top of page

CẢM GIÁC TOÀN NĂNG

2 giờ trước
96 phút đọc

LỜI NÓI ĐẦU

CHÀO MỪNG BẠN ĐẾN VỚI THẾ GIỚI THỰC


BỐN KHUÔN MẶT CỦA CẢM GIÁC TOÀN NĂNG


Trước khi bạn đọc cuốn sách này, tôi muốn hỏi bạn một câu: Một người như thế nào thì được xem là có tâm lý khỏe mạnh? Hay nói cách khác, tiêu chuẩn của sức khỏe tâm lý là gì? Về điều này, nhà tâm lý học người Mỹ Heinz Kohut đã đưa ra một câu trả lời vô cùng ngắn gọn và rõ ràng: Sự tự tin và lòng nhiệt huyết.


Khi sinh lực có thể nuôi dưỡng tự thể (self), đó là sự tự tin; khi sinh lực có thể nuôi dưỡng khách thể (object), đó chính là lòng nhiệt huyết.


Câu trả lời này thật sự quá đỗi giản đơn. Nếu là người mới bước vào tìm hiểu tâm lý học, vừa tiếp xúc với nhận định này của Kohut, có thể bạn sẽ thấy nó chẳng có gì sâu sắc. Nhưng nếu bạn hiểu về nhân tính ngày càng sâu sắc hơn, đặc biệt là khi bị một khái niệm khác mà Kohut từng đề cập bủa vây, bạn sẽ cảm nhận thấm thía rằng: Đi đến được bước tự tin và nhiệt huyết thực sự là điều chẳng hề dễ dàng.


Khái niệm còn lại đó chính là: Tự luyến toàn năng (Omnipotent Narcissism).


Tự luyến toàn năng là tâm lý nguyên sơ nhất của trẻ sơ sinh, và vì thế cũng là tâm lý nguyên sơ nhất của con người. Logic của nó là: "Tôi vừa khởi tâm động niệm, thế giới phải vận hành theo đúng ý nghĩ của tôi". Khi tự luyến toàn năng bị tổn thương, con người sẽ sinh ra cơn thịnh nộ tự luyến (narcissistic rage). Tôi gọi nó là "cơn thịnh nộ toàn năng", và cảm thấy cụm từ này thích hợp hơn một chút so với "cơn thịnh nộ tự luyến". Dưới sự thúc đẩy của cơn thịnh nộ toàn năng, con người sẽ nảy sinh dục vọng hủy diệt.


Nếu tự luyến toàn năng và cơn thịnh nộ toàn năng có thể được bộc lộ trực tiếp, con người sẽ cảm thấy bản thân rất có sức mạnh. Thế nhưng, khi vừa không thể bộc lộ tự luyến toàn năng, lại vừa không thể bộc lộ cơn thịnh nộ toàn năng, phần năng lượng này sẽ không hề biến mất, mà quay ngược lại để đè nén chính mình. Lúc này, con người sẽ trải nghiệm cảm giác hoàn toàn bất lực.


Đồng thời, người đó còn cảm thấy dường như mình đang bị một thế lực bên ngoài đàn áp, từ đó sinh ra hoang tưởng bị hại, cảm giác như có một nhân vật, một tổ chức hay một thần ma vô cùng ghê gớm nào đó đang phá hoại mọi việc của mình.


Tự luyến toàn năng, thịnh nộ toàn năng, hoàn toàn bất lực và hoang tưởng bị hại — chúng ta có thể khái quát chúng thành "cảm giác toàn năng", đây chính là bốn biểu hiện kinh điển của cảm giác toàn năng.


Ngoài ra, tự luyến toàn năng còn có những biến hóa vô cùng phức tạp. Trong các buổi tham vấn trị liệu cũng như trong cuộc sống đời thường, tôi nhận thấy tự luyến toàn năng dường như hiện diện ở khắp mọi nơi.


Có một điểm rất thú vị là khi đi giảng bài, tôi nhận thấy tự luyến toàn năng luôn là nội dung được đón nhận nồng nhiệt nhất.


Chẳng hạn, khi tôi mở các workshop kéo dài nhiều ngày, học viên thường rất muốn có thêm nhiều bài tập thực hành và phần chia sẻ. Duy chỉ có lúc tôi giảng về tự luyến toàn năng, họ lại cảm thấy bài tập và chia sẻ có phần lãng phí thời gian. Họ sẽ nói: "Thầy đừng cho làm bài tập hay chia sẻ nữa, thầy cứ giảng tiếp đi, nội dung này cuốn hút và thú vị quá!".


Tôi cho rằng điều này là do nội dung đã chạm trúng tim đen của mọi người. Ban đầu, ai cũng rất dễ nghĩ rằng: "A, xung quanh mình có một người y hệt như thế này", nhưng về sau lại ngộ ra: "Ôi trời, đây chẳng phải đang nói chính mình sao!".


Khi tổ chức các buổi thuyết trình về chủ đề tự luyến toàn năng, tôi cũng thường xuyên được hỏi: "Thầy Vũ ơi, chủ đề này em muốn tìm hiểu sâu hơn, thầy có thể gợi ý cho em vài cuốn sách được không?". Nhưng xin lỗi, ngoài cuốn sách mang tính chuyên môn sâu như Lý thuyết và thực hành tâm lý học tự thể (The Theory and Practice of Self Psychology), tôi thực sự không biết có thể giới thiệu thêm cuốn sách nào khác. Giờ đây, tôi đã có thể tự tin giới thiệu cuốn sách này của chính mình. Tôi hy vọng bản thân không chỉ viết rõ được logic tầng sâu của tự luyến toàn năng, mà còn mổ xẻ thấu đáo các hiện tượng thường gặp muôn hình vạn trạng xung quanh chúng ta.


Vài năm gần đây, tự luyến toàn năng là một tiêu điểm mà tôi đặc biệt chú ý, và khi tự quan sát chính mình, tôi không thể tránh khỏi việc nhìn thấy bản thân cũng đang lún sâu vào nó. Rất nhiều sự biến chuyển u vi, tinh tế của nó, tôi đều có thể nhìn thấy rõ ở nơi chính mình.


Thậm chí cùng với việc thấu hiểu ngày càng sâu sắc những vấn đề như tự luyến toàn năng của bản thân, tôi càng lúc càng cảm thấy rằng, nếu có thể làm sáng tỏ nội dung về tự luyến toàn năng ở một chừng mực nào đó, thì điều đó tựa như một buổi lễ tốt nghiệp của chính cuộc đời tôi.


Giờ đây, tôi cảm thấy mình rốt cuộc đã có thể diễn giải về tự luyến toàn năng một cách có hệ thống, và thế là cuốn sách bạn đang cầm trên tay đã ra đời.


Cuốn sách này được chia thành ba phần lớn:


  1. Tự luyến toàn năng và các biến thể của nó;


  2. Hệ tọa độ nhân tính;


  3. Sự bạo chính của tâm trí.


Cuốn sách này còn mang lại hai giá trị lớn: Thấu hiểu và Chữa lành.


Trước hết nói về sự thấu hiểu.


Nếu bên cạnh bạn có một người mang tự luyến toàn năng nặng nề, bạn sẽ hiểu được người này đến từng chân tơ kẽ tóc.


Ví dụ, nếu xung quanh bạn có một người luôn nổi cáu vô cớ, người này thường sẽ trở thành một cơn ác mộng đối với bạn. Từ trước đến nay, có thể bạn luôn cảm thấy khó hiểu rốt cuộc họ đang làm cái gì vậy. Sau khi học được kiến thức về tự luyến toàn năng, bạn sẽ nhận ra rằng người như vậy thực chất đang bị chi phối bởi cơn thịnh nộ toàn năng.


Hay như ví dụ khác, bên cạnh bạn có những người cực kỳ dễ tính, dễ nói chuyện, nhưng bạn lại cảm nhận rõ ràng rằng mình không thể nào đến gần họ, thậm chí bạn còn vô cùng không thích họ.


Người như vậy rốt cuộc là sao? Khi đã hiểu được nội dung về sự hoàn toàn bất lực và hoang tưởng bị hại trong cuốn sách này, có thể bạn sẽ vỡ lẽ: Ồ, hóa ra họ là như thế, bản thân họ sắm vai "người tốt", nhưng lại không ngừng phóng chiếu cái "xấu" ra thế giới bên ngoài. Chẳng hạn, bạn sẽ rất dễ bị họ phóng chiếu thành "kẻ xấu".


Chẳng ai thích bị phóng chiếu thành kẻ xấu cả, do đó việc bạn không ưa những người như vậy là hoàn toàn bình thường.


Lúc này, một câu hỏi đáng sợ sẽ xuất hiện: Nếu chính bạn lại là kiểu người như vậy thì sao? Bạn có lo lắng không? Bạn tự cho là đúng đắn mà làm việc tốt suốt nửa đời, thậm chí cả một đời người, kết quả nhận ra mình định sẵn sẽ bị phụ bạc, cũng chẳng thể nào có được một mối quan hệ thân mật đích thực. Nếu thật sự là như vậy, đây quả là một chuyện bi thảm biết chừng nào!


Nói đến sự thấu hiểu, đó chính là hiểu người khác, hiểu chính mình, hiểu các mối quan hệ, và thậm chí là thấu hiểu các hiện tượng xã hội. Điều này sẽ khiến bạn cảm thấy đôi mắt và trái tim mình trở nên sáng rõ hơn.


Có người có thể cảm thấy rằng việc học về tự luyến toàn năng là một sự công kích nặng nề nhắm vào chính mình. Khi bạn có cảm giác này, tôi khuyên bạn hãy tạm buông xuống, đừng quá khắt khe, giằng xé với bản thân.


Nếu bạn thấy cuốn sách này rất kích thích, đọc rất "đã", không ngừng khiến bạn phải thốt lên: "Chà, người này người kia đúng là như vậy! Mình cũng chính là như thế này! Nói trúng phóc quá đi mất!", lúc này tuy bạn có đôi chút cảm giác bị đụng chạm nhưng không thấy quá nặng nề, thì cuốn sách này thực sự rất phù hợp với bạn.


Cũng có thể bạn rất may mắn, nhận thấy bản thân chẳng có mấy cảm giác toàn năng, người thân bạn bè cũng không có ai như vậy. Dẫu thế, các nhân vật chính trong những sự kiện tin tức nóng hổi thường lại là những người thuộc nhóm này, và trong công việc lẫn cuộc sống thường nhật, bạn khó tránh khỏi việc phải giao tiếp, tiếp xúc với họ, vì vậy việc thấu hiểu họ cũng mang lại giá trị vô cùng to lớn.


Sự thấu hiểu chủ yếu sẽ mang lại cho bạn cảm giác kiểm soát, đồng thời giúp bạn đưa ra lựa chọn một cách tỉnh táo và sáng suốt hơn.


Thế nhưng thấu hiểu chưa phải là chữa lành, gốc rễ của sự chữa lành nằm ở mối quan hệ. Đối lập với tự luyến toàn năng không phải là không tự luyến, mà là có thể sống được trong các mối quan hệ.


Rất nhiều thân chủ đến tư vấn đều từng nói với tôi một câu: "Tôi lớn lên một mình". Câu nói này chất chứa đầy bi thương, và cũng nói lên rất nhiều vấn đề. Tự luyến toàn năng luôn bị trói chặt cùng sự cô độc.


Hơn nữa, điều này có thể suy ngược lại. Nếu cuộc đời bạn từ trước đến nay luôn chìm trong cô độc, điều đó chắc chắn đồng nghĩa với việc bạn đang lún sâu vào cảm giác toàn năng. Sự khác biệt chỉ là: Khi biểu hiện của bạn là tự luyến toàn năng và thịnh nộ toàn năng, nó sẽ lộ ra rất rõ ràng; còn khi biểu hiện của bạn là hoàn toàn bất lực và hoang tưởng bị hại, nó lại diễn ra một cách ngấm ngầm, ẩn giấu.


Mối quan hệ hay tình cảm mới chính là sức mạnh mang tính chữa lành trong nhân tính con người. Tự luyến toàn năng không thể bị dập tắt trực tiếp, nhưng nó có thể được thuần hóa một cách tự nhiên thông qua việc trải nghiệm những xúc cảm trong một mối quan hệ sâu sắc.


Trong lịch sử văn hóa của chúng ta có một câu chuyện sâu sắc, đó là Đại Vũ trị thủy. Trước thời Đại Vũ, cách con người đối phó với lũ lụt dâng tràn là liều mạng đắp đê ngăn chặn, và đều thất bại, cho đến khi Đại Vũ tìm ra phương pháp khơi thông dòng chảy thì vấn đề mới được giải quyết triệt để.


Câu chuyện này có thể liên hệ mở rộng sang tự luyến toàn năng. Cảm giác toàn năng là một nguồn năng lượng tựa như bom hạt nhân. Khi nó bộc lộ trực tiếp tính hủy diệt, điều đó sẽ vô cùng đáng sợ; và cách giải quyết truyền thống mà văn hóa của chúng ta tìm đến chính là đè nén.


Điều này liên quan đến một câu chuyện khác trong nền văn hóa của chúng ta — Tề Thiên Đại Thánh bị đè dưới dãy Ngũ Hành Sơn. Tôn Ngộ Không ở giai đoạn là Tề Thiên Đại Thánh chính là biểu đạt kinh điển của tự luyến toàn năng và cơn thịnh nộ toàn năng. Ẩn dụ này trong văn hóa xã hội của chúng ta dường như hiện diện ở khắp mọi nơi.


Đè nén có lẽ cũng từng là một con đường tương đối hợp lý, nhưng để hàng phục được tự luyến toàn năng thì vẫn còn một hướng đi khác — đó là bước vào mối quan hệ.


HỆ TỌA ĐỘ NHÂN TÍNH


Nhân tính có thể chia thành hai chiều kích:


  • Chiều kích tự luyến, cũng có thể gọi là "chiều kích sức mạnh", "chiều kích quyền lực";


  • Chiều kích quan hệ, cũng có thể gọi là "chiều kích tình cảm", "chiều kích đạo đức".


Hai chiều kích này kết hợp lại với nhau, lấy chiều kích tự luyến làm trục tung, chiều kích quan hệ làm trục hoành, có thể tạo thành một đồ thị tọa độ mà tôi gọi là "Hệ tọa độ nhân tính".


Trên trục tung của chiều kích tự luyến, con người sẽ trải nghiệm sâu sắc sự cao thấp của địa vị, mạnh yếu của sức mạnh, thậm chí cả sự sinh tử. Còn trên trục hoành của chiều kích quan hệ, con người sẽ cảm nhận chân thực rằng tình cảm là bình đẳng. Do đó có thể nói, một con người giàu tình cảm (thâm tình) ở mức độ rất lớn đã phá vỡ được ranh giới cao thấp, mạnh yếu, và cả sự sinh tử.


Đồng thời, chiều kích tự luyến cũng vô cùng quan trọng. Bạn sẽ thấy có quá nhiều người vì muốn duy trì mối quan hệ mà sinh ra "hội chứng sợ bản thân mạnh mẽ" (sợ trở nên mạnh mẽ).


Điều chúng ta sợ hãi nhất chính là để ánh sáng của bản thân tỏa rạng. "Hội chứng sợ mạnh mẽ" là một thuật ngữ do tôi sáng tạo ra. Trong cuốn sách này, tôi sẽ phân tích nó từ nhiều khía cạnh khác nhau.


Có thể nói, mức độ sâu sắc thêm của tự luyến và độ sâu khi bước vào mối quan hệ cùng nhau cấu thành nên không gian tâm trí của một con người. Chỉ khi cả hai chiều kích này đều được mở rộng, ta mới có thể sống trọn vẹn là chính mình.


Tự luyến là thuộc tính căn bản của con người. Dưới sự thúc đẩy của tự luyến, con người sẽ khao khát sự kiệt xuất, thậm chí là sự hoàn hảo; do đó sẽ đặc biệt sợ hãi sự tầm thường, cảm thấy "không xuất sắc thì không xứng đáng được sống", từ đó sinh ra nỗi lo âu khổng lồ. Tự luyến toàn năng trong cô độc chắc chắn sẽ đi kèm với sự lo âu sâu sắc.


Thế nhưng, khi bạn bước vào một mối quan hệ sâu sắc, bạn sẽ thực sự trải nghiệm được tâm trí của mình được mở rộng. Bạn sẽ cảm nhận được: "Tôi vừa có thể mạnh mẽ, cũng vừa có thể yếu đuối; vừa có thể đối xử tốt với người khác, cũng vừa có thể tấn công người khác để bảo vệ chính mình".


Điều này có nghĩa là tâm trí bạn bắt đầu đi từ sự đối lập nhị nguyên hướng tới sự hợp nhất làm một.


Tóm lại, từ chiều kích tự luyến có thể bước sang chiều kích quan hệ — đó chính là sự chữa lành. Đây là phần lớn thứ hai của cuốn sách; nếu có thể giúp ích cho bạn hoặc người mà bạn quan tâm để từ đó bước vào mối quan hệ tốt hơn, thì điều đó quả thực vô cùng đáng giá.


Dĩ nhiên, cuốn sách này khó tránh khỏi việc diễn giải ở tầng diện nhận thức. Đối với những người chỉ còn cách một "lớp giấy dán cửa sổ" (chỉ còn thiếu một chút thấu hiểu để thông suốt), sự nâng cao về nhận thức có lẽ sẽ lập tức chọc thủng lớp giấy mỏng manh ấy, giúp bạn có thể bước sâu hơn vào mối quan hệ.


Còn đối với những ai đang mắc kẹt nặng nề ở chiều kích tự luyến, nhận thức có thể chỉ là sự khởi đầu, nhưng nó cũng có thể đóng vai trò là một phương hướng để tiến bước về phía trước.


Tự luyến toàn năng, hay nói cách khác là sự tự luyến cực độ, có thể trở thành một động lực to lớn thúc đẩy con người ta theo đuổi sự xuất chúng.


Thế nhưng điều kỳ quặc là: Sự xuất chúng vào lúc này lại không hề có tính sáng tạo. Muốn hiểu được điều này, cần phải biết đến một tên gọi khác của chiều kích tự luyến — "chiều kích quyền lực". Có nghĩa là, việc theo đuổi sự xuất chúng xuất phát thuần túy từ tự luyến về bản chất là nhằm theo đuổi quyền lực, thu gom tài nguyên, tránh để bản thân rơi vào vị thế yếu thế bị người khác mặc sức xâu xé, định đoạt. Sự theo đuổi xuất chúng vào lúc này thực chất là để né tránh cái chết.


Bởi vậy có thể nói, sự xuất chúng được thúc đẩy bởi quyền lực thì hạt nhân cốt lõi của nó là sự lo âu về cái chết (nỗi lo sinh tử); trong khi tính sáng tạo lại đại diện cho sự sống, là mặt đối lập của sự lo âu về cái chết.


Nếu một người muốn chuyển hóa nguồn năng lượng này từ sự lo âu về cái chết thành năng lượng sống, người đó cần phải thuần hóa tự luyến toàn năng ở trong mối quan hệ. Khi ấy họ mới có thể trải nghiệm được vẻ đẹp của sinh mệnh, trở nên tràn trề sức sống, đong đầy tính sáng tạo, lòng nhiệt huyết và tình yêu thương.


Nếu bạn hy vọng con cái mình, hy vọng chính bản thân mình, hoặc xã hội của chúng ta có được sức sáng tạo thực sự, thì chúng ta cần phải học cách làm sao để bước vào những mối quan hệ sâu sắc.


Vì vậy, mối quan hệ không đơn thuần chỉ là chuyện tình cảm.


Các dạng biến thể của tự luyến toàn năng là phần thứ nhất.

Hệ tọa độ nhân tính về tự luyến và quan hệ là phần thứ hai.

Phần thứ ba có phần đặc biệt hơn một chút: Trong phần này, tôi sẽ bàn về "Sự bạo chính của tâm trí".


BƯỚC RA KHỎI TỰ LUYẾN TÂM TRÍ

Sự trưởng thành của một con người là một quá trình đi từ tự luyến toàn năng đến sự tự tin chân thực; cũng là quá trình đi từ sự tự luyến cô độc đến sự gắn bó sâu nặng; đồng thời cũng là quá trình đi từ tưởng tượng bước vào hiện thực.


Sự khác biệt to lớn giữa tưởng tượng và hiện thực nằm ở chỗ: Tưởng tượng có thể hoàn thành trong chớp mắt, có thể vượt qua cả không gian và thời gian; nhưng trong hiện thực lại có thời gian và không gian, từ khi một ý niệm khởi phát cho đến khi hoàn thành đều cần phải có một quá trình. Điều đó càng quan trọng bao nhiêu thì lại càng đòi hỏi một quá trình lâu dài bấy nhiêu. Vì thế, hiện thực sẽ làm tổn thương và đập tan sự tự luyến toàn năng của một người.


