Chương 1
Chương 1
Giải cấu truyền kỳ hồn phách Trung Quốc
“Xét về nội dung câu chuyện, chúng thiên biến vạn hóa, gần như là vô hạn; nhưng xét về chất liệu và công cụ được sử dụng, chúng lại là hữu hạn. Chúng chỉ là việc không ngừng kết hợp, tháo rời rồi lại kết hợp một tập hợp vật chất tồn dư từ hoạt động của nhân loại trong xưởng thủ công của lịch sử mà thôi.”
“Kinh nghiệm tri giác cảm quan đặc thù, mô thức tư duy cổ xưa, nội hàm tâm lý của ý thức và tiềm thức, cùng đặc chất của văn hóa Trung Quốc là những chất liệu cơ bản để cấu trúc nên truyền kỳ hồn phách. Chúng tựa như bốn nguyên tố carbon, hydro, oxy và nitơ, có thể tùy theo tỷ lệ và phương thức khác nhau mà kết hợp thành vô số hợp chất hữu cơ phong phú.”
“Trí tưởng tượng toàn năng — năng lực nội tại xảo diệu này của tâm trí — chính là chiếc kéo, kim chỉ và những mảnh vải vụn để kết hợp bốn loại chất liệu trên thành một câu chuyện hoàn chỉnh.”
“Trong quá trình này, điều chúng mưu cầu định hình là một cấu trúc tín ngưỡng linh hồn và cấu trúc câu chuyện vừa mang tính phổ quát của nhân loại, lại vừa có tính độc đáo văn hóa; vừa phù hợp với niềm tin ý thức, lại vừa thỏa mãn được nhu cầu tiềm thức.”
CÂU CHUYỆN
【Câu chuyện 1】 Thái giám trên nóc nhà
Những năm đầu triều Minh, trong hoàng cung đại nội bị mất chiếc nắp của một chiếc hũ báu bằng vàng. Sau khi truy xét tra hỏi khắp nơi, định tội là do một thái giám chấp sự trộm mất. Hoàng thượng biết chuyện vô cùng phẫn nộ, hạ chiếu trói tên thái giám này giải ra pháp trường chém đầu thị chúng. Đúng lúc sắp hành hình thì lệnh ân xá bất ngờ đưa tới, hóa ra nắp hũ vàng đã tìm thấy.
Viên thái giám này sau khi thoát chết kể lại: Khi bị áp giải tới pháp trường, trong lòng vạn phần sợ hãi, bỗng nhiên cảm thấy bản thân thoát khỏi thể xác bay thẳng lên cao, bay tới ngồi trên nóc nhà của một hộ dân, cúi đầu nhìn xuống thấy bên dưới có một người hai tay bị trói ngoặt ra sau, quỳ rạp trên đất, mắt thấy sắp bị chém đầu. Lúc này nghe thấy có tiếng hô lớn: “Lệnh ân xá tới!”, ông mới từ mái hiên lơ lửng hạ xuống, cùng thân thể mình hợp lại làm một. (Thời Minh · Lưu Ngọc, «Kỷ ngược thiên»)
【Câu chuyện 2】 Nhà sư và con rắn nhỏ
Một ngày hè nọ, một viên lý trưởng ở vùng Úy Môn từ sáng sớm đã dẫn theo người hầu ra ngoài, xuống nông thôn để thu tiền sưu dịch. Giữa đường, hai chủ tớ ghé nghỉ chân trước cửa một nhà dân. Người hầu ngồi dưới bậc thềm nhanh chóng ngủ thiếp đi. Lý trưởng cũng thấy buồn ngủ, trong cơn mơ màng, ông trông thấy một người tí hon rất nhỏ bám trên người tên hầu nhảy nhót vui đùa, rồi bước xuống bậc thềm, qua cây cầu ván nhỏ bắc ngang dòng suối trước cửa, chạy sang vườn rau bờ bên kia.
Lý trưởng lay lay người hầu, nhưng người hầu ngủ say như lợn, căn bản gọi không dậy. Thế là lý trưởng tự mình đứng dậy, bước tới bên bờ suối nhấc cây cầu ván nhỏ đi. Lát sau, người tí hon từ vườn rau trở ra, không thấy cầu nên không qua suối được, cuống cuồng đi đi lại lại bên bờ đối diện. Lý trưởng thấy vậy bèn đặt cây cầu ván về chỗ cũ, người tí hon vội vã chạy qua cầu, trèo lại lên mình người hầu, chớp mắt liền biến mất. Người hầu cũng tỉnh giấc ngay lúc ấy.
Lý trưởng hỏi sao anh ta lại ngủ say như lợn chết? Người hầu nói vừa rồi mơ thấy một giấc mộng đẹp: mơ thấy mình qua cầu đến một khu vườn tươi đẹp, cây cao chọc trời, anh ta dạo chơi trong đó, cảm thấy sảng khoái vô cùng. Nhưng lúc muốn quay về thì cầu lại bị người ta dỡ mất, hại anh ta suýt nữa không về được. Lý trưởng nghe anh ta nói vậy mới hiểu ra người tí hon vừa thấy ban nãy chính là linh hồn của người hầu.
