CHƯƠNG 5: PHÂN TÍCH CỤ THỂ CÁC BIỂU HIỆN THƯỜNG GẶP CỦA CẢM GIÁC TOÀN NĂNG
CHƯƠNG 5: PHÂN TÍCH CỤ THỂ CÁC BIỂU HIỆN THƯỜNG GẶP CỦA CẢM GIÁC TOÀN NĂNG
ÁM ẢNH CƯỠNG CHẾ XUẤT CHÚNG
Ở phần trước, tôi đã nhắc đến một vài hội chứng như: ám ảnh cưỡng chế xuất chúng, sợ trở nên mạnh mẽ, khó dấn thân, khó hành động. Trước hết, hãy cùng phân tích thật kỹ về chứng ám ảnh cưỡng chế xuất chúng (excellence obsession / compulsion).
Khái niệm này bắt nguồn từ một cô gái có điều kiện vô cùng ưu tú nhưng lại mắc chứng phủ nhận bản thân nghiêm trọng. Suy nghĩ cắm rễ sâu trong tâm khảm cô là: "Không đứng nhất, không xứng đáng được sống" — bản thân bắt buộc phải đạt tới đỉnh cao nhất ở một số phương diện nào đó, hơn nữa phải là thứ nguyên bản tự mình sáng tạo chứ không phải học mót từ người khác, bằng không thì không xứng đáng tồn tại trên cõi đời này.
Đây chính là biểu hiện trực tiếp của tự luyến toàn năng: Phải toàn năng, bằng không thà chết đi cho xong.
Áp lực cạnh tranh trong hệ thống giáo dục thi cử vô cùng khốc liệt, và bao nhiêu năm qua, dù xã hội có phản tỉnh ra sao, nhà nước có điều chỉnh chính sách thế nào, áp lực ấy dường như chỉ có tăng chứ chưa từng giảm bớt.
Rốt cuộc nguyên do là từ đâu? Tôi luôn muốn giải mã ẩn số này.
Ban đầu, câu trả lời tôi tìm thấy là: Trách nhiệm thuộc về hệ thống quyền lực. Một người bạn công tác trong ngành giáo dục từng bảo với tôi rằng áp lực này trực tiếp đến từ động lực thăng tiến của một bộ phận quan chức ngành giáo dục. Tiêu chí đánh giá quan chức là tỷ lệ đỗ đạt; mà tỷ lệ đỗ đạt bên này cao thì bên kia sẽ thấp, do đó cạnh tranh vô cùng gay gắt. Áp lực của quan chức dồn xuống hiệu trưởng, hiệu trưởng trút lên giáo viên, giáo viên dồn sang học sinh và phụ huynh, rồi phụ huynh lại tiếp tục tạo áp lực ngược lại cho con cái...
Tôi thấy cách lý giải này rất có sức thuyết phục. Hồi đó tôi còn làm mảng tin quốc tế cho báo Quảng Châu Nhật Báo. Đến năm 2005 khi bắt đầu chủ trì chuyên mục tâm lý, lắng nghe dồn dập hàng ngàn câu chuyện từ vô số gia đình Trung Quốc, tôi dần nhận thấy phụ huynh mới là những người phải gánh trách nhiệm hàng đầu. Sự kỳ vọng của các bậc cha mẹ đối với con cái thực sự quá đỗi đáng sợ.
Vài năm sau, tôi nhận ra hệ thống trường học do một số giáo viên tạo nên cũng biến thái không kém. Họ khiến cho áp lực của một đứa trẻ học lớp Một còn nặng nề hơn cả người đi làm, lại còn dùng đủ mọi phương thức để khống chế phụ huynh, bắt phụ huynh giám sát con cái. Chẳng hạn, mỗi phụ huynh mỗi ngày nhận ít nhất ba tin nhắn thông báo tình hình biểu hiện của con ở trường, đặc biệt là điểm số.
Về sau, khi làm tham vấn tâm lý đủ lâu, tôi phát hiện sâu thẳm trong lòng đại đa số thân chủ đều ẩn giấu thứ logic của chứng ám ảnh cưỡng chế xuất chúng: "Không xuất chúng, không xứng đáng được sống".
Cuối cùng tôi đã hiểu ra: Áp lực của hệ thống giáo dục thi cử là do hệ thống quyền lực, nhà trường, phụ huynh và thậm chí chính bản thân học sinh cùng nhau tạo dựng nên. Đó là "tâm thức tập thể" của chúng ta; chính chúng ta đã cùng nhau nhào nặn ra con quái vật này.
Không xuất chúng, không xứng đáng được sống. Nhưng nếu cuộc đời chỉ có mỗi sự xuất chúng, thì hậu quả sẽ ra sao?
Tháng 3 năm 2016, xảy ra đồng thời hai sự kiện nóng:
Một người mẹ tự xưng tốt nghiệp Đại học Bắc Kinh đã sắp xếp cho con gái một thời gian biểu biến thái: Từ 5 giờ sáng thức dậy đến 11 giờ đêm đi ngủ đều kín mít lịch trình, vắt kiệt từng chút thời gian của con gái chỉ nhằm mục đích giúp con trở nên ưu tú hơn.
Vụ án sinh viên Đại học Bắc Kinh Ngô Tạ Vũ sát hại mẹ ruột. Tháng 7 năm 2015, hắn ra tay giết mẹ tại nhà, sau đó dùng chất hút ẩm và màng bọc nilon biến thi thể mẹ thành xác khô. Rợn người hơn nữa là hắn lắp camera trong nhà để có thể theo dõi hiện trường qua điện thoại di động.
Hai câu chuyện này đặt cạnh nhau mang đậm tính châm biếm sâu cay. Người mẹ ở câu chuyện thứ nhất hệt như một kẻ cuồng kiểm soát bệnh hoạn, muốn nắm giữ toàn bộ thời gian của con trong tay mình. Đây là biểu hiện kinh điển của tự luyến toàn năng: "Tôi kiểm soát triệt để mọi thứ của bạn, bắt bạn phải sống hoàn toàn theo ý nghĩ của tôi; bạn bắt buộc phải phối hợp với tôi, có thế bạn mới trở thành đứa trẻ xuất chúng theo đúng ước nguyện của tôi".
Còn Ngô Tạ Vũ từng là một đứa trẻ hoàn hảo trong mắt mọi người. Bạn học đặt biệt danh cho hắn là "Vũ Thần". Hắn không chỉ học giỏi (điểm thi GRE nằm trong top 5% toàn cầu), thể thao xuất sắc, mà lúc nào cũng nhiệt tình giúp đỡ người khác, nói cười rạng rỡ, tràn đầy năng lượng tích cực.
Nhưng cuối cùng, tội ác kinh hoàng của hắn đã phơi bày một sự thật: Vẻ ngoài trông hoàn hảo bao nhiêu thì thế giới nội tâm bên trong lại biến thái bấy nhiêu.
Chúng ta buộc phải tự hỏi một câu: Nếu không có một trái tim bình thường và khỏe mạnh, thì sự ưu tú ấy rốt cuộc có ý nghĩa gì?
Hai tin tức này làm tôi nhớ lại một bi kịch luân thường đạo lý xảy ra ở Quảng Châu nhiều năm trước: Một nam sinh viên họ Đổng vì quá tôn sùng sự xuất chúng, nên trong một lần tranh cãi với cha, hắn đã nhẫn tâm ra tay giết cha mình.
Lẽ ra, ưu tú, tài hoa, xuất chúng... chẳng phải đều là những từ ngữ rất tốt đẹp hay sao? Cớ sao trong những câu chuyện này, chúng lại toát ra mùi vị bệnh hoạn đến thế?
Chúng ta hãy cùng nhìn vào một câu chuyện về trẻ sơ sinh để xem chứng ám ảnh cưỡng chế xuất chúng có thể được hình thành như thế nào.
Một nữ thân chủ của tôi kể rằng, em gái cô và em gái của chồng cô sinh con trai gần như cùng một thời điểm. Cô quan sát thấy hai người mẹ mới này đối xử với đứa con vài tháng tuổi của mình theo hai thái cực hoàn toàn trái ngược:
Em gái cô luôn mang vẻ mặt hờ hững, lạnh nhạt với con. Đứa trẻ thường xuyên khóc, nhưng tiếng khóc thông thường không bao giờ khiến người mẹ để tâm; chỉ khi nào đứa bé khóc ngặt nghẽo, khóc không ra hơi, người mẹ mới uể oải bước lại xem có chuyện gì. Hơn nữa khi chăm con, cô em gái luôn lộ rõ vẻ thiếu kiên nhẫn. Thân chủ của tôi đã nhiều lần khuyên can và tặng sách nuôi dạy con cho em gái; cô em bảo muốn sửa đổi nhưng rồi đâu lại vào đấy.
Em gái của người chồng thì hoàn toàn ngược lại: Cô ấy cực kỳ nhạy bén với các nhu cầu của con. Chuyện ăn, uống, tiêu, tiểu, ngủ, chơi của đứa trẻ đều nhận được sự phản hồi và đáp ứng kịp thời, ân cần.
Đối diện với hai phong cách nuôi dạy khác nhau ấy, vị thân chủ này lại xuất hiện thái độ mâu thuẫn kỳ lạ: Vốn là người ủng hộ triết lý yêu thương và tự do, về mặt lý trí cô hoàn toàn đồng tình với cách nuôi dạy của em chồng và phản đối cách của em gái ruột; thế nhưng về mặt cảm xúc, cô lại thường xuyên cảm thấy vô cùng phẫn nộ với người em chồng.
"Tại sao cô lại phẫn nộ? Cơn giận của cô muốn nói lên điều gì?" — tôi hỏi.
Cô bảo nguyên nhân mấu chốt là lòng đố kỵ. Cô ghen tị vì em chồng là một người mẹ tốt, ghen tị vì đứa cháu nhỏ nhận được sự chăm sóc tuyệt vời đến thế; đồng thời cô thường nghĩ bụng: Chẳng phải chuyện bé xé ra to sao? Việc gì phải bận tâm thái quá đến một đứa bé sơ sinh như vậy?
Sau đó cô tiếp tục tự nhìn lại, và nhận ra cả hai người em đều đang vô thức lặp lại cách mà mẹ của họ từng nuôi dạy họ thuở ấu thơ:
Mẹ ruột của cô là người xa cách, lạnh lùng, hầu như không đoái hoài đến nhu cầu của con cái. Thậm chí dẫu có nhìn thấy, bà cũng cố tình không đáp ứng. Cô còn nhớ rất rõ thuở nhỏ khi cô gào khóc thảm thiết, mẹ cô sẽ vô cùng bực bội; thi thoảng mới đáp ứng qua loa, còn phần lớn là mắng nhiếc, thậm chí gọi bố vào đánh cho một trận.
Mẹ chồng cô lại là người nhiệt tình, ấm áp; bà luôn hết lòng vì con trai, con dâu, con gái và các cháu, luôn khắc ghi mọi nhu cầu của người khác trong lòng một cách tự nhiên và hoàn toàn cam tâm tình nguyện.
Hai phong cách nuôi dạy này sẽ dẫn đến kết cục gì?
Mọi đứa trẻ sơ sinh đều sống trong sự tự luyến toàn năng. Nếu nhận được sự chăm sóc tốt, sự tự luyến toàn năng của đứa trẻ vừa được thỏa mãn, lại vừa được nhân tính hóa; đứa trẻ sẽ từ trạng thái tự luyến toàn năng cô độc bước vào thế giới quan hệ chân thực, sẵn sàng thừa nhận sự bất lực của bản thân để gắn bó với mẹ.
Đặc biệt quan trọng là: Đứa trẻ sẽ biết tận hưởng cuộc sống bình phàm và chân thực. Khi những nhu cầu rất đỗi đời thường như ăn, uống, ngủ, nghỉ, chơi đùa đều được người mẹ ân cần chăm sóc, điều đó đồng nghĩa với việc đứa trẻ có thể xây dựng mối liên kết với mẹ thông qua chính những khoảnh khắc ấy. Nhờ vậy, đứa trẻ cảm thấy những nhu cầu tự nhiên của mình đều là đúng đắn, đều có thể thoải mái bộc lộ trong mối quan hệ.
