Chương 4: Phát triển nhân cách và bệnh lý
Trong phân tâm học, bất kể là trường phái nào, thực hành lâm sàng của phân tâm học nhất định đều liên quan đến tâm lý học phát triển mà trường phái đó tôn sùng; chỉ khi hiểu được tâm lý học phát triển của trường phái đó thì mới có thể hiểu được bệnh lý học và trị liệu lâm sàng của trường phái đó.
Các nguyên tắc cơ bản mà phân tâm học tuân thủ chính là hai nguyên tắc được phát hiện và coi trọng từ thời kỳ của Freud, tức hai nguyên tắc lớn được bàn đến trong cuốn Đề cương phân tâm học của ông: nguyên tắc vô thức và nguyên tắc nhân quả. Nói cách khác, triệu chứng của thân chủ có nguyên nhân bệnh lý của nó, và cũng có vấn đề về những nhu cầu, ham muốn thời kỳ sớm hơn bị đè nén, dồn nén.
Nguyên nhân dẫn đến ho có rất nhiều: có người bị ho do dị ứng, có người là do có đờm cần phải tống ra ngoài qua cơn ho, cũng có người có thể do thừa axit dạ dày gây ra. Tại sao thừa axit dạ dày lại gây ra ho? Nếu một người bị thừa axit dạ dày, axit dạ dày của người đó có thể sẽ trào ngược vào khí quản, từ đó kích hoạt cơn ho. Nếu chỉ dựa vào triệu chứng ho của cá nhân để chữa ho, thì gọi là trị liệu theo triệu chứng học, là chữa trị xoay quanh bệnh chứng.
Trị liệu theo bệnh lý học là tìm kiếm nguyên nhân gây ho, sau đó mới tiến hành điều trị. Ví dụ một người bị ho do trào ngược axit dạ dày, bác sĩ lại kê cho người đó uống thuốc kháng sinh; điều này không mang lại bất kỳ lợi ích nào cho việc chữa cơn ho của người đó, thậm chí còn có tác dụng phụ, gây ra hậu quả nghiêm trọng hơn. Đối với trường hợp như thế này, bác sĩ điều trị không phải là phổi, không phải là đường hô hấp, mà là dạ dày của người đó. Khi tình trạng trào ngược axit dạ dày giảm đi thì cơn ho cũng thuyên giảm. Trị liệu bệnh lý học là thông qua việc truy tìm nguyên nhân gây bệnh, phát hiện quy luật nội tại của bệnh tật để tiến hành điều trị. Kohut gọi công việc phân tâm học mang tư duy tương tự là trị liệu phát sinh học (nguồn gốc học), tức là sử dụng nguyên tắc nhân quả để tìm hiểu, truy vết những nhu cầu vô thức bị dồn nén, thông qua việc diễn giải những nhu cầu vô thức bị dồn nén do nhiều nguyên nhân khác nhau trong các giai đoạn phát triển tâm lý sớm, giúp thân chủ đạt được sự trị liệu mang tính lĩnh hội (thấu suốt).
Tự thể suy yếu
Kohut không chủ ý viết một cuốn sách chuyên biệt về tâm lý học phát triển, nhưng trong các tác phẩm của mình, ông đã thảo luận rất nhiều về các quan điểm của tâm lý học phát triển.
Theo quan điểm của Kohut, sự nảy sinh và trưởng thành của tính cá thể ở bản ngã được xây dựng trên nền tảng của self, nhưng self của trẻ sơ sinh lại suy yếu. Winnicott, người cùng thời với Kohut, có một quan điểm về sự hình thành của tự thể: Đứa trẻ sơ sinh ngước nhìn mẹ mình, và nhìn thấy chính mình trong mắt mẹ. Nghĩa là, tự thể mà một đứa trẻ sơ sinh tự trải nghiệm có liên quan đến cảm giác tồn tại của bản thân mà đứa trẻ cảm nhận được; trong quá trình người mẹ chăm chú nhìn và đáp ứng đứa trẻ sơ sinh, sự chú ý của người mẹ có thể giúp đứa trẻ trải nghiệm bản thân là một sự tồn tại độc lập. Nếu sự chú ý của người mẹ dành cho con mang tính lơ là bỏ mặc, trải nghiệm của đứa trẻ về bản thân sẽ trở nên bất định, thường cũng không dễ tìm kiếm ranh giới trải nghiệm của chính mình, đứa trẻ sẽ khó lòng hình thành nên cảm nhận tự thể có tính nội tụ và tính chỉnh thể.
Daniel Stern không chỉ là một nhà tâm lý học phát triển, một nhà phân tâm học lâm sàng, mà còn là một bác sĩ tâm thần. Trong các nghiên cứu công tác lâm sàng và nghiên cứu phát triển trẻ em, ông đã đưa ra lý thuyết tâm lý học phát triển. Daniel Stern cho rằng, tự thể của con người khi vừa sinh ra là tự thể cơ thể (body self), lúc này con người trải nghiệm bản thân thông qua cơ thể. Việc mát-xa tiếp xúc vuốt ve cho trẻ sơ sinh mà tâm lý học phát triển đương đại đề xuất có thể giúp một người trải nghiệm bản thân rất tốt, đồng thời trải nghiệm được ranh giới của chính mình.