Khi một người thất bại trong việc bước vào hiện thực, người đó sẽ lạm dụng trí tưởng tượng của đầu óc, và dùng sự tưởng tượng ấy để đòi hỏi chính mình, người khác, thậm chí là cả thế giới. Trí tưởng tượng lúc này mang đậm tính tự luyến toàn năng cao độ, do đó những đòi hỏi này sẽ trở nên vô cùng khó khăn, vô cùng hà khắc, và từ đó tạo nên "sự bạo chính của tâm trí".


Xoay quanh Tôn Ngộ Không và Đường Tăng có một ẩn dụ sâu sắc. Tôn Ngộ Không có thể xem là trí tưởng tượng của tự luyến toàn năng, còn Đường Tăng lại là biểu tượng của thế giới hiện thực. Tôn Ngộ Không chỉ một cú lộn nhào là đi được mười vạn tám nghìn dặm, và trí tưởng tượng cũng mang đặc tính này: bạn có thể dùng trí tưởng tượng để dễ dàng đặt chân tới bất kỳ đâu.


Thế nhưng, Đường Tăng đi Tây Thiên thỉnh kinh thì buộc phải từng bước thật thà mà đi. Không thể khôn lỏi đi đường tắt, lại còn phải trải qua chín chín tám mốt kiếp nạn. Tương ứng với điều đó, đời người chính là một cuộc tu hành; mọi thứ đạo lý, hiểu trên đầu óc thì rất dễ dàng, nhưng bạn bắt buộc phải dùng thân xác trần tục của mình để trải nghiệm trong hiện thực — nghĩa là trong các mối quan hệ.


Đầu óc thì nhanh, nhưng hư ảo; trải nghiệm thì chậm, nhưng chân thực. Khi bạn có thể "hàng phục" trí tưởng tượng cuồng bạo của tự luyến toàn năng để bước vào những trải nghiệm ngỡ như chậm chạp lề mề ấy, bạn sẽ đem lòng yêu sinh mệnh, yêu cuộc sống bình dị thường ngày.


Không chỉ có vậy, bạn sẽ nhận ra rằng chỉ đến lúc này dường như bạn mới có thể chạm tới sự tồn tại vô hạn, và cái gọi là sức sáng tạo cũng từ đó mà sinh sôi.


Xoay quanh sự bạo chính của tâm trí có một mâu thuẫn trọng yếu — giữa quá trình và mục tiêu. Người theo chủ nghĩa mục tiêu luôn mong muốn đạt được mục tiêu ngay tức khắc, điều này thực chất là kết quả của việc bị tự luyến toàn năng cuốn đi, và cũng bị thúc đẩy bởi sự lo âu về cái chết. Trong khi đó, người theo chủ nghĩa quá trình mới có thể cảm nhận được dòng chảy năng lượng của sinh mệnh.


Khi bạn có thể tận hưởng được quá trình, điều đó đồng nghĩa với việc bạn đã thực sự có được sức sáng tạo.


Tự luyến toàn năng sẽ nuôi dưỡng và thúc đẩy những điều hoa mỹ cao xa, thậm chí là kỳ ảo, như thế giới của Thần, Phật, Ma, hoặc chí ít cũng là thế giới của những kẻ phi thường (cường nhân). Khi bị tự luyến toàn năng chi phối, bạn sẽ luôn mong muốn được bay lượn trên trời cao, hệt như Tề Thiên Đại Thánh lúc nào cũng cưỡi Cân Đẩu Vân.


Nhưng khi bạn đã hàng phục được tự luyến toàn năng, đi từ thế giới tưởng tượng cô độc bước vào thế giới hiện thực của những mối quan hệ, bạn sẽ nhận ra mình đã từ trên bầu trời hạ xuống, tựa như bước chân vào chốn nhân gian. Chốn nhân gian này ngập tràn lòng nhiệt huyết, tình yêu thương và sức sáng tạo.


Bạn sẽ yêu vạn vật trong chốn nhân gian này, đồng thời yêu lấy chính bản thân mình.


Một tình yêu như thế mới mang lại sự tự tin chân thực.


Theo cách nhìn của tôi, sự tự tin thực sự chỉ có thể bắt nguồn từ tình yêu thương.


LỜI NÓI ĐẦU (TIẾP)


CÁCH NHÌN NHẬN CẢM GIÁC TOÀN NĂNG


Cảm giác toàn năng có bốn biến thể căn bản:


  1. Tự luyến toàn năng: Tôi là vị thần toàn năng, thế giới bắt buộc phải vận hành theo ý muốn của tôi.


  2. Cơn thịnh nộ toàn năng: Khi ý muốn bị cự tuyệt, thần sẽ biến thành ma quỷ, và sinh ra dục vọng hủy diệt.


  3. Hoàn toàn bất lực: Khi cơn thịnh nộ không thể bộc lộ ra ngoài, nó sẽ quay ngược lại tấn công chính bản thân mình, khiến bản thân không thể cựa quậy, bất động.


  4. Hoang tưởng bị hại: Khi bất động, người đó sẽ cảm thấy mọi điều bất trắc, nghịch cảnh đều do ma quỷ bên ngoài hãm hại.


Đối với bốn biến thể này, chúng ta có thể tưởng tượng mỗi người là một quả cầu năng lượng, vốn dĩ trung tính và có màu xám.


Quả cầu năng lượng này vươn ra một chiếc xúc tu năng lượng. Khi xúc tu này được một quả cầu năng lượng khác đón nhận, nó sẽ được thắp sáng. Đây là biến thể thứ nhất, tương ứng với tự luyến toàn năng.


Khi bị cự tuyệt, hoặc không được một quả cầu năng lượng khác đón nhận, nó sẽ từ màu xám trung tính chuyển thành màu đen.


Lúc này, xúc tu năng lượng màu đen có hai hướng để bộc lộ:


  • Một hướng là hướng ngoại, biến thành một nguồn sức mạnh mang tính phá hoại. Điều này tương ứng với thịnh nộ toàn năng.


  • Tuy nhiên, bộc lộ ra ngoài rất nguy hiểm, có thể làm tổn thương người khác, hoặc bản thân sợ bị trả thù, trừng phạt; do đó nguồn năng lượng màu đen này không dám bộc lộ ra ngoài mà quay ngược lại chĩa vào chính mình. Khi ấy, bạn sẽ cảm thấy mình bị tàn phá, thậm chí bị hủy diệt hoàn toàn — điều này tương ứng với hoàn toàn bất lực.


Rõ ràng là một nguồn năng lượng đen do chính mình sinh ra quay lại trấn áp bản thân, nhưng lúc này ta lại cảm nhận nó hoàn toàn như một thế lực ngoại tại. Tức là ta đã cắt đứt triệt để nguồn năng lượng ấy khỏi ý thức và phóng chiếu nó thành một thế lực bên ngoài. Điều này tương ứng với hoang tưởng bị hại.


Đó là kết quả của việc thất bại khi bước vào một mối quan hệ. Bạn cũng có thể hình dung theo một hướng khác: Nếu chiếc xúc tu năng lượng được đón nhận ngày càng nhiều lần, điều đó đồng nghĩa với việc quả cầu năng lượng ấy sẽ được chiếu sáng rực rỡ. Bóng tối và ánh sáng vốn là một ẩn dụ căn bản của nhân tính con người.


Cần phải nói rõ rằng: Tự luyến toàn năng, thịnh nộ toàn năng, hoàn toàn bất lực và hoang tưởng bị hại đều là những biểu hiện tột cùng (cực đoan) của cảm giác toàn năng. Khi một người bị bốn biến thể này hoàn toàn kiểm soát, thông thường tinh thần của người đó cũng đã sụp đổ.


Ở người bình thường, đôi khi không dễ nhìn thấy trực tiếp những biểu hiện tột cùng này, nhưng ta có thể thấy những mức độ biểu hiện nặng nhẹ khác nhau. Khi mức độ tương đối nặng, nó cũng sẽ gây ra tác động khổng lồ lên một con người.


Vì vậy, khi bàn về cảm giác toàn năng, tôi sẽ chia thành hai phần: Biểu hiện tột cùng tựa như ảo mộng, và những biểu hiện thường nhật ở người bình thường.


Bây giờ, chúng ta hãy cùng bước vào phần đầu tiên: Ảo mộng toàn năng.


CHƯƠNG 2


CÁC CƠ CHẾ TÂM LÝ LIÊN QUAN ĐẾN TỰ LUYẾN TOÀN NĂNG


Cảnh giác với việc thoái lùi về cảm giác toàn năng


Trước hết, hãy giải thích một khái niệm — "Thoái lùi" (Regression). Khái niệm này do Sigmund Freud đề xướng, có nghĩa là khi một người gặp phải sự thất bại không thể chịu đựng nổi trước một thách thức ở cấp độ cao, người đó có thể xuất hiện sự thụt lùi. Nói cách khác, trạng thái tâm trí tụt lùi về một giai đoạn nguyên sơ hơn, dùng phương thức thỏa mãn từng có ở giai đoạn nguyên sơ ấy để xoa dịu và an ủi bản thân.


Một lý thuyết nổi tiếng của Freud là thuyết các giai đoạn phát triển nhân cách. Ông cho rằng sự phát triển tâm lý của một người chia làm 5 giai đoạn:


  1. Giai đoạn môi miệng (Oral stage): trước 1 tuổi


  2. Giai đoạn hậu môn (Anal stage): 1–3 tuổi


  3. Giai đoạn phức cảm Oedipus / dương vật (Phallic stage): 3–4 tuổi


  4. Giai đoạn tiềm tàng (Latency stage): 6–12 tuổi


  5. Giai đoạn sinh dục (Genital stage): 12–18 tuổi


Tâm lý học là một bộ môn khó định lượng, phàm là những thuyết phân kỳ phát triển như thế này, bạn đều có thể hiểu rằng: Đây là những mô tả mang tính ước chừng, không phải là con số chính xác tuyệt đối.


Đã xem sự phát triển nhân cách chia theo từng giai đoạn, thì cái gọi là thoái lùi chính là tâm trí vốn đã phát triển lên giai đoạn cao hơn, nay lại đột ngột thoái lui về giai đoạn sớm hơn trước đó.


Dạng thoái lùi thường thấy nhất là thoái lùi về giai đoạn môi miệng. Ví dụ, vừa rồi khi đang viết sách, tôi bỗng cảm thấy bồn chồn bực bội, liền quay người mở tủ lạnh lấy ít trái cây ra ăn. Đó chính là việc tôi gặp trở ngại trong khi viết lách, bèn tìm đến sự thỏa mãn của vùng môi miệng.


Khái niệm "thoái lùi" này có thể mở rộng tiếp. Chẳng hạn, một cô gái sau khi liên tiếp nếm trải đủ mọi thất bại có thể nảy sinh vấn đề tâm lý nghiêm trọng: nằm lì trên giường suốt thời gian dài, mong muốn mẹ luôn ở bên cạnh, đồng thời yêu cầu căn phòng phải luôn tối tăm. Có thể nói, cô ấy đang thoái lùi về trạng thái trong tử cung người mẹ, tìm kiếm trạng thái không cần phải nghĩ ngợi, không cần phải lo âu về bất cứ điều gì.


Thoái lùi về cảm giác toàn năng chính là khi một người sau khi nếm trải thất bại, bỗng nhiên cảm thấy bản thân mình không gì là không thể, dường như sở hữu nguồn sức mạnh đáng sợ tựa Thần, Phật, Ma quỷ.


Ví dụ, một chàng trai sau khi thất tình rơi vào đau khổ tột cùng, anh ta bỗng cảm thấy mình có siêu năng lực, thực sự tin rằng chỉ cần mình nổi giận một cái là cả con phố trước mắt có thể bị cơn thịnh nộ của mình san phẳng. Đợi đến khi nỗi đau này qua đi, anh ta không còn cảm giác ấy nữa. Khi tôi thảo luận về sự thoái lùi toàn năng trên mạng xã hội, anh mới nhớ lại trải nghiệm dạo nọ và hiểu ra rằng lúc đó vì thất tình quá đau đớn, anh đã thoái lùi về trạng thái tự luyến toàn năng nguyên sơ nhất để tìm kiếm sự an ủi.


Tự luyến toàn năng là một thứ rất khác biệt, nó không giống với thoái lùi môi miệng. Một người có thể thoái lùi về giai đoạn môi miệng, điều đó có nghĩa là thời thơ ấu hoặc trong đời sống thực tế, anh ta từng nhận được sự thỏa mãn về môi miệng. Còn tự luyến toàn năng có thể hoàn toàn chỉ là tưởng tượng — có người khi gặp thất bại muốn tìm kiếm sự an ủi, nhưng ở bất kỳ giai đoạn phát triển nào, những thỏa mãn anh ta từng nhận được cũng không đủ để vỗ về, bởi chúng quá đỗi thiếu thốn. Lúc này, anh ta đành thoái lùi về cảm giác toàn năng thuần túy trong tưởng tượng.


Thoái lùi về cảm giác toàn năng rất dễ nảy sinh vấn đề, đồng thời nó chứa đầy thứ sức mạnh huyễn hoặc mang màu sắc ma mị.


Tôi kể một thảm án, kẻ gây ra thảm án này trớ trêu thay lại là người cùng một huyện ở quê tôi.


Vụ án xảy ra vào ngày 28 tháng 5 năm 2014, tại một cửa hàng McDonald's ở thành phố Chiêu Viễn, tỉnh Sơn Đông. Khi đó, 6 kẻ thủ ác đã vây đánh một phụ nữ trẻ tuổi cho đến chết.


Thảm án này gây chấn động cả nước. Một trong 6 kẻ thủ ác là chủ mỏ vàng, do đó xuất hiện tin đồn rằng đây là kẻ giàu có lộng hành, muốn buông lời trêu ghẹo cô gái trẻ nhưng bị từ chối nên thẹn quá hóa giận ra tay sát hại.


Quan điểm của tôi là: Cần đặc biệt cảnh giác trước những câu trả lời chủ lưu dễ tìm thấy nhất. Chẳng hạn hễ xảy ra thảm án là quy chụp ngay kẻ mạnh ức hiếp kẻ yếu, hoặc đổ lỗi tại đồng tiền, hay nghèo khổ là nguồn gốc của mọi tội ác,...


Trong vụ việc này, 6 người cùng ra tay hành hung, có cả nam lẫn nữ, không một ai can ngăn — những thông tin này đều cho thấy sự bất thường rõ rệt. Điều bất thường nhất là một người đàn ông vạm vỡ trong nhóm, khi tấn công cô gái, liên tục phát ra những tiếng gầm rú quái dị và đáng sợ. Chính vì những chi tiết này, tôi lập tức phán đoán ngay từ đầu rằng vụ việc rất đặc biệt, nhiều khả năng có liên quan đến tà giáo.


Quả nhiên, về sau thông tin công bố cho thấy cả 6 người này đều là tín đồ của tà giáo "Toàn Năng Thần" (Đạo Toàn Năng Thần / Tia chớp phương Đông). Kẻ thủ ác chính — người đàn ông vạm vỡ kia — tên là Trương Lập Đông, người thị trấn Thành Quan, huyện Vô Cực, tỉnh Hà Bắc (quê tôi). Hôm đó chúng đã chuẩn bị sẵn để xin số điện thoại những người xung quanh nhằm truyền đạo. Hễ ai từ chối, chúng liền ra tay.


Tín đồ của tà giáo Toàn Năng Thần đã gây ra nhiều vụ thảm án kinh hoàng; vụ án năm 2019 "5 người đi du lịch, thi thể 3 người bị giấu trong tủ đông" cũng có phần lớn can phạm là tín đồ của giáo phái này.


Khi theo dõi sự việc, điều thu hút tôi nhất là câu chuyện về "Nữ Christ" Dương Hướng Bân của giáo phái Toàn Năng Thần.


Dương Hướng Bân là người Đại Đồng, tỉnh Sơn Tây. Năm 1990, cô thi trượt đại học, do chịu đả kích nặng nề nên mắc chứng tâm thần phân liệt. Đến năm 1993, cô lại trở thành "Nữ Christ" của giáo phái này.


Tôi đã tìm đọc rất nhiều tài liệu, kẻ đứng sau thao túng giáo phái tên là Triệu Duy Sơn. Hắn phát hiện Dương Hướng Bân có giá trị lợi dụng, bèn tôn xưng cô làm "Nữ Christ". Vậy giá trị của Dương Hướng Bân là gì?


Giá trị của cô ta rất đặc biệt: Từ sau năm 1991, cô bắt đầu viết cuốn sách mang tên Thần thoại. Trong sách, cô đã sáng tạo nên một thế giới thần thoại có hệ thống, mang tư tưởng nhất định, và thế giới này có sức hiệu triệu khá lớn. Triệu Duy Sơn đã mượn thế giới dị tưởng của Dương Hướng Bân để thu hút đông đảo tín đồ về cho mình.


Câu chuyện của Dương Hướng Bân không hề hiếm gặp, trong các câu chuyện tương tự còn có một trường hợp được biết đến rộng rãi hơn nhiều: Vào thời Đạo Quang triều Thanh, một đồng sinh ở huyện Hoa, tỉnh Quảng Đông (nay là quận Hoa Đô, thành phố Quảng Châu), sau ba lần thi tú tài đều trượt, đã trải qua một trận sốt cao, tương truyền sốt tới 40°C kéo dài suốt hơn 40 ngày. Sau khi dứt cơn sốt, ông ta tuyên bố mình là con thứ của Thượng đế, em trai ruột của Chúa Jesus...


Vị đồng sinh ba lần trượt khoa cử đó chính là Hồng Tú Toàn.


Từ đó có thể thấy, câu chuyện của Dương Hướng Bân và Hồng Tú Toàn giống nhau đến kỳ lạ: Đều là sau thất bại nặng nề trong một kỳ thi mang tính bước ngoặt, từ một con người phàm tục đã biến thành "Thần".


Tất nhiên, đó là ảo giác, là sự thoái lùi kinh điển về cảm giác toàn năng.


Sau khi một người thất bại, cách người đó xử lý thất bại sẽ phản ánh trình độ tâm trí khác nhau:


Hãy tưởng tượng bạn đang trèo một bức tường cao 1 mét, nhưng thất bại và ngã xuống. Lúc này, bạn sẽ làm gì?


  • Lựa chọn thứ nhất: Qua thất bại này, bạn nhận ra điểm thiếu sót của bản thân, nỗ lực nâng cao khả năng leo trèo, đợi năng lực được cải thiện rồi tiếp tục trèo qua bức tường đó.


    Làm như vậy chứng tỏ bạn là một người có tâm trí bình thường, lành mạnh.


  • Lựa chọn thứ hai: Bạn nghĩ bụng: "Hừ! Bức tường này thấp quá, ta thèm vào! Ta sẽ đi trèo bức tường cao một trượng kia cho các người thấy ta lợi hại cỡ nào!". Thế nhưng khi nào đi trèo bức tường một trượng ấy thì bạn lại liên tục viện đủ lý do kỳ quặc để trì hoãn, chẳng hạn như phải chọn ngày lành tháng tốt. Thực chất trong tiềm thức bạn biết rõ mình không thể trèo nổi bức tường đó, nhưng bạn không chịu thừa nhận.


    Làm như vậy đồng nghĩa với việc bạn thường xuyên dùng logic tự lừa mình dối người để xử lý cảm giác thất bại của bản thân.


  • Đáng sợ nhất là logic sau: Việc trèo tường thất bại chẳng hề đả kích được tôi, bởi vì tôi phát hiện ra tôi là vị Thần toàn tri toàn năng.


    Làm như vậy có nghĩa là bạn đã trở thành một người bệnh tâm thần, hoặc bạn bỗng chốc đã thoái lùi thành một đứa trẻ sơ sinh đỏ hỏn.


Thứ cảm giác toàn năng này chính là tâm lý quan trọng nhất của giai đoạn sơ sinh đầu đời.


Chúng ta phải hết sức cảnh giác điều này: Nếu xung quanh bạn có người trưởng thành rơi vào cảm giác toàn năng này, thì điều người đó cần hơn cả là sự điều trị của chuyên khoa tâm thần. Những lúc như thế, tham vấn tâm lý đã hoàn toàn bất lực.


Cũng có một số người, khi cảm giác toàn năng đột ngột bùng phát, họ không bị cảm giác ấy nhấn chìm. Nói cách khác, họ không đồng nhất bản thân với cảm giác toàn năng đó, không nghĩ rằng "sức mạnh toàn năng này là của mình, mình lợi hại rồi"; điều đó có nghĩa là họ vẫn giữ được một mức độ cảm nhận thực tế nhất định. Trong tình huống này, nếu được tiếp nhận sự trợ giúp song hành từ thuốc tâm thần và tham vấn tâm lý, họ hoàn toàn có khả năng được chữa lành.