Ngược lại, nếu những nhu cầu bình thường này phần lớn không được đáp ứng, đứa trẻ sẽ cảm thấy những nhu cầu ấy vốn không nên tồn tại; sự tồn tại của chúng là một nỗi hổ thẹn, đáng bị lên án và đè nén.
Nghiêm trọng hơn, nỗ lực thiết lập mối quan hệ của đứa trẻ đã thất bại, vì thế nó sẽ thoái lùi về sự tự luyến toàn năng cô độc. Nó sẽ hình thành một nhận thức méo mó: Cuộc sống đời thường không quan trọng, tự luyến toàn năng mới là quan trọng; nếu tôi toàn năng, tôi có thể kiểm soát cuộc đời mình; nếu tôi hoàn hảo, người khác mới yêu quý tôi.
Theo tôi, chứng ám ảnh cưỡng chế xuất chúng chính là được phát triển theo cách như vậy: Đứa trẻ sơ sinh thất bại trong việc thiết lập mối quan hệ với mẹ, bèn quay sang thoái lùi về tự luyến toàn năng để tự vỗ về chính mình.
Chẳng hạn như nữ thân chủ nọ, cô mang cảm giác toàn năng vô cùng nặng nề. Khi điều hành một nhà xưởng, cô nhận thấy chuyện gì mình cũng phải nhúng tay kiểm soát, và hễ làm là phải hoàn hảo tuyệt đối; chỉ cần xuất hiện một sơ hở nhỏ nhất, cô cũng không kìm được mà quay sang tự dằn vặt, tấn công chính mình.
Đồng thời, cô không có niềm tin vào bất kỳ ai: Cô thấy chẳng cần thuê kế toán làm gì, bởi kế toán đưa sổ sách sang, cô vẫn phải tự tay tính lại ba lần; cô cũng không tin chồng mình — người chịu trách nhiệm quản lý nhân viên — mà luôn săm soi, bắt bẻ anh; người chồng dẫu tính tình hiền lành nhưng đôi khi cũng không nhịn nổi mà cãi nhau nảy lửa với cô.
Thuở đi học, cô mắc chứng ám ảnh xuất chúng: Thi cử thất bại mang lại cho cô cảm giác sống không bằng chết; sau khi trượt đại học, cô rơi vào trạng thái sụp đổ tinh thần suốt ba năm ròng rã.
Sự truy cầu của chúng ta đối với xuất chúng, ưu tú, thậm chí hoàn hảo, về bản chất chính là như vậy. Đó là một trò chơi cô độc bắt nguồn từ sự tự luyến toàn năng.
Trò chơi cô độc này sẽ dẫn đến một hệ lụy: Cho dù thành tích của bạn có đạt tới mức xuất chúng, bạn vẫn luôn cảm thấy bản thân mình chưa đủ tốt, bởi bạn thực sự sẽ thiếu đi năng lực sáng tạo và tính nguyên bản.
Bởi lẽ năng lực thực sự chỉ được kiến tạo bên trong mối quan hệ. Bạn bắt buộc phải dấn sâu vào mối quan hệ, buông bỏ mọi định kiến và sự phán xét chủ quan của mình để chạm tới đạo lý của chính sự vật, tôn trọng sự tồn tại tự thân của sự vật. Có như vậy, bạn mới thiết lập được mối liên kết với sự vật, từ đó nắm bắt được bản chất và quy luật vận hành của nó.
Khi bạn sẵn sàng buông bỏ cái "Tôi" để tôn trọng quy luật khách quan, bạn mới thực sự sở hữu năng lực đích thực và sức sáng tạo dồi dào.
Vì thế, phương pháp chữa lành chứng ám ảnh cưỡng chế xuất chúng không phải là cố gắng đạt được sự xuất chúng thực sự, cũng không phải là ép mình từ bỏ khát vọng xuất chúng, mà là: Bước vào những mối quan hệ sâu sắc.
CHỨNG SỢ TRỞ NÊN MẠNH MẼ
Chứng sợ trở nên mạnh mẽ (fear of becoming powerful / strong) là mặt đối lập của chứng ám ảnh cưỡng chế xuất chúng. Ám ảnh xuất chúng là "không xuất chúng thì không xứng đáng được sống", còn sợ mạnh mẽ là "không dám trở nên mạnh mẽ".
Nhắc đến hội chứng này, người đầu tiên tôi nghĩ đến là một người đàn ông làm việc tại một doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, tính tình vô cùng cần mẫn. Ban đầu anh quản lý một nhóm nhỏ khoảng 5 đến 6 người; sau khi các cấp dưới trong nhóm đều thuận lợi thăng tiến, công ty cũng cất nhắc anh lên chức. Chức vụ tăng một bậc, thu nhập tăng rõ rệt, và quy mô đội ngũ do anh quản lý mở rộng lên hơn mười người. Thế nhưng kể từ đó, anh mắc chứng trầm cảm, bệnh tình ngày một nặng thêm, cuối cùng không thể làm việc được nữa và buộc phải xin nghỉ dài hạn.
Anh chỉ đến gặp tôi vài buổi tham vấn. Qua trò chuyện, tôi nhận ra việc thăng chức và quyền lực mở rộng khiến anh cảm thấy vị thế của mình bị đẩy lên cao, trong khi từ trước đến nay anh vốn quen với việc đứng ở vị trí thấp hơn người khác một chút.
Hơn nữa, khi còn quản lý nhóm nhỏ, phong cách của anh thực chất là "vô vi nhi trị" (thuận theo tự nhiên). Bởi quản lý đồng nghĩa với việc phải vận dụng quyền lực, phải đứng ở vị thế cao của chiều kích tự luyến để phát hiệu ra lệnh — điều mà anh hoàn toàn không làm nổi. Anh chỉ đơn thuần tập trung làm tốt chuyên môn kỹ thuật của mình; nếu cấp dưới đến hỏi han, anh sẽ tận tình chỉ bảo không giấu giếm; khi cấp dưới hoàn thành tốt công việc, anh hết lời khen ngợi họ trước ban giám đốc.
Phong cách này làm một lãnh đạo cấp cơ sở thì hoàn toàn ổn, thậm chí là rất tốt, nhờ đó mà lứa nhân viên ban đầu của anh đều thuận lợi thăng tiến. Nhưng khi phải quản lý hơn mười người, tính chất phức tạp tăng lên gấp bội, đòi hỏi anh phải thực sự đứng ở vị thế quyền uy của một nhà lãnh đạo — đây là thử thách quá tầm đối với anh.
Sau khi thăng chức, trong đầu anh luôn nung nấu ý định xin lui về vị trí cũ, hoặc làm một nhân viên kỹ thuật bình thường cũng được. Nhưng khi chia sẻ ý định này với người nhà, ai nấy đều trách anh sao không có chí tiến thủ, đây là cơ hội được công ty và cấp trên trọng dụng, anh không được buông xuôi mà phải thể hiện thật tốt.
Thông qua tham vấn, anh một lần nữa củng cố lại suy nghĩ chân thật của mình và thuyết phục được gia đình đồng thuận. Sau đó, anh đề đạt nguyện vọng xin giáng chức, thậm chí chấp nhận làm nhân viên bình thường. Ban lãnh đạo công ty vô cùng kinh ngạc, nhưng vì môi trường làm việc rất nhân văn và cũng lo ngại tình trạng trầm cảm của anh, họ đã đồng ý cho anh quay về vị trí ban đầu.
Kết quả là, anh như trút được gánh nặng nghìn cân, và cái gọi là chứng trầm cảm cũng cơ bản biến mất.
Trong phần Lời mở đầu tôi từng nói, nhân tính có hai chiều kích căn bản: Chiều kích tự luyến và Chiều kích quan hệ. Có quá nhiều người chưa thể bước vào chiều kích quan hệ một cách lành mạnh, tâm trí phần lớn vẫn kẹt lại ở chiều kích tự luyến. Chiều kích tự luyến chính là chiều kích quyền lực, chiều kích sức mạnh; đặc trưng chủ yếu của nó là cao và thấp, mạnh và yếu. Khi đứng ở vị thế cao, cảm thấy bản thân mạnh mẽ, sự tự luyến được thỏa mãn; khi đứng ở vị thế thấp, cảm thấy yếu ớt, sự tự luyến bị tổn thương, từ đó sinh ra cảm giác hổ thẹn nhất định.
Đứng ở vị thế thấp là điều đáng xấu hổ, khó chịu và tổn thương tự luyến; thế nhưng người đàn ông này vì nhiều nguyên nhân khác nhau, từ nhỏ đã luôn bị đặt ở vị thế tự luyến thấp kém, và xoay quanh vị trí ấy đã hình thành nên một phong cách sống quen thuộc trong xã hội: An phận thủ thường, không tranh với đời (dữ thế vô tranh).
Khi bị đẩy lên vị thế tự luyến cao, anh vô cùng bỡ ngỡ và hoảng loạn, bởi cái tôi "không tranh với đời" bấy lâu nay bỗng chốc bị sụp đổ, mất đi chức năng tự thể quen thuộc. Đến khi được quay trở lại vị thế thấp, cái tôi của anh tự động vận hành trơn tru trở lại, và chứng trầm cảm do sự tan rã bản ngã gây ra cũng tự khắc được chữa lành.
Qua câu chuyện này, chúng ta có thể thấy rõ: Sợ hãi sự mạnh mẽ thực chất là sợ hãi việc phải đứng ở vị thế cao của chiều kích tự luyến.
Chứng sợ mạnh mẽ ở mức độ nặng sẽ biểu hiện ở việc: Hễ gặp bất kỳ điều gì có thể khiến bản thân cảm thấy mạnh mẽ, bạn sẽ theo bản năng mà chối bỏ và sợ hãi nó.
Phổ biến nhất là chứng sợ tiền bạc: Tiền bạc là một trong những yếu tố dễ mang lại quyền lực nhất ở chốn hồng trần này. Sợ tiền, không dám trở thành người giàu có, hễ có tiền là gặp chuyện xui xẻo, chỉ muốn nhanh chóng tiêu sạch hoặc phung phí cho hết — đó là biểu hiện thường thấy của chứng sợ tiền.
Kế đến là quyền lực: Người sợ mạnh mẽ rất khó nắm giữ quyền lực. Quyền lực cũng giống như tiền bạc, có thể giúp con người trở nên hùng mạnh, nhưng đối với người đàn ông trong câu chuyện trên, việc thăng chức chỉ mang lại cho anh nỗi sợ hãi tột cùng.
Tiếp theo là khả năng bộc lộ: Một thân chủ siêu tự luyến của tôi rất đam mê diễn thuyết. Trong quá trình tham vấn, anh nhận ra sâu trong tiềm thức mình luôn ẩn giấu hình tượng một "nhà diễn thuyết vĩ đại" — tựa như bức tượng danh nhân quen thuộc: ngẩng cao đầu ưỡn ngực, một tay giơ cao, lời lẽ hùng hồn tuôn trào như thác lũ, còn mọi người bên dưới chỉ biết ngoan ngoãn lắng nghe trong câm lặng, chỉ được phép vỗ tay và reo hò tán thưởng.
Anh là một chủ doanh nghiệp, trước khi đến gặp tôi, anh thường xuyên bị "đứng hình" (nghẽn lời) trong các cuộc họp công ty. Chúng tôi phát hiện nguyên nhân anh bị nghẽn lời là vì mỗi khi thấy nhân viên ngáp, mất tập trung, thì thầm to nhỏ hay bấm điện thoại, anh lập tức mất sạch tự tin, hoang mang tự hỏi liệu có phải bài phát biểu của mình quá dở nên họ mới có phản ứng như vậy. Đồng thời, trong lòng anh bùng lên cơn thịnh nộ toàn năng; nhưng vì ý thức được mình phải kìm nén cơn giận, cơn thịnh nộ lập tức biến thành cảm giác hoàn toàn bất lực, quay ngược lại đè nén chính mình, khiến mạch tư duy bị đứt đoạn, dẫn đến việc đứng hình.
