Cơ chế phòng ngự của bản ngã
Cơ chế phòng ngự của bản ngã là một phần vô cùng trọng yếu trong tâm phân học. Nó giống như bức tường lửa của máy tính, ngăn cách ý thức và tiềm thức ra. Để không cho động lực của tiềm thức trồi lên ý thức, cơ chế phòng ngự bản ngã đã tạo ra muôn vàn mê cung tâm linh phức tạp. Nhưng cũng có thể nói, nó cũng tham gia dệt nên một nhân tính vừa hùng vĩ, vừa phức tạp.
Nhìn từ góc độ tiêu cực, cơ chế phòng ngự bản ngã chính là tự dối mình (tự lừa dối bản thân); nhìn từ góc độ tích cực, cơ chế phòng ngự bản ngã là "thuật hộ tâm", có thể bảo vệ tâm linh của một con người không rơi vào cảnh sụp đổ.
Cơ chế phòng ngự bản ngã của một người luôn được hình thành và cố kết lại từ thời thơ ấu trong gia đình gốc, nó tất nhiên sẽ không còn thích ứng ở một mức độ đáng kể đối với hoàn cảnh về sau. Cho nên, theo quan điểm tâm phân học truyền thống, một người cần phải không ngừng giác tri (tỉnh thức nhận biết) và nâng cấp cơ chế phòng ngự của chính mình.
Tâm linh con người được chia làm ba tầng: tầng bảo vệ, tầng đau khổ và tầng chân ngã. Con người có thể xuyên thấu qua tầng bảo vệ và tầng đau khổ để chạm tới tầng chân ngã. Đến lúc ấy, mọi phòng ngự đều có thể buông xuống. Cốt lõi của cơ chế phòng ngự bản ngã là để chúng ta có thể sống trong các mối quan hệ, giữ lại sinh khí và dòng chảy sống động trong mối quan hệ, cho nên độ lớn của "vật chứa quan hệ" quyết định độ lớn của "vật chứa bản ngã". Nhưng chúng ta có thể thông qua giác tri để không ngừng mở rộng dung tích, mở rộng vật chứa của bản ngã, mở rộng vật chứa của quan hệ, chuyển hóa năng lượng chết bên trong vật chứa, dần dần đi từ đối lập nhị nguyên hướng tới sự hợp nhất.
Nếu có ai hỏi bạn:
Tất cả những dục vọng tình dục của chúng ta
Đều được thỏa mãn trọn vẹn,
Thì sẽ thế nào?
Bạn hãy ngẩng khuôn mặt của mình lên
Rồi nói:
"Cứ như thế này."
Khi có ai bàn về vẻ tuyệt diệu của bầu trời đêm,
Bạn hãy trèo lên mái nhà khiêu vũ
Rồi nói:
"Cứ như thế này."
Nếu có ai muốn biết thế nào là "linh hồn",
Hay "hương thơm của Thượng đế" mang ý nghĩa gì,
Hãy ghé đầu bạn lại gần người đó,
Để khuôn mặt bạn kề sát thật gần,
"Cứ như thế này."
— Rumi
Định nghĩa và giới thiệu về cơ chế phòng ngự bản ngã
Nhà tâm phân học người Mỹ Blackman (Jerome S. Blackman) có một cuốn sách rất hay mang tên 101 Cơ chế phòng vệ tâm lý (Mặt nạ của tâm linh), là một trong những cuốn sách hay nhất viết về cơ chế phòng ngự bản ngã. Trong các mối quan hệ giữa người với người, chúng ta cần phải có "con mắt thứ ba", như vậy đôi khi chúng ta có thể dùng phương thức "đánh bọc hậu" (chặn đường lui), vạch trần ra sách lược đằng sau cuộc đối thoại của đối phương.
Có được ý thức "đánh bọc hậu" này, bạn đã nhảy thoát ra khỏi cái hạn hẹp của việc tranh cãi đúng sai. Còn nếu muốn bản thân làm được điều này một cách xuất sắc, bạn cần phải hiểu sâu sắc về cơ chế phòng ngự bản ngã của con người.
Về cơ chế phòng ngự bản ngã, định nghĩa giản đơn của Blackman là: Phòng ngự, chính là một con đường mà đại não loại trừ cảm nhận ra ngoài ý thức.
Định nghĩa phức tạp hơn một chút là: Nói chung, phòng ngự là một thao tác tâm lý nhằm dời bỏ một hoặc vài bộ phận cấu thành của cảm xúc khó chịu (như ý nghĩ, cảm giác, hoặc cả hai) ra ngoài ý thức.
Blackman cho rằng, cảm xúc có hai nội hàm: cảm giác và ý nghĩ. Còn đối với cảm xúc khó chịu, ông cho rằng chỉ có ba loại: lo âu, trầm cảm và phẫn nộ. Lo âu, được cấu thành từ cảm giác khó chịu và ý nghĩ rằng sự việc đáng sợ sắp sửa xảy ra. Trầm cảm, được cấu thành từ cảm giác khó chịu và ý nghĩ rằng sự việc đáng sợ đã xảy ra rồi. Phẫn nộ, được cấu thành từ cảm giác khó chịu và ý nghĩ muốn hủy diệt một ai đó hoặc một sự vật nào đó.
Về các loại cơ chế phòng ngự bản ngã, Blackman đã đúc kết được 101 loại, nhưng ông nói rằng điều này vẫn chưa thể bao quát hết được tất cả. Người con gái yêu quý của Freud là Anna Freud chính là người đầu tiên phân loại các cơ chế phòng ngự bản ngã một cách có hệ thống và tỉ mỉ. Anna cho rằng, gần như mọi sự việc của nhân loại đều là phòng ngự.
Cơ chế phòng ngự bản ngã vô cùng hữu dụng, càng hiểu về nó, bạn sẽ càng phát hiện ra rằng hành vi của con người dường như chẳng hề có cái gọi là ngẫu nhiên.
Chẳng hạn, một thân chủ của tôi đang cân nhắc việc mở rộng và phát triển công ty. Có một buổi tư vấn, chúng tôi đã nói về giấc mơ to lớn của anh ấy: anh ấy muốn xây dựng một đế chế trong lĩnh vực này. Buổi tư vấn hôm đó anh nói chuyện với tâm triều dâng trào, vô cùng cảm kích tôi, nói rằng đã thu được lợi ích quá lớn.
Thế nhưng, buổi tư vấn tiếp theo, anh ấy đã không đến.
Đến buổi tư vấn sau đó nữa, anh giải thích rằng kỳ thực anh đã sắp xếp công việc từ sớm, anh phải đi công tác, lúc đó đáng lẽ đang ở trên máy bay. Tuy nhiên, buổi tư vấn lần trước khiến anh cảm thấy thu hoạch quá nhiều, nên sau buổi đó anh đã do dự, tự hỏi liệu có nên đổi chuyến bay không, nhưng chuyến công tác đó lại rất quan trọng, hủy đi thì ảnh hưởng không ít chuyện. Rốt cuộc, trong sự do dự không dứt, anh vừa không đến, lại vừa không báo cho tôi biết là buổi tư vấn đó bị hủy.
Đây là lời giải thích ở bình diện ý thức, còn tôi với tư cách là một chuyên viên tư vấn theo định hướng tâm phân học, sẽ giữ một nguyên tắc căn bản: Ở đây không có sự ngẫu nhiên, nhất định là có một loại động lực nào đó trong nội tâm anh ấy đang phát huy tác dụng, và động lực này nằm ở trong tiềm thức.
Chúng tôi tiếp tục trò chuyện, quả nhiên đã khơi mở ra một nội dung mà bản thân anh không hề ý thức được: Sau khi dã tâm xây dựng một đế chế kinh doanh xuất hiện, ngay sau đó anh liền xuất hiện nỗi lo âu nghiêm trọng, anh lo sợ rằng một khi dục vọng này của mình lộ diện, nó sẽ mang đến cho anh tai họa ngập đầu.
Như vậy có thể hiểu được vì sao một người trước giờ luôn đúng hẹn như anh lại thất hẹn một cách hiếm hoi đến thế. Lần bất ngờ không đến tư vấn đó là để trốn tránh việc tiếp tục nhận biết sâu hơn về dục vọng xây dựng đế chế kinh doanh của mình. Làm như vậy thì có thể không để lộ dã tâm, từ đó không phải lo lắng về tai họa ngập đầu nữa. Việc anh không đến lần đó đồng nghĩa với việc hành trình giác tri của chúng tôi đã bị ngắt quãng, bị phá vỡ. Mà nếu không giác tri được dục vọng nơi Bản ngã nguyên sơ (Id - 本我), thì cũng có thể tránh khỏi sự đè nén khủng khiếp từ Siêu ngã (Superego - 超我) của anh.
Giác tri là một thứ tuyệt vời, trị liệu tâm phân học chính là giúp thân chủ ý thức hóa những nội dung trong tiềm thức của mình. Thế nhưng, giác tri cũng rất nguy hiểm, năng lực giác tri tốt nhất nên kết hợp cùng với trí tuệ và từ bi. Được như vậy, dẫu cho có giác tri đến những nội dung sâu không lường được, bản ngã của bạn vẫn có thể bao bọc, nâng đỡ được.
Blackman trong cuốn 101 Cơ chế phòng vệ tâm lý đã dùng mạch điện làm một ẩn dụ để giải thích cơ chế phòng ngự bản ngã.
Trong một mạch điện hoàn chỉnh, bóng đèn còn tốt, đường dây không bị hư hại và cũng có thể dẫn điện, nhưng có một công tắc đã bị kéo ngắt lên. Thế là dòng điện bị cắt đứt, bóng đèn không thể sáng được. Bóng đèn không sáng có nghĩa là ánh sáng của giác tri không rọi tới sự tồn tại của nó. Mà chiếc công tắc này đã được bạn kéo ngắt từ rất lâu trước đây, ví như thời thơ ấu, nhưng bạn đã quên mất mình từng làm như vậy, thế là nó trở thành một cơ quan phòng ngự bản ngã nằm trong tiềm thức.
Khi có thể giác tri được sự tồn tại của chiếc công tắc này, bạn có thể gạt công tắc xuống, để dòng điện lưu chuyển, và cuối cùng thắp sáng bóng đèn.
Vấn đề đặt ra là: Ban đầu tại sao bạn lại thiết lập chiếc công tắc này? Thường là bởi vì, năng lượng của dòng điện (tức cảm xúc) trong mạch điện quá lớn, nếu cứ để mặc cho dòng điện chạy qua, bóng đèn này sẽ bị cháy hỏng, vì vậy bạn mới cài đặt một chiếc công tắc như thế.
Chúng ta có thể hiểu bóng đèn này là đại não của con người, hoặc là bản ngã ở bình diện ý thức (Ego). Bởi vì dung lượng của Ego không đủ, không thể chịu đựng nổi nguồn năng lượng cảm xúc cực mạnh và quá đỗi nguy hiểm ùa vào, nếu không Ego có thể sẽ bị phá hủy.
Hơn nữa, dung lượng của bản ngã lại do dung lượng mối quan hệ trong gia đình gốc nhào nặn nên, thậm chí là quyết định. Cho nên, khi bạn suy ngẫm về độ lớn của vật chứa bản ngã cũng như những cảm xúc nguy hiểm mà bản ngã phòng ngự, hãy đối chiếu thật kỹ với gia đình gốc của mình. Những cảm xúc từng liên tục bị cấm đoán trong gia đình gốc cũng chính là những cảm xúc mà bạn dễ dàng không ý thức được nhất.
Ví như một người phụ nữ nọ, mối quan hệ giữa cô với người khác luôn không hòa hợp. Trong quá trình tư vấn, chúng tôi phát hiện ra rằng đó là vì cô rất dễ nảy sinh phẫn nộ trong mối quan hệ, và lại dùng phương thức mang tính phá hoại để biểu đạt sự phẫn nộ, thế là mối quan hệ bị hủy hoại. Nhưng khi tôi đưa ra lời giải thích về điều này, thoạt đầu cô nói: "Không thể nào, tôi không hề có phẫn nộ." Tiếp đó, cô hỏi tôi: "Thầy Vũ, những cảm nhận đó của tôi là phẫn nộ sao?"
Cô luôn không giác tri được sự phẫn nộ của chính mình, bởi vì trong gia đình gốc của cô, mẹ cô không cho phép cô có sự phẫn nộ.
Giác tri tuy là một thứ tuyệt vời, nhưng với tư cách là chuyên viên tư vấn, khi đưa ra lời giải thích cho thân chủ, cần phải cân nhắc các trạng thái khác nhau của mạch điện này. Trong các mối quan hệ xã hội thông thường cũng vậy, không phải lúc nào cũng thích hợp để nói cho đối phương biết "rốt cuộc chuyện gì đang xảy ra với bạn". Bởi vì lời giải thích của bạn có thể sẽ kích hoạt chiếc công tắc kia, kéo dòng điện tới, nhưng dòng điện này chưa chắc đã mang lại kết quả mang tính xây dựng.
Đối với những người mắc bệnh tâm thần nghiêm trọng (ví dụ như tâm thần phân liệt), cả bóng đèn, đường dây và điện áp đều có thể có vấn đề. Nếu cứ cố chấp kích hoạt chiếc công tắc này, có thể sẽ dẫn đến đoản mạch.
Còn với chứng nhiễu tâm (loạn thần kinh chức năng) - vấn đề tâm lý nhẹ nhất, toàn bộ mạch điện của họ cơ bản không có vấn đề gì, chỉ là chiếc công tắc cũ kỹ kia đã bị chính họ lãng quên. Chỉ cần gạt chiếc công tắc này xuống, mọi thứ đều có thể khởi động bình thường, bóng đèn sẽ sáng lên, và toàn bộ mạch điện cũng sẽ vận hành bình thường.
Vì vậy, khi đã nắm vững cơ chế phòng ngự bản ngã, chúng ta cũng cần biết rằng, đôi khi chúng ta có thể dùng cách đánh bọc hậu, hoặc để bản thân nắm quyền chủ đạo trong mối quan hệ, hoặc để giúp đỡ người khác, nhưng chớ có tùy tiện lạm dụng.
Vòng liên hoàn của cơ chế phòng ngự bản ngã
Cơ chế phòng ngự bản ngã, nói theo mặt tích cực, chính là tự bảo vệ, có thể giúp chức năng bản ngã của chúng ta được bảo lưu, không đến mức bị những cảm nhận quá đỗi nồng đậm phá hủy.
Blackman đưa ra ví dụ: Khi ngón tay của đứa trẻ vô tình bị kẹt cửa chảy máu, cha mẹ sẽ trải nghiệm những cảm xúc khó chịu vô cùng nồng đậm như lo âu, tự trách và trầm cảm. Lúc này, họ phải khởi động một loạt cơ chế phòng ngự để phòng vệ trước chúng, không để chúng đi vào ý thức, nhờ đó chức năng bản ngã của họ mới có thể tiếp tục vận hành bình thường.
Phương thức phòng ngự căn bản của người trưởng thành đều chứa đựng hai cơ chế phòng ngự bản ngã: "áp ức" (đè nén) và "cách ly" (cô lập). Cảm xúc khó chịu bao gồm hai phần là ý nghĩ và cảm nhận; phòng ngự tức là đóng lại một trong hai phần này, hoặc đóng lại toàn bộ. Đóng lại ý nghĩ chính là áp ức, còn đóng lại cảm nhận chính là cách ly.
Trong các bài viết của mình, tôi thường dùng hai từ "áp ức" và "cách ly", nhưng không phải lần nào cũng chỉ đích xác hai cơ chế phòng ngự cụ thể này.
Áp ức và cách ly là hai điều chúng ta rất dễ quan sát. Có những chuyện bạn nhớ rất rõ ràng, nhưng cảm nhận lại không còn rõ rệt nữa, thậm chí một vài cảm nhận trọng yếu bạn hoàn toàn không nhận biết được, đó chính là đã kích hoạt sự cách ly. Ngược lại, có những chuyện cảm nhận của bạn vô cùng mãnh liệt, nhưng đầu óc lại chẳng còn nhớ mấy về sự việc đó, đó là đã kích hoạt sự áp ức.
Theo tôi thấy, điều này có liên quan tới giới tính: Đàn ông dễ cách ly cảm xúc, còn phụ nữ dễ áp ức ý nghĩ. Chẳng hạn, đôi vợ chồng hôm qua cãi nhau một trận, hôm nay người chồng vẫn nhớ rành mạch từng chi tiết của sự việc nhưng lại thấy mình chẳng còn cảm giác gì nữa, đó là cách ly; còn người vợ thì nhớ sự việc không trọn vẹn, nhưng vẫn có thể cảm nhận sâu sắc cảm xúc mãnh liệt, đó là áp ức.
Những sang chấn nghiêm trọng có thể khiến một người quên sạch sự việc đó, bất kể là ý nghĩ hay cảm nhận. Ví như, một vụ tai nạn xe cộ nghiêm trọng không chỉ khiến bản thân bị thương mà còn khiến người thân qua đời. Sang chấn này quá lớn, có người sẽ quên hết mọi chi tiết và cảm nhận của sự việc.
Thế nhưng, lúc này sẽ xuất hiện một vấn đề, đó chính là hiện tượng hồi tưởng quá khứ (flashback / thiểm hồi). Nghĩa là, bạn hễ nhìn thấy bất kỳ chi tiết nào có liên quan đến khung cảnh sang chấn lúc đó, đều có thể rơi vào nỗi thống khổ ghê gớm. Cảm giác đau đớn lúc này chính là những gì bạn đã trải qua khi xảy ra vụ tai nạn xe.
Phải làm trị liệu như thế nào đối với loại sang chấn này? Hãy một lần nữa ôn lại tất cả các chi tiết của bạn trong sự kiện sang chấn, bao gồm cả ý nghĩ và cảm nhận của bạn, nhớ lại chúng một cách trọn vẹn, sau đó thừa nhận bi kịch đã xảy ra, và tiếp nhận sự mất mát của chính mình trong sang chấn đó.
Nếu vật chứa bản ngã của bạn đủ mạnh, bạn có thể tự mình làm điều đó; nếu vật chứa bản ngã của bạn không đủ, bạn cần tìm một người đáng tin cậy ở bên cạnh đồng hành; nếu vật chứa của người thân, bạn bè bình thường cũng không đủ dung nạp, thì có thể tìm đến các chuyên gia.
Chúng ta có thể thông qua phương thức cách ly và áp ức như vậy để tạm thời xua đuổi nỗi đau khổ từ ý thức vào tiềm thức, nhằm bảo vệ bản ngã ở bình diện ý thức của mình. Nhưng muốn thực sự được chữa lành, thì cần phải ôm lấy chân tướng (ôm trọn sự thật). Đương nhiên, đối với những người có chức năng bản ngã quá thấp kém, việc này có lẽ là quá đỗi khó khăn.
Vòng liên hoàn của cơ chế phòng ngự bản ngã, tôi gọi nó là "tam bản phủ đoạt mạng" (ba chiêu búa lấy mạng). Nó được cấu thành từ ba cơ chế phòng ngự bản ngã: "phân liệt" (chia tách), "phủ nhận" và "đầu xạ" (phóng chiếu). Phân liệt, tức là bạn cho rằng một người hoặc một việc hoàn toàn tốt, hoặc hoàn toàn xấu, bạn không thể chấp nhận sự cùng tồn tại của cả tốt lẫn xấu. Phủ nhận, tức là bạn phủ nhận sự tồn tại của cái xấu trên bản thân mình hoặc trên người mà mình yêu thích. Phóng chiếu, tức là bạn phóng chiếu cái xấu sang người khác.
Từ mối quan hệ nhất nguyên đến mối quan hệ nhị nguyên, rồi đến mối quan hệ tam nguyên, thực chất là để xử lý cái "xấu" trong tâm linh bên trong một vật chứa quan hệ phức tạp hơn. Cái "xấu" này theo góc nhìn của tôi có hai thứ: một là sự yếu ớt của tự thể (bản thể), hai là sự hận thù trong mối quan hệ. Ba cơ chế phòng ngự bản ngã nguyên thủy là phân liệt, phủ nhận và phóng chiếu kết hợp lại với nhau, tạo thành một vòng liên hoàn chính là nhằm cắt lìa cái "xấu" ra khỏi tự thể và khách thể tốt, sau đó phóng chiếu nó ra ngoài.