Một người một khi có thể trải nghiệm được ranh giới của bản thân thì sẽ dễ dàng hình thành nên một trải nghiệm mang tính nội tụ, trải nghiệm được sự tồn tại của chính mình. Sự vuốt ve tiếp xúc đối với sự kích thích hệ thần kinh trung ương và não bộ của trẻ sơ sinh là vô cùng quan trọng. Một số nghiên cứu thực chứng phát hiện ra rằng, những đứa trẻ từng được vuốt ve tiếp xúc khi lớn lên có chỉ số IQ và độ chuẩn xác trong phương thức xử lý cảm xúc cao hơn mức trung bình so với những đứa trẻ không được vuốt ve tiếp xúc; hơn nữa, những đứa trẻ được vuốt ve tiếp xúc có sự phối hợp cơ thể tốt hơn ở nhiều phương diện. Cốt lõi quan trọng nhất trong hành vi vuốt ve tiếp xúc chính là tự thể cơ thể.
Daniel Stern ngoài việc đề xuất khái niệm tự thể cơ thể ra, còn đưa ra các khái niệm như tự thể cốt lõi (core self), tự thể chủ quan (subjective self), tự thể tự sự (narrative self), v.v.
Tự thể cốt lõi là chỉ khả năng liên kết rộng rãi và mạch lạc các cảm nhận liên quan đến bản thân lại với nhau, và có thể trải nghiệm bản thân cùng người khác theo một phương thức mang tính liên tục. Những người có tự thể cốt lõi bị vỡ vụn, giống như các bệnh nhân tâm thần nghiêm trọng mà chúng ta thấy, cảm nhận tự thể của họ không có tính liên tục, mà bị vỡ vụn và đứt đoạn. Ví dụ, trong một khoảng thời gian nào đó, họ cảm nhận thấy một bản thân này, ở một khoảng thời gian khác họ lại cảm nhận thấy một bản thân khác. Khi chứng phân ly của họ phát tác thì sẽ xuất hiện tình trạng này. Những người có tự thể vỡ vụn như thế này cũng đồng nghĩa với việc tự thể cốt lõi của họ chưa được hình thành.
Tự thể chủ quan là chỉ việc cá nhân trong mối quan hệ liên chủ thể trải nghiệm được sự kết nối rộng rãi và sự điều hòa cảm xúc của bản thân, đồng thời dần dần nảy sinh ý thức về bản thân đối với chính mình.
Tự thể tự sự là chỉ ý thức về bản thân với tư cách là túc từ (tân ngữ) xuất hiện một cách rõ ràng, tức là một người nhận thức được sự tồn tại của chính mình trong thế giới, đồng thời cá nhân dần dần có thể dùng ngôn ngữ để trần thuật tôi là ai, tôi là con trai của ai hay tôi là con gái của ai, trong cuộc sống tôi từ đâu đến, v.v.; hình thành nên một cái tôi tự sự bằng ngôn ngữ được liên kết giữa ý thức về bản thân, năng lực biểu tượng hóa, sự tự phản tỉnh và mối quan hệ liên chủ thể. Đây chính là một trong những lý thuyết tâm lý học phát triển quan trọng nhất do các học giả thế hệ sau của Kohut phát triển. Chúng ta có thể dùng cách nói về tự thể này để quan sát và hiểu cách nói về tự thể của Kohut.
Tự thể mà Kohut trình bày được phát triển xoay quanh những quan sát lâm sàng, là sự tiếp nối lý thuyết tâm lý học phát triển của Freud, tức khi một cá nhân sinh ra, bản thân người đó được tưới tắm trọn vẹn bởi tính ái kỷ toàn năng. Nhưng cùng với sự trưởng thành, trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ sẽ từng bước phát triển mối quan hệ với người khác. Trong mối quan hệ với người khác, đứa trẻ lại ý thức được giới tính của mình, sau đó phát triển mối quan hệ với những người khác giới tính; đây chính là thời kỳ phát triển của phức cảm Oedipus nổi tiếng trong lý thuyết của Freud, cũng là thời kỳ phát triển mẫu - nhi nổi tiếng trong lịch sử phân tâm học.
Kohut khi ấy nhận thấy rằng, khi tính ái kỷ của một người bắt đầu phát triển thành quan hệ khách thể, thì tính ái kỷ của người đó không hề biến mất. Một người khi sinh ra mang tính ái kỷ toàn năng và sẽ đưa ra các nhu cầu, người đó trong cuộc sống sau này trải qua sự đáp ứng của tự thể khách thể; sự đáp ứng cộng hưởng này cùng những thất vọng vừa đủ sẽ dần dần khiến người đó sản sinh ra một cấu trúc tự thể mang tính thích ứng để thích nghi với xã hội. Cấu trúc này dần dần trở thành một phần của tự thể, vừa duy trì trạng thái sinh lực của bản thân, vừa có tính chỉnh thể giúp điều hòa cảm xúc tốt. Khi tự thể phát triển đến một giai đoạn nhất định, đứa trẻ sẽ từ trạng thái tự thể phân tán, cảm giác mỏng manh loãng nhạt ở thời kỳ sơ sinh, dần dần thông qua sự phản chiếu (soi gương) v.v. của tự thể khách thể mà được củng cố vững chắc, hình thành nên cảm nhận tự thể ổn định. Tức là từ giai đoạn sớm với cảm giác không có ranh giới, mơ hồ ngay cả với tự thể cơ thể, dần dần hình thành tự thể cơ thể, sau đó từng bước hình thành thành công tự thể cốt lõi.
