Chương 4
- Minh Đào
- 3 giờ trước
- 28 phút đọc
3
Nghiện Sự Hoàn Hảo
Gương kia ngự ở trên tường,
Thế gian ai đẹp được dường như ta?
Người phụ nữ đến phân tâm ngồi xuống chiếc ghế đối diện tôi. Cô sắp xếp cuốn sổ ghi chép giấc mơ cùng các trang giấy một cách tỉ mỉ, gần như không màng tới ánh mắt tôi đang dõi nhìn. Chúng tôi không nói lời nào. Tôi nhận thấy sắc hồng và tím hoa cà nhẹ nhàng nơi chiếc áo mới của cô, cùng kiểu tóc mới được cắt tỉa nhằm tạo đường nét rõ ràng cho khuôn mặt trẻ trung. Quanh cô tỏa ra một sự tĩnh lặng, một thứ sức mạnh thầm lặng mà đã có quá nhiều người từng bấu víu vào. Quá nhiều người trút gánh nặng lên vai cô và cô đã gánh vác tất cả. Cô gánh vác trọn vẹn đến mức bản thân già dặn hơn hẳn độ tuổi hai mươi lăm, và nặng nề vượt quá sức chịu đựng của chiếc cân. Cô mỉm cười—một nụ cười chậm rãi, day dứt nhưng chẳng thể làm bừng sáng đôi mắt. Tôi cười đáp lại và chợt nghĩ tới "trái tim sầu muộn của nàng Ruth, khi nhớ nhà quay quắt,/ Đứng rơi lệ giữa cánh đồng ngô xứ lạ."
Bởi cô mang lòng quả cảm và phẩm giá của cái tên ấy, hãy gọi cô là Ruth. Cô là cử nhân đại học, nắm giữ một vị trí chuyên môn đầy trách nhiệm, có trực giác tâm linh nhạy bén đến mức đáng kinh ngạc; thế nhưng cân nặng hiện tại—325 pound (khoảng 147 kg)—suốt cả cuộc đời lại là gánh nặng đeo đẳng như một lời nguyền. Nhắc đến thân thể mình, cô bảo: "Nếu con đã từng chơi nhạc cụ tuyệt mỹ này, thì cũng chỉ là vài hợp âm nặng nề và vội vã mà chẳng ai, đặc biệt là chính con, muốn lắng nghe. Giống như mẹ từng nói về bản thân: 'Mẹ cứ vờ như nó là cây vĩ cầm cũ kỹ, dẫu biết rõ nó là một cây đàn Stradivarius.'"
Ruth là con cả trong một gia đình năm người con. Cha mẹ cô đều là giới trí thức. Sau mười tám năm hôn nhân sóng gió, họ ly dị. Cha cô nghiện rượu âm thầm suốt mười năm. Sau vài tháng phân tích tâm lý, cô nhận ra nhu cầu quyền lực, niềm khao khát sự hoàn hảo, ước muốn kiểm soát—không phải đối với người khác, mà là đối với chính cuộc đời. Cô cũng nhận ra những mâu thuẫn sâu sắc trong những giấc mộng ban ngày thường nhật: khao khát sống đi liền với chối bỏ sự sống; hy vọng đi liền với tuyệt vọng; thân xác đi liền với tâm linh. Những ẩn ý trong các thái độ này hiển lộ rõ trong đoạn trích nhật ký của cô:
"Tôi không tự lừa dối mình. Tôi biết ăn đồ ngọt là đang kiên định chọn cái chết. Giờ đây chúng làm tôi khó tiêu và đau nửa đầu. Tôi dồn năng lượng của mình cho bệnh tật thay vì cho cái tôi. Tôi nghĩ mình đã sẵn sàng giảm cân và cứ ngỡ vô thức sẵn lòng nâng đỡ tôi. Nhưng tôi vẫn đang ngốn sô-cô-la trước khi ăn phô mai tươi, và nỗi tuyệt vọng tồi tệ hơn bao giờ hết. Chị nói đúng, đang có một tình trạng khẩn cấp—khẩn cấp về tâm linh, bởi tôi có thể chọn không tồn tại ở đây nữa. Có một tình trạng khẩn cấp về thể xác. Vâng, có một nỗi tuyệt vọng mãn tính trong thân thể tôi và tôi cứ tự nhủ: 'Một ngày nào đó mình sẽ giải quyết chuyện này, nhưng hiện tại mình phải lo cho việc khẩn cấp trước đã.' Những người khác không hiểu được sự khẩn cấp này. Họ chỉ thấy thân xác tôi là điều cấp bách. Họ ghê tởm thân xác tôi. Còn tôi ghê tởm thế giới này. Tôi, Thượng đế, từ chối bước vào thế giới, từ chối nhập thể. Tôi chọn điều thiện và buông bỏ phần còn lại. Tôi chỉ đứng nơi ngưỡng cửa nhặt nhạnh những gì có thể. Tôi ghét cái ác. Tôi căm ghét cái ác trong chính mình. Tôi biết điều đó thật ngu ngốc. Tôi muốn mọi thứ phải chân thật, vậy mà hình tượng tôi trưng ra lại hoàn toàn giả tạo. Tôi chẳng làm gì để dấn thân vào thế giới. Nếu không thể làm trọn vẹn tất cả, tôi thà không làm gì cả.