Ngược lại, những người không dám bộc lộ trọn vẹn bản thân chính là những người không dám mạnh mẽ. Chẳng hạn như tôi, khả năng diễn đạt của tôi không tệ, nhưng khi viết lách hay giảng bài, tôi vẫn thường vô thức chêm vào những lời dài dòng không cần thiết. Thực chất điều này xuất phát từ tiềm thức: Tôi cảm thấy một cách diễn đạt quá trực diện, quá mạnh mẽ và đanh thép sẽ giống như một sự mạo phạm đối với người khác. Đặc biệt đôi lần xuất hiện trong những sự kiện quy tụ toàn các bậc nhân vật tầm cỡ, tôi bỗng nhiên nói năng ấp úng, lộn xộn một cách kỳ lạ.
Không phải doanh nhân nào cũng giỏi nắm giữ quyền lực và bộc lộ bản thân. Ví dụ, một nữ doanh nhân nọ, mỗi lần liên hoan cuối năm nhân viên hô hào: "Sếp phát biểu vài câu đi sếp!", cô đều ngượng ngùng đỏ mặt đứng dậy bảo: "Thôi, chúng ta khai tiệc đi!".
Một biểu hiện khác là thể xác: Thân thể cường tráng là biểu hiện trực quan nhất của sự mạnh mẽ, trong khi cơ thể ốm yếu đôi khi lại chính là hệ quả của nỗi sợ trở nên mạnh mẽ.
Trong tham vấn cũng như đời sống thường nhật, tôi thường thấy người nắm giữ ít quyền lực nhất trong gia đình lại là người có sức khỏe kém nhất. Nếu các thành viên trong gia đình đó đều rất tự luyến và ngập tràn những cuộc đấu đá quyền lực, người này sẽ rất dễ ốm đau quặt quẹo, cơ thể vô cùng suy nhược.
Sự suy nhược tuy là hệ quả của chứng sợ mạnh mẽ, nhưng lại mang đến cho họ một số "lợi ích ngầm": Một nữ thân chủ lớn lên trong gia đình trọng nam khinh nữ nặng nề, là người yếu thế nhất nhà; thể xác cô vô cùng yếu ớt, rất dễ đổ bệnh, làm việc gì cũng chậm chạp lề mề. Vì thế, người nhà dần hình thành một sự đồng thuận ngầm, mỗi khi cô định làm gì họ đều mất kiên nhẫn gạt đi: "Thôi thôi, để đấy, đừng có đụng vào!". Nhờ vậy, cô được giải thoát khỏi sự chỉ đạo và kiểm soát của những thành viên quyền lực trong nhà.
Tự luyến là thuộc tính căn bản của con người; những ai không thể tự tin, kiêu hãnh một cách thanh thản thì hãy giật mình cảnh tỉnh: Có thể bạn đang mắc chứng sợ trở nên mạnh mẽ.
Tại sao lại như vậy? Tại sao thuộc tính căn bản này của con người lại bị đè nén dữ dội đến thế?
Điều này thường xuất phát từ hai nguyên nhân:
Gia đình, đặc biệt là người nuôi dưỡng, tuyệt đối không cho phép bạn đứng ở vị thế tự luyến cao hơn họ.
Cả gia đình đều đang nằm ở vị thế thấp kém của chiều kích tự luyến.
Dĩ nhiên, nhiều người sẽ nhận thấy gia đình mình dường như hội tụ cả hai yếu tố này: Gia đình bạn ở ngoài xã hội thuộc tầng lớp thấp, cha mẹ bước chân ra ngoài thì khúm núm cúi đầu, thái độ nhún nhường; nhưng hễ quay về nhà lại lập tức biến thành những "ma vương" siêu tự luyến.
Cả hai nguyên nhân này đều không khó hiểu: Nếu cha mẹ không bao giờ cho phép con cái đứng ở vị thế tự luyến cao hơn, luôn dùng đòn roi và lời lẽ tàn nhẫn để vùi dập con, thì trong phần lớn trường hợp, sự tự luyến của đứa trẻ sẽ bị đập nát hoàn toàn. Song cũng có khả năng đứa trẻ chịu đựng đến mức giọt nước tràn ly, quay sang nổi loạn dữ dội, cuối cùng quy phục lại cha mẹ và trở thành kẻ kiểm soát cả gia đình.
Tại sao có những bậc cha mẹ cả đời không bao giờ chịu khen ngợi con lấy một lời trước mặt?
Một phần là vì họ thực sự thấy con mình chưa đủ tốt. Nghĩa là nếu cha mẹ là những kẻ tự luyến toàn năng nặng nề, thì đứa con dẫu có ưu tú đến đâu cũng không thể nào chạm tới kỳ vọng toàn năng của họ, do đó họ thực sự không hài lòng.
Một phần khác là vì dẫu trong lòng có công nhận và thán phục con, nhưng cha mẹ cảm thấy việc buông lời khen ngợi sẽ đặt đứa con lên vị thế tự luyến cao hơn, vô hình trung đẩy bản thân xuống vị thế thấp, vì vậy họ tuyệt đối không chịu làm điều đó.
Rất nhiều câu tục ngữ dân gian phản ánh tâm lý này, ví như: "Ba ngày không đánh, trèo lên mái ngói lật ngói", hay "Cánh mày cứng rồi đấy à!". Những câu nói ấy đều mang một hàm ý: Không đè nén thì đứa trẻ sẽ "bay lên mái nhà, bay lên tận trời" — một sự miêu tả hình ảnh sống động về vị thế tự luyến trên cao.
Một số phụ huynh lại lấy làm lạ: "Tôi rất tôn trọng con, cớ sao con tôi vẫn cứ nhu nhược, yếu đuối như vậy?". Đó chính là do nguyên nhân thứ hai: Cả gia đình đều đang nằm ở đáy của chiều kích tự luyến; trong nhà không có lấy một người lớn nào dám vươn lên tranh giành vị thế cao trong xã hội, ai nấy đều không dám tự tin, kiêu hãnh. Cứ thế, đứa trẻ không những không có tấm gương để noi theo, mà chắc chắn còn tiếp nhận một thông điệp ngầm từ cha mẹ: Tranh giành vị thế tự luyến trên cao là một việc vô cùng nguy hiểm.
Trên chiều kích tự luyến, con người ta luôn cạnh tranh lẫn nhau. Khi thiếu vắng cảm nhận về chiều kích quan hệ, cuộc cạnh tranh cao - thấp, mạnh - yếu trên chiều kích tự luyến sẽ mang đậm màu sắc "một mất một còn". Đứng ở vị thế cao thì cảm thấy hãnh diện, nhưng lại chuốc lấy sự đố kỵ ghen ghét của người khác; đồng thời những kẻ ở vị thế cao hơn có thể cảm thấy bị đe dọa mà ra tay vùi dập. Ngược lại, nếu luôn an phận ở vị thế thấp, như thể đã dập tắt hoàn toàn dục vọng cạnh tranh (sự tự luyến), ngoan ngoãn phục tùng tuyệt đối, thì vừa không bị ai ghen ghét, lại chẳng ai phải đề phòng, kiêng dè.
Người nằm ở vị thế thấp, sống "không tranh với đời", rất dễ tự ru ngủ mình bằng cảm giác: Tôi là người tốt. Thế nhưng sự thật có thể vô cùng phũ phàng: Bạn chỉ là một kẻ yếu đuối mà thôi.
Trong chiều kích tự luyến, sự cạnh tranh giữa cao và thấp, mạnh và yếu tàn khốc và khốc liệt đến dường ấy; nhưng khi con người có thể cảm nhận chân thực tình cảm ở chiều kích quan hệ, họ mới thực sự trải nghiệm được sự bình đẳng đích thực. Khi ấy, ta mới có thể thoải mái tự do lựa chọn vị trí cho mình: Có thể cao mà cũng có thể thấp, có thể mạnh mẽ mà cũng có thể yếu mềm.
TẠI SAO KÈM CON HỌC BÀI LẠI KHÓ ĐẾN THẾ?
Ám ảnh xuất chúng và sợ mạnh mẽ cấu thành một cặp mâu thuẫn: Kẻ muốn xuất chúng thì chối bỏ sự yếu đuối, còn kẻ sợ mạnh mẽ lại cự tuyệt sự hùng mạnh.
Cả hai trạng thái tâm lý này đều mang lại đau khổ, bởi trạng thái tâm trí tốt nhất của con người là "vừa có thể là A, vừa có thể là -A"; trong khi hai vấn đề trên lại chỉ cho phép bản thân đứng ở một cực của nhân tính, tức "chỉ được là A, không được là -A". Thế nhưng, "chỉ được là A, không được là -A" vẫn chưa phải là điều đau khổ nhất; trạng thái tâm trí cùng cực đau khổ nhất phải là: "Bạn vừa không được là A, lại vừa không được là -A."
Khi một người truyền đi thông điệp "mày vừa không được là A, lại vừa không được là -A" cho một người khác, điều đó đã tạo nên một thế "trói buộc kép" (double bind). Đây là khái niệm do nhà tâm thần học người Anh Gregory Bateson đề xướng; ông cho rằng trói buộc kép chính là một trong những nguyên nhân hàng đầu dẫn đến bệnh tâm thần.
Trong các gia đình Trung Quốc, việc cha mẹ kèm con học bài rất dễ biến thành một chuyện đau đớn tột cùng. Chuyện này trở nên khổ sở đến vậy là bởi một số phụ huynh mắc chứng ám ảnh xuất chúng, muốn ép con liều mạng theo đuổi sự xuất sắc. Nhưng tồi tệ hơn cả là cách hành xử của một số cha mẹ lại tạo ra chiếc bẫy trói buộc kép đối với con mình.
Hãy cùng bóc tách hiện tượng này:
Kèm con làm bài tập khó đến mức nào? Trên mạng internet có vô vàn câu chuyện cười ra nước mắt, còn ngoài đời thực lại đầy rẫy những bi kịch cực đoan:
Có phụ huynh tức giận đến mức lên cơn nhồi máu cơ tim, thậm chí có người mẹ không chịu nổi đã đòi tự tử. Một phụ nữ họ Lưu ở Thượng Hải vì nảy sinh xung đột khi kèm con trai làm bài tập mà uất ức nhảy sông tự tử, may mắn được cứu sống kịp thời. Cụm từ "đòi tự tử" dễ khiến người ta ngỡ là đang làm trò ăn vạ, nhưng thực chất có những bậc cha mẹ lúc đó thực sự không muốn sống nữa.
Cực đoan không kém là việc có những đứa trẻ bị cha mẹ dồn ép đến mức phải tìm đến cái chết. Đáng sợ hơn nữa, một người cha ở Hàng Châu khi ngồi kèm con làm bài tập, đứa con trai 15 tuổi đã cầm dao gọt hoa quả chĩa vào bố; hay một học sinh trung học ở Hạ Môn chém trọng thương cha và chém chết mẹ ruột, được cho là cũng bắt nguồn từ xung đột gay gắt khi kèm cặp học hành.
Tại sao sự việc lại có thể leo thang đến mức độ rùng rợn như vậy?
Bởi vì đằng sau mọi nỗi lo âu thực chất đều là nỗi lo âu về cái chết (death anxiety). Đây là một nhận định của tôi, và cũng là lời giải thích gắn liền với tự luyến toàn năng.
Chúng ta đều biết khi tự luyến toàn năng bị tổn thương, con người sẽ sinh ra cơn thịnh nộ toàn năng; và cơn thịnh nộ toàn năng tột cùng xuất phát từ cảm giác "cái tôi toàn năng của mình" đã bị hủy diệt, từ đó nảy sinh dục vọng hủy diệt điên cuồng. Dục vọng hủy diệt này nếu chĩa vào người khác sẽ tấn công, làm tổn thương người khác; nếu quay ngược vào trong sẽ tấn công, hủy hoại chính bản thân mình.
