CÁC NỮ THẦN NHƯ NHỮNG HÌNH ẢNH NỘI TÂM
- Minh Đào
- 2 ngày trước
- 108 phút đọc
Một bé gái yếu ớt được đặt vào vòng tay người bạn tôi, Ann – một đứa trẻ mắc hội chứng “tim bẩm sinh tím tái”. Ann dâng trào cảm xúc khi ôm sinh linh bé bỏng ấy và ngắm nhìn gương mặt em. Chị cũng cảm nhận được một cơn đau thắt sâu thẳm nơi lồng ngực, ngay dưới xương ức. Chỉ trong khoảnh khắc, giữa chị và đứa bé đã hình thành một mối gắn kết sâu sắc. Kể từ đó, Ann thường xuyên đến thăm bé và duy trì sự gắn bó chừng nào còn có thể. Đứa trẻ đã không qua khỏi sau ca phẫu thuật tim hở. Bé chỉ sống được vài tháng ngắn ngủi, nhưng đã để lại trong Ann một dấu ấn sâu đậm. Trong lần gặp đầu tiên ấy, đứa trẻ đã chạm đến một hình ảnh nội tâm thấm đượm cảm xúc nằm sâu trong tâm trí Ann.
Năm 1966, Anthony Stevens, một bác sĩ tâm thần kiêm tác giả, đã nghiên cứu về mối liên kết gắn bó ở trẻ sơ sinh tại Trung tâm Trẻ em Metera gần Athens, Hy Lạp. Những gì ông quan sát thấy giữa các y tá và những đứa trẻ mồ côi này hoàn toàn tương đồng với trải nghiệm của Ann. Ông nhận thấy một mối gắn kết đặc biệt đã hình thành giữa một đứa trẻ và một y tá cụ thể thông qua niềm vui sướng và sự cuốn hút lẫn nhau – một quá trình tương tự như khi phải lòng một ai đó.
Quan sát của Stevens đã bác bỏ “thuyết tình yêu tủ thức ăn” (cupboard love theory) – giả thuyết cho rằng mối liên kết giữa mẹ và con chỉ dần hình thành thông qua việc chăm sóc và cho ăn. Ông phát hiện ra rằng có tới không dưới một phần ba số trẻ sơ sinh nảy sinh sự gắn bó với những y tá hầu như chưa từng hoặc rất ít khi làm công việc chăm sóc thường nhật cho chúng trước khi mối liên kết đó thành hình. Về sau, người y tá ấy chắc chắn sẽ chăm sóc đứa trẻ nhiều hơn, thường là vì cô đáp lại tình cảm đó, nhưng cũng vì đứa trẻ thường từ chối để bất kỳ y tá nào khác chăm nom khi y tá “của riêng mình” đang ở gần đó.
Một số người mẹ mới sinh con cảm nhận được sự gắn kết tức thì với đứa con vừa chào đời; một tình yêu bảo bọc mãnh liệt cùng sự dịu dàng sâu sắc dâng trào trong họ khi bế trên tay sinh linh bé bỏng, yếu ớt và quý giá mà họ vừa mang nặng đẻ đau. Ta nói rằng đứa trẻ đã đánh thức nguyên mẫu người mẹ ở những phụ nữ ấy. Tuy nhiên, đối với một số người mẹ khác, tình mẫu tử lại lớn dần qua từng tháng và chỉ trở nên rõ nét khi đứa trẻ được tám hoặc chín tháng tuổi.
Khi việc sinh con không kích hoạt “người mẹ” bên trong một phụ nữ, cô ấy thường nhận thức được rằng mình không cảm thấy điều mà các bà mẹ khác cảm nhận, hoặc điều mà chính cô từng cảm thấy với một đứa con khác. Đứa trẻ sẽ thiếu vắng một sự kết nối thiết yếu khi nguyên mẫu “người mẹ” không được kích hoạt, và nó sẽ không ngừng khao khát điều đó. (Mặc dù vậy, như trường hợp các y tá tại trại trẻ mồ côi Hy Lạp, khuôn mẫu người mẹ - con cái mang tính nguyên mẫu có thể được bù đắp qua một người phụ nữ không phải là mẹ ruột.) Sự khao khát mối gắn kết bị bỏ lỡ ấy có thể kéo dài cho đến tận tuổi trưởng thành. Một phụ nữ bốn mươi chín tuổi tham gia nhóm phụ nữ cùng tôi đã bật khóc nức nở khi kể về cái chết của mẹ mình, bởi giờ đây khi mẹ đã qua đời, mối liên kết mà bà hằng mong mỏi sẽ vĩnh viễn không bao giờ có thể thành hình.
Giống như việc “người mẹ” là một trạng thái hiện sinh sâu sắc mà một đứa trẻ có thể đánh thức ở người phụ nữ, mỗi đứa trẻ sinh ra cũng được “lập trình” để tìm kiếm “người mẹ”. Ở cả mẹ lẫn con (và do đó ở tất cả con người), hình ảnh người mẹ luôn gắn liền với những hành vi và cảm xúc mẫu tử. Hình ảnh nội tâm hoạt động trong tâm trí này – một hình ảnh quyết định hành vi và phản ứng cảm xúc một cách vô thức – chính là một nguyên mẫu (archetype).
“Người mẹ” chỉ là một trong nhiều nguyên mẫu – hay những vai trò tiềm ẩn được định hình từ bên trong – có thể được kích hoạt ở một phụ nữ. Khi nhận diện được các nguyên mẫu khác nhau, ta có thể nhìn thấy rõ ràng hơn điều gì đang vận hành bên trong chính mình và ở người khác. Trong cuốn sách này, tôi sẽ giới thiệu những nguyên mẫu đang hoạt động trong tâm trí phụ nữ, được nhân cách hóa qua hình tượng các nữ thần Hy Lạp. Chẳng hạn, Demeter – nữ thần mẫu tử – là hiện thân của nguyên mẫu người mẹ. Những nhân vật khác bao gồm Persephone (người con gái), Hera (người vợ), Aphrodite (người tình), Artemis (người chị em và đối thủ cạnh tranh), Athena (nhà chiến lược), và Hestia (người giữ lửa gia đình). Tất nhiên, với tư cách là tên gọi của các nguyên mẫu, tên các nữ thần chỉ hữu ích khi hình tượng đó khớp với cảm xúc của người phụ nữ, bởi bản thân các nguyên mẫu vốn không thực sự mang tên gọi cụ thể nào.
C. G. Jung đã đưa khái niệm nguyên mẫu vào tâm lý học. Ông xem các nguyên mẫu là những mô thức hành vi bản năng nằm trong vô thức tập thể. Vô thức tập thể là phần vô thức không mang tính cá nhân mà mang tính phổ quát, chứa đựng những nội dung và phương thức hành vi gần như tương đồng ở mọi nơi và ở tất cả mọi cá nhân. Thần thoại và truyện cổ tích chính là những biểu hiện của các nguyên mẫu, cũng như nhiều hình ảnh và chủ đề xuất hiện trong giấc mơ. Sự hiện diện của các khuôn mẫu nguyên mẫu chung ở tất cả mọi người lý giải cho sự tương đồng trong thần thoại của nhiều nền văn hóa khác nhau. Với tư cách là những khuôn mẫu tiền định, chúng định hình cách ta ứng xử và cách ta phản ứng với người khác.
CÁC NỮ THẦN NHƯ NHỮNG NGUYÊN MẪU
Hầu hết chúng ta từng được học về các nam thần và nữ thần trên đỉnh Olympus vào một thời điểm nào đó ở trường học, cũng như từng chiêm ngưỡng các bức tượng hay tranh vẽ về họ. Người La Mã cũng thờ phụng chính những vị thần này nhưng gọi họ bằng tên Latinh. Các vị thần trên đỉnh Olympus mang những nét tính cách rất con người: hành vi, phản ứng cảm xúc, diện mạo và những câu chuyện thần thoại của họ mang lại cho chúng ta những khuôn mẫu tương đồng với hành vi và thái độ của con người. Họ cũng rất quen thuộc với chúng ta vì họ mang tính nguyên mẫu; nghĩa là họ đại diện cho những hình mẫu hiện sinh và hành xử mà ta nhận biết được từ vô thức tập thể mà tất cả chúng ta cùng chia sẻ.
Nổi tiếng nhất trong số đó là Mười hai vị thần đỉnh Olympus: sáu nam thần (Zeus, Poseidon, Hades, Apollo, Ares, Hephaestus) và sáu nữ thần (Hestia, Demeter, Hera, Artemis, Athena và Aphrodite). Một trong mười hai vị, Hestia (Nữ thần Lửa bếp), sau này đã nhường vị trí cho Dionysus (Thần Rượu nho), từ đó làm thay đổi cán cân nam/nữ thành bảy nam thần và năm nữ thần. Các nguyên mẫu nữ thần mà tôi mô tả trong cuốn sách này gồm sáu nữ thần đỉnh Olympus – Hestia, Demeter, Hera, Artemis, Athena và Aphrodite – cùng với Persephone, người có câu chuyện thần thoại gắn liền không thể tách rời với Demeter.
Tôi chia bảy vị nữ thần này thành ba nhóm: các nữ thần trinh nữ, các nữ thần dễ bị tổn thương, và nữ thần luyện kim (hay biến đổi). Nhóm các nữ thần trinh nữ từng được người Hy Lạp cổ đại xếp chung với nhau. Hai nhóm còn lại là sự phân loại của riêng tôi. Trạng thái ý thức, vai trò ưa thích và các yếu tố tạo động lực là những đặc điểm phân biệt của từng nhóm. Thái độ đối với người khác, nhu cầu gắn bó và tầm quan trọng của các mối quan hệ cũng hoàn toàn khác biệt ở mỗi nhóm. Các nữ thần đại diện cho cả ba nhóm này đều cần được biểu đạt ở một giai đoạn hay khía cạnh nào đó trong cuộc đời người phụ nữ – để cô có thể yêu sâu sắc, làm việc có ý nghĩa, đồng thời có được sự gợi cảm và sức sáng tạo.
Nhóm đầu tiên bạn sẽ gặp trong những trang sách này là các nữ thần trinh nữ: Artemis, Athena và Hestia. Artemis (người La Mã gọi là Diana) là Nữ thần Săn bắn và Mặt trăng. Lãnh địa của nàng là chốn hoang dã. Nàng là tay cung bách phát bách trúng và là người bảo hộ cho con non của muôn loài. Athena (được người La Mã biết đến với tên Minerva) là Nữ thần Trí tuệ và Thủ công mỹ nghệ; vị thần bảo hộ cho thành phố mang tên nàng – Athens; và là đấng chở che cho vô số anh hùng. Nàng thường được khắc họa trong bộ áo giáp và được xem là nhà chiến lược tài ba nhất trong trận mạc. Hestia, Nữ thần Lửa bếp (nữ thần Vesta của La Mã), là vị thần ít được biết đến nhất trong số các vị thần Olympus. Nàng hiện diện trong các mái ấm và đền thờ dưới hình hài ngọn lửa nơi trung tâm gian bếp.
Các nữ thần trinh nữ đại diện cho phẩm chất độc lập, tự chủ ở phụ nữ. Không giống như các vị thần Olympus khác, ba vị này không dễ rơi vào lưới tình. Những ràng buộc tình cảm không làm họ xao nhãng khỏi những điều họ coi là trọng đại. Họ không bị biến thành nạn nhân và không phải chịu đựng đau khổ. Với tư cách là các nguyên mẫu, họ thể hiện nhu cầu tự chủ của phụ nữ, cũng như năng lực tập trung tâm trí vào những gì có ý nghĩa với bản thân. Artemis và Athena đại diện cho tư duy hướng đích và lý tính, biến họ thành những nguyên mẫu hướng tới thành tựu. Hestia là nguyên mẫu hướng sự chú ý vào bên trong, hướng tới trung tâm tâm linh trong nhân cách của người phụ nữ. Ba nữ thần này là những nguyên mẫu nữ tính chủ động theo đuổi mục tiêu của riêng mình. Họ mở rộng nhận thức của chúng ta về các phẩm chất nữ tính, bao gồm cả năng lực hành động và tính tự lực cánh sinh.
Nhóm thứ hai – Hera, Demeter và Persephone – được tôi gọi là các nữ thần dễ bị tổn thương. Hera (người La Mã gọi là Juno) là Nữ thần Hôn nhân. Nàng là vợ của Zeus, chúa tể các vị thần đỉnh Olympus. Demeter (nữ thần Ceres của La Mã) là Nữ thần Nông nghiệp và Mùa màng. Trong câu chuyện thần thoại quan trọng nhất về nàng, vai trò làm mẹ được nhấn mạnh đặc biệt. Persephone (Proserpina trong tiếng Latinh) là con gái của Demeter. Người Hy Lạp còn gọi nàng là Kore – “thiếu nữ”.
Ba nữ thần dễ bị tổn thương đại diện cho những vai trò truyền thống: người vợ, người mẹ và người con gái. Họ là những nguyên mẫu nữ thần hướng về mối quan hệ, nơi mà danh tính và hạnh phúc của họ phụ thuộc vào việc có được một mối gắn kết quan trọng. Họ thể hiện nhu cầu thuộc về và gắn bó của phụ nữ. Họ nhạy cảm với người khác và dễ bị tổn thương. Cả ba vị nữ thần này đều từng bị các nam thần cưỡng hiếp, bắt cóc, áp bức hoặc làm nhục. Mỗi người đều phải chịu đựng nỗi đau theo cách riêng của mình khi một mối dây gắn kết bị cắt đứt hoặc bị chà đạp, và họ bộc lộ những triệu chứng tương tự như các chứng bệnh tâm lý. Tuy nhiên, mỗi người trong số họ cũng đều tiến hóa, và có thể mang lại cho phụ nữ cái nhìn sâu sắc về bản chất cũng như quy luật phản ứng của chính mình trước sự mất mát, cùng tiềm năng trưởng thành qua đau khổ vốn ẩn chứa trong mỗi nguyên mẫu này.
Aphrodite, Nữ thần Tình yêu và Sắc đẹp (nổi tiếng nhất với tên gọi La Mã là Venus), nằm trong một nhóm thứ ba hoàn toàn riêng biệt: nữ thần luyện kim. Nàng là vị nữ thần xinh đẹp và quyến rũ bậc nhất. Nàng có rất nhiều cuộc tình và sinh ra nhiều người con từ những mối tình ấy. Nàng khơi nguồn cho tình yêu, vẻ đẹp, sự hấp dẫn nhục cảm, tính dục và sự sống mới. Nàng bước vào các mối quan hệ theo sự lựa chọn của chính mình và không bao giờ bị biến thành nạn nhân. Do đó, nàng vừa giữ được tính tự chủ như một nữ thần trinh nữ, lại vừa dấn thân vào các mối quan hệ như một nữ thần dễ bị tổn thương. Ý thức của nàng vừa tập trung vừa rộng mở đón nhận, cho phép một sự tương tác hai chiều tác động lên cả nàng lẫn đối phương. Nguyên mẫu Aphrodite thôi thúc phụ nữ tìm kiếm sự mãnh liệt trong các mối quan hệ thay vì sự vĩnh cửu, biết trân trọng tiến trình sáng tạo và sẵn sàng đón nhận đổi thay.
CÂY PHẢ HỆ
Để hiểu rõ hơn các nữ thần là ai và họ có mối quan hệ như thế nào với các vị thần khác, trước hết chúng ta hãy đặt họ vào bối cảnh thần thoại. Ở đây, chúng ta ghi nhận công lao của Hesiod (khoảng năm 700 TCN), người đầu tiên đã nỗ lực sắp xếp vô số truyền thuyết về các vị thần thành một hệ thống trật tự. Tác phẩm lớn của ông, Thần phổ (Theogony), là một bản tường thuật về nguồn gốc và dòng dõi của các vị thần.
Theo Hesiod, khởi thủy là Hỗn mang (Chaos) – điểm khởi đầu của vạn vật. Từ Chaos sinh ra Gaea (Mẹ Đất), Tartarus tăm tối (vực sâu hun hút của cõi âm) và Eros (Tình yêu).
Gaea, Đất Mẹ mang tính nữ, đã sinh ra một người con trai là Uranus, tức Bầu Trời. Sau đó, bà kết hợp với Uranus để tạo ra mười hai Titan – những thế lực tự nhiên nguyên sơ cổ xưa từng được tôn thờ trong lịch sử Hy Lạp. Trong phả hệ của Hesiod, các Titan là triều đại cai trị thuở ban đầu, là cha mẹ và ông bà của các vị thần đỉnh Olympus.
Uranus, hình tượng người cha hay biểu tượng phụ quyền đầu tiên trong thần thoại Hy Lạp, dần nảy sinh lòng căm ghét những đứa con mà ông sinh ra cùng Gaea, nên đã chôn vùi chúng vào sâu trong lòng đất mẹ ngay khi chúng vừa lọt lòng. Điều này khiến Gaea vô cùng đau đớn và quằn quại. Bà kêu gọi các con Titan cứu giúp. Tất cả đều sợ hãi không dám can thiệp, ngoại trừ người con út là Cronos (người La Mã gọi là Saturn). Chàng đã đáp lại lời kêu cứu của mẹ, cầm lấy chiếc liềm mà bà trao cùng kế hoạch bà đã vạch sẵn, rồi phục kích cha mình.
Khi Uranus đến để giao hợp với Gaea và phủ trùm lên bà, Cronos đã vung liềm thiến đứt bộ phận sinh dục của cha rồi ném xuống biển. Kể từ đó, Cronos trở thành nam thần quyền lực nhất. Chàng cùng các Titan cai quản vũ trụ và tạo ra những vị thần mới. Nhiều vị đại diện cho các yếu tố tự nhiên như sông ngòi, gió bão và cầu vồng. Những vị khác lại là quái vật, hiện thân của cái ác hoặc những hiểm nguy.
Cronos kết đôi với người chị em Titan của mình là Rhea. Từ cuộc hôn phối này, thế hệ thần Olympus đầu tiên đã ra đời: Hestia, Demeter, Hera, Hades, Poseidon và Zeus.
Một lần nữa, người cha khởi nguồn của chế độ phụ quyền – lần này là Cronos – lại tìm cách tiêu diệt những đứa con của mình. Được cảnh báo trước rằng số phận của mình sẽ bị chính con trai lật đổ và quyết tâm không để điều đó xảy ra, ông nuốt chửng từng đứa con ngay sau khi sinh – thậm chí chẳng buồn nhìn xem đứa trẻ sơ sinh là trai hay gái. Tổng cộng, ông đã nuốt chửng ba người con gái và hai người con trai.
Đau đớn tột cùng trước số phận của các con và khi lại mang thai một lần nữa, Rhea đã cầu xin Gaea và Uranus giúp bà cứu lấy đứa con cuối cùng này, đồng thời trừng phạt Cronos vì tội thiến cha và nuốt sống năm đứa con. Cha mẹ khuyên bà hãy đến đảo Crete khi đến kỳ sinh nở và đánh lừa Cronos bằng cách quấn một tảng đá trong tã lót. Trong cơn vội vã, Cronos đã nuốt chửng tảng đá vì tưởng đó là đứa con.
Đứa con cuối cùng được cứu sống ấy chính là Zeus, người mà về sau thực sự đã lật đổ cha mình để trị vì muôn loài và các vị thần. Được nuôi dưỡng trong bí mật, sau này chàng đã lừa cha nôn ra các anh chị em của mình. Với sự trợ giúp của họ, Zeus bước vào một cuộc chiến trường kỳ giành quyền tối thượng, kết thúc bằng sự thất bại của Cronos và các Titan, cùng việc giam cầm họ dưới ngục tối Tartarus.
Sau chiến thắng, ba anh em thần linh – Zeus, Poseidon và Hades – đã bốc thăm để phân chia vũ trụ. Zeus nhận được bầu trời, Poseidon cai quản biển cả, và Hades trị vì cõi âm. Mặc dù mặt đất và đỉnh Olympus được coi là lãnh địa chung, Zeus dần mở rộng quyền thống trị lên cả những khu vực này. Ba người chị em gái – Hestia, Demeter và Hera – không có quyền sở hữu lãnh địa, hoàn toàn phản ánh đúng bản chất phụ hệ của tôn giáo Hy Lạp thời bấy giờ.
Thông qua các mối quan hệ tình ái, Zeus đã sinh ra thế hệ thần linh tiếp theo: Artemis và Apollo (Thần Mặt Trời) là con của Zeus và Leto; Athena là con gái của Zeus và Metis; Persephone là con gái của Demeter và Zeus; Hermes (Thần Sứ giả) là con trai của Zeus và Maia; trong khi Ares (Thần Chiến tranh) và Hephaestus (Thần Lò rèn) là con của ông với người vợ chính thức Hera. Có hai dị bản về nguồn gốc của Aphrodite: một bản cho rằng nàng là con gái của Zeus và Dione; bản khác lại cho rằng nàng xuất hiện trước cả Zeus. Zeus cũng sinh ra Dionysus trong một mối tình với người phàm Semele.
Ở cuối cuốn sách này có một bảng danh sách nhân vật: tóm tắt tiểu sử các nam thần và nữ thần được xếp theo thứ tự bảng chữ cái để bạn đọc tiện tra cứu và theo dõi các nhân vật trong thần thoại Hy Lạp.
LỊCH SỬ VÀ THẦN THOẠI
Thần thoại khai sinh ra các vị thần Hy Lạp này bắt nguồn từ các sự kiện lịch sử có thật. Đó là một nền thần thoại phụ hệ đề cao Zeus và các vị anh hùng, phản ánh sự va chạm và khuất phục của những cộng đồng theo tín ngưỡng thờ Mẫu trước những kẻ xâm lược mang theo các nam thần chiến binh và hệ tư tưởng tôn giáo lấy người cha làm trung tâm.
Marija Gimbutas, giáo sư khảo cổ học châu Âu tại Đại học California ở Los Angeles, đã mô tả về “Châu Âu Cổ đại” – nền văn minh đầu tiên của lục địa này. Tồn tại ít nhất 5.000 năm (hoặc thậm chí 25.000 năm) trước sự trỗi dậy của các tôn giáo tôn sùng nam giới, Châu Âu Cổ đại là một nền văn hóa mẫu hệ, định cư, chuộng hòa bình, yêu nghệ thuật, gắn bó mật thiết với đất và biển, nơi người dân tôn thờ Đại Nữ Thần. Bằng chứng thu thập được từ các khu mộ táng cho thấy Châu Âu Cổ đại là một xã hội bình đẳng, không phân tầng giai cấp, nhưng đã bị tàn phá bởi cuộc xâm lăng của các tộc người Ấn-Âu bán du mục, cưỡi ngựa đến từ phương bắc và phương đông xa xôi. Những kẻ xâm lược này mang tính phụ hệ, ưa dịch chuyển, hiếu chiến, tôn thờ bầu trời về mặt tư tưởng và thờ ơ với nghệ thuật.