Lại có chuyện, một thư sinh ở đất Gia Định nọ đi thăm một nhà sư, chẳng may nhà sư đang ngủ trưa, thư sinh không muốn quấy rầy nên ngồi bên giường chờ đợi. Đang ngồi bỗng thấy một con rắn nhỏ từ lỗ mũi nhà sư chui ra, uốn éo bò xuống đất. Thư sinh thấy lạ, tiện tay cầm con dao nhỏ trên bàn trà cắm xuống đất, chỉ thấy con rắn nhỏ bò tới bên dao liền sợ hãi dừng lại, đợi thư sinh nhổ dao lên mới lại tiếp tục bò tới trước.
Thư sinh nghịch ngợm nhổ một bãi nước bọt xuống đất, con rắn nhỏ lại bò tới liếm, dường như uống rất ngon lành. Lát sau, rắn nhỏ bò ra ngoài nhà, nổi chìm trong bể nước trước cửa ngâm mình hồi lâu, rồi mới xuyên qua bụi hoa, men theo đường cũ trở về, trèo lên giường chui vào lỗ mũi nhà sư.
Nhà sư tỉnh dậy, thấy thư sinh đang ngồi đó liền vội đứng dậy, lại bảo mình vừa có một giấc mộng lành: mơ thấy ra ngoài đạp thanh, giữa đường gặp cướp cầm đao cắm ngang đường uy hiếp, suýt chút nữa rước họa sát thân. Về sau thấy bên đường có một vũng nước trong, hớp mấy ngụm thấy ngọt ngào như sương cam lộ. Rồi bước tới bờ biển tắm táp một hồi, gột sạch mọi ưu tư trần tục. Cuối cùng, lại dạo chơi thỏa thích một khu vườn trồng đầy kỳ hoa dị thảo rồi mới tận hứng trở về.
Nhà sư nói: “Nhưng chẳng hay giấc mộng lành này do cảm ứng điều chi mà sinh ra?” Thư sinh chỉ mỉm cười gật đầu, không đem những chuyện mình vừa tận mắt thấy kể cho nhà sư nghe. (Thời Minh · Lục Sán, «Canh tị biên»)
【Câu chuyện 3】 Mục Tiểu Quỳnh báo thù
Huyện Dư Can có người họ Trương tới Nam Kinh làm ăn, trọ tại một quán khách ở ngõ Trường Can. Đêm nọ, một thiếu phụ gõ cửa tìm gặp, tự xưng ở phòng sát vách. Trương mỗ thấy nàng trang điểm kiều diễm, dáng vẻ mê hoặc lòng người, bất giác thần hồn điên đảo. Hai người đưa mắt liếc nhìn nhau một hồi liền cùng chung chăn gối.
Ngày hôm sau, Trương mỗ xem xét phòng bên cạnh thì thấy trống trơn, chẳng có dấu vết người ở. Đêm ấy thiếu phụ lại tới, Trương mỗ gặng hỏi kỹ càng, thiếu phụ mới nói: “Thiếp thực ra không phải người, mà là ma. Thiếp có một việc muốn cậy nhờ chàng. Có một người tên Dương Xu đồng hương với chàng, chàng có quen không?” Trương mỗ đáp: “Quen.” Thiếu phụ lại hỏi tiếp: “Hắn có phải vốn rất nghèo, sau bỗng chốc trở thành kẻ giàu xổi không?” Trương mỗ trả lời: “Đúng vậy.”
Thiếu phụ bèn nghiến răng giậm chân nói: “Hắn là một kẻ bạc tình phụ bạc! Thiếp tên Mục Tiểu Quỳnh, vốn là kỹ nữ có tiếng xinh đẹp một vùng Trường Can này. Thiếp vừa gặp Dương Xu đã đem lòng yêu mến, hắn cũng buông lời đường mật, đôi bên từng thề non hẹn biển sẽ sống chết có nhau. Thế nhưng sau khi thiếp đem toàn bộ số tiền dành dụm giao hết cho hắn, hắn lại một đi không trở lại. Thiếp si tình chờ đợi, giữ vẹn lời thề, đóng cửa từ chối khách suốt bảy năm trời. Mãi về sau mới hay tin hắn ôm tiền của thiếp về quê cưới người khác, thiếp uất hận mà chết. Quán trọ này vốn là nhà cũ của thiếp, dưới giường chàng nằm còn chôn hai cân vàng và mấy chiếc hộp đồng tâm bằng ngọc, nay xin tặng chàng, chỉ mong chàng mang thiếp về huyện Dư Can, thiếp muốn cùng Dương Xu dứt điểm ân oán.”