Khi kèm con học bài, cha mẹ chắc chắn sẽ nảy sinh những nỗi lo âu nhất định. Nhà phân tâm học người Anh Wilfred Bion từng nhận định: Bản chất của một mối quan hệ là xem ai là người tạo ra lo âu, và ai là người chứa đựng, chuyển hóa nỗi lo âu ấy. Lo âu vốn là sự lo âu về cái chết (năng lượng chết - death energy), vì vậy việc chứa đựng và hóa giải lo âu chính là công việc chuyển hóa năng lượng chết thành năng lượng sống (life energy).
Lẽ ra cha mẹ phải là bên có tâm trí trưởng thành, phải là người chứa đựng và hóa giải âu lo; nhưng đáng tiếc thay, rất nhiều bậc cha mẹ thực chất lại là những "đứa trẻ to xác" (cự anh) — thể xác đã trưởng thành nhưng tâm lý vẫn chỉ là một đứa bé đỏ hỏn. Đừng nói đến việc hóa giải lo âu cho con, ngay cả năng lực tự dung chứa nỗi lo âu của chính mình họ cũng không có, thế là họ ra sức trút ngược toàn bộ sự hoảng loạn, âu lo ấy lên đầu đứa trẻ.
Khi cha mẹ là bên tạo ra lo âu, còn đứa con lại bất đắc dĩ trở thành bên phải gánh chịu và chuyển hóa lo âu, mối quan hệ cha mẹ - con cái đã bị đảo lộn hoàn toàn: Cha mẹ biến thành những đứa trẻ về mặt tâm lý, còn đứa con lại phải gồng mình sắm vai cha mẹ về mặt tâm lý.
Trong một đoạn video lan truyền trên mạng, một người cha đang kèm cậu con trai học lớp Một làm toán:
"Chín có thể tách thành mấy?" — người cha hỏi.
"Ba và sáu" — cậu bé trả lời.
"Chín còn có thể tách thành mấy nữa?" — người cha hỏi tiếp.
Đầu óc đứa trẻ bỗng khựng lại, trong chốc lát chưa nghĩ ra.
Người cha gợi ý thêm: "Sáu và mấy?".
Đứa con không hề suy nghĩ về câu hỏi toán học đó, mà bỗng nhiên quay sang dỗ dành cha: "Không sao đâu bố, con vỗ tay cho bố nhé!". Cậu bé vừa nói vừa thật sự vỗ tay khen ngợi cha, ánh mắt đong đầy sự lấy lòng, nịnh nọt.
Một lúc sau, cậu bé nhỏ nhẹ bảo: "Bố đừng quát con nữa nhé".
Tiếp đó, người cha dùng giọng điệu vô cùng uy nghiêm ra lệnh: "Viết số sáu vào!", đứa trẻ vội đáp: "Bé cưng biết viết mà".
Sau này khi trả lời phỏng vấn, người cha thừa nhận lúc đó mình thực sự nổi cơn thịnh nộ. Anh bảo đã dạy con phép tính trong phạm vi 10 không biết bao nhiêu lần mà thằng bé cứ không nhớ nổi, nên người hiền lành đến mấy cũng phải phát điên mà quát tháo.
Đó chính là hình ảnh đứa con đang phải gồng mình gánh chịu và xoa dịu nỗi lo âu của người cha — một sự đảo lộn vai vế tâm lý đầy xót xa.
Cơn giận của người cha chính là biểu hiện ở một mức độ nào đó của cơn thịnh nộ toàn năng. Từ đó có thể phân tích ra rằng: Khi dạy con, ông mang một kỳ vọng tự luyến toàn năng rằng đứa trẻ phải lập tức tiếp thu ngay những kiến thức mình truyền đạt, bằng không ông sẽ nổi trận lôi đình.
Cơn thịnh nộ (nỗi lo âu về cái chết, năng lượng chết) lập tức xâm chiếm toàn bộ tâm trí đứa trẻ, khiến tâm hồn non nớt của em không còn một chút không gian nào để xử lý câu hỏi khách quan "Chín có thể tách thành mấy và mấy" nữa.
Một chi tiết nhỏ nhưng vô cùng chí mạng: Người cha dùng giọng điệu uy nghiêm không thể chối từ để quát "Viết số sáu vào!" — đó là hành vi ra lệnh, chỉ đạo, nhằm mục đích chiếm lĩnh vị thế cao của chiều kích tự luyến trong mối quan hệ với con. Lúc này, đứa trẻ bị dồn vào vị thế tự luyến thấp kém; em cảm thấy không thoải mái, cũng không cam tâm bị sai khiến, nên mới lí nhí phân bua: "Bé cưng biết viết mà".
Trong những chi tiết vi tế ấy, người cha đang mải mê chơi trò tự luyến với con, dẫn đến xung đột ngầm trong mối quan hệ, bào mòn toàn bộ năng lượng tâm trí của đứa trẻ. Đó mới chính là nguyên nhân sâu xa khiến cậu bé không thể ghi nhớ bài học. Người cha quá đỗi uy nghiêm — một kẻ tự luyến khó chọc vào — đứa con vừa sợ cha, nhưng lại không cam tâm bị cha tùy tiện giật dây, nên rất có thể đứa trẻ đã vô thức dùng sự "không nhớ bài" như một vũ khí để chống đối và trả đũa lại sự tự luyến của người cha.
Đây là căn bệnh nan y vô cùng phổ biến của các bậc phụ huynh khi kèm con học bài: Cha mẹ sa đà vào việc thỏa mãn sự tự luyến của bản thân, thậm chí mang đậm màu sắc tự luyến toàn năng, hy vọng con học nhanh hiểu sâu để chứng minh mình là một người thầy vĩ đại biết bao. Để rồi khi con không hiểu bài, thay vì dung chứa và hóa giải sự lo âu của đứa trẻ, cha mẹ lại tùy tiện xả cơn phẫn nộ, tiếp tục truy cầu sự thỏa mãn tự luyến.
Chúng ta phải hiểu một điều: Một người quá dễ nổi giận đồng nghĩa với việc họ luôn muốn thấy mình ở vị thế cao của chiều kích tự luyến — một vị thế đầy quyền lực. Điều đó mang lại cho họ cảm giác thỏa mãn tuyệt vời.
Nếu cha mẹ trút ra cơn thịnh nộ, đó sẽ là nguồn sức mạnh mang tính hủy diệt, rất dễ nghiền nát mọi nỗ lực của con trẻ.
Tôi từng nghe rất nhiều thân chủ kể về những ký ức tuổi thơ đau đớn tột cùng, trong đó có việc cha mẹ giám sát họ làm một việc gì đó với thái độ vô cùng nghiêm khắc, hà khắc, thậm chí bạo lực. Kết cục là cha mẹ cứ giám sát cái gì thì cái đó liền bị phá hủy hoàn toàn; họ vĩnh viễn không thể nào yêu thích được công việc ấy nữa. Trường hợp nghiêm trọng nhất là có những người gần như bị hủy hoại sạch mọi sở thích, đam mê và cả chuyện học hành.
Chẳng hạn, một cô gái thuở nhỏ rất hứng thú với múa, chạy bộ và thư pháp; nhưng tất cả đều bị bàn tay hà khắc của người mẹ phá nát: Ký ức sâu đậm nhất của cô là lúc luyện chữ, người mẹ đứng bên cạnh như một vị quan tòa máu lạnh săm soi từng nét bút. Hễ cô viết một nét không vừa mắt, mẹ liền bất ngờ tấn công: hoặc giật phắt cây bút lông ném đi, hoặc xé toạc tờ giấy, miệng không ngừng gào thét, thậm chí tát thẳng vào mặt con. Cứ thế, những lần luyện chữ sau đó, tâm trí cô hoàn toàn không thể đặt vào nét chữ được nữa, mà lúc nào cũng run rẩy trong nỗi kinh hoàng, nơm nớp lo sợ mẹ sẽ bất thình lình ra tay tấn công mình.
Nếu bạn là mẫu phụ huynh như vậy, điều duy nhất bạn cần làm là: "Chặt tay chặt chân" — tức là trói chặt cái ham muốn dạy dỗ con của bạn lại. Có như vậy, việc học hành hay sở thích của con mới không phải oằn mình gánh chịu nguồn năng lượng chết khổng lồ do cha mẹ ném sang. Hơn nữa, cha mẹ không cần quá lo lắng con sẽ không có chí tiến thủ, bởi bất kỳ ai sinh ra cũng đều mang sẵn dục vọng cạnh tranh phái sinh từ tự luyến toàn năng nguyên sơ; theo bản năng, đứa trẻ luôn khao khát làm tốt mọi việc.
Rất thú vị là trong quá trình tham vấn, tôi từng gặp vài vị phụ huynh dù hiểu rất rõ đạo lý này, nhưng họ thừa nhận mình không tài nào kìm chế được việc can thiệp vào con.
Lúc ấy, tôi đành phải tạt một gáo nước lạnh vào mặt họ: "Bởi vì những lúc quản thúc con là khoảnh khắc hiếm hoi sự tự luyến của anh chị được thỏa mãn. Anh chị có thể tha hồ chỉ đạo, kiểm soát, tấn công đứa trẻ; anh chị cảm thấy mình quá đỗi hùng mạnh, đầy quyền uy. Trong khi ngoài đời thực, anh chị hoàn toàn không có không gian để đạt được sự thỏa mãn ấy".
Những phụ huynh như vậy đa phần là những người ngoài đời thực gần như chẳng làm nên trò trống gì. Họ không thể tận hưởng vị thế tự luyến cao trong các mối quan hệ xã hội, thậm chí không có nổi cảm giác làm chủ một công việc nào đó trong thực tế. Nhưng khi đối diện với con cái — đặc biệt là lúc dạy con — họ mới được nếm trải cảm giác quyền lực ấy: "Nếu dạy được con suôn sẻ, tôi sẽ thấy: Ôi, nhìn xem tôi là một người cha (người mẹ) vĩ đại biết chừng nào! Còn nếu con không học được, tôi có thể nổi trận lôi đình, để trong cơn thịnh nộ ấy dạy cho nó biết: Mày tồi tệ đến mức nào!".
Thậm chí có một bộ phận cha mẹ hoàn toàn không có ý định kiểm soát những đòn tấn công mang tính hủy diệt nhắm vào con mình. Dĩ nhiên, cũng có những người muốn kiềm chế, nhưng khi họ kìm nén bản thân, cơn thịnh nộ toàn năng ấy lại quay ngược vào trong — họ muốn đập phá, thậm chí muốn hủy diệt chính mình.
Khi cha mẹ dạy con theo cách này, về bản chất họ đã truyền đi một chiếc bẫy trói buộc kép giữa ám ảnh xuất chúng và sợ mạnh mẽ:
"Ta mong con xuất chúng, con bắt buộc phải dùng sự xuất chúng để chứng minh cho sự vĩ đại của ta;"
"Nhưng ta không mong con mạnh mẽ, bởi đứng trước mặt con, ta mới vĩnh viễn là kẻ mạnh duy nhất."
Lúc này, đứa trẻ sẽ rơi vào trạng thái vô cùng bối rối và hoang mang tột độ: Về mặt ý thức, chúng ngỡ rằng cha mẹ đang kỳ vọng mình ưu tú; nhưng trong tiềm thức, tín hiệu chúng nhận được lại là cha mẹ căn bản không hề muốn mình mạnh mẽ, bởi vì mạnh mẽ đồng nghĩa với việc đứa trẻ cũng có quyền trở thành kẻ mạnh trong mối quan hệ với cha mẹ.