Kẻ xâm lược tự coi mình là giống loài thượng đẳng nhờ khả năng chinh phục những cư dân bản địa vốn phát triển văn hóa cao hơn – những người tôn thờ Đại Nữ Thần. Được biết đến dưới nhiều tên gọi – như Astarte, Ishtar, Inanna, Nut, Isis, Ashtoreth, Au Set, Hathor, Nina, Nammu, và Ningal cùng nhiều danh xưng khác – Đại Nữ Thần được tôn kính như một sinh lực nữ tính gắn bó sâu sắc với thiên nhiên và sự phì nhiêu, nắm giữ cả quyền năng kiến tạo lẫn hủy diệt sự sống. Con rắn, chim bồ câu, cây cối và mặt trăng là những biểu tượng thiêng liêng của bà. Theo nhà sử học kiêm nghiên cứu thần thoại Robert Graves, trước khi các tôn giáo phụ hệ xuất hiện, Đại Nữ Thần được coi là bất tử, bất biến và toàn năng. Bà tìm kiếm người tình không phải để tìm cha cho con mình, mà thuần túy vì sự hoan lạc. Khái niệm về cương vị người cha khi ấy chưa từng xuất hiện trong tư tưởng tôn giáo, và cũng chưa hề có các nam thần.
Những làn sóng xâm lăng liên tiếp của người Ấn-Âu đã khởi đầu cho sự phế truất Đại Nữ Thần. Các mốc thời gian diễn ra những đợt xâm lăng này được các học giả ước tính là vào khoảng từ năm 4500 TCN đến năm 2400 TCN. Các nữ thần không bị xóa bỏ hoàn toàn mà bị đồng hóa vào tôn giáo của những kẻ xâm lược.
Những kẻ xâm lăng đã áp đặt nền văn hóa phụ hệ và tôn giáo chiến binh của chúng lên những người bị khuất phục. Đại Nữ Thần biến thành người vợ phục tùng các nam thần của kẻ xâm lược, còn những phẩm chất hay quyền năng vốn thuộc về thần tính nữ đã bị tước đoạt và chuyển giao cho một nam thần. Những vụ cưỡng hiếp lần đầu tiên xuất hiện trong các câu chuyện thần thoại, và các huyền thoại về việc các nam anh hùng tiêu diệt loài rắn – biểu tượng thiêng liêng của Đại Nữ Thần – bắt đầu nảy sinh. Và đúng như những gì được phản ánh trong thần thoại Hy Lạp, những phẩm chất, biểu tượng và quyền năng từng quy tụ trọn vẹn ở một Đại Nữ Thần duy nhất nay đã bị chia nhỏ cho nhiều nữ thần khác nhau. Nhà nghiên cứu thần thoại Jane Harrison nhận định rằng Đại Mẫu Thần đã bị phân mảnh thành nhiều nữ thần nhỏ hơn, mỗi vị tiếp nhận một phần phẩm chất từng thuộc về bà: Hera nhận lấy nghi thức hôn phối thiêng liêng, Demeter giữ các bí pháp màu nhiệm, Athena có biểu tượng loài rắn, Aphrodite có loài chim bồ câu, và Artemis nhận vai trò “Chúa tể Muôn loài Hoang dã”.
Theo Merlin Stone, tác giả cuốn Khi Thượng Đế Là Phụ Nữ (When God Was a Woman), sự phế truất Đại Nữ Thần do những kẻ xâm lược Ấn-Âu khởi xướng cuối cùng đã được hoàn tất bởi các tôn giáo Do Thái giáo, Kitô giáo và Hồi giáo xuất hiện sau này. Nam thần đã chiếm giữ vị trí tối thượng. Các nữ thần dần lui vào bóng tối mờ nhạt, và thân phận phụ nữ trong xã hội cũng chịu chung số phận tương tự. Stone nhận xét: “Chúng ta có thể tự hỏi rằng liệu việc đàn áp các nghi lễ tôn vinh phụ nữ có thực chất chính là sự chà đạp lên quyền lợi của phụ nữ hay không.”
CÁC NỮ THẦN TRONG LỊCH SỬ VÀ CÁC NGUYÊN MẪU
Đại Nữ Thần từng được tôn thờ như Đấng Kiến tạo và Kẻ Hủy diệt Sự sống, chịu trách nhiệm cho cả sự màu mỡ lẫn tính tàn phá khốc liệt của tự nhiên. Và Đại Nữ Thần vẫn tồn tại như một nguyên mẫu trong vô thức tập thể. Tôi thường cảm nhận được sự hiện diện đầy uy lực của Đại Nữ Thần ở các bệnh nhân của mình. Một trong những bệnh nhân mắc chứng trầm cảm sau sinh của tôi đã tự đồng nhất mình với Đại Nữ Thần – trong khía cạnh khủng khiếp của bà. Gwen là một người mẹ trẻ rơi vào trạng thái loạn thần sau khi sinh con. Đinh ninh rằng mình đã nuốt chửng cả thế giới, cô vừa gặp ảo giác vừa rơi vào trầm cảm nặng nề. Cô đi đi lại lại trong phòng sinh hoạt chung của bệnh viện, đau đớn khôn xiết trong cảm giác tội lỗi và phiền muộn. Khi tôi bước đi cùng để bầu bạn, cô thường nói với tôi rằng cô đã “nuốt chửng và phá hủy cả thế giới”. Trong suốt thai kỳ, cô đã đồng nhất mình với Đại Nữ Thần ở khía cạnh tích cực là Đấng Tạo hóa Sự sống. Giờ đây, sau khi sinh, cô lại cảm thấy mình là Đại Nữ Thần nắm trong tay quyền năng hủy diệt những gì mình tạo ra – và cô tin rằng mình đã làm như vậy. Niềm tin cảm xúc của cô mãnh liệt đến mức cô phớt lờ mọi bằng chứng cho thấy thế giới xung quanh vẫn đang tồn tại bình thường.
Nguyên mẫu này cũng vẫn tồn tại trong khía cạnh tích cực của nó. Chẳng hạn, hình ảnh Đại Nữ Thần với vai trò người duy trì sự sống là hình dung của một người tin chắc rằng mạng sống của chính mình phụ thuộc hoàn toàn vào việc duy trì mối liên kết với một người phụ nữ cụ thể. Người phụ nữ ấy đã bị “ngộ nhận” là Đại Nữ Thần. Đây là một sự ngộ nhận khá phổ biến. Khi sự đổ vỡ của mối quan hệ này gây ra sự tàn phá nặng nề đến mức đẩy ai đó vào việc tự sát, thì mạng sống của họ quả thực đã hoàn toàn phụ thuộc vào điều đó theo đúng nghĩa đen.
Tương xứng với quyền năng mà Đại Nữ Thần nắm giữ khi còn được thờ phụng, nguyên mẫu Đại Nữ Thần mang lại tác động mạnh mẽ nhất so với bất kỳ nguyên mẫu nào khác; nó có khả năng khơi gợi những nỗi sợ hãi phi lý và bóp méo thực tại. Các nữ thần Hy Lạp ít quyền năng hơn Đại Nữ Thần và mang tính chuyên biệt hóa cao hơn. Mỗi vị đều có lĩnh vực và quyền năng riêng bị giới hạn trong phạm vi đó. Trong tâm trí phụ nữ cũng vậy, các nữ thần Hy Lạp là những nguồn lực ít áp đảo hơn Đại Nữ Thần; khả năng gây choáng ngợp về mặt cảm xúc và bóp méo thực tại của họ cũng thấp hơn.
Trong số bảy nữ thần Hy Lạp đại diện cho những khuôn mẫu nguyên mẫu lớn và phổ biến ở phụ nữ, Aphrodite, Demeter và Hera có quyền lực chi phối hành vi mạnh mẽ nhất. Ba vị này có mối liên hệ mật thiết với Đại Nữ Thần hơn bốn vị còn lại. Aphrodite là một phiên bản thu nhỏ của Đại Nữ Thần trong vai trò Nữ thần Sinh sôi nảy nở. Demeter là phiên bản thu nhỏ của Đại Nữ Thần trong vai trò Đại Mẫu Thần. Hera là phiên bản thu nhỏ của Đại Nữ Thần trong vai trò Nữ hoàng Thiên đình. Tuy nhiên, dù mỗi người đều là phiên bản “thu nhỏ” so với Đại Nữ Thần, họ vẫn đại diện cho những động lực bản năng mạnh mẽ trong tâm trí có thể chi phối dữ dội khi chúng “đòi hỏi phần quyền lợi của mình” – như chúng ta sẽ thấy trong các chương tiếp theo.
Những phụ nữ chịu sự tác động của bất kỳ ai trong ba vị nữ thần này đều phải học cách kháng cự, bởi việc mù quáng làm theo mệnh lệnh của Aphrodite, Demeter hay Hera có thể tác động tiêu cực đến cuộc sống của họ. Những nguyên mẫu này – cũng giống như các nữ thần Hy Lạp cổ đại tương ứng – không hề bận tâm đến những lợi ích tốt nhất của người phụ nữ trần thế hay các mối quan hệ của cô ấy với người khác. Các nguyên mẫu tồn tại ngoài dòng thời gian, hoàn toàn không đoái hoài đến những thực tế hay nhu cầu trong cuộc sống của người phụ nữ.
Ba trong số bốn nguyên mẫu còn lại – Artemis, Athena và Persephone – là những nữ thần “thiếu nữ”, thuộc thế hệ những người con gái. Ba vị này cách Đại Nữ Thần thêm một thế hệ nữa. Với tư cách là các nguyên mẫu, chúng tương ứng ít áp đảo hơn và chủ yếu định hình nên những nét tính cách.
Và Hestia, vị nữ thần lớn tuổi nhất, khôn ngoan nhất và được tôn kính nhất trong tất cả, lại hoàn toàn tránh xa quyền lực. Nàng đại diện cho một yếu tố tâm linh mà người phụ nữ rất nên trân trọng và tôn vinh.
CÁC NỮ THẦN HY LẠP VÀ PHỤ NỮ ĐƯƠNG ĐẠI
Các nữ thần Hy Lạp là những hình tượng phụ nữ đã sống trong trí tưởng tượng của nhân loại suốt hơn ba ngàn năm qua. Các nữ thần là những mô thức hay hình ảnh đại diện cho bản chất của phụ nữ – với nhiều quyền năng và sự đa dạng trong hành vi hơn những gì phụ nữ trong lịch sử từng được phép thể hiện. Họ xinh đẹp và mạnh mẽ. Họ được thôi thúc bởi những điều có ý nghĩa đối với chính mình, và – như tôi khẳng định trong cuốn sách này – họ đại diện cho những khuôn mẫu hay nguyên mẫu bẩm sinh có thể định hình toàn bộ tiến trình cuộc đời của một người phụ nữ.
Các nữ thần này rất khác biệt nhau. Mỗi vị đều mang trong mình cả những nét tính cách tích cực lẫn những mặt tiêu cực tiềm ẩn. Thần thoại về họ cho thấy điều gì quan trọng với họ và thể hiện qua ẩn dụ những gì một người phụ nữ mang nét tương đồng với họ có thể sẽ làm.
Tôi cũng dần nhận ra rằng các nữ thần Hy Lạp trên đỉnh Olympus – mỗi người mang một nét độc đáo riêng và một số thậm chí còn đối đầu gay gắt với nhau – chính là một ẩn dụ cho sự đa dạng và xung đột nội tâm bên trong những người phụ nữ phức tạp và đa diện. Mọi nữ thần đều có tiềm năng hiện diện trong mỗi người phụ nữ. Khi nhiều nữ thần cùng tranh giành vị thế thống trị trong tâm trí một phụ nữ, cô ấy cần phải tự mình quyết định xem nên bộc lộ khía cạnh nào của bản thân và vào thời điểm nào. Nếu không, cô sẽ liên tục bị giằng xé, lúc nghiêng về hướng này, lúc lại trôi dạt sang hướng khác.
Các nữ thần Hy Lạp cũng sống trong một xã hội phụ hệ tương tự như chúng ta. Các nam thần thống trị mặt đất, bầu trời, đại dương và cõi âm. Mỗi nữ thần độc lập đều tự thích nghi với thực tế này theo cách riêng của mình: bằng cách tách biệt khỏi đàn ông, hòa nhập cùng nam giới như một người trong số họ, hoặc thu mình quay về thế giới nội tâm. Mỗi nữ thần coi trọng một mối quan hệ cụ thể đều dễ bị tổn thương và tương đối yếu thế khi so sánh với các nam thần – những người có thể khước từ điều nàng muốn và áp chế nàng bằng quyền lực. Do đó, các nữ thần đại diện cho những khuôn mẫu phản chiếu chính đời sống con người trong một nền văn hóa phụ hệ.
CHƯƠNG 2: ĐÁNH THỨC CÁC NỮ THẦN
Thời Hy Lạp cổ đại, phụ nữ hiểu rằng thiên hướng hay mỗi giai đoạn trong đời sẽ đặt họ dưới sự bảo trợ của một vị nữ thần nhất định mà họ tôn kính: thợ dệt cần sự bảo hộ của Athena, thiếu nữ nằm dưới sự chở che của Artemis, còn phụ nữ đã kết hôn lại tôn sùng Hera. Phụ nữ thờ phụng và dâng lễ vật lên bàn thờ của vị nữ thần mà họ cần nương tựa. Sản phụ cầu xin Artemis giúp họ vượt cạn không đau đớn; họ đón Hestia ngự trị bên bếp lửa để biến một căn nhà thành tổ ấm sum vầy. Các nữ thần là những đấng linh thiêng đầy quyền năng, được phụng sự bằng nghi lễ, sự sùng kính, lễ vật và đồ hiến tế. Phụ nữ cũng dâng trọn lòng tôn kính vì họ sợ cơn thịnh nộ và sự trừng phạt từ thần linh nếu chẳng may bất kính.
Trong tâm thức của người phụ nữ hiện đại, các nữ thần tồn tại dưới dạng những nguyên mẫu tâm lý (archetypes), và cũng như thời Hy Lạp cổ đại, họ có thể đòi hỏi quyền uy và chi phối "thần dân" của mình. Dù không hề hay biết bản thân đang chịu ảnh hưởng của vị nữ thần nào, người phụ nữ vẫn có thể "dâng trọn lòng trung thành" cho một nguyên mẫu nhất định trong một giai đoạn hoặc suốt cả cuộc đời.
Chẳng hạn, thời thiếu nữ, một cô gái có thể si mê con trai và dễ dàng say nắng; cô có thể quan hệ tình dục sớm và đối mặt với nguy cơ mang thai ngoài ý muốn—mà không hề biết mình đang chịu sự chi phối của Aphrodite, Nữ thần Tình yêu, người mà thôi thúc gắn kết và sinh sản có thể khiến một thiếu nữ non nớt trở tay không kịp. Hoặc cô có thể được Artemis che chở—vị nữ thần coi trọng sự trinh bạch và say mê thiên nhiên hoang dã—trở thành một cô bé mê cưỡi ngựa hay một nữ hướng đạo sinh thích đeo ba lô đi phượt. Hoặc cô có thể là một Athena thu nhỏ, vùi đầu vào sách vở, hào hứng tham gia các cuộc thi khoa học, được Nữ thần Trí tuệ thôi thúc để đạt điểm cao và nhận được sự công nhận. Hay ngay từ lúc bắt đầu chơi búp bê, cô đã là một Demeter chớm nở, luôn mơ màng về ngày mình có một đứa con thực sự. Hoặc cô giống như nàng thiếu nữ Persephone mải miết hái hoa trên đồng cỏ, một cô gái trẻ sống không mục đích, chỉ thụ động đợi chờ điều gì đó hay ai đó đưa mình đi.
Mọi nữ thần đều là những khuôn mẫu tiềm tàng trong tâm trí của mọi phụ nữ, nhưng ở mỗi cá nhân, chỉ một vài khuôn mẫu được đánh thức (tiếp thêm năng lượng hoặc phát triển), còn những khuôn mẫu khác thì ngủ yên. Sự hình thành tinh thể là phép ẩn dụ mà Carl Jung dùng để giải thích sự khác biệt giữa các khuôn mẫu nguyên mẫu (mang tính phổ quát) và các nguyên mẫu được kích hoạt (đang vận hành bên trong chúng ta): một nguyên mẫu giống như khuôn mẫu vô hình định hình cấu trúc và hình dạng của tinh thể khi nó kết tinh. Một khi tinh thể thực sự hình thành, hình dạng nhận biết được lúc này tương ứng với một nguyên mẫu đã được kích hoạt.
Các nguyên mẫu cũng có thể được ví như "bản thiết kế" nằm sẵn trong hạt giống. Việc hạt mầm phát triển ra sao phụ thuộc vào điều kiện đất đai và khí hậu, sự dồi dào hay thiếu hụt dưỡng chất, sự chăm sóc ân cần hay bỏ bê của người làm vườn, kích thước và độ sâu của chậu cây, cũng như sức sống của chính giống loài đó.
Tương tự như vậy, vị nữ thần nào (hoặc những vị nữ thần nào, vì có thể có nhiều nữ thần cùng hiện diện) được đánh thức ở một người phụ nữ trong một thời điểm nhất định sẽ phụ thuộc vào tác động tổng hợp của nhiều yếu tố đan xen: thiên hướng bẩm sinh, gia đình và văn hóa, nội tiết tố, những người xung quanh, hoàn cảnh bất khả kháng, những hoạt động tự chọn và từng giai đoạn cuộc đời.
THIÊN HƯỚNG BẨM SINH
Trẻ sơ sinh chào đời với những nét tính cách riêng—năng động, bướng bỉnh, điềm tĩnh, tò mò, thích ở một mình hay hòa đồng—những nét tính cách này tương ứng với nguyên mẫu nữ thần này nhiều hơn nữ thần khác. Khi lên hai hoặc ba tuổi, bé gái đã bộc lộ những phẩm chất đặc trưng của những vị nữ thần nhất định. Một bé gái ngoan ngoãn, vui vẻ làm theo mọi điều mẹ bảo sẽ rất khác với một cô bé sẵn sàng tự mình chạy đi khám phá xung quanh xóm làng—sự khác biệt ấy rõ rệt như giữa Persephone và Artemis.
MÔI TRƯỜNG GIA ĐÌNH VÀ CÁC NỮ THẦN
Kỳ vọng của gia đình có thể nuôi dưỡng một số nữ thần và kìm nén những nữ thần khác. Nếu cha mẹ mong muốn con gái mình phải "dịu dàng, nết na, cái gì cũng dễ thương" hay làm "trợ thủ nhỏ của mẹ", thì họ đang tán thưởng và củng cố những phẩm chất của Persephone và Demeter. Một người con gái biết rõ mình muốn gì và đòi hỏi có quyền lợi, cơ hội ngang bằng với anh trai có thể bị coi là "ngang bướng", trong khi cô chỉ đang thể hiện bản tính kiên định của Artemis; hoặc cô có thể bị nhắc nhở phải "ra dáng con gái" khi cô chỉ đang bộc lộ nét cá tính mạnh mẽ, hòa đồng như một người bạn trai của Athena. Hơn nữa, ngày nay một bé gái có thể rơi vào tình thế đảo ngược về sự kỳ vọng: em có thể bị ngăn cản việc ở nhà chơi trò "làm mẹ" hay "đồ hàng" (dù em rất thích). Thay vào đó, em bị bố mẹ đăng ký cho đi đá bóng và học các lớp giáo dục sớm (nơi cha mẹ muốn em tỏa sáng).
Khuôn mẫu nữ thần bẩm sinh của đứa trẻ luôn tương tác với kỳ vọng của gia đình. Tuy nhiên, nếu gia đình phản đối vị nữ thần ấy, cô bé không vì thế mà hết cảm thấy như vậy, dù em có thể học cách che giấu bản năng tự nhiên và lòng tự trọng của em sẽ bị tổn thương. Ngay cả khi "nữ thần bên trong" được gia đình ủng hộ thì vẫn có những mặt trái. Ví dụ, một cô gái có xu hướng nghe theo người khác do mang bản tính của Persephone có thể gặp khó khăn trong việc nhận biết điều mình thực sự muốn sau nhiều năm được khen thưởng vì làm hài lòng người khác. Còn một Athena nhí được nhảy lớp sẽ được củng cố trí tuệ nhưng lại phải trả giá bằng tình bạn cùng trang lứa. Khi thiên hướng bẩm sinh và gia đình "tiếp tay" ép một người phụ nữ phải rập khuôn theo một nữ thần duy nhất, sự phát triển của cô sẽ trở nên phiến diện và lệch lạc.
Nếu gia đình khen ngợi và khuyến khích cô gái phát triển những gì thuộc về bản năng tự nhiên, cô sẽ cảm thấy tự tin khi theo đuổi những điều có ý nghĩa với mình. Điều ngược lại sẽ xảy ra với cô gái có nguyên mẫu nữ thần bị gia đình chối bỏ. Sự phản đối không làm thay đổi bản chất vốn có, nó chỉ khiến cô gái cảm thấy tồi tệ về chính mình vì trót mang những tính cách và sở thích đó, đồng thời khiến cô cảm thấy giả tạo khi phải gượng ép sống khác với con người thật của mình.
TÁC ĐỘNG CỦA VĂN HÓA LÊN CÁC NỮ THẦN
Nền văn hóa ủng hộ "những nữ thần" nào thông qua các vai trò mà nó cho phép phụ nữ đảm nhận? Các định kiến về phụ nữ thực chất là những hình ảnh tích cực hoặc tiêu cực của các nguyên mẫu nữ thần. Trong các xã hội phụ hệ, những vai trò duy nhất được chấp nhận thường là thiếu nữ (Persephone), người vợ (Hera) và người mẹ (Demeter). Aphrodite bị lên án là "ả lăng loàn" hay "kẻ cám dỗ"—đó là sự bóp méo và hạ thấp tính gợi cảm cũng như tính dục của nguyên mẫu này. Một Hera quyết đoán hay giận dữ lại bị gán mác là "mụ đàn bà đanh đá". Thậm chí một số nền văn hóa xưa và nay còn thẳng thừng phủ nhận sự độc lập, trí tuệ hoặc tính dục ở phụ nữ—khiến mọi biểu hiện của Artemis, Athena và Aphrodite đều bị dập tắt.
Ví dụ, ở Trung Quốc thời phong kiến, tục bó chân khiến phụ nữ bị tàn tật về thể xác cũng như bị bóp nghẹt về tâm lý trong những vai trò không cho phép sự tự lập. Dưới những điều kiện như vậy, một số nữ thần chỉ có thể tồn tại trong thần thoại. Trong cuốn tiểu thuyết Nữ chiến binh (The Woman Warrior), Maxine Hong Kingston đã viết về sự xem thường và hạ thấp thân phận phụ nữ Trung Hoa vốn còn dai dẳng đến tận ngày nay. Trái lại, bà kể lại huyền thoại về một nữ anh hùng chiến binh mạnh mẽ. Câu chuyện thần thoại ấy cho thấy rằng, dẫu khuôn mẫu của một nữ thần không thể hiển lộ trong đời thực của người phụ nữ, vị nữ thần đó vẫn tìm được cách cất tiếng qua truyện cổ tích, huyền thoại và những giấc mơ của phái đẹp.