Hôm sau, Trương mỗ quả nhiên đào được vàng và hộp ngọc dưới gầm giường. Ông bèn theo lời dặn của nữ quỷ, khắc một tấm bài vị thần chủ, trên viết “Mục Tiểu Quỳnh thần vị”, mang lên thuyền cùng về quê. Ban đêm, chỉ cần gọi trước bài vị là Mục Tiểu Quỳnh sẽ hiện thân. Tới huyện Dư Can, Mục Tiểu Quỳnh nói muốn tự mình đi tìm Dương Xu rồi từ biệt Trương mỗ.
Dương Xu lúc bấy giờ đang khỏe mạnh bình yên, lại đúng dịp sinh nhật nên mở tiệc linh đình thết đãi tân khách. Nhưng ngay giữa tiệc rượu, hắn đột nhiên bạo tử; người vợ hắn cưới ở quê cũng đột ngột mắc bạo bệnh suýt nữa mất mạng. Đầu đuôi câu chuyện Trương mỗ hiểu rõ trong lòng nhưng không dám nói cho ai biết. Về sau, ông gọi trước bài vị lần nữa thì Mục Tiểu Quỳnh không bao giờ hiện thân nữa. (Thời Minh · Tống Phượng Tường, «Thu kính bút thừa»)
【Câu chuyện 4】 Thang công hoàn hồn
Năm Tân Sửu, Tiến sĩ Thang Phính mắc bệnh nặng. Lúc lâm chung, bỗng thấy một luồng khí nóng từ phần dưới thân thể từ từ bốc lên. Khí nóng dâng tới đùi thì bàn chân mất cảm giác; dâng tới bụng thì đùi lại chết lặng. Khi khí nóng dâng tới tim, Thang mỗ chỉ thấy mọi chuyện vụn vặt từ thuở ấu thơ đến nay vốn đã quên lãng từ lâu đều theo tâm huyết kéo về, cuồn cuộn dâng lên trong lòng như sóng triều. Nếu là việc thiện thì trong dạ thanh tĩnh an nhàn; nếu là việc ác thì trong lòng áo não phiền muộn khôn xiết. Mãi tới khi mọi trải nghiệm cuộc đời lần lượt hiện ra hết, mới thấy một làn khí nóng xuyên qua họng xông lên não, thoát ra từ đỉnh đầu, bốc lên như khói bếp. Lại qua mấy mươi khắc nữa, linh hồn mới hoàn toàn thoát khỏi thể xác.
Khi một làn u hồn phiêu dạt không nơi nương tựa của Thang công đang trôi nổi trên đường ngoại ô, bỗng nhiên có một người khổng lồ bước tới, tiện tay nhặt ông nhét vào trong tay áo. Sau khi vào tay áo người khổng lồ, Thang mỗ lập tức cảm thấy trong ống tay áo có rất nhiều người, vai chen đùi ép, nghẹt thở vô cùng. Ông bèn niệm Phật hiệu, mới niệm ba tiếng đã bay rớt ra ngoài tay áo. Người khổng lồ thấy vậy lại nhặt ông nhét vào ống tay áo lần nữa. Cứ ba lần nhét vào ba lần rơi ra như thế, cuối cùng người khổng lồ chẳng buồn ngó ngàng tới ông nữa, phất tay áo bỏ đi.
Thang mỗ ngã xuống đất, bơ vơ bàng hoàng không biết đi về đâu, chợt nhớ Phật Tổ ở Tây Thiên bèn cất bước về hướng Tây. Đi chẳng bao xa gặp một nhà sư đang ngồi đả tọa bên đường, Thang mỗ tới hỏi đường, nhà sư nói: “Sổ sinh tử của người đọc sách do Văn Xương Đế Quân và Khổng Thánh cai quản, ngươi phải tới hai nơi đó xóa tên trước mới được đi nơi khác.” Thang mỗ theo lời nhà sư chỉ dẫn trước hết tới miếu thánh Khổng Tử. Vào điện chỉ thấy Khổng Tử ngồi uy nghiêm trông về hướng Nam, Thang mỗ vội lên bái lạy, Khổng Tử bảo việc xóa tên sổ bộ kẻ sĩ còn phải tìm Văn Xương Đế Quân. Ông lại theo lời đến điện Văn Xương Đế Quân. Văn Xương Đế Quân sau khi tra xét danh bộ liền bảo: “Ngươi tâm địa thuần chính, lẽ ra còn cơ hội sống lại, nhưng thể xác đã mục nát, e rằng chỉ có thể cầu Bồ Tát giúp đỡ.” Nói rồi lại chỉ đường cho ông tới chỗ Quán Thế Âm Bồ Tát.