Bởi vậy, nếu cha mẹ thực lòng mong muốn con mình xuất chúng, hãy dùng hành động thực tế để truyền đi một thông điệp chân thành:
"Con yêu, cha mẹ từ tận đáy lòng hoan nghênh con vượt qua cha mẹ; vị trí của con đôi khi hoàn toàn có thể cao hơn, mạnh mẽ hơn cha mẹ."
Đồng thời, hãy tiếp tục dùng hành động để bồi đắp thêm một thông điệp quan trọng hơn cả:
"Dù thế nào đi chăng nữa, cha mẹ vẫn luôn yêu thương con."
CHỨNG SỢ UY QUYỀN
Những phần trước chúng ta liên tục bàn về ám ảnh xuất chúng và sợ mạnh mẽ, dường như đang truyền đi một thông điệp rằng hai hội chứng này không thể cùng tồn tại trên một con người. Thực tế không phải vậy, trong một tình huống cụ thể, hai điều này có thể kết hợp với nhau một cách hoàn hảo:
Tình huống đó là: Một người có tài năng xuất chúng, làm việc vô cùng tháo vát, nhưng lại hoàn toàn không có ý thức về quyền lực, do đó người đó vô cùng yếu ớt trên chiều kích quyền lực. Biểu hiện cụ thể là: con người tài hoa xuất chúng này lại cực kỳ phục tùng, ngoan ngoãn và không hề tự luyến.
Hơn nữa, những người như vậy thường đánh giá rất thấp tài năng và sự cống hiến của chính mình. Có thể nói họ hệt như những chiếc đinh ốc, những chú trâu cày mẫn cán, không biết tự bảo vệ quyền lợi của bản thân, để mặc cho người khác dễ dàng bóc lột, lợi dụng.
Trường hợp này thực sự tồn tại, và không hề hiếm gặp. Một lý thuyết tâm lý cho rằng động cơ của loài người chia làm ba loại: Động cơ thành tựu, Động cơ quyền lực và Động cơ thân mật (thân cận / gắn kết). Chiếu theo lý thuyết này, nhóm người trên sở hữu động cơ thành tựu rất mạnh mẽ, nhờ đó phát triển nên tài năng xuất chúng; nhưng động cơ quyền lực của họ lại quá yếu ớt, dẫn đến việc họ không phát triển được năng lực tự bảo vệ mình và chi phối người khác.
Thế nhưng trong quá trình tham vấn, tôi thường thấy hai động cơ này bị hòa lẫn vào nhau, thậm chí trong cảm nhận của thân chủ chúng chỉ là một. Khi động cơ quyền lực bị tổn thương, động cơ mưu cầu thành tựu của họ cũng đồng thời bị đè nén. Suy cho cùng, việc theo đuổi sự xuất chúng và theo đuổi quyền lực trước hết đều là biểu hiện của chiều kích tự luyến.
Khi động cơ quyền lực bị tổn thương nghiêm trọng, một người có thể sẽ mắc chứng sợ uy quyền (fear of authority) sâu sắc: Luôn tỏ ra vô cùng khúm núm trước các nhân vật quyền uy, không bao giờ dám thách thức uy quyền, dễ biểu hiện sự tôn kính thái quá — và ẩn sâu sau sự tôn kính thái quá ấy là một nỗi sợ hãi khôn cùng.
Nhiều chuyên viên tham vấn tâm lý thường gặp phải một hiện tượng: Một số thân chủ sau khi đồng nhất hóa với nhà trị liệu bèn nảy sinh ý muốn trở thành chuyên viên tham vấn tâm lý giống như người đang chữa trị cho mình.
Trong số các thân chủ của tôi, người có suy nghĩ này không hề ít; nhưng một bộ phận trong số họ sau khi nảy sinh ý nghĩ ấy lại cảm thấy vô cùng xấu hổ và lo sợ. Bởi họ nghĩ rằng: "Thầy Vũ danh tiếng lẫy lừng như vậy, là bậc quyền uy cao cao tại thượng, một kẻ như mình sao dám to gan mơ tưởng trở thành người như thầy, đúng là không biết trời cao đất dày, thật mất mặt quá chừng! Hơn nữa, chắc thầy Vũ sẽ phật ý lắm nhỉ? Thầy ấy chắc chắn chẳng đời nào muốn người khác thách thức hay vượt mặt mình đâu...".
Một số thân chủ vừa chớm có cảm giác này đã lập tức mở lời thảo luận với tôi; điều đó chứng tỏ chứng sợ uy quyền của họ chưa quá nặng. Dẫu nảy sinh suy nghĩ đó, họ vẫn ý thức được rằng những cảm nhận này hoàn toàn có thể được giãi bày một cách tự do, an toàn với chính người trị liệu của mình.
Nhưng cũng có những thân chủ đắn đo do dự suốt một thời gian rất dài, đợi đến khi bản thân đã theo học ngành tham vấn tâm lý một chặng đường khá xa rồi mới dám thổ lộ suy nghĩ ấy với tôi:
Chẳng hạn như một phụ nữ nọ, khi vừa nảy sinh ý muốn trở thành chuyên viên tham vấn, cô cảm thấy xấu hổ đến mức không có lỗ nẻ nào chui xuống. Cô gần như đinh ninh rằng nếu nói ra nguyện vọng này, tôi chắc chắn sẽ vô cùng tức giận. Khi nghĩ như vậy, cô thấy hình tượng của tôi sừng sững cao vời vợi, không tài nào với tới, còn bản thân cô thì nhỏ bé, bất lực đến thảm thương.
Không chỉ có vậy, sau khi đã học tham vấn tâm lý suốt một thời gian dài, khi ngồi trước mặt tôi cô luôn tỏ ra vô cùng tầm thường, hiếm khi để lộ những nét sắc sảo trong tư duy phân tâm học, khiến tôi thực sự không nhận ra được tài năng của cô. Mãi về sau, khi nghe cô kể về những tương tác với bạn bè cùng lớp, tôi mới vỡ lẽ cô là một tài nữ nức tiếng trong giới học viên. Tôi liền hỏi cô: "Tại sao cô không thể bộc lộ tài năng của mình trước mặt tôi?".
Cô đáp: "Vì chắc chắn thầy sẽ không vui đâu ạ". Từ xuất phát điểm này, chúng tôi đào sâu sang những chuyện tương tự khác của cô, và tất cả đều liên quan đến các nhân vật quyền uy:
Có lần ở công ty, cô lên tiếng phê bình một vị lãnh đạo. Người lãnh đạo nọ vui vẻ tiếp thu, nhưng trong lòng cô lại bất an đến cùng cực, sau đó cô lăn ra ốm một trận li bì.
Lại có lần, cô ngồi tự nhìn lại mối quan hệ giữa mình và mẹ ruột; cảm xúc dâng trào nên đã viết ra vài dòng tản văn sâu sắc, thế rồi cô lại lăn ra ốm thêm một trận nữa.
Điều này cho thấy: Trong tâm thức của cô, việc dám nhẹ nhàng thách thức uy quyền chẳng khác nào một cuộc chiến một mất một còn. Mọi chuyện đã nghiêm trọng đến mức cô thậm chí không dám đồng nhất hóa với nhân vật quyền uy — đối với cô, việc học theo hay mô phỏng người có quyền uy cũng đã là một sự mạo phạm tày trời. Và nguồn cơn của cảm nhận méo mó này vốn dĩ đã được nhào nặn từ chính mối quan hệ với mẹ ruột.
Một mối quan hệ mẹ con như thế nào có thể tạo ra cảm nhận bệnh hoạn này?
Khi cùng cô mổ xẻ vấn đề, tôi nhận thấy mẹ cô dường như hoàn toàn không bận tâm xem con gái mình thực chất là một đứa trẻ như thế nào. Người mẹ chỉ chăm chăm để ý xem con gái có chịu phối hợp với ý muốn của mình hay không; hễ con không nghe lời là mẹ nổi cơn tam bành.
Có thể nói, mối quan hệ giữa cô và mẹ tựa như một con đường một chiều: Chỉ có thể là người mẹ truyền thông tin sang cho cô, còn cô tuyệt đối không được truyền thông tin ngược lại cho mẹ. Ví dụ mẹ bảo cô làm một việc gì đó, nếu cô chưa làm, mẹ sẽ liên tục đeo bám, cằn nhằn cho đến khi cô chịu làm mới thôi; dẫu cô đang bận tối mắt tối mũi với việc riêng, người mẹ cũng hoàn toàn nhắm mắt làm ngơ. Khi hai mẹ con trò chuyện, chỉ cần cô lơ đãng trước lời nói của mẹ một chút là mẹ lập tức nổi giận đùng đùng.
Thế nhưng khi cô nhờ mẹ làm việc gì, người mẹ luôn tảng lờ như không nghe thấy. Dần dà cô mất hẳn ý muốn giao tiếp với mẹ, vì cô biết thừa mẹ chẳng bao giờ để tâm đến những gì mình nói.
Người mẹ tuy không dùng bạo lực thể xác rõ rệt với cô, nhưng cảm giác ngột ngạt của con đường một chiều ấy thật kinh khủng. Nó tạo cho cô cảm giác xung quanh mình luôn có một bức tường thành cao ngất ngưởng bủa vây, khiến cô không tài nào vượt qua nổi.
Đứng trước một nhân vật uy quyền như tôi, cô cũng mang cảm giác y hệt như vậy: Bức tường cao ấy hóa thân thành hình ảnh tôi — một kẻ bề trên đầy quyền uy đang nghiêm nghị trừng mắt nhìn cô, tuyệt đối không cho phép cô nhen nhóm ý định trèo qua tường.
Câu chuyện của cô khiến tôi nhận ra một điều: Cha mẹ và những người nuôi dưỡng chỉ cần liên tục cự tuyệt con cái, đồng thời kiên quyết bắt đứa trẻ phải phục tùng ý muốn của mình, là đã đủ để gieo rắc chứng sợ uy quyền vào lòng đứa trẻ.
Khi thiếu vắng tình cảm và sự cảm nhận bình đẳng ở chiều kích quan hệ, những tương tác thuần túy ở chiều kích tự luyến sẽ mang một nguyên tắc ngầm: "Kẻ phát đi thông điệp là kẻ đứng ở vị thế tự luyến cao; kẻ phản hồi thông điệp là kẻ nằm ở vị thế tự luyến thấp". Nếu cha mẹ luôn mang tâm thức này, họ sẽ chỉ muốn con cái phối hợp với mình, và thẳng thừng từ chối việc phối hợp với con.
Nỗi sợ uy quyền của vị thân chủ này dẫu sao vẫn chưa đến mức vô phương cứu chữa. Về sau, cô may mắn gặp được một người sếp rất tốt. Vị sếp này vô cùng trân trọng năng lực thực sự của cô, tính tình lại giàu lòng trắc ẩn, thường xuyên khuyến khích cô dám phản biện lại mình cũng như các lãnh đạo khác, động viên cô mạnh dạn bày tỏ quan điểm riêng. Song song với đó, cô vẫn kiên trì tham vấn tâm lý. Kết quả là nỗi sợ hãi uy quyền trong cô ngày một suy giảm.
Có một ngày, cô hân hoan chia sẻ: "Cuối cùng em cũng đã có thể tự tin kiêu hãnh một chút rồi, mắc lỗi cũng không còn tự dằn vặt bản thân nữa, thỉnh thoảng còn dám phản biện lại cấp trên; và kết quả là năng lực ở nhiều phương diện của em đều tăng tiến vượt bậc!".
Không chỉ có vậy, chức vụ của cô liên tục thăng tiến, thu nhập tăng vọt. Có thể nói, cô đang vững bước tiến tới sự mạnh mẽ toàn diện.
Câu chuyện của cô không phải là cá biệt; tôi đã chứng kiến quá nhiều câu chuyện tương tự. Những câu chuyện ấy đều dẫn tới một kết luận: Nếu cha mẹ thực sự mong muốn con mình xuất chúng và mạnh mẽ, họ phải cho phép đứa trẻ được bung tỏa sự tự luyến nguyên sơ trong mối quan hệ với mình, cho phép con đôi khi có thể thách thức, thậm chí "đánh bại" cha mẹ. Hơn nữa, chuyện này hoàn toàn bình thường, cha mẹ sẽ chẳng vì thế mà bị tổn thương.