Nhiều người thường gặp phải những người tự xưng là "cao nhân". Vậy làm sao để phân biệt họ là cao nhân thực thụ hay là người bệnh tâm thần bị cảm giác toàn năng chi phối?


Như đã nói ở trên, cảm giác toàn năng có bốn biến thể: Tự luyến toàn năng, thịnh nộ toàn năng, hoàn toàn bất lực và hoang tưởng bị hại. Chúng ta có thể dùng điểm này để phân biệt: Nếu vị "cao nhân" này lộ rõ ba biến thể phía sau, bạn có thể đoán định ngay rằng ông ta là một kẻ đang bị cảm giác toàn năng cuốn trôi.


Trong lời mở đầu, tôi đã nói giản lược về tiêu chuẩn sức khỏe tâm lý của Kohut, bây giờ xin giới thiệu một cách trọn vẹn. Kohut cho rằng cách bạn nhìn nhận về tự thể (self) và khách thể (object) cấu thành nên 4 tầng thứ bậc:


  1. Tầng bậc tốt nhất là Tự tin và Nhiệt huyết: Tự tin là khi sinh lực nuôi dưỡng tự thể; nhiệt huyết là khi sinh lực nuôi dưỡng khách thể. Tự thể có thể hiểu là chính mình, khách thể là người khác và vạn vật xung quanh. Tự tin và nhiệt huyết không phải là thứ trên đầu óc, mà tồn tại chân thực, có dòng chảy sinh lực sống luân chuyển bên trong.


  2. Kế đến là Tự đại và Lý tưởng hóa khách thể: Tự đại là thấy mình rất ghê gớm nhưng thiếu sự nâng đỡ của sự thật khách quan (dù vẫn có đôi chút căn cứ). Lý tưởng hóa là rất dễ thần tượng hóa người mình sùng bái, thấy họ phi thường, nhưng không xem họ là Thần.


  3. Tầng bậc tương đối kém là Nghi bệnh và Nỗi sợ mang tính tôn giáo: Nghi bệnh là luôn cảm thấy mình mắc bệnh, đi bệnh viện kiểm tra lại chẳng ra bệnh gì. Đó là vì "tự thể" (cái tôi tâm lý) bị bệnh, nhưng vì chưa phát triển được một "cái tôi tâm lý" thực sự nên bạn lại ngỡ rằng "cái tôi thể xác" của mình bị bệnh. Nỗi sợ mang tính tôn giáo là bạn cảm thấy có một lực lượng hùng mạnh tựa thần linh chi phối thế giới và bản thân bạn; nó vô cùng nghiêm khắc và hà khắc, bạn phải dốc hết mọi thứ mới mong nhận được sự công nhận của nó (dù vậy vẫn còn hy vọng được công nhận).


  4. Tầng bậc tồi tệ nhất là Hoang tưởng tự luyến và Hoang tưởng bị hại: Hoang tưởng tự luyến là thấy mình là Thần, mình không gì không làm được, nhưng hoàn toàn xa rời thực tế (thực tế thường là bản thân hoàn toàn bất lực). Hoang tưởng bị hại là cảm thấy thế giới bên ngoài có một người hoặc một tổ chức toàn năng, siêu phàm, dựng lên cả một hệ thống để bức hại mình một cách có bài bản, nhưng điều này hoàn toàn không có cơ sở thực tế.


Trở thành một người tự tin, nhiệt huyết là điều rất khó; còn tự cho mình là Thần có lẽ là chuyện dễ dàng nhất nhưng cũng nguy hiểm khôn lường nhất.


Trong các buổi tham vấn cũng như cuộc sống thường nhật, tôi từng giúp đỡ một số ít người thoái lùi về cảm giác toàn năng. Cần phải làm rõ rằng tôi chỉ giúp được một số ít người, nên không thể nói tôi có năng lực điều trị dứt điểm cho những trường hợp như vậy. Đối với họ, cách làm hợp lý thông thường là điều trị bằng thuốc làm chủ đạo, tham vấn tâm lý chỉ đóng vai trò hỗ trợ.


Tình trạng của vài người này được cải thiện còn có một nguyên nhân quan trọng: Họ đều nhận được sự giúp đỡ từ người thân để khôi phục lại quyền kiểm soát căn bản đối với cuộc sống. Khi nhận thấy cuộc sống trần thế của một con người bình thường được thiết lập lại trật tự, quay trở về quỹ đạo bình thường, họ sẽ tự nhiên buông bỏ sự phụ thuộc vào cảm giác toàn năng.


Cho nên, chúng ta phải hiểu rằng: Làm người không dễ, sống ở đời không dễ; và cảm giác toàn năng khiến mọi thứ trông có vẻ quá giản đơn — điều đó vốn không chân thực.


Giấc mộng "Thiên cổ nhất đế" của Dương Quảng


Ở phần trước, chúng ta thấy có những người sau khi gặp thất bại liền lập tức thoái lùi về sự tự luyến toàn năng nguyên sơ nhất. Vậy có người nào không hề trải qua thất bại, mà ngược lại vì quá đỗi thuận lợi, được thỏa mãn quá mức mà lún sâu vào tự luyến toàn năng hay không?


Theo lý thuyết của Freud, tâm lý con người ngừng phát triển mà dừng lại ở một giai đoạn nào đó, hiện tượng này gọi là "Cố kết" (Fixation). Cố kết sinh ra từ hai nguyên nhân: một là thiếu thốn trầm trọng; hai là thỏa mãn quá mức. Trước đó chúng ta đã bàn về ví dụ thiếu thốn trầm trọng, bây giờ tôi sẽ nói về một ví dụ thỏa mãn quá mức.


Nhân vật chính của ví dụ này chính là vị hoàng đế lẫy lừng: Tùy Dượng Đế Dương Quảng.


Nhắc đến đây, phải giới thiệu một cuốn sách — cuốn Ngồi thiên hạ (坐天下) của nhà sử học Trương Hoành Kiệt. Trong sách có kể câu chuyện về chín vị hoàng đế Trung Hoa, đều là những chất liệu tuyệt vời về tự luyến toàn năng, một trong số đó là Dương Quảng. Các tư liệu dùng trong phần này đều trích từ cuốn sách của Trương Hoành Kiệt.


Không biết ấn tượng trực quan của bạn về Dương Quảng là gì. Trương Hoành Kiệt từng viết: "Dương Quảng là người bị các nhà sử học làm nhục và tổn hại nghiêm trọng nhất từ xưa đến nay". Trong mắt một số sử gia, ông ta gần như có thể xếp ở vị trí "Quán quân bảng xếp hạng kẻ ác cổ kim", trên người tập hợp đầy đủ mọi phẩm chất tà ác nhất của nhân loại, phạm phải mọi tội ác mà con người có thể phạm, chẳng có lấy một điểm tốt.


Trong truyền thuyết dân gian, hình tượng Dương Quảng càng tồi tệ hơn: hôn dung vô đạo, sau khi lên ngôi chỉ biết đắm chìm trong tửu sắc nơi thâm cung; đáng khinh bỉ nhất là việc tư thông với sủng phi của cha khi Tùy Văn Đế hấp hối, rồi sau đó giết cha đoạt ngôi.


Thế nhưng trên thực tế, Dương Quảng lại là một vị đế vương cực kỳ có chí hướng. Giấc mộng của ông là trở thành "Thiên cổ nhất đế" — vị hoàng đế đứng đầu trong số các hoàng đế. Thời nhà Tùy tôn sùng Tần Thủy Hoàng, Hán Vũ Đế và Hán Quang Vũ Đế; còn ông không những muốn vượt qua họ, mà còn hy vọng ánh hào quang của một mình mình phải che lấp tổng hào quang của cả ba vị cộng lại.


Đây chỉ là ảo mộng của một kẻ vĩ cuồng sao? Không hẳn, hoặc nói đúng hơn là không hoàn toàn như vậy. Nếu Dương Quảng băng hà vào năm thứ năm sau khi đăng cơ, giấc mộng này của ông về cơ bản xem như đã thành hiện thực.


Vì sao lại nói như vậy? Chúng ta hãy cùng nhìn lại cuộc đời của Dương Quảng:


Dương Quảng là con trai thứ hai của Tùy Văn Đế Dương Kiên — hoàng đế khai quốc triều Tùy. Ông thiên tư thông minh, tài hoa xuất chúng, dung mạo phi phàm, túc trí đa mưu và cực kỳ kiên nhẫn. Dưới sự mưu tính của mình, ông đã phế truất ngôi thái tử của anh trai Dương Dũng để thay thế. Năm 36 tuổi, Tùy Văn Đế băng hà, ông thuận lợi bước lên ngai vàng.


Trước khi đăng cơ, ông đã bộc lộ năng lực thống trị phi thường: Thống lĩnh 50 vạn đại quân tiêu diệt nước Trần, chính thức chấm dứt cục diện chia cắt Nam Bắc triều kéo dài đằng đẵng. Sau đó, ông làm Tổng quản Giang Nam suốt 10 năm, cai trị vùng Giang Nam vô cùng phồn vinh, nhận được sự tán tụng rộng khắp của thiên hạ.


Trước khi lên ngôi, Dương Quảng đã thực hiện vô số suy tính về cách thức quản lý đất nước. Sau khi tức vị, ông lập tức khởi động hàng loạt kế hoạch vĩ đại:


  1. Mới lên ngôi được 3 tháng, tuyên bố xây dựng Đông Đô Lạc Dương, huy động hàng chục vạn dân phu đào một con hào hộ thành dài hàng ngàn dặm vây quanh thành.


  2. Đặt niên hiệu là "Đại Nghiệp"; năm Đại Nghiệp thứ hai, triệu tập hàng triệu dân phu đến công trường Lạc Dương.


  3. Công trường Lạc Dương khởi công chưa được bao lâu, ông tuyên bố khai đào Đại Vận Hà, tiếp tục điều động thêm hàng triệu dân phu.


  4. Ngay sau đó, ông hạ lệnh đóng vạn chiến thuyền khổng lồ để chuẩn bị cho chuyến nam tuần.


Những đại công trình này, mỗi một hạng mục đều làm rung chuyển cổ kim, vậy mà chỉ trong vòng hai năm Dương Quảng đã cho triển khai toàn bộ. Điều này mang triệu chứng hưng cảm (mania) rõ rệt; may nhờ gia tài đồ sộ mà Tùy Văn Đế để lại nên đại triều Tùy mới đủ sức gánh vác các kế hoạch khổng lồ ấy.


Bên cạnh các đại công trình, trạng thái hưng cảm của Dương Quảng còn thể hiện ở chỗ ông dường như rất đam mê diễn thuyết, thường xuyên triệu tập quần thần mở tiệc nghị sự, thao thao bất tuyệt giảng giải về các ý tưởng chính trị của mình.


Những việc trên Dương Quảng hoàn toàn có thể hoàn thành trong cung điện, nhưng ông không cam tâm giam mình nơi thâm cung sâu thẳm; ông cực kỳ thích xuất hành. Đồng thời, ông tuyệt đối là một kẻ cuồng công việc. Trương Hoành Kiệt nhận định rằng ông hoàn toàn có thể lọt vào danh sách "Những hoàng đế cần chính nhất lịch sử Trung Hoa", thậm chí đứng ở vị trí số một.


Ví dụ, sau chuyến nam tuần, ông lại thân chinh dẫn 50 vạn đại quân xuất tái để phô trương vũ lực trước các dân tộc du mục phương Bắc. Ông đam mê vi hành, thích đến những vùng biên cương xa xôi của đế quốc, từng dẫn mười mấy vạn đại quân băng qua các hẻm núi thuộc dãy Kỳ Liên Sơn ở độ cao 4.000 mét so với mực nước biển.


Cách làm này của Dương Quảng đi ngược lại hoàn toàn với văn hóa truyền thống Trung Hoa. Nho gia cho rằng bậc đế vương phải "ít ham muốn, ít hành động" (quả dục thiếu động), nhưng Dương Quảng lại tràn ngập dục vọng, đầy ắp ý tưởng, liên tục khuấy động phong ba. Văn hóa Nho giáo tương đối hướng nội và khép kín, trong khi Dương Quảng nhiệt huyết và cởi mở. Các nhà Nho vì thế luôn lo sợ rằng dục vọng của hoàng đế là mồi lửa nguy hiểm, có thể thiêu rụi tiền đồ của cả vương triều.


Dục vọng của ông quả thực ngày càng bành trướng không biên giới. Sự theo đuổi đỉnh cao và hoàn mỹ của ông lan tỏa vào từng chi tiết nhỏ: Không có hàng chục món sơn hào hải vị thì không gọi là dùng bữa; không có cung điện che rợp bầu trời thì không thể du ngoạn; không có hàng chục vạn quân hộ giá thì không gọi là xuất tuần...


Càng đạt được cảm giác thỏa mãn tự luyến toàn năng, trăm họ của đế quốc lại càng không gánh vác nổi. Những giấc mộng vĩ đại ấy đều dựa trên sự bóc lột và nô dịch ngày càng gia tăng của tầng lớp quan lại lên đầu người dân; trong mỗi công trình vĩ đại đều có từng lớp từng lớp dân phu phải bỏ mạng.


Thế nhưng nền móng của đế quốc quả thực quá vững chắc, và vận may của Dương Quảng cũng quá lớn. Suốt nhiều năm liền nông nghiệp được mùa lớn, các công trình tiến triển thần tốc. Năm Đại Nghiệp thứ năm là năm thu hoạch rực rỡ của Dương Quảng khi ông vừa tròn 40 tuổi:


  • Tòa thành Lạc Dương huy hoàng tráng lệ được xây xong, ông đặt tên là Đông Kinh.


  • Thư viện quốc gia tàng trữ tới 37 vạn cuốn sách, đạt kỷ lục qua các triều đại.


  • Chế độ khoa cử chính thức được xác lập.


  • Về quân sự, cường địch phương Bắc là Thổ Cốc Hồn bị tiêu diệt.


  • Về kinh tế, Dương Quảng nhiều lần miễn giảm thuế khóa nhưng của cải vẫn đổ về như nước, dân số tăng trưởng với tốc độ chóng mặt; mọi chỉ số đều vượt xa thời kỳ "Trinh Quán chi trị" của Đường Thái Tông sau này.


Nếu dừng tay tại thời điểm đó, dẫu chưa dám chắc là "Thiên cổ nhất đế", nhưng chí ít ông hoàn toàn có thể sánh vai cùng số ít những vị đế vương vĩ đại nhất trong lịch sử.


Thế nhưng, chính vào năm này, ông tuyên bố xuất binh chinh phạt Cao Câu Ly.


Năm Đại Nghiệp thứ tám, đại quân Tùy được chuẩn bị kỹ lưỡng chưa từng thấy chính thức xuất phát, đích thân hoàng đế ngự giá thân chinh. Quân số lên tới 113 vạn người, hàng ngũ kéo dài tới 1.040 dặm, rợp trời cờ hoa rực rỡ và các đội quân nhạc; hơn nữa mỗi đạo quân đều được bố trí sẵn quan chức chuyên tiếp nhận đầu hàng...


Dương Quảng đã chuẩn bị đầy đủ nhất, trong tưởng tượng của ông, một Cao Câu Ly nhỏ bé sẽ không đánh mà hàng, sự việc sẽ dễ dàng hệt như cách ông từng dùng thế sấm sét đè bẹp nước Trần năm xưa. Ông chuẩn bị vô cùng chu đáo cho chiến thắng, nhưng lại hoàn toàn chưa từng nghĩ qua: Nếu thất bại thì sao?


Ông không nghĩ đến điều đó cũng có lý do: Một vị Tùy Đại Đế chưa từng nếm mùi thất bại nay đã thăng hoa thành Thần, mà Thần thì làm sao có thể thất bại được?


Thế nhưng đại quân Tùy quả thực đã thảm bại.


Đòn giáng này đánh trúng khiến Dương Quảng choáng váng; nhưng chỉ nửa tháng sau, ông lấy lại tinh thần và tuyên bố sang năm sẽ tiến hành phạt Cao Câu Ly lần thứ hai, sự chuẩn bị sẽ còn kỹ lưỡng hơn lần trước.


Sinh lực của vương triều Đại Tùy cứ thế bị vắt kiệt. Đầu tiên là nông dân không chịu nổi áp bức lũ lượt khởi nghĩa; đến khi cuộc chinh phạt lần hai sắp sửa thành công thì quý tộc trong triều cũng bắt đầu làm phản. Ông bất đắc dĩ phải hạ lệnh rút quân vào phút chót.


Thế nhưng ngay sau đó, ông lại phát động cuộc chinh phạt Cao Câu Ly lần thứ ba...


Chúng ta hãy thử suy ngẫm một câu hỏi: Lẽ ra Dương Quảng vốn là người anh minh thấu suốt, cớ sao ông lại ra nông nỗi ấy? Tại sao không thể dùng thái độ thực tế đối diện với thất bại trong lần chinh phạt Cao Câu Ly đầu tiên để kịp thời điều chỉnh?


Trương Hoành Kiệt đã đưa ra một lời giải thích rất có sức thuyết phục: Mục tiêu của Dương Quảng là trở thành Thiên cổ nhất đế, thất bại tại Cao Câu Ly đã trực tiếp đập tan giấc mộng này. Nếu Dương Quảng kịp thời điều chỉnh, dẫu lần thứ ba có thất bại thì ông vẫn có khả năng rất lớn giữ được giang sơn; nhưng đó đâu phải là mục tiêu của ông!


Tôi có thể đưa ra lời giải thích ở tầng diện tâm lý học:


Dựa trên những biểu hiện của Dương Quảng, chí ít có thể chẩn đoán ông mắc chứng rối loạn lưỡng cực (hưng cảm - trầm cảm). Trước lần phạt Cao Câu Ly thứ nhất, ông đúng chuẩn là một bệnh nhân hưng cảm: tinh lực vô tận, không biết mệt mỏi. Ban đầu không thấy được phần trầm cảm, nhưng sau khi thất bại lần đầu, nét trầm cảm bắt đầu lộ diện. Sau thất bại lần thứ ba, ông rơi hoàn toàn vào trạng thái trầm cảm suy sụp, không còn cách nào duy trì các chức năng tự thể căn bản nữa.


Đó là cách giải thích từ góc độ tâm thần học, còn chúng ta hoàn toàn có thể sử dụng lý thuyết trong cuốn sách này để diễn giải sâu sắc hơn:


Bản thân Dương Quảng đã mang tính tự luyến tột độ. Từ trước khi làm thái tử, ông đã thích cầm gương đồng ngắm nghía — lấy chiếc gương đồng quý giá chiêm ngưỡng chính mình, cảm thấy người đàn ông trong gương sao mà khôi ngô tuấn tú, hoàn mỹ đến nhường ấy!


Trước khi làm hoàng đế, còn có phụ hoàng Tùy Văn Đế nắm giữ quyền lực lớn hơn, điều đó khiến ông còn biết kiềm chế bản thân, biểu hiện như một người bình thường. Nhưng sau khi đăng cơ, tài hoa xuất chúng cộng với vận may tột bậc, cùng với cơ đồ vững chãi cha ông để lại đã mang đến cho ông sự thỏa mãn tột đỉnh của tự luyến toàn năng. Thế là, ông dần hình thành ảo giác mình là một Vị Thần Toàn Năng.


Tất nhiên, ngay từ đầu đã ôm mộng "Thiên cổ nhất đế", điều đó đồng nghĩa với việc ông muốn làm người đứng đầu trong suốt chiều dài lịch sử Trung Hoa — bản thân điều này đã là một ảo mộng toàn năng đỉnh cao.


Vấn đề kéo theo là: Thần thánh dĩ nhiên không thể thất bại; do đó ông không thể nào chấp nhận sự thật mình đã bại trận ở Cao Câu Ly. Bởi nếu chấp nhận, điều đó đồng nghĩa với việc ông buộc phải thừa nhận một sự thật phũ phàng: Ông không phải là Thần, ông chỉ là một con người bằng xương bằng thịt.


Vì vậy, ông liên tiếp ba lần như một con bạc khát nước dốc toàn lực đánh Cao Câu Ly, thậm chí không tiếc chôn vùi cả vận mệnh vương triều lẫn tính mạng cá nhân. Tất cả chỉ để liều mạng bảo vệ ảo mộng về Vị Thần Toàn Năng của mình.


Dẫu vậy, câu chuyện của Dương Quảng cũng cho thấy cảm giác toàn năng quả thực sở hữu nguồn năng lượng cấp độ bom hạt nhân. Dưới sự thúc đẩy của nó, con người có thể lập nên những chiến công hiển hách, thậm chí tạo nên kỳ tích và thần tích.