Cuộc sống của phụ nữ bị định hình bởi những vai trò được xã hội cho phép và những hình mẫu lý tưởng của thời đại. Những khuôn mẫu này thiên vị một số nữ thần hơn những nữ thần khác. Tại Hoa Kỳ, đã có những biến chuyển lớn trong kỳ vọng về việc "phụ nữ nên là người như thế nào" qua nhiều thập kỷ qua. Chẳng hạn, làn sóng bùng nổ trẻ sơ sinh (baby boom) sau Thế chiến thứ hai đã đề cao hôn nhân và thiên chức làm mẹ. Đây là thời kỳ thăng hoa cho những phụ nữ mang nhu cầu gắn kết bạn đời của Hera và bản năng làm mẹ của Demeter. Nhưng đó lại là quãng thời gian ngột ngạt đối với những phụ nữ mang phẩm chất Athena hay Artemis—những người ham học hỏi, giàu tinh thần cạnh tranh và khao khát khẳng định sự vượt trội ở những lĩnh vực khác ngoài việc tề gia nội trợ. Phụ nữ vào đại học cốt chỉ để lấy "tấm bằng phu nhân" (M.R.S. Degree), và khi đã kết hôn thì thường bỏ dở việc học. Lối sống gia đình sum vầy ở ngoại ô là chuẩn mực lý tưởng. Phụ nữ Mỹ không dừng lại ở hai con mà sinh tới ba, bốn, năm hay sáu đứa. Đến năm 1950, tỷ lệ sinh tại Hoa Kỳ lần đầu tiên và duy nhất ngang bằng với Ấn Độ.
Hai mươi năm sau, thập niên 1970 chứng kiến sự trỗi dậy của phong trào nữ quyền—những năm tháng hoàng kim của Artemis và Athena. Những phụ nữ có động lực gặt hái thành tựu nay đã được thời thế ủng hộ. Những nhà nữ quyền và phụ nữ của sự nghiệp trở thành tâm điểm của thời đại. Số lượng phụ nữ theo học tiến sĩ, kinh doanh, y khoa và luật học đông đảo hơn bao giờ hết. Lời thề hôn nhân "cho đến khi cái chết chia lìa" ngày càng bị phá vỡ nhiều hơn, và tỷ lệ sinh giảm mạnh. Trong khi đó, những phụ nữ thôi thúc bởi nhu cầu kết đôi của Hera và khao khát có con của Demeter lại phải sống trong một bầu không khí ngày càng thiếu sự đồng cảm và ủng hộ.
Khi những khuôn mẫu nguyên mẫu ở một người phụ nữ được văn hóa ủng hộ, họ có thể sống trọn với những gì mang ý nghĩa nội tâm sâu sắc và nhận được sự tán thưởng từ xã hội. Sự nâng đỡ từ các thiết chế xã hội đóng vai trò rất lớn. Ví dụ, những phụ nữ có tư duy logic bẩm sinh của Athena cần được tiếp cận với giáo dục đại học để phát triển trí tuệ; còn những phụ nữ hướng về tâm linh của Hestia sẽ phát triển rực rỡ trong các cộng đồng tôn giáo.
TÁC ĐỘNG CỦA NỘI TIẾT TỐ LÊN CÁC NỮ THẦN
Khi nội tiết tố thay đổi mạnh mẽ—vào tuổi dậy thì, trong thai kỳ và lúc mãn kinh—một số nguyên mẫu sẽ trỗi dậy lấn át các nguyên mẫu khác. Nội tiết tố kích thích sự phát triển của ngực và cơ quan sinh dục ở tuổi dậy thì có thể đánh thức vẻ gợi cảm và tính dục đặc trưng của Aphrodite. Một số cô gái trở thành những Aphrodite trẻ tuổi khi cơ thể nảy nở; trong khi những cô gái khác dù ngực phát triển và bắt đầu có kinh nguyệt nhưng lại chẳng mảy may để tâm đến con trai. Hành vi không chỉ do nội tiết tố đơn thuần quyết định, mà là kết quả từ sự tương tác qua lại giữa nội tiết tố và các nguyên mẫu nữ thần.
Việc mang thai làm gia tăng đột biến hormone progesterone giúp duy trì thai kỳ về mặt sinh lý. Một lần nữa, mỗi người phụ nữ lại phản ứng khác nhau trước sự gia tăng này. Có người cảm thấy mãn nguyện tột cùng khi bụng ngày một lớn, họ cảm giác như mình là hiện thân của Demeter, nữ thần của thiên chức làm mẹ. Nhưng cũng có những người dường như chẳng hề bận tâm đến việc mình đang mang bầu, hầu như không nghỉ làm lấy một ngày.
Mãn kinh—sự chấm dứt kinh nguyệt do suy giảm estrogen và progesterone—là một bước ngoặt nội tiết tố khác. Cách người phụ nữ đón nhận giai đoạn này lại tùy thuộc vào vị nữ thần nào đang ngự trị. Cứ mỗi một Demeter đau buồn vì rơi vào "hội chứng tổ ấm trống trải" (khi con cái trưởng thành rời đi), thì lại có—như nhà nhân học Margaret Mead nhận định—những phụ nữ khác bùng nổ nguồn năng lượng P.M.Z. (postmenopausal zest - nguồn sinh lực hậu mãn kinh). Nguồn sinh lực trỗi dậy này xuất hiện khi một nữ thần mới được nạp năng lượng cuối cùng cũng có cơ hội bước ra ánh sáng sau chuỗi ngày dài chờ đợi.
Ngay cả trong chu kỳ kinh nguyệt hàng tháng, một số phụ nữ cũng trải qua "sự chuyển đổi nữ thần", khi nội tiết tố và các nguyên mẫu tương tác và tác động lên tâm lý của họ. Những phụ nữ nhạy cảm với các biến đổi này nhận thấy rằng nửa đầu chu kỳ, họ dường như hòa nhịp hơn với các nữ thần độc lập—đặc biệt là Artemis hoặc Athena, với xu hướng hướng ngoại và xông xáo ra thế giới bên ngoài. Nhưng sang nửa sau chu kỳ, khi hormone thai kỳ progesterone tăng lên, họ cảm thấy thôi thúc "xây tổ" rõ rệt hơn, muốn quây quần bên gia đình hoặc có cảm giác cần nương tựa nhiều hơn. Lúc này, Demeter, Hera, Persephone hay Hestia lại nắm quyền chi phối mạnh mẽ nhất.
Sự biến chuyển giữa nội tiết tố và các nữ thần có thể gây ra xung đột và rối bời khi các nữ thần lần lượt tranh nhau chỗ đứng. Điển hình là trường hợp của một phụ nữ Artemis độc lập sống chung với một người đàn ông ngại cưới hoặc một người mà cô thấy không thích hợp làm chồng. Sống thử vốn là lựa chọn rất ổn với cô—cho đến khi nội tiết tố thay đổi. Đâu đó ở nửa sau chu kỳ, nhu cầu kết tóc se duyên của Hera được nội tiết tố tiếp sức. Việc chưa kết hôn bỗng khơi dậy cảm giác ấm ức hoặc bị hắt hủi, dẫn đến những trận cãi vã hàng tháng hoặc một cơn trầm cảm thoáng qua mà rồi cũng sẽ biến mất như dự đoán ngay sau khi cô có kinh nguyệt.
CON NGƯỜI VÀ BIẾN CỐ ĐÁNH THỨC CÁC NỮ THẦN
Một nữ thần có thể được đánh thức và sống dậy khi nguyên mẫu đó được gợi mở bởi một con người hay một biến cố. Chẳng hạn, một phụ nữ nhận thấy sự bất lực của người khác là chất xúc tác khó cưỡng khiến cô sẵn sàng bỏ dở mọi việc để hóa thân thành người mẹ chăm nom Demeter. Sự chuyển dịch này có thể ảnh hưởng xấu đến công việc, vì công việc là thứ cô thường xuyên bỏ mặc nhất. Cô tốn quá nhiều thời gian cho các cuộc gọi cá nhân để lắng nghe tâm sự của người khác, thường xuyên vội vã lao đi làm "sứ giả nhân từ", và đang đứng trước nguy cơ bị sa thải.
Một phụ nữ khác có thể thấy một buổi biểu tình vì nữ quyền biến mình thành một Artemis hừng hực khí thế bảo vệ lãnh địa của phụ nữ, khi cô cảm nhận được tình chị em và sức mạnh dâng trào. Và chuyện tiền bạc lại có thể biến một người phụ nữ vốn dĩ xuề xòa, trọng tình cảm thành một Athena sắc bén, thực tế, luôn bám sát hợp đồng và tính toán chi li từng đồng quyền lợi thuộc về mình.
Khi một người phụ nữ rơi vào lưới tình, sự xáo trộn này đe dọa những ưu tiên trước đây. Trong sâu thẳm tâm thức, ở cấp độ nguyên mẫu, những khuôn mẫu cũ có thể không còn đứng vững. Khi Aphrodite trỗi dậy, tầm ảnh hưởng của Athena có thể phai nhạt, khiến việc thăng tiến sự nghiệp trở nên thứ yếu so với tình yêu mới. Hoặc những giá trị đề cao hôn nhân của Hera có thể bị đánh bại nếu sự bội bạc xảy ra.
Các triệu chứng tâm thần có thể phát tác nếu mặt tối của một nữ thần bị hoàn cảnh kích hoạt. Nỗi đau mất con hoặc mất đi một mối quan hệ gắn bó có thể biến người phụ nữ thành một người mẹ Demeter đắm chìm trong tang tóc, đình trệ mọi sinh hoạt, chỉ ngồi thừ ra trong cơn trầm cảm sâu sắc và cô lập hoàn toàn. Hoặc việc người chồng tiếp xúc gần gũi với một phụ nữ quyến rũ—dù là đồng nghiệp, cấp dưới hay hàng xóm—có thể đánh thức Hera ghen tuông, biến người vợ thành kẻ đa nghi, hoang tưởng, nhìn đâu cũng thấy sự dối trá và phản bội dù thực tế chẳng có gì.
"HÀNH ĐỘNG" ĐÁNH THỨC CÁC NỮ THẦN
Câu ngạn ngữ "Hành động tạo nên bản thể" (Doing is becoming) cho thấy các nữ thần có thể được đánh thức hoặc nuôi dưỡng thông qua những hành động ta chủ động lựa chọn. Ví dụ, việc thực hành thiền định có thể dần khơi dậy và củng cố ảnh hưởng của Hestia—nữ thần hướng nội và chú tâm vào chiều sâu tâm thức. Vì tác dụng của thiền mang tính chủ quan, nên thường chỉ chính người phụ nữ mới cảm nhận được sự đổi thay. Cô có thể thiền một hoặc hai lần mỗi ngày, rồi trở lại nhịp sống thường nhật với tâm thế vững vàng, an định hơn, tận hưởng cảm giác bình yên thanh thản vốn là đặc trưng của Hestia. Đôi khi người ngoài cũng cảm nhận được sự thay đổi này, như các nhân viên văn phòng của một nữ quản lý công tác xã hội đã nhận ra rằng nhờ thiền định, bà trở nên điềm đạm hơn, bớt tất bật và giàu lòng trắc ẩn hơn.
Trái ngược với tác động êm dịu từ từ của thiền định, một phụ nữ sử dụng chất kích thích gây ảo giác có thể trải qua sự thay đổi nhận thức đột ngột. Dù tác dụng thường chỉ mang tính tạm thời, nó vẫn có thể dẫn đến những biến chuyển lâu dài trong nhân cách. Chẳng hạn, nếu một phụ nữ vốn bị Athena thống trị—nữ thần của tư duy logic và thực tế—dùng chất thức thần, cô có thể thấy mình lần đầu tiên biết đắm chìm trong các giác quan. Mọi cảnh vật cô nhìn thấy trở nên rực rỡ và lộng lẫy hơn, cô hòa mình trọn vẹn vào âm nhạc, cảm nhận sự gợi cảm và nhận ra bản thân không chỉ gói gọn trong lý trí. Nhờ đó, cô có thể chạm tới Aphrodite, tận hưởng những xúc cảm mãnh liệt trong hiện tại. Hoặc cô có thể ngắm nhìn bầu trời sao, cảm thấy hòa làm một với thiên nhiên và hóa thân thành Artemis—Nữ thần Mặt trăng, nàng thợ săn với vương quốc là chốn hoang vu. Hay trải nghiệm chất kích thích có thể kéo cô xuống "cõi âm", nơi cô đối diện với những tầng vô thức vô hình và phi lý. Cô có thể rơi vào trầm cảm, ảo giác, hoặc hoảng loạn tột độ như thể trải qua kiếp nạn của Persephone khi bị bắt cóc xuống âm phủ.
Một người phụ nữ chọn tiếp tục học lên đại học sẽ tạo điều kiện để các phẩm chất của Athena phát triển mạnh mẽ hơn. Việc nghiên cứu, sắp xếp thông tin, thi cử và viết luận đều đòi hỏi tư duy logic của Athena. Người phụ nữ chọn sinh con là đang mời gọi sự hiện diện mạnh mẽ của người mẹ Demeter. Và việc đăng ký một chuyến du ngoạn bụi bặm vào chốn rừng sâu sẽ cho Artemis cơ hội được thỏa sức vẫy vùng.
CẦU KHẨN CÁC NỮ THẦN
Rất nhiều bài thánh ca của Homer là những lời khấn nguyện gửi tới các vị thần Hy Lạp. Chẳng hạn, một bài thánh ca có thể phác họa hình ảnh nữ thần trong tâm trí người nghe bằng cách miêu tả diện mạo, phẩm hạnh và chiến công hiển hách của ngài. Sau đó, ngài được thỉnh cầu hiện diện, ngự vào mái nhà hoặc ban phước lành. Người Hy Lạp cổ đại hiểu một điều mà chúng ta có thể học hỏi: các nữ thần có thể được hình dung qua tưởng tượng và rồi được đánh thức qua lời cầu khẩn.
Trong các chương viết về từng nữ thần riêng lẻ, độc giả có thể nhận ra mình chưa hiểu rõ về một vị nữ thần nào đó. Họ có thể thấy một nguyên mẫu vốn rất hữu ích lại chưa được phát triển hoặc dường như đang "thiếu vắng" trong con người mình. Ta hoàn toàn có thể "thỉnh cầu" vị nữ thần đó bằng cách chủ động nỗ lực mường tượng, cảm nhận hoặc đón nhận sự hiện diện của ngài—tập trung nghĩ về ngài bằng trí tưởng tượng—rồi khấn xin sức mạnh đặc trưng từ ngài. Những lời thỉnh nguyện dưới đây là ví dụ:
Hỡi Athena, xin giúp con giữ được tâm trí sáng suốt trong hoàn cảnh này.
Hỡi Persephone, xin giúp con luôn cởi mở và sẵn lòng đón nhận.
Hỡi Hera, xin giúp con biết cam kết và giữ trọn lòng thủy chung.
Hỡi Demeter, xin dạy con lòng kiên nhẫn và sự bao dung, giúp con trở thành một người mẹ tốt.
Hỡi Artemis, xin giúp con kiên định hướng về mục tiêu phía trước.
Hỡi Aphrodite, xin giúp con biết yêu thương và trân quý cơ thể mình.
Hỡi Hestia, xin hãy ngự trị trong lòng con, mang đến cho con sự an yên và thanh thản.
CÁC NỮ THẦN VÀ CÁC GIAI ĐOẠN CUỘC ĐỜI
Một người phụ nữ có thể trải qua nhiều giai đoạn thăng trầm trong đời. Mỗi chặng đường có thể chịu sự chi phối mạnh mẽ nhất từ một hoặc nhiều nữ thần riêng biệt. Hoặc cô có thể sống trọn vẹn theo khuôn mẫu của một nữ thần duy nhất qua từng giai đoạn tiếp nối. Khi nhìn lại cuộc đời mình, phụ nữ thường nhận ra thời điểm nào một hoặc vài nữ thần có vai trò then chốt hay ảnh hưởng sâu sắc hơn cả.
Khi còn trẻ, cô ấy có thể dồn hết tâm trí cho việc học hành, giống như tôi thời còn học trường y. Nguyên mẫu Artemis giúp tôi kiên định với mục tiêu; trong khi đó, tôi vận dụng năng lực của Athena để tiếp thu quy trình, kiến thức chuyên môn nhằm đưa ra chẩn đoán dựa trên kết quả lâm sàng và xét nghiệm. Ngược lại, những bạn học đại học của tôi vừa tốt nghiệp đã vội lấy chồng sinh con lại đang đánh thức Hera và Demeter bên trong họ.
Tuổi trung niên là giai đoạn chuyển giao, thường mở ra sự đổi ngôi giữa các nữ thần. Đâu đó trong khoảng từ giữa những năm ba mươi đến giữa bốn mươi tuổi, nguyên mẫu thống trị mạnh mẽ nhất những năm tháng trước đây thường giảm bớt cường độ, nhường chỗ cho những nữ thần khác trỗi dậy. Thành quả từ những nỗ lực trong những năm đầu trưởng thành—hôn nhân và con cái, sự nghiệp, sáng tạo, một người đàn ông, hay sự kết hợp của những điều này—đều đã hiện rõ. Nguồn năng lượng dư dả hơn được giải phóng cho những dự định mới, như một lời mời gọi vị nữ thần khác bước lên nắm quyền. Liệu Athena có thôi thúc cô học lên cao học? Hay khát khao làm mẹ của Demeter sẽ trỗi dậy—vào cái thời điểm "bây giờ hoặc không bao giờ"?
Tiếp đến là một giai đoạn chuyển tiếp khác ở tuổi xế chiều, khi các nữ thần có thể một lần nữa đổi ngôi. Thời kỳ hậu mãn kinh có thể báo hiệu sự chuyển dịch này, tương tự như khi góa bụa, nghỉ hưu hoặc khi bắt đầu cảm thấy mình đã là bậc cao niên. Liệu người phụ nữ góa bụa lần đầu tiên phải tự mình quản lý tài chính có khám phá ra một Athena tiềm ẩn và nhận ra mình hoàn toàn có khả năng thấu hiểu chuyện đầu tư? Liệu nỗi cô đơn bất đắc dĩ có chuyển thành sự tĩnh tại an nhiên vì cô đã thấu hiểu Hestia? Hay cuộc đời bỗng trở nên trống rỗng, vô nghĩa vì Demeter chẳng còn ai để chăm sóc, vỗ về? Cũng như trong mọi chặng đường đời khác, kết cục của mỗi cá nhân phụ thuộc vào những nữ thần được đánh thức trong tâm thức, thực tế hoàn cảnh sống và những lựa chọn mà chính cô đưa ra.
CHƯƠNG 3: CÁC NỮ THẦN ĐỒNG TRINH: ARTEMIS, ATHENA VÀ HESTIA
Ba nữ thần đồng trinh trong thần thoại Hy Lạp là Artemis - Nữ thần Săn bắn và Mặt trăng; Athena - Nữ thần Trí tuệ và Thủ công; cùng Hestia - Nữ thần Bếp lửa và Đền thờ. Ba vị nữ thần này nhân cách hóa những khía cạnh độc lập, chủ động và phi phụ thuộc vào các mối quan hệ trong tâm lý phụ nữ. Artemis và Athena là những nguyên mẫu hướng ngoại và hướng tới thành tựu, trong khi Hestia lại chú tâm vào thế giới nội tâm. Cả ba đều đại diện cho những thôi thúc bên trong người phụ nữ: phát triển tài năng, theo đuổi đam mê, giải quyết vấn đề, cạnh tranh, biểu đạt bản thân khúc chiết qua ngôn từ hay nghệ thuật, thiết lập trật tự cho không gian sống, hoặc sống một cuộc đời chiêm niệm. Bất kỳ người phụ nữ nào từng khao khát "một căn phòng của riêng mình", cảm thấy gắn kết với thiên nhiên, thích thú tìm hiểu nguyên lý hoạt động của mọi thứ, hay biết trân trọng sự tĩnh lặng một mình, đều có mối liên hệ mật thiết với một trong ba nữ thần đồng trinh này.
Khía cạnh "nữ thần đồng trinh" chính là phần bản thể không bị sở hữu hay "thâm nhập" bởi đàn ông—nghĩa là không bị chi phối bởi nhu cầu cần có đàn ông hay cần được đàn ông công nhận, một phần tồn tại hoàn toàn độc lập và trọn vẹn theo cách riêng của cô. Khi một người phụ nữ sống theo một nguyên mẫu đồng trinh, điều đó có nghĩa là một phần quan trọng trong tâm thức của cô giữ được sự thuần khiết nguyên sơ về mặt tâm lý, chứ không hẳn mang ý nghĩa trinh bạch về mặt thể xác theo nghĩa đen.
Thuật ngữ "đồng trinh / nguyên sơ" (virgin) mang ý nghĩa thuần khiết, tinh khôi, chưa bị vấy bẩn, chưa từng bị khai phá, cày xới, chưa bị bàn tay con người can thiệp hay tác động—như trong "đất nguyên sinh" (virgin soil) hay "rừng nguyên sinh" (virgin forest); hoặc chưa qua xử lý, như "len nguyên chất" (virgin wool). "Dầu nguyên chất" (virgin oil) là loại dầu chiết xuất từ lần ép đầu tiên của quả ô liu hay các loại hạt mà không qua xử lý nhiệt (về mặt ẩn dụ, là không bị đốt nóng bởi ngọn lửa cảm xúc hay dục vọng). "Kim loại nguyên chất" (virgin metal) là kim loại tồn tại ở dạng tự nhiên, nguyên chất và không pha tạp, chẳng hạn như "vàng ròng nguyên chất" (virgin gold).
Giữa một hệ thống tín ngưỡng và thời kỳ lịch sử do các nam thần thống trị, Artemis, Athena và Hestia nổi lên như những ngoại lệ đặc biệt. Họ chưa từng kết hôn, chưa bao giờ bị khuất phục, quyến rũ, cưỡng bức hay làm nhục bởi bất kỳ nam thần hay người trần mắt thịt nào; họ luôn giữ mình "toàn vẹn" và bất khả xâm phạm. Hơn nữa, trong muôn vàn thần linh và phàm nhân, chỉ duy nhất ba vị nữ thần này là không hề lay chuyển trước quyền năng ma mị của Aphrodite—Nữ thần Tình yêu—người có khả năng thổi bùng dục vọng và khơi dậy những khát khao ái tình say đắm. Họ hoàn toàn miễn nhiễm trước tình yêu, dục tính và sự si mê mù quáng.
NGUYÊN MẪU NỮ THẦN ĐỒNG TRINH
Khi một nữ thần đồng trinh—dù là Artemis, Athena hay Hestia—trở thành nguyên mẫu chủ đạo, người phụ nữ ấy sẽ là "một bản thể tự thân trọn vẹn" (one-in-herself, như nhà phân tâm học trường phái Jung, Esther Harding, từng viết trong cuốn Bí ẩn Phụ nữ). Một phần cốt lõi trong tâm hồn cô "không thuộc về bất kỳ người đàn ông nào". Theo mô tả của Harding: "Một người phụ nữ đồng trinh, tự thân trọn vẹn, làm những gì cô ấy làm—không phải vì muốn chiều lòng, muốn được yêu thích hay được tán thành, thậm chí chẳng phải để tự ve vuốt chính mình; cũng không phải vì muốn thao túng kẻ khác, thu hút sự chú ý hay tranh thủ tình yêu của ai, mà đơn giản vì những gì cô làm là chân thật với chính mình. Hành động của cô có thể đi ngược lại số đông. Cô có thể sẵn sàng nói 'không', ngay cả khi việc nói 'có' sẽ dễ dàng và thuận tiện hơn nhiều theo chuẩn mực thông thường. Nhưng với tư cách là một bản thể tự do nguyên bản, cô không bị chi phối bởi những toan tính vốn khiến những người phụ nữ khác—dù đã kết hôn hay chưa—phải lựa gió bẻ măng hay thỏa hiệp vì sự vụ lợi."