Ăn kiêng là đối diện với thế giới thực. Khi nào sẵn sàng, tôi sẽ làm. Tôi sợ những tai ương ập đến nếu mình dấn thân vào đời sống. Tôi thấy mớ hỗn độn mà người khác tạo ra trong cuộc đời họ, và tôi nghĩ đời mình đâu đến nỗi tệ. Dẫu vậy, tôi vẫn giả vờ như mình không hiện diện ở đây. Tôi biết mỗi khi nghĩ về thế giới thực, tôi lại ngập tràn sợ hãi, căng thẳng và thù địch. Nghĩ về mọi mối nguy tiềm tàng phá hủy sự tự tin của tôi, làm trật hướng năng lượng khỏi vấn đề cốt lõi. Tôi quá sợ thất bại nên đã cố gắng quá mức. Sự cứng nhắc và kỷ luật phản tác dụng. Tôi rơi vào trầm cảm quá mức vì những gì đang diễn ra trên thế giới. Tôi thậm chí không thể đọc nổi tạp chí Time. Vở kịch Hamlet nặng nề, nhưng sức nặng ấy không giống thứ sức nặng rẻ tiền trong các tờ tạp chí. Tôi cảm thấy mình gàn dở vì sự rút lui khỏi thế giới thực tại. Tôi đang cố chạm tới bình nguyên tâm linh quá sớm—có lẽ đang đặt ra những câu hỏi đúng vào thời điểm sai. Tôi phớt lờ vấn đề thân xác vì tôi không muốn bước vào cuộc đời. Tôi sợ phải bước ra. Thế nhưng tôi đã ở ngoài này rồi. Nếu tôi giảm cân thành công, thì tôi sẽ buộc phải bước vào cuộc đời.
Tôi hoài nghi động cơ của mình. Khi phạm một tội lỗi, tôi đang tránh né vô vàn tội lỗi khác, và chúng đều như nhau cả. Tôi biết mình đang hủy hoại bản thân, nhưng điều này khác với việc bị thế gian làm cho vấy bẩn. Người lớn thật giả tạo. Tôi từng nghĩ mình có thể trưởng thành mà không trở nên giả dối. Nó giống như việc khoác lên mình những bộ trang phục hóa trang để hiểu chính mình. Tôi không muốn thất bại. Tôi không muốn làm vấy bẩn mình theo thói đời. Tôi là thế này đây, nếu họ không thích thì tùy! Dĩ nhiên đó là lớp giáp giả tạo. Tôi sẽ thất bại thảm hại hơn họ. Không—tôi sẽ không bước vào thế giới. Tôi sẽ không chịu sửa đổi từng li từng tí. Ai mà bận tâm cà rốt nấu chín hay ăn sống chứa nhiều calo hơn? Các hiệp sĩ Chén Thánh đâu có làm những việc vụn vặt trước mắt. Những vấn đề lớn phải được giải quyết bằng những cách thức lớn lao. Những bước dấn thân vĩ đại! Mọi thứ đều méo mó. Đúng vậy. Nhưng đó không phải là cái cớ. Tôi có thể dấn thân một cách vĩ đại, nhưng trong lúc này tôi có thể ăn cà rốt sống. Tôi nói sự thật nhưng đồng thời lại đang chơi trò đuổi bắt. Một phần trong tôi bảo tôi muốn gầy đi, và tôi đáp lại: 'Đồ dối trá.' Giá như đó là thứ tôi có thể chấm dứt ngay lập tức! Nhưng người ta không thể ngừng ăn. Người ta cưa chân bạn, bạn có thể học cách thích nghi. Bạn dùng nạng. Nhưng nếu nó cứ bị giật đứt mỗi hai phút một lần, thì bạn gặp rắc rối to rồi.
Bố [người cha nghiện rượu của cô] như một ngọn đèn leo lét. Nếu không có điện, giá như ông cứ bỏ đi, chúng tôi đã có thể học cách sống dưới ánh nến. Nhưng chúng tôi không bao giờ dám tin tưởng vì biết rõ mình sẽ lại chìm vào bóng tối ngay khoảnh khắc tiếp theo. Một khi đã bước ra ánh sáng, bạn không thể quay lại bóng tối được nữa. Trong tôi có một nỗi khiếp sợ khủng khiếp về điều đó. Tôi không thể đối diện với khổ đau. Thể xác thì yếu mềm; đừng nuôi dưỡng sự yếu đuối của nó. Hãy đứng ngoài chuyện này. Thân xác này quá cồng kềnh: đi mà tìm một thân xác khác. Lần sau hãy thử làm linh hồn xem!"
Sự chối bỏ cuộc sống và nỗi tuyệt vọng ẩn sâu trong lời tuyên bố cuối cùng này là những kết luận điển hình trong các trang nhật ký của Ruth. Cô thường đặt bút xuống, rơi vào vòng xoáy tử thần, cảm thấy mình bị hút vào cơn lốc, vô thức ngấu nghiến sô-cô-la, bánh muffin và sữa, ăn đến mức mê muội đờ đẫn, để rồi sau đó thấy mình chí ít vẫn còn thở. Thân xác bị căm ghét vẫn kiên trì tìm cách sinh tồn ngay cả khi linh hồn từ chối cư ngụ bên trong nó.
Trí tuệ của cơ thể là bộ điều nhiệt quyết định cảm giác thèm ăn, bất kể cái tôi có thích hay không. Chỉ khi thái độ ý thức thay đổi, khi cái tôi trở nên đủ mạnh để nhận lãnh trách nhiệm đối với người phụ nữ như một con người bằng xương bằng thịt, sống trong thân thể trên mặt đất này với những giới hạn phàm trần, thì trung khu điều hòa thèm ăn mới tìm được "điểm thiết lập" tự nhiên. Chừng nào cái tôi chưa đủ mạnh để gánh vác trách nhiệm đó, năng lượng sẽ lại liên tục kéo về nghi thức chuyển tiếp này, rơi vào vòng xoáy ấy, trải nghiệm sự xung đột dữ dội, thoái lui về hình tượng mụ phù thủy và thất bại trong việc phục sinh hay giải quyết vấn đề. Nhưng mỗi lần lặp lại vòng lặp, nó lại đi lên hoặc đi xuống (đây chính là nghịch lý cốt lõi) trên một nấc thang mới của đường xoắn ốc, mang theo sức mạnh mới—dĩ nhiên là với điều kiện cuộc đối thoại giữa cái tôi và vô thức vẫn tiếp diễn.
