơn đau đầu đã làm vấy bẩn trung tâm để khiến cô tưởng tượng ra cơn đau đầu. Sự chữa lành sẽ bao gồm việc khám phá một hình ảnh mới có thể tương tác với biểu tượng của cơn đau đầu nhằm thay đổi tình thế. Nếu Janet bước vào trí tưởng tượng chủ động, cô có thể bắt đầu bằng cách yêu cầu vô thức tạo ra hình ảnh của căn bệnh. Nếu hình ảnh này là một người đàn ông nhỏ bé cầm búa gõ vào đầu cô, thì sau đó cô sẽ đưa người đàn ông nhỏ bé này vào một cuộc đối thoại nào đó.
Ngày nay, việc thực hiện các hình dung quán tưởng (visualizations) khi đối phó với bệnh tật rất phổ biến. Trong ví dụ này, Janet quán tưởng những mũi tên độc xuyên qua người đàn ông nhỏ bé và giết chết ông ta. Cách tiếp cận như vậy có ưu điểm là tìm kiếm các hiệu ứng chữa lành trong cõi tưởng tượng, nhưng đáng tiếc lại không nhận thức đầy đủ sự khác biệt giữa trí tưởng tượng và ảo tưởng. Việc cái tôi chỉ đơn thuần hình dung việc tiêu diệt hình ảnh bệnh tật chỉ là một ảo tưởng đơn thuần, vì không có sự tương tác nào giữa cái tôi và hình ảnh đó, mà chỉ có sự thao túng từ phía cái tôi. Điều này chỉ có thể mang lại hiệu quả ở một mức độ hạn chế, và không nên nhầm lẫn với việc thực hiện trí tưởng tượng chủ động với căn bệnh. Trong trường hợp sau, cái tôi không áp đặt ý chí của mình lên căn bệnh, mà phải can dự với nó theo một cách khách quan, hy vọng tạo ra đủ lực căng để chức năng siêu việt diễn ra. Trong ví dụ của chúng ta, Janet phải đưa người đàn ông nhỏ bé vào một cuộc đối thoại, hỏi ông ta tại sao lại làm tổn thương cô, và chăm chú lắng nghe các lý do của ông ta. Cô phải dàn xếp với quan điểm của người đàn ông nhỏ bé mà không bao giờ đánh mất quan điểm của chính mình. Nếu ông ta nói rằng ông ta làm tổn thương cô vì Janet lúc nào cũng suy nghĩ bằng lý trí mà không bao giờ bày tỏ cảm xúc từ trái tim, cô phải cân nhắc lập luận này, và suy xét việc thay đổi thái độ của mình. Nhưng cô cũng phải nói với người đàn ông nhỏ bé rằng việc làm tổn thương đầu cô không phải là một cách hay để giao tiếp, và ông ta nên dừng lại ngay lập tức. Và cứ như vậy, quá trình đối đáp qua lại diễn ra, như trong trí tưởng tượng chủ động chân chính.
Việc tiếp nhận một căn bệnh hay một triệu chứng ở bình diện tưởng tượng sẽ mở ra một khả năng chuyển hóa mới, bao gồm việc nhìn nhận bệnh tật như một sự biểu đạt của ý nghĩa, thay vì chỉ đơn thuần là một kẻ thù cần bị tiêu diệt bằng loại thuốc hiện đại này hay thuốc khác. Tuy nhiên, điều quan trọng là Van Helmont chưa bao giờ bác bỏ việc sử dụng các loại thuốc và dược liệu chữa bệnh. Dĩ nhiên, ý niệm của ông về việc chúng là gì và chúng được tạo ra như thế nào khác rất nhiều so với một bác sĩ hiện đại. Dù vậy, người ta hoàn toàn có thể uống một viên thuốc giảm đau đầu trong khi vẫn thực hành trí tưởng tượng chủ động. Người ta có thể tưởng tượng hình thái mà bản thân vị thuốc đó sẽ đảm nhận và chào đón nó vào cuộc thảo luận. Tuy nhiên, điểm cốt yếu trong quan điểm giả kim này về bệnh tật là bệnh tật không bao giờ là một biến cố thuần túy thể xác, mà còn bao hàm cả tinh thần. Sự chữa lành, do đó, cũng phải bao hàm chiều kích tâm linh, và điều này được thực hiện hiệu quả nhất trong tiến trình tưởng tượng.