Vấn đề cốt lõi là: Khi cảm giác toàn năng này bị đòn đau giáng trả, làm sao để không rơi vào thịnh nộ toàn năng, hoàn toàn bất lực và hoang tưởng bị hại, mà có thể kịp thời điều chỉnh mục tiêu, tiếp tục giữ cho dòng sinh lực này không bị chìm nghỉm biến thành năng lượng chết? Đó chính là câu hỏi mà cuốn sách này cố gắng đi tìm lời giải đáp.


Bạn cũng có thể suy ngẫm về câu hỏi này để tìm ra câu trả lời phù hợp cho cuộc đời mình.


Tôi xin tiết lộ trước một phương thức giải đáp — đó chính là phương thức của vị Hoàng đế La Mã cổ đại Marcus Aurelius. Aurelius là một triết gia thuộc trường phái Khắc kỷ (Stoicism), tác giả cuốn danh tác Trầm tư lục (Meditations), và được xưng tụng là "Hoàng đế triết gia". Vị hoàng đế này đã đặc biệt thuê một người hầu đi theo bên cạnh mình, chỉ để người đó liên tục nói vào tai ông một câu:


"Ngài cũng chỉ là một con người mà thôi."

CHƯƠNG 3: Ý CHÍ VÀ KIỂM SOÁT

CHI PHÍ Ý CHÍ

Làm bất cứ việc gì cũng đều có chi phí, và "chi phí ý chí" là một thuật ngữ phái sinh từ tự luyến toàn năng. Dưới sự chi phối của tự luyến toàn năng, con người ta sẽ cảm thấy việc phát khởi ý chí nhiều lần là một việc có chi phí cực kỳ đắt đỏ, do đó có xu hướng phát ra ý chí càng ít càng tốt, thậm chí chỉ muốn phát ra ý chí đúng một lần là phải giải quyết xong vấn đề.


Lẽ ra, chi phí ý chí là thứ ít giá trị nhất, nhưng mức độ tự luyến toàn năng càng nặng, một người lại càng dễ để tâm đến chi phí ý chí, cuối cùng dẫn đến việc chi phí ý chí trở thành loại chi phí quan trọng nhất trong thế giới tưởng tượng của người đó. Con người so đo tính toán từng li từng tí với số lần phát khởi ý chí, cả ngày giằng co với một chuyện gần như không có chút giá trị nào trong thế giới thực, đánh mất đi sự linh hoạt cùng độ bền bỉ dẻo dai, và cũng rất dễ rơi vào cố chấp, cực đoan.


Cụm từ "chi phí ý chí" được tôi "phát minh" ra trong lúc làm việc nhà vào đợt dịch bệnh.


Ban đầu tôi dự định về quê đón Tết, nhưng sau khi nhận thấy mức độ nghiêm trọng của dịch bệnh, tôi đã hủy kế hoạch về quê và ở lại Quảng Châu ăn Tết một mình. Sau Tết, do tình hình dịch bệnh vẫn căng thẳng, tôi chần chừ mãi không gọi người giúp việc quay lại, vì thế tôi buộc phải tự mình làm đủ mọi việc nhà.


Đã nhiều năm rồi tôi không đụng tay vào việc nhà, nay làm lại, tôi có thể nhìn thấy ảnh hưởng của tự luyến toàn năng lên bản thân ở khắp mọi nơi. Trước đây không nhìn ra là bởi sự quan sát của tôi đối với tự luyến toàn năng chưa đạt đến mức độ tỉ mỉ, chi tiết như hiện tại.


Ví dụ, buổi sáng rửa cốc chén, tôi phải gom những chiếc cốc nằm rải rác khắp nơi trong nhà đem đi rửa. Tôi thường để cốc ở phòng đọc sách, phòng ngủ, thậm chí cả trong nhà vệ sinh; vả lại còn có cốc uống trà, cốc cà phê và cốc đựng các loại đồ uống đặc biệt, nên khi dọn dẹp sẽ có rất nhiều chiếc cốc.


Nếu không dùng dụng cụ hỗ trợ, xét về mặt hiệu suất, tốt nhất là nên chia làm hai lần gom, bởi vì hai bàn tay chỉ có thể cầm được chừng đó chiếc cốc. Nhưng tôi lại luôn muốn gom hết trong một lần, và đó luôn là lựa chọn ưu tiên hàng đầu tuyệt đối trong lòng tôi. Nếu chia làm hai lần, tôi sẽ phải tự điều chỉnh tâm lý, suy nghĩ kỹ càng rồi mới chịu làm như vậy.


Kết quả là, tôi luôn ôm một đống cốc và đĩa trong lòng. Vì sợ chúng rơi vỡ, tôi đành phải bước đi một cách chậm chạp, run rẩy, chênh vênh. Cách này vừa có hiệu suất thấp, lại vừa chẳng dễ chịu gì.


Thế rồi, tai nạn đã liên tục xảy ra: Hai lần làm đổ nước trà ra sàn nhà, và một lần làm rơi vỡ chiếc cốc cà phê tôi rất yêu thích, lại có giá khá đắt.


Những thất bại này, đặc biệt là việc làm vỡ chiếc cốc cà phê kia, đã khiến tôi bắt đầu suy ngẫm về hành vi của chính mình. Lúc này, tôi nghĩ ra cụm từ "chi phí ý chí", và thấy nó có thể đưa ra lời giải thích tuyệt vời cho hành vi này của tôi.


Nếu chỉ xét đến các chi phí như thời gian, hiệu suất và trải nghiệm, lựa chọn tốt nhất của tôi là chia làm hai lần để mang cốc từ khắp các góc phòng về nhà bếp. Có người bạn nói: "Thầy Vũ ơi, thầy có thể lấy một cái rổ/khay để đựng mà". Nghe thì rất hợp lý, nhưng điều đó đồng nghĩa với việc tôi phải xuất phát từ phòng ngủ đi xuống bếp lấy rổ, rồi mới đi thu dọn từng chiếc cốc mang lại, tính ra vẫn tương đương với việc chia làm hai lần hành động.


Bởi vậy, nếu chỉ tính đến các chi phí về thời gian, hiệu suất, trải nghiệm và tiền bạc, cách làm của tôi là hoàn toàn phi lý. Nhưng con người ta làm bất cứ việc gì cũng đều nhằm mưu cầu một lợi ích nào đó. Sở dĩ tôi cố chấp sử dụng phương thức kém hiệu quả ấy, chắc chắn là vì nó mang lại một lợi ích độc đáo riêng biệt.


Nghĩ đến đây ta sẽ thấy rõ lợi ích dễ nhận thấy nhất ở cách làm của tôi là: Trong suốt quá trình thu dọn cốc chén, tôi chỉ phát khởi ý chí đúng một lần.


Do đó có thể nói, nếu xem chi phí ý chí là vô cùng quan trọng, thì hành động của tôi lại trở nên hợp lý. Trong thế giới tưởng tượng nội tâm của tôi, những chi phí như thời gian, hiệu suất, trải nghiệm hay tiền bạc đều không quan trọng bằng chi phí ý chí. Nếu tôi chỉ cần một lần là dọn xong toàn bộ cốc chén, điều đó chứng tỏ sự lợi hại, thậm chí là sự vĩ đại của Vũ Chí Hồng. Còn nếu chia làm hai lần, trông có vẻ hợp lý hơn, nhưng một người vĩ đại như tôi mà lại phải phát khởi ý chí tới hai lần mới hoàn thành một chuyện cỏn con thế này sao — làm sao có thể chấp nhận được!


Cụm từ "chi phí ý chí" có thể bạn chưa từng nghe qua, dù sao nó cũng do tôi khởi xướng, nhưng hiện tượng này lại nhan nhản trong cuộc sống thường ngày. Ví dụ, câu nói điển hình nhất về chi phí ý chí có lẽ là: "Lời này tôi không nói lại lần thứ hai đâu đấy". Vĩ đại như tôi, nhỏ bé như bạn, sao có thể bắt tôi phải nhắc lại một câu nhiều lần? Đến lần thứ hai tôi còn chẳng thèm nói nữa là.


Tôi từng gặp rất nhiều người mang tính tự luyến cực độ. Họ nói ra một câu, nếu bạn không phản hồi ngay lập tức, đôi khi chỉ đơn giản là vì bạn chưa nghe rõ, họ liền nổi trận lôi đình; hơn nữa họ tuyệt đối không chấp nhận bất kỳ lời giải thích nào của bạn, mà chỉ muốn trút bỏ cơn thịnh nộ của mình. Điều này chúng ta đều biết, đó chính là cơn thịnh nộ toàn năng.


Ngược lại, bạn nói chuyện với họ, nói đến hai ba mươi lần họ cũng chẳng nhớ, chẳng để tai. Nếu bạn tỏ thái độ bất mãn, họ sẽ thản nhiên bảo: "Ôi dào, thì bạn cứ nói tiếp đi là được chứ gì".


Những kiểu người như vậy xuất hiện quá phổ biến trong gia đình và xã hội.


Điều này dĩ nhiên không chỉ có ở người bình thường. Trên thực tế, những câu chuyện thảm khốc nhất liên quan đến chi phí ý chí lại xuất hiện ở rất nhiều nhân vật tầm cỡ, chẳng hạn như Hitler hay Muhammad của Khwarazm.


Trước trận Stalingrad, Hitler gần như tính toán không chút sơ hở, nhưng đến trận Stalingrad, ông ta không chấp nhận được sự thật quân Đức đã thảm bại, liên tục tung thêm quân đội vào, cuối cùng biến Stalingrad (nay là Volgograd) thành bãi tha ma chôn vùi lực lượng chủ lực của quân đội Đức. Không dừng lại ở đó, kể từ sau trận này, Hitler hoàn toàn suy sụp, mất đi toàn bộ trí tuệ sáng suốt trước kia. Thậm chí có người còn nghi ngờ liệu có phải Hitler đã bị ám sát và người hiện tại chỉ là kẻ mạo danh hay không.


Theo cách hiểu của tôi, Hitler là người không thể chấp nhận thất bại, và chi phí lớn nhất trong cuộc đời ông ta có lẽ chính là chi phí ý chí. Thất bại tại trận Stalingrad đã phá vỡ hoàn toàn sự tự luyến của ông ta, đập tan ý chí của ông ta, từ đó khiến ông ta đánh mất sạch sinh lực và trí tuệ.


Cái tên Muhammad (Ala ad-Din Muhammad II) có thể nhiều người chưa nghe qua, nhưng ông ta gắn liền với một câu chuyện ngụ ngôn nổi tiếng: "Sứ giả của xứ Khwarazm".


Muhammad là một vị vua có thật trong lịch sử của đế quốc Khwarazm. Ông ta là một kiêu hùng của một thời đại, từng mở mang bờ cõi cho đất nước, biểu hiện lúc bấy giờ hoàn toàn xứng danh anh minh thần võ.


Thành Cát Tư Hãn từng cử một đoàn thương buôn đến giao thương với Khwarazm, nhưng không hiểu vì lý do gì đã đắc tội với Muhammad. Thế là, Muhammad hạ lệnh tàn sát toàn bộ đoàn thương buôn Mông Cổ quy mô lớn này, hơn nữa sau đó còn kiêu ngạo từ chối mọi sự thương lượng, đàm phán.


Thành Cát Tư Hãn nổi trận lôi đình, bèn điều động một đội quân Mông Cổ hàng vạn binh lính đến báo thù. Muhammad đích thân dẫn quân nghênh chiến, hơn nữa binh lực của Khwarazm lúc đó còn chiếm ưu thế. Trận chiến diễn ra vô cùng khốc liệt, và cuối cùng quân đội Mông Cổ giành chiến thắng.


Sau thất bại này, Muhammad từ một vị đế vương anh minh thần võ bỗng chốc biến thành một kẻ điên khùng như mắc bệnh tâm thần. Ông ta tháo chạy ra tít tận hậu phương xa xôi, hơn nữa chỉ muốn nghe tin tốt, cự tuyệt mọi tin xấu. Những sứ giả báo tin vui thì được ông ban thưởng; còn những sứ giả mang tin dữ về thì ông lập tức hạ lệnh ném vào chuồng cho hổ ăn thịt.


Những kiêu hùng như Hitler và Muhammad vốn dĩ luôn bách chiến bách thắng, nhưng chỉ sau một trận đại bại lại hoàn toàn gục ngã, không gượng dậy nổi.


Có thể thấy, đối với họ, chi phí lớn nhất chính là chi phí ý chí. Trong những sự việc trọng đại nhất, họ chỉ có thể phát khởi ý chí đúng một lần duy nhất; việc phát khởi ý chí mà không thành công là điều họ hoàn toàn không thể chịu đựng nổi. Vì vậy, loại chi phí này đắt đỏ hơn nhiều so với các chi phí về thời gian, tiền bạc, trải nghiệm hay hiệu suất.


Đối với những người bị tự luyến toàn năng chi phối triệt để, những nội dung trên có lẽ không giúp ích được gì. Đầu óc họ có thể hiểu ra đôi chút, nhưng cũng có thể ngay cả lý trí của họ cũng cự tuyệt tiếp nhận đạo lý trong bài viết này.


Thế nhưng, nếu mức độ tự luyến toàn năng của bạn không quá nặng nề, thì nội dung phần này có thể sẽ giúp ích cho bạn. Khi hiểu được khái niệm "chi phí ý chí", có thể bạn sẽ bật cười. Chi phí ý chí thực ra là thứ chẳng có chút ý nghĩa thực tế nào cả. Một lần không xong thì tôi thử hai lần; hai lần không được thì tôi phát khởi ý chí nhiều lần, thế là xong chuyện.


Thời học đại học, tôi từng đi làm thêm, theo chân một ông chủ đi phát tờ rơi quảng cáo. Ông chủ này là một người vô cùng kiên trì bền bỉ khi làm việc, ý chí cực kỳ mạnh mẽ. Câu chuyện ông thích kể nhất là để giành được hai vị trí quảng cáo ở ga tàu hỏa Bắc Kinh, ông đã tìm đến gặp vị ga trưởng hơn 40 lần, cuối cùng mới toại nguyện.


Không chỉ những việc mang lại lợi ích thực tế to lớn như vậy mới đòi hỏi chúng ta phải phát khởi ý chí nhiều lần, mà rất nhiều việc trong đời đều cần phải làm như thế.


Một tài khoản Weibo tên là "Ngôi nhà ánh dương của Hạ Ngữ" từng chia sẻ một câu chuyện nhỏ: Cô học làm bánh bao qua video, lần đầu làm không được khéo lắm, lần thứ hai thì rất thành công; học làm bánh ngọt, lần đầu thất bại, lần thứ hai thành công.


Cô chia sẻ rằng trước đây bản thân quá tự luyến, không chịu thử đi thử lại nhiều lần, bởi vì sau khi thất bại sẽ nảy sinh cảm giác tự luyến bị tổn thương sâu sắc, rồi quay ra chỉ trích bản thân dữ dội. Nhưng giờ đây, thất bại đơn thuần chỉ là thất bại, cô không còn tấn công bản thân một cách khắt khe nữa mà biết tự vỗ về, đồng thời nhìn vào thực tế khách quan để đúc rút nguyên nhân, sau đó tiếp tục thử lại — thế là ổn.


Có lẽ, chúng ta học bất cứ điều gì cũng đều cần như vậy, đặc biệt là những người chưa có gì trong tay, chẳng hạn như rất nhiều bạn trẻ. Bởi vì khi bạn không bận tâm đến chi phí ý chí, bạn có thể liên tục bỏ ra chi phí ý chí; nó có thể là thứ được để tâm nhất trong thế giới tưởng tượng nội tâm của một số người, nhưng trong thế giới thực tế bên ngoài, nó lại chẳng hề quan trọng. Khi bạn làm được điều đó, bạn có thể đổi lấy những lợi ích thiết thực của thế giới thực như hiệu suất, thành quả và lợi ích cụ thể.


KIỂM SOÁT NHỮNG GÌ BẠN CÓ THỂ KIỂM SOÁT

Trong bối cảnh đại dịch virus corona hoành hành dữ dội, liệu một người có thể sống yên ổn, thậm chí cảm thấy hạnh phúc hay không?


Trong khoảng thời gian này, tôi thường nhớ tới một câu triết lý của nhà triết học La Mã cổ đại Epictetus:


"Cuộc đời tựa một bữa tiệc, hành xử cần phải thong dong."

Epictetus vốn là nô lệ của một quý tộc La Mã cổ đại. Thể xác ông gầy yếu, một bên chân bị tật — có thể do di chứng bại liệt từ nhỏ, hoặc cũng có thể do từng bị chủ nhân ngược đãi tàn nhẫn; thế nhưng ông chưa bao giờ oán trời trách người. Cả đời ông sống thanh bần, cư ngụ lâu dài trong một căn phòng nhỏ tuềnh toàng, chỉ có một chiếc giường, một manh chiếu, một ngọn đèn, và cửa phòng không bao giờ khóa.


Hoàng đế La Mã Marcus Aurelius luôn tự nhận mình là học trò của Epictetus. Ông lấy thầy làm tấm gương mẫu mực để định nghĩa thế nào là một "người theo chủ nghĩa Khắc kỷ":


Dẫu mang bệnh tật trong mình, dẫu ở trong cảnh ngộ hiểm nghèo, dẫu hơi tàn thở dốc, dẫu bị lưu đày nơi đất khách quê người hay bị bủa vây bởi những lời lẽ ác độc, người đó vẫn cảm thấy hạnh phúc. Người đó khao khát được đồng tâm với thần linh, không bao giờ oán trời trách người, không bao giờ cảm thấy tuyệt vọng, không bao giờ chống lại ý muốn của thần linh, và không bao giờ cảm thấy phẫn nộ hay đố kỵ.

Muốn có được hạnh phúc và tự do, con người bắt buộc phải thấu hiểu một đạo lý: Có những việc tự chúng ta có thể kiểm soát được, nhưng có những việc chúng ta hoàn toàn không thể kiểm soát. Chỉ khi nhìn thẳng vào nguyên tắc căn bản này, và học được cách phân biệt rõ đâu là việc bạn có thể kiểm soát, đâu là việc bạn không thể kiểm soát, bạn mới có thể sở hữu được sự bình an nội tại và hiệu suất ở thế giới bên ngoài.


Nếu một người chỉ tìm kiếm cái "tốt lành" và lợi ích cao nhất của mình trong phạm vi bản thân có đủ năng lực thực hiện và không bị cản trở, người đó sẽ đạt được sự tự do, thanh thản, hạnh phúc, bình an, cao thượng và thuần khiết. Người đó sẽ biết ơn thần linh vì thành tựu của vạn vật muôn loài, và không bao giờ bới lông tìm vết đối với bất cứ điều gì.


Ở bất kỳ thời điểm nào, chúng ta cũng luôn có không gian để lựa chọn. Bất cứ lúc nào, bạn cũng có thể lựa chọn hành vi của mình hướng về phía mà bạn cho là "tốt đẹp". Cho dù phải đối diện với cái chết, ta cũng có thể lựa chọn đối mặt một cách thong dong, thanh nhã.


CÁI BẪY ĐA CẤP

Tôi nghĩ có rất nhiều người từng trải qua các vụ lừa đảo đa cấp (kinh doanh đa cấp biến tướng / mô hình kim tự tháp), hoặc là đích thân trải nghiệm, hoặc là có người thân quen bị cuốn vào.


Trước hết, hãy kể về những câu chuyện đa cấp mà chính tôi từng trải qua.


Lần thứ nhất là thời tôi còn học đại học. Khi đang đợi xe buýt ở trạm xe thuộc Đại học Khoa học Kỹ thuật Bắc Kinh, tôi bị một ông chú kéo vào sảnh của một tòa nhà lớn ngay bên cạnh, lần đầu tiên được chứng kiến tận mắt một hiện trường bán hàng đa cấp. Toàn bộ hội trường có tới hàng trăm người, người dẫn chương trình gào thét, kích động đám đông như thể vừa được tiêm máu gà.


Một tiết mục khiến tôi ấn tượng sâu sắc là người dẫn chương trình hét lớn: "Xin mời anh chàng đẹp trai XX lên sân khấu!", rồi một gã trông chẳng hề đẹp trai chút nào bước lên. Người dẫn chương trình lại hô: "Xin mời mỹ nhân XX lên sân khấu!", lại một cô gái có nhan sắc hết sức bình thường bước lên. Ông ta kêu gọi mọi người hãy dành sự ủng hộ cho hai người họ, và toàn bộ hội trường vỗ tay nhiệt liệt. Tôi thực sự không chịu nổi nữa, bèn cười phá lên mấy tiếng, rồi đứng dậy bỏ đi.


Tôi rất hiếm khi có dịp cười sảng khoái như vậy, phải cảm ơn sự nực cười vô lý này đã cho tôi cơ hội đó. Tiếng cười của tôi khiến những người xung quanh vô cùng kinh ngạc; họ nhìn tôi như nhìn một quái vật, có lẽ vì hàng trăm người có mặt ở đó đều đang hướng về một hướng, còn trơ trọi một mình tôi lại quay ngoắt về hướng ngược lại.