Trong sự tương tác đó, cái tôi được vô thức nuôi dưỡng. Các giấc mơ luôn tràn ngập hình ảnh đồ ăn thức uống. Thứ thức ăn đang nỗ lực mở rộng thái độ của cái tôi sẽ củng cố lập trường vững vàng nếu cái tôi đồng hóa được nó, nói cách khác là hành động dựa trên những thấu suốt mới. Chính thứ thức ăn này—dù là vật chất hay tâm linh—sẽ giúp cái tôi bớt cứng nhắc, cho phép dòng chảy lưu thông, để mọi sự diễn ra tự nhiên. Trở ngại trước kia từng bị né tránh vì sợ hãi nay có thể được nhìn nhận như một thách thức mở ra những tiềm năng trải nghiệm phong phú hơn. Điều ban đầu tưởng như mâu thuẫn với Ruth trong giai đoạn đầu phân tích dần dà có thể trở thành một nghịch lý: cái tôi càng mạnh mẽ bao nhiêu thì lại càng linh hoạt bấy nhiêu.
Nơi một người phụ nữ có thể tham gia vào các nghi thức của Giáo hội, dù là Kitô giáo hay tôn giáo khác, cô ấy phần nào được che chở khỏi cuộc đối đầu trực diện cá nhân với vô thức. Nghi thức tôn giáo mang lại một khoảng cách thẩm mỹ nhất định. Nó cũng mang lại niềm xác tín rằng vị thần chịu đau khổ và cái chết tất sẽ phục sinh. Nhưng khi một cá nhân phải tự mình trải qua kinh nghiệm này trong cô độc mà không có nghi thức chính thống nâng đỡ, cô không thể biết được liệu sự hy sinh cái cũ có dẫn đến sự ra đời của cái mới hay không. Tất cả những gì cô trải nghiệm chỉ là bóng tối của lối sinh (birth canal) mà không hề có niềm tin thực sự vào ánh sáng nơi cuối con đường. Nếu cô đánh mất cơ thể béo phì của mình (sự an toàn duy nhất mà cô từng biết), nếu cô hy sinh điều đó, thứ gì sẽ giữ cô lại trên mặt đất? Thứ gì sẽ bảo vệ cô trước những nỗi kinh hoàng của một cuộc đời mà về căn bản cô đang chối từ? Hy sinh thân thể béo phì trước khi chấp nhận cuộc sống chẳng khác nào phá hủy bức tường thành duy nhất ngăn cách cô với cơn suy sụp tâm thần hay cái chết. Lớp mỡ bị khinh miệt ấy thực chất lại là mỏ neo giữ cô ở lại với sự sống, và kích thước của nó có thể biến đổi tỷ lệ thuận với mức độ cái tôi chấp nhận hay chối bỏ tính người của chính cô. Lớp mỡ ấy cũng không hoàn toàn bị căm ghét như vẻ bề ngoài, bởi một khi quá trình giảm cân bắt đầu, người ta có thể phải xử lý nỗi tiếc thương thân xác đã mất để ngăn ngừa việc tăng cân đột ngột trở lại.
Nghi thức tôn giáo luôn là sự tái hiện một thần thoại: vị thần uống cạn chén đắng, chết đi rồi sống lại. Đó từng là con đường để con người gián tiếp dự phần vào đời sống của thần linh. Như Thánh Phaolô từng viết: "Tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là Đức Kitô sống trong tôi" (Ga-lát 2:20). Giờ đây, tấm thảm thần thánh nâng đỡ đã bị rút khỏi chân chúng ta, hoặc chính chúng ta đã tự rút nó ra. Những nghi thức từng mang tính gián tiếp nay đang được tái diễn ngay trong chính chúng ta, giữa đời sống thường nhật. Chúng ta phải tự chịu trách nhiệm về cuộc đời mình. Cần chỉ ra rằng Ruth không còn gắn bó với tôn giáo nào. Các bí tích của Giáo hội không đóng vai trò gì trong đời sống tâm lý của cô. Tinh thần mà cô đang nỗ lực gầy dựng phải được nhào nặn từ chính những đau khổ và hy vọng của bản thân. Tuy nhiên, để đau khổ và hy vọng mang lại ý nghĩa, chúng phải được cắm rễ vào một điều gì đó hoặc một đấng nào đó vĩ đại hơn cái tôi mong manh. Hãy gọi đó là Định mệnh, Thượng đế, Năng lượng, Tình yêu, hay Khí (Prana). Mối nguy lớn nhất trong những nghi thức đơn độc là cái tôi bị đồng nhất với mặt tích cực hoặc tiêu cực của thần linh.
Đó chính xác là nơi những phụ nữ như Ruth gặp rắc rối, như đã hé lộ trong trang viết của cô. Cô muốn biến đời mình thành một tác phẩm hư cấu và đồng nhất bản thân với một nguyên mẫu đã được tâm linh hóa. Đồng nhất với Hamlet có lẽ tương đương với 25 pound; đồng nhất với Chúa Kitô thì ắt hẳn phải tương đương ít nhất 120 pound. Khi thẩm quyền tính nam trong tâm thức cô chỉ là một ngọn nến chập chờn, hình tượng nam thần bên trong không thể đem lại ánh sáng đáng tin cậy. Khi thẩm quyền tính nữ trong tâm thức chế giễu thân thể nữ tính của chính cô, hình tượng nữ thần bên trong không thể đem lại tình yêu thương đáng tin cậy. Nghi thức không thể vận hành, bởi nó dung dưỡng người cha nghiện rượu không dám đối diện cuộc đời và người mẹ rời rạc, tách rời khỏi các bản năng nữ tính của chính mình.
Các nghi thức trong thế giới thiếu nền tảng ấy chỉ là những trò chơi con người bày ra. Chẳng ai thực sự kỳ vọng điều gì sẽ xảy ra. Một người phụ nữ thiếu gốc rễ có thể dốc lòng cho quá trình phân tích tâm lý chừng nào nó còn là một trò chơi thú vị, nhưng sẽ khiếp sợ lùi bước khi trò chơi biến thành cuộc đời thực và một điều gì đó có thể thực sự diễn ra, thực sự đổi thay. Điều tôi muốn chỉ ra ở đây là đối với Ruth, cũng như với biết bao người nam và người nữ thời hiện đại, các nguyên mẫu dường như đánh mất tính tự trị vốn có của chúng trong thực tế. Hình ảnh nguyên mẫu về Thượng đế của cô lúc này đang bắt rễ một cách bi kịch vào trải nghiệm về người cha bất toàn. Và cô không hề có hình ảnh nguyên mẫu về một nữ thần yêu thương. Một thần học về lòng tin cậy vào lúc này là điều bất khả, và việc thừa nhận một vị thần độc lập với trải nghiệm sống của cô hầu như chưa thể mở ra để cô xem xét. Những ưu tiên của cô, do phức cảm ăn uống chi phối, thuộc về một trật tự hoàn toàn khác.