Đi được một lát, Thang mỗ thấy một rừng trúc tươi tốt um tùm. Bước vào trong, chỉ thấy Quán Thế Âm Bồ Tát tóc búi ốc trang nghiêm, dung nhan ánh sắc vàng kim đang tọa thiền, ông không khỏi kính cẩn cúi đầu dập đầu bẩm báo lời dặn của Văn Xương Đế Quân. Quán Âm Bồ Tát nghe xong nét mặt lộ vẻ khó xử, nhưng một vị tôn giả bên cạnh liền thưa: “Chỉ cần Bồ Tát ngài thi triển chút đại pháp lực, liền có thể vốc đất làm thịt, bẻ liễu làm xương cho ông ta tái sinh.” Bồ Tát bèn bẻ một cành liễu, dốc nước thần trong tịnh bình hòa đất thành bùn, đắp lên hồn thể của Thang mỗ, rồi sai đồng tử đưa về linh đường nhà họ Thang, đẩy Thang mỗ một cái rơi xuống.
Người nhà họ Thang đúng lúc này bỗng nghe trong quan tài phát ra tiếng rên rỉ cựa quậy, họ kinh hãi mở nắp quan tài đỡ Thang mỗ đã hồi hồn bước ra, bệnh tình của ông cũng vì thế mà khỏi hẳn. Thang mỗ từ lúc chết đến khi sống lại, trước sau cả thảy tắt thở bảy ngày. (Thời Thanh · Bồ Tùng Linh, «Liêu trai chí dị»)
【Câu chuyện 5】 Mộng hồn thụ hưởng
Bố chính sứ Giang Tây Hoàng Nham Lâm vào một buổi trưa tiết Trung nguyên năm nọ, vì mệt mỏi mà ngủ thiếp đi, mơ thấy một bà lão bày hương án rượu thịt đang hướng về phía mình cúng tế. Giật mình tỉnh mộng, không chỉ nhà cửa phố xá nơi cúng tế trong mộng vẫn hiển hiện rõ mồn một, mà kẽ răng khóe miệng vẫn còn vương vấn dư vị đồ ăn bà lão cúng bái. Ông thấy làm lạ bèn gọi một nha dịch tới, tả lại phương vị và hình dáng nhà cửa trong mộng bảo đi dò la. Nha dịch quả nhiên tìm đến một khu phố thấy một bà lão ngoài bảy mươi đang cúng người chồng quá cố, tàn tro giấy tiền vừa đốt vẫn chưa tắt hẳn.
Nha dịch tra hỏi món ăn cúng tế và ngày tháng năm mất của người chồng rồi về bẩm báo Hoàng Nham Lâm, kết quả lại trùng khớp hoàn toàn với đồ ăn ông nếm được trong mộng và ngày tháng năm sinh của chính bản thân ông. (Thời Minh · Vương Kỳ, «Ngụ bộc tạp ký»)
【Câu chuyện 6】 Sinh con trong quan tài
Trên phố Vạn An thuộc huyện Tân An có một sản phụ mang thai mười tháng bỗng nhiên qua đời. Người nhà khâm liệm xong, quan tài tạm quật tại một nơi ngoài ngoại ô.
Về sau, người phụ nữ đã mất thường hay xuất hiện vào ban đêm ở thị trấn để mua các loại thức ăn như bánh trái. Có kẻ hiếu kỳ lần theo sau, kết quả nghe thấy trong quan tài có tiếng trẻ con khóc oa oa, vội vàng chạy về báo cho người nhà bà ta. Người nhà mở quan tài ra xem, phát hiện bên trong quả nhiên có một đứa trẻ vừa mới chào đời, hóa ra sản phụ đã sinh con trong quan tài sau khi chết. Người nhà bế đứa bé về nuôi nấng, khi trưởng thành làm ăn phát đạt trở thành phú ông lớn, người làng đều gọi ông là “Quỷ sinh Triêu phụng”. (Thời Minh · Trịnh Trọng Quỳ, «Nhĩ tân»)
LUẬN THUẬT
Tháo dỡ truyền kỳ hồn phách
Truyền kỳ hồn phách, đúng như tên gọi, là việc dùng phương thức câu chuyện để truyền tải thông điệp về tín ngưỡng linh hồn. Nhưng là một độc giả hay một nhà bình luận sắc sảo, người ta luôn có xu hướng chú ý tới “những thông điệp khác”. Làm thế nào để thu được “những thông điệp khác”? Cách làm truyền thống là thông qua đối chiếu so sánh; ví như đem tứ duy bát đức, thất tình lục dục bộc lộ trong câu chuyện đối chiếu với tứ duy bát đức, thất tình lục dục nơi đời thực, rồi rút ra kết luận xem chúng “gửi gắm ngụ ý riêng ra sao”. Phương pháp so sánh này về căn bản xem mỗi câu chuyện truyền kỳ hồn phách là một “đơn vị nhỏ nhất không thể phân chia”, chỉ quẩn quanh bên ngoài truyền kỳ hồn phách mà thôi. Xét về phương pháp học, nó vừa cũ kỹ, lại khó tránh khỏi hời hợt.