Tự thể cốt lõi mà Kohut nói đến khác với điều Daniel Stern nói. Tự thể cốt lõi mà Kohut nói chủ yếu là chỉ một tự thể có tính lưu động tốt, có tính liên tục, đồng thời có tính nội tụ, tính chỉnh thể, tương đối lành mạnh và có cảm giác năng lực nhất định khi làm việc. Khi một loại tự thể đã hình thành được cảm giác ranh giới nhất định, đồng thời lại bắt đầu phát triển tính nội tụ và tính liên tục cốt lõi, thì loại tự thể này chính là tự thể cốt lõi. Tự thể cốt lõi cấu thành nên nền tảng cho sự phát triển trong tương lai của tự thể.
Tự thể ba cực và những muộn phiền của con người
Trong thời kỳ phát triển tự thể cốt lõi mà Kohut trình bày, đứa trẻ sẽ từng bước ý thức được sự tồn tại của chính mình. Sự tồn tại của cảm nhận tự thể cốt lõi này biến dạng thành tự thể chủ quan và tự thể tự sự mà Stern nói đến, vì vậy tự thể cốt lõi mà Kohut đề cập có lẽ tương tự như phần tự thể cốt lõi, tự thể chủ quan và phần tự thể tự sự thời kỳ đầu của Stern. Thông thường, tâm lý học phát triển dựa trên nghiên cứu thực chứng xuất hiện sớm hơn về mặt thời gian so với tâm lý học phát triển dựa trên cấu trúc lâm sàng.
Trong tâm lý học tự thể đương đại, tâm lý học phát triển rất coi trọng các ý kiến nghiên cứu thực chứng. Khi một người có được trải nghiệm của bản thân đối với một tự thể có tính liên tục và tính nội tụ, người đó sẽ phát triển cảm nhận như thế này — giống như khi chúng ta nghe giảng, nếu hồi tưởng lại, chúng ta sẽ phát hiện ra dường như trước đó bản thân không hề tồn tại; mặc dù chúng ta vẫn luôn chăm chú lắng nghe, nhưng khi hồi tưởng lại, chúng ta có thể nảy sinh một cảm giác mới — đột nhiên ý thức được rằng mình đang ngồi hoặc đứng nghe giảng, hình ảnh của chính mình được hiện rõ ra. Điều này giống như sự hiện diện của ý thức về bản thân. Ý thức về bản thân vô cùng quan trọng đối với sự phát triển ý thức của nhân loại, xuất hiện vào khoảng tháng thứ 18 ở thời kỳ sơ sinh và trẻ nhỏ.
Một người nếu không có ý thức về bản thân, thực chất chẳng khác gì một con gián. Đối với một con gián, khi người ta đập nó, nó sẽ không cảm thấy sợ hãi, nó hoặc là đưa ra phản ứng bản năng bẩm sinh — "vụt" một cái chạy biến đi, hoặc là bị đập chết tại chỗ, trong quá trình này nó sẽ không sản sinh ý thức về bản thân.
Ý nghĩa của ý thức về bản thân đối với con người nằm ở chỗ, chúng ta nhận thức được mình là một sự tồn tại độc đáo độc lập với môi trường. Chúng ta khác biệt với môi trường xung quanh, chúng ta độc lập ở bên ngoài môi trường; đây là tác dụng rất quan trọng và then chốt mà ý thức về bản thân có thể mang lại, tự thể cốt lõi của chúng ta bắt đầu hiển lộ từ đây.
Sau khi tự thể hiển lộ, nó cũng mang đến cho chúng ta những vấn đề rất lớn, cho nên sự tiến hóa của nhân loại luôn có cái giá của nó. Điều này giống như câu chuyện Vườn Địa Đàng, con người ở Vườn Địa Đàng ban đầu ăn quả sự sống, đồng nghĩa với việc con người không sinh không tử, giống như một người không ý thức được sự tồn tại của chính mình, nên người đó đối với cái chết của mình cũng thờ ơ.
Khi một người bắt đầu ý thức được về bản thân, người này liền có một khái niệm và cảm giác tồn tại về trải nghiệm chủ thể của sự tồn tại sinh mệnh, mà cảm giác tồn tại nhất định sẽ mang lại một hệ quả khác — con người sẽ bắt đầu suy ngẫm về vấn đề cái chết, bởi vì sự tồn tại nhất định gắn liền với sự tiêu vong. Ví dụ, đứa trẻ vào khoảng 18 tháng tuổi bắt đầu có ý thức về bản thân, ý thức về bản thân của trẻ manh nha và phát triển, không bao lâu sau, đứa trẻ khoảng hai tuổi sẽ đặt câu hỏi cho cha mẹ. Lúc này chức năng ngôn ngữ của trẻ bắt đầu hình thành, trẻ có thể sẽ không ngừng tìm tòi một câu hỏi trong giai đoạn này: “Bố mẹ ơi, con có chết không?” hoặc hỏi chết là như thế nào, đại loại những câu hỏi như vậy. Đây là một hiện tượng trong tâm lý học phát triển trẻ em, đứa trẻ vào năm hai tuổi sẽ tăng cường ý thức về sự sống chết. Cùng với sự tích hợp của ý thức về bản thân, sự phong phú hóa của tự thể tự sự, cũng như sự trưởng thành trong kiến tạo về sự sống chết của đứa trẻ, ý thức này sẽ từ từ lắng xuống, nhưng sẽ được tích hợp thành một phần của ý nghĩa tồn tại sinh mệnh. Đây cũng là một chủ đề quan trọng trong tâm lý học phát triển.