Cần phải giải thích thêm rằng tôi thực sự không hề kỳ thị ngoại hình; nếu có kỳ thị thì người đầu tiên phải là chính tôi, bởi xưa nay tôi chưa bao giờ thấy mình đẹp trai cả.


Lần thứ hai xảy ra tại Trung tâm Sách Quảng Châu. Một người đàn ông bỗng nhiên gọi đúng tên tôi. Khi đó tôi vẫn là người vô danh, còn anh ta lại biết tôi là phóng viên của tờ Quảng Châu Nhật Báo và tốt nghiệp Đại học Bắc Kinh, do đó tôi dành cho anh ta một sự tin tưởng căn bản. Anh ta nói muốn dẫn tôi đi làm quen với vài người bạn, trong đó có một vị sư huynh cùng trường Đại học Bắc Kinh, cũng là bậc tiền bối trong ngành truyền thông. Tôi có chút tò mò nên đã đi, và quả đúng là như vậy.


Sau đó suốt nhiều tuần liền, vào một buổi tối cố định trong tuần, mọi người đều tụ tập chơi trò chơi thẻ bài (board game).


Đến tuần thứ năm, trước khi chơi, vị tiền bối ngành truyền thông nọ bảo: "Để tôi chia sẻ một chút nội dung trước nhé". Điều anh ta nói chính là về mô hình đa cấp. Tôi vừa nghe được vài câu liền đứng dậy bỏ về ngay, họ muốn giữ cũng không giữ nổi.


Về sau, họ liên tục gọi điện cho tôi, cuộc gọi cuối cùng là người sư huynh kia nói chuyện với tôi. Tôi hỏi anh: "Em chơi game khá giỏi đúng không?". Anh ấy đáp: "Đúng". Tôi hỏi tiếp: "Em tốt nghiệp khoa Tâm lý học Đại học Bắc Kinh, vậy cũng xem như đã bộc lộ thực lực của mình rồi đúng không?". Anh ấy đáp: "Đúng". Sau đó tôi bảo: "Vậy anh không sợ em sẽ đập tan cái nhóm đa cấp này của anh à?". Kể từ đó, họ không bao giờ liên lạc với tôi nữa.


Lần thứ ba là giúp một cô gái trẻ, chị họ của cô ấy bị lừa vào một hang ổ đa cấp. Lúc đó, tôi rủ thêm phóng viên của tòa soạn cùng đi, lại có cả xe tác nghiệp của cơ quan, đội hình rầm rộ nên đã thuận lợi giải cứu được người chị họ. Nhưng vừa bước chân ra ngoài, cô ta liền oán trách chúng tôi đã phá vỡ giấc mộng làm giàu của cô ấy.


Lần thứ tư là một thanh niên trong làng tôi, vốn rất khôn ngoan tháo vát, nhưng lại bị lừa tham gia đường dây đa cấp. Bố mẹ cậu ấy tìm đến tôi nhờ tư vấn, tôi đưa ra cho họ một vài lời khuyên. Về sau, cậu thanh niên được giải cứu thành công. Trong suốt một thời gian dài, cậu ta cũng liên tục trách móc người nhà, khăng khăng tin rằng mô hình đa cấp đó có thể giúp cậu phát tài.


Lần thứ năm mang lại đả kích rất lớn đối với tôi: Một người bạn mà tôi vô cùng kính trọng bị kéo vào một đại bản doanh đa cấp ở Hải Nam. Nơi đó quy tụ tới hàng vạn người, và anh ấy được tôn kính như một bậc "quốc sư". Anh ấy hoàn toàn tự do đi lại, hơn nữa còn lôi kéo không ít bạn bè, người thân tham gia; ai nấy đều hết mực tin tưởng anh.


Chúng tôi cùng ngồi tranh luận với anh, mọi lỗ hổng logic đều bị chúng tôi bẻ gãy. Ngay khoảnh khắc luận điểm cuối cùng bị bác bỏ hoàn toàn, trong mắt anh đột nhiên lóe lên một tia sáng kỳ dị, anh nói bản thân tin rằng việc này là hoàn toàn xứng đáng, bởi vì hệ thống (đa cấp) này đã thỏa mãn mọi nhu cầu của anh.


Ánh sáng kỳ lạ trong mắt anh khiến tôi không thể nào quên. Bình thường thú cưng nhà tôi rất quấn quýt anh, nhưng lúc đó cả mèo lẫn chim đều tránh xa anh.


Vài năm sau, người bạn này rời khỏi tổ chức đa cấp, mái tóc vốn đen nhánh của anh nay đã bạc đi rất nhiều.


Trên đây là một vài ví dụ thực tế về đa cấp mà tôi từng gặp trong cuộc sống, còn trong quá trình tham vấn tâm lý thì tôi gặp và nghe thấy nhiều hơn thế. Một câu chuyện kinh điển là có chàng trai trẻ từng nói với tôi: "Thầy Vũ ơi, hiệu quả tư vấn của thầy kém quá, chủ yếu là quá chậm chạp. Em vừa tham gia một khóa học 3 ngày, thu hoạch cực kỳ lớn, em cảm thấy mình đã hoàn toàn được chữa lành rồi".


Tôi bảo cậu ấy kể chi tiết hơn, và nhận ra 3 ngày đó thực chất là một khóa "giáo dục lòng biết ơn" — tức là biết ơn cha mẹ, và bộc lộ sự cắn rứt, áy náy sâu sắc với đấng sinh thành. Khi kể lại phần này, cậu khóc lóc thảm thiết, cảm xúc dâng trào tột độ. Thẳng thắn mà nói, có một khoảnh khắc khi thấy cảm xúc của cậu ấy chân thành và mãnh liệt đến thế, tôi thực sự đã nghĩ rằng khóa học giáo dục lòng biết ơn này khá tuyệt vời.


Thế nhưng, đợi đến khi cơn sóng cảm xúc cuộn trào được giải tỏa hết, cậu kể tiếp những diễn biến sau đó thì tôi mới phát hiện ra vấn đề lớn — cậu đã bị bên vận hành khóa học lôi kéo đi làm đa cấp.


Chứng kiến quá nhiều câu chuyện về đa cấp, ta có thể đúc kết ra một số logic tâm lý phổ biến trong mô hình này: Hư cấu sự hoàn mỹ, Cái bẫy đạo đức và Logic thần thánh. Dưới đây, tôi xin lần lượt phân tích từng điều một.


1. Hư cấu sự hoàn mỹ

Hư cấu sự hoàn mỹ là việc tôi vẽ ra cho bạn một bức tranh viễn cảnh hoàn hảo, khiến bạn tin rằng nó hoàn toàn có thể đạt được, hơn nữa lại đạt được rất nhanh chóng.


Người bạn mà tôi kính trọng kia tham gia vào một đường dây đa cấp tài chính. Logic cơ bản đại loại là: Ban đầu bạn đóng vào một khoản tiền nhất định để tham gia, sau đó đi lôi kéo ít nhất 3 đến 4 tuyến dưới, những người này lại tiếp tục lôi kéo thêm các tuyến dưới khác cho bạn. Đợi đến khi mạng lưới tuyến dưới của bạn phát triển được vài tầng, bạn sẽ kiếm được một số tiền khổng lồ. Tóm lại, số tiền bạn bỏ ra ban đầu không đáng là bao, nhưng khoản tiền thu về đối với một người bình thường là cực kỳ kinh ngạc — ít nhất cũng lên tới hàng chục triệu tệ.


Phát triển tuyến dưới là chiêu bài cơ bản của mô hình đa cấp, nhưng mấu chốt quan trọng nhất là thuyết phục được bạn gia nhập, tức là bạn phải trở thành tuyến dưới của một ai đó trước đã. Cho nên bạn ngỡ rằng mình đang học được bí quyết kiếm tiền, nhưng thực chất chính bạn lại là "bí quyết kiếm tiền" của người khác.


Để dụ dỗ bạn tham gia ngay từ đầu, những kẻ lừa đảo sẽ dùng đủ mọi thủ đoạn: Phổ biến nhất là nhờ người nổi tiếng hay quan chức đứng ra bảo chứng uy tín; hoặc tạo dựng những tấm gương thành công hào nhoáng trông có vẻ hoàn mỹ... Giống như người bạn của tôi, tài liệu anh đưa cho chúng tôi xem có ghi rõ một vị lãnh đạo cấp phó quốc gia ủng hộ dự án này. Chúng tôi lập tức tra cứu trên Baidu nhưng chẳng thấy thông tin nào liên quan, thế nên tài liệu này nhiều khả năng chỉ là do đường dây đa cấp tự bịa đặt ra.


Trong phần Lời mở đầu, tôi từng nói nội dung phần thứ hai là "Đi từ chiều kích tự luyến sang chiều kích quan hệ"; và hư cấu sự hoàn mỹ chính là cách làm điển hình của chiều kích tự luyến. Chiều kích tự luyến theo đuổi những thứ như quyền lực, sức mạnh hay sự thành công; còn chiêu bài hư cấu sự hoàn mỹ nói cho bạn biết rằng có một phương pháp có thể giúp bạn bước lên đỉnh cao danh vọng. Phương pháp này rõ ràng ngay trước mắt, có công thức bài bản để làm theo, và mấu chốt quan trọng là nó diễn ra cực kỳ nhanh chóng.


Thành công là điều mà vô số người khao khát; thế nhưng liệu trên đời có thực sự tồn tại một công thức thành công rõ ràng đến thế hay không? Nếu quả thực như vậy thì thiên hạ ai ai cũng đều đã thành công cả rồi.


Hơn nữa, ngay cả khi sự thành công có dấu vết để lần theo, thậm chí có quy trình để áp dụng, thì con đường đó cũng không thể nào nóng vội được. Cụm từ "hư cấu sự hoàn mỹ" ban đầu tôi định dùng từ "nóng vội muốn thành công", nhưng thấy nó chưa diễn tả hết và chưa trúng ý nên không dùng. Dẫu vậy, hư cấu sự hoàn mỹ vẫn mang hàm ý nôn nóng: Nếu bảo rằng 10 năm sau bạn mới có thể thành công, ước tính sẽ có vô số người không đủ kiên nhẫn để chờ đợi. Dưới sự thôi thúc của tự luyến toàn năng, con người luôn kỳ vọng nhận được sự phản hồi tích cực ngay tức khắc; bởi thế kẻ lừa đảo sẽ đánh trúng nhu cầu tưởng tượng tự luyến này mà rêu rao rằng thành công luôn có đường tắt.


2. Cái bẫy đạo đức

Quy tắc cơ bản của đa cấp cực kỳ đơn giản: phát triển tuyến dưới. Thế nhưng, phàm là người có lý trí và lương tâm đạo đức, ai cũng sẽ nghĩ: "Tôi kiếm tiền từ tuyến dưới, vậy thì tầng tuyến dưới thứ nhất hay thứ hai ở phía dưới cùng, họ sẽ kiếm tiền từ ai?".


Đạo đức thuộc về chiều kích quan hệ. Nếu bạn có lương tâm, ngay từ đầu đã suy luận ra rằng một hai tầng tuyến dưới đáy cùng rất có thể sẽ là những người bị bóc lột cùng cực, thì bạn sẽ không thể nào nhẫn tâm làm việc này.


Những kẻ vận hành đa cấp sẽ bóp méo khái niệm này. Chúng ráo riết tuyên truyền rằng: "Các bạn đi lôi kéo người thân, bạn bè làm tuyến dưới không phải là hại họ, không phải bóc lột họ, mà là đang giúp đỡ họ, là tình yêu thương dành cho họ".


Xuất phát từ tình cảm và sự tin cậy lẫn nhau, khi chúng ta lừa người thân bạn bè vào bẫy đa cấp để làm tuyến dưới của mình, việc này không hề khó thực hiện; nhưng chúng ta có lương tâm, nên ta không đành lòng làm việc đó.


Vì vậy, mấu chốt của đa cấp là biến bóc lột thành yêu thương, biến lừa gạt thành giúp đỡ.


Dùng chiều kích tự luyến và chiều kích quan hệ để phân tích sẽ rất dễ hiểu: Kiếm tiền thuộc về chiều kích tự luyến; đạo đức và tình cảm thuộc về chiều kích quan hệ. Việc phát triển người thân, bạn bè làm tuyến dưới cho mình thực chất là mượn danh nghĩa đạo đức và tình cảm ở chiều kích quan hệ để phục vụ cho mục đích của chiều kích tự luyến. Việc bóp méo những toan tính của chiều kích tự luyến thành những điều cao đẹp của chiều kích quan hệ chính là cái bẫy đạo đức cực kỳ phổ biến, và đây cũng là nguyên nhân quan trọng khiến đa cấp bùng phát dữ dội. Về sau tôi sẽ tiếp tục phân tích sâu hơn logic này.


Điều này cũng xuất phát từ việc những người đắm chìm trong tự luyến toàn năng có cảm nhận chủ yếu xoay quanh sức mạnh, quyền lực và sự cao thấp ở chiều kích tự luyến; còn tình cảm ở chiều kích quan hệ thì họ chỉ dựa vào tưởng tượng chứ không thể cảm nhận và trải nghiệm một cách sâu sắc. Do đó, một lương tâm thực sự — vốn chỉ có thể được nuôi dưỡng từ tình cảm chân thật — lại không phát triển toàn diện, và vì thế không đủ sức kiềm chế hành vi lừa dối người thân của họ.


3. Logic thần thánh

Có quá nhiều chuyện con người bằng xương bằng thịt không thể làm nổi, nhưng khi bạn ngỡ mình là Thần, bạn sẽ tin rằng mình có thể làm được tất cả. Lúc này, thứ logic mà bạn nắm giữ chính là "logic thần thánh".


Tôi từng có nhiều lần tranh luận với những người tham gia mạng lưới đa cấp. Tôi tự thấy mình có năng lực tư duy logic khá tốt, đồng thời cũng bởi vì logic của đa cấp thực sự sai lầm, nên khi tranh luận tôi luôn là người thắng thế. Thế nhưng vào lúc đó, những người lún sâu vào đa cấp sẽ lập tức đem thứ logic thần thánh ra để phản bác lại tôi.


Ví dụ, người bạn mà tôi rất kính trọng kia, khi bị tôi bác bỏ hoàn toàn mọi luận điểm, trong mắt anh bỗng lóe lên tia sáng kỳ lạ và thốt ra lời từ tận đáy lòng: "Hệ thống này có thể thỏa mãn mọi nhu cầu của tôi". Nếu chúng ta chỉ bàn về chuyện kiếm tiền, đây là một chuỗi logic rất rõ ràng, có thể chứng minh tường minh bằng toán học và lý lẽ thông thường. Ban đầu chúng tôi đang bàn về việc liệu logic 'tất cả mọi người tham gia đa cấp đều kiếm được tiền' có đứng vững được hay không, nhưng sau khi bị bẻ gãy luận điểm, câu chốt hạ của anh lại là "Hệ thống thỏa mãn mọi nhu cầu của tôi" — đến nước này thì không thể nào tranh luận tiếp được nữa.


Về sau tôi mới hiểu ra: Một nhu cầu tối quan trọng mà anh nhắc đến chính là việc anh trở thành bậc "quốc sư" của cả một hệ thống hàng vạn người, được tất cả mọi người cung kính, tôn sùng hết mực. Ngày thường anh là người vô cùng khiêm nhường, nhưng tận sâu trong xương tủy lại mang cảm giác toàn năng cực kỳ cao độ; anh khao khát được cả thế giới công nhận về mặt học vấn lẫn tu hành. Xã hội bên ngoài không thể thỏa mãn nhu cầu này của anh, nhưng hệ thống đa cấp đó thì có thể.


Lại có vài lần khác, khi tôi tranh luận với những người tham gia đa cấp, họ nói: "Tôi khác với bọn họ, tôi tin chắc tôi sẽ thành công". Niềm tin mãnh liệt rằng bản thân chắc chắn sẽ thành công tuyệt đối cũng chính là thứ logic thần thánh của tự luyến toàn năng. Một khi một người đã khăng khăng tin vào điều đó thì thực sự không thể nào tranh luận được nữa.


Nếu bạn có người thân vướng vào các tổ chức đa cấp, bạn sẽ cảm nhận rất rõ thứ logic thần thánh này. Bạn chỉ cho họ thấy những bi kịch của biết bao người sau khi lún sâu vào đa cấp, phần lớn họ sẽ gạt đi: "Tôi không giống họ, chúng tôi cũng không giống họ". Nhưng rốt cuộc không giống ở điểm nào? Họ hoàn toàn không nói ra được, nhưng trong thâm tâm họ cứ mặc định là không giống.


Kẻ lừa đảo dĩ nhiên đáng căm phẫn, nhưng sau khi đối thoại với nhiều người bị lôi kéo vào các tổ chức đa cấp, tôi nhận ra: Sở dĩ đa cấp có thể hoành hành trong xã hội không chỉ vì những kẻ lừa đảo quá tinh vi, mà còn bởi vì tận sâu trong thâm tâm những người bị lừa vốn dĩ đã có sẵn niềm tin vào những thứ logic ấy.


CHƯƠNG 4: LOGIC THÁNH NHÂN

THÂN PHẬN THÁNH NHÂN BỊ ÁP ĐẶT

Có một nhóm từ ngữ mang tính tương đồng mà tôi sẽ bàn luận trong cuốn sách này — Thánh nhân, Thánh mẫu và Thánh anh. Trong chương này, trước hết chúng ta sẽ thảo luận về Thánh nhân và Thánh anh; phần sau sẽ bàn về Thánh mẫu, cũng như "đứa trẻ to xác" (cự anh) vốn là mảnh ghép tuyệt phối với Thánh mẫu.


Hiện tượng Thánh mẫu và đứa trẻ to xác nhan nhản khắp nơi, còn Thánh nhân và Thánh anh lại là những hiện tượng tương đối cực đoan.


Thánh nhân là gì?


Trong nền văn hóa của chúng ta, sự kỳ vọng đối với một thánh nhân là: họ phải tạo ra những cống hiến vĩ đại, và điều quan trọng — thậm chí còn quan trọng hơn thế nữa — là họ không được có tư dục.


Một ví dụ vô cùng kinh điển trong lịch sử của chúng ta là Vương Mãng. Nhắc đến đây, tôi xin một lần nữa giới thiệu cuốn sách Ngồi thiên hạ của Trương Hoành Kiệt, trong đó cũng kể về vị hoàng đế kỳ lạ này. Thoạt đầu ông đóng vai một nhà đạo đức học, làm tròn vai cho đến mức đạt tới cảnh giới của một bậc thánh nhân, rồi sau đó được bách tính, quan lại cùng giới trí thức đồng lòng suy tôn lên ngai vàng hoàng đế. Thế nhưng, khi ông muốn cưỡng ép áp đặt những tiêu chuẩn đạo đức ấy lên toàn xã hội, nó đã dẫn đến những hậu quả mang tính thảm họa.


Nhìn bề ngoài, điều này dường như ngụ ý rằng sơ tâm của Vương Mãng rất tốt đẹp, chỉ là toàn xã hội chưa sẵn sàng đón nhận các tiêu chuẩn đạo đức của ông mà thôi. Kỳ thực hoàn toàn không phải như vậy. Sau khi làm hoàng đế, ngoại trừ việc rao giảng đạo đức, Vương Mãng ở rất nhiều phương diện khác lại vô cùng hôn dung và thiếu sáng suốt. Nói theo thuật ngữ phân tâm học, dường như ông đã phong bế hoàn toàn trí thông minh — một chức năng tự thể (ego function) vô cùng trọng yếu.


Quá chú trọng đạo đức, con người ta rất dễ phong bế trí thông minh của chính mình. Khi đọc câu chuyện về Vương Mãng, tôi luôn có cảm giác này. Thậm chí khi tự nhìn lại bản thân và những người xung quanh cũng vậy, không biết bạn có cảm nhận tương tự hay không.


Tuy nhiên, trên con đường theo đuổi việc đắc đạo thành thánh, cũng có những nhân vật kiệt xuất toàn diện về mọi mặt, người đó chính là nhân vật huyền thoại thời nhà Minh: Vương Dương Minh. Về mặt tư tưởng, quân sự, chính trị cho đến đấu tranh quyền lực, ông đều là nhân vật đỉnh cao.


Từ nhỏ, chí hướng của Vương Dương Minh đã là làm thánh nhân. Khi bị đày đến Long Trường (Quý Châu), trong lúc bế quan trong một cỗ quan tài bằng đá, ông đã ngộ đạo. Ông nhìn thấu một cách sâu sắc rằng "thiên lý" và "nhân dục" vốn luôn đối lập trong Tống Minh Lý học thực chất lại là cùng một thứ: Thiên lý tức nhân dục, nhân dục tức thiên lý, tất cả đều là sự diễn hóa của lòng người; từ đó ông đề xướng nên "Tâm học".