Chí ít, đừng bao giờ ra tay phá hoại những việc do chính đứa trẻ đang làm. Mẹ của cô gái trên ít ra vẫn làm được điều này: Dù bà không quan tâm đến thế giới nội tâm của con, nhưng bà không cố tình phá hoại những gì con đang làm.
Trong bộ phim điện ảnh Cẩu Thập Tam (Dog 13), ta có thể thấy người lớn nghiện cái trò phá hoại chuyện của con trẻ đến mức nào: Cô bé Lý Hoàn có sở thích riêng, muốn đăng ký lớp học năng khiếu, nhưng người cha không thèm bàn bạc mà tự tiện đổi môn học khác cho con. Để chuộc lỗi, người cha tặng cô một chú chó. Khi Lý Hoàn đã nảy sinh tình cảm sâu đậm với chú chó, người ông lại làm lạc mất nó, rồi mua về một con chó khác để lừa cô rằng đó chính là con chó cũ. Bị cô bé vạch trần, người ông lại ép cô bắt buộc phải chấp nhận con chó mới. Tàn nhẫn hơn nữa, khi cô đã bắt đầu yêu thương con chó mới này, người cha lại nhẫn tâm đem bán nó cho quán thịt chó, rồi còn ép Lý Hoàn phải ăn một miếng thịt chó trước mặt mọi người. Lý Hoàn đau đớn, uất ức nổi giận, người cha liền tát cô tới tấp, bắt cô phải mở miệng xin lỗi.
Những câu chuyện như vậy có thể xem là ở mức độ bệnh hoạn; nhưng tôi quả thực đã nghe không ít chuyện tương tự ngoài đời thực. Đó không còn đơn thuần là việc vô tình phá hoại chuyện của con nữa, mà nói chuẩn xác hơn, đó là hành vi cố tình ngược đãi tinh thần đứa trẻ: Bất cứ thứ gì bạn yêu quý, bất cứ việc gì bạn thích làm, người lớn đều lần lượt giẫm đạp, phá nát, chỉ nhằm mục đích chứng minh: "Tao nắm giữ quyền lực tuyệt đối đối với mày", bẻ gãy ý chí và bản ngã của bạn, để rồi ép bạn phải phục tùng vô điều kiện trước ý chí của người lớn.
Đôi khi, sự phá hoại ấy diễn ra vô lý đến nực cười. Chẳng hạn vào tháng 6 năm 2019, một phụ nữ ở Trùng Khánh sau khi uống rượu đã ra bờ sông định tự tử. Khi cảnh sát hỏi nguyên do, bà ta khóc lóc bảo con gái mình rất có khả năng thi đỗ Đại học Bắc Kinh, nhưng ngày thường con bé ít khi tâm sự với mẹ, không chịu thảo luận chuyện đăng ký nguyện vọng cùng mẹ, nên bà ta nghĩ quẩn muốn chết.
Sự việc khiến tôi vừa buồn cười vừa xót xa, bèn chia sẻ lên Weibo; kết quả là bên dưới phần bình luận có vô số người kể lại những câu chuyện tương tự của đời mình:
Một cô gái chia sẻ rằng lúc đăng ký nguyện vọng đại học, nhà cô ở phía bắc sông Hoàng Hà, mẹ cô liền buông lời đe dọa: "Tao nói trước cho mày biết, mày mà dám đăng ký trường nào vượt qua sông Hoàng Hà thì tao sẽ chết cho mày xem!". Khi biết cô nộp hồ sơ vào trường ở Hạ Môn, người mẹ giận đỏ ngầu cả mắt, bộ dạng hung hãn như muốn nuốt tươi con gái. Sau đó, bà mẹ hùng hổ đến gặp thầy chủ nhiệm để đòi đổi nguyện vọng của con; kết quả bị thầy giáo mắng cho một bài tơi bời, thế là bà ta bỗng nhiên "đại triệt đại ngộ", không quậy phá nữa mà trái lại còn vui vẻ ra mặt.
Cô gái kể rằng tính cách cốt lõi của mẹ cô là "phục tùng uy quyền": Trong mắt bà, thầy chủ nhiệm là uy quyền, nên bà sẵn sàng để thầy giáo dạy bảo và vui vẻ tiếp nhận; nhưng quay sang đối diện với con gái, bà lại tự xem mình là uy quyền tối thượng, bắt con phải phục tùng tuyệt đối, bằng không thì sống dở chết dở làm mình làm mẩy.
Cha mẹ là nhân vật uy quyền đầu đời, và cũng là nhân vật uy quyền quan trọng nhất của đứa trẻ. Nếu cứ liên tục ép con phải phục tùng, thậm chí cố tình phá hoại những nỗ lực của con, cha mẹ sẽ rất dễ đạt được mục đích; nhưng điều đó sẽ gieo rắc vào lòng đứa trẻ nỗi sợ hãi và thói quen quỵ lụy trước uy quyền, khiến đứa trẻ ngày càng xa rời bản thể đích thực của chính mình.
Ngược lại, nếu cha mẹ sẵn lòng tôn trọng con người tự thân của con, sẵn sàng để con thách thức lại mình, thì sinh mệnh lực tự nhiên của đứa trẻ sẽ được chúc phúc, và ngay từ những bước đi đầu đời, con đã được sống trọn vẹn là chính mình.
CHỨNG KHÓ DẤN THÂN
Tập trung và dấn thân (immersion / commitment) là những phẩm chất vô cùng trọng yếu. Bất kỳ ai đạt được thành tựu xuất chúng trong một lĩnh vực nào đó, nguyên nhân then chốt luôn là vì người đó có thể đắm chìm, dấn thân trọn vẹn vào công việc ấy.
Không chỉ trong công việc mà trong các mối quan hệ cũng vậy: Một người có thể tận hưởng trọn vẹn sự tương tác xã hội cũng là nhờ họ biết dấn thân vào đó.
Dấn thân quan trọng dường ấy, ai cũng hiểu đạo lý bình dị này, thế nhưng vô số người lại vô cùng chật vật để dấn thân; nhiều người thậm chí gần như trong bất cứ việc gì, bất cứ thời điểm nào cũng không thể dấn thân một cách trọn vẹn. Hiện tượng này ngày nay thường được chẩn đoán dưới cái tên thời thượng là "Rối loạn thâm hụt chú ý" (ADHD), nhưng tôi thích gọi thẳng nó bằng cái tên: "Chứng khó dấn thân".
Điều thú vị là những người mắc chứng khó dấn thân thường mang thứ logic thế này: "Nếu tôi dốc toàn lực dấn thân, tôi chắc chắn sẽ gặt hái được những thành tựu phi thường".
Logic này thoạt nghe chẳng có gì sai, nhưng nó lại chính là nút thắt chí mạng khiến rất nhiều người không thể dấn thân. Muốn hiểu được điều này, chúng ta bắt buộc phải đưa khái niệm tự luyến toàn năng vào phân tích.
Một người mắc kẹt nặng nề trong sự tự luyến toàn năng, nếu cứ mãi không chịu dấn thân, họ sẽ luôn giữ được một giả định êm ái: "Tôi vốn dĩ sẽ có được thành tựu phi thường; sở dĩ bây giờ chưa có chẳng qua là vì tôi chưa thực sự dấn thân mà thôi!".
Để bảo vệ được giả định màu hồng ấy, họ bắt buộc phải không dấn thân. Bởi nếu thực sự dấn thân, giả định ấy sẽ lập tức đối diện với nguy cơ bị thực tế chọc thủng.
Chẳng hạn, một cư dân mạng từng để lại bình luận cho tôi: "Nếu thực sự dốc toàn lực dấn thân mà rốt cuộc vẫn không đạt được thành tựu phi thường thì thảm hại lắm... Cảm giác chênh lệch tâm lý ấy thực sự quá đỗi kinh hoàng".
Từ "chênh lệch" (lạc sai) ở đây rất đắt giá, nó giúp chúng ta hiểu sâu hơn về vấn đề cao - thấp trong chiều kích tự luyến:
Khi một người bị thúc đẩy bởi tự luyến toàn năng, họ sẽ thấy mình ngự trị ở vị thế cao của chiều kích tự luyến, hơn nữa còn là vị trí số một tối cao không ai bì kịp. Nhưng khi sự tự luyến bị tổn thương, từ trên đỉnh cao rơi xuống đáy vực, vị trí trước đó họ ngỡ mình cao bao nhiêu thì khi rơi xuống sẽ tụt sâu bấy nhiêu.
Nếu điểm cao nhất của chiều kích tự luyến là dương 100 điểm, điểm thấp nhất là âm 100 điểm, thì độ chênh lệch rơi tự do ấy lên tới 200 điểm! Nếu mức độ tự luyến của một người là dương 80 điểm, khi rơi xuống họ sẽ rơi thẳng về vị trí âm 80 điểm.
Trải nghiệm chênh lệch ấy chẳng khác nào đi tàu lượn siêu tốc nghẹt thở; đối với những người có cảm giác toàn năng cao, điều này vô cùng đau đớn và khó nuốt trôi. Nguyên nhân rất đơn giản: Họ đinh ninh rằng mình sinh ra là để ngự trị ở vị thế cao, thậm chí là vị thế cao nhất của chiều kích tự luyến.
Đời người luôn có lúc thăng lúc trầm. Người chấp nhận việc mình có thể ở bất kỳ vị trí nào sẽ nhanh chóng điều chỉnh tâm thế để thích nghi với thực tế, đồng thời trong dòng chảy thăng trầm ấy mà từng bước nỗ lực vươn tới vị trí mình mong muốn. Nhưng nếu một người chỉ khăng khăng muốn ở vị thế cao, họ chắc chắn sẽ luôn mải miết truy cầu cảm giác ưu việt, trở nên cố chấp và ngạo mạn, đồng thời đánh mất hoàn toàn khả năng thích ứng và tự điều chỉnh.
Người mắc chứng khó dấn thân rất dễ ôm ấp ảo tưởng tự luyến rằng "Tôi là hoàn hảo"; thế nhưng hiện thực sẽ hết lần này đến lần khác dạy cho họ bài học cay đắng: "Bạn chẳng hoàn hảo chút nào đâu".
Người ngoài nhìn vào sẽ thấy "bạn không hoàn hảo", nhưng trải nghiệm nội tâm của họ lại lao thẳng từ cực đoan này sang cực đoan khác: Họ sẽ rơi vào một ảo tưởng hoàn toàn đối lập: "Tôi là đồ rác rưởi, tôi chẳng là cái thá gì cả, tôi vô dụng chẳng làm nổi trò trống gì!".
Họ quay sang cắn xé, tấn công chính mình: "Sao trước đây mình có thể trơ trẽn, không biết trời cao đất dày đến thế, lại dám ảo tưởng mình là hoàn hảo cơ chứ!". Họ ngập tràn cảm giác hổ thẹn, những lúc cực đoan thậm chí hận không thể tự kết liễu đời mình.
Tôi đã nghe quá nhiều câu chuyện như vậy; và khi đã nhận diện được hiện tượng này, nhìn ra xung quanh tôi thấy nó hiện diện ở khắp mọi nơi. Tôi xin kể một ví dụ điển hình:
Một nữ sinh cấp ba từng tâm sự với tôi rằng mỗi lần có kết quả các kỳ thi lớn, trong suốt mấy ngày sau đó cô đều muốn chết đi cho xong.
Tôi hỏi: "Lần nào cũng vậy sao?".
Cô ngẫm nghĩ một lát rồi đáp: "Vâng ạ".
Hồi đó sự hiểu biết của tôi về tự luyến toàn năng chưa sâu như bây giờ, nhưng tôi cũng lờ mờ đoán được có thể do kết quả không như ý nên cô bé bị đả kích. Tôi bèn hỏi tiếp: "Ngay cả khi thi đỗ thủ khoa em cũng muốn chết sao?".