Khi ý thức về bản thân nảy sinh, nhận thức của con người đối với cảm giác tồn tại của chính mình sẽ càng trở nên mãnh liệt. Tiếp theo đó, con người sẽ xuất hiện trạng thái mà Kohut gọi là tự thể khoa đại.
Kohut trong cuốn Phân tích tự thể năm 1971 đã đề xuất tự thể hai cực (hai diện mạo của tự thể), tức tự thể khoa đại (còn gọi là tự thể ái kỷ) và tự thể lý tưởng hóa (còn gọi là hình ảnh cha mẹ lý tưởng hóa), lần lượt tương ứng với chuyển di phản chiếu (chuyển di soi gương) và chuyển di lý tưởng hóa. Năm 1978, khi Kohut xuất bản cuốn Sự tái thiết tự thể, lý thuyết này đã phát triển thành tự thể ba cực (ba diện mạo của tự thể), trên cơ sở tự thể hai cực có thêm tự thể bạn thân (còn gọi là tự thể sinh đôi, tự thể tha ngã), tương ứng với chuyển di bạn thân. Ba loại tự thể này lần lượt phát triển ra ba loại nhu cầu, tức nhu cầu tự thể khách thể phản chiếu, nhu cầu tự thể khách thể lý tưởng hóa và nhu cầu tự thể khách thể bạn thân.
Thế nào là tự thể khoa đại? Trong tự thể cốt lõi, khi một người có ý thức về bản thân, người đó sẽ dần cảm thấy tính độc lập của mình, cảm nhận được một bản thân đầy kiêu hãnh và phần khoa đại của chính mình. Trong lý thuyết thời kỳ đầu của Kohut, tự thể khoa đại được gọi là tự thể ái kỷ. Về phần khoa đại, mọi người có thể quan sát thấy một số hiện tượng trong nghiên cứu trẻ sơ sinh hoặc trong quá trình nuôi dạy trẻ.
Ví dụ có những đứa trẻ, trẻ cần sự chú ý của cha mẹ, khi chơi một mình ở đó, được một lát trẻ sẽ gọi mẹ hoặc gọi bố; nếu cha mẹ không đáp lời, trẻ sẽ trở nên căng thẳng; chỉ cần cha mẹ đáp lại một tiếng, trẻ sẽ yên tâm tiếp tục chơi. Sự đáp ứng của cha mẹ chính là sự chú ý mà trẻ cần nhận được.
Trẻ em ở giai đoạn 2–4 tuổi, đôi khi dùng tay bóp nát quả cà chua bi rồi ném đi là cảm thấy rất vui. Người lớn lúc này thường sẽ ngăn cản đứa trẻ, nói rằng như vậy là lãng phí thức ăn, nhưng đứa trẻ lúc này hoàn toàn chưa có khái niệm lãng phí thức ăn, trẻ chỉ đang trải nghiệm trò chơi, cũng chưa hề có khái niệm kinh tế. Vậy hành vi này có thể mang lại điều gì cho đứa trẻ? Nó mang lại cho đứa trẻ một cảm giác năng lực; khi đứa trẻ dùng tay bóp nát quả cà chua bi, điều trẻ cảm nhận được là một cảm giác kiểm soát.
Trẻ em ở giai đoạn này cũng sẽ xuất hiện một số hành vi khác, ví dụ người lớn vừa rời đi một lát, trẻ sẽ rút hết cả hộp khăn giấy ra, vứt bừa bãi khắp sàn nhà, thậm chí còn xé vụn tất cả ra thành từng dải từng sợi. Mỗi khi xuất hiện tình huống tương tự, người lớn sẽ cảm thấy đứa trẻ đang quậy phá. Nhưng trong thế giới của đứa trẻ, trẻ đang trải nghiệm trọn vẹn một cảm giác kiêu hãnh, thành thạo và khoa đại. Kohut gọi biểu hiện này của cảm nhận tự thể là tự thể khoa đại.
Trong tự thể khoa đại, điều đứa trẻ cần là người khác chú ý và khẳng định sự khoa đại này của mình, đây là một trải nghiệm rất quan trọng.
Có những bậc cha mẹ sẽ hỏi: “Vậy có phải khi con bóp nát cà chua bi hay xé khăn giấy thì chúng ta không nên ngăn cản?”
Khi trẻ thực hiện những hành vi này, chúng ta đương nhiên phải ngăn cản, nhưng chúng ta không ngăn cản bằng phương thức phủ định. Ví dụ, nếu trẻ muốn xé giấy, có thể tìm một vật thay thế để hỗ trợ trẻ, chứ không phải trực tiếp phủ định, nói rằng làm thế là lãng phí.
Chúng ta chú ý thấy rằng đứa trẻ trong các hoạt động sẽ lặp đi lặp lại nhu cầu nhận được sự chú ý và khẳng định từ cha mẹ, hoặc khi làm việc gì đó muốn cha mẹ cùng tham gia; khi cha mẹ tham gia vào, trẻ sẽ cảm thấy rất vui, cảm thấy mình được khẳng định. Đôi khi đứa trẻ cũng sẽ thử thách cha mẹ, đặt ra một số câu đố cho cha mẹ; lại có đứa trẻ sẽ khiêng vác những đồ vật rất nặng, hoặc đi đứng nhấc chân thật cao như diễu binh, những điều này đều liên quan đến tự thể khoa đại, đều là những hành vi mong muốn nhận được sự chú ý từ những người xung quanh.