Chúng ta ở một mức độ nhất định đều tồn tại tình trạng này, đều tự giác hay không tự giác sử dụng vòng liên hoàn này, nhưng mấu chốt nằm ở chỗ: Bạn có giác tri hay không, bạn biết được ở mức độ nào rằng đây là một trò chơi tâm lý. Với người có giác tri, hễ chúng ta nói về vòng liên hoàn này, họ sẽ nhận ra ngay: "Ồ, mình đang làm như vậy." Còn người không có giác tri thì sẽ cố chấp cho rằng: "Sự việc vốn dĩ là như thế, tôi là người tốt, bạn là người tốt, hắn ta mới là kẻ xấu!" Đương nhiên, tồi tệ nhất là một người cho rằng cả thế giới này chỉ có mình là tốt, còn tất cả khách thể đều là xấu xa.
Chẳng hạn như một nam doanh nhân nọ, sự nghiệp của ông rất thành công, và ông có một người vợ nhỏ nhắn yếu đuối. Ông đến phòng tư vấn của tôi, nửa thời gian đầu toàn nói về đủ mọi mặt tốt của mình, đến nửa thời gian sau mới nói về những vấn đề của bản thân. Ông cũng nhận ra điểm này, liền nói với tôi: "Tôi luôn đến chia sẻ những điểm tốt của mình với thầy trước, rồi mới nói đến vấn đề."
Ông có thể nói về vấn đề ở bình diện sự thực, nhưng đối với những trải nghiệm không dễ chịu của mình, đặc biệt là sự yếu ớt của tự thể, ông luôn không thể giác tri được, bởi vì ông đã kích hoạt cơ chế tâm lý phủ nhận. Là một người đàn ông về cơ bản sống trong thế giới nhất nguyên, ông chỉ chấp nhận sự hùng mạnh của tự thể. Ông vẫn còn dừng lại ở chứng ái kỷ toàn năng (toàn năng tự luyến) ở một mức độ đáng kể, và bất kỳ cảm giác yếu ớt nào làm tổn hại đến tự thể của mình, ông đều phủ nhận sạch trơn.
Tại sao ông lại tìm một người vợ nhỏ nhắn yếu đuối? Bởi vì như vậy, ông có thể phóng chiếu cảm giác yếu ớt của tự thể sang cho người vợ.
Thế nhưng, dù có phóng chiếu đến mức nào đi nữa, cảm giác yếu ớt của tự thể kỳ thực vẫn nằm trên người ông. Cho nên, cứ qua một khoảng thời gian, ông lại rơi vào trạng thái trầm cảm nghiêm trọng. Rồi qua thêm một khoảng thời gian nữa, ông mới dần dần khá lên, lúc đỉnh cao nhất thì cảm thấy mình quả thực vô sở bất năng (không gì không làm được), vô kiên bất tồi (không gì phá vỡ nổi).
Tình trạng này của ông đã được chẩn đoán là rối loạn hưng - trầm cảm (táo uất chứng / rối loạn lưỡng cực). Tình trạng này cần phải tiếp nhận điều trị bằng thuốc, còn về mặt tâm lý học, một phương pháp then chốt trong việc trị liệu cho ông là phải khiến ông không ngừng giác tri được sự yếu ớt của tự thể, đồng thời không ngừng trải nghiệm rằng, khi cảm giác tự thể yếu ớt xuất hiện, ông sẽ không bị năng lượng chết giết chết, ông vẫn có thể chuyển hóa năng lượng chết thành năng lượng sống.
Có nhiều doanh nhân mắc chứng hưng - trầm cảm đã tìm đến tôi để tư vấn, nhưng chỉ trò chuyện được một hai lần là không thể tiếp tục được nữa, bởi vì họ cơ bản không thể chấp nhận được sự thật rằng "tôi rất yếu ớt", không thể nhìn thấy mình đang chơi trò "tam bản phủ đoạt mạng". Còn vị doanh nhân này, chúng tôi có thể cùng thảo luận về sự yếu ớt của ông, ông có thể chấp nhận việc mình đang chơi trò chơi này, vì thế mới mở ra khả năng giác tri.
Trong những vấn đề tâm lý nghiêm trọng nhất, còn tồn tại "ảo giác trong suốt" (thấu thị huyễn giác): Một người cho rằng, mình không cần giao tiếp với bạn cũng có thể phán đoán bạn là người thế nào; mình cũng chẳng cần nói với bạn thì bạn cũng có thể biết được trong lòng mình ra sao.
Một khi một người hoàn toàn chìm đắm vào trong đó, việc giao tiếp với họ sẽ trở nên bất khả. Chúng ta buộc phải hiểu rằng, tôi là tôi, bạn là bạn; muôn vàn phán đoán của tôi về bạn đều chỉ là những giả định tiền đề, tôi bắt buộc phải nhận được sự kiểm chứng từ nơi bạn thì mới có thể biết được bạn thực sự ra sao. Tôi ở trong thế giới của tôi, là thẩm quyền của chính tôi; bạn ở trong thế giới của bạn, là thẩm quyền của chính bạn. Đây chính là nền tảng của sự giao tiếp, bằng không, sẽ chỉ toàn là phóng chiếu mà thôi.
Nói tiếp về sự phủ nhận. Blackman cho rằng, trên nền tảng một người có tri giác về hiện thực, phủ nhận được chia làm bốn loại:
Phủ nhận bản chất: Bạn phủ nhận một sự thật hiển nhiên. Ví như, vụ thảm sát Nam Kinh là một sự thật đã được kiểm chứng đa chiều từ nhiều phía, nhưng rất nhiều người Nhật vẫn phủ nhận sự tồn tại của nó. Giống như những người nghiện rượu nặng, họ sẽ phủ nhận việc mình nghiện rượu. Khi họ tìm kiếm sự trị liệu, chuyên viên trị liệu cần phải nói ngay với họ từ đầu rằng: "Bạn không những mắc chứng nghiện rượu, mà còn phủ nhận cả sự thật mình mắc chứng nghiện rượu."
Phủ nhận trên hành động: Bạn dùng hành động để biểu thị rằng một sự thật gây khó chịu là không hề tồn tại. Ví như, một cặp vợ chồng người Mỹ, sau khi chính phủ cảnh báo rằng đảo Grenada có các phần tử hiếu chiến, họ vẫn chèo thuyền đến đảo Grenada, bởi vì họ không tin vào sự thật này. Kết quả là, sau khi tận mắt thấy các phần tử vũ trang, họ mới nhận ra đây là sự thật, rồi hoảng hốt tháo chạy.
Phủ nhận trong ảo tưởng: Bạn khăng khăng bám giữ niềm tin sai lầm để né tránh hiện thực khủng khiếp. Ví như, một cách nói đáng sợ thế này: "Mỗi con người đều có mặt tốt, dẫu cho hắn cưỡng hiếp và sát hại một bé gái 5 tuổi, nhưng hắn vẫn có thể được cứu rỗi."
Phủ nhận trong ngôn từ: Bạn quả thực đã làm một số chuyện sai trái, nhưng bạn không thừa nhận trên lời nói, mà dùng một số cách nói ngụy biện để phủ nhận tính chất đáng sợ của việc mình đã làm. Rất nhiều người đàn ông bạo lực gia đình chính là như vậy. Trên lời nói, họ sẽ từ chối thừa nhận rằng "tôi đã tấn công nghiêm trọng thân thể của vợ", mà sẽ đổi sang một cách nói nhẹ nhàng hơn rất nhiều: "Tôi đã làm một việc ngu ngốc." Cứ như thể trên phương diện ngôn từ (tức hệ thống ký hiệu) nói như vậy thì có thể phủ nhận việc họ bạo hành gia đình từng tồn tại trong thế giới thực vậy.
Khi một người kích hoạt "tam bản phủ đoạt mạng", vì đã phủ nhận cái xấu của mình và ra sức phóng chiếu nó sang người khác, nên rất dễ gây ra sự phá hoại to lớn đối với các mối quan hệ, khiến người khác xa lánh họ. Thế nhưng họ lại không thể nhận biết được điều này, mà sẽ tiếp tục sử dụng vòng liên hoàn ấy, từ đó đẩy thế giới của họ rơi vào một vòng xoáy ác tính, rốt cuộc rất có thể sẽ đoạt mạng người khác, hoặc đoạt mạng chính mình.
Đối với những người như vậy, việc khiến họ thừa nhận cái xấu của bản thân, đồng thời nhìn ra việc mình đã sử dụng cơ chế tâm lý phủ nhận là điều vô cùng quan trọng. Nhưng trong quá nhiều trường hợp, đây không phải là việc mà chuyên viên tư vấn có thể làm được, mà là công việc của các cơ quan quyền lực như pháp luật và tư pháp.
Cắt lìa và dung nạp
Rốt cuộc chúng ta đang phòng ngự điều gì? Như phần trước đã nói, cách diễn đạt kinh điển là chúng ta đang phòng ngự những cảm xúc khó chịu, và điều này có thể chia thành ba loại: lo âu, trầm cảm và phẫn nộ. Còn cách hiểu của tôi là: Chúng ta đang phòng ngự sự yếu ớt của tự thể và sự thù hận trong mối quan hệ, mà cả hai điều này đều hướng về năng lượng chết và sự hủy diệt. Phòng ngự sự yếu ớt của tự thể là lo sợ tự thể bị năng lượng chết hủy diệt; còn phòng ngự sự thù hận trong quan hệ là lo sợ khách thể bị năng lượng chết hủy diệt. Lo âu là nỗi lo sự hủy diệt sắp xảy ra; trầm cảm là cảm thấy chính mình đã tạo ra sự hủy diệt; còn phẫn nộ lại là muốn đi hủy diệt.
Điều này liên quan đến hai cơ chế phòng ngự bản ngã căn bản nhất: phóng chiếu (hướng ngoại) và nội nhiếp (hướng nội).
Mọi tri giác của chúng ta đối với thế giới bên ngoài đều là sự phóng chiếu từ nội tâm của chính mình. Còn về nội nhiếp (introjection), Blackman đưa ra định nghĩa là "bạn hình thành một hình ảnh của người khác", tức là khách thể của thế giới bên ngoài đã hình thành nên một ý tượng trong tâm linh bên trong của bạn. Có thể nói, phóng chiếu là việc bạn đem tâm linh bên trong phô bày lên màn chiếu của thế giới bên ngoài, còn nội nhiếp là sự tồn tại của thế giới bên ngoài được bạn dung nạp vào bên trong tâm linh của mình.
Khi phóng chiếu, một điểm đặc biệt quan trọng là phóng chiếu cái "xấu", bởi vì cái "tốt" thì tâm linh bên trong của chúng ta có thể xử lý được, còn cái "xấu" thì ban đầu chúng ta không thể xử lý nổi, do đó phải phóng chiếu nó ra ngoài. Hơn nữa, trong sự phóng chiếu nguyên thủy nhất, một người sẽ rất khó ý thức được rằng đây là sự phóng chiếu của tâm linh nội tại, mà sẽ cho rằng cái "xấu" đó thực sự tồn tại một cách xác thực trên khách thể bên ngoài, chứ không hề tồn tại trong tâm linh của chính mình.
Phóng chiếu và nội nhiếp kết hợp lại với nhau tạo nên quá trình tương tác qua lại giữa tâm linh bên trong và thế giới bên ngoài.
Blackman trong cuốn sách của mình đã kể một ví dụ về phóng chiếu:
Một phụ nữ nói rằng cô cho rằng cấp trên đang giận mình. Chuyện cụ thể là: Cấp trên yêu cầu cô phải làm xong ngay một bản ghi nhớ, nhưng cô có quá nhiều việc nên không kịp hoàn thành đúng hạn, làm kéo dài thời gian. Dẫu cho cấp trên chẳng hề biểu lộ sự bất mãn với cô, nhưng cả đêm cô trằn trọc không sao chợp mắt nổi, vì cô lo sợ cấp trên đang tức giận.
Thế nhưng chân tướng của sự việc là: Chính người phụ nữ này mới là người đang tức giận. Cô cho rằng cấp trên rõ ràng biết mình đang bận ngập đầu mà vẫn giao việc mới, lại còn yêu cầu phải hoàn thành ngay lập tức, điều này khiến cô vô cùng phẫn nộ. Nhưng cô lại cho rằng phẫn nộ là điều xấu xa, thế là cô đã phóng chiếu nó sang cho cấp trên.
Câu chuyện của Blackman về trường hợp này dừng lại ở đây, còn điều tôi có thể bổ sung thêm là: Thông thường trong những ca tương tự, cảm nhận của thân chủ nếu đặt vào trong gia đình gốc của họ thì lại vô cùng hợp lý. Ví như, cha mẹ của người phụ nữ này có thể đã từng bóc lột, sai khiến cô quá mức như vậy, và khi cô không hoàn thành kịp thời, họ sẽ rất giận dữ. Đồng thời, người phụ nữ này quả thực cũng sẽ không ý thức được sự phẫn nộ của chính mình. Bởi vì sự phẫn nộ của cô thường không bao giờ được phép xuất hiện trong gia đình gốc.
Có thể nói, người phụ nữ này có một cặp "cha mẹ nội tâm hà khắc và dễ nổi giận", và đây chính là kết quả của việc cô đã nội nhiếp hình tượng cha mẹ mình. Trong mối quan hệ với cấp trên, cô đã phóng chiếu hình tượng nội tâm này sang cho cấp trên.
Điều này sẽ dẫn đến hai khả năng: Một là, cấp trên quả thực là người hà khắc và dễ nổi giận, như thế sẽ kiểm chứng cho tri giác nội tại của cô. Thế là cuộc đời cô lại xuất hiện thêm một vòng lặp: Uy quyền đều hà khắc. Nhưng cũng có một khả năng khác: Cấp trên không hề tức giận, và cô cũng nhìn thấy rõ chân tướng này. Không những thế, cô còn đem hình tượng người cấp trên tương đối khoan dung này một lần nữa nội nhiếp vào trong tâm linh của mình. Nhờ đó, mô thức quan hệ nội tâm của cô đã nhận được sự tu chỉnh.
Vào thuở ban đầu của sinh mệnh, phóng chiếu và nội nhiếp đều rất dễ xảy ra, nhưng một khi bạn đã hình thành một bản ngã vững chắc, nội nhiếp sẽ trở nên không còn dễ dàng nữa.
Khi phóng chiếu cái "xấu" ra bên ngoài, rất dễ xảy ra sự "cắt lìa". Tức là, chúng ta cho rằng trên bản thân mình không hề có phần "xấu" này, phần "xấu" này chỉ tồn tại ở thế giới bên ngoài. Trong quá trình đó, rất dễ nảy sinh sự phân liệt và phủ nhận.
Còn khi nội nhiếp vào bên trong, điều dễ xảy ra nhất chính là sự nhận đồng (đồng nhất hóa). Chúng ta nhận đồng với một thứ gì đó, sau đó mới có thể dung nạp nó vào trong tâm linh của chính mình.
Trong cuốn 101 Cơ chế phòng vệ tâm lý, Blackman đã nói về nhiều loại nhận đồng:
Nhận đồng với ảo tưởng: Điều này thường là sự nhận đồng với một nhân vật anh hùng, cũng chính là cái mà chúng ta thường gọi là sùng bái thần tượng (đu idol). Chẳng hạn, Freud luôn sùng bái Hannibal. Hannibal là anh hùng của xứ Carthage vùng Bắc Phi, người đã thách thức đế quốc La Mã bằng những phương thức không tưởng. Freud cũng chính là một người anh hùng như thế, ông đã bất chấp sự phản đối dữ dội của cả thế gian mà đề ra phức cảm Oedipus, đồng thời phát triển cái gọi là "thuyết phiếm tính dục", đó đều là những hành vi mang tính anh hùng.
Nhận đồng với nguyện vọng/ảo tưởng trong tiềm thức hoặc ý thức của cha mẹ: Nhận đồng với nguyện vọng trong ý thức của cha mẹ là điều rất phổ biến và không khó hiểu. Còn nhận đồng với nguyện vọng trong tiềm thức của cha mẹ thì vô cùng thú vị. Ví như, một cặp cha mẹ siêu tiết kiệm lại nuôi dạy nên một cô con gái cực kỳ xa xỉ, lãng phí, họ vì thế mà vô cùng đau khổ. Nhưng sau khi trò chuyện sâu với họ thì mới phát hiện ra rằng, họ có đủ mọi hành vi dung túng cho con gái. Có thể nói họ đã xuất hiện sự phân liệt: Về mặt ý thức, họ hy vọng con gái cũng tiết kiệm như mình, nhưng hành vi của họ lại truyền tải đến con gái một thông điệp hoàn toàn trái ngược: "Chúng ta sẵn lòng đáp ứng vô hạn mọi dục vọng của con." Ý thức và tiềm thức của cha mẹ không nhất quán, điều này dẫn tới việc đứa trẻ khi nhận đồng với nguyện vọng tiềm thức của cha mẹ sẽ vô cùng đau đớn. Đặc biệt là khi cha mẹ kìm nén dục vọng quá mức, nhưng lại nuôi dạy bạn thành một người không biết kìm nén, họ lại còn quở trách: "Sao con lại hư hỏng thế này!" Ví như một người bạn của tôi, hồi nhỏ khi đi siêu thị cùng mẹ, mẹ luôn mua cho cô loại kẹo đắt tiền nhất để ăn, nhưng vừa về đến nhà, mẹ lại mắng mỏ cô xa xỉ, hoang phí, mua cái gì cũng đòi mua thứ tốt nhất.
Nhận đồng với hình tượng lý tưởng hoặc khách thể lý tưởng: Điều này rất giống với loại nhận đồng thứ nhất là "nhận đồng với ảo tưởng", chỉ khác ở chỗ một bên là nhận đồng với nhân vật tưởng tượng, còn một bên là nhận đồng với một nhân vật có thật ngoài đời mà mình quen biết, chỉ là đã lý tưởng hóa người đó lên. Là một người có chút tiếng tăm, tôi thường xuyên gặp những người hâm mộ cuồng nhiệt lý tưởng hóa bản thân tôi, chẳng hạn như cho rằng tôi không bận tâm đến tiền tài, không có vấn đề tâm lý, một lòng muốn giúp người, v.v. Khi họ nhìn nhận tôi như vậy, có người là hy vọng có thể gặp được một người vừa tốt lại vừa có nguồn lực như tôi, để rồi có thể giúp đỡ họ; có người thì lại muốn coi tôi là thần tượng để học tập, đó chính là muốn nhận đồng với một Vũ Chí Hồng trong tưởng tượng của họ.
Nhận đồng với kẻ tấn công: Bạn từng bị bạo hành ngược đãi, hoặc từng chứng kiến cảnh ngược đãi, và bạn đã nhận đồng với kẻ bạo hành. Nếu bạn nhận đồng quá mức với kẻ bạo hành, bạn rất có thể sẽ trở thành một kẻ cuồng ngược đãi hoặc một kẻ bạo ngược. Ví như ở quê tôi có một gia tộc nọ, người cha đánh đập mẹ và con cái, và mấy người con trai trong nhà đó sau này đều mắc phải vấn đề tương tự. Đồng nhất hóa với kẻ tấn công là điều rất dễ hiểu. Điều này tuy biến bạn thành người xấu, nhưng kẻ tấn công thì có sức mạnh, trong khi tự thể của kẻ bị tấn công lại rõ ràng là yếu ớt.
Nhận đồng với nạn nhân: Bạn từng chứng kiến mối quan hệ giữa kẻ gây hại và nạn nhân, và bạn trở thành một người giống như nạn nhân. Thế nên, khi người khác tấn công bạn, bạn sẽ ngầm cho phép sự tấn công của người khác. Nhận đồng với kẻ gây hại có thể khiến một người cảm thấy mình có sức mạnh, từ đó tránh khỏi việc phải trải nghiệm cảm giác yếu ớt; nhận đồng với nạn nhân có thể khiến một người cảm thấy mình có đạo đức, từ đó tránh khỏi sự hận thù cũng như cảm giác tội lỗi do thù hận mang lại. Đồng thời, nó cũng giúp bản thân tránh khỏi nỗi sợ hãi do sự đối đầu mang đến.
Nhận đồng với khách thể đã mất: Sau khi một nhân vật quan trọng qua đời, bạn trở nên ngày càng giống người đó hơn. Bằng phương thức này, bạn giữ lại hình bóng của người ấy trong tim mình, để từ đó không phải đối diện với sự thật là đã mất đi người ấy. Điều này vừa là để tránh né việc phải đối mặt với nỗi bi thương khi mất đi người thân, nhưng đôi khi lại là để tránh né cảm giác tội lỗi. Ví như, có những người thân khi còn sống bạn căm ghét tột cùng, nhưng sau khi họ qua đời, bạn lại cảm thấy cắn rứt tội lỗi, thế là thông qua việc biến thành dáng vẻ của họ để bày tỏ lòng trung thành với họ.