Vào thời điểm này, đối tượng để cô đặt niềm tin phải là nhà phân tích. Nhà phân tích, dù là nam hay nữ, tạm thời trở thành người mẹ tích cực mang lại nguồn dinh dưỡng nuôi nấng mà cô chưa từng có được. Cái tôi chỉ có thể trở nên đủ mạnh để nâng đỡ nghi thức nếu vị thần được cắm rễ trong một tiến trình sống—thứ tiến trình mà chứng nghiện ăn uống đang cắt đứt. Tâm thức cả đời sống trong nỗi sợ không được người mẹ nuôi dưỡng, hoặc bị người cha dập tắt—nói cách khác, tâm thức từng trải qua sự ruồng bỏ căn bản—chỉ có thể cắt đứt dây rốn khi nó đứng vững trên một mảnh đất mới. Nỗi sợ bị bỏ rơi ở tuổi hai mươi lăm chẳng khác gì ở tuổi hai mươi lăm ngày. Hư vô luôn luôn là hư vô. Cái tôi phải nhận ra rằng: chỉ khi tự xem mình là sự nối dài của đời sống cũ—tức là bị xâm chiếm bởi mụ phù thủy nuốt chửng—nó mới phải đối diện với cái chết. Một khi nhận ra khuôn mẫu nuốt chửng này có thể thay đổi, nó sẽ nhận ra tiềm năng tự do của chính mình. Đây là khoảnh khắc sáng tạo. Nếu cái tôi quyết định chiếm lĩnh thực tại của chính mình trong khoảnh khắc đó, nó có thể bước ra khỏi phức cảm để tiến vào sự tôn vinh cuộc sống. Chúa Kitô đã diễn đạt điều này cô đọng hơn: "Nếu một người không được sinh lại, thì không thể thấy Nước Trời."²
Từ nhật ký của Ruth, rõ ràng là cuộc sống của cô, ngay giữa những thất bại đã thú nhận, vẫn luôn gắn chặt với sự hoàn hảo; và có một mối liên hệ mật thiết giữa chứng nghiện sự hoàn hảo với những thất bại ấy. Thật vậy, sự hoàn hảo chính là thất bại. Jung đã phân biệt rõ giữa sự hoàn hảo (perfection) và sự trọn vẹn (completeness):
Cần ghi nhớ rằng có sự khác biệt rất lớn giữa sự hoàn hảo và sự trọn vẹn. Hình ảnh Chúa Kitô gần như là hoàn hảo (hoặc ít nhất được định hình như vậy), trong khi nguyên mẫu (theo những gì được biết) biểu thị sự trọn vẹn nhưng lại cách rất xa sự hoàn hảo... Việc mưu cầu sự hoàn hảo theo cách này hay cách khác là điều tự nhiên, nhưng nguyên mẫu tự hoàn thành trong sự trọn vẹn... Cá nhân có thể nỗ lực vươn tới sự hoàn hảo... nhưng phải chịu đựng điều đối nghịch với ý định của mình vì lợi ích của sự trọn vẹn.³
Điểm cốt lõi ở đây là: sự hoàn hảo thuộc về các vị thần; sự trọn vẹn hay toàn vẹn là mức tối đa mà một con người có thể hy vọng đạt tới.
Bất kỳ khuôn mẫu nguyên mẫu nào cũng tự thân trọn vẹn và đầy đủ. Nhưng nó chỉ là một khía cạnh của con người. Chẳng hạn, nguyên mẫu Ông Lão Thông Thái (Wise Old Man) biểu thị một khía cạnh của sự toàn vẹn; nhưng việc chỉ chăm chăm theo đuổi trí tuệ mà gạt bỏ sự khờ dại phi lý đầy tính người đồng nghĩa với việc đánh mất nhiều niềm vui sống. Tương tự, hình ảnh Đức Mẹ lý tưởng hóa là một biểu tượng hoàn hảo về tính nữ, nhưng một người phụ nữ đích thực cũng phải chấp nhận phần "đĩ điếm" bên trong mình vì sự trọn vẹn của bản thân. Chính việc tìm kiếm sự hoàn hảo bằng cách cô lập và phóng đại từng phần của bản thân khiến chúng ta trở nên loạn thần kinh.
Dấu hiệu chính yếu của việc theo đuổi sự hoàn hảo là sự ám ảnh (obsession). Ám ảnh xảy ra khi toàn bộ năng lượng tâm lý—vốn dĩ nên được phân bổ giữa các phần khác nhau của nhân cách nhằm hài hòa chúng—lại bị tập trung vào một vùng duy nhất của nhân cách và loại trừ mọi thứ khác. Sự ám ảnh luôn là một sự cố định (fixation)—sự đóng băng nhân cách khiến nó không còn là một hữu thể sống động mà trở thành một thứ cố định, như một pho tượng bị khóa chặt trong một phức cảm. Luôn có điều gì đó mang tính căng trương lực (catatonic) trong trạng thái này; ẩn sau nó là nỗi sợ có thể bùng phát thành sự kinh hoàng mù quáng, khiến con người ta giống như con thú hoang bị lóa mắt trước ánh đèn pha xe hơi, không thể nhúc nhích.