Cô bé đáp: "Vâng, đúng vậy ạ".
"Đã từng có một lần nào ngoại lệ chưa?" — tôi gặng hỏi.
Ban đầu cô bé bảo không có. Nhưng tôi kiên trì: "Em thử nhớ kỹ lại xem, biết đâu có một lần ngoại lệ nào đó chăng?".
Suy nghĩ một hồi lâu, cô bé bảo: "Đúng là có một lần ngoại lệ thật ạ".
Tôi tò mò: "Lần ngoại lệ đó diễn ra như thế nào?".
Cô bé đáp: "Lần đó, tất cả các môn thi em đều đứng nhất toàn khối".
Thế là tôi phân tích: "Dường như em luôn cảm thấy mình là người hoàn hảo?".
Cô bé ngạc nhiên nhìn tôi hỏi ngược lại: "Chẳng lẽ em không hoàn hảo sao thầy?".
Câu hỏi ngược lại ấy khiến tôi thực sự chấn động. Cô bé đang học cấp ba, sắp sửa bước sang tuổi trưởng thành, vậy mà trong thâm tâm lại thực sự tin rằng mình là một người hoàn hảo không tì vết.
Trong đời sống thực tế, một số điều kiện ưu việt quả thực đã dung dưỡng cho cảm giác toàn năng của cô: Gia cảnh khá giả, ở trường luôn là học sinh giỏi xuất sắc, lại sở hữu nhan sắc vô cùng xinh đẹp.
Ban đầu cô không hề mắc chứng khó dấn thân; cô học hành rất chăm chỉ vì điểm số cao giúp cô duy trì ảo tưởng hoàn hảo này. Thế nhưng, đời nào có chuyện môn nào cũng đứng nhất toàn khối mãi được, cô chỉ đạt được kỳ tích đó đúng một lần duy nhất. Điều đó đồng nghĩa với việc những lần khác, dẫu tổng điểm có đứng nhất khối đi chăng nữa thì điểm thành phần vẫn có môn chưa tuyệt đối, tức là không hoàn hảo; và thế là ảo tưởng hoàn hảo của cô bị vỡ vụn. Lúc ấy cô hận không thể giết chết chính mình — hay nói đúng hơn, cô đã nếm trải cảm giác cái tôi toàn năng của mình bị giết chết một lần.
Khi cái tôi toàn năng liên tục bị đập tan, cô bắt đầu nảy sinh chứng khó dấn thân: Không thể tập trung học hành được nữa, thành tích tụt dốc không phanh. Đồng thời cô cũng mang ảo tưởng hoàn hảo này áp vào các mối quan hệ, nên cô cũng chẳng thể kết bạn cùng ai.
Cô từng bị chẩn đoán mắc bệnh tâm thần; nhưng sau này khi cô và cha mẹ dần hiểu ra ảo tưởng hoàn hảo xa rời thực tế ấy, đồng thời cô học được cách xử lý chuyện học hành và các mối quan hệ một cách duy lý hơn, cuộc sống và việc học của cô đã dần hồi phục; kỳ thi đại học năm ấy cô đã đỗ vào một ngôi trường khá tốt.
Nhiều năm sau, cô còn dẫn theo một người bạn trai rất tốt (dù không hoàn hảo) đến thăm tôi. Lúc này, tuy cô vẫn đặt yêu cầu khá cao cho bản thân, nhưng chí ít đã không còn đòi hỏi sự hoàn hảo tuyệt đối nữa.
Hoàn hảo là sự tưởng tượng nội tâm thuở ấu thơ, bất toàn mới chính là hiện thực. Giữa hiện thực bên ngoài trông có vẻ đầy rẫy sự bất toàn ấy, ta từng bước kiến tạo nên một cuộc sống khiến bản thân cơ bản hài lòng — đó mới chính là ý nghĩa đích thực của sinh mệnh.
(Dĩ nhiên, tôi cũng tin rằng trong những mối quan hệ sâu sắc nhất — chẳng hạn như khi bạn có thể sống trọn vẹn trong giây phút hiện tại — bạn sẽ cảm nhận được sự tồn tại của từng khoảnh khắc tự thân nó vốn đã là hoàn mỹ. Nhưng đó là cảnh giới tinh thần rất cao, ở đây tôi chỉ xin phép nhắc qua như vậy.)
Ẩn sau ảo tưởng hoàn hảo của chứng khó dấn thân là một ảo mộng cấp độ thần thánh: "Đã là người hoàn hảo thì chỉ cần tôi hơi nỗ lực một chút, thế giới lập tức phải phản hồi lại một cách hoàn hảo ngay".
Khi ôm giữ ảo mộng thần thánh này, con người ta không thể chấp nhận nổi dẫu chỉ là một thất bại nhỏ nhất. Bản thân tôi ở một số khía cạnh cũng mắc phải vấn đề này: Chẳng hạn với những món đồ công nghệ yêu thích, tôi luôn thấy chúng phải hoàn hảo; lúc mới mua về nâng niu bao nhiêu thì khi lỡ làm trầy xước một chút, tôi liền bực bội muốn vứt đi mua cái mới cho xong.
Muốn hiểu được chứng khó dấn thân, bắt buộc phải hiểu rằng đối với những người này, một thất bại dẫu trông có vẻ nhỏ nhặt cũng chẳng khác nào một đòn giáng chí mạng; và thế là họ buông xuôi, không chịu tiếp tục dấn thân nữa.
Lúc này, phải làm sao? Đúng là bạn vừa trải qua cảm giác bị giết chết một lần, và cái chết ấy cũng bị bạn truyền sang cho công việc; thế là bạn ra tay bức tử luôn cả công việc đó.
Thế nhưng trên đời này rốt cuộc vẫn còn có một thứ gọi là thời gian, đúng không? Bởi vậy vào lúc này, trước hết bạn có thể cậy nhờ vào ý chí để kiên trì tiếp tục làm công việc đó. Cứ như vậy, sự việc trong thế giới thực tế bên ngoài sẽ tiếp tục được "sống sót"; và chính sự "sống sót" ngoại tại ấy sẽ có cơ hội thẩm thấu ngược trở lại nội tâm, khôi phục lại nguồn năng lượng sống bên trong bạn.
"Nỗ lực sẽ không bao giờ sai lầm" — trước kỳ thi đại học, tôi từng phát biểu câu nói khích lệ này trong buổi lễ xuất quân của lớp. Nỗ lực và dấn thân đồng nghĩa với việc bạn liên tục dành thời gian để thiết lập mối quan hệ với sự vật. Cùng với dòng chảy của thời gian, mối quan hệ ấy sẽ ngày càng sâu sắc. Cái gọi là thành tựu, thực chất chỉ là một sự biểu đạt tự nhiên của một mối quan hệ đã được bồi đắp sâu dày mà thôi.
Một người bạn kể với tôi rằng hồi tiểu học cô phát hiện mình không thông minh: Cùng một bài tập, cô phải tốn thời gian gấp ba lần so với các bạn học giỏi. Điều đó làm tổn thương lòng tự luyến của cô, khiến cô rất buồn tủi; nhưng ngay sau đó cô nghĩ: "Đã như vậy, chẳng lẽ không có nghĩa là chỉ cần mình bỏ ra thời gian gấp ba lần thì cũng sẽ đạt được kết quả tương tự hay sao?". Kể từ đó, cô hình thành một niềm tin sắt đá: Mình chỉ cần nỗ lực gấp ba lần người khác là được.
Điều này có thể gọi là "triết lý nỗ lực" — một triết lý nhân sinh vô cùng tuyệt vời.
PHÁ BỎ "ẢO GIÁC TRẠNG THÁI"
Ảo giác trạng thái (state illusion) có logic khá tương đồng với chứng khó dấn thân, nhưng vẫn có điểm dị biệt.
Ảo giác trạng thái cũng là một khái niệm đơn giản do tôi đề xướng, hàm ý rằng: Một người không thể dấn thân, thậm chí không thể bắt tay vào làm một việc, nguyên nhân là vì họ cảm thấy trạng thái của mình chưa tốt. Nếu trạng thái của mình đạt phong độ đỉnh cao, mọi chuyện sẽ được giải quyết một cách nhẹ nhàng và hoàn hảo.
Ví dụ, một nam thanh niên ban đầu tìm đến tôi tham vấn vì vấn đề giấc ngủ: Anh cảm thấy mình mắc chứng rối loạn giấc ngủ nghiêm trọng, khiến phong độ của mình không tốt, hôm sau không thể làm việc hiệu quả, dẫn đến hàng loạt hệ lụy tồi tệ như công việc bấp bênh cứ bị sa thải hoặc tự xin nghỉ, không thể kết bạn và cũng chẳng thể yêu đương.
Anh đinh ninh rằng chỉ cần chữa khỏi chứng mất ngủ, ngày hôm sau anh sẽ có một trạng thái tuyệt vời; và khi ấy, công việc hay các mối quan hệ xã hội đều sẽ tự khắc êm đẹp, không còn vấn đề gì nữa.
Đó chính là ảo giác trạng thái. Trên thực tế, logic giải quyết vấn đề của anh lại hoàn toàn trái ngược với những gì anh tưởng tượng: Anh cần phải nỗ lực, cố gắng hết sức dấn thân vào công việc và các mối quan hệ, rồi sau đó mới có được giấc ngủ ngon và trạng thái tốt; chứ không phải như anh nghĩ là cứ ngủ đẫy giấc, có trạng thái hoàn hảo rồi mới chịu dấn thân vào công việc và quan hệ.
Cuối cùng, vấn đề quả nhiên được giải quyết theo hướng đó: Khi anh dần bước ra khỏi thế giới tưởng tượng cô độc, biết dấn thân một cách phù hợp vào công việc và các mối quan hệ, tiến trình tham vấn cũng có thể khép lại. Cái gọi là chứng mất ngủ của anh thực ra không được cải thiện triệt để (vốn dĩ ban đầu nó cũng chẳng hề nghiêm trọng), nhưng trước kia anh xem đó là vấn đề sống còn, còn giờ đây anh không còn bận tâm đến giấc ngủ nữa.
Trạng thái tốt thì mới có thể dấn thân tốt — thứ logic này rất dễ mê hoặc lòng người, bởi bề ngoài trông nó vô cùng hợp lý. Bản thân tôi là người viết lách bán chuyên nghiệp, tôi hiểu rất rõ cảm giác khi mạch văn tuôn trào như suối thì viết lách dễ dàng biết bao, câu chữ phóng khoáng, hân hoan tột cùng — đó là sự hưởng thụ lớn nhất của việc cầm bút.
Thế nhưng đồng thời tôi cũng biết rằng: Muốn đạt được điều đó, tôi bắt buộc phải bỏ ra rất nhiều nỗ lực, liên tục tìm đọc tài liệu liên quan, thiết lập mối quan hệ sâu sắc với chủ đề bài viết; khi ấy nguồn cảm hứng mới có thể tuôn trào như suối nguồn.
Chẳng hạn muốn phân tích một nhân vật thời sự, tôi phải làm một khối lượng công việc chuẩn bị khổng lồ: thu thập tối đa các tư liệu then chốt, "chạm" vào con người ấy một cách toàn diện và sâu sắc. Có như vậy, tôi mới tích lũy đủ dung lượng cảm xúc để khi viết, cảm hứng bùng nổ, đôi khi có thể hạ bút viết liền một mạch không cần chỉnh sửa.
Về căn bản, không phải vì "Tôi" tài giỏi, mà là vì "Tôi" đã thiết lập được mối quan hệ sâu sắc với sự vật.
Mấu chốt để thiết lập mối quan hệ sâu sắc chính là sự dấn thân. Trải qua sự tích lũy về thời gian và tâm sức, mối quan hệ giữa bạn và sự vật ngày một sâu dày; bạn dần thấu hiểu nó, tương ngộ với nó; và năng lực thực chất chỉ là một sản phẩm phụ sinh ra từ sự tương ngộ giữa bản thể của bạn và bản thể của sự vật mà thôi.