Nếu một người phụ nữ là một bản thể tự thân trọn vẹn, cô sẽ được dẫn dắt bởi nhu cầu sống theo những giá trị nội tâm của riêng mình, làm những điều mang lại ý nghĩa và sự viên mãn cho bản thân mà không màng đến ánh nhìn của thiên hạ. Về mặt tâm lý học, nữ thần đồng trinh chính là phần bản thể chưa từng bị nhào nặn bởi những kỳ vọng xã hội và văn hóa mang tính tập thể (vốn do nam giới định đoạt) về chuẩn mực phụ nữ, cũng như chưa từng bị phán xét bởi cái nhìn của một người đàn ông cụ thể nào. Khía cạnh nữ thần đồng trinh là tinh hoa thuần túy nhất về con người thật và những giá trị mà cô trân quý. Nó không bao giờ bị hoen ố hay lai tạp, bởi cô giữ kín không phô bày, bởi cô xem nó là điều thiêng liêng bất khả xâm phạm, hoặc bởi cô dám thể hiện nó một cách nguyên bản mà không hề uốn mình theo bất kỳ quy chuẩn nào của nam giới.
Nguyên mẫu đồng trinh có thể biểu hiện qua phần tính cách ủng hộ nữ quyền một cách kín đáo hoặc công khai. Nó có thể bộc lộ qua những hoài bão mà phụ nữ thường bị ngăn cản theo đuổi—chẳng hạn như khát vọng của nữ phi công Amelia Earhart muốn bay đến những chân trời chưa từng có phi công nào đặt chân tới. Hay đó có thể là sức sáng tạo nghệ thuật của một nữ thi sĩ, họa sĩ, nhạc sĩ, tạo nên những tác phẩm đúc rút từ chính trải nghiệm sống của một người phụ nữ—như thơ của Adrienne Rich, tranh của Judy Chicago, hay những khúc ca tự sáng tác và trình bày của Holly Near. Nó cũng có thể biểu hiện qua việc thực hành thiền định hoặc công việc đỡ đẻ.
Nhiều phụ nữ đã cùng nhau liên kết để tạo nên những mô hình "dành riêng cho phái nữ". Các nhóm nâng cao nhận thức phụ nữ, các buổi tế lễ tôn vinh nữ thần trên đỉnh núi, các phòng khám y tế tự lực của phụ nữ và những buổi tụ họp may chăn vá vải đều là biểu hiện của nguyên mẫu nữ thần đồng trinh được cụ thể hóa qua sức mạnh tập thể nữ giới.
PHẨM CHẤT Ý THỨC: NHƯ CHÙM SÁNG HỘI TỤ SẮC BÉN
Mỗi nhóm trong ba nhóm nữ thần (đồng trinh, dễ tổn thương, luyện kim/chuyển hóa) đều mang một phẩm chất ý thức đặc trưng. Ý thức hội tụ (focused consciousness) là nét điển hình của các nữ thần đồng trinh. Những phụ nữ mang bản tính của Artemis, Athena và Hestia có khả năng dồn toàn bộ sự chú ý vào những điều có ý nghĩa với mình. Họ có thể đắm chìm hoàn toàn vào công việc đang làm. Trong trạng thái tập trung cao độ đó, họ dễ dàng gạt bỏ mọi yếu tố râu ria bên ngoài không phục vụ cho nhiệm vụ trước mắt hay mục tiêu dài hạn.
Tôi ví ý thức hội tụ như một chùm sáng sắc nét, cường độ mạnh và được chủ động định hướng—nó chỉ rọi sáng duy nhất điểm hội tụ, để mặc mọi thứ bên ngoài bán kính chìm trong bóng tối hoặc bóng mờ. Nó mang tính chất của một luồng đèn rọi (spotlight). Ở mức độ tập trung cao nhất, ý thức hội tụ thậm chí có thể giống như một tia laser: sắc bén, có khả năng mổ xẻ và phân tích chuẩn xác tuyệt đối, nhưng cũng có thể mang tính hủy diệt—tùy thuộc vào cường độ và mục tiêu mà nó hướng tới.
Khi một người phụ nữ có thể tập trung giải quyết vấn đề hoặc vươn tới mục tiêu mà không bị xao nhãng bởi nhu cầu của những người xung quanh, thậm chí quên cả việc ăn, việc ngủ, cô ấy đang sở hữu năng lực tập trung ý thức cao độ để gặt hái thành tựu. Cô dồn trọn vẹn "sự chú tâm tuyệt đối" cho công việc đang làm. Cô sở hữu một "tâm trí nhất quán, kiên định", cho phép cô hoàn thành bất cứ điều gì mình đã hạ quyết tâm. Khi cô tập trung vào các mục tiêu ngoại cảnh hoặc nhiệm vụ cụ thể trước mắt—như đặc trưng của Artemis và Athena—thì sự tập trung đó hoàn toàn hướng về thành tựu.
Danielle Steel, tác giả có 17 cuốn tiểu thuyết bán được hơn 45 triệu bản bằng 18 thứ tiếng, là một minh chứng điển hình cho dạng ý thức hội tụ này. Bà tự nhận mình là "người nghiện thành tích" và chia sẻ: "Quá trình đó vô cùng căng thẳng. Tôi thường làm việc 20 tiếng một ngày, chỉ ngủ từ 2 đến 4 tiếng. Tình trạng này kéo dài suốt 7 ngày một tuần trong vòng 6 tuần liền" (cho đến khi cuốn tiểu thuyết hoàn thành).
Khi sự tập trung quay vào bên trong, hướng về một tâm điểm tâm linh—vốn là hướng đi của Hestia—người phụ nữ mang nguyên mẫu này có thể thiền định hàng giờ liền mà không bị thế giới bên ngoài làm xao động, cũng chẳng màng đến sự khó chịu của tư thế ngồi.
KHUÔN MẪU HIỆN SINH VÀ HÀNH VI
Những người phụ nữ dám đi theo thiên hướng riêng để trở thành vận động viên bơi lội chuyên nghiệp, nhà hoạt động nữ quyền tích cực, nhà khoa học, nhà thống kê, nữ giám đốc điều hành, người quản gia tận tụy, nữ kỵ sĩ, hay người xuất gia vào tu viện hoặc ashram... đều là hiện thân cho những phẩm chất của nữ thần đồng trinh. Để mài giũa tài năng và dốc lòng theo đuổi những giá trị cá nhân, những người phụ nữ mang nguyên mẫu này thường tránh né các vai trò truyền thống của phái nữ. Làm sao để thực hiện điều đó—nghĩa là làm thế nào để vừa sống thật với chính mình, vừa thích nghi được với cuộc sống trong "thế giới của đàn ông"—chính là một thách thức lớn.
Trong thần thoại, mỗi vị nữ thần đồng trinh đều đối mặt với thử thách tương tự và tìm ra những giải pháp khác nhau:
Artemis - Nữ thần Săn bắn: Từ bỏ chốn thành thị, cự tuyệt tiếp xúc với đàn ông và dành trọn thời gian nơi hoang dã cùng các nữ thần hộ mệnh (nymph). Cách thức thích nghi của nàng là tách biệt hoàn toàn khỏi đàn ông và sự ảnh hưởng của họ. Lối sống này tương đồng với những phụ nữ hiện đại tham gia các phong trào nâng cao nhận thức, trở thành những nhà nữ quyền quyết tâm tự định nghĩa bản thân và xác lập ưu tiên riêng, hoặc làm việc trong các tổ chức, doanh nghiệp do phụ nữ làm chủ nhằm phục vụ nhu cầu của phái đẹp. Phụ nữ Artemis còn là hiện thân của "những cá nhân kiên cường độc lập", dám dấn thân một mình làm điều mình coi trọng mà không cần sự hậu thuẫn hay tán thành từ đàn ông—thậm chí từ cả những phụ nữ khác.
Athena - Nữ thần Trí tuệ: Gia nhập thế giới của đàn ông với tư thế ngang hàng hoặc vượt trội hơn họ trong mọi việc. Nàng là cái đầu lạnh lùng, sáng suốt nhất nơi chiến trận và là nhà chiến lược tài ba nhất. Cách thích nghi của nàng là đồng hóa với đàn ông—nàng trở thành một phần như họ. Con đường của Athena được tiếp bước bởi vô số phụ nữ dấn thân vào chốn thương trường hoặc thành công rực rỡ trong các ngành nghề vốn do nam giới thống trị.
Hestia - Nữ thần Bếp lửa: Chọn con đường thích nghi hướng nội bằng cách rút lui khỏi đàn ông. Nàng quay vào thế giới nội tâm, ẩn mình trong dáng vẻ bình dị, khiêm nhường và để bản thân được yên tĩnh. Người phụ nữ chọn cách này thường tiết chế vẻ nữ tính bên ngoài để không thu hút sự chú ý không mong muốn từ đàn ông, tránh xa những cuộc đua tranh giành giật, sống một cuộc đời thầm lặng, trân trọng và chăm sóc những công việc thường nhật hoặc thiền định—những điều mang lại ý nghĩa đích thực cho cuộc sống của cô.
Ba nữ thần đồng trinh không hề bị biến đổi bởi những trải nghiệm với người khác. Họ chưa bao giờ bị cảm xúc lấn át, cũng không bị bất kỳ vị thần nào chi phối. Họ miễn nhiễm trước đau khổ, không bị các mối quan hệ ràng buộc và bất biến trước đổi thay.
Tương tự, một người phụ nữ càng tập trung vào con đường riêng của mình thì càng ít bị người khác tác động sâu sắc. Sự tập trung ấy có thể cô lập cô khỏi đời sống cảm xúc và bản năng của chính mình, cũng như ngăn cản sự gắn kết với người khác. Về mặt tâm lý, nếu chưa từng bị "thâm nhập", tức là chưa ai thực sự "chạm được vào tâm can cô". Không một ai thực sự quan trọng, và cô không biết thế nào là sự thân mật, thấu cảm sâu sắc về mặt cảm xúc.
Do đó, nếu một người phụ nữ bằng xương bằng thịt đồng nhất hoàn toàn với khuôn mẫu nữ thần đồng trinh, cô có thể sống một cuộc đời phiến diện và cô độc, không có lấy một "bạn đời đích thực". Tuy nhiên, dẫu một nữ thần thần thoại bị giới hạn vĩnh viễn trong vai trò của mình, thì một người phụ nữ trần thế lại có thể trưởng thành và thay đổi suốt cuộc đời. Dù bẩm sinh mang nhiều nét tương đồng với nữ thần đồng trinh, cô vẫn có thể học được những bài học của Hera về sự cam kết gắn bó, có thể cảm nhận bản năng làm mẹ trỗi dậy để thấu hiểu Demeter, hoặc có thể rơi vào lưới tình và bất ngờ nhận ra Aphrodite cũng là một phần không thể tách rời trong tâm hồn mình.
LÝ THUYẾT MỚI
Khi mô tả Artemis, Athena và Hestia như những khuôn mẫu nữ tính tích cực và chủ động, tôi đang thách thức những giả định truyền thống trong tâm lý học. Tùy thuộc vào việc nhìn nhận qua lăng kính của Freud hay Jung, các phẩm chất đặc trưng của các nữ thần đồng trinh từng bị quy chụp là triệu chứng bệnh lý, hoặc là biểu hiện của một yếu tố nam tính chưa được ý thức đầy đủ trong tâm trí người phụ nữ. Những lý thuyết này đã kìm hãm hành vi và làm tổn thương lòng tự trọng của những phụ nữ mang khuôn mẫu nữ thần đồng trinh. Chẳng hạn, nhiều phụ nữ am hiểu thuyết phân tâm của Freud từng tự dằn vặt rằng mình "bất thường" chỉ vì họ khao khát sự nghiệp hơn là mong muốn sinh con. Và nhiều phụ nữ quen thuộc với thuyết của Jung lại ngập ngừng không dám lên tiếng bày tỏ quan điểm, bởi họ biết Jung từng cho rằng năng lực tư duy khách quan của phụ nữ vốn kém cỏi và đầy định kiến chủ quan.
Lý thuyết tâm lý phụ nữ của Sigmund Freud lấy "dương vật làm trung tâm". Ông mô tả phụ nữ dựa trên những gì họ thiếu hụt về mặt giải phẫu học, thay vì nhìn nhận những gì thực sự hiện hữu trong cơ thể hay tâm trí của họ. Theo quan điểm của Freud, việc không có dương vật khiến phụ nữ bị xem là khiếm khuyết và hạ đẳng. Hệ quả là, ông cho rằng một người phụ nữ bình thường sẽ mang mặc cảm "ghen tị dương vật" (penis envy), có khuynh hướng tự ngược đãi (khổ dâm), ái kỷ và có sự phát triển siêu tôi (superego) kém cỏi (tức là lương tri/lương tâm thấp kém hơn nam giới).
Thuyết phân tâm học Freud diễn giải hành vi của phụ nữ như sau:
Một người phụ nữ bản lĩnh, tự tin, thành công ngoài xã hội và say mê phát huy trí tuệ, năng lực của mình thực chất đang bộc lộ "phức cảm nam tính" (masculinity complex). Theo Freud, cô ta đang hành xử như thể tin rằng mình không bị thiến hoạn, dù thực tế hiển nhiên là đã bị. Chẳng có người phụ nữ nào thực sự muốn vượt trội cả—nhu cầu vươn lên xuất chúng chỉ là triệu chứng của phức cảm nam tính, một sự chối bỏ "thực tại".
Một người phụ nữ muốn sinh con thực chất là khao khát có một dương vật và đã thăng hoa (sublimate) ước muốn này, thay thế khao khát dương vật bằng ước muốn có một đứa con.
Một người phụ nữ bị thu hút bởi nam giới là vì cô phát hiện ra mẹ mình không có dương vật. (Theo Freud, xu hướng tính dục dị tính của phụ nữ bắt nguồn từ khoảnh khắc sang chấn thời thơ ấu: khi phát hiện mình không có dương vật, rồi nhận ra mẹ mình cũng không có, cô bé liền chuyển hướng ham muốn tính dục (libido) từ mẹ sang người cha—người duy nhất sở hữu nó).
Một phụ nữ chủ động và phóng khoáng trong tình dục như nam giới, theo Freud, không thể là người đang tận hưởng tính dục hay bộc lộ bản năng gợi cảm tự nhiên. Thay vào đó, cô ta đang hành xử một cách cưỡng chế nhằm xoa dịu nỗi âu lo về sự thiến hoạn.
Lý thuyết tâm lý phụ nữ của C. G. Jung "khoan dung" với phụ nữ hơn nhiều so với Freud, bởi Jung không coi phụ nữ chỉ là những người đàn ông bị khiếm khuyết. Ông đưa ra giả thuyết về một cấu trúc tâm lý tương ứng với sự khác biệt về nhiễm sắc thể giữa nam và nữ. Theo ông, phụ nữ có nhân cách ý thức mang tính nữ và một thành tố nam tính—gọi là animus—trong tiềm thức; trong khi nam giới có nhân cách ý thức mang tính nam và một thành tố nữ tính—gọi là anima—trong tiềm thức.
Đối với Jung, sự đón nhận, tính thụ động, sự chở che nuôi dưỡng và tính chủ quan là những nét đặc trưng của nhân cách nữ tính. Còn tính duy lý, tâm linh, năng lực hành động dứt khoát và sự khách quan được ông xem là những thuộc tính nam tính. Ông coi nam giới là những người được trời phú tự nhiên cho những khả năng này. Những phụ nữ mang nét tính cách tương tự, dù có phát triển tốt đến đâu, vẫn bị xem là có khiếm khuyết vì họ không phải đàn ông; nếu một người phụ nữ có tư duy sắc bén hay tháo vát ngoài xã hội, cô ấy chẳng qua chỉ đang sở hữu một animus phát triển mạnh—mà theo định nghĩa, animus này kém ý thức hơn và do đó vẫn thua kém nam giới. Animus cũng có thể mang tính thù địch, ham muốn quyền lực và bảo thủ một cách phi lý—những đặc tính mà Jung (và các nhà phân tâm học phái Jung đương đại) thường nhấn mạnh khi mô tả chức năng của animus.
Dù Jung không coi phụ nữ bẩm sinh đã khiếm khuyết, ông lại cho rằng phụ nữ vốn dĩ kém sáng tạo hơn, kém năng lực khách quan và hành động hơn nam giới. Nhìn chung, Jung có xu hướng nhìn nhận phụ nữ trong mối tương quan phục vụ hoặc gắn kết với đàn ông, thay vì thừa nhận họ có những nhu cầu độc lập của riêng mình. Ví dụ, về khía cạnh sáng tạo, ông coi đàn ông là những đấng sáng tạo thực thụ còn phụ nữ chỉ đóng vai trò phụ tá trong tiến trình sáng tạo của nam giới: "Người đàn ông tạo ra tác phẩm của mình như một tạo tác hoàn chỉnh từ bản chất nữ tính bên trong anh ta" và "Mặt nam tính bên trong của người phụ nữ sản sinh ra những hạt mầm sáng tạo có khả năng thụ tinh cho phần nữ tính của người đàn ông".
Quan điểm lý thuyết của ông đã làm thui chột khát vọng vươn lên của phụ nữ. Ông từng viết: "Bằng cách dấn thân vào các ngành nghề của nam giới, học tập và làm việc như đàn ông, người phụ nữ đang làm một điều không hoàn toàn hòa hợp, nếu không muốn nói là gây tổn hại trực tiếp đến thiên tính nữ của mình."
CÁC KHUÔN MẪU NỮ THẦN
Khi các nữ thần được nhìn nhận như những khuôn mẫu hành vi nữ tính bình thường, một người phụ nữ mang bản tính thông tuệ của Athena hay tính hiếu thắng của Artemis thay vì nét đoan trang của Hera hay sự bao dung của Demeter, sẽ được trân trọng là đang sống thật với tính nữ của mình khi cô năng động, khách quan trong đánh giá và hướng tới thành tựu. Cô đang sống đúng với bản chất tự nhiên, tương đồng với vị nữ thần mà cô giống nhất. Cô không hề mắc "phức cảm nam tính" như Freud chẩn đoán, cũng chẳng phải đang bị đồng hóa với animus hay mang thái độ nam tính như Jung ám chỉ.
Khi một người phụ nữ mang khuôn mẫu của Athena và Artemis, những thuộc tính "nữ tính" truyền thống như sự phụ thuộc, tính đón nhận và bản năng nuôi dưỡng có thể không phải là nét tính cách nổi trội của cô. Đó là những phẩm chất cô sẽ cần trau dồi thêm để có thể xây dựng các mối quan hệ bền vững, dám bộc lộ sự yếu mềm, biết cho đi và đón nhận tình yêu thương cùng sự an ủi, cũng như nâng đỡ sự trưởng thành của người khác.
Sự chú tâm vào thế giới nội tâm của Hestia khiến nàng giữ một khoảng cách cảm xúc nhất định với người khác. Dù tách biệt, nhưng sự ấm áp tĩnh lặng của nàng vẫn có tính nuôi dưỡng và chở che. Điều Hestia cần phát triển, tương tự như Artemis và Athena, chính là khả năng xây dựng sự thân mật gắn kết cá nhân.
Những nhiệm vụ trưởng thành này khác với nhu cầu phát triển của những phụ nữ mang khuôn mẫu của Hera, Demeter, Persephone hay Aphrodite. Bốn khuôn mẫu nữ thần này hướng phụ nữ gắn kết vào các mối quan hệ; tính cách của họ rất trùng khớp với mô tả của Jung về phụ nữ. Những phụ nữ này cần học cách giữ sự tập trung, tính khách quan và lòng quyết đoán—những phẩm chất vốn không mạnh mẽ bẩm sinh trong họ. Họ cần phát triển animus hoặc đánh thức các nguyên mẫu Artemis và Athena trong cuộc sống của mình.
Khi Hestia là nguyên mẫu thống trị, cô cũng chia sẻ với những phụ nữ hướng về mối quan hệ nhu cầu phát triển animus hoặc kích hoạt Artemis và Athena để có thể hoạt động hiệu quả ngoài xã hội.
ANIMUS NAM TÍNH HAY NGUYÊN MẪU NỮ TÍNH?
Cảm xúc chủ quan và những hình tượng trong giấc mơ giúp phân biệt rõ liệu sự tập trung chủ động của một người phụ nữ bắt nguồn từ animus nam tính hay từ một khuôn mẫu nữ thần mang tính nữ. Chẳng hạn, nếu một phụ nữ cảm thấy phần quyết đoán bên trong mình là điều gì đó xa lạ với bản thể—giống như một người đàn ông ẩn náu bên trong mà cô chỉ triệu hồi trong những tình huống ngặt nghèo đòi hỏi phải "cứng rắn" hay "suy nghĩ như đàn ông" (những việc khiến cô không hề thấy tự nhiên hay thoải mái)—thì chính animus đang xuất đầu lộ diện để tương trợ cô. Tựa như một động cơ phụ chỉ được khởi động khi cần thêm lực đẩy, animus được giữ ở chế độ dự phòng. Cơ chế dự phòng này đặc biệt đúng với những phụ nữ mang đậm nét của Hestia, Hera, Demeter, Persephone hay Aphrodite.
Nhưng khi Athena và Artemis đã là những nét tính cách phát triển thuần thục, người phụ nữ có thể quyết đoán một cách tự nhiên, tư duy mạch lạc, thấu suốt mục tiêu cần đạt và cạnh tranh sòng phẳng một cách thoải mái. Những phẩm chất này hoàn toàn không hề xa lạ, mà là biểu hiện tự nhiên thuộc về căn tính nữ của chính cô, chứ không phải là thuộc tính của một animus nam tính đang gồng gánh "thay cho cô".
Giấc mơ là phương cách thứ hai để phân biệt giữa nguyên mẫu Artemis/Athena và animus. Chúng chỉ ra liệu các nữ thần đồng trinh này có phải là cội nguồn cho thái độ chủ động của người phụ nữ hay không, hay những phẩm chất như tính quyết đoán và sự kiên định theo đuổi mục tiêu nên được quy cho khía cạnh nam tính bên trong cô.