"Tồn thiên lý, diệt nhân dục" (Giữ đạo trời, diệt lòng dục) — câu nói này trong Tống Minh Lý học chắc hẳn bạn đã từng nghe qua. Ấn tượng trực quan mà câu nói này mang lại rất dễ khiến người ta nghĩ rằng phải "tiêu diệt" sạch ham muốn của bản thân để tuân theo tiêu chuẩn cao vời của "thiên lý", tựa như việc bài xích mọi dục vọng của con người. Trong khi đó, những người ủng hộ Tống Minh Lý học lại phân trần rằng cách hiểu này không đúng, bởi trong cách diễn giải của các nhà lý học, họ nhấn mạnh việc không buông thả dục vọng. Ví dụ: Bạn cần phải ăn no, đó là "thiên lý"; nhưng nếu khao khát ăn uống sơn hào hải vị xa hoa, cầu kỳ thì đó là "nhân dục". Nếu phóng túng "nhân dục", con người sẽ chìm đắm trong sự truy cầu dục vọng vô tận; còn nếu tuân theo "thiên lý" thì đó là điều phải lẽ.


Dùng thuật ngữ tâm lý học để diễn giải: Ăn no là "nhu cầu" (need), còn ăn uống cầu kỳ, tinh mỹ là "dục vọng" (desire). Khi thứ ta truy cầu là dục vọng, một phần quan trọng trong đó là sự gán ghép ý nghĩa tâm lý, lúc này rất dễ thoát ly khỏi nhu cầu thực tế. Chẳng hạn, "nhu cầu" chỉ là bạn cần ăn một chiếc bánh bao, nhưng "dục vọng" lại rất dễ biến thành bạn muốn ăn "chiếc bánh bao ngon nhất trần đời" — mọi chuyện lập tức trở nên hoàn toàn khác biệt.


Đến đây, chúng ta có thể nhận thấy: "Nhu cầu" tương ứng với tính thực tế, còn "dục vọng" lại tương ứng với sự tưởng tượng — một sự tưởng tượng rất dễ rơi vào cấp độ tự luyến toàn năng.


Lẽ ra cách giải thích của Tống Minh Lý học rất trung dung và có lý, nhưng chữ "diệt" quả thực là một cách biểu đạt vô cùng cực đoan.


Hơn nữa, trong thế giới tưởng tượng của người Trung Quốc, người ta cũng thường gán cho những bậc thánh nhân đã tiêu diệt được dục vọng một thứ tưởng tượng về sự toàn năng. Ai diệt được càng nhiều dục vọng thì người đó lại càng lợi hại. Ví dụ, trong tiểu thuyết Thiên Long Bát Bộ của Kim Dung, người có võ công thâm hậu nhất chính là vị Tảo Địa Tăng (nhà sư quét rác) ở chùa Thiếu Lâm. Thuở nhỏ khi xem phim kiếm hiệp, tôi thấy rất hay xuất hiện những danh xưng như "Thiên Lung Địa Ách" (trời điếc đất câm), "Khô Vinh đại sư",... những nhân vật đã triệt tiêu dục vọng, thậm chí cả chức năng cơ thể này, ai nấy đều lợi hại khôn lường.


Thế nhưng đó có lẽ chỉ là sự tưởng tượng; còn trong hiện thực, phải là mẫu người thống hợp được cả thiên lý lẫn nhân dục lại làm một như Vương Dương Minh mới thực sự xứng danh lợi hại.


Những điều này có mối liên hệ gì với người bình thường chúng ta?


Bạn có thể tự hỏi chính mình: Bạn đã từng đè nén dục vọng của bản thân chưa? Khi nhìn thấy những người mà bạn ngưỡng mộ trong xã hội, liệu bạn có kỳ vọng rằng họ là những người không hề có tư dục hay không?


Là một học giả tâm lý học có chút danh tiếng, tôi đã nhiều lần cảm nhận được sự kỳ vọng này từ người khác dành cho mình. Dưới đây là một ví dụ trông có vẻ cực đoan, nhưng tôi lại không thấy kỳ quặc chút nào:


Khoảng thời gian trước và sau trận động đất Vấn Xuyên năm 2008, trong ba buổi diễn thuyết liên tiếp, tôi đều gặp một người hâm mộ nam. Cậu ấy có phần cuồng nhiệt đối với tôi; đến lần thứ ba, cậu ta thậm chí còn tặng hoa ngay tại hội trường. Nhận được hoa từ một người hâm mộ nam, tôi vừa thụ sủng nhược kinh, lại vừa có chút mất tự nhiên. Khi đó, tôi chưa giỏi việc từ chối người khác. Sau khi buổi thuyết trình kết thúc, tôi đi tàu điện ngầm về nhà, chàng trai trẻ này liền đi theo sau.


Trên đường trò chuyện, cậu ta nói: "Thầy Vũ ơi, thầy chắc chắn là một người vô cùng giàu lòng nhân ái và tinh thần cống hiến đúng không ạ?". Ngay khoảnh khắc ấy, tôi mới nhận ra cậu ta đang ôm giữ một sự tưởng tượng xa rời thực tế về tôi — trong tâm lý học gọi là "lý tưởng hóa" (idealization). Tôi có ý thức muốn phá vỡ sự lý tưởng hóa này của cậu ấy, nên đã bảo: "Sao có thể như thế được? Cậu xem, mấy buổi diễn thuyết này của tôi đều có thu phí cả đấy chứ; bên mời nếu không trả tiền thì tôi đã không đến rồi, tiền bạc đối với tôi rất quan trọng".


Kể từ đó, tôi không bao giờ gặp lại chàng trai trẻ ấy nữa, và đến tận bây giờ tôi vẫn nhớ rõ nét thất vọng tràn trề của cậu ta đối với tôi.


Cái gọi là người hâm mộ, cái gọi là thần tượng, tất thảy chỉ là ảo tưởng mà thôi; những thứ này xưa nay tôi vốn chẳng bận tâm. Nhưng có một lần nọ, một người bạn đã khiến tôi thực sự sửng sốt. Đó là một người bạn rất quen thuộc của tôi, từng nhiều lần mời tôi đến giảng dạy. Lẽ ra anh ấy phải hiểu rất rõ về tôi, vậy mà trong một lần trò chuyện, khi tôi kể với anh về chuyện bạn gái tôi thế này thế kia, anh bỗng nhiên tròn mắt hỏi tôi: "Thầy Vũ, thầy mà cũng yêu đương cơ à?".


Ban đầu, tôi tưởng anh đang nói đùa. Về sau trò chuyện tiếp, tôi mới nhận ra anh ấy hoàn toàn nghiêm túc. Anh thực sự nghĩ rằng một người có cảnh giới như tôi thì không nên bận tâm đến tiền bạc, và cũng không nên vướng bận chuyện yêu đương.


Câu nói đó thực sự khiến tôi chết lặng. Và rồi ở lần tiếp theo khi anh mời tôi đi giảng bài, tôi đã chủ động tăng mức thù lao lên.


Mấu chốt là, những chuyện như thế này lại không chỉ xảy ra với tôi một lần. Đã rất nhiều lần những người bạn quen biết hỏi tôi: "Thầy Vũ, thầy cũng yêu đương cơ à?", "Thầy Vũ, chắc thầy chẳng màng đến tiền bạc đâu nhỉ?"...


Bây giờ tôi mới có chút danh tiếng và sức ảnh hưởng như vậy, hồi đó còn thua xa hiện tại, thế mà đã có người đặt kỳ vọng ấy lên tôi. Nhưng lần nào tôi cũng nghĩ: Thật sự làm một bậc thánh nhân trong kỳ vọng của họ thì mang lại lợi ích gì cho tôi chứ? Không màng tiền tài, không màng sắc đẹp, không mưu cầu dục vọng... dường như chỉ để người khác thấy tôi là người tốt, thậm chí là thánh nhân, nhưng chính bản thân tôi lại chẳng hề được nuôi dưỡng chút nào.


Dĩ nhiên, nếu tôi thực sự là kiểu người tốt hay thánh nhân như thế, thì đối với người khác, cái lợi lại không hề nhỏ. Chẳng hạn, bên mời giảng dạy có thể trả cho tôi mức giá rẻ mạt, và vì tôi là một người tốt đến thế nên sẽ rất dễ hợp tác, rất dễ tiếp cận.


Trên thực tế, suốt một thời gian dài tôi quả thực từng là kiểu người như vậy, thế nên người khác khó tránh khỏi việc nảy sinh kỳ vọng sâu hơn: "Bạn cứ làm một đại người tốt vô dục vô cầu đi, để rồi tôi có thể tha hồ có dục có cầu đối với bạn".


Trong mặc cảm thánh nhân, có một dạng biểu hiện mang tên "thịt Đường Tăng".


Hồi nhỏ xem Tây Du Ký, tôi luôn có một thắc mắc: Đã bảo ăn thịt Đường Tăng có thể trường sinh bất lão, vậy yêu quái có thể chỉ ăn một mẩu thịt nhỏ của ông ấy thôi được không? Thậm chí chỉ ăn miếng da, mẩu vụn thịt chẳng hạn, há chẳng phải cũng trường sinh bất lão được sao, cớ gì cứ nhất thiết phải giết chết, nấu chín rồi ăn trọn cả người?


Khi ngày càng hiểu sâu về phân tâm học, có một ngày tôi bỗng ngộ ra: Một Đường Tăng trắng trẻo, non nớt thực chất là một ẩn dụ về "bầu vú hoàn hảo" (perfect breast), còn việc yêu quái muốn ăn thịt Đường Tăng chính là việc đứa trẻ sơ sinh muốn "bú trọn" bầu vú hoàn hảo ấy.


Cụ thể hơn: Đứa trẻ sơ sinh sống trong sự tự luyến toàn năng, vì thế nó cảm thấy mình không gì không làm được; nhưng đồng thời nó cũng cảm nhận chân thực rằng mình dường như chẳng biết làm gì cả, chẳng có gì trong tay. Hơn nữa, theo lý thuyết phân tâm học, trẻ trước 6 tháng tuổi chưa thể cảm nhận người mẹ là một khách thể trọn vẹn, chúng chỉ có thể cảm nhận người mẹ thông qua các khách thể bộ phận, chẳng hạn như bầu vú.


Ăn uống đối với trẻ sơ sinh là nhu cầu cốt lõi. Chúng cảm thấy nếu không có cái ăn, bản thân sẽ chết, vì vậy chúng phải không ngừng nuốt trọn. Thế nhưng khi bú mớm, chúng lại nơm nớp lo sợ dòng sữa của mẹ có độc. Chẳng hạn khi sức khỏe của mẹ không tốt hoặc khi mẹ có cảm xúc tiêu cực, đứa trẻ bú sữa mẹ cũng sẽ thông qua sự tương tác vi tế mà cảm nhận được "độc tố" từ thể xác và cảm xúc của người mẹ. Đặc biệt là người mẹ cũng có cảm xúc giận dữ; đôi khi vì cảm thấy bị tổn thương, người mẹ sẽ quay sang tấn công và trừng phạt đứa trẻ.


Bởi vậy, tốt nhất là có được một bầu sữa hoàn hảo: dòng sữa không hề có chút độc tính nào, hễ bú được dòng sữa ấy là có thể hoàn toàn thoát khỏi nỗi lo âu về cái chết — tức là trường sinh bất lão.


Đường Tăng chính là một bậc thánh nhân như thế: Ông không hề có một chút tà tâm, không một chút ích kỷ, không có bản ngã, cũng chẳng có dục vọng. Ông là một người tốt hoàn toàn thuần khiết và lương thiện, hoàn toàn triệt tiêu cái "Tôi" — nghĩa là triệt tiêu mọi độc tính sinh ra từ tự luyến — do đó ăn thịt ông có thể trường sinh bất lão.


Tôi cho rằng sự kỳ vọng đối với thánh nhân trong nền văn hóa của chúng ta chính là thứ tâm lý này: Những ai mang tâm lý này sẽ luôn kỳ vọng những người vốn đã rất tốt hãy trở nên tốt hơn nữa, tốt nhất là tốt đến mức hoàn toàn không có bản ngã, không còn dục vọng, để rồi bản thân họ có thể tha hồ đến "rỉa thịt" của những người đó.


Một số cụ già sống vô cùng tằn tiện, trông vừa kham khổ vừa nghèo khó, nhưng lại đem toàn bộ số tiền dưỡng già của mình đi quyên góp từ thiện.


Việc cổ xúy cho những hành vi như vậy thực chất chính là muốn những người tốt này tiến thêm một bước nữa để trở thành "thịt Đường Tăng", và rồi người ta có thể đường hoàng "nuốt chửng" toàn bộ con người họ.


May mắn thay, xã hội của chúng ta đang không ngừng trưởng thành, vì vậy mới xuất hiện làn sóng phản cảm mang tính tập thể đối với những câu chuyện như thế này.


Dưới góc nhìn của phân tâm học, đây cũng là biểu hiện của một trình độ phát triển tâm lý cao hơn và chín chắn hơn.


NĂNG LƯỢNG THÁNH ANH BỊ TRẤN ÁP

Bàn xong về Thánh nhân, chúng ta hãy cùng nói về Thánh anh. Thánh anh trong văn hóa của chúng ta có rất nhiều biểu hiện, có thể khái quát lại bằng một câu: "Trẻ sơ sinh lại có sức mạnh hơn."


Chẳng hạn như Na Tra, ở trong bụng mẹ suốt 3 năm ròng. Trong những hình tượng quen thuộc về Na Tra, một hình ảnh kinh điển là cậu luôn mặc chiếc yếm đỏ, trông hệt như một đứa bé sơ sinh; thế nhưng đứa bé này lại pháp lực vô biên, cực kỳ khó chọc vào.


Phóng đại hơn nữa là Lão Tử: Trong truyền thuyết dân gian, Lão Tử ở trong bụng mẹ tới chín chín tám mốt năm, vừa sinh ra râu tóc đã bạc phơ — tức là vừa chào đời đã là một bậc thánh nhân.


Truyền thuyết về Na Tra và Lão Tử tựa như đang thi thố xem ai ở trong bụng mẹ lâu hơn vậy. Dĩ nhiên, Na Tra là truyện thần thoại, còn câu chuyện về Lão Tử cũng chỉ là truyền thuyết dân gian. Trên thực tế, theo ghi chép lịch sử, Lão Tử là một đứa trẻ sinh non.


Trong Tây Du Ký và Phong Thần Diễn Nghĩa, Na Tra là một thiếu niên; nhưng trong truyền thuyết dân gian, Na Tra lại bị biến thành một đứa bé mặc yếm đỏ.


Một hình tượng tương tự Na Tra là Hồng Hài Nhi: Cậu cũng chỉ mang vóc dáng của một đứa trẻ sơ sinh mặc yếm đỏ. Na Tra có nguyên mẫu từ văn hóa Ba Tư, còn Hồng Hài Nhi có lẽ chỉ xuất hiện trong Tây Du Ký, với ngoại hiệu trực diện là "Thánh Anh Đại Vương".


Bậc thánh nhân khai ngộ là người lợi hại nhất, còn những "thánh anh" như Na Tra và Hồng Hài Nhi cũng là những kẻ bất khả chiến bại. Nếu áp dụng khái niệm tự luyến toàn năng, họ nằm ở hai đầu cực đoan:


  • Thánh anh hoàn toàn sống trọn vẹn trong sự tự luyến toàn năng;


  • Thánh nhân triệt tiêu dục vọng và bản ngã lại tiêu diệt hoàn toàn nguồn sinh lực tự nhiên của tự luyến toàn năng;


  • Còn người bình thường chúng ta thì bước đi ở tiến trình lưng chừng ở giữa.


Làm thế nào để thuần hóa tự luyến toàn năng? Cần phải phát triển từ chiều kích tự luyến sang chiều kích quan hệ; nghĩa là sự tưởng tượng tự luyến toàn năng cô độc cần phải được thuần hóa bên trong thế giới hiện thực của các mối quan hệ.


Thế nhưng, con đường mà xã hội chúng ta vô tình hay hữu ý vạch ra lại là "trấn chỉ" nguồn cội sinh lực đáng sợ của tự luyến toàn năng này ("Trấn chỉ" là cụm từ tôi thích dùng, mang hàm nghĩa trấn áp và chặn đứng).


Trong truyền thuyết về Na Tra có một tình tiết bi kịch vô cùng xúc động: "Lóc thịt trả mẹ, gọt xương trả cha" (tích cốt hoàn nhục). Trả thịt là trả ơn mẹ; gọt xương là trả ơn cha.


Chúng ta luôn nhấn mạnh việc giáo dục lòng biết ơn, mà chủ yếu là đòi hỏi con cái phải biết ơn cha mẹ. Không chỉ xã hội thích nhấn mạnh điều này, mà trong gia đình cũng rất dễ áp dụng logic đó. Rất nhiều người mẹ thích nói với con: "Mày là do tao đẻ ra, là miếng thịt rớt từ trên người tao xuống, cái ơn của tao dành cho mày có trả cả đời cũng không hết".


Đây thực chất là thứ logic mà cha mẹ dùng khi chơi trò tự luyến với con cái. Dựa theo logic này, con cái một khi xảy ra xung đột với cha mẹ thì chỉ có nước ngoan ngoãn nghe lời, bằng không thì phải "cắt thịt trả lại cho cha mẹ".


Trong hiện thực điều này là bất khả thi, nhưng trong câu chuyện thần thoại của Na Tra, cậu đã làm được: Thông qua việc lóc thịt gọt xương, cậu đã trả sạch sành sanh ân tình của cha mẹ. Sau đó, sư phụ của Na Tra là Thái Ất Chân Nhân dùng hoa sen tái tạo lại thân thể cho cậu. Kể từ đó, Na Tra càng trở nên bất khả chiến bại.


Nếu tự luyến toàn năng đáng sợ hệt như cơn đại hồng thủy mà biện pháp duy nhất tìm được lại là trấn áp, thì công cụ hữu hiệu nhất chính là dùng cha mẹ để đè nén, hơn nữa phải đè nén ngay từ khi còn là một đứa trẻ sơ sinh đỏ hỏn. Bằng không, đợi đến khi đứa trẻ lớn lên mà vẫn sống trong tự luyến toàn năng thì sẽ quá khó đối phó.


Trong phân tâm học, Freud đã sáng tạo ra một bộ ba thuật ngữ: "Bản ngã (Id), Cái tôi (Ego) và Siêu tôi (Superego)" để nói về cấu trúc nhân cách.


Chữ "Cái tôi" ở đây trong tiếng Anh là ego. Còn trong các khóa học của chúng tôi, "cái tôi" thường tương ứng với self — thuật ngữ học thuật nên dịch là "tự thể", nhưng từ này đôi khi tôi không thích dùng lắm nên vẫn dùng chữ "cái tôi".


Cặp từ "Bản ngã" (Id) và "Siêu tôi" (Superego) còn có thể hiểu là "Đứa trẻ bên trong" và "Cha mẹ bên trong". Freud cho rằng Siêu tôi có chức năng ước thúc Bản ngã. Chiếu vào thực tế, điều đó tương ứng với việc cha mẹ phải ước thúc con cái. Ước thúc điều gì? Ước thúc sinh lực không biến thành sức mạnh phá hoại, ước thúc sự tự luyến toàn năng muốn làm gì thì làm.


Lý thuyết này của Freud bị rất nhiều người phản đối, chẳng hạn như Donald Winnicott cho rằng: Siêu tôi không nên là kẻ thù của Bản ngã. Winnicott có một câu danh ngôn nói về cách một đứa trẻ nên được lớn lên:


"Cần một người không biết trả đũa, để nuôi dưỡng nên cảm giác này — rằng thế giới đã sẵn sàng đón nhận những bản năng của tôi đang trào dâng như sóng xô thác đổ."

Thế nhưng trong nền văn hóa của chúng ta, biện pháp chủ đạo được tìm thấy lại là trấn áp tự luyến toàn năng của con người, với mục tiêu tối hậu là biến thành một bậc thánh nhân không dục vọng, không bản ngã.


Cha mẹ là những nhân vật quan trọng nhất quản thúc con cái, và hình tượng của họ khi nội hóa vào thế giới tâm trí của đứa trẻ sẽ biến thành "cha mẹ bên trong". Việc Na Tra "lóc thịt gọt xương" đồng nghĩa với việc cậu đã giết chết "người cha/mẹ cấm đoán bên trong", và từ đó trở nên mạnh mẽ hơn bội phần.