Trong lời tựa, chúng tôi từng nhắc tới phép ẩn dụ “bản giao hưởng” của Lévi-Strauss và nói rằng nó giúp ích cho việc hiểu truyền kỳ hồn phách. Nhưng ở đây, tôi muốn đề cập thêm một ẩn dụ khác của ông — hình tượng “người thợ chắp vá” (bricoleur). Ông nói, nét đặc sắc lớn nhất của những người thợ chắp vá là chất liệu và công cụ họ sử dụng đều là những vật chất tồn dư từ các hoạt động quá khứ của nhân loại; công việc chủ yếu của họ là dùng các công cụ sẵn có để liên tục kết hợp, tháo rời rồi lại kết hợp các vật liệu trong tay, mưu cầu định hình nên những cấu trúc lý tưởng nào đó.
Người viết cho rằng truyền kỳ hồn phách hoàn toàn giống với sản vật của “người thợ chắp vá” ấy. Xét về nội dung câu chuyện, chúng thiên biến vạn hóa, gần như là vô hạn; nhưng xét về chất liệu và công cụ được sử dụng, chúng lại là hữu hạn, chỉ xoay quanh mấy loại chất liệu và công cụ “nhân loại còn sót lại”, được liên tục kết hợp, tháo rời rồi lại kết hợp trong xưởng thủ công của lịch sử mà thôi. Vì thế, đối diện với kho tàng truyền kỳ hồn phách nhiều như mồ hôi trâu làm trĩu giá sách, công việc đầu tiên của chúng ta là làm sao biến “vô hạn” thành “hữu hạn”, tức là làm thế nào để “tháo dỡ” truyền kỳ hồn phách, tìm ra chất liệu và công cụ kết hợp nên chúng, rồi tiến hành so sánh và phân tích ở một bình diện cơ bản hơn. Chỉ có như vậy, chúng ta mới có thể vượt thoát quan điểm truyền thống để thu được “những thông điệp phụ trội khác”.
Sáu câu chuyện được nêu ở chương này chính là đối tượng chúng ta chuẩn bị tháo dỡ. Trước hết, chúng ta phải “điểm mặt chỉ tên” các chất liệu và công cụ mà chúng sử dụng.
Kinh nghiệm tri giác cảm quan đặc thù và dị tượng sinh mệnh
Chất liệu cơ bản và cốt lõi nhất cấu thành nên truyền kỳ hồn phách là những kinh nghiệm tri giác cảm quan đặc thù hoặc dị tượng sinh mệnh khó giải thích.
Điều được miêu tả trong «Thái giám trên nóc nhà» chính là một dạng kinh nghiệm tri giác cảm quan đặc thù. Trong ngữ vựng của linh hồn học, nó được gọi là “linh hồn xuất khiếu” (xuất hồn); nhưng trong từ điển khoa học hiện đại, nó được gọi là “kinh nghiệm cận tử dạng tự quan sát” (autoscopic near-death experience). Nó hoàn toàn không phải do văn nhân tưởng tượng từ hư không, mà là một trải nghiệm kỳ lạ khiến nhân loại bối rối từ thuở xa xưa.
Bác sĩ chuyên khoa tim mạch Sabom (B. Sabom) thuộc Đại học Emory của Mỹ khi phỏng vấn 116 bệnh nhân từng được cứu sống từ ranh giới cận tử (trong giai đoạn từ năm 1976 đến 1982) đã phát hiện ra 32 người trong số họ từng có “kinh nghiệm cận tử dạng tự quan sát” kỳ dị như sau: Lúc cận kề cái chết, họ cảm thấy mình thoát khỏi thân xác, bay bổng lên độ cao ngang trần nhà, nhìn xuống thể xác trống rỗng của mình, và thấy nhất cử nhất động của các nhân viên y tế hoặc người nhà đang vây quanh lúc đó; hơn nữa sau khi hồi tỉnh, họ còn có thể miêu tả lại một cách chi tiết và gần như xác thực về những điều này. Ví như có một bệnh nhân tim sau khi được cứu sống từ cõi chết đã nói mình “thấy” bác sĩ dùng một “chiếc đĩa tròn có cán” áp lên lồng ngực mình. Cái gọi là “đĩa tròn có cán” ấy chính là bản cực khử rung tim dùng khi “khử rung tim bằng điện” trong phẫu thuật hồi sức tim. Đó là một thiết bị đặc biệt mà bệnh nhân này trước đó khó lòng nhìn thấy.
Bởi vậy, nhìn từ bình diện “chất liệu”, «Thái giám trên nóc nhà» thực ra không phải là “câu chuyện hư cấu”, mà là bản ghi chép dân gian thời kỳ đầu về dạng “kinh nghiệm cận tử dạng tự quan sát” này.