Phóng chiếu ở khắp mọi nơi, và nhận đồng cũng ở khắp mọi nơi. Thậm chí tôi cảm thấy rằng, muôn vàn nhận thức trong đầu óc chúng ta cho đến từng cảm giác của chúng ta, đều có thể là kết quả của sự nhận đồng. Ví như, chúng ta nhận đồng với một số thứ chung của gia đình, xã hội, dân tộc và quốc gia, nhờ đó trở thành một phân tử của tập thể, và nhờ đó mà có được cảm giác thuộc về.
Cơ chế phòng ngự nội nhiếp và nhận đồng có thể giúp chúng ta thấu hiểu rằng: Cái gọi là "tôi" rất có thể được tạo thành, là kết quả của sự không ngừng nhận đồng, chứ chưa hẳn đã là bẩm sinh sẵn có.
Một số cơ chế phòng ngự thường gặp
Ảo giác: Ảo giác rất phổ biến trong bệnh tâm thần phân liệt, như ảo thính, ảo thị, v.v. Ảo giác, theo góc nhìn của Blackman, căn nguyên là những thứ mà một người né tránh suy nghĩ tới, như nguyện vọng, ý kiến, tưởng tượng hoặc sự chỉ trích. Hơn nữa, họ đã đánh mất năng lực kiểm nghiệm hiện thực, ảo giác thực chất chính là sự tưởng tượng nơi nội tâm của chính họ. Chẳng hạn, một cô gái nhìn thấy cha đang mắng mỏ mình trong thang máy, đây là ảo thị, và thứ thanh âm bị chỉ trích này chính là điều cô đang ra sức né tránh.
Trách móc mang tính phóng chiếu: Bạn mang cảm giác tội lỗi đối với một sự việc tồi tệ, và bạn né tránh cảm giác tội lỗi cùng trách nhiệm của bản thân bằng cách quay sang chỉ trích, trách móc người khác. Chẳng hạn, một cặp vợ chồng đến gặp tôi, con của họ gặp vấn đề rất lớn. Nhưng vừa nói chưa được mấy câu, người chồng đã gào lên với người vợ: "Tất cả đều là lỗi của cô! Đứa bé đều là do cô hại!"
Khử sinh mệnh hóa (Phi nhân hóa): Khử sinh mệnh hóa có hai công năng:
Công năng thứ nhất: Không coi bạn là con người, như vậy thì không cần phải nghĩ đến chuyện "có nên tin tưởng bạn, yêu bạn, hay hận bạn" hay không nữa. Ví như, thân chủ rất dễ coi chuyên viên tư vấn là "động vật y học", còn coi bản thân mình là một cỗ máy bị trục trặc, như vậy chỉ cần "động vật y học" sửa xong sự cố của cỗ máy là được; làm như thế liền né tránh được mối quan hệ giữa thân chủ và chuyên viên tư vấn.
Công năng thứ hai: Không coi bạn là con người, thì khi tấn công bạn sẽ không còn cảm giác tội lỗi nữa. Khi chúng ta căm ghét một người và muốn tấn công người đó, chúng ta rất dễ sử dụng logic này. Ví như trong Chiến tranh thế giới thứ nhất, cả Đức lẫn hai nước Anh - Pháp đều miêu tả đối phương như những sinh vật phi nhân loại.
Phản hướng hình thành (Hình thành phản ứng ngược): Vốn dĩ bạn đang ở trạng thái A, nhưng biểu hiện ra ngoài lại là -A (nghịch đảo của A). Đây là một cơ chế cực kỳ phổ biến và cũng cực kỳ quan trọng. Phần lớn thời gian, đó là khi tôi mang tính công kích, nhưng lại biểu hiện ra như một người tốt; tôi hận bạn, nhưng lại biểu hiện như thể càng yêu bạn hơn. Chẳng hạn như, người tốt thực chất là đang phòng ngự nỗi hận thù kinh hoàng sâu thẳm bên trong. Cũng có những lúc, đó là tôi yêu bạn, nhưng lại biểu hiện ra sự lạnh nhạt, phản cảm với bạn. Ví như khi những cô gái nói lời "ghét"; hoặc như những cậu thiếu niên tuổi dậy thì khi thích một cô gái thì lại cố tình gây sự, bới móc lỗi lầm của đối phương. Lại có những người mắc bệnh ưa sạch sẽ quá mức, thứ mà họ phòng ngự chính là niềm yêu thích của bản thân đối với những vật dơ bẩn (tức dục vọng).
Ngoại hóa: Một hình thức đặc biệt của phóng chiếu: Bạn trải nghiệm những ý nghĩ trong nội tâm mình thành việc người ngoài đang nhìn nhận bạn như thế. Điều này rất thường gặp trong quá trình tư vấn, ví như có thân chủ vừa bước vào phòng liền nói: "Chắc thầy nghĩ tôi là một kẻ tồi tệ hết thuốc chữa." Lúc này, chuyên viên tư vấn có thể nói: "Nghe có vẻ như bạn đang ước lượng tôi là một người hà khắc, nhưng có khả năng là chính bạn đang tự trách bản thân, rồi lại nghĩ rằng tôi sẽ chỉ trích bạn."
Công kích tính quay ngược về bản thân (Chuyển tính công kích về tự thân):
Tính công kích của bạn không thể hướng ra ngoài, thế là quay ngược lại tấn công vào chính bản thân bạn. Bệnh nhân trầm cảm (đặc biệt là những người có khuynh hướng tự sát) đều mang cơ chế phòng ngự này, cho nên việc chỉ ra cho người có khuynh hướng tự sát biết họ đang có cơ chế phòng ngự bản ngã này, đồng thời dẫn dắt họ nói ra sự phẫn nộ đối với khách thể, là điều vô cùng trọng yếu.
Phân cách (Ngăn cách / Phân tách):
Những việc trước và sau mà bạn làm vốn dĩ có mối liên hệ mật thiết, nhưng bạn lại phòng ngự để bản thân không nhìn thấy sợi dây liên kết giữa chúng.
Ví như, một cô gái rủ một người đàn ông đi bơi khỏa thân, nhưng khi người đàn ông muốn phát sinh quan hệ tình dục với cô, cô lại hoảng hốt bối rối và cho rằng đối phương là kẻ tồi tệ. Bởi vì đã kích hoạt cơ chế phòng ngự phân cách, cô không nhìn thấy được hàm ý tình dục trong hành vi bơi khỏa thân của chính mình. Kỳ thực, nội tâm cô tràn ngập khát khao tình dục, nhưng cô lại cảm thấy xấu hổ. Mời đối phương bơi khỏa thân là biểu đạt khát khao; sử dụng cơ chế phòng ngự phân cách là để phòng ngự nỗi xấu hổ. Hơn nữa, khi người đàn ông đưa ra yêu cầu tình ái, thông qua việc công kích người đàn ông, cô đã phóng chiếu cảm giác xấu hổ về tình dục sang cho đối phương.
Mộng giữa ban ngày (Ảo tưởng ban ngày):
Khác với giấc mơ lúc ngủ, mộng giữa ban ngày là việc một người chủ động chìm đắm vào trong tưởng tượng. Và tất cả những điều này đều là nhằm thỏa mãn nguyện vọng của chính mình.
Một người bạn của tôi, hồi học lớp một, lớp hai thường hay có một giấc mộng ban ngày: Cô bước vào một căn nhà màu đen có mái nhọn, bên trong chỉ có một chiếc bàn và một chiếc ghế, bên cạnh là một ô cửa sổ vuông vức. Ngồi trên chiếc ghế ấy, cô cảm thấy vô cùng thỏa mãn.
Sau khi trò chuyện với cô một hồi, tôi phát hiện ra giấc mộng ban ngày này bắt nguồn từ một sự thật đầy đau đớn: Mẹ cô thường nói với cô rằng: "Tao không phải mẹ ruột của mày, mày là đứa nhặt từ thùng rác về." Nếu đó chỉ là câu đùa thì vấn đề không lớn, nhưng cha mẹ đối xử với cô thực sự quá tồi tệ, thế nên thuở nhỏ, cô đã từng thực sự rời khỏi nhà, ra ngoài tìm đến các thùng rác với mong muốn tìm lại mẹ ruột của mình. Căn nhà trong mộng, chính là chiếc thùng rác ngoài đời thực.
Lấp liếm (Thoái thác):
Nói dối một cách có ý thức. Nó thường liên kết chặt chẽ với sự trách móc mang tính phóng chiếu và sự hợp lý hóa.
Thoái lui:
Bạn không thể ứng phó với những thử thách ở tầng phát triển cao hơn, thế là thoái lui về tầng phát triển thấp hơn để tìm kiếm sự thỏa mãn.
Ví như, bạn cứ hễ nghĩ tới tình dục và sự độc lập là liền cảm thấy cắn rứt tội lỗi, bởi vì điều đó đồng nghĩa với việc bạn phải rời xa gia đình. Lúc này, bạn lại lo lắng cha mẹ sống không tốt, thế là bạn trở nên ỷ lại hơn và ngây ngô trẻ con hơn. Thế nhưng, bạn kỳ thực chẳng hề tận hưởng sự ỷ lại và trẻ con đó.
Phổ biến nhất là: Bạn cứ hễ gặp phải thử thách là liền trở nên thèm ăn. Đây là sự thoái lui về thời kỳ môi miệng (giai đoạn miệng - Oral stage) trước 1 tuổi để tìm kiếm sự thỏa mãn mà bất kỳ ai cũng có thể tìm được.
Tồi tệ nhất là thoái lui vào trong sự tưởng tượng của ái kỷ toàn năng, lúc này sẽ rất dễ mắc phải các bệnh về tâm thần.
Thăng hoa:
Để phòng ngự trước những ảo tưởng tình dục kinh người và ảo tưởng hủy diệt của bản thân, bạn đi dấn thân vào các hoạt động hữu ích như nghệ thuật, viết lách và từ thiện công ích.
Một người đàn ông vì quá mức nhiệt thành với công ích từ thiện đến nỗi không thể tự chăm sóc cho cuộc sống của chính mình, ông đã mất cha từ thuở ấu thơ. Khi đi sâu vào nội tâm, ông phát hiện ra rằng việc mình nhiệt thành với hoạt động công ích đến như vậy thực chất là để phòng ngự phức cảm luyến mẫu thí phụ (phức cảm Oedipus - yêu mẹ giết cha) sâu thẳm trong tiềm thức. Dưới góc nhìn của Freud, toàn bộ nền văn minh đều là kết quả của sự thăng hoa.
Dụ hoặc kẻ tấn công (Quyến rũ kẻ công kích):
Bạn sợ hãi một người, nhưng lại dùng phương thức tình dục hoặc nịnh nọt để quyến rũ người đó, nhằm chứng minh rằng mình không sợ hãi họ, đây là để phòng ngự sự yếu ớt của tự thể. Ví như, một cô gái nhút nhát lại tìm đến một gã trai hư, và ảo tưởng rằng bản thân có thể cảm hóa, thay đổi được anh ta.
Đối với những người đang lún sâu vào các mối quan hệ độc hại đáng sợ, việc nhìn ra bản thân đang sử dụng cơ chế quyến rũ kẻ tấn công là điều cực kỳ quan trọng.
Hợp lý hóa:
Bạn đã làm một việc mà bản thân biết rất rõ là không hợp lý, nhưng bạn lại tự tìm cớ cho mình, biến việc mình làm nghe như thể vô cùng hữu lý.
Ví như, bạn vì theo đuổi sự kích thích đam mê mà ngoại tình, sau khi bị phát hiện, bạn lại nói với bạn đời của mình: "Chính vì anh/em đối xử không tốt với tôi, nên tôi mới làm như vậy."
Cùng tư kiệt lự (Suy nghĩ cạn cùng / Nghiền ngẫm quá mức):
Bạn ra sức tìm cách làm sáng tỏ triệt để một sự việc trên bình diện lý trí đầu óc, thậm chí chìm sâu vào những suy tưởng triết học cao siêu, nhưng căn bản là để phòng ngự cảm giác đau đớn mà sự việc đó mang lại cho bạn.
Ví như, một người phụ nữ 35 tuổi đã ly hôn bỏ ra nhiều tuần lễ để trị liệu tâm lý, chỉ vì muốn tìm hiểu rốt ráo xem tại sao người bạn trai gần nhất lại chia tay với cô. Cô làm như vậy thực chất là để phòng ngự nỗi lo âu chia ly của chính mình.
Lý trí hóa:
Bạn đắm chìm vào trong một mớ lý thuyết không hợp logic. Khác với hợp lý hóa (vốn dĩ bề ngoài nghe vẫn có lý), lý trí hóa lại sử dụng những lý thuyết mà ngay từ đầu bản thân nó đã bộc lộ vấn đề.
Ví như, một người đàn ông ngoại tình liên tục đem "cơ chế hóa chất" của thuốc chống trầm cảm Prozac ra thảo luận qua lại với chuyên viên tư vấn, chuyện ngoại tình hoàn toàn bị lờ đi; điều này là để phòng ngự nỗi cắn rứt tội lỗi do sự phản bội mang lại.
Bản năng hóa:
Bạn xem một loại chức năng bản ngã như là bản năng tự nhiên.
Ví như, bạn cho rằng học các môn tự nhiên là việc của đàn ông, còn nghệ thuật là việc của đàn bà.
Ức chế chức năng bản ngã:
Bạn gán cho một chức năng bản ngã nào đó mang hàm nghĩa biểu tượng của dục vọng tình dục hoặc sự thù địch, từ đó ức chế chúng lại.
Có thể nói, sự hạn chế nơi năng lực của bản ngã chúng ta thường là kết quả của cơ chế phòng ngự bản ngã, chứ không hẳn là bẩm sinh đã thế.
Tương tác: Vấn đề càng lớn, phòng ngự càng đơn giản
Về các cơ chế phòng ngự bản ngã, chúng được hình thành ở các giai đoạn phát triển tâm lý khác nhau. Nếu bạn đọc cuốn 101 Cơ chế phòng vệ tâm lý của Blackman, bạn sẽ thấy ông liệt kê 101 cơ chế này vô cùng mạch lạc: có loại thuộc thời kỳ môi miệng, có loại thuộc thời kỳ hậu môn, có loại thuộc thời kỳ Oedipus, có loại lại thuộc thời kỳ thanh xuân...
Cơ chế phòng ngự tâm lý hình thành càng sớm thì càng nguyên thủy, và tầng bậc cũng càng thấp. Ba cơ chế phòng ngự nguyên thủy nhất hình thành sớm nhất chính là phóng chiếu, nội nhiếp và ảo giác, chúng rất dễ hiểu. Càng về sau, cơ chế phòng ngự lại càng phức tạp, có những thứ để hiểu được không hề dễ dàng.
Khi làm tư vấn sẽ nhận ra điểm này: Những người có vấn đề rất nặng nề, ta có thể nhìn thấy vấn đề của họ vô cùng rõ ràng, nhưng trị liệu cho họ lại vô cùng gian nan, ví như bệnh nhân tâm thần hoặc người bị rối loạn nhân cách.
Ngược lại, những người mắc chứng nhiễu tâm, bệnh tình trông có vẻ không nặng, nhưng tâm linh của họ lại giống như một mê cung phức tạp khôn cùng, rất khó để thấu suốt con người chân thật của họ.
Cho nên, con người là một loài sinh vật rất thú vị: Thoạt tiên đi từ đơn giản đến phức tạp, rồi sau đó lại từ phức tạp quay trở về với đơn giản.
Hỏi: Mối quan hệ giữa "đánh bọc hậu" và cơ chế phòng ngự bản ngã là như thế nào?
Đáp: Chúng ta hiểu về nhân tính, hiểu về cơ chế phòng ngự bản ngã, đôi khi là để đối đãi với người khác tốt hơn, đôi khi lại là để bảo vệ bản thân mình tốt hơn.
Vì vậy, việc "đánh bọc hậu" như thế, chúng ta có thể tự hỏi lòng mình rằng: Mình làm vậy là vì mục đích gì? Nếu như bạn cứ liên tục "đánh bọc hậu", nó sẽ rất dễ đẩy mối quan hệ rơi vào thế đối địch hoặc bế tắc. Bởi vì đối phương đang kích hoạt cơ chế phòng ngự bản ngã để ngăn chặn cảm xúc khó chịu của họ, mà bạn lại liên tục vạch trần họ, phá vỡ lớp phòng ngự của họ, khiến những cảm xúc khó chịu trong họ không ngừng tuôn trào ra. Chỉ riêng điều này thôi đã đủ để phá hủy mối quan hệ giữa hai người rồi.
Theo kinh nghiệm của tôi, trong đời sống, việc "đánh bọc hậu" chỉ nên thỉnh thoảng mới dùng tới, chớ nên lạm dụng.
Hỏi: Dời bỏ những cảm xúc xấu ra ngoài ý thức thì những cảm xúc này sẽ biến thành tiềm thức, bản thân không còn giác tri được nữa, nhằm bảo vệ Ego của chúng ta vận hành bình thường. Vậy chứng trầm cảm là do cơ chế phòng hộ loại bỏ cảm xúc xấu gặp trục trặc, hay là công tắc mở tiềm thức gặp trục trặc?
Đáp: Cơ chế phòng ngự bản ngã đóng kín những cảm xúc khó chịu vào trong tiềm thức không đồng nghĩa với việc những cảm xúc khó chịu ấy biến mất. Nó chỉ là không được ý thức hoặc khó được ý thức trong đầu óc mà thôi, nhưng nó vẫn tiếp tục phát huy tác dụng, tác động sâu sắc lên thân và tâm của một con người.
Trầm cảm chính là việc quay ngược sự phẫn nộ vốn dành cho người khác về phía chính bản thân mình. Lúc này, người đó rất dễ tự trách mà không nhận biết được rằng, đây vốn dĩ là cơn thịnh nộ hướng về người khác. Cho nên, cảm xúc khó chịu là cơn phẫn nộ này chưa từng biến mất đi.
Hỏi: Để đàn ông luyện tập cảm nhận cảm xúc nhiều hơn, phụ nữ luyện tập hồi tưởng lại ý nghĩ nhiều hơn, thì có giúp ích cho đàn ông và phụ nữ hoàn thiện bản thân mình hơn không?
Đáp: Sinh mệnh sẽ dùng phương thức tràn đầy sức mạnh hơn để thực hiện sự tích hợp này. Phương thức đó chính là: Đàn ông lý tính bị thu hút bởi phụ nữ cảm tính, phụ nữ cảm tính lại bị thu hút bởi đàn ông lý tính; những cặp nam nữ mang tính đối lập khác biệt như vậy sẽ dễ rơi vào lưới tình với nhau hơn. Những người đàn ông lý tính thường nghĩ rằng mình thích người cũng lý tính như mình, nhưng khi bước vào tình yêu, họ sẽ phát hiện bản thân thân bất do kỷ (không tự chủ được), bị người phụ nữ cảm tính thu hút mãnh liệt.
Sự thân bất do kỷ này, chính là tiềm thức đang chi phối họ.
Yêu một người là để hoàn thành sự tích hợp giữa nhân cách hiển lộ và nhân cách bóng tối, để rốt cuộc trên người đàn ông có đủ cả lý tính lẫn cảm tính, và trên người phụ nữ có đủ cả cảm tính lẫn lý tính. Điều này không chỉ hoàn thành thuần túy thông qua giác tri, mà tình yêu chính là một lực lượng thúc đẩy mạnh mẽ hơn rất nhiều.
Hỏi: Nội nhiếp rồi sau đó phóng chiếu, có phải là một vòng tuần hoàn động không? Trong điều kiện lý tưởng, thông qua vòng tuần hoàn như vậy có thể đạt đến trạng thái tri hành hợp nhất vững chắc không? Đồng nhất hóa phóng chiếu (Projective identification) và đồng nhất hóa nội nhiếp (Introjective identification) có mối liên hệ và phân biệt như thế nào?
Đáp: Rốt cuộc là phóng chiếu trước hay nội nhiếp trước? Câu hỏi này rất khó trả lời. Trên thực tế, giữa hai điều này không tồn tại một trật tự trước sau giản đơn. Có thể là phóng chiếu trước rồi mới nội nhiếp, cũng có thể là nội nhiếp trước rồi mới phóng chiếu.