Trí tưởng tượng đã được chứng minh là một phần trung tâm của công trình giả kim thuật và là một yếu tố mang tính quyết định trong các lý thuyết giả kim. Trí tưởng tượng là phương tiện nhờ đó các khải thị có thể đạt được, hoặc trực tiếp hoặc thông qua các cuộc đối thoại với những tinh thần trợ giúp đủ loại. Cuộc gặp gỡ với các hình tượng trong cõi tưởng tượng là một phương pháp được các nhà giả kim sử dụng để thu nhận tri thức. Hơn nữa, trí tưởng tượng sở hữu quyền năng to lớn để tạo ra sự thay đổi và tạo ra sự biến đổi chuyển hóa. Hoạt động tưởng tượng có thể biến đổi các chất thể một cách ma thuật và tạo ra các tiên dược chữa bệnh. Khi đó, quyền năng tưởng tượng không chỉ đơn thuần thuộc về tâm thức, mà còn bao hàm một chiều kích vật lý; theo nghĩa này, trí tưởng tượng ở một khía cạnh nào đó mang tính psychoid.
Quan niệm của giả kim thuật rằng trí tưởng tượng vừa thuộc về tâm thức vừa thuộc về vật chất có tầm quan trọng ở chỗ nó cho phép quyền năng chữa lành tác động lên cơ thể. Người ta có thể hình dung sâu hơn về trí tưởng tượng như một quyền năng có thể mang tính siêu tâm thức (transpsychic) trong các hoạt động của nó. Thật không may, trí tưởng tượng và khái niệm về vô thức thường xuyên bị đánh đồng, điều tạo ra sự nhầm lẫn trong các định nghĩa của chúng. Nhìn dưới góc độ giả kim thuật, trí tưởng tượng thuộc về tinh thần. Bất kỳ thực thể tâm linh nào cũng có năng lực tạo ra hình ảnh, và nguồn gốc của trải nghiệm tưởng tượng phải được tìm kiếm trong chính tinh thần đã tạo ra nó. Đôi khi tinh thần đó là một nguyên mẫu nội tâm, và trải nghiệm tưởng tượng ám chỉ đến một trạng thái nội tâm thức. Đôi khi, như vừa lưu ý, hình ảnh thực sự có thể bắt nguồn từ một nguyên nhân vật lý như bệnh tật, vì căn bệnh cũng là một tinh thần. Trong những trường hợp khác, nguồn gốc của trải nghiệm tưởng tượng là một thực thể không thuộc về tâm thức, nhưng với tư cách là một thực thể tâm linh, nó vẫn có năng lực tạo ra hình ảnh. Cuối cùng, nguồn gốc của trải nghiệm có thể là Bản thể, và những trải nghiệm như vậy có tầm quan trọng đặc biệt.
Suy ngẫm về trí tưởng tượng theo những thuật ngữ này sẽ mở rộng sự hiểu biết của chúng ta về nó, và cho phép khả năng gặp gỡ những dạng trải nghiệm mới. Thật quá đơn giản hóa khi lập luận rằng các trải nghiệm tưởng tượng chỉ bắt nguồn từ duy nhất một trong những nguồn này, mà đúng hơn là mỗi nguồn đều đóng góp vào một tình huống cụ thể. Chẳng hạn, quyền năng tưởng tượng của Bản thể rất có thể tương tác với quyền năng tưởng tượng của một nguyên mẫu. Điểm quan trọng là trong việc tìm hiểu trí tưởng tượng giả kim thuật, người ta phải thừa nhận rằng đó là một lý thuyết rất phức tạp và sâu rộng. Quyền năng của trí tưởng tượng và sự đa dạng của các trải nghiệm tưởng tượng nhìn chung vẫn còn chưa được biết đến. Đóng góp của Tiến sĩ Jung cho kỹ thuật tưởng tượng chủ động có tầm quan trọng sống còn để hiểu được một số vấn đề mà các nhà giả kim đã nêu ra về trí tưởng tượng. Tuy nhiên, điều quan trọng không kém là trí tưởng tượng và những tác động của nó không bị giới hạn trong các lý thuyết của chúng ta. Trí tưởng tượng là phương thức tri giác nhờ đó thế giới nội tâm trở nên sống động, và là phương pháp tương tác mà qua đó nó có thể được chuyển hóa. Cũng bằng cách đó, trí tưởng tượng là phương tiện nhờ đó cơ thể và bệnh tật thể xác có thể được nhận thức ở bình diện tâm linh, và tương tự chịu sự chi phối của các tiến trình chuyển hóa. Thông qua trí tưởng tượng, người ta cũng có thể nhận thức được các cảnh giới tâm linh siêu việt lên trên tâm thức. Trong các truyền thống tưởng tượng cổ xưa hơn của các tín đồ Sufi và các pháp sư Shaman, những cảnh giới tâm linh này đã được khám phá và lập bản đồ, nhưng nền văn hóa của chúng ta vẫn còn thiếu hiểu biết một cách đáng tiếc về chúng. Việc giải phóng trí tưởng tượng khỏi sự đồng nhất hóa của nó với vô thức hay thế giới nội tâm cho phép nó mở rộng và làm sống động nhận thức của chúng ta, đồng thời mở ra vô số cảnh giới của những trải nghiệm chưa được khai phá. Dù có thể khó chứng minh thế giới siêu tâm thức về mặt lý thuyết, nhưng không quá khó để trải nghiệm nếu chúng ta phát triển cảm thức tưởng tượng của mình đủ sâu sắc để cho phép nó cất cánh.