Cuộc sống đầy rẫy những kinh nghiệm tri giác cảm quan đặc thù hay nói cách khác là những “dị tượng” khôn thấu. Mỗi một thiên truyền kỳ hồn phách sau khi giải cấu đều có thể tìm thấy nội hàm của một hay nhiều kinh nghiệm tri giác cảm quan đặc thù, ví như cận tử sống lại, ác mộng thành thực, tận mắt chứng kiến quỷ hồn xuất hiện, trông thấy ngôn hành cử chỉ của một người bỗng chốc biến đổi khác hẳn ngày thường. Chúng ta gần như có thể khẳng định: không có kinh nghiệm tri giác cảm quan đặc thù thì không có đất cho truyền kỳ hồn phách tồn tại.
Tất nhiên, việc giải thích những kinh nghiệm hay dị tượng ấy ra sao lại là một chuyện khác.
Sự hiển hiện của mô thức tư duy cổ xưa
Mô thức tư duy cổ xưa là chất liệu thứ hai cấu trúc nên truyền kỳ hồn phách, câu chuyện «Nhà sư và con rắn nhỏ» hàm chứa thành phần này. Mối quan sát bên ngoài của viên lý trưởng và chàng thư sinh với giấc mộng nội sinh của người hầu và nhà sư trong truyện có một mối tương ứng đầy huyền bí. Nhưng nó cũng không phải bắt nguồn từ linh cảm cá nhân của tác giả Lục Sán, mà là sản vật từ một mô thức tư duy cổ xưa và mang tính phổ quát của nhân loại.
Trong trước tác nhân học đồ sộ «Cành vàng» của Frazer (J. Frazer), có một truyền thuyết rất giống với truyện này, được thu thập từ người Santhal ở miền Nam Ấn Độ:
Có một người sau khi đi ngủ cảm thấy khát nước, linh hồn bèn hóa thành một con thằn lằn chui ra khỏi cơ thể, bò vào một hũ nước nhỏ uống nước, nhưng trong mộng người đó lại thấy mình đang trèo xuống một miệng giếng để uống. Đang lúc uống thỏa thích, anh ta lại mơ thấy có người từ trên đậy kín miệng giếng lại, hóa ra là chủ nhân hũ nước trở về đậy nắp hũ, kết quả là thằn lằn không bò ra được, và người đó cũng không sao tỉnh lại khỏi giấc mơ. Khi bạn bè tưởng anh ta đã chết và chuẩn bị hỏa táng thi thể, lại có người mở nắp hũ nước ra, thằn lằn kịp thời trốn thoát chui về cơ thể, người ấy mới hồi tỉnh trở lại.
Sự tương đồng giữa «Nhà sư và con rắn nhỏ» với truyền thuyết người Santhal tuyệt đối không phải ngẫu nhiên, càng không phải do “Trung Quốc chịu ảnh hưởng của Ấn Độ”, bởi vì có rất nhiều dân tộc nguyên thủy, ví như người da đỏ Nootka, người Mã Lai... cũng đều có những truyền thuyết tương tự. Điều chúng phản ánh thực chất là những mô thức tư duy cổ xưa và mang tính phổ quát của loài người.
Những mô thức tư duy cổ xưa này, có loại thuộc về “tư duy ma thuật” (magical thinking) theo cách nói của Frazer, có loại lại thuộc về “tiến trình tư duy nguyên sơ” (primary thinking process) theo cách nói của Freud (S. Freud). Trong rất nhiều truyện truyền kỳ hồn phách, chúng ta đều có thể bắt gặp bóng dáng của lối “tư duy ma thuật” hay “tư duy nguyên sơ” này. Tư duy vốn là một công cụ, song người xưa thường xem “tư tưởng” là “chân thực”, thậm chí để “tính chân thực của tư tưởng” lấn át cả “tính chân thực khách quan”, mà truyền kỳ hồn phách cũng thường miêu tả những sản vật tư duy ấy như một hiện thực cụ thể; vì thế, tôi vẫn xem những mô thức tư duy cổ xưa này là chất liệu thứ hai để kiến tạo nên truyền kỳ hồn phách.
Nội hàm tâm lý của ý thức và tiềm thức
Chất liệu thứ ba cấu thành nên truyền kỳ hồn phách là nội hàm tâm lý, bao gồm cả nội hàm của ý thức và tiềm thức. Câu chuyện «Mục Tiểu Quỳnh báo thù» chứa đựng cùng lúc cả hai nội hàm này.