Nhưng trong thực tế thường thấy: Chúng ta tự động nội nhiếp một hình tượng mới mẻ, và điều này sẽ đóng vai trò tu chỉnh đối với khách thể vốn đã tồn tại sẵn bên trong chúng ta.
Theo cách hiểu của tôi, ban đầu việc nội nhiếp rất dễ dàng, nhưng về sau sẽ càng lúc càng khó, phóng chiếu sẽ dần trở thành chủ đạo. Cho nên, trẻ con học những điều mới cực kỳ nhanh, còn người già học điều mới lại vô cùng khó khăn.
Chương 2: Không gian
Sáng tạo không gian của bạn
Một ẩn dụ căn bản về nhân tính, chính là vật chứa và vật được chứa.
Cơ quan sinh dục nữ và cơ quan sinh dục nam, chính là vật chứa và vật được chứa. Chúng cùng nhau sáng tạo nên sinh mệnh, cùng vòng luân hồi sinh sinh bất tức (sinh sôi không dứt).
Những từ ngữ như "sinh mệnh lực", "năng lượng", "hoạt lực" hay "động lực", kỳ thực đều đang nói về những vật được chứa. Những vật được chứa này đều cần có vật chứa, hay nói cách khác là cần có không gian.
Bạn có không gian thuộc về chính mình hay không? Không gian ấy ra sao? Ở bên trong đó, bạn có thấy thoải mái, an toàn không? Nó có được tạo tác dựa theo ý nguyện của chính bạn hay không?
Trong không gian thuộc về riêng bạn, bạn có được tự do không? Bạn có cơ bản kiến tạo nên nó theo đúng ý nguyện của mình, và được tự do hiện diện ở bên trong nó hay không?
Nó vô cùng trọng yếu, nhưng lại rất dễ bị lãng quên.
Đuổi theo một con hươu,
Lại bị dẫn tới chốn bạn chẳng ngờ tới.
Con sò hé mở mình đón lấy một giọt nước,
Đâu ngờ giọt nước đã hóa thành ngọc trai.
Một kẻ lang thang tha thẩn nơi phế tích,
Vô tình phát hiện cả kho báu.
Chớ chỉ thỏa mãn với việc lắng nghe câu chuyện của người khác,
Chớ chỉ thỏa mãn với việc hay biết,
Những điều đã xảy ra trên thân người khác.
Hãy mở ra câu chuyện thần thoại của riêng bạn,
Để muôn người đều thấu tỏ ý nghĩa câu này trong kinh sách:
"Chúng ta đã mở ra con người bạn."
— Rumi
Ẩn dụ về ngôi nhà
Trước đây, tôi là một "trạch nam" (người chỉ thích quanh quẩn trong nhà). Ba năm trở lại đây, tôi có nhiều hoạt động giao tế xã hội hơn, trò chuyện với người khác cũng nhiều hơn, và phát hiện ra rằng ở những hoàn cảnh khác nhau lại có những nội dung trò chuyện khác biệt.
Ở cùng người giàu, rất dễ bàn về linh tu (tu tập tâm linh).
Ở cùng tầng lớp trí thức, rất dễ đàm đạo về khoa học công nghệ.
Thế nhưng, ở mọi chốn hàn huyên, nhà cửa luôn là một chủ đề bất biến. Cũng có ngoại lệ, trong giới đại phú hào, mọi người không mấy khi bàn về nhà cửa, ắt hẳn họ không còn phải lo âu về vấn đề này nữa.
Tại sao nhà cửa lại trở thành đề tài được mọi người dõi mắt quan tâm đến thế? Ngoài việc nhà là để ở và hiện nay cũng là một kênh đầu tư tốt ra, ngôi nhà còn mang một ẩn dụ trọng yếu. Theo cách nói của tôi: Ngôi nhà chính là tâm thức của bạn.
Một thân chủ của tôi là cô Trương, chồng cô làm kinh doanh, còn cô thì không ngừng mua nhà. Khi tìm đến tôi làm tư vấn, cô đã mua tới tám căn nhà. Rốt cuộc, số tiền cô kiếm được từ việc mua đi bán lại nhà cửa còn nhiều hơn rất nhiều so với số tiền chồng cô vất vả kinh doanh kiếm được. Thế nhưng cô nhấn mạnh với tôi rằng, cô thực sự không phải đang đầu cơ lướt sóng bất động sản, cô chỉ muốn mua được một ngôi nhà lý tưởng trong tâm tưởng của mình, nhưng mãi vẫn không mua được, thế là cứ liên tục mua rồi lại bán.
Ngôi nhà lý tưởng trong lòng cô phải như thế nào? Biệt thự? Căn hộ cao cấp mặt sàn lớn? Thông gió nam bắc đối lưu? Ánh nắng rực rỡ chan hòa?...
Không, đều không phải! Những căn nhà cô Trương mua vô cùng kỳ lạ, tất cả đều nằm ở những ngóc ngách hẻo lánh, góc kẹt xó xỉnh, và hình thù đều tương đối dị biệt.
Tại sao lại luôn mua những ngôi nhà kỳ lạ như vậy? Rất nhiều người từng hỏi cô câu này, bản thân cô cũng không hiểu, cô chỉ biết mình mê mẩn những căn nhà như thế, cứ nhìn thấy là muốn mua.
"Tám căn nhà này có điểm gì chung không?", tôi hỏi cô.
Cô ngẫm nghĩ một lát rồi nói: "Ồ, có một điểm then chốt nhất, đó là phòng ngủ chính nhất định phải nằm ở tận cùng bên trong, và bước vào phòng ngủ phải đi qua đường đi quanh co uốn khúc mới được." Khi có ai đi quanh co uốn khúc tiến về phía phòng mình, cô có thể hay biết từ sớm.
Cách diễn đạt này khiến tôi có phần hơi choáng váng. Nghe qua thì có vẻ như cô đang muốn đề phòng người khác bước vào phòng ngủ của mình. Thế nhưng, để đạt được mục đích này, lắp một ổ khóa thật chắc chắn cho phòng ngủ của mình chẳng phải là xong rồi sao?
Cô hỏi ngược lại: "Nếu cha mẹ không đồng ý cho khóa cửa, thì thầy tính sao?"
Tôi lập tức hiểu ra ngay. Hóa ra, dẫu cho cô đã ngoài bốn mươi tuổi, nhưng trước mặt mẹ, cô vẫn không có được cái quyền lắp một chiếc khóa cho phòng ngủ của chính mình. Cha mẹ, mà chủ yếu là người mẹ, đặc biệt để tâm đến việc giao tiếp không chút rào cản với con gái, cho nên không cho phép con gái khóa phòng riêng.
Điều này dường như ngầm biểu thị rằng: Người mẹ không cho phép con gái cài then khóa chặt cõi lòng, bà hy vọng trái tim và thế giới của con gái vĩnh viễn phải rộng mở trước mặt bà.
Về mặt hành vi, cô Trương đã thỏa mãn tâm nguyện này của mẹ: Mẹ hỏi gì, cô đáp nấy, dường như trước giờ chưa từng giấu giếm mẹ điều gì. Cô cũng chưa từng bao giờ khóa phòng ngủ của mình lại.
Không chỉ có vậy, mô thức quan hệ này giữa cô và mẹ còn lan sang cả các mối quan hệ khác, chẳng hạn như cô cũng đối xử với chồng y hệt như thế. Cô biểu hiện như thể trước mặt chồng mình hoàn toàn không có bí mật, mãi mãi cởi mở với chồng, nhưng cô lại có những hành vi lén lút riêng tư. Ví như, cô có thói quen hút thuốc vụng trộm, đó là bí mật nhỏ mà không một ai hay biết.
Trong buổi tư vấn, cô miêu tả với tôi cảm giác khi lén lút hút thuốc một mình, giống như đang cố tình mạo phạm, làm trái một điều gì đó. Giây phút ấy, cảm giác quả thực sảng khoái khôn cùng.
Mỗi một người đều cần có không gian bí mật. Quan trọng nhất là, mỗi người đều cần cảm giác này: Không gian tâm linh và không gian địa lý của tôi (ví như ngôi nhà hay căn phòng của tôi), tôi là người định đoạt; mở ra hay đóng lại, đó là quyền lợi căn bản của tôi. Thế nhưng, cô Trương không có được cái quyền căn bản ấy, người mẹ đã tước đoạt quyền lợi này của cô.
Hiện tượng này trong xã hội chúng ta thực sự quá đỗi phổ biến, và lúc đó, chúng ta sẽ dùng một số phương thức khác để tự tìm kiếm không gian cho chính mình.
Chẳng hạn như cô Trương, trên hành vi cô thỏa mãn ước muốn của mẹ, nhưng cô lại thông qua những cách làm kỳ quặc khó hiểu để tự kiến tạo cho mình một thế giới bí mật khép kín với tất cả mọi người; việc thích những căn nhà góc kẹt xó xỉnh, hình thù dị biệt chính là một minh chứng. Có lẽ, tâm linh của cô có một mê cung, và con người chân thật của cô đang ẩn nấp trong một góc kẹt khuất nẻo, bất kỳ ai muốn bước vào bên trong đều sẽ vô cùng gian nan.
Vì sao rất nhiều bậc cha mẹ không cho phép con cái khóa cửa phòng? Liệu chỉ đơn thuần xuất phát từ tình yêu thương và sự quan tâm, hay còn có nguyên nhân nào khác nữa?
Một thân chủ nam của tôi là một doanh nhân. Anh liên tiếp ba lần không gõ cửa đã xông thẳng vào phòng tư vấn của tôi. Dẫu cho thời gian chuẩn xác đúng vào giờ tư vấn, nhưng tôi vẫn cảm thấy rất khó chịu. Đến lần thứ ba, tôi liền mời anh ra ngoài, gõ cửa rồi mới được bước vào.
Sau khi anh vào, chúng tôi cùng bàn luận xem vì sao anh lại làm như vậy.
Ban đầu, anh đưa ra đủ mọi lời giải thích, lúc thì bảo quên, lúc lại bảo tâm trí để đi đâu mất. Nhưng về sau, anh thừa nhận rằng ở công ty của mình anh vốn dĩ luôn như vậy, anh tùy tiện bước vào văn phòng của nhân viên, chẳng bao giờ chào hỏi, cũng không bao giờ gõ cửa. Điều đó mang lại cho anh một cảm giác quyền lực: Đây đều là địa bàn của tôi, là thế giới của tôi, tôi là vua ở nơi này!
Cho nên, đây đích thực là một vấn đề về quyền lực. Cha mẹ không cho phép con cái khóa cửa, không cho phép con có sự riêng tư, đó là vấn đề quyền lực, chứ không phải là những lời giải thích phổ biến mà các bậc cha mẹ vẫn thích thốt ra: "Ôi, quan hệ giữa tôi và con tốt lắm, chúng tôi giống như bạn bè vậy. Con có chuyện gì cũng kể hết cho tôi nghe, trước mặt tôi nó chẳng có bí mật nào cả."
Người cha hoặc người mẹ có lẽ sẽ thầm nghĩ: Đây là nhà của tôi, là thế giới do tôi tạo dựng, tôi phải là người định đoạt, tôi không cho phép con có không gian riêng biệt thuộc về nó.
Đương nhiên, ở đây tôi muốn nói đỡ cho các bậc cha mẹ như vậy một chút. Khi cha mẹ làm điều đó, thường không phải là họ hữu ý mưu cầu quyền lực, mà là sự mưu cầu trong vô thức (tiềm thức). Bản thân họ từng sống trong những gia đình như thế, cha mẹ của họ năm xưa cũng không cho phép họ có không gian độc lập của riêng mình, và họ cũng không được phép ý thức được rằng đó chính là mối quan hệ xâm lấn và bị xâm lấn.
Mỗi con người đều cần có một không gian do chính mình làm chủ. Khi xác quyết được điều này, ở bên trong không gian đó, bạn mới có được cảm giác an toàn và cảm giác tự do, mới cảm thấy tự tại. Cái gọi là "tự tại", chính là sinh mệnh lực của bạn có thể tự do lưu chuyển mà không phải lo sợ bị tấn công hay bị chặt đứt.
Dục vọng kiểm soát là cội nguồn của vạn điều tệ hại. Nhìn từ ý nghĩa xâm lấn thì đúng là như vậy, nhưng mặt khác, tất cả chúng ta lại đều cần một không gian bản ngã mà tự mình có thể làm chủ. Cảm giác nắm giữ làm chủ và cảm giác thân thuộc sẽ giúp bản thân giảm bớt nỗi lo âu, để sống một cách thoải mái, tự tại.
Nghe nói tỷ lệ thuê nhà của người Âu Mỹ rất cao, họ không quá mặn mà với việc mua nhà, trong khi nhiệt huyết mua nhà của người chúng ta lại cực kỳ mãnh liệt. Điều này có lẽ là vì chúng ta quá khao khát có được một không gian chuyên biệt thuộc về chính mình chăng.
Bạn thực sự phải tự hỏi lòng mình: Bạn đã có một không gian như thế chưa? Thậm chí, bạn đã từng có ý thức đấu tranh và kiến tạo cho mình một không gian như vậy hay chưa?
Chúng ta đều cần một không gian an toàn
Cha mẹ rất dễ phạm phải một sai lầm: dễ xâm lấn không gian của con cái mà bản thân không hề hay biết; thế nhưng, thuở ban đầu chúng ta lại đều phải nương tựa vào cha mẹ để có được một không gian an toàn. Cái gọi là "cảm giác an toàn", thực chất chính là sự nội hóa của không gian an toàn.
Mọi nhu cầu căn bản nhất của nhân tính, kỳ thực đều là thứ xa xỉ phẩm. Ví như, một giấc ngủ ngon. Theo thống kê, ở Trung Quốc chỉ có 10% dân số là có thể ngủ một mạch tới sáng, nói ngược lại thì có đến 90% người Trung Quốc gặp phải các vấn đề về giấc ngủ ở những mức độ khác nhau.
Rất nhiều người tìm đến chuyên viên tư vấn vì vấn đề mất ngủ. Bởi vì nếu mất ngủ liên tiếp nhiều đêm, hoặc triền miên không ngủ ngon giấc, điều đó sẽ ảnh hưởng vô cùng nghiêm trọng đến sức khỏe thân tâm của một người.
Người mất ngủ nghiêm trọng nhất mà tôi từng gặp là một chàng trai 27 tuổi. Cậu đi du học nước ngoài, và kể rằng bản thân từ năm 15 tuổi đến nay cơ bản chưa từng ngủ trọn vẹn được một giấc. Cậu là con trai một người bạn của tôi, chúng tôi trò chuyện trên bàn ăn. Lúc ấy tôi mời cậu nhắm mắt lại, cảm nhận cảm giác của bản thân ngay thời điểm đó. Kết quả là, cậu vừa mới nhắm mắt lại đã lập tức mở bừng ra ngay. Cậu bảo mình không làm được, và nói: "Cháu đang theo đuổi một mục tiêu, cháu buộc phải dùng nỗ lực vượt quá giới hạn chịu đựng của loài người để theo đuổi mục tiêu này."
Cảm giác mà cậu nói tôi rất đỗi thân thuộc, cha của cậu chính là người như thế. Năm xưa cha cậu đến Hong Kong mưu sinh, ban đầu làm thợ trang trí nội thất, có lúc đến một cây búa cũng không có. Cha cậu dứt khoát dùng nắm đấm thay búa đập, thực sự dựa vào nỗ lực phi thường như siêu nhân mà cuối cùng gầy dựng nên khối tài sản hàng trăm triệu tệ.
Thế nhưng, khi một người nỗ lực theo phương thức ấy, điều đó có thể mang ý nghĩa rằng họ đang sống trong một thế giới nhất nguyên: Họ không thể tin tưởng bất kỳ ai, cảm thấy mọi thứ chỉ có thể dựa vào một mình bản thân chống đỡ, và điều này sẽ kéo theo những vấn đề về giấc ngủ.
Bởi vì muốn ngủ được, bạn bắt buộc phải thả lỏng, triệt để buông bỏ sự kiểm soát của bản thân. Nhưng người sống trong thế giới nhất nguyên luôn lo sợ rằng, một khi buông bỏ sự kiểm soát, sự thù địch từ ngoại giới có thể sẽ xâm nhập và tấn công mình. Do đó, khi ngủ họ không thể làm được việc thả lỏng, và vì thế mà trằn trọc khôn nguôi.
Thủ tướng Thiết huyết của nước Đức - Bismarck từng mắc chứng mất ngủ trầm trọng, về sau đã được bác sĩ Schweninger chữa khỏi. Bác sĩ Schweninger đã chữa chứng mất ngủ cho Bismarck như thế nào? Trước khi Bismarck đi ngủ, ông sẽ ngồi bên giường của Bismarck, canh giữ chở che cho Bismarck đi vào giấc mộng. Xác nhận Bismarck đã ngủ say, ông mới rời đi. Sáng hôm sau, khi Bismarck sắp tỉnh giấc, ông lại túc trực bên giường bệnh. Hơn nữa, cách ăn mặc phục sức của Schweninger lúc này giống hệt như tối hôm trước.
Làm như vậy thì khi Bismarck vừa mở mắt thức dậy, điều đầu tiên ông nhìn thấy chính là cùng một người với cùng một dáng vẻ xuất hiện trước mắt mình. Đây chính là một sự ổn định và kiểm soát. Hơn nữa, trước đó, Schweninger đã xây dựng được một mối quan hệ tốt đẹp với Bismarck. Cách làm này lặp lại vài lần, chứng mất ngủ của Bismarck đã được chữa lành. Điều bí ẩn tâm lý trong liệu pháp của Schweninger là gì?
Trước hết, trong điều kiện nào thì chúng ta mới có thể buông bỏ sự kiểm soát để tiếp nhận sự mất kiểm soát? Đó là: Chúng ta phải tin chắc rằng, khi "Tôi" buông bỏ kiểm soát, "Tôi" sẽ gặp được một "Bạn" tràn đầy thiện ý. Nếu như buông bỏ kiểm soát mà gặp phải một "Nó" đầy thù địch, thì dù thế nào đi nữa cũng tuyệt đối không thể buông tay kiểm soát.
Schweninger đã xây dựng mối quan hệ tin cậy với Bismarck, nên đối với Bismarck, Schweninger là một khách thể thiện ý. Khách thể thiện ý này canh giữ chở che cho bạn chìm vào giấc ngủ, lại là người đầu tiên bạn nhìn thấy khi tỉnh dậy, điều này mang lại cho Bismarck một cảm giác: Trong suốt thời gian ông buông bỏ kiểm soát để đi vào giấc ngủ, luôn có khách thể tràn ngập thiện ý này ở bên cạnh bảo hộ ông. Vì vậy, ông có thể triệt để an tâm chìm vào giấc ngủ sâu.
Phải biết rằng, Bismarck lúc bấy giờ là nhân vật quyền lực bậc nhất châu Âu. Nhưng ngay cả một nhân vật như thế, cảm giác sức mạnh do quyền thế mang lại cũng chẳng thể giúp ông an lòng, vẫn cần sự bảo hộ của một khách thể thiện ý, thì những người khác lại càng như vậy.
Tôi từng gặp rất nhiều bậc cha mẹ đau đầu vì vấn đề giấc ngủ của con cái. Con không thể ngủ một mình, phải dính chặt lấy cha mẹ mới ngủ được. Thế nhưng, con cứ ngủ chung mãi với cha mẹ thì lại cản trở tính độc lập của trẻ, đặc biệt là ảnh hưởng đến sự phát triển tâm lý tính dục của con. Vậy phải làm sao?
Cách làm của bác sĩ Schweninger có thể dùng để tham khảo: Canh chừng bên con khi con đi vào giấc ngủ, và khi con thức giấc, hãy để con nhìn thấy khuôn mặt tràn ngập yêu thương của cha mẹ.
Trên thực tế, phần lớn những đứa trẻ này đều nói với cha mẹ rằng chúng ngủ một mình sẽ rất sợ hãi, nảy sinh đủ thứ tưởng tượng và cảm giác kinh hoàng, đó cũng chính là nỗi sợ hãi đối với khách thể mang tính thù địch. Đương nhiên, khi một người luôn cảm nhận thấy ngoại giới đầy rẫy những khách thể thù địch, điều đó tất nhiên cũng đồng nghĩa với việc nội tâm của chính người ấy cũng đang ôm giữ muôn vàn thù địch đối với thế giới bên ngoài.