Sự hoàn hảo khi áp dụng vào đời sống con người cũng rất giống như vậy. Một số mẫu người, chẳng hạn như các ngôi sao điện ảnh, có thể bị đóng băng trong ánh đèn rực rỡ của máy quay và dành trọn sự nghiệp để diễn đi diễn lại một vai cố định. Marilyn Monroe đã vật lộn để thoát khỏi ánh đèn sân khấu nhưng bất thành; cả các xưởng phim lẫn công chúng đều không cho phép bà làm điều đó. Nghiện sự hoàn hảo về bản chất là một chứng nghiện mang tính tự sát. Kẻ nghiện đang mô phỏng cái chết chứ không phải sự sống. Gần như chắc chắn, một người phụ nữ nghiện sự hoàn hảo sẽ xem mình như một tác phẩm nghệ thuật, và nỗi kinh hoàng thực sự của cô là tác phẩm nghệ thuật ấy, vì quá đỗi quý giá, có thể bị phá hủy trong tích tắc. Cô phải tự đối đãi với mình như một món đồ sứ Minh quý hiếm, hay như điều Keats mô tả: một "nàng dâu của tĩnh lặng chưa từng bị vấy bẩn", một "đứa con nuôi của câm lặng và thời gian chậm rãi" (như đã dẫn ở trang 7).
Tiến về sự hoàn hảo là bước ra khỏi cuộc sống, hoặc tồi tệ hơn, là không bao giờ bước vào đó. Nghiện sự hoàn hảo—xét về mặt tâm lý là dấu hiệu của sự nô dịch bởi một phức cảm—cũng hiển hiện rõ nét ở người mắc chứng chán ăn tâm thần (anorexic). Giống như người béo phì, phức cảm ăn uống của cô bắt nguồn từ người mẹ tiêu cực. Cơn ngấu nghiến của cô mang hình thức của sự nhịn ăn, hay điều mà người nghiện rượu gọi là "cơn say khô" (a dry drunk).
Đến cuối buổi trị liệu của Ruth, Eleanor đã đứng đợi sẵn ngoài cửa. Cô bước vào và ngồi xuống chính chiếc ghế ấy—dáng ngồi cao ráo và thanh nhã như một món đồ sứ Copenhagen, làn da trắng muốt căng mịn trên khung xương thanh mảnh. Mái tóc vàng óng dài tựa tơ lụa và đôi mắt xanh to tròn tinh anh, thông minh nhưng đầy vẻ âu lo. Cô giống như một con ngựa đua hảo hạng đang bước vào cổng xuất phát.
Cũng như Ruth, Eleanor hai mươi lăm tuổi, là con cả trong gia đình năm người con. Cha mẹ cô đều là trí thức, vẫn chung sống bên nhau và được xã hội cùng giới chuyên môn kính trọng. Giống như Ruth, Eleanor từng là trụ cột vững chãi ở trường học và trong cộng đồng; cả hai đều bị khóa chặt vào những hình mẫu lý tưởng tập thể. Và cũng như Ruth, Eleanor từng đóng vai trò làm tấm đệm giảm xóc trong gia đình, gánh vác gánh nặng của mọi người, cố gắng duy trì sự hòa thuận liên tục, cố giúp thành viên này thấu hiểu thành viên khác. Suốt cả cuộc đời, cô luôn là một học sinh xuất sắc, một vận động viên cừ khôi và một người lãnh đạo tài ba. Đến năm hai mươi ba tuổi, cô thấy mình chẳng ăn gì ngoài bỏng ngô, mất khả năng ra quyết định, không thể trò chuyện với ai vì sợ họ sẽ trút thêm một gánh nặng nữa làm cô gục ngã. Khi không thể cáng đáng công việc một cách hiệu quả, cô phải nhập viện. Dần dần, sức khỏe thể chất cải thiện và cô tìm đến trị liệu để cố gắng điều chỉnh thái độ nhằm giúp cuộc sống trở nên khả dĩ. Sau vài tuần, cô đủ tin tưởng để cho tôi xem cuốn sổ danh sách của mình—danh sách những việc cần làm theo năm, theo tháng, theo tuần, theo ngày, cùng các danh sách đặc biệt mỗi ngày—tất cả đều được sắp xếp tỉ mỉ. "Con biết điều đó thật điên rồ," cô nói, ánh mắt đầy căng thẳng, "nhưng con không kìm được. Nếu thiếu một thứ, liệu còn thiếu những gì khác nữa?"
Khi tôi gợi ý rằng cần phải có chỗ cho sự tùy hứng tự phát, cô ngoan ngoãn đồng ý. Nhưng một tuần sau, cô buồn bã quả quyết: "Chẳng ích gì khi dành thời gian cho sự ngẫu hứng đâu cô, trong đời con đơn giản là không có chỗ cho nó." Và sau đó trong buổi trị liệu, khi nhìn vào danh sách công việc hàng ngày của cô, tôi thấy ghi: "14:15 - 14:30—Tùy hứng tự phát." Trong câu văn giản dị ấy ẩn chứa toàn bộ bi kịch cuộc đời cô.
Dưới đây là một đoạn trích từ nhật ký của Eleanor:
"Nhiều người rùng mình khi nghĩ đến chứng chán ăn và béo phì. Đó là một cơn điên rồ nhỏ nhoi nhằm ngăn chặn một cơn điên loạn lớn hơn. Trong giai đoạn tồi tệ nhất, tôi vừa béo vừa gầy. Tôi ăn nhiều ngang ngửa những người đẫy đà nhất, vậy mà nhờ nghi thức móc họng nôn ra, tôi vẫn duy trì được vẻ mảnh mai bên ngoài. Đó là cách để hiện thực hóa nghịch lý của việc cùng lúc vừa rỗng không vừa đầy ứ. Ý niệm làm rỗng hoàn toàn bản thân để một sự hiện diện thiêng liêng có thể ngự vào tôi—như một chiếc bình thanh tẩy—là điều vô cùng quan trọng. Lần này là sự làm rỗng về cảm xúc, trí tuệ và trải nghiệm. Tôi thực hành các kỹ thuật yoga phương Đông. Tôi tìm kiếm cái chết: cái chết hoàn toàn của cái tôi cá nhân cùng mớ lộn xộn bám quanh nó.