Nội hàm tâm lý ở bình diện ý thức là thứ chúng ta rất dễ “tự giác” nhận thấy được, trong câu chuyện này, nó chỉ hành động phục thù của nữ quỷ. Nàng Mục Tiểu Quỳnh bị ruồng bỏ chết không nhắm mắt, nhờ sự trợ giúp của Trương mỗ mà đạt được sở nguyện báo thù. Nhưng “ý nguyện của nữ quỷ” thực chất là sự phóng chiếu nội hàm tâm lý của con người. Bởi trong chốn trần gian ô trọc này, những chuyện bất công bất nghĩa, khiến lòng người phẫn uất bất bình có quá nhiều; việc để kẻ ác nhận lấy sự trừng phạt đích đáng, làm cho thiện ác hữu báo, một mặt có thể thỏa mãn ý nguyện đạo đức và chính nghĩa của siêu tôi xã hội, mặt khác cũng giúp dục vọng tấn công trong lòng những kẻ yếu thế — vốn bị ức hiếp, lăng nhục mà bó tay bất lực trong đời thực — tìm được sự phát tiết và thỏa mãn mang tính thay thế.
Nội hàm tâm lý ở bình diện tiềm thức lại khó lòng phát hiện hơn, bởi nó thường qua gọt giũa trang sức, xuất hiện trong truyện dưới những diện mạo khác nhau. Trong «Mục Tiểu Quỳnh báo thù», việc Trương mỗ đạt được sự thỏa mãn về tài dục và sắc dục chính là nội hàm tiềm thức ấy. Tất nhiên, chúng ta có thể nói những điều này đều do nữ quỷ chủ động chu cấp chứ không xuất phát từ đòi hỏi của Trương mỗ; nhưng đó chính là điều gọi là “ngụy trang dục vọng tiềm thức”, cũng là tác dụng phóng chiếu tâm lý điển hình: đem cái “tôi muốn” vốn chẳng mấy vẻ vang đẩy sang cho người khác, biến thành “không phải tôi muốn, mà là nàng muốn (cho tôi)”. Hơn nữa đẩy những thứ đó sang cho ma quỷ lại càng thuận tiện, bởi hành sự của ma quỷ có thể “vượt ra ngoài lễ pháp”, đồng thời chúng “luôn biết trong lòng bạn đang nghĩ (hy vọng) điều gì”.
Cứ như thế, truyền kỳ hồn phách thường hàm chứa những nội hàm tâm lý khác vượt ra ngoài việc “khao khát linh hồn tồn tại”, và nội hàm tâm lý ở tầng ý thức cùng tầng tiềm thức thường hòa lẫn vào nhau.
Đặc chất của văn hóa Trung Quốc
Đặc chất của văn hóa là chất liệu thứ tư cấu trúc nên truyền kỳ hồn phách. Cuốn sách này bàn về truyền kỳ hồn phách trong tiểu thuyết bút ký thời Minh — Thanh, cho nên nó đương nhiên chỉ đặc chất của văn hóa Trung Quốc.
«Thang công hoàn hồn» hàm chứa loại chất liệu này. Trải nghiệm của Thang Phính từ lúc chết cho tới khi hồi hồn, dùng ngữ vựng khoa học hiện đại mà nói, gọi là “kinh nghiệm cận tử mang tính siêu việt” (transcendental near-death experience), nó cũng là một dạng kinh nghiệm tri giác cảm quan đặc thù khiến người ta kinh ngạc bối rối. Theo khảo sát của triết gia y học Moody (R. A. Moody) đối với những bệnh nhân sống lại sau cơn cận tử, “kinh nghiệm cận tử mang tính siêu việt” bao gồm: hồi tưởng nhanh và toàn diện về cuộc đời mình, cảm thấy bản thân đang lăn tròn trong một đường hầm tăm tối, gặp người dẫn đường, người thân đã khuất, nhìn thấy vầng sáng rực rỡ có hình người, mục kích thành phố ánh sáng, có ai đó cứu vớt mình khỏi cái chết thể xác, mang theo niềm tin biến đổi trở lại nhân gian... Nếu lấy điều này đối chiếu với tình tiết Thang công hoàn hồn, không khó để phát hiện trong đó có rất nhiều điểm tương đồng: cái gọi là “mọi chuyện vụn vặt từ thuở ấu thơ đến nay vốn đã quên lãng từ lâu đều theo tâm huyết kéo về, cuồn cuộn dâng lên trong lòng như sóng triều” chính là sự hồi tưởng nhanh chóng và tổng thể về cả đời mình; còn việc “bị nhét vào trong tay áo người khổng lồ” là biến dạng tri giác của việc lăn trong đường hầm tăm tối; nhà sư ngồi đả tọa bên đường là người dẫn lối; miếu thánh Khổng Tử, điện Văn Xương Đế Quân là thành phố ánh sáng vĩ đại; còn Quán Thế Âm Bồ Tát chính là người cứu rỗi.
Thế nhưng theo các báo cáo, một người phương Tây sau khi hồi tỉnh từ cơn cận tử thường sẽ nói rằng người dẫn đường mà họ “thấy” là mục sư, linh mục hay thiên thần, còn đấng cứu rỗi là Chúa Giê-su, Đức Mẹ Maria hoặc Thượng đế; quang cảnh thành phố ánh sáng họ chiêm ngưỡng thường mang dáng dấp những công trình như giáo đường. Qua so sánh, chúng ta có thể thấy rõ chúng thực chất là những kinh nghiệm tri giác cảm quan đặc thù chịu sự ước thúc của văn hóa, các ảo giác này phản ánh đặc chất văn hóa mà một cá nhân đã thẩm thấu suốt đời.