Tình yêu thương liên tục và bền bỉ của cha mẹ dành cho con cái giống như việc cung cấp một không gian an toàn vậy. Các nhà tâm lý học như Donald Winnicott và Wilfred Bion đều từng luận thuật rằng: Cha mẹ tốt giống như một vật chứa tốt, có thể dung nạp sinh khí hoạt lực cùng muôn vàn cảm xúc thù địch của con cái. Sự thù địch của đứa trẻ không phá hủy được vật chứa này, đồng thời sự thù địch của ngoại giới cũng không thể phá vỡ vật chứa này. Được như vậy, đứa trẻ mới có thể tin chắc rằng mình đang sống trong một không gian an toàn. Và sự nội hóa không gian an toàn này sẽ hình thành nên cái gọi là "cảm giác an toàn".
Một thân chủ của tôi, trong nhà chất đầy những đồ vật bị chồng cô gọi là "rác rưởi". Ví như, báo cũ trong nhà chiếm rất nhiều diện tích, người chồng rất muốn vứt đi hoặc bán ve chai, nhưng cô luôn cảm thấy dường như còn rất nhiều tờ báo chưa đọc, lỡ như chúng còn có ích thì sao? Vứt đi thì tiếc quá.
Nghe cô nói câu "lỡ như chúng còn có ích thì sao", tôi trào dâng niềm cảm xúc sâu sắc, liền nói với cô: "Những tờ báo dường như chính là bản thân bạn. Vị trí của bạn ở nhà cha mẹ đẻ cũng giống như vị trí của những tờ báo này trong nhà bạn hiện tại vậy: Không được coi trọng, nhưng khao khát được coi trọng, khao khát được nhìn nhận, lỡ như mình vẫn còn có ích thì sao."
Nghe tôi nói vậy, nước mắt cô tuôn rơi như mưa. Quả thực, trong gia đình gốc, cô là đứa trẻ bị ngó lơ, xem nhẹ nhất trong số mấy anh chị em, nhưng trong thâm tâm cô luôn đau đáu ý nghĩ: Mình phải chứng minh cho cha mẹ thấy, mình vẫn là người có ích.
Bạn có thể thử làm một bài tập thực hành: Ở ngay trong chính ngôi nhà của mình, hãy lắng lòng yên tĩnh lại, nhắm mắt lại, thoạt tiên hãy cảm nhận cảm giác khi ở trong ngôi nhà này, sau đó trò chuyện với ngôi nhà, rồi tưởng tượng bạn chính là ngôi nhà này, thử xem ngôi nhà lại muốn nói điều gì với bạn.
Đây là phần thứ nhất của bài tập. Phần thứ hai là, bạn còn có thể tự hỏi lòng mình: Nếu bạn muốn kiến tạo ngôi nhà này thành một không gian khiến bạn cảm thấy an toàn, tự tại và thoải mái, bạn muốn làm những gì vì điều đó?
Để gia đình thực sự trở thành bến đỗ bình yên
Ngôi nhà của chính mình là nơi chốn thân thuộc nhất, mang lại cảm giác làm chủ nhiều nhất. Nhà giống như bến cảng ấm áp, có thể cho mình nương náu dừng chân. Thế nhưng, nhiều khi bạn cần phải đấu tranh, thậm chí chiến đấu thì mới có thể khiến mái ấm của mình thực sự trở thành một bến đỗ bình yên, dễ chịu. Bởi vì ngoài xã hội, rất có thể bạn sẽ phải đối mặt với một số kẻ xâm lấn. Nếu bạn không xua đuổi họ đi, thậm chí còn thiếu cả ý thức về điều này, thì ngôi nhà của bạn rất khó trở thành một bến đỗ thuộc về riêng bạn. Đặc biệt là, khi những kẻ xâm lấn này lại là người thân, thậm chí là cha mẹ, bạn có thể còn không nhận thức được họ chính là những kẻ xâm lấn cần phải mời đi, nếu không được thì phải đuổi đi.
Giữa các đồng nghiệp chúng tôi cũng thường hay đàm đạo về vấn đề không gian. Câu chuyện mà cô Hoàng Ngọc Linh kể khiến người ta vô cùng xúc động. Cô kể rằng cha cô là người mạnh mẽ, cương nghị, là một người tuyệt đối không dễ bị bắt nạt, và ông cũng cực kỳ có ý thức bảo vệ mái ấm nhỏ của mình.
Có một lần, trong căn nhà nhỏ của cô, mẹ cô và bà nội xảy ra xung đột, hai người cãi vã ngày càng kịch liệt. Cuối cùng, cha cô không chịu nổi nữa, bèn bảo bà nội đi về. Bà nội không chịu đi, lại còn nổi trận lôi đình dữ dội hơn. Rốt cuộc, người cha túm lấy cánh tay bà nội, "mời" bà bước ra khỏi nhà.
Vào thời đại đó, đây là chuyện có phần đại nghịch bất đạo. Bà nội của Hoàng Ngọc Linh vô cùng phẫn nộ, không thể chấp nhận được việc con trai lại đối xử với mình như thế, liền làm một việc cũng rất phổ biến thời bấy giờ: Về nhà mẹ đẻ khóc lóc kể khổ. Kết quả là, nhà ngoại đã kéo sang năm người đàn ông để chống lưng cho bà, gồm người cậu ruột của cha Hoàng Ngọc Linh cùng bốn người con trai của ông.
Vừa đến nơi, người cậu trước hết mắng mỏ người cháu thậm tệ. Lúc này, cha của Hoàng Ngọc Linh không hề bao biện nhiều cho mình, cũng đã cúi đầu xin lỗi mẹ, thế nhưng người cậu vẫn không chịu bỏ qua, nói: "Chuyện này, tao nhất định phải tát mày một cái để dạy cho mày một bài học."
Nghe thấy câu này của người cậu, cha của Hoàng Ngọc Linh lập tức nổi giận, chỉ thẳng vào mặt ông ta nói: "Ông dám tát tôi một cái tát xem, tin hay không, cả năm người các người đều sẽ phải ngã gục tại đây?!"
Khí thế hung hãn dữ dội của ông lập tức trấn áp cả năm người đàn ông đối diện. Người cậu cùng bốn người con trai chẳng ai dám manh động làm gì nữa, chuyện này coi như chấm dứt tại đó. Chuyện này, cha mẹ Hoàng Ngọc Linh không bao giờ nhắc lại nữa, bà nội cũng không bao giờ đả động đến nữa, nhưng một lằn ranh giới hạn đã được vạch ra từ đó: Bà nội không bao giờ còn tơ tưởng đến việc bước sang nhà con trai để làm nữ chủ nhân nữa.
Có lẽ vì có một người cha như thế, Hoàng Ngọc Linh nói rằng cô đặc biệt thích xem loạt phim Bố già (The Godfather), cảm thấy nam nhân vật chính trong phim thực sự quá đỗi kiên cường, mạnh mẽ.
Pháp luật hợp lý chính là lằn ranh giới hạn tốt nhất. Một khi chúng ta xảy ra xung đột dữ dội trong mối quan hệ nhị nguyên, chúng ta có thể tìm kiếm sự phân xử của pháp luật. Lúc này, mối quan hệ tam nguyên được kiến tạo nên.
Chỉ có điều, luật pháp bắt buộc phải công bằng, chính nghĩa và phù hợp với nhân tính; nếu luật pháp biến thành sự bao che mù quáng cho một bên, còn bên kia làm gì cũng sai, thì nó không thể phát huy vai trò của một trọng tài trung lập và đáng tin cậy trong mối quan hệ tam nguyên được nữa. Khi ấy, nó thực chất đã bị trói chặt với bên thế mạnh, trở thành công cụ để kẻ mạnh tiếp tục xâm lấn, bóc lột kẻ yếu. Lúc này, quan hệ tam nguyên đã sụp đổ trở lại thành quan hệ nhị nguyên.
Cha tôi thì hoàn toàn trái ngược với cha của cô ấy. Khi chuyện tương tự xảy ra ở gia đình tôi, cha tôi không có đủ sức mạnh để bảo vệ mái ấm của mình, dẫn đến một loạt các vấn đề nghiêm trọng.
Bên gia tộc phía nội của tôi luôn có một chuyện diễn ra dai dẳng: Cha mẹ nhất định sẽ nảy sinh một kiểu phân liệt — hễ cưng chiều đứa con này hoặc những đứa con này thì mọi tài nguyên đều dồn hết lên người chúng; còn không yêu thương đứa con kia hoặc những đứa con kia, thì chẳng những không chia cho tài nguyên và lợi ích, mà còn bóc lột chúng một cách tàn nhẫn vô tình.
Đầu tiên là bác cả của tôi bị bóc lột thậm tệ. Sau khi bác cả qua đời, bà nội đã ngược đãi tàn nhẫn bác dâu và ba người con gái của bác. Về sau, bác dâu phải dắt ba đứa con rời đi. Còn gia đình bác cả tôi dường như bị gia tộc thanh trừng xóa sổ hoàn toàn, không một ai nhắc tới nữa. Mãi đến khi trưởng thành tôi mới biết hóa ra mình từng có một người bác cả như thế.
Kế đến là cha mẹ tôi bị bóc lột nghiêm trọng. Cả hai người đều là những "người tốt cả nể", coi chữ hiếu là chân lý tuyệt đối, vì thế mà phải chịu đựng sự đối xử cực kỳ bất công. Sau này, vì anh trai tôi cũng bị ức hiếp, cha mẹ mới bùng nổ phản kháng, tiếp đó bị cả gia tộc và dân làng công khai chỉ trích là bất hiếu. Bà nội tôi từng nhiều lần chạy ra giữa đường lớn chửi rủa cha mẹ tôi thậm tệ, cha mẹ tôi đều một mực cắn răng nhẫn nhịn.
Đây là sự xâm lấn nghiêm trọng đối với gia đình chúng tôi, cha mẹ tôi không thể bảo vệ được tổ ấm của mình, vì thế ngôi nhà này ở một mức độ đáng kể đã đánh mất đi vai trò của một bến đỗ bình yên ấm áp. Lớn lên trong một gia đình như thế, tôi đã chịu ảnh hưởng nặng nề. Điểm nổi cộm nhất chính là tôi vô cùng thiếu thốn ý thức về ranh giới.
Chẳng hạn như hồi học nghiên cứu sinh, tôi quen một người bạn tự xưng là nghệ sĩ nhưng rất sa cơ lỡ vận. Anh ta thường xuyên đến phòng ký túc xá nghiên cứu sinh của chúng tôi, hễ đến là nằm lăn ra giường của tôi, có khi nằm lì cả ngày.
Chuyện này tôi cảm thấy chẳng sao cả, nhưng về sau các bạn cùng phòng trong ký túc xá không thể chịu nổi nữa. Một người bạn cùng phòng có ý thức ranh giới rất mạnh đã nói thẳng với anh chàng kia: "Cậu có biết cậu làm thế này rất phản cảm không? Cậu có biết cậu đang xâm phạm nghiêm trọng đến quyền lợi của Vũ Chí Hồng không? Chúng tôi không hoan nghênh cậu, sau này cậu bớt đến đây đi."
Cách làm dứt khoát của cậu ấy khiến tôi vô cùng chấn động. Lúc này tôi mới nhận ra rằng thực chất trong lòng tôi cũng rất phản cảm với anh chàng này, nhưng trước đó tôi không hề ý thức được, mà đã đi hợp lý hóa sự xâm lấn của anh ta cũng như sự nhu nhược của chính mình. Chẳng hạn như: anh ấy có nỗi khổ tâm, anh ấy đối xử với mình cũng tốt, hơn nữa phải đối đãi tử tế với người khác chứ.
Thế nhưng chỉ riêng việc đó thôi vẫn chưa đủ để tôi nhận ra vấn đề của mình. Lần đầu tiên tôi ý thức rõ ràng về vấn đề này là trong một khóa học tập huấn. Khi ấy, chúng tôi làm một bài tập: Năm sáu người quây thành một vòng tròn, lần lượt kể về một giấc mơ của mình. Những người khác không cần nghe quá chăm chú lời của người kể, mà chỉ cần chú ý đến những cảm nhận khác nhau nảy sinh trong lòng mình trong suốt quá trình lắng nghe. Sau đó dựa vào đó vẽ một bức tranh, giải thích cho người kể nghe vì sao mình vẽ như vậy, rồi đặt tên cho bức tranh và tặng lại cho họ.
Đến lượt tôi kể, một bạn học nữ đến từ Đài Loan đã vẽ một bức tranh vô cùng trừu tượng, không hiểu sao lại chạm sâu sắc vào tâm can tôi. Đêm hôm đó, tôi gặp một cơn ác mộng. Sau khi giật mình tỉnh giấc, tôi giữ nguyên thân thể bất động, lúc này phía trên đỉnh đầu tôi xuất hiện một tấm thép đen kịt dường như vô biên vô tận, đè nén khiến tôi nghẹt thở không sao thở nổi, cảm giác vô cùng kinh hoàng. Tôi tiếp tục nằm bất động, đợi một lúc, tấm thép đột nhiên nứt toác ra, hiện lên đủ loại hình khối hình học khác nhau. Tiếp đó, dần dần, tấm thép này biến mất hoàn toàn, tôi trải nghiệm được cảm giác khoan khoái, tự do, thậm chí là niềm hân hoan rạng rỡ.
Cùng lúc đó, tôi nghĩ tới việc gia đình mình đối mặt với muôn vàn sự xâm lấn mà không giữ nổi ranh giới. Thế là, lần đầu tiên tôi ý thức một cách chân thực rằng: Quá nhiều cách hành xử của tôi trước nay không phải là vì thiện lương, mà là vì nhu nhược.
Về sau, khi trò chuyện với cha mẹ về những vấn đề này, tôi mới phát hiện ra họ biết rất rõ ràng đó là sự nhu nhược. Tuy nhiên, tôi vốn không phải là người trong cuộc năm xưa, không trực tiếp trải nghiệm sự xung đột dữ dội đến thế, mà là làm theo, đồng nhất hóa và kế thừa cách làm của cha mẹ, khởi động một lượng lớn cơ chế phòng ngự hợp lý hóa, cho rằng những hành vi không giữ ranh giới ấy là đang đối tốt với người khác.
Trước giờ tôi luôn cho rằng cha mình quá nhu nhược, trong lòng có phần xem thường ông. Nhưng vào dịp Tết năm nay, khi cha mẹ kể lại những trải nghiệm cá nhân của mình, tôi mới vỡ lẽ rằng cha tôi chỉ có phần nhu nhược trong phạm vi gia tộc và làng xóm, còn ở thế giới bên ngoài, ông là một người anh hùng. Tương ứng như vậy, tôi cũng là người khi đối mặt với các mối quan hệ thân cận thì rất dễ làm "kẻ tốt bụng nhu nhược", nhưng trong các mối quan hệ công việc, tôi lại có những mặt vô cùng cứng cỏi, mạnh mẽ. Hiện tại, mọi tài nguyên mà tôi sở hữu cũng từ đó mà có được. Hóa ra, tôi đã vô hình trung nhận đồng (đồng nhất hóa) với những cách làm này của cha.
Chúng ta buộc phải nhận thức được rằng: Mái ấm nhỏ trước hết là thế giới của cha mẹ và con cái, bạn bắt buộc phải bảo vệ thật tốt không gian này. Được như vậy, ngôi nhà nơi bạn sống mới có thể phát huy vai trò của một bến đỗ bình yên.
Tu luyện năng lực làm chủ
Trước đây tôi thường nói, dục vọng kiểm soát là cội nguồn của muôn điều tệ hại. Câu nói này muốn nói về việc một người muốn đi xâm lấn, bóc lột và khống chế một người khác, ép người khác phải phục tùng ý chí của mình.
Thế nhưng ngược lại, con người cần phải có năng lực làm chủ (năng lực nắm giữ), cần hình thành nên một niềm tin thế này: Cuộc sống của tôi, tôi có thể làm chủ; dẫu cho hiện tại có mất kiểm soát thậm chí sụp đổ, nhưng tôi tin chắc rằng, thông qua nỗ lực, tôi có thể giúp cuộc sống của mình khôi phục lại sự tự chủ.
Trẻ sơ sinh thuở ban đầu ở vào một trạng thái mâu thuẫn tột cùng: Một mặt, chúng sống trong cảm giác toàn năng, cảm thấy mình không gì không làm được; mặt khác, năng lực của chúng lại yếu ớt nhất, dường như chẳng có bất kỳ năng lực làm chủ nào đối với sinh mệnh.
Đương nhiên, bảo không có chút năng lực làm chủ nào là điều bất khả. Chẳng hạn, thuở ban đầu đứa trẻ sơ sinh ít nhất có thể làm chủ được một thứ: mí mắt. Về cảm giác toàn năng của trẻ sơ sinh có một cách giải thích thế này: Trẻ sơ sinh ban đầu cảm thấy rằng chúng cứ hễ mở mắt ra là thế giới liền tồn tại; hễ nhắm mắt lại là thế giới liền biến mất. Vì vậy, chúng cảm thấy mình vô cùng hùng mạnh và đáng sợ, thế giới được nắm giữ ngay giữa việc mở ra và khép lại của đôi mi.
Đối với những sự vật không thể kiểm soát, đứa trẻ sẽ phóng chiếu chúng ra bên ngoài, cho rằng chúng bị thao túng bởi một lực lượng thù địch từ ngoại giới.
Tôi từng xem một đoạn video kể về một chú chó con mới chào đời được vài ngày, nó bị nấc cụt một cái. Đây là một sự cố bất ngờ, là một sự mất kiểm soát. Sau đó có thể thấy nó ra sức tìm cách khống chế cơ thể, nhưng nỗ lực thất bại, nó lại nấc thêm một cái nữa. Ngay lập tức nó bắt đầu sủa điên cuồng, và dường như đang sủa về phía một thứ gì đó ở bên ngoài.
Về hiện tượng này, phỏng đoán của tôi là: Nỗ lực khống chế cơn nấc cụt của nó đã thất bại. Thế nên khi nấc lần thứ hai, nó sẽ nghĩ: "Đã là chuyện ta không thể kiểm soát được, thì ắt hẳn là do một thế lực bên ngoài nào đó gây ra. Hơn nữa, thế lực bên ngoài này mang đầy ác ý thù địch, ta phải dùng tiếng sủa đáng sợ của mình để cảnh cáo nó, không cho phép nó đối xử với ta như vậy."
Logic của trẻ sơ sinh cũng y hệt như thế. Hơn nữa, bởi vì có cảm giác toàn năng, nên lúc này sẽ xuất hiện sự phân liệt cực đoan: Đứa trẻ sẽ cảm thấy dường như bên ngoài có một "con quỷ" đang tấn công mình. Vì vậy, về quan niệm thiện ác, tôi có một cách nói thế này: Trong trải nghiệm của một cá nhân, thứ mà họ có thể kiểm soát được chính là "Thiện", thứ không thể kiểm soát được chính là "Ác". Từ đó có thể hiểu được rằng, sự kiểm soát đối với trẻ sơ sinh là điều vô cùng căn bản. Kiểm soát được là "Thiện", khi mất kiểm soát sẽ phân liệt ra sự thù địch đầy kinh hoàng.
Ngoài mí mắt ra, quyền kiểm soát ban đầu mà trẻ sơ sinh có thể phát triển tương đối nhanh chính là những ngón tay của mình. Khi trẻ sơ sinh có thể mút ngón tay của mình, đó là một bước tiến mang tính cột mốc.
Bởi vì đứa trẻ phát hiện ra: Bản thân đang chìm đắm trong thời kỳ môi miệng, nhưng trong việc mút ngón tay, nó có thể tự chi phối chính mình. Nó muốn mút thì đưa ngón tay lại; không muốn thì rút ngón tay ra. Cảm giác tự làm chủ, tự thỏa mãn này thực sự quá đỗi tuyệt vời.
Trái lại, việc thỏa mãn và kiểm soát quá nhiều chuyện khác của trẻ sơ sinh đều phải nương tựa vào chất lượng chăm sóc của người nuôi dưỡng.
Winnicott từng đưa ra một khái niệm vô cùng có sức ảnh hưởng: "Vật thể chuyển tiếp" (Transitional object). Nghĩa là, một thực thể vừa không phải là tự thể, cũng không tách rời hoàn toàn ngoài tự thể như một khách thể, mà nằm ở khoảng giữa, là "vật thể chuyển tiếp". Đứa trẻ thông qua việc thiết lập mối quan hệ với vật thể chuyển tiếp trước, rồi sau đó mới dần dần thiết lập mối quan hệ với khách thể.