Tôi bước vào hết màn đêm này đến màn đêm khác khi buông bỏ mọi điều mình từng biết và hiểu. Tôi đánh mất cái 'Tôi' và trở thành một cõi hư không. Đôi khi tôi mơ thấy mình bị điện giật đau đớn dữ dội. Dần dần, năng lượng trong những giấc mơ đó chuyển hóa thành luồng ánh sáng thuần khiết, rạng ngời. Vẻ rực rỡ và uy lực của luồng sáng ấy không lời nào tả xiết. Tôi thường thức giấc giữa đêm và thực sự nhìn thấy ánh thái dương chan hòa khắp nơi trong bóng tối như một dư ảnh rực rỡ. Độ sáng của sự khai sáng ấy chỉ có thể sánh với niềm hân hoan tràn trề tuôn chảy khắp bên trong. Lẽ tự nhiên, tôi ngỡ mình đã chạm tới cội nguồn phúc lạc thiêng liêng và mọi thứ đều được đồng điệu. Nhưng không phải vậy. Tôi mới chỉ bắt đầu học hỏi, chứ chưa bắt đầu sống một cách sáng tạo. Thượng đế chính là tính sáng tạo được đánh thức trong từng khoảnh khắc.
Chạm tới ánh sáng không hề dễ dàng. Vật chất tồn tại trên cõi hư vô thuần khiết. Thượng đế là cõi phi hiển lộ vượt trên cõi phi hiển lộ. Tôi phải chấp nhận cõi hư không. Những nghi thức làm đầy và làm rỗng chỉ là trò trốn tránh nhạo báng thực tại ẩn sau ý nghĩa biểu tượng của các hành vi của tôi. Cái tôi của tôi chết chìm trong những cơn ăn vô độ; cơ thể tôi cảm thấy phình trướng. Tôi phải làm cho nó xẹp xuống. Tôi không muốn nổi lềnh bềnh lên mặt nước như một xác chết trôi nổi. Tôi muốn bơi ngược trở lên. Giờ đây tôi nhận ra mình đã tìm kiếm mặt trời nhưng không bao giờ thấy được nó. Điều tôi khao khát là mặt trời tỏa rạng từ miệng mình trong sự sáng tỏ tuyệt mỹ, rực lửa mà không thiêu đốt. Nhưng thay vào đó, bụng tôi dường như đầy ắp rắn rết, ngập tràn sự hỗn mang của mater saeva cupidinum—'bản tính hoang dã và bất kham'. Tôi cảm thấy mình giống như cõi hỗn mang trước ngày sáng thế và tìm cách trở thành nét phác họa trật tự sau sáng thế trong một đời sống ngăn nắp, sống động khắp muôn nơi. Nhưng sự ngăn nắp phải bắt đầu từ chính ngôi nhà nội tâm."
Tiến trình phân tích của Eleanor đã tiến xa hơn Ruth, bởi ở cô có sự nhận thức có ý thức về ước muốn làm rỗng bản thân và bước vào cõi hư không. Dẫu khao khát ánh sáng rực rỡ thuần khiết tách biệt khỏi mọi bóng tối, ở cô vẫn có sự chuyển động hướng về sáng thế, một nhận thức mới chớm về nhu cầu cần có một thân xác. Cô đang bắt đầu đồng nhất vị thần sáng tạo với tạo vật. Ngược lại, Ruth vẫn thích giữ hai điều đó tách biệt. Eleanor đang tiến gần hơn tới việc bớt làm một vị thần để trở thành một con người nhiều hơn.
Trong hội chứng béo phì/chán ăn, khuôn mẫu người mẹ (maternal matrix) nguyên thủy bị kích hoạt một cách quỷ dị. Trong vô thức, đứa trẻ bị người mẹ chối bỏ: do đó nó không phải là một con người mà là một đồ vật. Một phụ nữ béo phì khi bắt đầu phân tích đã liên tục mơ thấy mình không phải là một con người mà là một quả bóng golf. Mối nguy hiểm của việc bị đối xử như một đồ vật thay vì một con người là điều mỉa mai thay lại dẫn tới sự thổi phồng vô biên. Những đứa trẻ như vậy tự trải nghiệm mình như Thượng đế. Không phải vị Thượng đế của công cuộc sáng tạo—Đấng nhào nặn vật chất, thổi sinh khí vào bụi đất và tuyên bố tạo vật của Ngài là tốt lành—mà là Thượng đế trước ngày sáng thế, Đấng mà James Joyce từng mô tả là "thờ ơ, ngồi gọt giũa móng tay" giữa cõi hư không.⁴
Niềm hưng phấn trải nghiệm trong hội chứng này là niềm tin rằng họ có quyền chọn bước vào đời sống hay không. Họ tuyên bố: "Ta là Đấng Tự Hữu" (I am that I am). Họ tự thuyết phục mình rằng việc chia sẻ cái "Tôi là" trong một hoàn cảnh sống thực tế là lựa chọn của riêng họ. Bị khóa chặt trong hội chứng, họ chọn không bước vào. Ăn không chỉ là thừa nhận vật chất, mà còn là bước chân vào vật chất—hoặc tồi tệ hơn, bước vào đó trái với ý muốn của họ, điều không chỉ thách thức mà còn phủ định tính toàn năng của họ. Điều đó đồng nghĩa với việc thừa nhận rằng "họ không phải là Đấng Tự Hữu". Có một thế lực khác hiện diện không phải là họ, và thế lực đó chính là vật chất—thứ vật chất tiêu cực, mụ nữ quỷ hay mụ phù thủy. Thượng đế không hề đơn độc và toàn năng; Ngài phải đương đầu với quỷ dữ. Một miếng bánh muffin đối với người phụ nữ này chẳng khác nào Eva cắn một miếng táo. Nó mang cái chết vào thế giới của cô. Nó mang lại sự đánh mất Địa đàng—tức là sự đánh mất tính toàn năng. Điều mà người phụ nữ này không thấy được, như Jung đã mô tả rất rõ trong Ký ức, Giấc mơ, Suy tưởng hay Câu trả lời cho Job, là quỷ dữ hay vật chất hay chiếc bánh muffin chính là deus absconditus—phần vô thức của Thượng đế chưa được hấp thu hay tiêu hóa.