Khi Artemis và Athena là những nguyên mẫu chủ đạo, người nằm mơ thường một mình thám hiểm những vùng đất xa lạ. Cô sắm vai nhân vật chính kiên cường vượt qua chướng ngại vật, leo lên những đỉnh núi cao, hay dấn thân vào một xứ sở xa lạ, một thế giới ngầm kỳ bí. Chẳng hạn: "Tôi đang cầm lái chiếc xe mui trần của mình, lao vun vút trên con đường làng trong đêm tối, bỏ xa những kẻ đang rượt đuổi phía sau"; "Tôi là một người lạ lạc bước vào một thành phố kỳ vĩ tựa như vườn treo Babylon"; "Cảm giác như mình là một điệp viên hai mang, tôi không được phép có mặt ở đó và sẽ vô cùng hiểm nguy nếu bất kỳ ai xung quanh nhận ra danh tính của tôi". Những trắc trở hay sự thuận lợi trong hành trình của giấc mơ phản ánh trực tiếp những trở ngại nội tâm và ngoại cảnh mà người mơ phải đối mặt trên con đường nỗ lực trở thành một cá nhân tự chủ, bản lĩnh ngoài đời thực. Giống như trong mơ, cô cảm thấy hoàn toàn tự nhiên khi tự mình định đoạt hướng đi. Cô đang sống đúng với bản thể chủ động, tự lập và kiên định của mình.
Khi những phẩm chất quyết đoán mới ở giai đoạn đầu hình thành, người phụ nữ trong giấc mơ thường có một nhân vật khác đồng hành. Người bạn đồng hành này có thể là nam hoặc nữ, một bóng hình mờ nhạt hay một người quen biết rõ ràng. Giới tính của người đồng hành là lời giải mã mang tính biểu tượng giúp xác định xem những năng lực mới chớm nở này được xem là "nam tính" (animus) hay "nữ tính" (nữ thần đồng trinh).
Ví dụ, nếu người mơ đang trau dồi các phẩm chất Artemis hoặc Athena và vẫn đang ở những bước đầu trên con đường học vấn hay sự nghiệp, người bạn đồng hành thường xuyên nhất trong mơ của cô thường là một người phụ nữ mơ hồ, không rõ diện mạo. Về sau, người đồng hành có thể là một người phụ nữ có con đường học tập hay công việc tương tự nhưng đi trước cô một đoạn, hoặc một cô bạn đại học đã thành danh ngoài xã hội.
Khi người bạn đồng hành trong chuyến phiêu lưu giấc mơ là một người đàn ông hay một cậu bé, người nằm mơ thường là một phụ nữ truyền thống—người đồng nhất với các nữ thần dễ tổn thương, hoặc như chúng ta sẽ thấy sau này, với Hestia hay Aphrodite. Đối với những phụ nữ này, đàn ông là biểu tượng của hành động, và vì thế trong mơ, họ quy các phẩm chất quyết đoán hay cạnh tranh về tính nam.
Do đó, khi một người phụ nữ rụt rè bước vào chốn công sở hay giảng đường học thuật với sự trợ lực từ animus (khía cạnh nam tính của bản thân), khía cạnh ấy có thể hiển hiện trong giấc mơ của cô dưới hình bóng một người đàn ông mờ ảo, có thể là một cậu bé hay một thiếu niên (vẫn đang trong giai đoạn phát triển), cùng cô đi qua một nơi xa lạ và đầy rẫy hiểm nguy. Sau khi cô đạt điểm cao hoặc được thăng chức và cảm thấy tự tin hơn vào năng lực của mình, địa hình trong giấc mơ sẽ trở nên thân thiện hơn, và biểu tượng giấc mơ nhiều khả năng sẽ hóa thành một người đàn ông quen thuộc hoặc mang lại cảm giác thân quen trong mơ. Ví dụ: "Tôi đang ở trên một chuyến xe buýt dài và phức tạp cùng người bạn trai cũ" hoặc "Tôi đang ngồi trong ô tô do một người đàn ông lái, lúc này tôi không nhớ rõ là ai nhưng trong mơ, anh ấy là người tôi quen biết rất rõ".
Lý thuyết mới mà tôi xây dựng trong cuốn sách này dựa trên sự tồn tại của các khuôn mẫu nguyên mẫu—khái niệm do Carl Jung khởi xướng. Tôi không hề bác bỏ mô hình tâm lý phụ nữ mà Jung đã mô tả; tôi nhận thấy mô hình đó phù hợp với một số phụ nữ, nhưng không phải tất cả. Các chương viết về những nữ thần dễ tổn thương và Aphrodite sẽ gọt giũa, hoàn thiện thêm mô hình của Jung, trong khi ba chương tiếp theo—về Artemis, Athena và Hestia—sẽ mang đến những khuôn mẫu mới vượt ra ngoài các khái niệm kinh điển của Jung.
4. ARTEMIS: NỮ THẦN SĂN BẮN VÀ MẶT TRĂNG, ĐỐI THỦ VÀ NGƯỜI CHỊ EM
NỮ THẦN ARTEMIS
Artemis, được người La Mã gọi là Diana, là Nữ thần Săn bắn và Nữ thần Mặt trăng. Là người con gái cao ráo, kiều diễm của Zeus và Leto, nàng thỏa sức rong ruổi khắp chốn hoang sơ từ rừng rậm, núi non, đồng cỏ đến những thung lũng xanh tươi cùng đàn tiên nữ (nymph) và bầy chó săn. Khoác trên mình chiếc áo tunic ngắn, trang bị cung bạc cùng ống tên sau lưng, nàng là một xạ thủ bách phát bách trúng. Với tư cách là Nữ thần Mặt trăng, nàng còn hiện lên như một đấng mang lại ánh sáng, tay cầm đuốc rực cháy, hoặc với vầng trăng cùng muôn vì sao tỏa rạng quanh đầu.
Là vị nữ thần bảo hộ thế giới hoang dã, đặc biệt là thú non, nàng gắn liền với nhiều loài động vật chưa thuần hóa vốn biểu trưng cho những phẩm chất của nàng. Hươu đực, hươu cái, thỏ rừng và chim cút đều mang nét thoắt ẩn thoắt hiện như nàng. Sư tử cái thể hiện sự uy nghi vương giả và tài năng săn mồi kiệt xuất, trong khi heo rừng hung dữ đại diện cho khía cạnh hủy diệt bên trong nàng. Gấu là biểu tượng hoàn hảo cho vai trò chở che con trẻ (các thiếu nữ Hy Lạp tuổi dậy thì dâng mình cho Artemis và chịu sự bảo bọc của nàng từng được gọi là arktoi hay "những chú gấu cái" trong giai đoạn tinh nghịch, hiếu động của đời mình). Sau cùng, ngựa hoang tự do phi nước đại cùng đồng loại, hệt như Artemis rong ruổi giữa thiên nhiên cùng bầy tiên nữ.
PHẢ HỆ VÀ THẦN THOẠI
Artemis là người chị em song sinh chào đời trước của Apollo, Thần Mặt trời. Mẹ của họ, Leto, là một nữ thần tự nhiên, con gái của hai vị thần Titan; còn cha họ là Zeus, vua của đỉnh Olympus.
Khi Leto chuẩn bị lâm bồn, muôn vàn trắc trở ập đến. Đi đến đâu bà cũng bị xua đuổi, bởi khắp nơi đều khiếp sợ cơn thịnh nộ báo thù của Hera—người vợ chính thức của Zeus. Cuối cùng, trên hòn đảo Delos cằn cỗi, bà mới tìm được nơi nương náu và sinh hạ Artemis.
Ngay khi vừa lọt lòng, Artemis đã phụ giúp mẹ trong cơn đau đẻ kéo dài và ca sinh nở đầy khó nhọc của Apollo. Suốt chín ngày chín đêm, Leto phải chịu đựng nỗi đau đớn cùng cực do những mưu toan trả thù của Hera. Từng là "bà đỡ" cho chính mẹ mình, Artemis vì thế cũng được tôn vinh là nữ thần hộ mệnh cho việc sinh nở. Phụ nữ thường khấn cầu nàng như "đấng cứu giúp nỗi đau mà không nỗi đau nào chạm tới". Họ cầu xin nàng chấm dứt nỗi thống khổ, hoặc bằng sự chào đời thuận lợi của đứa con, hoặc bằng "cái chết êm ái" từ những mũi tên của nàng.
Khi Artemis lên ba tuổi, Leto đưa nàng lên đỉnh Olympus diện kiến Zeus cùng họ hàng thần thánh. Nhà thơ Callimachus trong bài Thánh ca gửi Artemis đã miêu tả cảnh nàng ngồi trong lòng người cha đang say đắm ngắm nhìn, Zeus cúi xuống vuốt ve con gái và bảo: "Khi các nữ thần sinh cho ta những đứa con như thế này, cơn thịnh nộ của Hera ghen tuông chẳng làm ta bận lòng là bao. Con gái bé bỏng, con sẽ có tất cả những gì con mong ước."
Artemis xin cha ban cho cung tên, một đàn chó săn, những tiên nữ bầu bạn, một chiếc áo tunic ngắn để tiện chạy nhảy, những ngọn núi và chốn hoang dã làm lãnh địa riêng, cùng sự trinh bạch vĩnh cửu. Tất cả những điều đó đều được cha nàng ưng thuận, kèm theo đặc quyền tự mình lựa chọn mọi thứ.
Artemis liền tìm đến những cánh rừng và dòng sông để chọn ra những tiên nữ xinh đẹp nhất. Nàng lặn xuống đáy biển tìm các người khổng lồ một mắt Cyclopes—những thợ rèn của Poseidon—để rèn cung tên bạc. Cuối cùng, tay cầm cung, theo sau là bầy tiên nữ, nàng tìm đến Pan—vị thần thiên nhiên nửa người nửa dê thổi sáo—để xin những chú chó săn tinh nhuệ nhất. Khi màn đêm buông xuống, vì nóng lòng muốn thử những món quà mới, nàng đã đi săn dưới ánh đuốc bập bùng.
Trong thần thoại, Artemis luôn hành động mau lẹ và dứt khoát để bảo vệ và giải cứu những ai cầu cứu nàng. Nàng cũng thẳng tay trừng trị bất kỳ ai xúc phạm đến mình.
Có lần, khi mẹ Leto đang trên đường tới Delphi thăm Apollo, tên khổng lồ Tityus đã toan cưỡng hiếp bà. Artemis lập tức đến ứng cứu, giương cung nhắm bắn chuẩn xác và kết liễu hắn tại chỗ.
Lần khác, Niobe kiêu ngạo và dại dột đã buông lời sỉ nhục Leto, huênh hoang rằng bà có rất nhiều con trai con gái xinh đẹp, trong khi Leto chỉ có vỏn vẹn hai người. Leto cầu cứu Artemis và Apollo đòi lại danh dự. Hai chị em lập tức hành động: Apollo bắn chết sáu người con trai, còn Artemis hạ gục sáu người con gái của Niobe. Sau đó, Niobe hóa thành một cột đá tuôn dòng nước mắt xót thương.
Đáng chú ý là Artemis luôn hết lòng ứng cứu mẹ mình—điều hiếm thấy ở các nữ thần khác. Những người phụ nữ khác khi cầu cứu nàng cũng đều được toại nguyện. Tiên nữ rừng Arethusa cất tiếng gọi Artemis khi sắp bị làm nhục. Nàng vừa đi săn về, trút bỏ xiêm y và đang tắm mát thì bị vị thần sông nổi lòng tà dâm đuổi bắt. Trong cơn hoảng loạn tột cùng, Arethusa kêu cứu; Artemis nghe thấy tiếng khóc, liền bao bọc nàng trong một làn sương mù dày đặc và biến nàng thành một dòng suối trong veo.
Artemis vô cùng tàn nhẫn với những kẻ mạo phạm—chàng thợ săn Actaeon đã thấm thía bài học đắt giá này. Khi lang thang trong rừng, Actaeon vô tình bắt gặp nữ thần cùng các tiên nữ đang tắm trong một hồ nước khuất nẻo, và đứng trố mắt nhìn. Phẫn nộ trước sự xâm phạm này, Artemis hắt nước vào mặt Actaeon, biến chàng thành một chú hươu đực. Chàng lập tức trở thành con mồi cho chính đàn chó săn của mình. Trong cơn hoảng loạn, chàng cố tháo chạy nhưng đã bị đàn chó đuổi kịp và cắn xé ra từng mảnh.
Artemis cũng từng ngộ sát Orion—người thợ săn mà nàng trao trọn trái tim. Cái chết này là một tai nạn do Apollo sắp đặt vì tức tối trước tình cảm Artemis dành cho Orion. Một ngày nọ, thấy Orion đang lội biển với cái đầu chỉ nhô lên khỏi mặt nước, Apollo bèn tìm đến Artemis ở đằng xa, chỉ vào một chấm đen trên mặt biển và thách nàng bắn trúng. Bị kích động bởi lời thách thức của người anh em song sinh và không hề hay biết mục tiêu là đầu của Orion, Artemis buông tên đoạt mạng người yêu. Đau đớn khôn nguôi, nàng đưa Orion lên trời thành một chòm sao và ban tặng một trong những chú chó săn của mình—sao Sirius (Sao Thiên Lang)—cùng chàng song hành khắp bầu trời. Người đàn ông duy nhất nàng yêu đã trở thành nạn nhân bởi chính tính hiếu thắng của nàng.
Dù nổi tiếng nhất với vai trò Nữ thần Săn bắn, Artemis còn là Nữ thần Mặt trăng. Nàng gắn bó thân thuộc với màn đêm, tự do rong ruổi khắp lãnh địa hoang sơ dưới ánh trăng vằng vặc hoặc ánh đuốc bập bùng. Ở khía cạnh Nữ thần Mặt trăng, Artemis hợp cùng Selene và Hecate tạo thành bộ ba mặt trăng: Selene cai quản cõi trời, Artemis ngự trị chốn trần gian, còn Hecate thống lĩnh cõi âm u uất và huyền bí.
NGUYÊN MẪU ARTEMIS
Artemis với tư cách Nữ thần Săn bắn và Nữ thần Mặt trăng là hiện thân của một tinh thần nữ tính độc lập. Nguyên mẫu mà nàng đại diện mang lại cho người phụ nữ năng lực tự mình theo đuổi các mục tiêu trên mảnh đất do chính mình lựa chọn.
Nữ thần đồng trinh
Là một nữ thần đồng trinh, Artemis miễn nhiễm trước chuyện rơi vào lưới tình. Nàng không bị bắt cóc hay cưỡng bức như Persephone và Demeter, cũng chẳng bao giờ chịu cảnh làm một nửa phụ thuộc trong mối quan hệ vợ chồng. Artemis với tư cách là nguyên mẫu nữ thần đồng trinh đại diện cho sự vẹn nguyên, tính tự thân trọn vẹn, và thái độ "Tôi có thể tự lo cho chính mình", cho phép người phụ nữ hoạt động độc lập với lòng tự tin và một tinh thần tự chủ. Nguyên mẫu này giúp người phụ nữ cảm thấy trọn vẹn mà không cần một người đàn ông bên cạnh. Nhờ đó, cô có thể theo đuổi sở thích và làm những công việc có ý nghĩa với bản thân mà không cần sự đồng thuận từ phái nam. Bản sắc và giá trị của cô được định hình bởi con người và việc làm của chính cô, chứ không phụ thuộc vào chuyện cô đã kết hôn hay chưa, hoặc lấy ai. Việc kiên quyết dùng danh xưng "Ms." thay vì "Mrs." chính là biểu hiện điển hình của phẩm chất nữ thần đồng trinh Artemis—nhấn mạnh sự độc lập và tách biệt khỏi đàn ông.
Xạ thủ tập trung vào mục tiêu
Với tư cách Nữ thần Săn bắn mải miết đuổi theo con mồi đã chọn, Artemis—người xạ thủ—có thể ngắm bắn bất kỳ mục tiêu nào, dù gần hay xa, và biết chắc mũi tên của mình sẽ găm trúng đích. Nguyên mẫu Artemis mang lại cho người phụ nữ năng lực bẩm sinh để tập trung cao độ vào bất cứ điều gì quan trọng với cô, không hề bị xao nhãng bởi nhu cầu hay sự cạnh tranh từ người khác. Thậm chí, sự cạnh tranh chỉ càng làm tăng thêm cảm giác phấn khích của "cuộc săn đuổi". Khả năng kiên định hướng về mục tiêu và lòng bền bỉ vượt qua chướng ngại vật hay sự thoái thác của con mồi là những phẩm chất của Artemis dẫn lối tới thành tựu rực rỡ. Nguyên mẫu này giúp phụ nữ bắn trúng hồng tâm mà mình đã tự định ra.
Nguyên mẫu của phong trào nữ quyền
Artemis đại diện cho những phẩm chất được phong trào nữ quyền tôn vinh: năng lực và thành tựu vượt trội, sự độc lập khỏi đàn ông và những định kiến nam giới, cùng sự quan tâm sâu sắc dành cho những phụ nữ yếu thế, bị tổn thương và trẻ nhỏ. Nữ thần Artemis từng đỡ đẻ cho mẹ Leto, giải cứu Leto và Arethusa khỏi hiểm họa hiếp dâm, đồng thời trừng phạt đích đáng kẻ toan cưỡng bức Tityus và gã thợ săn xâm phạm Actaeon. Nàng là đấng chở che cho trẻ thơ, đặc biệt là các bé gái tiền dậy thì.
Những mối quan tâm này của Artemis tương đồng với những tôn chỉ của phong trào nữ quyền—vốn đã thúc đẩy sự ra đời của các trung tâm hỗ trợ nạn nhân bị xâm hại tình dục, các lớp học tự vệ, hỗ trợ phụ nữ bị quấy rối tình dục và các nhà tạm lánh cho nạn nhân bạo lực gia đình. Phong trào nữ quyền cũng đề cao phương pháp sinh nở an toàn và nghề đỡ đẻ, quan tâm đến các vấn nạn loạn luân và văn hóa phẩm đồi trụy, xuất phát từ mong muốn ngăn chặn mọi tổn hại đối với phụ nữ và trẻ em, đồng thời trừng phạt thích đáng những kẻ thủ ác.
Người chị em
Nữ thần Artemis luôn có đàn tiên nữ đồng hành—những tiểu nữ thần gắn liền với núi non, sông suối và rừng cây. Họ cùng nàng bôn ba, khám phá và săn bắn trên khắp các vùng hoang dã. Họ không bị trói buộc bởi chuyện tề gia nội trợ, thời trang hay những định kiến về điều phụ nữ "nên" làm, hoàn toàn nằm ngoài tầm kiểm soát của đàn ông hay thị hiếu nam giới. Họ gắn bó như "chị em gái", với Artemis là "Người Chị Cả" dẫn đường và là chỗ dựa vững chắc cho họ cậy nhờ. Vì Artemis là nguồn cảm hứng mang tính nguyên mẫu, nên việc phong trào nữ quyền luôn đề cao "tình chị em" (sisterhood) giữa những người phụ nữ là điều hoàn toàn dễ hiểu.
Gloria Steinem, người sáng lập kiêm chủ biên tạp chí Ms., là một hình mẫu phụ nữ hiện đại nhân cách hóa rõ nét nguyên mẫu Artemis. Steinem đã trở thành một nhân vật mang tính biểu tượng vượt tầm thời đại đối với những ai phóng chiếu hình ảnh nữ thần lên bà. Trước công chúng, Gloria Steinem hiện diện như một thủ lĩnh kiệt xuất của phong trào nữ quyền; còn trong tâm trí mọi người, đó là hình bóng một Artemis cao ráo, duyên dáng, đứng hiên ngang giữa những người bạn đồng hành.
Những phụ nữ hòa mình vào tôn chỉ và khát vọng của phong trào nữ quyền thường ngưỡng mộ và đồng nhất với Gloria Steinem như một hiện thân sống của Artemis. Sự đồng nhất này diễn ra mạnh mẽ vào đầu những năm 1970, khi vô số phụ nữ đeo cặp kính phi công đặc trưng của bà và bắt chước kiểu tóc dài buông xõa rẽ ngôi giữa. Mười năm sau, sự bắt chước bề ngoài này đã nhường chỗ cho những nỗ lực thực chất hơn: trở thành những người phụ nữ cuốn hút, sở hữu quyền năng cá nhân và tinh thần độc lập như bà.
Hào quang bí ẩn bao quanh vai trò và diện mạo của Steinem càng được củng cố bởi tình trạng độc thân của bà. Dù từng có tin đồn tình cảm với vài người đàn ông, bà không hề kết hôn—hoàn toàn tương thích với hình ảnh một người phụ nữ đại diện cho nữ thần đồng trinh "tự thân trọn vẹn", người "không thuộc về bất kỳ người đàn ông nào".
Steinem tiếp nối truyền thống của Artemis ở chỗ phụ nữ luôn tìm đến bà để xin giúp đỡ, và như một người chị cả, bà luôn sẵn lòng hỗ trợ. Tôi đã tận mắt cảm nhận sự ủng hộ ấy khi mời bà đến dự hội nghị thường niên của Hiệp hội Tâm thần học Hoa Kỳ (APA) để hỗ trợ những người trong chúng tôi đang cố gắng thúc đẩy APA ủng hộ phong trào tẩy chay các bang chưa phê chuẩn Tu chính án Bình đẳng Giới (ERA). Tôi vô cùng kinh ngạc trước quyền lực mà nhiều người đàn ông từng "mạo phạm bà" đã gán cho Gloria Steinem, và rồi họ phản ứng như thể sắp phải chịu chung số phận với Actaeon. Một số bác sĩ tâm thần nam phản đối bà thậm chí còn bày tỏ nỗi sợ hãi (vô căn cứ) rằng họ có thể bị khuynh gia bại sản hoặc mất các khoản tài trợ nghiên cứu nếu "nữ thần" này ra tay trừng phạt và tiêu diệt họ.
Artemis hòa mình vào thiên nhiên
Với mối liên kết sâu sắc dành cho chốn hoang dã và thiên nhiên chưa thuần hóa, Artemis là nguyên mẫu chịu trách nhiệm cho cảm giác hòa làm một với chính mình và vũ trụ mà nhiều phụ nữ trải qua khi vác ba lô leo núi rừng, ngủ say dưới bầu trời sao và ánh trăng, rảo bước trên bờ biển vắng, hay phóng tầm mắt qua sa mạc mênh mông và cảm nhận sự giao hòa tâm linh với tạo hóa.
Lynn Thomas, trong cuốn Người phụ nữ ba lô (The Backpacking Woman), đã miêu tả nhận thức của một người phụ nữ cảm nhận chốn hoang dã thông qua bản tính Artemis của mình:
"Trước hết là sự hùng vĩ và tĩnh lặng, dòng nước tinh khiết và bầu không khí trong lành. Đó còn là món quà của sự tách biệt... cơ hội để đứng ngoài các mối quan hệ và nghi thức thường nhật... cùng món quà của nguồn năng lượng dồi dào. Chốn hoang vu truyền cho ta nguồn năng lượng đặc biệt của riêng nó. Tôi nhớ có lần nằm bên dòng sông Snake ở Idaho và nhận ra mình không thể chợp mắt... các thế lực tự nhiên đang ôm trọn lấy tôi. Tôi bị cuốn vào vũ điệu của các ion và nguyên tử. Cơ thể tôi đang hưởng ứng theo lực hút lan tỏa của vầng trăng."