Đối với đứa trẻ, khách thể quan trọng nhất là mẹ; còn vật thể chuyển tiếp thường là những sự vật mang một đặc tính nào đó của người mẹ.
Vật thể chuyển tiếp có nhiều giá trị:
Thứ nhất, khi đứa trẻ không tìm thấy mẹ, nó có thể thông qua vật thể chuyển tiếp để nhận được một chút an ủi;
Thứ hai, người mẹ dẫu có yêu con đến mấy thì đứa trẻ cũng không thể kiểm soát mẹ một cách triệt để, nhưng vật thể chuyển tiếp thì lại hoàn toàn có thể bị đứa trẻ kiểm soát, thế là đứa trẻ thông qua việc kiểm soát nó mà hình thành nên một số cảm giác làm chủ căn bản.
Chẳng hạn, rất nhiều đứa trẻ sẽ có một món đồ an ủi của riêng mình, như một con thú bông, một chiếc khăn nhỏ, một chiếc gối, thậm chí là một góc chăn nhỏ. Những thứ này chúng xem như bảo vật trân quý, tuyệt đối không cho phép người khác chiếm dụng, cũng không thể chấp nhận bất kỳ sự thay đổi nào đối với chúng, ví như đem đi giặt giũ.
Nếu tìm hiểu kỹ bạn sẽ biết, những đồ vật này thường là những thứ đứa trẻ từng dùng chung với mẹ thời kỳ sơ sinh, ấu thơ.
Tóm lại, những đồ vật này mang một phần đặc tính trên người mẹ, vì thế nó giống như một biểu tượng của người mẹ vậy. Người mẹ dẫu tốt đến đâu cũng không thể chịu đựng nổi sự tưởng tượng và đối đãi kiểu này của đứa trẻ, nhưng một vật thể chuyển tiếp thì có thể. Đứa trẻ nhỏ thông qua việc làm chủ một vật thể chuyển tiếp mà đạt được cảm giác nắm giữ làm chủ một cách triệt để.
Cho nên, các bậc phụ huynh cần phải coi trọng vật thể chuyển tiếp của con cũng như những hành vi như mút ngón tay, phải hiểu rằng đứa trẻ đang mượn những điều đó để hình thành cảm giác làm chủ đối với sự vật.
Đương nhiên, khách thể tốt nhất vẫn là người mẹ cùng những người nuôi dưỡng khác.
Khác với vật thể chuyển tiếp, người mẹ hay người cha dẫu yêu thương con đến mấy cũng có cảm giác không gian của riêng mình, có ý chí độc lập của riêng mình, nên không thể nào thỏa mãn hoàn toàn dục vọng kiểm soát của đứa trẻ. Hơn nữa, nếu thực sự thỏa mãn hết, nó cũng sẽ mang lại những vấn đề khổng lồ.
Một "người mẹ 60 điểm" (Good-enough mother) chân thực sẽ giúp đứa trẻ hình thành cảm giác làm chủ căn bản, đồng thời lại giúp con biết rằng: Con người mà con đang đối diện là một người khác có nhu cầu riêng và có tôn nghiêm riêng. Mẹ dẫu có sẵn lòng đáp ứng con đến mấy cũng không thể nào triệt để chiều theo ý con. Hơn nữa, đôi khi mẹ cũng là một người mẹ xấu, nhưng những phần xấu này không ảnh hưởng đến việc nhìn chung về tổng thể bà vẫn là một người mẹ tốt.
Trước hết là có một "người mẹ 60 điểm" như thế, rồi sau đó là một người cha cơ bản có sức mạnh, và rộng hơn là cả một mái nhà — tất cả những điều đó cấu thành nên một vật chứa an toàn tuyệt vời. Như vậy, đứa trẻ mới có thể giải phóng sức sống của mình trong một thế giới mà bản thân cơ bản có cảm giác làm chủ. Đồng thời cũng biết rằng trong không gian này còn có sự tồn tại của những người khác, con cần phải học cách tôn trọng.
Đây chính là nền tảng để một đứa trẻ có thể vươn mình mở rộng trong một thế giới rộng lớn hơn.
Vật thể chuyển tiếp còn mang hàm nghĩa của "không gian chuyển tiếp". Thuở ban đầu đứa trẻ đều sống trong thế giới ảo tưởng của riêng mình, chúng không thể lập tức bước thẳng vào thế giới hiện thực. Chúng cần có một không gian chuyển tiếp giữa thế giới ảo tưởng và thế giới hiện thực, để ở trong không gian này học cách xử lý mối quan hệ giữa tự thể và khách thể. Ở trong không gian này luyện tập hòm hòm rồi, mới có thể bước vào thế giới hiện thực tốt hơn.
Là cha mẹ, không cần thiết và cũng không thể để con cái trở thành người làm chủ của một gia đình, ví như để con quyết định quá nhiều chuyện trong nhà. Điều này đối với đứa trẻ vừa là thỏa mãn quá mức cảm giác toàn năng của nó, lại vừa đè nặng lên vai nó quá nhiều trách nhiệm.
Trong nhiều ca trị liệu gia đình, cha mẹ cần phải nói với con cái rằng: "Rất nhiều chuyện là trách nhiệm của cha mẹ, con cứ làm một đứa trẻ, cứ vui chơi cho thật tốt là được rồi."
Tuy nhiên, mỗi gia đình đều nên cung cấp cho con một không gian do chính con định đoạt. Nếu có điều kiện thì có thể cho con một căn phòng riêng; điều kiện kém hơn thì có thể cho một chiếc bàn học, thậm chí chỉ là một ngăn kéo có khóa. Trong không gian này, đứa trẻ có quyền tự chủ triệt để, cơ bản đều do con làm chủ. Không có sự đồng ý của con, bạn không được phép bước vào không gian của con.
Con mèo đầu tiên tôi nuôi tên là A Bạch, là một chú mèo mèo Ba Tư lông ngắn siêu dễ thương. Nó đáng yêu đến mức chúng tôi luôn muốn tùy ý trêu đùa, vuốt ve nó. Về sau, tôi bàn bạc với người nhà, dành riêng cho nó một không gian chuyên biệt: một chiếc thùng các-tông. Hễ nó chui vào trong chiếc thùng các-tông này, chúng tôi tuyệt đối không được chạm vào nó.
Sau đó tôi phát hiện ra nó đặc biệt yêu thích chiếc thùng các-tông này. Một hôm trời nổi sấm chớp đùng đùng, đó ắt hẳn là trận mưa giông đầu tiên kể từ khi A Bạch đến Quảng Châu. Chúng tôi đều đang ở bên ngoài, lúc đó nó lại còn rất nhỏ, nên chúng tôi thực sự có phần lo lắng cho nó. Khi về đến nhà, chúng tôi nhìn thấy nó đang trốn gọn gàng bên trong chiếc thùng các-tông ấy.
Cho nên mới thấy, một không gian mà bản thân có thể triệt để làm chủ mang lại cảm giác an toàn to lớn dường nào, và trọng yếu xiết bao.
Sở thích cũng là một không gian để rèn luyện cảm giác làm chủ. Sở thích không liên quan tới sự sinh tồn, ít khi mang lại áp lực. Khi bạn thử rèn luyện một sở thích cho thật giỏi, thật nhuần nhuyễn, đó cũng chính là đang rèn luyện năng lực làm chủ của mình. Ví như cách đây không lâu, tôi đã tự mua cho mình một chiếc máy ảnh chuyên nghiệp thuần chỉnh tay (manual), nghe nói là một trong những chiếc máy ảnh tốt hàng đầu thế giới. Khi từng chút từng chút một điều chỉnh các chỉ số thông số của chiếc máy ảnh này, một cảm giác làm chủ bỗng nhiên trào dâng trong lòng.
Tương tác: Bạn muốn một ngôi nhà như thế nào?
Trước tiên tôi xin giới thiệu một bài tập thực hành, bài tập này mang tên "Bạn muốn một ngôi nhà như thế nào".
Đầu tiên hãy tìm một nơi bạn có thể thả lỏng thư giãn, sau đó xin hãy làm theo lời dẫn của tôi để thực hiện bài tập này:
Xin hãy chọn một tư thế thoải mái có thể giúp bạn thả lỏng, có thể ngồi hoặc nằm.
Nhắm mắt lại, hướng sự chú ý vào hơi thở, tự nhiên hít thở sâu vài hơi, cảm nhận luồng khí lưu chuyển, cảm nhận sự phập phồng của bụng. Dần dần, bạn sẽ lắng dịu và thả lỏng xuống.
Ngay trong trạng thái thả lỏng này, hãy tự hỏi bản thân một câu hỏi: "Bạn muốn một ngôi nhà như thế nào?"
Sau đó hãy tưởng tượng: Một ngôi nhà xuất hiện ngay trước mắt bạn. Hãy đón nhận hình dáng của ngôi nhà hiện lên trong khoảnh khắc đầu tiên, rồi bước lại gần nó, mở cánh cửa lớn của ngôi nhà, rồi bước vào bên trong.
Không gian của ngôi nhà này rộng lớn bao nhiêu? Cấu trúc của nó ra sao? Bên trong có những đồ đạc nội thất và bài trí trang hoàng nào?
Hãy đi cảm nhận cảm giác của chính mình khi ở trong ngôi nhà này. Hãy tự hỏi bản thân: Nếu bạn có thể làm bất kỳ điều gì bạn muốn làm trong ngôi nhà này, vậy thì bạn muốn làm điều gì?
Hãy cho bản thân một chút thời gian, làm xong những điều bạn muốn làm. Sau đó bước ra khỏi cánh cửa lớn của ngôi nhà, và nói lời "Tạm biệt" với nó.
Trước đây tôi từng viết về một lý thuyết của Freud, ông chia tư duy thành hai tầng bậc: Tiến trình tư duy sơ cấp (Primary process) và Tiến trình tư duy thứ cấp (Secondary process). Tiến trình tư duy thứ cấp sử dụng ngôn ngữ văn tự, còn tiến trình tư duy sơ cấp lại sử dụng hình ảnh. Mặc dù tiến trình tư duy thứ cấp có thể giúp giao tiếp tốt hơn, ngôn ngữ văn tự cũng vô cùng có sức mạnh, nhưng sức mạnh của nó lại không bằng được những hình ảnh thị giác trong tiến trình tư duy sơ cấp.
Đem lý thuyết này soi chiếu vào chuyện hình dung viễn cảnh, có thể nói rằng: Nếu bạn chỉ dùng ngôn ngữ văn tự (tức ở bình diện ý thức) để đòi hỏi một ngôi nhà to đẹp, thì điều đó có thể sẽ không có sức mạnh, không cấu thành nên một viễn cảnh thực sự.
Chỉ có những viễn cảnh tựa như những bức tranh mang theo cảm xúc nồng đậm mới thực sự sở hữu sức mạnh.
Chúc mọi người cũng có thể sở hữu ngôi nhà ưng ý của riêng mình. Tuy nhiên, có lẽ một số bạn trước hết cần phải cải tạo lại ngôi nhà trong sự tưởng tượng nội tâm của chính mình đã.
Hỏi: Mất ngủ là vì cảm thấy có sự thù địch, bất an; vậy chứng ngủ li bì (chứng thèm ngủ quá mức) có phải là biểu hiện của sự trốn tránh, trốn tránh những sự vật không thể kiểm soát hay không?
Đáp: Có những thân chủ mắc chứng ngủ li bì quả thực là đang trốn tránh. Nghĩa là: Khi thức, họ không thể làm chính mình trong thế giới hiện thực, thế là chìm vào giấc ngủ, trốn vào thế giới của một người.
Nếu bạn cũng gặp phải vấn đề này, vậy thì biện pháp giải quyết là: Hãy nỗ lực làm chính mình trong thế giới hiện thực. Có thể bắt đầu từ những việc nhỏ nhặt trước, như kiên trì với những lựa chọn của riêng mình trong chuyện ăn, uống, đi tiêu, đi tiểu, ngủ nghỉ. Có thể thử cố ý làm phật lòng người khác một chút, cố ý đi thách thức một số sự vật, làm một người nổi loạn ở mức độ thích hợp.
Hỏi: Trong công việc, tôi cảm thấy bản thân rất khó buông bỏ sự kiểm soát, đã không ít lần bản thân gặp phải người đối diện không phải là một "Bạn" tràn đầy thiện ý. Điều này là do sự xung đột giữa Quy tắc trân trọng (Quy tắc tình cảm) và Quy tắc quyền lực tạo nên, hay là do cái tôi thiện ý nơi nội tâm của tôi chưa đủ mạnh mẽ?
Đáp: Lĩnh vực công việc (tức lĩnh vực xã hội) vốn dĩ cũng đâu phải là nơi chốn để thả lỏng buông lơi. Trong công việc, mọi người chủ yếu là đi mưu cầu thực hiện một số mục tiêu về mặt lợi ích.
Trong lĩnh vực xã hội, mọi người cần phải "PK" (đấu tranh đối đầu), có lúc đường đường chính chính, có lúc xảo quyệt, có khi thậm chí tàn khốc.
Tôi chia không gian thành không gian đời sống và không gian công việc: Mọi người ở trong không gian công việc để đối đầu cạnh tranh, đồng thời cũng trở nên mạnh mẽ hơn, rồi sau đó mới có thể tận hưởng không gian đời sống. Đương nhiên, trong không gian đời sống cũng phải nỗ lực, mà không gian công việc cũng có thể tận hưởng, hai điều này không nhất thiết phải phân liệt đối chọi nhau.
Hỏi: Tôi sợ con gái 3 tuổi rưỡi của mình ở trường mẫu giáo bị bắt nạt mà không dám nói với tôi và cô giáo. Tôi muốn con kể hết mọi bí mật cho tôi nghe, nhưng lại không muốn ép buộc con. Phải làm thế nào đây?
Đáp: Nếu bạn thường nói với con rằng "mọi chuyện đều phải kể cho mẹ nghe, không được giấu mẹ bí mật nào", điều đó đồng nghĩa với việc bạn không cho phép con có không gian tâm lý của riêng mình, vì thế con rất có thể sẽ đóng chặt cõi lòng lại với bạn.
Bạn vì lo lắng con bị bắt nạt nên mới muốn biết chuyện gì đã xảy ra, bạn hoàn toàn có thể thông qua các phương thức khác để gợi mở ra.
Ví như, một người bạn của tôi cảm thấy con trai học lớp mẫu giáo bé có trạng thái không ổn, nhưng đứa trẻ không nói ra được chuyện gì đã xảy ra ở trường. Cần biết rằng, năng lực "nói" (tức tiến trình tư duy thứ cấp) của trẻ có thể vẫn chưa phát triển hoàn thiện. Cô ấy liền nảy ra một sáng kiến, nói với con: "Mẹ con mình chơi một trò chơi nhé? Bây giờ mẹ đóng vai con, còn con đóng vai cô giáo hoặc bạn nhỏ ở trường mẫu giáo. Họ nói gì với con, làm gì với con, bây giờ con nói lại, làm lại cho mẹ xem." Con trai cô lập tức nhập vai ngay, hét lớn vào mặt cô: "Quỳ xuống! Sao mày không nghe lời hả?!"
Thế là, cô ấy lập tức biết ngay chuyện gì đã xảy ra với con ở trường mẫu giáo.
Ngoài ra, bạn cũng có thể tự hỏi lòng mình xem: Hồi nhỏ, bạn có từng rơi vào cảnh không được phép có không gian riêng của mình hay không.
Hỏi: Ngôi nhà đối với một cá nhân quan trọng đến thế, nhưng vì sao những người không mấy khá giả lại bán nhà để đi du lịch vòng quanh thế giới? Hiện tượng này nên giải thích ra sao?
Đáp: Mái ấm và những chuyến đi cấu thành nên một cặp mâu thuẫn: Nhà, căn phòng, hay không gian mang lại cảm giác an toàn; còn du lịch lại là bước ra khỏi nhà để ôm lấy một thế giới rộng lớn hơn. Nhưng khi đã mệt nhoài ở thế giới bên ngoài, người ta lại muốn quay trở về nhà. Cặp mâu thuẫn này cũng có thể coi là mâu thuẫn giữa cảm giác an toàn và niềm đam mê.
Rất nhiều bạn bè thích kiểu nhà thế này: Ở trong nhà có thể phóng tầm mắt ngắm nhìn thế giới bao la rộng lớn. Đó chính là khát khao muốn sở hữu đồng thời cả cặp mâu thuẫn này vậy.
Những đứa trẻ mới chập chững biết đi, chúng sẽ vô cùng hào hứng đam mê đi khám phá thế giới, nhưng lúc này chúng cần có mẹ ở bên cạnh. Mẹ chính là một "hòn đảo an toàn", có mẹ ở đó chúng mới có dũng khí để khám phá. Còn một khi không nhìn thấy bóng dáng mẹ đâu nữa, chúng rất dễ òa khóc đi tìm mẹ, và cuộc thám hiểm không thể tiếp tục được nữa.
Đây cũng chính là mâu thuẫn giữa tâm linh bên trong và thế giới bên ngoài. Tâm linh bên trong cần có một bộ cơ chế phòng ngự bản ngã vận hành hữu hiệu, điều này giống như việc chúng ta cần phải sống trong một mái nhà an toàn vậy. Và một khi sự phân liệt đối lập nhị nguyên như tốt - xấu, thiện - ác, đúng - sai nơi tâm linh nội tại được hàn gắn triệt để, đến thời điểm đó, mọi phòng ngự cũng có thể hoàn toàn được buông xuống.
Tạo dựng không gian làm việc của bạn
Chúng ta cùng trích dẫn một câu nói của nhà tâm lý học Viktor Frankl: “Dốc lòng yêu một người, dốc lòng làm một việc, hạnh phúc ắt sẽ giáng lâm.”
Chúng ta cần đạt được cảm giác an toàn từ trong gia đình gốc (nguyên sinh gia đình) trước, rồi mới bước ra thế giới này tìm kiếm không gian để giải phóng niềm đam mê, đồng thời thu nhận đủ loại tài nguyên trong đó, dùng chúng để tạo dựng một mái nhà thuộc về chính mình.
Thế nhưng, trong công việc cũng giống như ở gia đình, bạn cũng cần sở hữu một không gian do chính mình làm chủ, nơi bản thân tự mình định đoạt. Nếu không, niềm đam mê và sức sáng tạo của bạn đều khó lòng giải phóng được.
Trong công việc, khoảnh khắc bạn giàu đam mê và sức sáng tạo nhất là khi nào?
Hãy tưởng tượng bạn là một con chim ưng bay vút ra từ mép vực thẳm.
Hãy tưởng tượng bạn là một con mãnh hổ hiên ngang độc hành giữa rừng già.
Khi bạn săn tìm thức ăn, bạn là kẻ tuấn tú nhất.
— Rumi
Bảo vệ không gian quyền lực của bạn
Dù trong những mối quan hệ thân cận, tôi không giỏi giữ vững ranh giới của mình, nhưng trong các mối quan hệ công việc, tôi lại có một phần rất cứng cỏi và kiên cường.
Năm 2001, vừa tốt nghiệp thạc sĩ xong là tôi về công tác tại tòa soạn báo Quảng Châu Nhật Báo, làm việc suốt 10 năm cho đến khi rời đi vào năm 2011. Đây là cơ quan duy nhất mà tôi từng đi làm thuê, về sau tôi tự mình làm chủ.
Ban đầu, tôi làm biên tập viên ở Ban Tin Quốc tế. Tôi rất yêu công việc này. Tuy nhiên, đi làm chưa được bao lâu, tôi đã phát hiện quy trình làm việc của chúng tôi có vấn đề.
Quy trình đó là: Chủ nhiệm phụ trách toàn bộ mọi thứ. Với tư cách là biên tập viên dàn trang, tôi chỉ cần làm theo tất cả những gì chủ nhiệm quy định là xong. Cứ như thế, chủ nhiệm thì quá bận rộn, còn biên tập viên lại quá nhàn nhã. Nhưng tôi chẳng hề cảm thấy nhẹ nhõm, tôi chỉ thấy đau khổ.
Năm ấy, tòa soạn tuyển liền một lúc hơn 150 phóng viên và biên tập viên, toàn là cử nhân, thạc sĩ và tiến sĩ tốt nghiệp từ các trường đại học trọng điểm, tôi nhớ còn có cả một nghiên cứu sinh sau tiến sĩ. Thế nhưng, nếu cứ vận hành theo quy trình này, thì tuyển một thạc sĩ tâm lý học Đại học Bắc Kinh như tôi về để làm gì?