Freud từng nêu ra một ví dụ: một đứa trẻ ở trong phòng gọi cô, người cô đáp lời: “Ơi! Cô ở đây.” Đứa trẻ liền cảm thấy nhẹ nhõm.
Một lát sau đứa trẻ lại gọi cô. Người cô lại trả lời: “Cô đây.”
Sau khi lặp lại như vậy rất nhiều lần, người cô liền nói với nó: “Cháu có chuyện gì không? Nếu không có việc gì thì đừng gọi cô liên tục như thế.”
Đứa trẻ đó nói: “Cháu chẳng có chuyện gì cả, cháu chỉ muốn biết cô đang ở đó, cô đáp lại cháu là cháu cảm thấy an tâm rồi.”
Trong quá trình này, hành vi của đứa trẻ là đang tìm kiếm sự chú ý nào đó; khi cảm thấy mình được chú ý, đứa trẻ sẽ cảm nhận được cảm nhận tự thể của bản thân, cũng sẽ sinh ra tính ổn định nhất định và cảm giác tốt đẹp khi được quan tâm, từ đó hình thành cảm giác an toàn; điều này vô cùng quan trọng đối với sự phát triển tâm lý của trẻ.
Đây chính là biểu hiện của tự thể khoa đại mà Kohut nói đến. Tự thể khoa đại có nhu cầu như thế nào? Đó là nhu cầu phản chiếu, nó cần được khẳng định, được chú ý.
Cùng lúc với sự xuất hiện của tự thể khoa đại, nói cách khác là sau khi tự thể cốt lõi phát triển, trên thực tế còn có một diện mạo khác. Diện mạo này dựa trên nền tảng của tự thể cốt lõi, phát triển đồng bộ ra một diện mạo tự thể khác, chúng ta gọi là hình ảnh cha mẹ lý tưởng hóa. Thế nào gọi là hình ảnh cha mẹ lý tưởng hóa? Tức là đứa trẻ mong muốn được ở bên một người mạnh mẽ, thông qua quá trình này, trẻ có thể tiếp nhận sức mạnh của chính mình để duy trì tính ổn định của bản thân.
Kohut cho rằng, ở giai đoạn phát triển sớm, đứa trẻ phóng chiếu một số phần ái kỷ của chính mình lên những khách thể bên ngoài mạnh mẽ để hiện thực hóa một số ước muốn và thu nhận trải nghiệm. Ví dụ, đứa trẻ sẽ cảm thấy cha mẹ mình rất cừ khôi, là toàn năng toàn trí, trẻ càng nhỏ tuổi thì càng nghĩ như vậy.
Nhưng người lớn đều biết rằng, cha mẹ của mình không phải là toàn năng, khi đối diện với thế giới này họ cũng gặp rất nhiều khó khăn, cũng có lúc bó tay bất lực. Nhưng đối với một đứa trẻ thơ ấu, những điều này là không thể tưởng tượng nổi.
Trong huyễn tưởng chủ quan của đứa trẻ, cha mẹ có thể làm được mọi việc trên thế giới, muốn ăn có ăn, muốn chơi có chơi, dường như thứ gì cũng có, hơn nữa còn có thể bảo vệ mình, là một sự tồn tại vô cùng hùng mạnh. Ví dụ đứa trẻ bê vác một số "vật nặng", nhưng bê mãi không nổi; lúc này người mẹ đi tới, chỉ dùng một tay là nhẹ nhàng nhấc bổng "vật nặng" lên; đứa trẻ ngay tức khắc sẽ đem hình ảnh lý tưởng hóa đặt lên người mẹ, cảm thấy con người trước mặt này có sức mạnh vô biên. Điều này có thể giúp đứa trẻ trải nghiệm được cảm giác tự thể khách thể của hình ảnh cha mẹ lý tưởng hóa, chính là vì tôi ở cùng người có sức mạnh, nên tôi cũng có sức mạnh.
Nhưng mọi người cần phân biệt: loại huyễn tưởng như thế này nếu xảy ra ở một người trưởng thành, ví dụ như trường hợp “Bố tao là Lý Cương”, thì là hiện tượng bệnh lý. Nếu hành vi này xảy ra ở một đứa trẻ mầm non bốn năm tuổi, thì lại là một hiện tượng lành mạnh, bình thường. Điều này đại diện cho việc hình ảnh cha mẹ lý tưởng hóa của đứa trẻ giúp ích cho việc duy trì tự thể của trẻ, thông qua trải nghiệm này trẻ có thể cảm nhận được cảm giác tồn tại, cảm giác ý nghĩa và cảm giác an toàn của chính mình. Hình ảnh cha mẹ lý tưởng hóa này cũng là một trục phát triển chính của tính ái kỷ. Tính ái kỷ thực chất tràn ngập bên trong tự thể, cho nên tự thể cũng có nguồn năng lượng bản năng là ái kỷ này.
Tuy nhiên trong quan điểm thời kỳ muộn của Kohut, phần lớn các nhu cầu ái kỷ này được gọi là nhu cầu tự thể khách thể. Trong quá trình trải nghiệm tự thể khách thể của hình ảnh cha mẹ lý tưởng hóa này, cảm giác nội tụ của bản thân mà đứa trẻ cảm nhận được chính là cảm nhận về chính mình từ người khác. Có một số trải nghiệm kỳ lạ xuất hiện ở giai đoạn trưởng thành tương tự như trải nghiệm lý tưởng hóa, việc theo đuổi thần tượng quá mức cũng là sự tìm kiếm lý tưởng hóa, nhưng đã mang một số đặc điểm bệnh lý rồi.