"Tầm nhìn dưới ánh trăng"
Sự tập trung sắc bén hướng thẳng vào mục tiêu của người thợ săn Artemis là một trong hai cách thức "nhìn nhận" gắn liền với nàng. "Tầm nhìn dưới ánh trăng" cũng là đặc trưng của Artemis với tư cách Nữ thần Mặt trăng. Dưới ánh trăng, cảnh vật trở nên êm dịu, các chi tiết mờ ảo, thơ mộng và ngập tràn vẻ bí ẩn. Tầm mắt người ta được hướng lên bầu trời ngàn sao hoặc mở rộng ra khung cảnh bao la của thiên nhiên. Trong ánh trăng, người kết nối với Artemis trở thành một phần hòa hợp, không chút gượng gạo với tự nhiên, hòa mình trọn vẹn vào vũ trụ trong giây lát.
Trong cuốn Phụ nữ chốn hoang sơ (Women in the Wilderness), China Galland nhấn mạnh rằng khi phụ nữ bước vào thiên nhiên hoang dã, họ cũng đồng thời dấn bước vào nội tâm: "Đi vào chốn hoang sơ chạm đến phần hoang dã bên trong mỗi chúng ta. Đây có lẽ là giá trị sâu sắc nhất của trải nghiệm này: sự nhận thức về mối liên kết ruột thịt giữa ta và thế giới tự nhiên." Những phụ nữ dõi theo Artemis vào chốn hoang dã thường thấy mình trở nên sâu sắc và hay chiêm nghiệm hơn. Những giấc mơ của họ thường sống động hơn bình thường, thôi thúc họ quay nhìn vào bên trong. Họ nhìn thấy cảnh quan nội tâm và các biểu tượng trong mơ bằng "ánh trăng", trái ngược với thực tại hữu hình vốn được cảm nhận rõ nhất dưới ánh sáng chói chang của ban ngày.
Nuôi dưỡng nguyên mẫu Artemis
Những phụ nữ mang bản tính Artemis lập tức nhận ra sự tương đồng giữa mình và vị nữ thần này. Những tuýp phụ nữ khác cũng có thể nhận thức được nhu cầu cần làm quen với nàng. Và có những người biết Artemis đã hiện diện bên trong mình và nhận ra cần để nàng có tầm ảnh hưởng lớn hơn. Làm thế nào để chúng ta nuôi dưỡng Artemis? Hoặc củng cố nguyên mẫu này? Và làm sao để khuyến khích Artemis phát triển ở các con gái của chúng ta?
Đôi khi, việc đánh thức Artemis đòi hỏi những biện pháp quyết liệt. Ví dụ, một nữ nhà văn tài năng, người rất coi trọng công việc sáng tác, lại liên tục bỏ bê ngòi bút mỗi khi có một người đàn ông bước vào đời cô. Người đàn ông nào ban đầu cũng khiến cô say đắm. Chẳng mấy chốc anh ta trở thành một nhu cầu không thể thiếu. Cuộc sống của cô xoay quanh anh ta, và nếu anh ta tỏ ra xa cách hay lạnh nhạt, cô sẽ trở nên cuống cuồng, hoảng loạn. Sau khi một người bạn nhận xét rằng cô đang "nghiện đàn ông", cô đã nhận ra khuôn mẫu lặp lại này và quyết định rằng nếu muốn nghiêm túc với sự nghiệp viết lách, cô phải "cai nghiện dứt điểm" và tạm thời tuyệt giao với đàn ông một thời gian. Cô chuyển ra khỏi thành phố, họa hoằn lắm mới gặp lại bạn bè cũ, để dành trọn tâm sức nuôi dưỡng sự tĩnh lặng, công việc và đánh thức Artemis bên trong mình.
Một người phụ nữ lấy chồng từ khi còn quá trẻ thường chuyển thẳng từ vai trò một người con gái sang làm vợ (về mặt nguyên mẫu là từ Persephone sang Hera), và có thể chỉ khám phá cũng như trân trọng các phẩm chất Artemis sau khi ly hôn—khi lần đầu tiên trong đời cô được sống một mình. Một người phụ nữ như vậy có thể tự mình đi du lịch và nhận ra mình vẫn có thể vui vẻ; hoặc khám phá ra sự thỏa mãn khi chạy bộ vài dặm mỗi sáng; hay tìm thấy niềm vui khi tham gia một nhóm tương trợ phụ nữ.
Hoặc một phụ nữ trải qua hàng loạt mối quan hệ, luôn cảm thấy mình vô giá trị trong những khoảng trống giữa hai người đàn ông, và chỉ có thể phát triển Artemis sau khi đã "buông xuôi chuyện yêu đương" và nghiêm túc chấp nhận rằng mình có thể sẽ không bao giờ kết hôn. Một khi có đủ dũng khí đối diện với khả năng này và tổ chức lại cuộc sống xoay quanh bạn bè cùng những đam mê cá nhân, cô có thể cảm nhận được sự vẹn nguyên tự thân, một cảm giác bình yên bất ngờ đến từ việc nuôi dưỡng nguyên mẫu Artemis.
Các chương trình dã ngoại nơi hoang dã dành cho phụ nữ giúp khơi gợi mạnh mẽ Artemis, đặc biệt là những chương trình kết hợp giữa trải nghiệm nhóm và hành trình độc hành dũng cảm. Khi phụ nữ tham gia các chuyến đi trải nghiệm sinh tồn hay các cuộc tìm kiếm linh ảnh (vision quest), họ đang vun đắp cho nguyên mẫu Artemis. Tương tự, khi con gái chúng ta thi đấu thể thao, tham gia các trại hè nữ sinh, đi du lịch khám phá những vùng đất mới, sống ở các nền văn hóa khác nhau dưới dạng du học sinh trao đổi, hay gia nhập các tổ chức tình nguyện, các em đang tích lũy những trải nghiệm giúp bồi đắp một Artemis tự lực cánh sinh.
HÌNH MẪU PHỤ NỮ ARTEMIS
Những phẩm chất của Artemis bộc lộ từ rất sớm. Một em bé mang bản tính Artemis thường là đứa trẻ chăm chú quan sát những đồ vật mới, chủ động hơn là thụ động. Mọi người thường trầm trồ trước khả năng tập trung vào công việc tự chọn của cô bé: "Mới hai tuổi mà con bé tập trung đáng nể thật," hoặc "Con bé này bướng bỉnh ra phết," hay "Hãy cẩn thận với những gì hứa với nó, trí nhớ nó dai như đỉa; nó không quên đâu—nó sẽ bắt bẻ đến cùng đấy." Thiên hướng khám phá những vùng đất mới của Artemis thường bắt đầu từ khoảnh khắc cô bé tìm cách trèo qua thành cũi, trốn khỏi cũi chơi để bước ra thế giới rộng lớn hơn.
Artemis có xu hướng bảo vệ quyết liệt những lý tưởng và nguyên tắc của mình. Cô bé có thể xông ra bênh vực một đứa trẻ nhỏ hơn hoặc giận dữ khẳng định: "Thế là bất công!" trước khi dấn thân vào một cuộc đấu tranh để sửa chữa điều sai trái. Những cô bé Artemis lớn lên trong những gia đình trọng nam khinh nữ—nơi con trai được ưu tiên nhiều quyền lợi hơn hoặc phải làm ít việc nhà hơn—sẽ không bao giờ cam chịu chấp nhận sự bất công này như một lẽ đương nhiên. Hình ảnh một nhà nữ quyền tương lai thường được bắt gặp đầu tiên qua dáng vẻ người em gái nhỏ đòi hỏi quyền bình đẳng.
Cha mẹ
Một người phụ nữ Artemis tự tin sải bước trên con đường riêng, luôn cảm thấy hài lòng về bản thân và tự hào khi mình là nữ giới, thường là người may mắn có được tình yêu thương của một người mẹ như Leto và sự chuẩn thuận của người cha như Zeus để giúp cô "hiện thực hóa" tiềm năng Artemis của mình. Để một phụ nữ Artemis có thể cạnh tranh và gặt hái thành công mà không rơi vào xung đột nội tâm, sự ủng hộ của người cha đóng vai trò tối quan trọng.
Nhiều người cha ủng hộ con gái tựa như Zeus, sẵn sàng trao cho con những "món quà" giúp cô thực hiện điều mình khao khát. Đôi khi món quà ấy là phi vật chất: những sở thích chung hay những nét tương đồng với ông mà ông nhận ra và khuyến khích. Hoặc đó có thể là những món quà hữu hình, như các khóa học đặc biệt và trang thiết bị luyện tập. Chẳng hạn, nhà vô địch quần vợt Chris Evert Lloyd được chính cha mình—tay vợt chuyên nghiệp Jimmy Evert—huấn luyện và tặng riêng một cây vợt tennis khi cô mới lên sáu tuổi.
Tuy nhiên, khi một cô con gái Artemis có cha mẹ không theo khuôn mẫu truyền thống, cuộc sống gia đình sẽ không còn giống đỉnh Olympus nữa—bởi thần thoại Hy Lạp không có hình mẫu tương đương. Khi cả cha lẫn mẹ đều bình đẳng, cùng nhau gánh vác việc nuôi dạy con cái, quán xuyến việc nhà và mỗi người đều có sự nghiệp riêng, cô con gái Artemis sẽ có một hình mẫu lý tưởng để noi theo, giúp cô trân trọng và phát huy các phẩm chất Artemis của mình. Hơn nữa, cô có thể làm được điều đó mà không phải băn khoăn liệu những phẩm chất này có xung đột với thiên chức làm mẹ hay các mối quan hệ tình cảm hay không.
Vấn đề sẽ nảy sinh khi cha mẹ chỉ trích hoặc chối bỏ đứa con gái Artemis chỉ vì cô không trở thành hình mẫu thùy mị mà họ mong đợi. Một người mẹ mong muốn có một bé gái ngoan ngoãn, thích ôm ấp, nhưng lại sinh ra một đứa trẻ hiếu động với khẩu hiệu "Đừng trói buộc con", có thể cảm thấy thất vọng hoặc bị đứa trẻ khước từ. Một người mẹ trông chờ con gái lẽo đẽo theo sau, chạy lại cầu cứu mỗi khi gặp chuyện và răm rắp nghe theo quan niệm "Mẹ luôn đúng" sẽ hoàn toàn vỡ mộng nếu sinh phải một cô con gái Artemis. Ngay từ khi lên ba, "Cô Bé Độc Lập" đã chẳng màng ở nhà với mẹ; cô thích chạy đi chơi với những đứa trẻ lớn hơn ở đầu phố. Và cô bé ghét cay ghét đắng việc phải diện những bộ váy áo diêm dúa hay tỏ ra dễ thương trước mặt bạn bè của mẹ.
Sau này, khi Artemis muốn làm điều gì đó cần sự đồng ý của cha mẹ, cô có thể vấp phải sự phản đối kịch liệt. Nếu các cậu con trai được phép làm còn cô thì không "chỉ vì con là con gái", cô sẽ gào thét phản kháng dữ dội. Và cô có thể hậm hực thu mình lại nếu những lời phản kháng rơi vào vô vọng. Sự cấm đoán và phản đối có thể bào mòn lòng tự trọng và sự tự tin của cô, đặc biệt nếu người cha mà cô hết mực kính trọng lại chê bai cô thiếu nữ tính, không bao giờ coi cô là "công chúa nhỏ của bố", đồng thời luôn tỏ vẻ coi thường hay chỉ trích những ý tưởng, năng lực hoặc khát vọng của cô.
Trong quá trình hành nghề tâm lý, tôi đã chứng kiến nhiều hệ lụy xảy ra khi những người cha đối đầu với những cô con gái Artemis. Thông thường, người con gái sẽ khoác lên mình vẻ ngoài ngang tàng bất cần nhưng sâu bên trong lại mang đầy thương tổn. Cô tỏ ra mạnh mẽ, không màng đến suy nghĩ của cha, âm thầm chờ đợi ngày được tự do bay nhảy. Hậu quả tuy khác nhau về mức độ nhưng đều đi theo một khuôn mẫu: cô trở thành người luôn xung đột với năng lực của chính mình và thường xuyên tự phá hoại bản thân—sự hoài nghi chính mình là kẻ thù nguy hiểm nhất. Dù bề ngoài cô đã kháng cự thành công quyền lực của cha trong việc kìm hãm khát vọng, cô lại vô thức dung nạp thái độ chỉ trích của ông vào sâu thẳm tâm trí. Tận đáy lòng, cô luôn dằn vặt với cảm giác mình chưa đủ tốt, ngập ngừng trước những cơ hội mới, đạt được thành tựu thấp hơn khả năng thực tế, và ngay cả khi thành công, cô vẫn cảm thấy bản thân còn đầy khiếm khuyết. Khuôn mẫu này được nhào nặn bởi các gia đình và nền văn hóa trọng nam khinh nữ, nơi luôn kỳ vọng con gái phải rập khuôn theo vẻ nữ tính truyền thống.
Một phụ nữ Artemis tham gia buổi hội thảo của tôi từng tâm sự: "Mẹ tôi muốn một Persephone (cô con gái bé nhỏ ngoan ngoãn), còn bố tôi muốn một đứa con trai. Và thứ họ nhận được là tôi." Một số bà mẹ của các cô gái Artemis cũng khước từ và chỉ trích con gái vì theo đuổi những mục tiêu mà họ coi là vô bổ. Những cô con gái này thường không chùn bước trước sự phản đối đó, nhưng nó vẫn ngấm ngầm làm suy yếu tinh thần của họ. Tuy nhiên, sức nặng từ sự tiêu cực của người mẹ thường nhẹ hơn người cha, bởi người cha nắm giữ uy quyền lớn hơn trong gia đình.
Một khó khăn phổ biến khác trong mối quan hệ mẹ con là khi các cô con gái Artemis có những người mẹ yếu đuối và thụ động. Mẹ của họ có thể bị trầm cảm, là nạn nhân của rượu chè, của một cuộc hôn nhân bất hạnh, hoặc quá non nớt. Khi mô tả mối quan hệ này, nhiều cô gái Artemis thốt lên: "Tôi mới chính là cha mẹ." Khi trò chuyện sâu hơn, họ bộc lộ nỗi buồn da diết vì không có một người mẹ mạnh mẽ hơn và bản thân cũng không đủ sức xoay chuyển cuộc đời mẹ. Trong khi nữ thần Artemis luôn bảo vệ được mẹ Leto, thì nỗ lực giải cứu mẹ của các cô con gái Artemis ngoài đời thực lại thường chuốc lấy thất bại.
Sự coi thường và thiếu tôn trọng đối với người mẹ yếu đuối càng củng cố thêm các phẩm chất nữ thần đồng trinh ở những cô con gái Artemis. Quyết tâm không đi vào vết xe đổ của mẹ, họ kìm nén nhu cầu phụ thuộc, tránh bộc lộ sự yếu mềm và thề sẽ sống hoàn toàn độc lập.
Khi một người con gái Artemis mất đi sự tôn trọng dành cho người mẹ vốn chỉ quanh quẩn với các vai trò truyền thống, cô sẽ rơi vào thế tiến thoái lưỡng nan. Khi từ chối đồng nhất với mẹ, cô thường vô tình chối bỏ luôn những gì được coi là nữ tính—sự dịu dàng, tính đón nhận và những rung động hướng tới hôn nhân và thiên chức làm mẹ. Cô lại tiếp tục bị dằn vặt bởi cảm giác thiếu sót—lần này là trong việc định hình bản sắc nữ tính của chính mình.
Tuổi vị thành niên và bước đầu trưởng thành
Thời con gái, phụ nữ Artemis thường là một đối thủ cạnh tranh bẩm sinh, sở hữu lòng kiên trì, lòng quả cảm và khát khao chiến thắng mãnh liệt. Để theo đuổi bất kỳ mục tiêu nào, cô sẽ dốc cạn sức lực đến giới hạn cuối cùng. Cô có thể là một nữ hướng đạo sinh—thích đi bộ đường dài, leo núi, cắm trại ngoài trời, cưỡi ngựa, vung rìu bổ củi dựng lửa trại, hoặc như chính Artemis, trở thành một cung thủ cừ khôi. Hình mẫu thiếu nữ Artemis không thể trộn lẫn chính là cô bé "mê ngựa như điếu đổ", với cả thế giới chỉ xoay quanh loài vật này. Nữ nhân vật chính trong bộ phim kinh điển National Velvet là hiện thân hoàn hảo cho nguyên mẫu thiếu nữ Artemis đó.
Thiếu nữ Artemis là một cô gái mang đậm tính độc lập và niềm đam mê khám phá. Cô xông xáo vào rừng sâu, trèo lên những ngọn đồi cao, hoặc tò mò muốn biết có gì ở dãy nhà kế tiếp và dãy nhà sau đó nữa. "Đừng giam cầm tôi" và "Đừng dẫm đạp lên tôi" là những châm ngôn sống của cô. Thuở thiếu thời, cô ít khi thỏa hiệp hay thuận theo số đông hơn bạn bè đồng trang lứa, bởi cô không bị thôi thúc bởi nhu cầu làm vừa lòng người khác và luôn biết rõ mình muốn gì. Tuy nhiên, sự quả quyết này có thể phản tác dụng: người khác có thể gán cho cô cái mác "cứng đầu", "ngang ngạnh" và "thiếu nữ tính".
Khi rời gia đình vào đại học, người phụ nữ Artemis tận hưởng cảm giác thăng hoa của sự tự do và sự phấn khích trước những thử thách cạnh tranh đầy mê hoặc. Cô thường tìm được một nhóm bạn cùng chí hướng để "chạy cùng nhau". Nếu đam mê chính trị, cô có thể hăng hái tham gia tranh cử.
Và nếu là một tín đồ rèn luyện thể chất, cô có thể chạy bộ hàng chục dặm mỗi ngày, say sưa trong sức mạnh và sự dẻo dai của cơ thể, tận hưởng trạng thái tĩnh tâm tuyệt đối khi đôi chân sải bước. (Tôi chưa từng gặp một người phụ nữ nào chạy marathon mà không mang trong mình một bản tính Artemis mạnh mẽ—nguồn gốc tạo nên sự kết hợp giữa mục tiêu kiên định, cường độ tập trung, tính cạnh tranh và ý chí sắt đá). Artemis cũng hiện diện ở những nữ vận động viên trượt tuyết, những người luôn định hướng đường trượt xuống núi một cách đầy bản năng, cơ thể luôn hướng về phía trước trong một tư thế sẵn sàng đương đầu với mọi hiểm trở mà không một chút do dự.
Công việc
Người phụ nữ Artemis dồn trọn tâm huyết vào công việc mang lại giá trị nội tâm cho riêng mình. Cô được thôi thúc bởi sự cạnh tranh và không hề chùn bước trước những rào cản. Người phụ nữ Artemis theo đuổi các ngành nghề cứu trợ, công tác xã hội hay ngành luật thường có một lý tưởng cao đẹp dẫn lối. Nếu làm kinh doanh, có thể cô khởi nghiệp bằng một sản phẩm mà cô thực sự tin tưởng, hoặc sản phẩm đó giúp cô thực hiện điều mình ấp ủ. Nếu hoạt động trong lĩnh vực sáng tạo, cô thường truyền tải nhãn quan cá nhân sâu sắc. Nếu dấn thân vào chính trường, cô sẽ là người đấu tranh kiên cường cho một lý tưởng, thường liên quan đến môi trường hoặc các vấn đề nữ quyền. Thành công ngoài xã hội—danh tiếng, quyền lực hay tiền bạc—có thể tự tìm đến nếu lĩnh vực cô xuất sắc được xã hội tưởng thưởng xứng đáng.
Tuy nhiên, những đam mê mà nhiều phụ nữ Artemis theo đuổi đôi khi không mang lại giá trị thương mại, chẳng dẫn đến một sự nghiệp rạng rỡ hay giúp dày thêm túi tiền. Thậm chí trái lại, niềm đam mê đó đôi khi quá dị biệt hoặc đi lệch khỏi chuẩn mực thông thường, ngốn ngấu quá nhiều thời gian, đến mức cầm chắc sự thất bại ngoài xã hội và sự cô độc trong các mối quan hệ. Dẫu vậy, hành trình đó vẫn mang lại sự thỏa mãn tột cùng cho phẩm chất Artemis bên trong cô. Chẳng hạn, người đấu tranh cho những lý tưởng vô vọng, nhà cải cách không được đón nhận, "tiếng kêu trong sa mạc" chẳng ai đoái hoài phần lớn là những phụ nữ Artemis; và người nghệ sĩ miệt mài sáng tạo bất chấp sự thờ ơ hay thất bại về mặt thương mại cũng vậy. (Trong trường hợp của người nghệ sĩ, Aphrodite cùng khả năng sáng tạo và sự nhấn mạnh vào trải nghiệm chủ quan đã kết hợp hài hòa với Artemis).
Vì phụ nữ Artemis không đi theo lối mòn truyền thống, những xung đột nội tâm hay va chạm với người ngoài có thể làm tê liệt nỗ lực của cô. Những gì cô khao khát có thể bị coi là "vùng cấm", chẳng hạn như khi gia đình xem những hoài bão ấy là không phù hợp với một người con gái. Ngành nghề cô muốn dấn thân có thể chỉ vừa mới mở cửa cho phụ nữ trong thời gian gần đây. Nếu "sinh ra quá sớm" trước thời kỳ của phong trào nữ quyền, cô có thể bị đánh gục bởi những rào cản và sự thiếu vắng hậu thuẫn, khiến ngọn lửa Artemis bên trong cô bị dập tắt.
Mối quan hệ với phụ nữ: Tình chị em
Phụ nữ Artemis luôn có cảm giác gắn kết ruột thịt với những người phụ nữ khác. Tựa như nữ thần luôn quây quần bên các tiên nữ, người phụ nữ Artemis luôn coi tình bạn với phái nữ là điều tối quan trọng. Khuôn mẫu này bắt nguồn từ thời tiểu học. Họ luôn có những "người bạn tri kỷ" cùng chia sẻ mọi buồn vui trong đời, và tình bạn ấy có thể kéo dài suốt nhiều thập kỷ.
Trong công việc, phụ nữ Artemis dễ dàng liên kết với các mạng lưới tương trợ phụ nữ. Các hội nhóm, mạng lưới kết nối và mối quan hệ dìu dắt thế hệ trẻ là biểu hiện tự nhiên của nguyên mẫu người chị em.
Ngay cả những phụ nữ Artemis tôn sùng chủ nghĩa cá nhân và né tránh đám đông cũng hầu như luôn ủng hộ quyền phụ nữ. Lập trường này có thể phản ánh sự đồng cảm với mẹ của họ, qua đó họ thấu hiểu và xót xa cho thân phận phụ nữ trên cõi đời. Hoặc lập trường đó bắt nguồn từ những ước mơ dang dở, bị kìm nén của chính người mẹ. Nhiều phụ nữ Artemis trong thập niên 1970 đã thực hiện và sống trọn với những gì mẹ họ từng khao khát nhưng bất lực không thể làm được. Khi mẹ họ còn trẻ, làn sóng bùng nổ trẻ sơ sinh sau Thế chiến II đã không cho Artemis có đất diễn. Đằng sau một người phụ nữ Artemis thành công, ta thường bắt gặp bóng hình một người mẹ thầm lặng đứng sau, tự hào cổ vũ cho cô con gái dũng cảm của mình.