Tính chất cấp tiến trong quan điểm của Jung, dẫu có lịch sử lâu đời trong truyền thống Kitô giáo, liên quan đến điều mà Giáo hội gọi là felix culpa—tội hồng phúc (sự sa ngã may mắn). Miếng bánh muffin đầu tiên đẩy người phụ nữ vào con đường phân hóa khỏi sự toàn năng hoang tưởng của chính mình, và khởi đầu cho Thượng đế bước vào con đường nhập thể. Đó là bước chân ngập ngừng đầu tiên để trở thành con người. Tóm lại, điều cần thiết trước khi cá nhân có thể hấp thu miếng bánh đó vào da thịt là sự đánh giá lại một cách triệt để nền thần học phiến diện của mình. Cô phải học cách mở chỗ cho chiếc bóng (shadow) hay quỷ dữ.
Hầu hết những người bị kẹt trong hội chứng này đều là những tín đồ Ngộ đạo thuyết (Gnostics) bẩm sinh—họ phủ nhận sự nhập thể. Thượng đế vẫn là Thượng đế. Ngài không bao giờ tự hạ mình để trở thành xác phàm. Ngài không được sinh ra. Ngài không chịu đau khổ. Ngài không chết đi. Ngài không sống lại từ cõi chết. Giống như họ, Thượng đế chưa từng sống trên mặt đất.
Eleanor, bằng cách từ chối thức ăn, đã từ chối sự sống. Và trở ngại lớn nhất phải vượt qua khi cô bắt đầu ăn trở lại là việc đánh mất trạng thái hưng phấn ngây ngất do sự bỏ đói mang lại. Cuộc sống dường như không còn đáng sống nếu thiếu đi cường độ mãnh liệt và sự thúc bách của việc đi trên dây kháng cự ấy. Cô tin rằng mình đang rút gọn bản thân thành tinh thần thuần khiết, bản chất thuần khiết—một khái niệm có thể liên hệ với các nghi thức thụ phong pháp sư Shaman, nơi vị pháp sư thực sự bị rút kiệt chỉ còn da bọc xương.⁵
Điều Ruth không nhận ra là da thịt đang cố cứu rỗi cô, đang cố ép cô phải phát triển bản sắc nữ tính cá nhân của riêng mình. Thay vì đối diện với lớp mỡ như một thực tế, Ruth bị mắc kẹt trong sự đồng nhất vô thức với cơ thể khổng lồ của mình. Cô không có một cái tôi đủ vững để tách mình ra khỏi bất kỳ huyền thoại nào đang được sống qua lớp mỡ ấy. Lý do cô nặng 325 pound là vì cô từ chối chấp nhận thực tại hiện sinh mà cơ thể cô buộc phải lên tiếng ngày càng lớn hơn. Giữa thân xác và tâm linh diễn ra một cuộc khẩu chiến dữ dội, mà trong đó, như mọi cuộc đấu khẩu giữa hai kẻ thù địch, chẳng bên nào chịu nghe bên nào. Một thân xác ập vào tâm linh với toàn bộ sức nặng 325 pound bị chặn đứng bởi một tâm linh ập vào da thịt với toàn bộ uy lực của Bach, Mozart, Blake và Dostoevsky. Một cuộc khẩu chiến ở quy mô như vậy sẽ át cả tiếng Thượng đế—dẫu không nhất thiết át được tiếng quỷ dữ, kẻ vốn đã quen với những trận chiến như thế, bởi quỷ dữ chính là phần Thượng đế chưa đi vào ý thức. Giá như bạn biết Ruth tĩnh lặng đến nhường nào ngoài đời, bạn sẽ thấy thế giới nội tâm và ngoại giới có thể lệch pha nhau đến mức nào.
Trong quá trình phân tích tâm lý, cuộc đấu tranh cho sự nhập thể—Thượng đế trong xác phàm, tinh thần trong vật chất—đang lặp lại chính nó, không phải bằng ngôn ngữ thần học mà bằng ngôn ngữ tâm lý học. Cuộc chiến không thể được giải quyết cho đến khi người nghiện bánh muffin hiểu được rằng: thứ ngự trong chiếc bánh đối với cô chính là điều Giáo hội gọi là Mình Thánh Chúa biến thể (transubstantiated Christ). Điều này có nghĩa là nghi thức quỷ ám của việc ăn vô độ phải được thay thế bằng nghi thức thiêng liêng đón nhận thân thể Thượng đế như hoa trái của đất trời mà Ngài đã tuyên bố là tốt lành. Về mặt tâm lý, điều đó có nghĩa là chuyển hóa người mẹ tiêu cực hay mụ phù thủy thành Đại Mẫu (Great Mother).
Có thể lập luận rằng trong Kitô giáo luôn tồn tại một khoảng cách quá lớn giữa tâm linh và tâm lý, giữa sự đóng đinh và sự phục sinh. Thay vì nhìn nhận chúng như một sự kiện duy nhất ở đỉnh điểm của một tiến trình, người ta lại tách rời chúng ra, và chính trong sự chia cắt đó đã sinh ra một thái độ khổ dâm đối với đau khổ—hoặc một thái độ xem nhẹ tầm quan trọng của nó. Trong hội chứng béo phì/chán ăn, có một xu hướng khổ dâm rất mạnh mẽ, nơi sự đóng đinh hay đau khổ ngày càng trở thành một mục đích tự thân, khi cá nhân bị mất giá trị trong chính nhận thức của mình bởi những bằng chứng thất bại liên tiếp. Tính toàn năng rời rạc còn sót lại bị tách biệt hoàn toàn khỏi nỗi đau thực tế đến mức dường như chẳng có liên hệ gì với nó. Đó không phải là sự phục sinh bên trong sự đóng đinh, mà là một thứ không liên quan, và do đó, gần như hoàn toàn phi thực. Cả Ruth và Eleanor trong nhật ký đều liên tục tìm đến những mưu mẹo của tâm trí mà may thay họ không thể thực hiện trọn vẹn lên chính mình. Ý thức về sự thất bại vẫn là điểm bấu víu của họ vào thực tại. Tuy nhiên, đây vẫn là một điểm bám mang tính tiêu cực vì cái tôi chưa thể xử lý nó một cách sáng tạo.