Cuối cùng, chính thông qua trí tưởng tượng mà Bản thể có thể được tao ngộ và chuyển hóa; tất cả các tiến trình cá nhân hóa đều gắn liền mật thiết với trí tưởng tượng và đặc biệt là trí tưởng tượng chủ động. Các nhà giả kim, giống như con người đã cá nhân hóa của von Franz, sống trong các thế giới của trí tưởng tượng chủ động, và không đồng nhất với tâm thức cũng như không đồng nhất với vật chất, mà với cảnh giới trung gian kỳ lạ nơi trí tưởng tượng bén rễ. Chính tại nơi đó, họ đã tìm kiếm thực thể bí ẩn và khó nắm bắt kia: hòn đá triết gia. Chính thông qua trí tưởng tượng mà họ đã tìm thấy con đường dẫn đến sự chuyển hóa, một con đường sẽ tạo thành chủ đề của chương tiếp theo.
CHÚ THÍCH
C. G. Jung, Psychology and Alchemy, Toàn tập tác phẩm, tập 12, R. F. C. Hull dịch, Bollingen Series XX (Princeton: Princeton University Press, 1977), đoạn 396. Các quy chiếu tiếp theo về tác phẩm này sẽ được dẫn là CW 12.
Jacob Boehme, The “Key” of Jacob Boehme, William Law dịch (Grand Rapids: Phanes Press, 1991), tr. 23.
Để tìm hiểu một thảo luận xuất sắc về lý thuyết trí tưởng tượng của Boehme, xem Hugh Urban, “Imago Magia, Virgin Mother of Eternity: Imagination and Phantasy in the Philosophy of Jacob Boehme”, Alexandria Journal, tập 2, 1993.
Paracelsus, “Hermetic Astronomy” trong A. E. Waite, chủ biên, The Hermetic and Alchemical Writings of “Paracelsus” the Great, tập 2. (Tái bản: Kila, MT: Kessinger, không ghi năm), tr. 307.
Michael Sendivogius, “The New Chemical Light”, trong A. E. Waite, chủ biên, The Hermetic Museum, tập 2 (York Beach, ME: Samuel Weiser, tái bản, 1973), tr. 87.
Marie-Louise von Franz, Aurora Consurgens (New York: Bollingen Foundation, 1966), tr. 165.
Marie-Louise von Franz, Aurora Consurgens, tr. 171.
Marie-Louise von Franz, Aurora Consurgens, tr. 403.
Trí tưởng tượng chỉ dạy về bản tính và các nhu cầu của Bản thể, của thế giới và của vô thức. Trong trải nghiệm tưởng tượng, cái tôi chạm trán với "Kẻ Khác" (the Other), và phải tìm thấy vị trí đúng đắn của mình trong mối quan hệ với Kẻ Khác. Những trải nghiệm như vậy thường gây bối rối cho cái tôi, vốn thích tự nghĩ mình là chủ nhân của toàn bộ thế giới tâm thức. Cái tôi thấy mình chỉ ở vị thế của một đối tác, và thậm chí không phải là đối tác điều hành. Trí tưởng tượng là một thách thức đòi hỏi cái tôi phải siêu việt các ý niệm trước đây của mình và bước vào cõi chưa biết. Ảo tưởng lặp đi lặp lại vô tận và không tạo ra điều gì mới mẻ hay sáng tạo. Niềm tin của Boehme rằng ảo tưởng đã gây ra sự sa ngã của Lucifer và sự xa cách của linh hồn khỏi Thượng đế là hoàn toàn hợp lý ở bình diện tâm lý học, vì ảo tưởng, bằng cách làm trương phình ngã mạn cái tôi, sẽ tách biệt nó khỏi Bản thể, và làm cho công việc tưởng tượng chân chính trở nên vô cùng khó khăn.