Về bản chất, hầu hết phụ nữ Artemis đều có thiên hướng nữ quyền—những tôn chỉ của phong trào này luôn chạm đến tâm can họ. Người phụ nữ Artemis luôn thấy mình ngang hàng với nam giới; cô từng cạnh tranh sòng phẳng với họ và thường thấy những vai vế rập khuôn mà xã hội áp đặt lên mình là giả tạo. Việc phải giấu giếm tài năng—như "Đừng để đàn ông biết mình thông minh" hay "Hãy nhường cho đàn ông thắng (trong một cuộc tranh luận hay một trận tennis)"—hoàn toàn đi ngược lại bản chất tự nhiên của cô.
Tính dục
Một người phụ nữ Artemis có thể giống như vị nữ thần ở việc giữ trọn sự trinh bạch vĩnh cửu, để tính dục ngủ yên và không biểu lộ. Tuy nhiên, trong thời hiện đại, điều này khá hiếm gặp. Nhiều khả năng, khi trưởng thành, người phụ nữ Artemis đã tích lũy những trải nghiệm tình dục như một phần trong bản tính tò mò muốn khám phá và thử nghiệm những chân trời mới.
Đời sống tình dục của một phụ nữ Artemis có thể tương tự như một người đàn ông truyền thống xem trọng sự nghiệp. Với cả hai, các mối quan hệ tình cảm chỉ là thứ yếu. Sự dấn thân cho sự nghiệp, dự án sáng tạo hay lý tưởng mới là điều tiên quyết. Tình dục khi ấy giống như một môn thể thao giải trí hay một trải nghiệm thể xác đơn thuần—hơn là sự bộc lộ của sự thân mật và cam kết cảm xúc sâu sắc (điều mà Hera thôi thúc), hoặc một bản năng biểu đạt sâu sắc vẻ gợi cảm tự nhiên (điều cần đến Aphrodite).
Nếu là người đồng tính nữ, phụ nữ Artemis thường sinh hoạt tích cực trong cộng đồng hoặc mạng lưới đồng tính nữ. Dẫu phụ nữ Artemis dị tính hay đồng tính đều xây dựng những mối quan hệ khăng khít với bạn bè cùng giới, thì người phụ nữ Artemis đồng tính có thể xem sự gần gũi về mặt thể xác như một khía cạnh bổ sung cho tình bạn—chứ không hẳn là mục đích duy nhất của mối quan hệ.
Một phụ nữ Artemis đồng tính có thể tìm kiếm một người tình như "bản sao phản chiếu" của chính mình—một mối quan hệ gần như chị em sinh đôi; hoặc cô có thể bị thu hút bởi một người dịu dàng, mềm mại, mang nét "nữ tính" thanh thoát như một tiên nữ với cá tính ít sắc sảo hơn. Dù dị tính hay đồng tính, cô đều tránh né những mối quan hệ mà ở đó cô bị kiểm soát, chi phối bởi một đối tác mang tính "cha mẹ", hoặc bản thân cô bị ép phải đóng vai trò bảo bọc như đấng sinh thành.
Hôn nhân
Hôn nhân thường là điều xa vời trong tâm trí người phụ nữ Artemis ở những năm đầu tuổi trưởng thành, khi cô đang mải mê với công việc và lý tưởng. Hơn nữa, việc "yên bề gia thất" chẳng mấy hấp dẫn đối với một Artemis luôn thích xê dịch. Nếu là người quyến rũ và nổi bật, rất có thể cô đã trải qua nhiều mối tình, thoải mái hẹn hò với nhiều người đàn ông khác nhau chứ không chịu trói buộc vào một ai. Cô thậm chí có thể chọn sống thử thay vì tiến tới hôn nhân. Cô hoàn toàn có thể chọn cuộc sống độc thân suốt đời.
Khi quyết định kết hôn, bạn đời của cô thường là bạn học, đồng nghiệp hoặc đối thủ cạnh tranh cũ. Cuộc hôn nhân của cô thường mang tính bình đẳng sâu sắc. Ngày nay, cô có xu hướng giữ lại họ của mình sau khi cưới thay vì đổi theo họ chồng.
Mối quan hệ với đàn ông: Tình anh em
Nữ thần Artemis có một người anh em song sinh là Apollo, Vị thần Mặt trời toàn năng. Chàng là bản sao nam tính của nàng: lãnh địa của chàng là thành thị phồn hoa, của nàng là chốn hoang vu tịch mịch; chàng là vầng thái dương rực rỡ, nàng là ánh nguyệt dịu dàng; chàng chăn dắt những đàn gia súc thuần hóa, nàng bảo bọc muôn loài thú hoang dã; chàng là thần của âm nhạc tao nhã, nàng là nguồn cảm hứng cho những điệu múa vòng hoang dại trên đỉnh núi cao. Thuộc thế hệ thần Olympus thứ hai, Apollo đứng ở hàng ngũ của những người con trai thay vì các bậc phụ vương. Một mặt, chàng gắn liền với lý trí và luật lệ. Mặt khác, với tư cách Thần Tiên tri (các nữ tư tế của chàng truyền lời sấm tại Delphi), chàng cũng gắn liền với những điều huyền bí phi lý tính. Giống như người chị em của mình, Apollo mang phẩm chất lưỡng tính (androgynous): mỗi người đều sở hữu những nét tính cách hay sở thích vốn thường được gán cho giới tính đối lập.
Mối quan hệ song sinh giữa Artemis và Apollo là mô hình phổ biến nhất trong cách phụ nữ Artemis tương tác với đàn ông—dù họ là bạn bè, đồng nghiệp hay bạn đời. Hơn nữa, người phụ nữ Artemis thường bị thu hút bởi người đàn ông mang nét tính cách thẩm mỹ, sáng tạo, giàu lòng trắc ẩn hoặc có thiên khiếu âm nhạc. Công việc của anh có thể thuộc các ngành cứu trợ xã hội hoặc lĩnh vực nghệ thuật. Anh thường ngang tài ngang sức về trí tuệ với cô, có chung những đam mê hoặc sở thích bổ trợ cho nhau. Một ví dụ điển hình cho mối quan hệ kiểu Artemis-Apollo là cặp đôi Jane Fonda (nữ diễn viên, nhà hoạt động xã hội kiêm biểu tượng thể dục thể hình) và chồng bà, Tom Hayden (chính trị gia cấp tiến).
Người phụ nữ Artemis hoàn toàn không bị hấp dẫn bởi những người đàn ông gia trưởng, độc đoán theo kiểu "Anh là Tarzan, em là Jane". Cô cũng chẳng hề hứng thú với mối quan hệ kiểu mẹ - con. Cô né tránh những gã đàn ông luôn đòi hỏi mình phải là trung tâm của vũ trụ. Với tư thế hiên ngang về mặt tâm lý hệt như tầm vóc cao ráo của vị nữ thần, cô cảm thấy nực cười nếu phải gượng ép đóng vai "người phụ nữ bé nhỏ nép sau lưng chồng".
Mối quan hệ Artemis-Apollo và những đam mê hoạt động ngoài trời thường song hành cùng nhau. Cả hai có thể cùng là vận động viên trượt tuyết, chạy bộ hoặc những người đam mê rèn luyện thể chất. Nếu một phụ nữ Artemis yêu thiên nhiên không thể cùng bạn đời chia sẻ những chuyến leo núi, trượt tuyết hay những sở thích cô say mê, cô sẽ cảm thấy mối quan hệ đó thiếu đi một mắt xích sống còn.
Mối quan hệ Artemis-Apollo có thể dẫn đến một cuộc hôn nhân đồng hành, hòa hợp về mặt tinh thần nhưng lại thiếu vắng sự nồng nàn về thể xác, nơi hai người xem nhau như những người bạn tri kỷ nhất. Chẳng hạn, một số phụ nữ Artemis kết hôn với đàn ông đồng tính, trân trọng sự đồng hành và không gian tự do mà mỗi bên dành cho nhau. Một phụ nữ Artemis có thể vẫn giữ mối quan hệ bạn thân với người chồng cũ sau khi anh rời bỏ cuộc hôn nhân "huynh đệ" ấy vì đem lòng yêu say đắm một người phụ nữ mang nét tính cách khác.
Để một người phụ nữ Artemis có được đời sống tình dục sâu sắc và thăng hoa trong hôn nhân, một vị nữ thần khác—Aphrodite—phải lên tiếng. Và để cuộc hôn nhân ấy trở thành sự cam kết một vợ một chồng trọn đời, Hera cũng cần phải hiện diện. Nếu thiếu vắng hai vị nữ thần này, mối quan hệ Artemis-Apollo sẽ rất dễ trượt về trạng thái của tình anh em thuần túy.
Bên cạnh mô hình bạn đời bình đẳng, kiểu quan hệ phổ biến thứ hai của phụ nữ Artemis là gắn bó với những người đàn ông biết chở che, chăm sóc cô. Người đàn ông như vậy là chốn bình yên để cô "trở về sau giông bão". Anh dạy cô biết thấu hiểu và nhạy cảm trước cảm xúc của người khác. Và anh cũng thường là người chủ động mong muốn cả hai có một đứa con.
Những mối quan hệ ít hòa hợp hoặc xung đột mà phụ nữ Artemis vướng vào thường là sự tái hiện lại những mâu thuẫn thời thơ ấu giữa cha và con gái. Người chồng như vậy sẽ không ủng hộ khát vọng của cô, luôn tìm cách vùi dập và chỉ trích cô. Giống như cách đối đầu với cha mình, cô sẽ bướng bỉnh thách thức và tiếp tục theo đuổi sự nghiệp. Tuy nhiên, lòng tự trọng của cô sẽ bị tổn thương nặng nề, hoặc ý chí của cô bị khuất phục và cuối cùng phải gượng ép chiều theo quan niệm của anh ta về hình mẫu người phụ nữ ngoan ngoãn.
Hoặc, tương tự như thần thoại về Artemis và Orion, một phụ nữ Artemis có thể đem lòng yêu một người đàn ông mạnh mẽ nhưng lại không thể kìm nén bản tính hiếu thắng trong mối quan hệ, và chính điều đó đã giết chết tình yêu. Nếu anh gặt hái được thành tựu nào đó, thay vì thật lòng mừng cho anh, cô lại cảm thấy ấm ức trước thành công ấy và tìm cách hạ bệ nó; sự ganh đua này sẽ dần bào mòn tình yêu anh dành cho cô. Hoặc ngược lại, chính thói hơn thua của người đàn ông sẽ bóp chết tình cảm trong cô—chẳng hạn như khi anh xem thành quả của cô là sự lấn lướt hay đe dọa vị thế của mình. Nếu cả hai không thể ngừng so kè, mọi thử thách nảy sinh giữa họ, từ một cuộc đua trượt tuyết đến một ván bài giải trí, đều có thể biến thành những trận chiến sinh tử.
Những người đàn ông xem mẫu phụ nữ Artemis là "hình mẫu lý tưởng của đời tôi" thường bị thu hút bởi cảm giác gặp được một bản sao tâm hồn—một nửa đối chiếu mang tính nữ của chính họ. Hoặc họ bị cuốn hút bởi ý chí kiên cường, tinh thần độc lập và quyết đoán của cô—những phẩm chất vốn chưa được phát triển bên trong con người họ. Hay họ tìm đến cô như một biểu tượng của sự thuần khiết tương ứng với lý tưởng nội tâm của mình.
Mô típ "song sinh" là cội nguồn của sự hấp dẫn phổ biến nhất. Ở đây, người đàn ông tìm thấy một người bạn đời ngang hàng, người mang lại cảm giác thoải mái tự nhiên, người có thể kề vai sát cánh cùng anh đương đầu với mọi chông gai.
Người đàn ông nhìn thấy ở Artemis những phẩm chất đáng ngưỡng mộ mà bản thân còn thiếu hụt thường bị cuốn hút bởi ý chí sắt đá và tinh thần tự chủ của cô. Anh tôn sùng cô chính vì những nét tính cách vốn thường bị coi là "không nữ tính". Với anh, sức mạnh của cô chính là nét quyến rũ tuyệt vời nhất. Hình mẫu lý tưởng của anh tương tự như Wonder Woman (người lấy bí danh là Diana—tên La Mã của Artemis).
Khi con trai tôi lên tám tuổi, tôi tình cờ nghe bạn của cháu kể về những chiến tích dũng cảm của một cô bạn gái với giọng đầy thán phục. Cậu bé xem bạn gái mình là người bộc trực, can đảm, một người mà cậu có thể tin tưởng tuyệt đối sẽ đến giải cứu mình: "Nếu đứa nào dám bắt nạt tớ, tớ chỉ cần gọi một tiếng là cậu ấy sẽ có mặt ngay lập tức." Với tư cách là một bác sĩ tâm thần, tôi cũng nhận thấy đúng tông giọng ngưỡng mộ và niềm tự hào gắn kết ấy khi những người đàn ông mang lý tưởng Artemis chia sẻ về những thành tựu rực rỡ của người phụ nữ họ yêu.
Kiểu đàn ông thứ ba bị thu hút bởi sự tinh khôi của Artemis, sự trinh bạch và sự gắn kết của nàng với thiên nhiên nguyên sơ. Trong thần thoại Hy Lạp, sự say mê này được nhân cách hóa qua Hippolytus, một chàng trai tuấn tú nguyện dâng hiến cuộc đời cho nữ thần Artemis và thề giữ mình đồng trinh. Sự trinh bạch của chàng đã xúc phạm Aphrodite—Nữ thần Tình yêu, người sau đó đã gây ra một chuỗi bi kịch đau lòng (câu chuyện tôi sẽ kể trong chương về Aphrodite). Những người đàn ông bị thu hút bởi những phụ nữ thuần khiết như Artemis thường cảm thấy ghê sợ dục tính trần tục. Giống như chàng Hippolytus trẻ tuổi, họ có thể đang ở độ tuổi thanh niên hoặc bước đầu trưởng thành, và bản thân họ cũng có thể còn giữ sự trong trắng.
Con cái
Người phụ nữ Artemis khó có thể là mẫu phụ nữ "Mẹ Đất" bao dung—việc mang thai hay cho con bú sẽ không thể mang lại sự viên mãn trọn vẹn cho cô. Thậm chí, chuyện bầu bí có thể gây cảm giác khó chịu đối với một phụ nữ Artemis vốn yêu thích thân hình thể thao, săn chắc và nhanh nhẹn. Cô không cảm nhận được thôi thúc bản năng mạnh mẽ để làm mẹ (để có điều này, Demeter phải hiện diện). Dẫu vậy, cô vẫn rất yêu quý trẻ con.
Khi sinh con, phụ nữ Artemis thường là những người mẹ tuyệt vời—tựa như hình ảnh gấu mẹ vốn là biểu tượng của nàng. Cô là kiểu người mẹ luôn khuyến khích tính tự lập, dạy con cách tự đứng trên đôi chân của mình nhưng cũng có thể trở nên hung dữ tột cùng để bảo vệ con. Nhiều đứa con của phụ nữ Artemis tin chắc rằng mẹ chúng sẵn sàng chiến đấu đến hơi thở cuối cùng để bảo vệ chúng.
Phụ nữ Artemis cảm thấy hoàn toàn thanh thản khi không sinh con, đem nguồn năng lượng chăm sóc đặc biệt của mình—vốn giống như một người cô, người dì trẻ trung—dành cho con cái của người khác. Trở thành người hướng dẫn trại hè, mẹ kế hay thành viên của các tổ chức tình nguyện dìu dắt trẻ em là những mảnh đất màu mỡ cho họ. Trong những vai trò này, họ giống như nữ thần Artemis dang tay chở che cho những thiếu nữ đang đứng trước ngưỡng cửa trưởng thành.
Các bà mẹ Artemis không hề hoài niệm hay tiếc nuối khoảng thời gian con còn ẵm ngửa hay chập chững phụ thuộc. Thay vào đó, họ hào hứng mong chờ ngày con cái trở nên tự lập hơn. Những bé trai bé gái hiếu động, thích khám phá sẽ thấy mẹ Artemis là người bạn đồng hành tuyệt vời. Người mẹ Artemis sẽ vô cùng thích thú khi con mang về nhà một chú rắn cỏ vô hại, và sẵn lòng cùng con đi cắm trại hay trượt tuyết.
Nhưng rắc rối sẽ nảy sinh nếu người phụ nữ Artemis sinh phải một đứa con yếu đuối, thụ động và bám mẹ. Việc cố ép con phải tự lập quá sớm có thể phản tác dụng, khiến đứa trẻ càng thêm đeo bám và sợ hãi. Đứa trẻ có thể cảm thấy bị chối bỏ, thấy mình kém cỏi vì không đáp ứng được kỳ vọng của người mẹ Artemis mạnh mẽ.
Tuổi trung niên
Một người phụ nữ Artemis trong độ tuổi từ 35 đến 55 có thể rơi vào cuộc khủng hoảng tuổi trung niên nếu không có thêm khía cạnh nữ thần nào khác trong cuộc đời. Artemis là khuôn mẫu rất phù hợp với một thiếu nữ giàu mục tiêu, kiên định theo đuổi con đường đã chọn. Nhưng khi bước vào tuổi trung niên, một bước ngoặt có thể xuất hiện. Giờ đây, những "vùng đất hoang sơ chưa được khai phá" để cô khám phá ngày càng ít đi. Cô hoặc đã gặt hái thành công với các mục tiêu đề ra, hoặc rơi vào trạng thái bế tắc chững lại, hoặc đã nếm mùi thất bại.
Giai đoạn trung niên của phụ nữ Artemis cũng có thể mở ra một khoảng lặng chiêm nghiệm khi cô quay vào thế giới nội tâm, chịu ảnh hưởng sâu sắc hơn từ Artemis với tư cách Nữ thần Mặt trăng thay vì Nữ thần Săn bắn. Những mộng tưởng và giấc mơ thời kỳ mãn kinh có thể thôi thúc một phụ nữ Artemis vốn hướng ngoại dấn thân vào cuộc hành trình nội tâm. Trong chuyến đi ấy, cô đối mặt với những "bóng ma" từ quá khứ, khám phá ra những cảm xúc hay khao khát sâu kín đã bị ngó lơ từ lâu. Động lực hướng nội thời kỳ mãn kinh này có mối liên hệ mật thiết với Hecate—mụ phù thủy già, nữ thần của bóng đêm không trăng, của những linh hồn và thế giới siêu linh. Cả Hecate và Artemis đều là những nữ thần mặt trăng ngao du khắp chốn trần gian. Mối liên hệ giữa hai vị nữ thần này được thể hiện rõ ở những phụ nữ Artemis lớn tuổi khi họ dấn thân vào các lĩnh vực tâm linh, tâm lý hay huyền học với trọn vẹn niềm đam mê khám phá như thuở còn son trẻ.
Tuổi xế chiều
Không có gì lạ khi những phẩm chất Artemis ở một người phụ nữ vẫn vẹn nguyên cho đến lúc tuổi già. Sự năng động, trẻ trung của bà không bao giờ tắt. Bà không chịu ngồi yên một chỗ; tâm trí hoặc cơ thể—thường là cả hai—luôn không ngừng vận động. Bà là một lữ khách miệt mài khám phá những dự án mới hoặc những vùng đất xa xôi. Bà giữ được sự gần gũi với giới trẻ và lối tư duy tươi mới, điều giúp bà không bao giờ cảm thấy mình "đã trung niên" khi ở độ tuổi xế bóng, hay "đã già nua" khi tuổi đời đã xế chiều.
Hai người phụ nữ nổi tiếng ở Bắc California là hiện thân sống động cho khía cạnh này của Artemis. Người thứ nhất là nhà tự nhiên học kiêm nhà giáo Elizabeth Terwilliger; dù đã ngoài bảy mươi, bà vẫn dẫn đầu từng đoàn học sinh tiến vào những cánh đồng cỏ, rừng rậm, sông suối và núi non. Bà hào hứng chỉ cho lũ trẻ một cây nấm quý ẩn sau gốc cây, giơ cao một chú rắn xinh đẹp, giới thiệu những loài cây ăn được trên sườn đồi và chuyền tay nhau nếm thử lá rau sam đất. Suốt hành trình ấy, bà truyền ngọn lửa đam mê, đánh thức tình yêu thiên nhiên kỳ diệu cho hết thế hệ trẻ thơ này đến thế hệ khác, cũng như cho cả những người lớn biết mở lòng đón nhận.
Một Artemis cao niên, hoạt bát thứ hai là Frances Horn, người đã dấn thân vào hành trình thám hiểm bản tính con người. Ở tuổi 70, bà nhận bằng tiến sĩ tâm lý học; đến tuổi 75, bà xuất bản cuốn tự truyện Tôi muốn một điều (I Want One Thing), ghi lại những cuộc kiếm tìm và đúc kết những giá trị trường tồn mà bà khám phá được.
Georgia O’Keeffe, nữ nghệ sĩ lừng danh nhất nước Mỹ, vẫn tiếp tục là hiện thân mẫu mực của Artemis ngay cả khi đã ngoài chín mươi, như cách bà đã sống suốt cả cuộc đời. Bà dành trọn niềm đam mê và sự gắn kết tâm linh cho vùng Tây Nam hoang dã, kết hợp với một ý chí kiên định giúp bà chạm tới những đỉnh cao cuộc đời. O’Keeffe từng nói: "Tôi luôn biết rõ mình muốn gì—trong khi hầu hết mọi người thì không." Bà chiêm nghiệm rằng thành công của mình có thể bắt nguồn từ một nét tính cách quyết liệt, thôi thúc bà "nắm bắt bất cứ điều gì xuất hiện mà tôi khao khát". Tựa như Artemis, O’Keeffe đã giương cung ngắm bắn chuẩn xác và đoạt được những gì mình kiếm tìm.
Năm 1979, ở tuổi 92, O’Keeffe là người phụ nữ còn sống duy nhất được vinh danh trong tác phẩm Bữa tiệc tối (The Dinner Party) của nghệ sĩ Judy Chicago—một công trình nghệ thuật gồm những bàn tiệc bằng sứ và thêu ren nhằm tri ân 39 người phụ nữ kiệt xuất trong lịch sử. Đĩa tiệc của O’Keeffe được nâng cao hơn hẳn so với tất cả những đĩa khác—theo Chicago, điều này biểu trưng cho "khát vọng gần như viên mãn của O’Keeffe trong việc trở thành một người phụ nữ hoàn toàn độc lập, làm chủ cuộc đời mình".
NHỮNG VƯỚNG MẮC TÂM LÝ
Nữ thần Artemis rong ruổi khắp lãnh địa hoang sơ cùng những người bạn đồng hành do chính nàng lựa chọn, làm những điều khiến nàng vui thích. Khác với những nữ thần từng là nạn nhân bị chà đạp, Artemis chưa bao giờ phải chịu đau khổ. Tuy nhiên, nàng lại gieo rắc tai ương cho những kẻ mạo phạm mình hoặc đe dọa những người dưới sự chở che của nàng. Tương tự như vậy, những vướng mắc tâm lý đặc trưng ở phụ nữ Artemis thường khiến người xung quanh phải chịu tổn thương, thay vì tự chuốc lấy nỗi đau cho chính bản thân cô.