Nhẫn nhịn một thời gian, tôi quyết định nhất định phải thay đổi. Vào cái ngày quyết định thay đổi ấy, tôi chỉ tôn trọng hai quyết định của chủ nhiệm: trên trang của tôi đưa bài nào và dung lượng của bài đó ra sao. Còn lại những việc khác như dùng hình ảnh nào, sắp xếp hình ảnh ra sao, bố cục bài viết thế nào, đặt tít tiêu đề ra sao... tôi đều tự mình quyết định.
Vừa giải phóng được tính chủ động, sức sáng tạo của tôi lập tức tuôn trào. Trang báo làm ra ngày hôm đó thực sự quá đẹp, quá tinh tế, đến mức tôi cũng không kìm được mà tự khen chính mình.
Chủ nhiệm nhìn thấy, thoạt đầu ngỡ ngàng kinh ngạc, rồi rất nhanh sau đó hiểu ra rằng quy trình làm việc vốn có vấn đề, ông lập tức quyết định thay đổi quy trình. Với cương vị chủ nhiệm, ông chỉ quyết định việc điều phối bài vở, còn những việc khác, giao lại cho biên tập viên tự làm.
Cuộc cải cách này đã giải phóng sức sống của cả phòng ban, và trang báo của ban chúng tôi trong suốt một thời gian dài luôn là hình mẫu điển phạm của tòa soạn.
Năm 2005, tôi không muốn làm tin quốc tế nữa mà muốn quay lại ngành nghề gốc của mình — tâm lý học. Vốn dĩ sơ tâm của tôi khi đến tòa soạn chính là muốn dưới góc độ tâm lý học để viết nên muôn mặt nhân sinh. Vì vậy, tôi nộp đơn xin chuyển từ Ban Quốc tế sang Ban Chính trị - Văn hóa. Sau khi đơn được phê chuẩn, tôi bắt đầu phụ trách "Chuyên mục Tâm lý".
Một tháng sau, chuyên mục này thành công vang dội, về sau luôn là chuyên mục được bạn đọc yêu thích nhất của tờ báo. Và tôi luôn kiên trì bảo vệ một thứ — tiếng nói chủ động và quyền quyết định của mình trong chuyên mục đó.
Chuyên mục làm rất thành công, cũng rất được coi trọng. Chính vì được coi trọng nên nhiều vị lãnh đạo tòa soạn đã tìm tôi nói chuyện, lặp đi lặp lại một vấn đề: Tôi viết quá mang tính chuyên môn, không phù hợp với định vị của tờ báo.
Định vị này xuất phát từ điều tra. Nhiều lần thống kê khảo sát cho thấy, trong số độc giả của chúng tôi, người có trình độ văn hóa cấp ba chiếm đa số. Cho nên các sếp mong tôi viết gần gũi với đại chúng hơn một chút, phù hợp với trình độ văn hóa cấp ba này.
Khảo sát và định vị ấy theo lý mà nói thì không sai, nhưng tôi nghĩ, chuyên mục của tôi từ trước tới giờ vẫn được yêu thích nhất, độc giả đông nhất cơ mà. Điều này chứng minh cách viết của tôi là hoàn toàn ổn.
Nghe lời biện giải này của tôi, các lãnh đạo đều bảo: "Nếu cậu thay đổi một chút, ăn khớp với định vị của tòa soạn, cậu sẽ càng được hoan nghênh hơn."
Tôi lại phản bác: "Nếu tôi thay đổi để đi nghênh hợp độc giả, tôi sẽ đánh mất chính mình, nói không chừng tôi sẽ thất bại." Các sếp cũng rất biết nói lý lẽ, không ép tôi phải thay đổi nữa.
Tóm lại, tôi luôn kiên trì làm chính mình, và đều thực hiện được sự “kiên quyết không chứa đựng địch ý”. Đó là nghiêm túc nói sự thật, nói lý lẽ, trước sau chưa từng mang theo cảm xúc bức xúc cá nhân.
Nhờ vào phong cách và cách làm này, dù là ở Ban Tin Quốc tế hay khi chủ trì "Chuyên mục Tâm lý", công việc của tôi đều có thể nói là đạt đẳng cấp hàng đầu. Hơn nữa, tôi luôn giữ được sự nhiệt tình cao độ với công việc, về tổng thể là một kẻ cuồng công việc đầy tính tự giác.
Về sau ngẫm lại chuyện của mình, tôi nghĩ đến một cụm từ: Không gian quyền lực.
Tôi cho rằng, bất kỳ nhân viên nào cũng cần có một không gian mà bản thân có thể tự mình định đoạt, đó chính là không gian quyền lực của anh ta. Nhất định phải có không gian quyền lực như vậy, nếu không sức sáng tạo và nhiệt huyết của anh ta sẽ không thể phát huy, năng lực cũng khó lòng nâng cao.
Đương nhiên, chức vụ khác nhau, cấp bậc khác nhau thì không gian quyền lực cũng khác nhau. Vị trí càng cao, không gian quyền lực càng lớn; vị trí càng thấp, không gian quyền lực càng nhỏ. Nhưng cho dù vị trí có thấp đến đâu, nếu muốn phát huy tài năng của người đó, thì bắt buộc phải trao cho họ một không gian quyền lực do chính họ tự quyết.
Một cơ quan tốt sẽ chủ động trao cho nhân viên không gian như thế. Và bản thân người nhân viên cũng cần phải tự mình tranh đấu để giành lấy không gian này. Có được không gian đó, bạn mới có thể giải phóng tính công kích của mình, rồi chuyển hóa nó thành sinh mệnh lực màu trắng (sức sống tích cực thuần khiết), chẳng hạn như nhiệt huyết và sức sáng tạo. Nếu không có không gian như vậy, tính công kích của bạn sẽ quay ngược lại cắn xé chính bản thân, làm tổn hại đến năng lực làm việc của chính bạn.
Làm một cây táo không ngừng trưởng thành
Năm 2005 là năm đầu tiên tôi phụ trách "Chuyên mục Tâm lý" của tờ Quảng Châu Nhật Báo. Vào dịp cuối năm, tôi đã viết một bài viết mà sau này được lan truyền vô cùng rộng rãi: Bảy ngụ ngôn tâm lý của năm 2005.
Câu chuyện ngụ ngôn đầu tiên là: Ngụ ngôn về sự trưởng thành: Làm một cây táo không ngừng lớn lên. Nguyên văn như sau:
Một cây táo cuối cùng cũng ra quả.
Năm thứ nhất, nó kết được 10 quả táo, 9 quả bị hái đi mất, bản thân nó chỉ giữ lại được 1 quả. Trước sự việc đó, cây táo vô cùng phẫn uất, bất bình, thế là nó bèn tự đoạn kinh mạch, cự tuyệt việc lớn lên. Năm thứ hai, nó kết được 5 quả táo, 4 quả bị hái đi, bản thân giữ lại được 1 quả. "Ha ha, năm ngoái mình chỉ được 10%, năm nay được tận 20%! Tăng gấp đôi rồi!" Tâm lý của cây táo lúc này mới thấy cân bằng.
Thế nhưng, nó hoàn toàn còn có thể lựa chọn thế này: Tiếp tục lớn lên. Chẳng hạn, năm thứ hai nó kết được 100 quả, bị lấy đi 90 quả, bản thân được 10 quả.
Rất có thể, nó bị lấy đi 99 quả, bản thân chỉ được 1 quả. Nhưng không sao cả, nó vẫn có thể tiếp tục trưởng thành, đến năm thứ ba kết ra 1.000 quả...
Kỳ thực, nhận được bao nhiêu quả không phải là điều quan trọng nhất. Điều quan trọng nhất chính là cây táo đang lớn lên! Đợi đến khi cây táo phát triển thành một cây cổ thụ chọc trời, những lực lượng từng cản trở sự sinh trưởng của nó sẽ trở nên yếu ớt đến mức có thể xem nhẹ bỏ qua. Thật đấy, đừng quá để tâm đến quả ngọt trước mắt, sự trưởng thành mới là điều cốt lõi nhất.
Đi kèm với câu chuyện ngụ ngôn này, tôi còn viết thêm lời bình tâm lý:
Bạn có phải là một người làm thuê đã "tự đoạn kinh mạch" rồi không?
Thuở mới chập chững bước vào công việc, bạn tài hoa lai láng, hăng hái sục sôi, tin rằng "trời sinh ta ắt có chỗ hữu dụng". Nhưng hiện thực tàn khốc rất nhanh đã giáng cho bạn mấy cú đòn choáng váng: Có thể bạn cống hiến lớn cho cơ quan nhưng chẳng ai coi trọng; có thể bạn chỉ nhận được những lời khen đãi bôi ngoài miệng mà không có lấy chút lợi ích thực tế nào; có thể... Tóm lại, bạn cảm thấy mình hệt như cây táo kia, trái ngọt kết ra bản thân chỉ được hưởng một phần quá nhỏ bé, khác xa so với kỳ vọng ban đầu.
Thế là bạn phẫn nộ, bạn buồn bực, bạn than thân trách phận... Cuối cùng, bạn quyết định không còn nỗ lực như trước nữa, để việc mình làm tương xứng vừa vặn với số thù lao ít ỏi mình nhận được. Mấy năm trôi qua, khi tự nhìn nhận lại bản thân, bạn mới giật mình nhận ra mình lúc này chẳng còn niềm đam mê và nhuệ khí thuở mới đi làm nữa.
"Già rồi, chín chắn rồi." Chúng ta thường quen tự giễu mình như thế. Nhưng thực chất là: bạn đã ngừng lớn lên rồi.
Những câu chuyện như thế này, quanh ta đâu đâu cũng thấy.
Sở dĩ phạm phải sai lầm này là vì chúng ta quên mất rằng sinh mệnh là một hành trình dài, là một thể thống nhất trọn vẹn. Chúng ta cứ ngỡ bản thân đã trưởng thành xong xuôi rồi, giờ là lúc hưởng quả ngọt thôi. Chúng ta quá để tâm vào được mất nhất thời, mà quên mất rằng sự trưởng thành không ngừng nghỉ mới là điều quan trọng nhất.
May thay, đây không phải là màn tự đoạn kinh mạch tuyệt vọng trong tiểu thuyết Kim Dung. Chúng ta bất cứ lúc nào cũng có thể từ bỏ cách làm đó để tiếp tục sải bước trên con đường trưởng thành.
Khi thế hệ "9x" bắt đầu ồ ạt bước vào thị trường lao động, tôi thường nghe các chủ doanh nghiệp than thở: "Thế hệ 9x là thế hệ tồi tệ nhất, vì chỉ cần một chuyện không vừa ý là họ nộp đơn nghỉ việc." Chẳng hạn, từng có bản tin kể rằng, một nhân viên 9x chỉ vì chiếc máy tính khởi động mất tới 5 phút mà nộp đơn xin thôi việc, người sếp sống chết cũng không thể nào hiểu nổi.
Nghe những chuyện này nhiều, tôi lại nghĩ: Không đúng, dường như đây là phản ứng rất đỗi bình thường của họ. Họ chỉ đơn giản là không muốn nhẫn nhục cầu toàn trong công việc, không muốn răm rắp nghe theo ý chí quyền lực của cấp trên mà thôi. Sự phản nghịch mà họ thể hiện ra thực chất chính là họ đang tôn trọng không gian quyền lực của bản thân.
Ví dụ như chuyện máy tính khởi động mất 5 phút, thời đại bây giờ là thời đại Internet, thời gian quý như vàng, vậy mà ông chủ lại để nhân viên dùng loại máy tính như vậy. Hơn nữa, khởi động mất 5 phút thì chỉ e rằng các hiệu năng khác của chiếc máy tính đó cũng rất tệ hại, điều đó thực sự sẽ gây ảnh hưởng rất lớn đến hiệu suất và tâm trạng làm việc.
Hai năm trở lại đây, đi đâu cũng nghe người ta khen ngợi thế hệ "9x", họ cá tính mạnh nhưng EQ lại cao và sức sáng tạo rất dồi dào.
Khi một công ty biết tôn trọng không gian quyền lực của mỗi cá nhân, công ty đó sẽ hướng về sự bình đẳng và cởi mở; còn khi một công ty chỉ biết tôn trọng quá mức không gian quyền lực của tầng lớp quản lý, công ty đó sẽ trượt về hướng tôn ti cấp bậc và phong kín bế tắc.
Tháng 12 năm 2017, tôi có dịp may mắn đến Đại học Hồ Bán (Hupan University) giảng nửa ngày về tâm lý học, đồng thời cũng với tư cách là học viên để dự thính hai ngày rưỡi. Khi giảng bài, bà Bành Lôi (Lucy Peng) — cựu Giám đốc điều hành của Alipay — đã chia sẻ một câu chuyện thế này:
Một vị cấp trên quyết định cho một nhân viên bình thường thôi việc, người nhân viên này vô cùng bất phục. Và phương thức cuối cùng mà công ty áp dụng là: để hai người họ tranh luận trực tiếp với nhau, đồng thời phát sóng trực tiếp trên mạng nội bộ của công ty cho tất cả mọi người cùng xem.
Kết quả của sự việc này Bành Lôi không nói, nhưng cách xử lý việc ấy đã thể hiện rõ văn hóa công ty cởi mở của tập đoàn Alibaba. Khi được xử lý công khai như vậy, cấp trên và nhân viên đều đứng ở vị thế bình đẳng, cấp trên không thể độc chiếm những ưu thế đặc quyền do quyền lực mang lại.
Suốt ba ngày đó, sự chia sẻ của nhiều lãnh đạo cấp cao của Alibaba đã đem lại cho tôi một cảm giác vô cùng dễ chịu, cảm thấy bản thân mình dường như cũng trở nên cởi mở hơn.
Dẫu vậy, khi tôi chia sẻ cảm nhận này với các học viên khác ở Đại học Hồ Bán, một học viên đã nói rằng, Alibaba ban đầu hẳn không phải như thế. Mọi người đều biết học viên của Đại học Hồ Bán toàn là các doanh nhân tinh hoa, học viên này cũng không ngoại lệ. Anh ấy nói, từ thuở ban đầu Alibaba đã có sẵn gen cởi mở nhất định, nhưng họ vẫn đặc biệt nhấn mạnh vào việc thống nhất ý kiến để làm việc lớn, thế nên đối với không gian của từng cá nhân, đặc biệt là không gian của nhân viên bình thường, họ từng không quá tôn trọng.
Rất nhiều công ty Internet đều như vậy, nhưng những công ty Internet thành công thì dần dần sẽ đi về phía cởi mở, đồng thời ngày càng tôn trọng tính cá nhân hóa của nhân viên. Điều này do chính bản chất gen của Internet quyết định, bởi bản thân Internet vốn dĩ đồng nghĩa với sự cởi mở.
Hơn nữa, còn một điểm rất quan trọng: Càng là nhân tài công nghệ cao thì lại càng cần không gian tự do; kiểu quản lý tập quyền tuyệt đối không thể nào thu hút được nhân tài công nghệ đỉnh cao. Ví dụ, học viên nọ cho biết, trên toàn thế giới hiện nay số lượng nhân tài thực sự hiểu về AI mới xuất hiện mỗi năm không vượt quá 150 người. Mà những con người này thì tuyệt đối không thể quản lý bằng lối tập trung quyền lực được.
Chúng ta may mắn được sống trong một thời đại Internet như thế này, đặc biệt là Internet di động đã mang đến một nền tảng cởi mở khổng lồ. Bất kỳ ai cũng có thể dựa vào cá tính lấp lánh của riêng mình, ngắm chuẩn một điểm mấu chốt, bỗng chốc có thể giành lấy cho bản thân một vùng trời không gian.
Thực ra, có lẽ thời đại trước kia cũng vậy, những công ty biết tôn trọng không gian quyền lực của nhân viên thì dễ giành thắng lợi hơn, chỉ là khi đó điều này chưa lộ rõ. Nhưng đến thời đại hôm nay, điều này đã trở nên vô cùng rõ ràng.
Ngoài ra, dù thế nào đi nữa, với tư cách là một cá nhân, nếu bạn muốn gặt hái thành công trong sự nghiệp, bạn nhất định phải đấu tranh để giành lấy không gian quyền lực cho chính mình.
Cá nhân hóa, Xã hội hóa và Hệ thống hóa
Trong sự trưởng thành của mỗi cá nhân, ai ai cũng phải đối diện với một cặp mâu thuẫn: Trở thành bản thân mà mình mong muốn, hay trở thành con người mà xã hội kỳ vọng.
Vế trước, chúng ta có thể gọi là "cá nhân hóa"; vế sau, có thể gọi là "xã hội hóa". Đương nhiên, lý tưởng nhất là vừa thực hiện được sự cá nhân hóa ở mức độ tương xứng để trở thành chính mình, lại vừa thích ứng được với xã hội để hoàn thành tiến trình xã hội hóa.
Cá nhân hóa quá đà thì có thể sẽ bị tách rời khỏi xã hội. Khi một người không thể dung nhập vào xã hội, họ rất dễ gặp trục trặc ở nhiều phương diện, thậm chí mắc phải các chứng bệnh tâm lý nghiêm trọng. Xã hội hóa quá mức, con người ta lại đánh mất chính mình. Khi có quá nhiều người cùng cất lời ngợi khen bạn, bạn lại cảm giác như bản thân vừa đánh mất đi những thứ vô cùng trân quý.
Một biểu hiện của việc xã hội hóa quá mức chính là bạn biến thành kẻ mang tính hệ thống (hệ thống hóa), trở thành một phần tử của thể chế. Bạn mưu cầu không gian sinh tồn trong thể chế và phụ thuộc vào thể chế về mặt tâm lý. Thậm chí, bạn cảm thấy mình chỉ là một mắt xích của thể chế, nếu bị bóc tách ra khỏi thể chế, bạn không những khó lòng tồn tại, mà còn cảm thấy bản ngã của mình đứng trước nguy cơ sụp đổ, tan rã.
Sự hệ thống hóa này chính là một dạng tha hóa của con người.
Theo đuổi cá nhân hóa đồng nghĩa với việc một người đem cái tôi chân thật (chân ngã) của mình bày ra trước thế giới này. Điều này sẽ mang lại rất nhiều hiểm nguy, trong đó có một mối nguy tâm lý là: Bởi vì thứ bạn phơi bày ra là cái tôi chân thật, nên cái tôi chân thật đó sẽ đối mặt với nguy cơ bị công kích, tổn thương, thậm chí bị bóp nghẹt tiêu diệt.
Hệ thống hóa lại giúp né tránh được mối nguy tâm lý này: bạn ẩn giấu cái tôi chân thật, để mình thu mình nấp sau một hệ thống nào đó (tức là cái tôi tập thể). Nhưng điều này cũng đồng nghĩa với việc, cái tôi chân thật của bạn do không được bộc lộ ra nên sẽ không có cơ hội được tôi rèn. Do đó, nó cũng đánh mất cơ hội được tôi luyện, và cái tôi chân thật của bạn cũng khó lòng mà trưởng thành được.
Hệ thống hóa và cá nhân hóa cũng là một cặp mâu thuẫn trong sự phát triển sự nghiệp.
Những năm gần đây, tôi tiếp xúc với đủ mọi kiểu KOL/đại V trên mạng Internet, và rút ra một kết luận: Những đại V này, tại cái điểm làm nên thành tựu của họ, ban đầu đều là làm việc bằng chính bản tâm của mình.
Ví dụ như La Chấn Vũ (Luo Zhenyu), anh ấy thật lòng say mê tri thức từ tận đáy lòng, tin rằng tri thức có thể thay đổi thế giới.
Ví dụ như Chú Khải của chương trình Chú Khải kể chuyện, ban đầu anh ấy đơn giản chỉ là thích kể chuyện cho con mình nghe.
Ví dụ như Hoàng Đồng Đồng (Huang Tongtong), cô ấy đặc biệt say mê chuyện phiếm hậu trường (bát quái) của giới ngôi sao, nhất là chuyện của các mỹ nhân nổi tiếng; sâu bên trong cô ấy có một phức cảm rất sâu sắc với điều này.
Chẳng hạn như Tiểu Lợi, đồng nghiệp cũ của tôi ở tòa soạn Quảng Châu Nhật Báo, cô ấy có tài khoản công chúng "Mẹ Tiểu Lợi thích đọc sách thiếu nhi". Từ hai năm trước, cô đã có sáu bảy trăm nghìn lượt người theo dõi và nguồn thu nhập không hề nhỏ. Điểm khởi đầu của cô cũng bởi vì cô tốt nghiệp khoa phát thanh, và cô thật lòng yêu thích việc đọc sách thiếu nhi.