Kohut còn đề cập đến diện mạo tự thể thứ ba: tự thể bạn thân. Nhu cầu tự thể khách thể phản chiếu của tự thể khoa đại trải qua những thất vọng vừa đủ dần suy giảm và tích hợp, cũng như hình ảnh cha mẹ lý tưởng hóa cùng nhu cầu tự thể khách thể lý tưởng hóa phát ra từ đó dần suy giảm, cá nhân còn xuất hiện thêm một diện mạo phát triển mới, cảm giác thực tế của diện mạo này tốt hơn so với cảm giác thực tế của hai diện mạo trước. Diện mạo tự thể này chúng ta gọi là tự thể bạn thân. Nhu cầu phát triển ra từ nó là nhu cầu tự thể khách thể bạn thân.
Nhu cầu tự thể khách thể bạn thân thường chỉ một số mối quan hệ bạn bè của cá nhân trong quá trình phát triển, hoặc mối quan hệ với những người chăm sóc thứ cấp.
Ở Âu Mỹ, khi đón Giáng sinh, các bậc trưởng bối sẽ làm bánh kem Giáng sinh; khi người lớn làm, đứa trẻ cũng sẽ cầm một cục bột bên cạnh để nặn. Trong quá trình nhào nặn, đứa trẻ sẽ sinh ra một trải nghiệm rất quan trọng; trải nghiệm cảm xúc này sẽ khiến đứa trẻ cảm thấy mình cũng đang sáng tạo ra một thứ gì đó.
Đất nước chúng ta cũng có hiện tượng như vậy, ví dụ ở miền Bắc gói sủi cảo, làm bánh bao, miền Nam có thể gói hoành thánh v.v., đứa trẻ sẽ ở cùng ông, bà nội, ông, bà ngoại v.v. tham gia vào các hoạt động này. Mặc dù đứa trẻ không làm được bao nhiêu, nhưng lại rất nhiệt tình, rất say sưa với việc này. Bởi vì khi đứa trẻ làm những việc này, trẻ có thể cảm nhận trọn vẹn một sự tin tưởng nào đó, trẻ cảm thấy mình đang cùng người khác hoàn thành một số nhiệm vụ, đây là điều khiến trẻ vô cùng vui vẻ. Cảm nhận này chúng ta gọi là nhu cầu tự thể khách thể bạn thân, tức nhu cầu tự thể khách thể sinh đôi liên quan đến tự thể bạn thân.
Đôi khi đứa trẻ sẽ mong chờ gói sủi cảo, gói hoành thánh, hoặc tìm kiếm đồng xu hay viên kẹo được gói bên trong; nếu tình cờ ăn trúng đồ ăn có phần nhân đặc biệt, trẻ sẽ rất vui, bởi vì trẻ cảm nhận được sự tham gia của chính mình.
Kohut xem nhu cầu tự thể khách thể bạn thân là nền tảng của tài trí và kỹ năng, tức nền tảng tâm lý để một người phát triển tính sáng tạo cũng như phát triển tài trí và kỹ năng trong quá trình trưởng thành tương lai. Còn có một số tình huống cũng là nhu cầu tự thể khách thể bạn thân. Ví dụ như đứa trẻ từ hai ba tuổi sẽ có bạn chơi cùng, theo độ tuổi tăng lên, số lượng bạn chơi cùng cũng sẽ tăng lên nhất định. Sự gắn bó của đứa trẻ với những người bạn chơi này chính là mối quan hệ liên cá nhân của trẻ. Mối quan hệ liên cá nhân của các em không sâu sắc, phần lớn chỉ vì chia sẻ đồ chơi hoặc đồ ăn vặt mà trở thành bạn tốt. Ví dụ có đứa trẻ từ trường mẫu giáo về nhà sẽ nói mình đã kết hôn với một bạn nhỏ nào đó, điều này rất có thể chỉ đại diện cho việc đứa trẻ và bạn nhỏ đó đã tìm thấy món đồ chơi chung.
Nhu cầu này có thể giúp một người ổn định cảm nhận tự thể của mình trong quá trình phát triển. Nhu cầu tự thể khách thể bạn thân được hoàn thành thông qua mối quan hệ bạn bè và quá trình chơi cùng nhau.
Một người có nhu cầu ở ba diện mạo của tự thể, nếu nhận được sự đáp ứng tốt từ người khác và môi trường xung quanh, thì có thể phát triển nên cảm nhận tự thể và tính nội tụ tự thể tương đối tốt. Đồng thời, cha mẹ cần từng bước rút dần sự chú ý đối với đứa trẻ trong quá trình con lớn lên — thông thường đứa trẻ càng nhỏ, cha mẹ chú ý càng nhiều; ví dụ đối với trẻ dưới hai tuổi, chúng ta thường phải đáp ứng trẻ vô điều kiện.