Đồng nhất với Artemis
Sống "như một Artemis" mải miết theo đuổi mục tiêu hay dồn hết tâm trí cho công việc có thể mang lại sự thỏa mãn lớn cho người phụ nữ Artemis. Cô thường không cảm thấy cuộc sống của mình thiếu thốn điều gì, đặc biệt nếu cô có thể dồn nguồn năng lượng dồi dào vào công việc mang ý nghĩa sâu sắc. Cô yêu thích một lối sống xê dịch, không ngừng vận động. Một "mái ấm cố định" không quá quan trọng. Hôn nhân và con cái cũng chẳng phải là nhu cầu cấp bách, bất chấp áp lực từ gia đình và xã hội—trừ khi Hera hay Demeter cũng là những nguyên mẫu mạnh mẽ bên trong cô. Dẫu thiếu vắng sự gắn kết cảm xúc sâu sắc và bền chặt, cô vẫn có những mối quan hệ chị em, anh em tri kỷ với bạn bè khác giới và cùng giới, đồng thời có thể tìm thấy niềm vui khi chơi đùa cùng con cái của người khác.
Việc đồng nhất với Artemis sẽ định hình tính cách của người phụ nữ. Khi ấy, cô cần được thử thách và gắn bó với những đam mê mang lại giá trị nội tâm. Nếu không, nguyên mẫu này sẽ bị tắc nghẽn, không thể tìm được lối thoát thích đáng, khiến người phụ nữ Artemis rơi vào cảm giác ức chế, bực bội và cuối cùng là trầm cảm. Đây chính là thực trạng của nhiều phụ nữ Artemis trong thời kỳ bùng nổ dân số sau Thế chiến II, những người đã vùng vẫy trong tuyệt vọng để thích nghi với những vai trò hạn hẹp của thời đại.
Nhớ lại việc nữ thần Artemis từng tàn nhẫn và hủy diệt người khác ra sao, ta không ngạc nhiên khi thấy sự đồng nhất vô thức của người phụ nữ với Artemis có thể biểu hiện qua những hành vi làm tổn thương và xúc phạm người xung quanh. Những mặt tiêu cực tiềm ẩn này được phân tích chi tiết dưới đây.
Coi thường sự yếu mềm
Chừng nào còn yếu tố "săn đuổi", người phụ nữ Artemis còn cảm thấy hứng thú với một người đàn ông. Nhưng nếu anh ta tiến lại quá gần về mặt cảm xúc, ngỏ lời cầu hôn hoặc bắt đầu dựa dẫm vào cô, sự phấn khích của "cuộc đi săn" liền tan biến. Hơn nữa, cô có thể mất đi sự tôn trọng hoặc cảm thấy khinh miệt nếu anh ta bộc lộ "sự yếu đuối" qua việc cần có cô. Hệ quả là, người phụ nữ Artemis có thể trải qua hàng loạt mối tình chỉ êm đẹp chừng nào người đàn ông giữ được khoảng cách cảm xúc nhất định và không phải lúc nào cũng sẵn sàng cung phụng cô. Khuôn mẫu này xuất hiện khi người phụ nữ đồng nhất hoàn toàn với phẩm chất "tự thân trọn vẹn" của nữ thần đồng trinh và chối bỏ chính sự mong manh cùng nhu cầu cần người khác của bản thân. Để thay đổi, cô cần nhận ra rằng tình yêu thương và sự tin tưởng của một người đặc biệt là điều vô cùng quý giá.
Cho đến lúc đó, dưới góc nhìn của người đàn ông, cô hệt như một nàng tiên cá: một nửa là người phụ nữ xinh đẹp tuyệt trần, nửa còn lại là loài sinh vật lạnh lùng vô cảm. Nhà phân tâm học Esther Harding từng nhận xét về khía cạnh này: "Sự lạnh lẽo của vầng trăng và sự vô tâm của Nữ thần Mặt trăng biểu trưng cho khía cạnh này trong thiên tính nữ. Dù thiếu vắng hơi ấm và nhẫn tâm, nhưng đôi khi chính sự thờ ơ lãnh đạm ấy lại tạo nên sức hút đầy mê hoặc đối với đàn ông."
Và một người phụ nữ Artemis có thể đối xử rất tàn nhẫn với người đàn ông yêu cô một khi cô đã hết hứng thú. Cô có thể thẳng thừng hắt hủi và coi anh ta như một kẻ xâm phạm phiền toái.
Cơn thịnh nộ hủy diệt: Con heo rừng Calydon
Nữ thần Artemis mang một khía cạnh hủy diệt được biểu trưng bằng hình ảnh con heo rừng hung dữ—một trong những con vật thiêng của nàng. Trong thần thoại, khi bị xúc phạm, nàng đã thả con heo rừng Calydon gieo rắc kinh hoàng khắp vùng nông thôn.
Như được miêu tả trong cuốn Thần thoại của Bulfinch: "Mắt con heo rừng... rực lên tia máu và lửa hận, lông bờm dựng đứng như ngọn giáo đe dọa, cặp nanh dài cong vút tựa ngà voi Ấn Độ. Lúa mì bị giẫm nát, những vườn nho và rừng ô liu bị tàn phá trơ trụi, các đàn gia súc hoảng loạn chạy tán loạn trước sự tàn sát dã man của quái thú." Đây là bức tranh sống động về sự tàn phá điên cuồng, một ẩn dụ hoàn hảo cho hình ảnh người phụ nữ Artemis khi nổi cơn thịnh nộ lôi đình.
Cơn thịnh nộ của Artemis chỉ đứng sau Hera. Dù cường độ giận dữ của hai nữ thần là tương đương nhau, nhưng hướng đi của ngọn lửa giận và nguyên nhân kích động lại hoàn toàn khác biệt. Một phụ nữ Hera trút giận lên "kẻ thứ ba". Còn một phụ nữ Artemis thường nổi giận với một người đàn ông cụ thể hoặc đàn ông nói chung vì đã coi thường cô hoặc không tôn trọng những giá trị mà cô trân quý.
Chẳng hạn, các buổi nâng cao nhận thức trong phong trào nữ quyền thập niên 1970 nhìn chung đã mang lại những biến chuyển tích cực. Nhưng khi nhiều phụ nữ Artemis nhận thức được những định kiến bất công và thái độ miệt thị của xã hội đối với phái nữ, họ đã phản ứng bằng một sự thù địch dữ dội, đôi khi vượt quá mức so với sự khiêu khích thực tế. Những người ngoài cuộc khôn ngoan đều vội vã tránh xa khi "Con heo rừng Calydon" chạm trán với "Gã đàn ông gia trưởng cổ hủ" vào đầu những năm 1970! Hơn nữa, không ít phụ nữ ôn hòa cũng bị tổn thương và "vùi dập không thương tiếc" bởi những phụ nữ Artemis hừng hực lửa giận sau những buổi sinh hoạt nhận thức như vậy.
Trong thần thoại về con heo rừng Calydon, chính nàng Atalanta—người từng chạy đua với Hippomenes—đã tay cầm ngọn giáo hiên ngang đối mặt với con quái thú đang lao tới. Con heo rừng trước đó đã húc chết nhiều trang anh hùng lừng danh tìm cách hạ gục nó; lớp da của nó dày hơn cả áo giáp sắt. Giờ đây, trọng trách thuộc về nàng: hoặc là hạ gục quái thú, hoặc là bị nghiền nát. Nàng bình tĩnh đợi con heo rừng lao tới gần sát, ngắm bắn chuẩn xác và phóng ngọn giáo xuyên qua mắt nó—yếu điểm duy nhất—để đoạt mạng quái vật.
Cơn giận hủy diệt của người phụ nữ Artemis chỉ có thể được dập tắt bằng cách thức mà Atalanta đã làm. Người phụ nữ Artemis phải dũng cảm đối diện trực tiếp với sự hủy diệt bên trong chính mình. Cô phải nhìn nhận nó như một phần bản thể cần được chế ngự trước khi nó thiêu rụi cô và phá nát mọi mối quan hệ xung quanh.
Cần có lòng can đảm rất lớn để đối mặt với "con heo rừng nội tâm", bởi làm vậy đồng nghĩa với việc người phụ nữ phải thừa nhận những tổn thương sâu sắc mà mình đã gây ra cho bản thân và người khác. Cô không thể tiếp tục tự mãn với vị thế của kẻ nắm giữ chân lý và quyền lực. Lòng khiêm nhường là bài học quý giá giúp trả lại tính người cho cô—giúp cô nhận thức sâu sắc rằng mình cũng chỉ là một người phụ nữ trần thế còn nhiều khiếm khuyết, chứ không phải là một nữ thần báo thù bất khả xâm phạm.
Sự xa cách, khó tiếp cận
Artemis từng được mệnh danh là "Artemis Xa xăm". Sự xa cách về mặt cảm xúc là nét đặc trưng của phụ nữ Artemis; vì quá tập trung vào các mục tiêu cá nhân mà không chút xao nhãng, cô thường không nhận ra cảm xúc của những người xung quanh. Hậu quả của sự vô tâm này là những người yêu thương cô cảm thấy mình bị gạt ra ngoài lề, trở nên nhỏ bé, dẫn đến cảm giác tổn thương hoặc giận dỗi.
Một lần nữa, cô phải đạt được sự thức tỉnh trong nhận thức trước khi có thể thay đổi. Ở đây, người phụ nữ Artemis cần lắng nghe và lưu tâm đến những gì người khác giãi bày. Về phía người thân, tốt nhất nên đợi đến khi cô không còn quá tập trung vào các dự án tâm huyết rồi mới trò chuyện. (Nếu nhắc nhở đúng lúc cô đang mải mê làm việc, xung đột là điều không thể tránh khỏi, trừ khi người phụ nữ Artemis đã tự ý thức được thói quen này và biết ơn lời nhắc nhở). Artemis là vị nữ thần "thoắt ẩn thoắt hiện", có thể biến mất vào rừng sâu trong chớp mắt, tựa như những loài thú hoang vừa thoáng thấy đó rồi vụt mất. Khi sự xa cách cảm xúc chỉ là tác dụng phụ vô tình của sự tập trung cao độ, thì một khao khát chân thành muốn duy trì kết nối và mở lòng với những người quan trọng sẽ giúp tiết chế xu hướng này. Giải pháp này cần được áp dụng thường nhật cũng như trong những lần cô muốn "trốn chạy" tạm thời.
Sự tàn nhẫn, thiếu khoan dung
Artemis thường rất nhẫn tâm. Điển hình như gã thợ săn Actaeon đã vô tình nhìn trộm nàng và thiếu khôn ngoan khi không hiểu rằng nhìn lén một nữ thần khỏa thân là tội đáng chết. Nàng liền biến chàng thành một chú hươu đực để chính đàn chó săn cắn xé xác chàng. Hay khi Niobe tự cao tự đại buông lời xúc phạm Leto—mẹ của Artemis và Apollo—hai chị em đã lập tức bảo vệ danh dự của mẹ một cách tàn nhẫn không chút nương tay.
Sự phẫn nộ trước cái sai, lòng trung thành sắt son, bản lĩnh bày tỏ quan điểm và tinh thần hành động quyết liệt là những phẩm chất rất đáng quý của Artemis và những phụ nữ mang nguyên mẫu này. Nhưng sự tàn nhẫn trong các hình phạt mà họ giáng xuống đôi khi khiến người khác phải rùng mình: toàn bộ 12 người con của Niobe đều bị hai xạ thủ bắn chết chỉ để bà ta không còn gì để huênh hoang.
Sự thiếu khoan dung thường nảy sinh khi người phụ nữ Artemis phán xét hành động của người khác dưới góc nhìn trắng đen tuyệt đối. Dưới lăng kính này, một hành động chỉ có thể là hoàn toàn xấu hoặc hoàn toàn tốt, và người thực hiện hành động đó cũng bị quy chụp tương tự. Do đó, người phụ nữ Artemis luôn cảm thấy mình hoàn toàn có quyền trừng phạt hay trả đũa.
Cô cần nuôi dưỡng lòng trắc ẩn và sự thấu cảm—những điều thường chỉ đến cùng sự trưởng thành—để thay đổi thái độ này. Nhiều phụ nữ Artemis bước vào tuổi trưởng thành với sự tự tin ngút trời và cảm giác mình bất khả chiến bại. Tuy nhiên, qua những trải nghiệm sống, lòng trắc ẩn của họ có thể lớn dần lên khi chính họ cũng phải nếm trải nỗi đau, bị hiểu lầm hay gục ngã trước thất bại. Nếu người phụ nữ Artemis thấu hiểu cảm giác yếu mềm, trở nên bao dung hơn, nhận ra con người phức tạp hơn những gì cô nghĩ, và biết tha thứ cho lỗi lầm của bản thân cũng như người khác, thì những bài học đắt giá từ cuộc sống sẽ tôi luyện cô trở thành một con người giàu lòng vị tha.
Lựa chọn then chốt: Hiến tế hay cứu thoát Iphigenia
Một câu chuyện thần thoại cuối cùng về Artemis phản ánh sự lựa chọn mang tính sống còn đối với người phụ nữ Artemis. Đó là câu chuyện về Iphigenia, và sự lựa chọn này gắn liền với vai trò của Artemis: hoặc là vị cứu tinh của Iphigenia, hoặc là nguyên nhân dẫn đến cái chết của nàng.
Trong câu chuyện về Chiến tranh Thành Troy, hạm đội tàu chiến Hy Lạp tập kết tại cảng Aulis trước khi căng buồm tiến đánh Troy. Tại đây, biển lặng như tờ, không một ngọn gió nào thổi phồng cánh buồm. Tin chắc rằng hiện tượng này do thần linh tạo ra, Agamemnon (tổng chỉ huy quân đội Hy Lạp) đã thỉnh vấn nhà tiên tri. Nhà tiên tri phán rằng Nữ thần Artemis đã nổi giận và chỉ có thể nguôi ngoai nếu Agamemnon hiến tế con gái mình là Iphigenia. Ban đầu, Agamemnon cự tuyệt, nhưng khi thời gian trôi qua và binh lính ngày càng kích động, mất kiên nhẫn, ông đã lừa vợ mình là Clytemnestra đưa Iphigenia đến với lý do gả nàng cho người anh hùng Achilles. Thế nhưng, nàng bị đưa lên đài hiến tế—đánh đổi mạng sống lấy ngọn gió lành đưa hạm đội ra trận.
Biến cố tiếp theo được lưu truyền qua hai dị bản:
Theo dị bản thứ nhất, cái chết của Iphigenia diễn ra đúng như yêu cầu của Artemis.
Theo dị bản thứ hai, Artemis đã can thiệp ngay khoảnh khắc chuẩn bị hành quyết, tráo một con hươu cái vào thế mạng cho nàng, rồi đưa Iphigenia đến xứ Tauris, nơi nàng trở thành một nữ tư tế phụng sự Artemis.
Hai cái kết này đại diện cho hai hướng tác động tiềm tàng của Artemis:
Một mặt, nàng giải cứu người phụ nữ và những giá trị nữ tính khỏi chế độ phụ hệ vốn luôn xem thường hoặc áp bức họ.
Mặt khác, với sự tập trung cao độ vào mục tiêu, nàng cũng có thể đòi hỏi người phụ nữ phải hiến tế và rẻ rúng những phẩm chất vốn được coi là "nữ tính" truyền thống—những nét tính cách đón nhận, nuôi dưỡng, gắn kết và sẵn lòng hy sinh vì người khác.
Bên trong mỗi người phụ nữ Artemis dường như luôn có một phần bản thể giống như Iphigenia—một phần ngây thơ, tin cậy, xinh đẹp đại diện cho sự mong manh, khả năng gắn kết sâu sắc và nhu cầu nương tựa vào người khác. Liệu cô sẽ bảo vệ và chở che cho phần bản thể này phát triển song hành cùng hành trình chinh phục các mục tiêu cuộc đời? Hay cô sẽ nhẫn tâm bức tử phần Iphigenia ấy để trở nên cứng rắn, lạnh lùng và sắt đá nhất có thể?
CON ĐƯỜNG TRƯỞNG THÀNH
Để vượt lên trên giới hạn của Artemis, người phụ nữ cần đánh thức những tiềm năng đón nhận, hướng về các mối quan hệ vốn còn ngủ quên trong tiềm thức. Cô cần học cách mở lòng đón nhận sự tổn thương, học cách yêu thương và chăm sóc sâu sắc một người khác. Điều này có thể diễn ra trong một mối quan hệ tình cảm—thường là với một người đàn ông thật lòng yêu cô, đôi khi với một người phụ nữ khác, hoặc qua việc chào đón một đứa con ra đời.
Thông thường, bước chuyển mình này chỉ có thể xuất hiện sau khi người phụ nữ Artemis đã "mỏi gối chồn chân", sau khi cô đã liên tục nhắm bắn hàng loạt mục tiêu và nếm trải cả vinh quang lẫn thất bại, khi cảm giác phấn khích của cuộc săn đuổi, đua tranh đã trở nên nhạt nhẽo. Một người đàn ông yêu cô có thể cần kiên nhẫn đợi đến thời điểm đó, và chờ đợi sự trợ lực từ Nữ thần Aphrodite.
Thần thoại Atalanta: Ẩn dụ cho sự trưởng thành tâm lý
Atalanta là một nữ anh hùng có lòng quả cảm và tài săn bắn, chạy đua không hề thua kém bất kỳ đấng nam nhi nào. Nàng bị bỏ rơi trên đỉnh núi ngay sau khi lọt lòng, được một con gấu mẹ cưu mang nuôi nấng và lớn lên trở thành một thiếu nữ xinh đẹp tuyệt trần. Chàng thợ săn Meleager trở thành người bạn đồng hành và người tình của nàng. Cặp đôi tri kỷ này trở thành những thợ săn lừng danh khắp cõi Hy Lạp, đặc biệt vang danh trong cuộc săn heo rừng Calydon. Không lâu sau đó, Meleager trút hơi thở cuối cùng trong vòng tay nàng. Atalanta rời khỏi vùng rừng núi nơi hai người từng gắn bó để tìm gặp cha đẻ và được thừa nhận là người thừa kế ngai vàng.
Lúc này, vô số người cầu hôn tìm đến xin cưới nàng, nhưng nàng đều cự tuyệt. Khi mọi người thúc ép nàng phải chọn một người, nàng tuyên bố sẽ chỉ lấy người nào có thể đánh bại nàng trong một cuộc chạy đua. Nếu người đó thắng, nàng sẽ kết hôn; nếu thua, anh ta phải trả giá bằng tính mạng. Hết cuộc đua này đến cuộc đua khác diễn ra, và nàng Atalanta với đôi chân thoăn thoắt luôn là người về đích đầu tiên.
Cuối cùng, chàng trai Hippomenes vốn không giỏi thể thao nhưng yêu nàng tha thiết đã quyết định bước vào cuộc đua sinh tử. Đêm trước ngày thi đấu, chàng thành tâm cầu nguyện Nữ thần Tình yêu Aphrodite cứu giúp. Thấu hiểu tấm lòng chàng, nữ thần trao cho Hippomenes ba quả táo vàng để dùng trong cuộc đua.
Quả táo thứ nhất: Nhận thức về sự trôi chảy của thời gian. Ở chặng đầu cuộc đua, Hippomenes ném quả táo vàng thứ nhất xuống đường chạy của Atalanta. Bị cuốn hút bởi vẻ đẹp rực rỡ của nó, nàng chạy chậm lại để nhặt lên. Hippomenes vượt lên dẫn trước trong lúc nàng mải ngắm nhìn quả táo vàng trên tay. Nhìn vào hình ảnh phản chiếu bị biến dạng bởi những đường cong của quả táo, nàng giật mình nghĩ: "Đây sẽ là diện mạo của mình khi về già."
Nhiều phụ nữ năng động thường không nhận thức được bước đi của thời gian, cho đến một thời điểm nào đó ở tuổi trung niên khi những thách thức cạnh tranh hay việc chinh phục mục tiêu dần hạ nhiệt. Lần đầu tiên trong đời, người phụ nữ ấy nhận ra mình không thể trẻ mãi không già, và bắt đầu chiêm nghiệm về con đường mình đang đi cùng đích đến tương lai.
Quả táo thứ hai: Nhận thức về tầm quan trọng của tình yêu. Chàng tiếp tục ném quả táo thứ hai chắn ngang đường nàng. Atalanta lại dồn sức vào cuộc đua và dễ dàng đuổi kịp Hippomenes. Nhưng khi dừng lại nhặt quả táo vàng thứ hai của Aphrodite, những ký ức về Meleager—người tình quá cố—bỗng trỗi dậy mãnh liệt trong lòng nàng. Nỗi khao khát sự gắn kết thể xác và cảm xúc được Aphrodite đánh thức. Khi kết hợp với nhận thức về sự trôi chảy của thời gian, sự tập trung thường thấy của người phụ nữ Artemis bị phân tán bởi một sự mở lòng mới dành cho tình yêu và sự thân mật.
Quả táo thứ ba: Bản năng sinh sản và năng lực sáng tạo. Vạch đích đã ở ngay trước mắt khi Atalanta bắt kịp Hippomenes. Nàng sắp sửa vượt qua chàng để giành chiến thắng thì Hippomenes thả rơi quả táo vàng thứ ba. Trong tích tắc, Atalanta ngập ngừng: nên băng qua vạch đích để chiến thắng, hay cúi xuống nhặt quả táo và chấp nhận thua cuộc? Atalanta đã chọn với tay nhặt quả táo đúng khoảnh khắc Hippomenes vượt qua vạch đích để giành chiến thắng trong cuộc đua và cưới được Atalanta làm vợ.
Bản năng sinh sản của Aphrodite (với sự trợ lực của Demeter) khiến nhiều phụ nữ năng động, luôn hướng về mục tiêu phải chậm bước lại ở nửa sau của tuổi ba mươi. Những phụ nữ xem trọng sự nghiệp thường bất ngờ bị cuốn vào một khao khát cháy bỏng muốn có một đứa con.
Quả táo vàng thứ ba này cũng có thể đại diện cho năng lực sáng tạo vượt ra ngoài khía cạnh sinh học thuần túy. Những thành tựu danh vọng ngoài xã hội có thể trở nên thứ yếu sau tuổi trung niên. Thay vào đó, sức mạnh tái sinh của Aphrodite được hướng vào việc chuyển hóa những trải nghiệm sống thành một hình thức biểu đạt cá nhân sâu sắc.
Nếu sự thấu hiểu về Aphrodite được đánh thức qua tình yêu thương của một người khác, thì sự phiến diện của người phụ nữ Artemis—dù từng mang lại cho cô nhiều thỏa mãn—sẽ nhường chỗ cho khả năng chạm tới sự trọn vẹn của tâm hồn. Cô có thể quay nhìn vào bên trong để chiêm nghiệm những điều thực sự quan trọng, vừa biết lắng nghe tiếng nói nội tâm vừa duy trì được sự tập trung ra thế giới bên ngoài. Cô nhận ra mình vừa có nhu cầu độc lập, vừa có khao khát gắn kết yêu thương. Một khi đã đón nhận tình yêu, cô—cũng như nàng Atalanta—sẽ có những khoảnh khắc quyết định để tự mình định đoạt điều gì là thiêng liêng và ý nghĩa nhất trong cuộc đời.
Bình luận