Lại ví dụ như cậu bạn thân cùng phòng ký túc xá thời đại học của tôi, thời sinh viên cậu ấy cực kỳ đam mê âm nhạc, đánh guitar rất cừ, từng lập ban nhạc học đường. Về sau, cậu ấy vào làm việc tại Dolby Laboratories, hiện tại đã mở công ty thực tế ảo (VR), và mảng âm thanh chính là sở trường mũi nhọn của công ty cậu.
Những câu chuyện như vậy vô cùng nhiều, thế nên tôi nghĩ, có lẽ chúng ta thực sự đã bước vào một thế giới tự do kiểu mới. Internet kết nối vạn vật lại với nhau, các đại V giống như những nút mạng đang lấp lánh tỏa sáng trên không gian mạng. Mà sở dĩ họ tỏa sáng rực rỡ ở đó, một số là nhờ có óc phán đoán nhìn thấy trước thời cơ, nhưng dường như phần lớn hơn lại là xuất phát từ bản tâm — xuất phát từ lòng say mê bản năng đối với công việc ấy.
Về sự phát triển nghề nghiệp, thuở ban đầu có thể có hai xuất phát điểm khác nhau: Một là xuất phát từ tình yêu say mê của bản tâm, hai là xuất phát từ mưu cầu sinh tồn. Có thể nói, vế trước chủ yếu phát xuất từ bản năng sống (sinh bản năng), còn vế sau chủ yếu phát xuất từ bản năng chết (tử bản năng).
Một xã hội càng tập quyền (trung tâm hóa), càng mang tính hệ thống, con người ta lại càng dễ đưa ra lựa chọn phía sau — chọn nghề nghiệp vì sinh tồn. Ngược lại, một xã hội càng phi tập trung hóa, càng mang tính cá nhân hóa, con người ta lại càng dễ đưa ra lựa chọn phía trước — chọn nghề nghiệp vì đam mê, sở thích.
Lựa chọn mang tính hệ thống bắt nguồn từ một sự dự liệu: Ngành nghề nào đó trong tương lai sẽ rất được ưa chuộng, đồng thời ngành này hiện nay có triển vọng xin việc rất tốt, cho nên tôi chọn. Lựa chọn mang tính cá nhân hóa thì ngược lại, thường có vẻ như đang đi ngược dòng. Ví dụ, thời tôi học đại học, nếu chọn các chuyên ngành nghệ thuật thì người ta sẽ cho là không lý trí, thậm chí cả khối ngành khoa học xã hội và nhân văn (văn khoa) đều bị coi là lựa chọn thiếu sáng suốt, và ngành tâm lý học cũng nằm trong số đó.
Thế nhưng, trong thời đại vạn vật kết nối ngày nay, lựa chọn mang tính hệ thống chưa chắc đã đáng tin cậy, trái lại lựa chọn mang tính cá nhân hóa lại càng ngày càng có khả năng tạo nên những kỳ tích. Vài năm gần đây, chúng ta đã chứng kiến sự sụp đổ chớp nhoáng của một số công ty lớn: Ví dụ, sự sụp đổ của một thương hiệu điện thoại di động nọ, tốc độ nhanh đến mức khiến người ta phải trố mắt há hốc mồm.
Có những hệ thống đang rã rời tan vỡ, đồng thời một số hệ thống khổng lồ cũng đang hình thành, ví dụ như BAT (Baidu, Alibaba, Tencent). Dẫu vậy, khi tôi đến các công ty BAT giảng bài hoặc hợp tác, tôi nhận thấy các công ty này rất khác với công ty truyền thống, họ đều đặc biệt coi trọng tính cá nhân hóa của nhân viên. Nếu sự phát triển nghề nghiệp của một người bị trói chặt khăng khít với một hệ thống lớn, thậm chí bản thân người đó cũng bị hệ thống hóa, thì khi thể chế ấy sụp đổ, cá nhân đó cũng sẽ phải đối mặt với bước đường khốn cùng nan giải.
Nhưng nếu sự phát triển cá nhân hóa của bạn đủ chín muồi, có lẽ bạn sẽ chẳng hề bị tụt hậu. Ví dụ, truyền thông truyền thống đã thoái trào lạc hậu, nhưng những năng lực cơ bản của người phóng viên, biên tập viên thì không hề lạc hậu. Những ai xuất sắc vượt trội trong lĩnh vực này vẫn có thể tìm thấy lối ra vô cùng xán lạn trong kỷ nguyên tự truyền thông (we-media).
Nếu từ trước đến nay bạn luôn dùng bản tâm của mình để va chạm, cọ xát với cả thế giới, điều đó đồng nghĩa với việc bạn luôn thiết lập một mối quan hệ sâu sắc và chân thành với cuộc đời này. Mối quan hệ sâu sắc đó sẽ sản sinh ra đủ loại sản phẩm đích thực, trong đó có rất nhiều điều ngoài sức tưởng tượng.
Trong thời đại mưu sinh gian khó, đưa ra lựa chọn theo hệ thống là điều tương đối hợp lý, ít nhất có thể tồn tại; còn trong thời đại vạn vật kết nối hôm nay, không gian để đưa ra lựa chọn mang tính cá nhân hóa đã rộng mở hơn rất nhiều, rất nhiều.
Có lẽ trong tương lai, khi sinh tồn không còn là vấn đề nan giải nữa, trọng tâm phát triển của xã hội sẽ càng hướng về việc thỏa mãn các trải nghiệm căn bản của con người. Và khi ấy, những người từ trước đến nay luôn biết tôn trọng trải nghiệm của bản thân có lẽ sẽ có một không gian nghề nghiệp rộng lớn, thênh thang hơn.
Xét về mặt bản chất, mọi nghề nghiệp đều là sản vật của mối quan hệ giữa con người và xã hội. Những điều tốt đẹp xưa nay luôn bắt nguồn từ mối quan hệ sâu sắc giữa con người và xã hội.
Sự "vô tình" trong không gian làm việc
Hiện nay trên hành tinh của chúng ta, ai là những doanh nhân nổi tiếng nhất, vĩ đại nhất? Tôi tin rằng nhiều người sẽ nghĩ ngay đến Steve Jobs và Elon Musk, dù Jobs đã qua đời, còn các doanh nghiệp của Musk khi ấy cũng chưa hẳn được coi là thành công vượt bậc.
Ở hai con người này có rất nhiều phẩm chất tương đồng, như chủ nghĩa hoàn hảo, sự điên rồ, tự cao tự đại và cố chấp cực đoan. Những điều này có thể quy tụ lại trong một từ: "vô tình" (lạnh lùng, không vị tình riêng). Rất nhiều doanh nhân cự phách đều mang trong mình phẩm chất này. Đương nhiên, không phải tất cả. Vậy thì, ít nhất là trên những con người này, cớ sao sự vô tình lại mang đến thành công? Tôi xin chia sẻ đôi dòng suy ngẫm của mình. Đây là suy ngẫm hết sức cá nhân, chưa chắc đã hoàn toàn đúng đắn, thế nên tôi khuyên mọi người chớ vội vàng học theo sự vô tình. Hãy cứ xem đây như một suy tưởng mang tính gợi mở, hoặc thậm chí bạn cũng có thể coi nó như một chuỗi nghĩ ngợi vẩn vơ.
Công ty của tôi phát triển xưa nay tương đối suôn sẻ, nhưng cũng chỉ xem như làm ăn nhỏ lẻ, cò con. Sự phát triển của công ty mang lại cho tôi nhiều thứ, tôi giống như đang thông qua biến cố bên ngoài là sự phát triển của công ty để đi nghiên cứu nội tâm của chính mình vậy. Cho nên, tôi không phải là một doanh nhân giỏi.
Một doanh nhân giỏi là người bạn của tôi, anh ấy là một thế hệ nhà giàu thứ hai (phú nhị đại). Sau khi tiếp quản sự nghiệp từ cha mình, để giảm bớt sức ảnh hưởng của người cha, anh ấy đã trăn trở lên kế hoạch rất lâu, cuối cùng tống khứ mấy vị nguyên lão khai quốc ra khỏi công ty. Mà mỗi lần đạt được một mục tiêu, anh ấy lại vui mừng khôn xiết.
Kết quả là, anh ấy nhanh chóng thâu tóm quyền lực về lại tay mình, công ty nhanh chóng hoàn thành việc chuyển giao và chuyển đổi mô hình, rồi bắt đầu phát triển phất lên như diều gặp gió. Vì vậy, nếu xem việc công ty phát triển là tốt, còn công ty ngưng trệ là xấu, thì mẫu doanh nhân vô tình như anh ấy lại là một doanh nhân giỏi.
Chốn công sở dường như cũng tương tự, một số thân chủ (đa phần là nam giới) từng bày tỏ với tôi niềm khao khát này: Sống trong một thế giới nơi các quy tắc cực kỳ rõ ràng, mọi người cứ theo các quy tắc ấy mà cạnh tranh, hoàn toàn không cần bận tâm đến tình cảm, như thế thì sướng biết bao; bản thân có thua cũng cam lòng nhận lấy, miễn là cuộc chơi diễn ra đúng theo những quy tắc minh bạch và cơ bản hợp lý đó.
Viktor Frankl từng nói: “Dốc lòng yêu một người, dốc lòng làm một việc, hạnh phúc ắt sẽ giáng lâm.” Trong câu nói này, thoạt nhìn như đang nói về việc toàn tâm toàn ý đi kiến lập mối quan hệ, và hạnh phúc là sản phẩm phụ sinh ra từ mối quan hệ sâu sắc được dựng xây bằng sự dốc lòng ấy. Nhưng, mối quan hệ thân mật (tức tình yêu thương trong không gian gia đình và đời sống) và mối quan hệ xã hội (như quy luật logic trong không gian làm việc) lại có rất nhiều điểm khác biệt, thậm chí có thể nói là hoàn toàn ngược chiều nhau.
Trong gia đình, tuyệt đối không thể nói chuyện vô tình, mà phải nâng niu trân quý lẫn nhau. Trong công việc, có lẽ cần phải vô tình hành sự theo đúng các quy tắc. Làm như vậy vừa tạo cảm giác quang minh lỗi lạc, vừa dễ dàng trui rèn phát triển năng lực, thậm chí còn dễ gây dựng nên một sự nghiệp rực rỡ hơn.
Nếu như sự lý giải này của tôi là đúng đắn, thì thực sự có thể nói rằng, Tạo hóa đã tạo ra cho con người quá nhiều bài toán đối lập nhị nguyên như thế này, khiến chúng ta khó lòng sống theo một logic giản đơn, rập khuôn.
Tương tác: Năng lượng chết rốt cuộc dẫn đến cái chết
Theo các bài báo đưa tin, CEO của một thương hiệu điện thoại nọ từng nói một câu vô cùng nổi tiếng: “Chúng tôi chẳng hề làm sai điều gì, nhưng không hiểu vì sao chúng tôi lại thua.” Câu nói này thực sự vô cùng chấn động và đầy sức nặng.
Tạp chí Manager từng đưa tin ban lãnh đạo cấp cao của công ty này quá đỗi đáng sợ, thường gào thét vào mặt cấp dưới bằng "dung tích phổi cực đại". Điều này đồng nghĩa với việc không gian quyền lực của cấp cao đang bành trướng dữ dội, còn không gian quyền lực của nhân viên thì bị chèn ép bức bách. Vì thế, nhân viên không dám phản ánh các vấn đề thực tế của công ty lên ban giám đốc, lại lo sợ bị sa thải đuổi việc, nên đâm ra im như thóc, thu mình câm lặng. Hai bài báo nọ đã gọi hiện tượng này là "nỗi sợ hãi tổ chức" (tổ chức úy cụ).
Nỗi sợ hãi trong tổ chức có thể hiểu là năng lượng chết (tử năng lượng). Khi tầng lớp cấp cao liên tục gieo rắc sự sợ hãi, việc này có thể thiết lập uy quyền của họ, nhưng lại khiến năng lượng chết lan truyền tràn lan giữa các nhân viên. Trước tiên, nó bóp chết sức sống và sức sáng tạo của nhân viên — vốn đều là năng lượng sống (sinh năng lượng) — và cuối cùng "giết chết" cả doanh nghiệp. Có thể nói, sự tích tụ trầm trọng của năng lượng chết cuối cùng đã thực sự dẫn tới "cái chết" của thương hiệu điện thoại di động đó.
Thời đại trước đây, việc dựng xây nền tảng vô cùng khó khăn, cho nên cá nhân phải nương tựa vào hệ thống vốn có để giành lấy không gian cho mình. Thời đại vạn vật kết nối hôm nay, chúng ta cùng chia sẻ một nền tảng hiệu suất cao, những ý tưởng giàu tính sáng tạo (tức tràn đầy năng lượng sống) có thể nhanh chóng được truyền bá trên nền tảng mạng: kết quả là một người có thể giành được không gian dễ dàng hơn trước rất nhiều. Đồng thời, những hệ thống xơ cứng, mục ruỗng sẽ sụp đổ nhanh ngoài sức tưởng tượng.
Hy vọng tiến trình này có thể không ngừng phát triển, và chúng ta có thể cùng chứng kiến tiến trình đó.
Hỏi: Khi đấu tranh để giành lấy không gian quyền lực cho mình, ta khó tránh khỏi việc xảy ra xung đột với lãnh đạo, đôi khi thậm chí còn gây ra sự bất mãn của sếp đối với chúng ta, không khéo còn bị sa thải. Làm thế nào để xử lý mối quan hệ với lãnh đạo cũng như tránh được mối nguy hiểm này?
Đáp: Trước tiên, đây có thể là hiện thực (tức hiện thực bên ngoài thực sự tàn khốc đến mức ấy). Sở dĩ chúng ta nhìn thấy bức tranh này là vì chúng ta đã nội nhập (introjection) bức tranh đó vào tâm thức. Thứ hai, đây cũng có thể là sự phóng chiếu (projection) từ nội tâm của chính bạn (tức hiện thực bên ngoài không tàn khốc đến thế), chỉ là bản thân chúng ta từ trước tới nay luôn sống trong cái logic ấy.
Nếu chủ yếu là sự phóng chiếu của chính mình, vậy thì cần phải nhận diện rõ sự phóng chiếu đó và hóa giải nó. Còn nếu nhận thấy quả thực là hiện thực, cơ quan nơi mình làm việc đúng là tàn khốc như vậy, thì bạn phải tự hỏi lại bản thân cho thật kỹ: liệu có nên tiếp tục ở lại đó nữa hay không.
Làm thế nào để xác định xem đó là sự nội nhập hiện thực hay là sự phóng chiếu từ nội tâm ra ngoài? Bạn có thể ngẫm nghĩ một câu hỏi vô cùng đơn giản: Ở cơ quan của bạn, có ai rất cá tính mà vẫn sống rất tốt hay không? Nếu có, điều đó đồng nghĩa với việc, cái logic mà bạn hằng đinh ninh chưa chắc đã hoàn toàn là sự thật.
Nếu cứ hễ không nghe lời là bị sa thải, vậy thì lúc này bạn cần phải tự vấn chính mình: "Tôi sẽ vì đãi ngộ trước mắt mà tiếp tục ở lại, hay vì tính kế lâu dài mà dứt áo ra đi?"
Thời đại đang biến chuyển từng ngày, đáng thương nhất chính là một bức ảnh từng lan truyền rầm rộ trên mạng, chụp cảnh một nhân viên trạm thu phí khóc lóc giãi bày: "Tôi năm nay đã 36 tuổi rồi, cả đời tôi chỉ làm mỗi công việc này. Trạm thu phí bị dỡ bỏ rồi, nhưng tôi lại chẳng có năng lực gì khác, tôi phải làm sao đây?"
Đương nhiên, tôi không hề cổ vũ hay khuyên bảo mọi người phải làm thế nào, bởi việc lựa chọn ra sao chính là gốc rễ của sinh mệnh, và cũng là trách nhiệm của chính mỗi con người.
Hỏi: Không gian quyền lực cần phải đi khám phá, nhưng do môi trường trưởng thành khác nhau, không gian quyền lực của những con người khác nhau chắc hẳn cũng sẽ khác nhau. Có phương pháp nào giúp bản thân phát hiện ra không gian quyền lực không?
Đáp: Không gian quyền lực gắn liền với vị trí, chức vụ của mỗi người. Điều cần nhấn mạnh là, chức vụ của mỗi người tốt nhất nên có không gian quyền lực thuộc về chính người đó. Như vậy, họ mới có thể khơi dậy được nhiệt huyết và sức sáng tạo.
Dĩ nhiên, trong hiện thực cũng tồn tại tình huống này: Kẻ giỏi đấu đá quyền lực, kẻ có dục vọng bành trướng mãnh liệt sau cùng lại giành được cho mình một không gian quyền lực rất lớn, nhưng lại chèn ép bòn rút không gian quyền lực của người khác. Vì vậy, theo cách hiểu của tôi, đây không phải là một không gian quyền lực mà ai sinh ra cũng tự mang theo, tức không phải là không gian quyền lực tự nhiên có sẵn do bản ngã của một người quy định.
Còn về việc khám phá không gian quyền lực của chính mình, tôi nghĩ mỗi người nên tự đặt ra cho bản thân mấy câu hỏi: "Tôi có thể ý thức một cách rõ ràng về không gian quyền lực của mình không? Tôi có thể giữ vững được không gian quyền lực của mình không? Tôi có thể dùng cách thức nào để làm tốt điều này hơn?"
Trạch (Sống khép mình trong không gian riêng)
"Trạch" (ở lì trong nhà, khép mình) là một hiện tượng xã hội sâu sắc, dù nó rất phổ biến. "Trạch" phần lớn thời gian thường gắn liền với nam giới, cho nên vừa nhắc đến "trạch", dường như mọi người rất dễ liên tưởng ngay đến "trạch nam" (chàng trai ru rú trong phòng). Dĩ nhiên, cũng có "trạch nữ". Hơn nữa, khi tôi trao đổi với một số đồng nghiệp chuyên viên tư vấn tâm lý về "trạch nữ", cảm nhận chung của chúng tôi là: nữ giới một khi đã rơi vào mức độ "thâm trạch" (ở lì khép kín cực độ) thì vấn đề phát sinh còn nghiêm trọng hơn cả nam giới.
Mỗi lần tôi bàn về hiện tượng "trạch" trên Weibo, đều có rất nhiều bình luận đáp lại rằng: "Ở nhà thì đã sao nào? Trạch là một lối sống, trạch đâu phải là bệnh."
Trên thực tế, theo góc nhìn của tôi, phần lớn các hiện tượng xã hội đều là một dạng thức tồn tại, đều là một phương thức biểu đạt của nhân tính, và chúng hầu như đều ẩn chứa vấn đề. Nhìn bề ngoài, có vẻ như tôi đang làm cho các hiện tượng trở nên có vấn đề (vấn đề hóa hiện tượng), nhưng đồng thời tôi cũng chẳng hề muốn dán nhãn "bệnh tật" cho bất kỳ một hiện tượng nào. "Trạch" cũng vậy, "trạch" là một sự tồn tại sâu xa.
Đưa vấn đề "trạch" vào chương này để bàn luận, đương nhiên ngụ ý rằng: Không gian chính là gốc rễ của nó. Có thể nói, một người sở dĩ chọn ở lì trong nhà là bởi vì trong một không gian như thế, họ mới được là chính mình. Họ không muốn bước ra ngoài là bởi vì ở không gian bên ngoài kia, họ luôn cảm thấy thân bất do kỷ (không thể tự làm chủ bản thân).
Điểm then chốt của "trạch" là sự phong kín, khép kín; và trong nhóm hiện tượng khép kín tâm linh này, còn có những hiện tượng như trì hoãn kinh niên và đi trễ theo thói quen.
Khoảng thời gian bạn "trạch" nhất là như thế nào? Nó đã bắt đầu ra sao, và kết thúc thế nào?
Hôm nay, cũng như bao ngày khác,
Chúng ta thức giấc trong trống rỗng
Bàng hoàng sợ hãi khôn nguôi.
Đừng vội đẩy toang cánh cửa thư phòng như thế
Để bước vào trang sách.
Hãy gỡ một nhạc cụ xuống trước đã.
Hãy để cái đẹp mà ta đắm say trở thành việc ta làm.
Quỳ xuống hôn lên mặt đất,
Có đến hàng trăm cách.
— Rumi
Bình luận