Cùng với việc đứa trẻ lớn lên, tuy nhu cầu của trẻ ngày càng trở nên phức tạp, nhưng năng lực tự chủ của trẻ cũng ngày càng trở nên mạnh mẽ hơn. Cha mẹ để con làm những việc trong khả năng của mình, ví dụ như tự đánh răng, đi vệ sinh, đây chính là biểu hiện của việc rút dần ra từng bước. Việc rút lui phải có chừng mực, được rút lui theo phương thức thất vọng vừa đủ, chứ không phải đột ngột rút hết hoàn toàn. Hãy để con tự mình thử sức, kiên nhẫn dạy con cách làm, đợi con dần nắm vững thì từ từ rút lui. Như vậy, đứa trẻ mới có không gian tâm lý để kích hoạt những trải nghiệm từng được quan tâm, khi nhu cầu tự thể khách thể được đáp ứng trước đây để tự điều chỉnh bản thân. Mặc dù ban đầu đứa trẻ sẽ hơi căng thẳng một chút, nhưng trẻ có tính ổn định nhất định để điều chỉnh cảm xúc của mình, giúp bản thân có một tiến trình tốt hơn, ổn định hơn và có tính nội tụ hơn để làm một số việc.
Nhiều người tuy đã học tiếng Anh, nhưng khi đối thoại với người nước ngoài, về mặt ngôn ngữ luôn có những phần không chắc chắn, lúc này sẽ rất chột dạ. Trên thực tế, lần đầu tiên gặp người nước ngoài, hoặc lần đầu tiên đi du lịch nước ngoài, phần lớn mọi người đều sẽ căng thẳng khi phải dùng tiếng Anh để giao tiếp với người khác. Nhưng nếu bạn nói chuyện với người nước ngoài mà đôi bên đều hiểu được nhau, thì tính cùng tần số về ngôn ngữ giữa hai bạn là tương đối tốt.
Dưới bối cảnh đó, nếu thỉnh thoảng bạn có một câu nghe không hiểu, bạn sẽ kích hoạt trải nghiệm nghe hiểu phần lớn trước đó để giữ cho mình ổn định, đổi sang cách khác để tiếp tục giao tiếp với đối phương. Ví dụ một từ bạn nói người đó không hiểu, vậy thì dùng một từ khác để giải thích một chút, người đó có thể sẽ hiểu. Phương pháp này đến từ bên trong chính bạn, là kinh nghiệm thu được thông qua việc mở rộng các trải nghiệm thành công trước đó. Khi bạn kích hoạt những kinh nghiệm thành công trước đây và giao tiếp thành công trở lại, cảm nhận tự thể của bạn ở phương diện đối thoại tiếng Anh sẽ trở nên ổn định hơn, thì bạn sẽ có thể đối thoại một cách tự tại hơn.
Tình hình trong quá trình rút dần sự đáp ứng của tự thể khách thể ở trẻ sơ sinh cũng tương tự như vậy. Ví dụ, một đứa trẻ cảm thấy cha mẹ là toàn năng, đột nhiên một ngày nọ cha mẹ nói trong người không khỏe, phải nghỉ ngơi vài ngày; đối với đứa trẻ, đây là một kích thích. Nhưng đây không phải là kích thích mang tính sang chấn, đứa trẻ vì thế sẽ phát hiện ra cha mẹ rất hùng mạnh cũng có lúc suy yếu. Dựa vào điều này, trẻ sẽ kích hoạt sức mạnh trước đây khi cha mẹ suy yếu, từng bước điều chỉnh sự chú ý đối với cha mẹ. Như vậy ngay cả khi cha mẹ ốm đau, bản thân mà đứa trẻ cảm nhận được vẫn ổn định; điều này được sản sinh bởi sự thất vọng vừa đủ. Đứa trẻ sẽ trở nên có khả năng thích ứng xã hội tốt hơn, trở nên độc lập hơn.
Kohut cho rằng sự nội hóa biến chuyển được thực hiện thông qua những thất vọng vừa đủ này là một nhiệm vụ trọn đời. Mỗi giai đoạn của cuộc đời đều có nhiệm vụ của giai đoạn đó, thậm chí trước khi qua đời, một người cũng có nhu cầu về tự thể khách thể. Ví dụ một người trước khi qua đời sẽ nhìn lại xem cuộc đời mình có ý nghĩa hay không, nếu nhận thấy có ý nghĩa thì cảm nhận tự thể của người đó sẽ tương đối ổn định.
Cho nên Kohut cho rằng nhu cầu mang tính cộng hưởng này của tự thể khách thể là một nhu cầu cảm xúc cơ bản của con người. Cảm nhận tự thể của một người càng nội tụ, chức năng của tự thể khách thể càng tốt, thì năng lực giao tiếp xã hội và độ tự do của người đó càng lớn.
Nếu một người có rối loạn nhân cách ranh giới, thì người đó sẽ rất dễ rơi vào một mối quan hệ tình cảm, và khả năng cao là mối quan hệ tình cảm này rất dễ gặp trục trặc. Một khi gặp trục trặc, người đó sẽ giống như mất đi trụ cột tinh thần, chỉ cần có thể cứu vãn mối quan hệ, đối phương bảo làm gì cũng được. Đây chính là biểu hiện của cảm nhận tự thể suy yếu.
Một người có cảm nhận tự thể tốt, ngay cả khi thất bại trong một mối tình mà bản thân đã đầu tư rất nhiều, người đó vẫn có đủ cảm giác ổn định. Người đó có thể có nỗi đau đớn tạm thời trong một khoảng thời gian, nhưng cũng có thể hóa giải tương đối nhanh, sẽ tìm kiếm một mối tình lành mạnh hơn theo một phương thức tương đối lành mạnh.