Điều cần được thiết lập là một thái độ yêu thương của cái tôi đối với cơ thể, để việc nuôi dưỡng thân xác trở thành mối quan tâm của cái tôi. Cái tôi phải học cách đặt ra những câu hỏi mà cơ thể đã sẵn sàng trả lời bằng một giọng nói rõ ràng không thể nhầm lẫn: "Những nhu cầu thực sự của tôi là gì? Tôi đã phản bội chính mình trong cuộc họp ngày hôm nay. Tôi thực sự muốn làm gì? Cơ thể tôi muốn ăn gì? Nó có muốn vận động không? Điều gì sẽ nuôi dưỡng tinh thần thay vì chỉ vỗ béo da thịt tôi? Làm thế nào tôi có thể biến đống xác thịt này thành cơ thể sống của mình? Tôi có yêu cơ thể mình không? Tôi có muốn sống không? Tôi có muốn bước vào cuộc đời không?" Thứ mà cái tôi phải đối diện là một hình ảnh cơ thể bị hạ thấp—một hình ảnh kỳ lạ thay lại có rất ít hoặc không liên quan gì đến hình bóng phản chiếu trong gương. Một người phụ nữ bị ám ảnh bởi sự xấu xí của thân xác có thể nhìn vào phức cảm của mình hàng giờ liền mà thực sự không thể nhìn thấy nó. Đó là một cấu trúc của tâm trí vốn tự cho mình là toàn năng tuyệt đối, nói với cơ thể: "HÃY HIỆN HỮU", và nó liền hiện hữu.
Do đó, then chốt của tiến trình chữa lành là làm việc một cách sáng tạo với cơ thể bị chối bỏ. Ít nhất trong giai đoạn đầu, điều này phải được thử nghiệm bên ngoài phức cảm vì cái tôi chưa đủ mạnh để đối đầu trực diện. Những gợi ý thực tế về cách phát triển mối quan hệ mới giữa thân và tâm sẽ được thảo luận sâu trong chương năm. Ở đây chỉ cần nói rằng một sự chuyển biến dần dần từ tự ghét bỏ sang tự yêu thương có thể diễn ra, và một ngày nào đó người phụ nữ có thể "bất ngờ đón nhận niềm vui" khi giữa tinh thần và cơ thể có sự nhận biết lẫn nhau.
Sự dung hòa này là một phần thiết yếu của tiến trình chữa lành, nơi sự dịch chuyển từ cực tâm lý sang cực thể xác được đáp lại bằng một chuyển động ngược lại từ thể xác sang tâm lý. Thân thể tiến lên phía trước để đón gặp tiến trình tâm lý với tiền đề rằng: dù ta có tác động bao nhiêu lên tâm thức đi chăng nữa, thân thể cũng không thể hấp thu nếu nó chưa được chuẩn bị sẵn sàng. Keats từng nói về việc mang đến cho thế giới tự nhiên—một chú chim, một bông hoa, một cái cây—một "lời chào của Tinh thần"⁶, như thể tâm thức nhận ra một phần của chính nó trong vật chất của tự nhiên. Và vô thức phản hồi bằng cách trở thành đối tượng được tri giác. Điều xảy ra ở một khía cạnh nào đó là sự tương hỗ, nơi ý thức và vô thức, tâm trí và vật chất hòa quyện để sinh ra một yếu tố thứ ba. Yếu tố thứ ba ấy chính là sự hội ngộ giữa thân thể và tinh thần, mang theo hành động nhận biết đầy hân hoan.
Trong bài thơ The Ecstasy, John Donne đã mô tả hai người yêu nhau nằm trên bờ hoa như "những bức tượng nơi lăng mộ". Trong khi thân xác họ khao khát nhau mãnh liệt, họ lại từ chối hòa quyện cho đến khi linh hồn hai bên đạt được sự thuận tình. Linh hồn họ đã thoát ra khỏi thân xác để đàm phán trên cao xem liệu các thân xác có được tự do đáp lại nhau hay không. Trong cuộc đàm phán đó, các linh hồn dần nhận ra tầm quan trọng của thân thể mình; nếu không có thân xác, linh hồn sẽ chẳng bao giờ có thể gặp gỡ. Các linh hồn, tựa như những bậc đế vương vĩ đại, sẽ mãi là những tù nhân xa lạ đối với nhau; bởi vậy, vì lòng biết ơn đối với thân thể, họ quyết định trở lại bên trong, mang theo không chỉ sự ưng thuận đối với những ước muốn của thân xác mà cả sự dự phần đầy hạnh phúc. Donne đã hân hoan kết luận:
Về lại thân xác thôi nào, để rồi
Kẻ phàm nhân yếu đuối được thấy tình yêu hiển lộ,
Huyền nhiệm của tình yêu nảy nở trong tâm hồn,
Nhưng thân xác mới chính là cuốn sách của tình yêu.
Và nếu có kẻ tình si nào, tựa như chúng ta,
Từng lắng nghe cuộc đối thoại thuần nhất ấy,
Hãy cứ dõi nhìn; người đó sẽ thấy
Chẳng chút đổi thay khi ta đã nhập vào thân xác.⁷
Nếu người phụ nữ đang mắc kẹt trong sự phân ly giữa thân xác và tâm hồn có thể duy trì sự kết nối với "cuộc đối thoại thuần nhất" của chính mình, cô ấy cũng có thể đón đợi những cuộc đàm phán tinh tế đang rộng mở như của đôi tình nhân ngây ngất trong thơ Donne.
Chú thích
Keats, John, "Ode to a Nightingale" (Tụng ca chim dạ oanh).
Tin Mừng Gioan 3:3.
Jung, C. G., Aion, C.W., Tập 9, ii, đoạn 123.
Joyce, James, A Portrait of the Artist as a Young Man (Chân dung chàng nghệ sĩ thời trẻ), New York, The Viking Press, 1964, tr. 215.
Eliade, Mircea, Shamanism: Archaic Techniques of Ecstasy, Bollingen Series LXXVI, Princeton University Press, 1964, tr. 62.
Keats, John, The Letters of John Keats, Hyder Edward Rollins biên tập, Cambridge, Harvard University Press, 1958, Tập 1, tr. 186.
Donne, John, "The Ecstasy", The Complete Poetry and Selected Prose of John Donne, Charles M. Coffin biên tập, New York, Modern Library, 1952, tr. 39.
Bình luận