Đôi khi chúng ta sẽ có được những "nét bút thần kỳ" (thần lai chi bút / khoảnh khắc xuất thần), tựa như một cánh cửa bất ngờ mở toang, trong chớp mắt bạn kết nối trọn vẹn với sự vật; nhưng bạn tuyệt đối không thể trông chờ, ỷ lại vào những nét bút thần kỳ ấy. Tôi hiểu rất sâu sắc rằng ngay cả việc mong cầu câu chữ viết liền một mạch cũng không nên, bởi phần lớn thời gian cảm xúc sẽ không bao giờ dồi dào đến thế.
Trên thực tế, những người có năng lực kém cỏi thường lại là những kẻ quá đỗi ngóng trông những nét bút thần kỳ.
Thời đại học, tôi quen một anh bạn viết kịch bản. Anh ta luôn miệng bảo: "Chỉ cần tôi có trạng thái tốt, các ông cứ chờ xem tôi viết ra tác phẩm thế nào! Chắc chắn là kiệt tác chấn động trần đời!".
Thế nhưng anh ta lúc nào cũng trong tình trạng "phong độ không tốt": Nguyên nhân thì đủ thứ trên trời dưới biển — khi thì độc thân buồn bã, khi có bạn gái lại thấy chưa vừa ý, lúc thì cơ thể khó ở, khi thì viêm màng túi... Thỉnh thoảng anh ta cũng có những nét bút thần kỳ: bỗng nhiên một ngày đẹp trời phong độ lên cao, thân tâm sảng khoái; những lúc ấy anh thể hiện có khác biệt đôi chút, nhưng tuyệt nhiên chưa thể gọi là xuất chúng. Bởi dẫu có xuất thần đến mấy, nhưng vì thiếu sự tích lũy cần thiết, tài năng của anh ta vẫn quá đỗi mỏng manh.
Tôi đã gặp quá nhiều người như vậy: Khi cảm xúc dâng trào, họ tỏa ra vầng hào quang rất đặc biệt; nhưng vì thiếu vắng sự tích lũy sâu dày, ánh hào quang ấy chỉ có thể lóe lên thành một chút sáng tạo nhỏ nhoi, chứ không thể kết tinh thành những tác phẩm có sức nặng.
Xin kể thêm một câu chuyện khác:
Một người bạn ngoài 20 tuổi liên tục nhảy việc, tôi hỏi lý do, cậu bảo không có công việc nào khiến cậu vừa ý. Tôi hỏi: "Công việc như thế nào mới khiến em hài lòng?". Cậu đáp: "Một công việc có thể khiến em dốc trọn nhiệt huyết để dấn thân".
Mưu cầu này nghe rất hay ho, nhưng hỏi sâu thêm thì vấn đề lập tức lộ diện: Cậu thú nhận có quá nhiều lần, cậu mới đi làm được đúng một ngày đã cảm thấy mình nắm bắt được toàn bộ bản chất của công việc đó rồi, và thế là thấy nó nhạt nhẽo, vô vị.
Thật là quá đỗi tự luyến! Cậu ta quả thực là một chàng trai thông minh; nhưng chính vì thói nhảy việc liên miên nên cậu chưa từng xây dựng được mối quan hệ sâu sắc với bất kỳ công việc nào. Kết quả là dẫu được xem là có IQ và EQ cao ngất ngưởng, cậu vẫn chẳng phát triển nổi một năng lực thực tế nào đáng để tự hào.
Cuộc trò chuyện hôm ấy với tôi mang lại hiệu quả rất lớn: Về sau cậu tìm được một công việc tương đối ổn thỏa và đã kiên trì gắn bó suốt nhiều năm liền.
Lắng nghe nhiều câu chuyện như vậy, tôi đúc kết ra rằng: Họ đều mang một giả định ấu trĩ của trẻ sơ sinh: Tôi và thế giới là một thể thống nhất; tôi tựa như một vị thần, chi phối vạn vật xung quanh; nếu sự vật xung quanh không chịu chuyển động theo ý tôi, thì chắc chắn là do bản thân tôi chưa đủ hoàn hảo — ví như trạng thái của tôi chưa đủ tốt.
Chính vì thứ logic này, họ tốn rất nhiều tâm sức để căn chỉnh trạng thái của bản thân, mất hàng đống thời gian để chờ đợi "phong độ đỉnh cao", mà không hiểu được rằng mấu chốt nằm ở sự dấn thân bền bỉ — những nỗ lực vụn vặt thường ngày mới chính là thứ từng bước bồi đắp nên thành công.
Như tôi đã nói ở trên, năng lực là sản phẩm phụ của việc thiết lập mối quan hệ sâu sắc; và khi thiết lập mối quan hệ, có một điều còn quan trọng hơn cả sự nỗ lực: Bạn không được dùng sự tự luyến để áp đặt ý muốn chủ quan của mình lên sự vật, mà phải biết "cúi đầu quy phục" trước sự vật. Không phải vì bản thân bạn quá đỗi tài ba nên bạn mới làm chủ được sự vật; mà là vì bạn biết quy phục, bạn buông bỏ sự tự luyến, buông bỏ mọi định kiến và kỳ vọng chủ quan, làm rỗng chính mình — để rồi từ đó bạn mới có thể chân thực tương ngộ với sự vật.
Bởi vậy, nút thắt gây ra vấn đề chính là sự tự luyến toàn năng: Quá trông chờ vào những nét bút thần kỳ thực chất là đang ảo tưởng rằng mọi chuyện trên đời đều đơn giản, ảo tưởng rằng thế giới bên ngoài có thể phản hồi lại mình ngay tức khắc một cách hoàn hảo, chỉ cần bản thân mình giống như một vị thần có được trạng thái hoàn mỹ là đủ.
Chúng ta hãy hình dung lại hình ảnh đứa trẻ sơ sinh:
Đứa bé nghĩ rằng: "Tôi toàn năng, nên hễ tôi khởi tâm động niệm là thế giới xung quanh phải vận hành theo đúng ý tôi". Khi thế giới không vận hành theo ý muốn, đứa trẻ sẽ nghĩ lỗi lầm nằm ở chính mình — do lúc phát ý niệm trạng thái của mình không tốt (ví như đang bị nấc cụt, hay chưa được bú no) nên ý niệm phát ra chưa chuẩn. Vì thế, đứa trẻ sẽ dồn sức tác động lên chính mình, ra sức "hành hạ" bản thân để mong mình trở nên hoàn hảo, hòng khiến thế giới quay lại vận hành theo ý muốn của nó.
Thế nhưng trên thực tế, đứa trẻ phát khởi ý nguyện thành công là nhờ có một người mẹ tuyệt vời đang ân cần chăm sóc nó. Đó là một sự thật trần trụi.
Những người trưởng thành mang tâm lý tự luyến toàn năng cũng hệt như đứa trẻ sơ sinh: rất dễ rơi vào trạng thái chờ đợi thay vì nỗ lực bền bỉ. Trong tiềm thức, họ mặc định rằng nỗ lực không quan trọng, quan trọng là trạng thái phải tốt; vì thế muộn phiền, ốm đau, mất ngủ... đều có thể biến thành cái cớ hoàn hảo để trì hoãn hành động, và từ đó dẫn đến thói lần lữa, thậm chí lười biếng.
Còn người biết nỗ lực bền bỉ lại sở hữu một tâm lý tương đối trưởng thành: Tôi chưa chắc có thể lập tức làm chủ một sự vật, nhưng chỉ cần tôi kiên trì nỗ lực và tôn trọng quy luật tự thân của nó, tôi nhất định sẽ xây dựng được mối quan hệ tốt đẹp với sự vật ấy.
Đối với trẻ sơ sinh, sở dĩ chúng có được cảm giác dễ chịu, có được trạng thái tốt là nhờ người mẹ không ngừng nỗ lực, dấn thân tối đa vào mối quan hệ với con, từ đó thấu cảm được nhu cầu của đứa trẻ để đáp ứng những đòi hỏi căn bản.
Sự thỏa mãn căn bản có thể xem là mức thỏa mãn 60 điểm. Khi một đứa trẻ — hay một người lớn — nhận được sự thỏa mãn căn bản 60 điểm, trong lòng họ sẽ cảm nhận sâu sắc rằng điều này đã là rất tốt rồi. Kẻ cứ khăng khăng đòi hỏi sự thỏa mãn hoàn hảo 100 điểm là kẻ chưa từng nếm trải sự thỏa mãn căn bản 60 điểm, nên mãi mắc kẹt trong cảm giác toàn năng, ngỡ rằng sự thỏa mãn 100 điểm là điều đương nhiên phải đạt được, có thể đạt được — như thể đó là chân lý hiển nhiên, nhưng kỳ thực chỉ là ảo giác.
Hơn nữa, việc người mẹ không ngừng nỗ lực để thiết lập mối quan hệ thỏa mãn căn bản với con sẽ được đứa trẻ nội hóa vào sâu thẳm tâm hồn, và nhờ đó đứa trẻ cũng có được năng lực cảm nhận này — đó sẽ là một phước lành vô cùng lớn lao.
Dẫu vậy, ngay cả khi thuở ấu thơ bạn chưa từng nhận được phước lành ấy, bạn hoàn toàn có thể bắt đầu ngay từ bây giờ: Học cách phá bỏ ảo giác trạng thái, tập nỗ lực và kiên trì dấn thân vào những việc bạn muốn làm.
Trong thế giới của những đứa trẻ lớn hay của người trưởng thành, chẳng có việc gì là đơn giản, dễ dàng hay có thể một bước lên mây; tất cả đều là một tiến trình liên tục va vấp thất bại và không ngừng bị gián đoạn.
Một cư dân mạng từng trải lòng thế này:
"Bởi vậy, tôi không dám bắt tay vào làm những việc mình muốn làm. Vì trong tưởng tượng, mọi thứ đều mượt mà trôi chảy như mây trôi nước chảy; nhưng trong hiện thực, nó lại là một cỗ máy tính già nua bị đơ máy vô số lần. Mà mỗi lần máy bị đơ, đối với tôi chẳng khác nào phải đối diện với một lần sụp đổ hoàn hảo trong nội tâm, hệt như cảm giác bị trúng hết phát đạn này đến phát đạn khác. Tôi đã quá trông chờ vào những nét bút thần kỳ, từng ngỡ rằng những người thành công ngoài kia đều là những kẻ may mắn luôn sở hữu những khoảnh khắc xuất thần ấy."
Đúng vậy, người thành công có thể sở hữu nhiều khoảnh khắc xuất thần hơn người bình thường, nhưng tuyệt đối không bao giờ là "luôn luôn sở hữu". Và sở dĩ những nét bút thần kỳ ấy xuất hiện là bởi vì họ đã dốc cạn tâm sức dấn thân, nhờ đó mới thiết lập được mối liên kết sâu sắc với sự vật.
Tóm lại, muốn phá bỏ ảo giác trạng thái, bạn cần thấu suốt những nguyên lý sau:
Năng lực là kết quả của việc thiết lập mối quan hệ sâu sắc.
Thiết lập mối quan hệ sâu sắc đòi hỏi sự dấn thân bền bỉ.
Mấu chốt để thiết lập mối quan hệ sâu sắc không phải là áp đặt sự tự luyến của bạn lên sự vật, mà là buông bỏ ảo tưởng tự luyến để tôn trọng quy luật vận hành khách quan của chính sự vật.
Ý nghĩ cho rằng một sự vật có bị tôi kiểm soát hay không hoàn toàn phụ thuộc vào trạng thái nội tâm của tôi lúc đó — chỉ là tàn dư tâm lý tự luyến toàn năng của một đứa trẻ sơ sinh.
Và xin được gửi tặng bạn một câu kết:
Bạn là một con người, không phải một vị thần.
Bình luận