Dĩ nhiên, không thể nói Na Tra từ đó hoàn toàn mất đi những hình mẫu nuôi dưỡng tựa cha mẹ, dù sao cậu vẫn còn sư phụ Thái Ất Chân Nhân, và trong truyền thuyết về sau cậu lấy "Phật" làm cha.


Ở điểm này, có một câu chuyện còn cực đoan hơn cả chuyện Na Tra lóc thịt gọt xương — đó là Tề Thiên Đại Thánh Tôn Ngộ Không. Con khỉ này sinh ra từ tảng đá, hoàn toàn không cha không mẹ, và sức mạnh của nó lại càng khủng khiếp hơn. Điều này có thể hiểu là: Thứ tự luyến toàn năng nguyên sơ, không cần phải bận tâm kiêng dè bất kỳ ai ấy, chính là thứ sức mạnh khủng khiếp nhất.


Thế nhưng, tự luyến toàn năng càng nguyên sơ và hùng mạnh bao nhiêu, người ta lại càng cần một lực lượng hùng mạnh bấy nhiêu để trấn áp nó:


  • Na Tra trước tiên trải qua bi kịch "lóc thịt gọt xương", sau đó để ngăn chặn cậu tấn công cha mình là Lý Tịnh, các vị thần tiên toàn năng hơn đã ban cho Lý Tịnh chiếc Tháp Linh Lung. Trong Phong Thần Diễn Nghĩa, bảo tháp này do Nhiên Đăng Đạo Nhân ban tặng, có thể giam cầm Na Tra trong Phật quang. Trong Tây Du Ký, chiếc tháp này do Như Lai Phật Tổ ban cho, trên tháp có điêu khắc tượng các vị Phật tỏa ánh hào quang. Vì Na Tra đã nhận Phật làm cha, nên khi Lý Tịnh cầm tháp trong tay, Na Tra không thể tấn công cha được nữa. Chiếc tháp này thực chất vẫn là một chiếc bình chứa nhằm trấn áp tự luyến toàn năng.


  • Lực lượng trấn áp mà Tề Thiên Đại Thánh gặp phải còn mạnh mẽ hơn: Đích thân Như Lai Phật Tổ ra tay đè bẹp con khỉ muốn làm gì thì làm này dưới chân núi Ngũ Hành Sơn, phải đợi Đường Tăng xuất hiện mới được giải thoát.


  • Sau khi ra ngoài, Tôn Ngộ Không vẫn muốn bất tuân giáo hóa. Lúc này, Quán Thế Âm Bồ Tát tặng cho Đường Tăng một chiếc vòng kim cô, bày mưu lừa Tôn Ngộ Không đội vào. Kể từ đó, con khỉ đá hoàn toàn bị quy phục.


Núi Ngũ Hành có thể hiểu là "bàn tay của cha mẹ", là ẩn dụ trực tiếp về việc cha mẹ kiểm soát con cái. Một số bậc cha mẹ cũng rất thích nói với con: "Mày có nhảy nhót đằng trời cũng không thoát khỏi lòng bàn tay tao đâu".


Chiếc vòng kim cô rất thú vị. Trong các buổi tham vấn tâm lý, tôi từng nhiều lần gặp phải trường hợp thế này: Khi bàn về sức mạnh của tự luyến toàn năng hoặc khi nảy sinh ảo tưởng tự luyến toàn năng, một số thân chủ bỗng cảm thấy đau đầu, và vị trí đau đúng ngay vị trí Tôn Ngộ Không đeo vòng kim cô. Mức độ tự luyến toàn năng càng cao, cơn đau đầu ấy lại càng dữ dội.


Tự luyến toàn năng bắt buộc phải được thuần hóa. Nếu một người trưởng thành vẫn sống trong tự luyến toàn năng, rất có thể anh ta có đủ điều kiện để sống trọn với sự toàn năng ấy; và điều đó thường đồng nghĩa với việc anh ta sẽ trở thành nguồn cơn của những thảm họa khổng lồ. Sẽ có vài nơi trở thành chốn dung thân cuối cùng của anh ta: nhà tù, bệnh viện và nấm mồ.


  • Nhà tù tựa như bảo tháp trong tay Lý Tịnh, nhốt chặt anh ta lại.


  • Bệnh viện có hai loại: một là bệnh viện đa khoa để chữa trị đủ loại thương tích do thói làm càn gây ra; hai là bệnh viện tâm thần, bởi người trưởng thành sống trong tự luyến toàn năng quá dễ phát điên.


  • Còn nấm mồ thì không cần phải giải thích thêm nữa.


Kể những câu chuyện về "Thánh anh" này có liên quan gì đến cuộc sống thực tế của chúng ta?


Thứ nhất, chúng ta có thể nhận thấy rất nhiều hiện tượng trong văn hóa xã hội, đặc biệt là những quy chuẩn được thiết kế xoay quanh trẻ nhỏ, đằng sau đều có thể chứa đựng phần nào ý đồ muốn trấn áp sự tự luyến toàn năng của chúng.


Thứ hai, khi có góc nhìn này, chúng ta có thể thấu hiểu rất nhiều câu chuyện thần thoại, tiểu thuyết và phim ảnh.


Chẳng hạn, việc phiến diện nhấn mạnh vào giáo dục thi cử đã dẫn đến hiện tượng dốc toàn lực phát triển giáo dục kiến thức sách vở, trong khi xem nhẹ nghiêm trọng các môn học mang tính trải nghiệm như thể thao hay nghệ thuật. Việc nén chặt sinh mệnh vốn dĩ vô cùng phong phú của một đứa trẻ vào duy nhất một việc học hành đơn điệu, có lẽ chính là nhằm trói chặt nguồn sinh lực bắt nguồn từ tự luyến toàn năng của đứa trẻ lại. Bằng không, đứa trẻ sẽ nổi loạn, sẽ yêu sớm, cùng hàng loạt phương thức giải tỏa năng lượng khác — những thứ rất dễ mang lại cảm giác mất kiểm soát cho cha mẹ.


Hay như khi đã hình thành được logic thánh anh, bạn sẽ đọc vị được các bộ phim như Hoa Thiên Cốt hay Cửu Châu Phiêu Miểu Lục. Trong hai bộ phim truyền hình đương đại này (một phim nhân vật chính là nữ, một phim là nam), đều mang một logic tương tự: Nhân vật chính vừa sinh ra đã mang dòng máu đặc biệt — một nguồn sức mạnh tựa như lời nguyền, và đều dẫn đến cái chết của mẹ ruột. Họ vì thế biến thành hiện thân của điềm gở, mang lại tai họa cho những người xung quanh. Sau đó, họ dùng hết sức bình sinh để kiềm chế nguồn sức mạnh đáng sợ ấy, vạn bất đắc dĩ mới dùng đến; và khi dùng đến thì họ dần trở nên tà ác.


Logic này xuất hiện trong rất nhiều câu chuyện. Nó như muốn nói rằng: Mấu chốt không nằm ở việc kiên nhẫn học hỏi và tôi rèn, mà là làm sao thuần hóa được nguồn sức mạnh tự nhiên tựa lời nguyền này; và một khi thuần hóa được nó, họ sẽ lập tức đắc đạo thành thánh, đạt tới cảnh giới vô địch.


Các bộ phim của Châu Tinh Trì như Đại Thoại Tây Du, hay sau này là Tây Du Hàng Ma Thiên cũng mang logic này: Nhân vật chính sau khi người phụ nữ mình yêu qua đời, đau đớn tột cùng, bèn buông bỏ mọi luyến lưu chốn hồng trần mà lập tức đắc đạo thành thánh, sở hữu sức mạnh cấp thần thánh.


Trong Cửu Châu Phiêu Miểu Lục, nữ chính Vũ Nhiên chưa từng nghiêm túc rèn giũa bản thân, về sau phát hiện mình có dòng máu đặc biệt, chỉ cần nhảy một điệu múa là lập tức hóa thân thành "Vũ Thần" vô địch.


Những câu chuyện như thế này, cùng thứ logic tầng sâu ấy, thực sự vô cùng tai hại. Nó ngụ ý rằng: Bạn không cần phải rèn luyện năng lực của mình, chỉ cần giữ trọn sự lương thiện là đủ; rồi đợi khi thời khắc thảm họa ập đến, tâm niệm bạn vừa chuyển một cái là có thể hóa thánh.


Đó hoàn toàn là logic của thế giới tưởng tượng. Còn trong thế giới thực, năng lực thực chất đều được tích lũy thông qua sự dấn thân vào các mối quan hệ sâu sắc. Không chỉ năng lực, mà cả cảm giác hạnh phúc cũng được kiến tạo theo cách như vậy.


Bạn có thể tự hỏi chính mình xem liệu bản thân có đang mang thứ logic này hay không: Điều quan trọng nhất là giữ mình lương thiện, mà lương thiện tức là vô dục vô cầu; không gây áp lực quá lớn cho người khác kẻo bản thân sẽ cắn rứt bất an hoặc sợ bị trừng phạt; đồng thời tin rằng bình phàm là phúc...


Khi bạn nắm giữ logic này, rất có thể bạn cũng đang sợ hãi nguồn sức mạnh tựa lời nguyền của sự tự luyến toàn năng nơi chính mình, và đang dấn bước trên con đường đi từ Thánh anh đến Thánh nhân.


NỮ QUỶ, NỮ YÊU VÀ ĐÀN ÔNG VÔ DỤC

Ở phần trước khi bàn về Thánh nhân và Thánh anh, ta thấy phần lớn các ví dụ được nêu đều là nam giới. Chữ "Thánh" nghe quá đỗi cao sang, dễ khiến người ta có cảm giác những hiện tượng này xa vời với cuộc sống; nhưng nếu hiểu "Thánh nam" là "Người đàn ông tốt" — hay cụm từ tôi thích dùng là "Người đàn ông tốt kiểu Trung Quốc" — ta sẽ thấy logic thánh nhân và thánh anh xuất hiện nhan nhản quanh mình.


Tuy nhiên, cách gọi "người đàn ông tốt" hay "người đàn ông tốt kiểu Trung Quốc" vẫn chưa thực sự chuẩn xác để nắm bắt được cốt lõi logic này; nếu đổi thành "người đàn ông vô dục" (vô dục nam - người đàn ông không ham muốn) thì sẽ dễ hiểu hơn rất nhiều. Thánh anh thuở ban đầu vẫn có dục vọng, nhưng dục vọng chủ yếu là tự luyến và tính công kích, chứ không phải vật dục hay tình dục. Quá trình phát triển từ Thánh anh lên Thánh nhân là quá trình liên tục đè nén đủ mọi dục vọng của bản thân, từ đó nhào nặn nên mẫu "đàn ông vô dục".


Từ lịch sử, tác phẩm văn học cho đến đời sống xã hội thực tế, bạn sẽ thấy xã hội có đủ kiểu người xa hoa trụy lạc tột cùng, nhưng đồng thời cũng đầy rẫy những người đàn ông vô dục — thậm chí theo quan sát của tôi, nhóm thứ hai này chiếm đa số. Tôi cho rằng trong xã hội Trung Quốc, một người đàn ông bình thường và đúng chuẩn mực thường là người đàn ông vô dục: chất phác, thật thà, trung thành và đáng tin cậy.


Người đàn ông vô dục thích hợp với người bạn đời như thế nào?


Chúng ta thường nghĩ đó phải là người phụ nữ hiền thục, nết na, đoan trang. Nhưng thực tế, nếu cả hai vợ chồng đều là những người tốt biết đè nén dục vọng, họ sẽ rất khó chung sống với nhau. Không chỉ khó bảo vệ gia đình và con cái, mà chính vì cả hai đều thiếu vắng sinh lực sống nên sẽ biến gia đình thành một nấm mồ nguội lạnh. Do đó, đối tượng kết đôi phù hợp hơn đối với người đàn ông vô dục lại là "Yêu nữ".


Chẳng hạn trong Liêu Trai Chí Dị, phần lớn đều là chuyện tình giữa ma nữ và thư sinh. Hay như câu chuyện truyền tụng rộng rãi về Bạch Xà và Hứa Tiên — một sự kết hợp kinh điển giữa chàng thư sinh yếu đuối vô dục và nàng nữ yêu toàn năng. Trong tiểu thuyết Kim Dung, cặp đôi Quách Tĩnh và Hoàng Dung, Trương Thúy Sơn và Ân Tố Tố cũng là những sự kết hợp kinh điển giữa người đàn ông tốt và "yêu nữ"...


Nữ yêu và nữ quỷ vẫn có sự khác biệt, tôi xin thử phân tích sự khác biệt này:


Khởi nguồn việc phân biệt nữ yêu và nữ quỷ xuất phát từ câu hỏi của một người: "Ai có thể cho tôi biết, tại sao phim Họa Bì khi chuyển thể điện ảnh lại phải đổi Quỷ thành Yêu? Tại sao Nhiếp Tiểu Thiến làm thành Thiến Nữ U Hồn cũng phải đổi Quỷ thành Yêu? Tại sao Yêu được phép xuất hiện trên màn ảnh, còn Quỷ thì tuyệt đối không?".


Câu hỏi này từng khiến tôi băn khoăn suốt mấy năm trời.


Bạn tôi, Hứa Đại Manh — phóng viên Đài truyền hình Trung ương Trung Quốc — đã đưa ra câu trả lời chuẩn xác: "Đúng là có quy định phim ảnh không được xuất hiện ma quỷ. Giải thích chính thức thì tôi biết, đó là vì ở nhiều vùng núi xa xôi hẻo lánh còn lạc hậu, người dân xem phim sẽ tưởng là có ma thật".


Xoay quanh chủ đề này, một cư dân mạng đã nêu một câu hỏi rất thú vị: "Trong Liêu Trai có đủ loại nữ quỷ xinh đẹp, lương thiện, si tình, nhưng duy nhất lại không có nữ quỷ ấm áp — tại sao lại như vậy?".


Còn trong nhiều tác phẩm điện ảnh, các nữ yêu lại vô cùng nóng bỏng, kiều diễm, tràn đầy sức sống hơn cả những "con người" bằng xương bằng thịt trong phim — điều này rốt cuộc là vì sao?


Tại sao nữ yêu lại tràn trề sinh lực hơn? Câu hỏi này cũng giống hệt như việc vì sao thánh anh lại có nhiều sức mạnh hơn: Bởi vì họ không hề trấn áp sự tự luyến toàn năng của mình. Trong khi đó, những người đàn ông tốt vô dục cũng như những người phụ nữ tốt lại trấn áp thái quá sự tự luyến toàn năng, từ đó đánh mất đi sinh lực sống.


Đồng thời, "nữ yêu" cũng là một ẩn dụ: ám chỉ sự tự luyến toàn năng chưa được tiến hóa hoàn thiện thành nhân tính, nên nó vẫn mang đậm nét hoang dã nguyên sơ.


Tôi tin rằng khi đọc đến đây, các bạn đều đã có thể tự lý giải được điều này. Tôi đã nghiên cứu vấn đề này và các nhánh phái sinh của nó từ rất lâu. Trong các buổi tham vấn cũng như các khóa học, tôi đã thu thập vô số hình tượng về ma, quỷ, yêu và cố gắng đào sâu mổ xẻ.


Ma quỷ và yêu quái đều sở hữu những năng lực mà con người bình thường không có, như thần thông, thông linh,... nhưng giữa chúng có sự dị biệt vi tế:


Đặc tính cốt lõi của Quỷ có lẽ là Oán khí, và dưới sự thúc đẩy của oán khí, quỷ (đặc biệt là nữ quỷ) rất dễ thực hiện những cuộc báo thù tàn nhẫn. Ví dụ các nữ quỷ trong Liêu Trai Chí Dị, dù ban đầu phần lớn đều xinh đẹp, lương thiện và si tình, nhưng một khi bị chàng thư sinh bạc bẽo phụ tình, họ thường phát tán oán khí ngút trời, rồi có những hành vi trả thù khốc liệt.


Tôi đã nghe quá nhiều câu chuyện oán hờn cay đắng, phần lớn là của phụ nữ, nhưng của đàn ông cũng không hề ít. Chúng đều có chung một logic: "Tôi đã hy sinh vì người đó quá nhiều, vậy mà người đó lại nhẫn tâm phụ bạc tôi, tôi oán hận khôn cùng!".


Đứng từ góc độ của kẻ phụ bạc, điều này có thể xuất phát từ nhiều nguyên nhân:


  1. Bạn hy sinh quá nhiều khiến kẻ phụ bạc cảm thấy bạn là người dễ bị coi thường, rẻ rúng. Nói cách khác, việc bạn hy sinh quá mức có thể là một dạng tự ngược đãi bản thân. Một khi bạn đã tự ngược đãi chính mình, người khác cũng sẽ dễ nghĩ: tiếp tục ngược đãi bạn thì đã sao?


  2. Khi bạn hy sinh, cảm giác đạo đức do sự hy sinh mang lại giúp bạn chiếm thế thượng phong trong mối quan hệ. Điều này khiến đối phương cảm thấy ngột ngạt khó chịu, do đó kẻ phụ bạc phải dùng sự phản bội hoặc cách phụ bạc khác để đập tan cảm giác ưu việt về mặt đạo đức của bạn.


  3. Người hy sinh thường tạo ra cảm giác tội lỗi cho đối phương, trong khi những kẻ thích chiếm đoạt tiện nghi của người khác lại thường không chấp nhận và không tiêu hóa nổi cảm giác tội lỗi này, từ đó họ sẽ ra tay phá hủy mối quan hệ.


Còn đứng từ góc độ của người hy sinh: Việc hy sinh quá mức thực chất là một dạng tự ngược đãi, một sự tự phá hoại bản thân, hay nói cách khác là đã giết chết một phần sinh mệnh lực của chính mình. Chúng ta đều biết, "quỷ" chính là những oan hồn bị giết hại; từ đó có thể suy ra: Khi một phần sinh mệnh lực của bản thân bị bức tử, phần sinh lực bị giết chết ấy sẽ hóa thành một phần "ma quỷ" bên trong, và từ đó sinh ra oán khí.


Sinh mệnh lực bị bức tử càng nhiều, "con quỷ" trong lòng người hy sinh càng lớn, oán khí theo đó càng ngút ngàn. Oán khí tích tụ cần phải tìm một lối thoát để bùng nổ, và việc bị phụ bạc nặng nề chính là cái cớ hoàn hảo nhất để những "kẻ tốt bụng thái quá" trút bỏ cơn oán hận trong lòng.


Một câu chuyện khiến tôi ấn tượng sâu sắc là một người phụ nữ tìm đến tôi tư vấn với ý định muốn giết chết bạn trai. Bởi sau nhiều năm yêu nhau, cô mới phát hiện bạn trai đã có gia đình; cô cảm thấy mình bị phản bội sâu sắc. Thế nhưng sau vài buổi tham vấn, tôi nhận ra từ lâu cô đã suy đoán được bạn trai có gia đình qua vô số manh mối, thậm chí bạn trai từng muốn dẫn cô về nhà chơi nhưng cô đã nhiều lần từ chối.


Trò chuyện sâu hơn, tôi phát hiện người phụ nữ này cả đời luôn sắm vai người tốt. Có thể nói, phần sinh mệnh lực bị bóp nghẹt đã biến thành "con quỷ" trong tâm trí cô, phần này ngày càng nặng nề, cuối cùng bắt buộc phải tìm một lối thoát để giải phóng. Đến lúc ấy, cô mới chịu đối diện với sự thật bạn trai đã có gia đình.


Oán và hận là đặc tính của Quỷ, vậy đặc tính của Yêu là gì? Đặc tính của yêu quái là muốn làm gì thì làm (vi sở dục vi); vì yêu hận tình thù, chúng sẵn sàng đánh đổi tất cả, chọc thủng trời xanh cũng chẳng sợ hãi. Ví dụ nàng Bạch Nương Tử trong Bạch Xà Truyện, vốn dĩ hội tụ đầy đủ mọi phẩm chất tốt đẹp của người phụ nữ truyền thống, nhưng Pháp Hải lại gọi nàng là yêu. Khi Pháp Hải bắt Hứa Tiên, tình yêu bị phá vỡ, Bạch Nương Tử không tiếc dâng nước ngập Kim Sơn Tự, bộc lộ trọn vẹn yêu tính của mình.


Kẻ ôm mối oán hận là nữ quỷ; kẻ vì tình yêu dám chọc thủng trời là nữ yêu. Nếu xem đây là những hình tượng kinh điển của phái nữ, thì hình tượng kinh điển tương ứng của nam giới là gì?


Như đã nói ở trên, đó là những người đàn ông vô dục: chất phác, thật thà, trung thành và đáng tin cậy. Đàn ông tốt là mảnh ghép tuyệt phối của yêu nữ. Dẫu nhiều người chán ghét sự nhu nhược của Hứa Tiên, nhưng đối với một yêu nữ chưa xây dựng được bản ngã vững vàng, nàng bắt buộc phải tìm một người đàn ông tốt như thế — một người không bao giờ đối đầu, không bao giờ chủ động tấn công nàng. Có như vậy, yêu nữ mới có thể ở trong chiếc bình chứa do người đàn ông vô hại tựa Đường Tăng ấy tạo dựng mà tu luyện thành người — nghĩa là có được nhân tính và bản ngã căn bản.