Paracelsus, “Concerning the Signature of Natural Things” trong A. E. Waite, chủ biên, The Hermetic and Alchemical Writings of Paracelsus the Great, tập 1 (Kila, MT: Kessinger, không ghi năm), tr. 177. Ban đầu được xuất bản thành hai tập bởi James Elliott, London, 1894.
Calid, “The Secrets of Alchimie” trong Stanton J. Linden, chủ biên, The Mirror of Alchemy (New York: Garland, 1992), tr. 28.
L. G. Kelly, Basil Valentine. His Triumphant Chariot of Antimony with Annotations of Theodore Kirkringius (1678) (New York: Garland, 1990), tr. 7.
L. G. Kelly, Basil Valentine, tr. 7.
Paracelsus, “Hermetic Astronomy” trong A. E. Waite, chủ biên, The Hermetic and Alchemical Writings of Paracelsus the Great, tập 2, tr. 313.
Martinus Rulandus, A Lexicon of Alchemy or Alchemical Dictionary (Kila, MT: Kessinger, không ghi năm), tr. 226.
C. G. Jung, CW 12, đoạn 390.
C. G. Jung, CW 12, đoạn 351. Raymond Lully, trích từ “Compendium Artis alchemicae...” trong Mangetus, Bibliotheca Chemica Curiosa, 1702.
C. G. Jung, CW 12, đoạn 350. Sendivogius, “Novum Lumen”, trích từ Hermetic Museum.
C. G. Jung, The Structure and Dynamics of the Psyche, Toàn tập tác phẩm, tập 8, R. F. C. Hull dịch, Bollingen Series XX (Princeton: Princeton University Press, 1969), đoạn 859. Các quy chiếu tiếp theo về tác phẩm này sẽ là CW 8.
A. E. Waite, chủ biên, The Hermetic and Alchemical Writings of Paracelsus the Great, tập 1, tr. 122n.
Ali Puli, The Center of Nature Concentrated (Edmond, WA: The Alchemical Press, 1988), tr. 21.
Trích trong C. G. Jung, CW 12, đoạn 396. Sendivogius, “Novi luminis chemicum...” trong Hermetic Museum của Waite.
Henry Cornelius Agrippa, Three Books of Occult Wisdom, Donald Tyson, chủ biên (St. Paul: Llewellyn Publications, 1995), tr. 208.
Martinus Rulandus, A Lexicon of Alchemy or Alchemical Dictionary, tr. 182.
C. G. Jung, CW 12, đoạn 394.
Xem William Chittick, Imaginal Worlds: Ibn al-'Arabi and the Problem of Religious Diversity (Albany: State University of New York Press, 1994).
C. G. Jung, CW 12, đoạn 390.
C. G. Jung, Mysterium Coniunctionis, Toàn tập tác phẩm, tập 14, R. F. C. Hull dịch, Bollingen Series XX (Princeton: Princeton University Press, 1970).
Để tìm hiểu thảo luận về toàn bộ chủ đề này, xem CW 14, đoạn 42–50.
C. G. Jung, CW 14, đoạn 308.
Sau khi viết cuốn sách này, tôi đã tình cờ thấy một tác phẩm của Van Helmont được dịch sang tiếng Anh. Việc đọc kỹ tác phẩm này, The Image of God in Man or Helmont's Vision of the Soul, đã xác nhận phần lớn những gì Pagel trình bày. Cuốn sách này nằm trong Bộ sưu tập Ferguson của Thư viện Đại học Glasgow. Nó được Walter Charleton dịch vào năm 1650 và được xuất bản cùng năm đó tại London bởi James Flesher.
Walter Pagel, Joan Baptista Van Helmont: Reformer of Science and Medicine (New York: Cambridge University Press, 1982), tr. 96.
Walter Pagel, Joan Baptista Van Helmont, tr. 97.
Walter Pagel, Joan Baptista Van Helmont, tr. 145.
Walter Pagel, Joan Baptista Van Helmont, tr. 149.
Arnold Mindell, Dreambody (Boston: Sigo Press, 1982).
Walter Pagel, Joan Baptista Van Helmont, tr. 195.
Bình luận