Các tiến trình bệnh lý khác nhau của cộng hưởng, bóp méo, không đáp ứng và phủ lấp
Tính cộng hưởng của tự thể khách thể là một phần rất quan trọng đối với tự thể, tính cộng hưởng này đối với trẻ sơ sinh cũng rất quan trọng.
Chúng tôi phát hiện trong rất nhiều thí nghiệm gắn bó rằng, trẻ sơ sinh trước 8 tháng tuổi, tuổi càng nhỏ thì tính tương tác cảm xúc với người mẹ càng cao, tức người mẹ có biểu cảm gì thì trẻ sơ sinh cũng có biểu cảm tương tự; nếu biểu cảm của người mẹ nhìn chung thiên về tích cực, biểu cảm của trẻ sơ sinh cũng thiên về tích cực. Căn cứ vào thí nghiệm suy đoán, trẻ sơ sinh có tính cộng hưởng càng cao thì ở các giai đoạn lứa tuổi sau này cảm giác an toàn thường sẽ càng tốt, hơn nữa tỷ lệ phát bệnh về các vấn đề tâm lý sau khi trưởng thành sẽ càng thấp.
Rất nhiều nghiên cứu theo chiều dọc đã tiến hành qua mấy chục năm và trải qua ba bốn thế hệ phát hiện ra rằng, tình trạng của trẻ sơ sinh từ 0 đến 8 tháng tuổi có mối quan hệ mật thiết với việc sau khi trưởng thành có hình thành vấn đề tâm lý hay không.
Nhưng nhiều mối quan hệ mang tính cộng hưởng không nhất định có thể được biểu đạt một cách tốt đẹp, bởi vì cha mẹ có những khó khăn của cha mẹ. Tâm lý học tự thể cho rằng, có những vấn đề xuất hiện trong quá trình nuôi dưỡng. Trong quá trình nuôi dạy trẻ, thường xuất hiện hai loại tình huống: một loại là tình huống đứa trẻ bị bỏ bê; khi đứa trẻ bị bỏ bê, điều đứa trẻ cảm nhận được là trạng thái không đáp ứng, tức là đứa trẻ hoàn toàn không cảm nhận được sự đáp ứng của tự thể khách thể; một loại khác là tình huống đứa trẻ bị bóp méo hoặc bị phủ lấp.
Có một đứa trẻ ở trong nhà ngửi thấy một mùi hôi thoang thoảng, đứa trẻ nói với mẹ. Nhưng người mẹ không ngửi thấy.
Mấy tuần sau, người mẹ khi dọn dẹp ban công thì phát hiện ra một con chuột chết, hơn nữa con chuột chết còn tỏa ra một mùi hôi thối.
Lúc này đứa trẻ nói với mẹ: “Mẹ xem, con đã bảo là có mùi hôi rồi mà, mùi hôi chính là do con chuột chết này tỏa ra đấy.”
Người mẹ đáp lại: “Có phải con giở trò không? Đồ con ăn đã dẫn dụ chuột vào đấy.”
Phản hồi lúc này của người mẹ được gọi là bóp méo.
Đứa trẻ này đang tự chứng minh trải nghiệm ngửi thấy mùi hôi trước khi phát hiện ra chuột là đúng, nhưng lời nói của người mẹ đã bóp méo trải nghiệm của đứa trẻ. Đứa trẻ nói ra trải nghiệm của mình là hy vọng được công nhận, thế nhưng người mẹ này vì để phòng vệ, để bản thân không bị mất mặt, liền nói ra những lời quy kết là do đứa trẻ giở trò, bóp méo trải nghiệm của đứa trẻ.
Sự hình thành phân liệt: Tiềm ức
Khi bị mẹ bóp méo, đứa trẻ không thể cãi lại, đứa trẻ này chỉ có thể đè nén cảm giác của mình. Tâm lý học tự thể cho rằng, những cảm giác này bị đè nén, không phải là biến mất từ đó, mà là bị đè nén vào trong vô thức, chúng nhất định có một ngày sẽ quay trở lại.
Những cảm giác này một khi bị đè nén vào trong vô thức, sẽ rất dễ được tích hợp vào ý thức và một lần nữa hiển lộ trở lại. Nhưng khi chúng một lần nữa hiển lộ, bầu không khí gia đình của đứa trẻ này lại không cho phép chúng xuất hiện, trẻ có tranh biện cũng vô ích, vậy thì phần bị đè nén dần dần sẽ bị quên lãng. Nếu phần bị quên lãng có sức sống rất mạnh, đồng thời vào thời điểm đó đã kích hoạt cảm xúc mãnh liệt, thì những cảm xúc bị đè nén này rất có khả năng sẽ bị hoán vị thành triệu chứng vào thời kỳ thanh thiếu niên hoặc thời kỳ trưởng thành của người đó. Bởi vì ở những kênh thông thường chúng đã bị đè nén, cho nên chỉ có thể biểu hiện ra thông qua một phương thức khác.
Kohut gọi quá trình này là sự hình thành phân liệt. Sự hình thành phân liệt này được gọi là phân liệt ngang, cũng gọi là tiềm ức. Quá trình một cảm nhận hoặc cảm xúc nào đó của một người bị đè nén vào vô thức, đồng thời bị quên đi được gọi là tiềm ức, cũng gọi là phòng vệ.
Trong quá trình tiềm ức, thứ bị tiềm ức là gì? Là nhu cầu của tự thể. Có thể là nhu cầu phản chiếu liên quan đến tự thể khoa đại, cũng có thể là nhu cầu của tự thể lý tưởng hóa.
Bình luận