Nhưng tại sao đàn ông lại không làm quỷ, làm yêu? Tại sao hình tượng nam giới kinh điển trong văn học lại phần lớn là những thư sinh trói gà không chặt, vô dục vô cầu? Tại sao họ không thể là những đấng nam nhi hùng dũng, khí phách ngút trời?


Theo cách hiểu của tôi: Đàn ông cấu thành nên hệ thống quyền lực trong xã hội truyền thống, và thiết kế của hệ thống này chỉ cho phép Hoàng đế hoặc Tộc trưởng — những người đàn ông đứng đầu — mới được hiện thực hóa tự luyến toàn năng, được sống muốn làm gì thì làm. Còn những người đàn ông khác tốt nhất nên biến thành những viên gạch lót đường của hệ thống: phải sống một cuộc đời không bản ngã, không dục vọng, không hình hài rõ rệt.


Trong quá khứ, phụ nữ luôn bị gạt ra ngoài hệ thống quyền lực xã hội lẫn quyền lực gia tộc; họ mất đi sự che chở của hệ thống quyền lực, nhưng bù lại họ có được không gian để giữ lại sinh mệnh lực. Chỉ là nguồn sinh lực này chưa được nhân tính hóa đầy đủ, vẫn còn là sự tự luyến toàn năng nguyên sơ, nên họ có thể hóa thành "yêu". Còn nếu bị tổn thương, sinh ra oán khí, họ sẽ hóa thành "quỷ".


Đàn ông bị hệ thống mang tính trấn áp đè nén đến mức bất động, nên trở nên bị động; còn phụ nữ lại có thể chủ động.


Ví dụ trong tiểu thuyết Thế Giới Bình Thường, chuyện tình của hai anh em Tôn Thiếu Bình và Tôn Thiếu An đều là phụ nữ chủ động còn họ thì bị động. Bởi là một thành phần trong hệ thống quyền lực, họ phải nghĩ cho đủ loại tập thể — phải đặt gia tộc lên hàng đầu, chứ không thể chỉ nghĩ đến dục vọng cá nhân.


Họ, cũng như Trương Thúy Sơn, Quách Tĩnh và Hứa Tiên, đều muốn làm người tốt, thậm chí làm thánh nhân; họ theo đuổi sự vô dục, nên dục vọng đành phải mượn người phụ nữ để bộc lộ ra ngoài. Chẳng hạn như những mong muốn của Tôn Thiếu An đều phải thông qua lời vợ là Tú Liên nói ra — như chuyện chia gia tài, chuyện bản thân phải ăn nhiều hơn một chút thay vì chỉ biết chăm chút cho bà nội và em gái.


Nhìn theo cách này, người đàn ông vô dục tìm đến yêu nữ mang lại hai điều lợi:


  1. Yêu nữ có thể thay họ bộc lộ dục vọng;


  2. Ai mưu cầu dục vọng thì người đó không phải người tốt, vì vậy cái "xấu" thuộc về yêu nữ, còn họ vẫn giữ trọn cái "tốt".


Dẫu yêu nữ phải gánh vác cái "xấu", tổn hại cái "tốt" về mặt đạo đức — đó là một sự mất mát; nhưng việc trở thành một người tốt hoàn hảo triệt để về mặt đạo đức để rồi đánh mất hoàn toàn dục vọng và bản ngã, đó mới là nỗi bi ai sâu sắc hơn bội phần.


Điểm này được thể hiện rõ nét đến tận cùng nơi cuộc đời của Nhạc Phi. Tiếp theo đây, tôi sẽ dành riêng một phần phân tích tâm lý về cuộc đời bi kịch của ông.


SỰ TỰ HỦY CỦA NHẠC PHI

Câu chuyện về Nhạc Phi in hằn sâu đậm trong tâm trí tôi. Thuở nhỏ nhà tôi rất nghèo, tôi rất ham đọc sách nhưng trong nhà lại chẳng có mấy cuốn. Hai bộ sách đồ sộ duy nhất trong nhà là cuốn Thuyết Nhạc Toàn Truyện và Những Người Khốn Khổ. Đó là do anh trai tôi — một người cũng rất mê đọc sách — đã cắn răng gom tiền bán phế liệu để mua về. Thuyết Nhạc Toàn Truyện chỉ có một tập, còn Những Người Khốn Khổ hình như là một bộ bốn tập; kết quả anh bị mẹ mắng cho một trận tơi bời. Hồi đó nhà tôi thực sự nghèo đến cùng cực.


Đọc Những Người Khốn Khổ mang lại một cảm giác xám xịt. Cảm giác đó đến tận bây giờ tôi vẫn còn cảm nhận được, một nỗi khó chịu không thốt nên lời. Lẽ ra câu chuyện bên trong chứa chan ánh sáng nhân văn, nhưng tôi hoàn toàn không cảm nhận được, chỉ thấy nó quá đỗi ảm đạm.


Đọc Thuyết Nhạc Toàn Truyện, câu chuyện thăng trầm biến ảo, không xám xịt như Những Người Khốn Khổ, nhưng quả thực quá bi thảm. Mỗi lần đọc đến đoạn Nhạc Phi, Nhạc Vân bị xử tử, lồng ngực tôi lại thắt lại vì đau đớn và phẫn uất tột cùng. Tôi không tài nào hiểu nổi: Một người tốt đến dường ấy, một người cứu quốc gia khỏi cơn nguy khốn, cớ sao lại phải chịu kết cục thảm khốc nhường này?!


Cuốn Thuyết Nhạc Toàn Truyện tôi đọc không dưới một trăm lần, vì thế câu chuyện về Nhạc Phi đã cắm rễ sâu trong lòng tôi và đi thẳng vào tiềm thức.


Năm 2006, tôi ra Thượng Hải tham gia khóa đào tạo Phân tâm học Trung - Đức. Trước khi lên đường, tôi mơ thấy một giấc mơ: Tôi mơ thấy mình đã giết chết con nuôi của Tần Cối, và Tần Cối phái một đội binh mã đến vây bắt tôi. Đội quân ấy hàng ngũ tề chỉnh, xếp thành một khối vuông với áo giáp sáng loáng. Tôi không hề hoảng sợ; đợi khi họ áp sát, tôi giơ ra một tấm lệnh bài, và thế là họ không thể bắt tôi được nữa. Trên tấm lệnh bài đó có khắc mấy chữ: "Sứ giả của Freud".


Đến Thượng Hải, khi ngồi trò chuyện cùng Lý Mạnh Triều và mọi người, tôi đã chia sẻ về giấc mơ này. Lúc đó trong mơ còn có hai câu thơ ngũ ngôn, khi chia sẻ tôi vẫn nhớ như in, nhưng đáng tiếc bây giờ đã quên mất. Lý Mạnh Triều bảo đó là một "giấc mơ lớn" (đại mộng) của tôi. Cái gọi là giấc mơ lớn chính là giấc mơ mang tính then chốt, sâu sắc, phản chiếu mặc cảm (complex) quan trọng nhất trong tâm thức của tôi.


Giấc mơ này không khó để lý giải: "Con nuôi của Tần Cối" chính là "Trung Hiếu", bởi vì Tần Cối đã dùng tội danh "bất trung" để sát hại Nhạc Phi. Khi ấy, tôi đã đảm nhận chuyên mục tâm lý của tờ Quảng Châu Nhật Báo được hơn một năm. Trong quá trình viết, tôi nhận ra các bài viết của mình đang tập trung giải cấu sự hoang đường của thói hiếu thuận mù quáng. Ở trường đại học tôi vốn thích tâm lý học nhân văn hơn, nhưng khi giải cấu đạo hiếu, lăng kính tôi sử dụng chủ yếu lại là phân tâm học.


Bối cảnh trưởng thành của tôi là: Cha mẹ tôi đều là những người đại tốt bụng, có thể xem là những người con chí hiếu, vậy mà từng bị ông bà nội dùng danh nghĩa "bất hiếu" để tấn công không tiếc lời; thậm chí loa phát thanh của làng còn rêu rao rằng cha mẹ tôi là "con cháu bất hiếu". Đối với cha mẹ tôi, đó là một tai họa ngập đầu. Cha tôi từng thử nằm lên đường ray tự sát, nhưng cuối cùng nghĩ đến vợ con, thấy mình không thể chết nên mới từ bỏ ý định; còn mẹ tôi từ đó mắc chứng trầm cảm vô cùng nghiêm trọng.


Bởi vậy, việc tôi giải cấu đạo hiếu, tận sâu trong tiềm thức là đang đòi lại sự công bằng cho cha mẹ mình. Đồng thời, đó cũng là tiếng nói đòi lại sự công bằng cho Nhạc Phi.


Cùng với việc hiểu biết về Nhạc Phi ngày một nhiều hơn, trong lòng tôi dấy lên một ước nguyện muốn viết một cuốn tiểu thuyết để phân tích tâm lý về Nhạc Phi: Có thể là tiểu thuyết xuyên không — một chuyên viên tham vấn theo khuynh hướng phân tâm học xuyên không về thời Tống, đi theo phò tá và không ngừng đối thoại với Nhạc Phi để phân tích tâm lý ông; hoặc viết dưới dạng tiểu thuyết thuần túy, để Nhạc Phi làm nam chính, lồng ghép yếu tố huyền ảo để ông tự mổ xẻ tâm can mình.


Đến nay tôi vẫn chưa bắt tay vào thực hiện công việc này, nhưng những thông tin liên tục thu thập được vẫn đang giúp tôi bồi đắp sự thấu hiểu về Nhạc Phi, và nhờ đó có thể đưa ra một vài phân tích bước đầu.


Hãy nói về mẹ của Nhạc Phi: Bà họ Diêu, thường gọi là Diêu thái phu nhân. Câu chuyện nổi tiếng nhất về bà là việc xăm bốn chữ "Tinh trung báo quốc" lên lưng con trai. Thế nhưng đây chỉ là tình tiết trong tiểu thuyết dân gian, chính sử hoàn toàn không có ghi chép này.


Sử sách ghi lại rằng sau khi Nhạc Phi bị tống giam, không một ai muốn đứng ra thẩm vấn ông. Về sau, một vị quan bất đắc dĩ phải làm chủ thẩm, nhưng khi thấy trên lưng Nhạc Phi có xăm bốn chữ "Tinh trung báo quốc", vị quan này đã bị chấn động sâu sắc, bèn từ chối chức vụ, khiến Tống Cao Tông nổi trận lôi đình. Quân lính Nhạc gia quân ai nấy đều có hình xăm tương tự, do đó đây rất có thể là hành vi do chính Nhạc Phi chủ xướng.


Truyền thuyết dân gian khắc họa mẹ Nhạc Phi là người vô cùng đại nghĩa, nhưng trên thực tế bà chỉ là một người mẹ bình thường: Nhạc Phi từng xử tử người cậu ruột vì thói tham lam, tham sống sợ chết vi phạm quân quy Nhạc gia quân — điều này khiến Diêu thái phu nhân vô cùng phật ý.


Một chuyện khác khiến bà canh cánh trong lòng là tướng Dương Tái Hưng từng chém chết Nhạc Phiên (em trai của Nhạc Phi) trên chiến trường, vậy mà khi Dương Tái Hưng muốn quy hàng, Nhạc Phi lại sẵn sàng dung nạp, để rồi sau này Dương Tái Hưng trở thành một mãnh tướng của Nhạc gia quân.


Hai sự việc này đều được sử sách ghi chép, cho thấy Diêu thái phu nhân chỉ là một người mẹ bình thường: biết đau buồn, phẫn nộ trước cái chết của em trai và con trai, chứ không hề đại nghĩa lẫm liệt như truyền thuyết thêu dệt.


Carl Jung từng nói: Nam giới coi trọng logic và trật tự, nữ giới coi trọng tình cảm và mối quan hệ. Phản ứng đó của Diêu thái phu nhân mới phản ánh chân thực nhân tính con người.


Nhạc Phi giết cậu ruột, lại tha thứ cho tướng địch đã giết em trai mình; khi con trai cả Nhạc Vân phạm lỗi, ông luôn phạt rất nặng, nhưng khi Nhạc Vân lập chiến công, ông lại luôn ém nhẹm không báo công. Đồng thời, Nhạc Phi không màng tư dục, thanh liêm đến tột cùng.


Đối diện với một vị đại anh hùng, đại thánh nhân chí công vô tư đến mức ấy, người phụ nữ bên cạnh sẽ có cảm nhận gì?


Trong truyền thuyết dân gian, Nhạc Phi và người vợ Lý thị rất ân ái. Nhưng chính sử ghi lại, mối quan hệ giữa Nhạc Phi và phụ nữ lại là điều khiến ông phải bẽ bàng.


Nhạc Phi có hai đời vợ. Người vợ đầu là Lưu thị, cưới năm Nhạc Phi 16 tuổi. Lưu thị sinh cho ông Nhạc Vân và Nhạc Lôi.


Năm Nhạc Phi 24 tuổi, Bắc Tống bị quân Kim tiêu diệt, Nhạc Phi ra tiền tuyến giết giặc, gửi gắm mẹ già và con thơ cho Lưu thị. Thế nhưng không rõ vì nguyên nhân gì, Lưu thị sau đó đã cải giá tới hai lần. Sử sách không ghi chép tường minh, nhưng rất có thể Lưu thị đã chủ động rời bỏ mẹ già và con nhỏ; điều này khiến Nhạc Phi xem là nỗi nhục lớn.


Người mà Lưu thị cải giá lần thứ hai là một hiệu quan dưới trướng Hàn Thế Trung. Khi Hàn Thế Trung hỏi Nhạc Phi nên xử trí ra sao, Nhạc Phi gửi tặng chút tiền bạc nhưng kiên quyết từ chối đón vợ cũ về. Cùng năm đó, Nhạc Phi cưới một người con gái làng chài họ Lý; bà Lý thị này sinh cho ông ba người con trai và một người con gái. Sau khi Nhạc Phi bị xử oan, Lý thị cùng các con cũng bị lưu đày. Mãi sau này khi Tống Cao Tông băng hà, Tống Hiếu Tông lên ngôi giải oan cho Nhạc Phi thì Lý thị và hậu duệ mới được triều đình biệt đãi.


Dẫu Nhạc Phi là bậc đại anh hùng, nhưng một người phụ nữ đi theo một vị đại anh hùng đã triệt tiêu toàn bộ bản ngã và tư dục như thế sẽ có cảm giác gì? Liệu có hạnh phúc không? Liệu có cảm giác an toàn hay không?


Khi Nhạc Phi biểu hiện hoàn toàn không xem gia đình là trọng, người vợ của ông e rằng khó lòng có được cảm giác an toàn. Bởi người chồng tuy là đại anh hùng nơi sa trường, nhưng trong việc bảo bọc mái ấm gia đình lại thiếu đi sự khôn khéo, thậm chí thiếu hẳn ý thức che chở.


Sau khi ngày càng tìm hiểu sâu sắc về Nhạc Phi, một đêm nọ tôi đã mơ thấy vài giấc mơ. Sau khi thức dậy và phân tích giấc mơ, tôi ngộ ra rất nhiều điều, bèn đăng hai bài viết sau lên Weibo:


Những hành vi vĩ đại, cao cả nếu làm quá lâu sẽ rất dễ hủy hoại cuộc sống của chính mình, đồng thời hủy diệt luôn cái "Tôi". Sau đó, cái "Tôi" này cũng sẽ quay ngược lại muốn hủy diệt người khác — và cũng dưới danh nghĩa của sự vĩ đại, cao cả.
Khi bạn hủy hoại chính mình, bạn cũng không tài nào yêu thương nổi người khác và thế giới này. Nếu bản thân thực sự nảy sinh cảm giác cao cả vĩ đại, hãy giật mình cảnh tỉnh: Bạn đã bị người khác, hoặc bị chính mình, đặt lên bàn thờ tế lễ; bạn tuy còn sống, nhưng thực chất đã chết — đó là sự hủy hoại tối hậu đối với bản ngã.

Chiếu vào con người Nhạc Phi, hai đoạn văn trên hàm ý rằng: Khi Nhạc Phi đạt đến cảnh giới "vô ngã", đó không phải là sự "vô ngã" của bậc giác ngộ, mà là sự bức tử cái tôi. Đó là một dạng tự ngược đãi tột cùng (ultimate masochism), kéo theo việc những người thân bên cạnh ông cũng phải chịu đựng sự ngược đãi ấy.


Không chỉ có vậy, sự tự hủy này mang lại cho ông một cảm giác cao cả ở bề mặt. Và rồi, sự tự hủy ẩn sâu dưới vỏ bọc cao cả ấy sẽ thôi thúc ông làm những việc vô cùng nguy hiểm, từng bước đẩy bản thân vào chốn diệt vong.


Cụ thể: Một Nhạc Phi vốn rất biết đối nhân xử thế, không màng công trạng, không tự luyến, nhưng khi đối diện với Hoàng đế Tống Cao Tông lại thể hiện sự thiếu hụt nghiêm trọng về thủ đoạn chính trị. Ông dám đường đột dâng tấu khuyên vị hoàng đế vốn không có khả năng sinh con nên lập người kế vị ra sao; ông luôn miệng hô hào đòi "nghênh đón hai vị thánh thượng" (Huy Tông và Khâm Tông) trở về; lại nắm trong tay một đội quân thiện chiến mang họ của chính mình — Nhạc gia quân...


Nếu thực sự rước được Tống Huy Tông và Tống Khâm Tông trở về, thì Tống Cao Tông biết ngồi vào đâu? Hơn nữa, uy vọng của Nhạc Phi lại quá lớn, Nhạc gia quân lại bách chiến bách thắng; ngộ nhỡ Nhạc Phi học theo Tống Thái Tổ Triệu Khuông Dẫn năm xưa bất ngờ "hoàng bào gia thân" (được binh lính khoác hoàng bào tôn làm vua) thì biết làm thế nào? Lại thêm việc Nhạc Phi dường như đến cả gia đình cũng chẳng màng tới, triều đình lấy cái gì để kiềm tỏa, khống chế ông?


Có lẽ từ tận đáy lòng, Nhạc Phi thực sự nghĩ mình là người vô dục vô ngã, nhưng tất cả những điều đó đều phạm vào đại kỵ của Tống Cao Tông.


Một người có bản ngã và biết thu xếp chu toàn cho người nhà sẽ có được sự thảnh thơi và hạnh phúc; khi làm việc, họ sẽ suy xét chu toàn hơn và cư xử ấm áp hơn. Chẳng hạn như Hàn Thế Trung, hay một danh tướng khác cùng thời là Ngô Giới, đều rất khác biệt so với Nhạc Phi.


Khái quát lại: Khi Nhạc Phi theo đuổi sự cao cả, ông rất dễ tự hủy; khi ông thôi thúc Tống Cao Tông cũng phải theo đuổi sự cao cả, ông đã gieo vào lòng vị hoàng đế nỗi lo sợ bị hủy diệt — và điều đó quay ngược lại mang đến họa sát thân cho chính ông. Tương tự như vậy, khi Nhạc Phi thúc ép người nhà theo đuổi sự cao cả, người thân của ông cũng phải nếm trải cảm giác bị hủy hoại.


Bởi vậy, con đường tự biến mình thành thánh nhân vốn chẳng hề dễ đi. Phải đạt tới cảnh giới của Vương Dương Minh — "Thiên lý tức nhân dục" — mới có thể thực sự chạm tới bến bờ "vô ngã". Còn nếu thông qua con đường triệt tiêu dục vọng, bóp nghẹt bản ngã để mưu cầu sự vô dục vô ngã, thì cái đích đến rất dễ là sự tự hủy diệt vô cùng đáng sợ.


 
 
 

Bài đăng gần đây

Xem tất cả
Tại sao gia đình lại gây tổn thương 

20 CÂU HỎI VỀ “GIA ĐÌNH NGUYÊN SINH” Lời tòa soạn Cuốn Tại sao gia đình lại gây tổn thương xuất bản lần đầu tại Trung Quốc vào năm 2007. Mười tám năm trôi qua, cuốn sách vẫn bán chạy bền bỉ, vẫn là lự

 
 
 
C1

1. Đóng cửa lại, rời xa sự chân thực Thế giới bên ngoài tràn ngập địch ý, thế giới bên ngoài quá đỗi xấu xa, vì vậy, tôi đóng chặt cánh cửa lòng mình lại… Thế nhưng, nếu vấn đề không được giải quyết,

 
 
 

Bình luận


bottom of page