Trong quá trình Thang Phính dùng đặc chất văn hóa để đóng gói kinh nghiệm tri giác cảm quan đặc thù của mình, lại hiển hiện ra một nét đặc chất khác của văn hóa Trung Quốc: bởi u hồn của ông lần lượt gặp gỡ Khổng Tử, Văn Xương Đế Quân và Quán Thế Âm Bồ Tát, vốn là những nhân vật đại diện tiêu biểu cho Nho, Thích, Đạo. Tại Trung Quốc, Nho, Thích, Đạo luôn là những thế lực văn hóa tranh giành tầm ảnh hưởng lẫn nhau; việc u hồn Thang Phính “tình cờ hội ngộ” ba nhân vật đại diện này giữa đường có thể xem là sự phản chiếu hiện thực văn hóa ấy.
Đại đa số các thiên truyền kỳ hồn phách đều mang đặc chất văn hóa Trung Quốc như vậy, và đây chính là chất liệu quan trọng nhất làm cho các câu chuyện này bộc lộ “bản sắc Trung Hoa”.
Sự kết hợp hữu cơ giữa các chất liệu
Kinh nghiệm tri giác cảm quan đặc thù, mô thức tư duy cổ xưa, nội hàm tâm lý của ý thức và tiềm thức, cùng đặc chất văn hóa Trung Quốc là những chất liệu cơ bản để cấu tạo nên truyền kỳ hồn phách. Chúng tựa như bốn nguyên tố carbon, hydro, oxy, nitơ, có thể tùy theo tỷ lệ và phương thức khác nhau mà kết hợp thành vô số hợp chất hữu cơ phong phú.
Nếu đem truyền kỳ hồn phách tháo dỡ ra, mỗi một câu chuyện thực ra cũng đều do bốn loại chất liệu kể trên cấu thành theo những tỷ lệ khác nhau. Câu chuyện «Thái giám trên nóc nhà» là đơn giản nhất, thành phần nó chứa có lẽ chỉ có kinh nghiệm tri giác cảm quan đặc thù. Còn «Nhà sư và con rắn nhỏ» thì ngoài mô thức tư duy cổ xưa đã nhắc tới ở trước, hiển nhiên cũng chứa đựng thành phần kinh nghiệm tri giác cảm quan đặc thù, bởi vì tự thân giấc mơ đã là một dạng kinh nghiệm tri giác cảm quan đặc thù rồi.
Phần lớn các câu chuyện đều chứa ba hoặc bốn loại chất liệu. Câu chuyện «Mục Tiểu Quỳnh báo thù» ngoài nội hàm tâm lý ý thức và tiềm thức, còn dùng kinh nghiệm tri giác cảm quan đặc thù “thấy ma” để xâu chuỗi; việc nữ quỷ yêu cầu Trương mỗ khắc tấm “Mục Tiểu Quỳnh thần vị” lại mang đặc chất văn hóa Trung Quốc; song quan niệm cho rằng linh hồn sẽ nương gá vào một vật thể mang ý nghĩa tượng trưng vốn cũng tồn tại phổ biến ở các dân tộc trên thế giới, chẳng hạn như người Ashanti ở châu Phi tin rằng linh hồn người chết sẽ nương vào chiếc ghế gỗ lúc sinh thời họ ngồi, sau khi người đó qua đời, chiếc ghế đại diện cho thân phận cá nhân này sẽ được bôi đen bằng tro than, đặt trong “nhà ghế” của gia tộc (tương tự như từ đường của Trung Quốc) để con cháu cõi dương phụng thờ cúng tế; do đó, nó thực chất cũng là sự hiển hiện của mô thức tư duy cổ xưa và mang tính phổ quát của nhân loại.
Còn câu chuyện «Thang công hoàn hồn», ngoài hai chất liệu kinh nghiệm tri giác cảm quan đặc thù và đặc chất văn hóa Trung Quốc đã nêu, việc du hồn Thang Phính gặp gỡ Khổng Tử, Văn Xương Đế Quân và Quán Thế Âm Bồ Tát ít nhiều cũng thể hiện một dạng tâm thức tập thể của thứ dân bá tánh Trung Quốc. Từ sự sắp đặt tình tiết có thể thấy được, dân gian đối với Nho, Thích, Đạo là muốn cả ba, nhưng lại có đánh giá riêng đối với từng bên. Trong vấn đề chăm lo cho linh hồn, Nho gia ít nhiều bị coi là “đồ cụ hư danh” (chỉ có hư danh), Thích gia thì tỏ ra “cao tay hơn một bậc”, còn Đạo gia đóng vai trò trung gian giữa Nho và Thích. Riêng Thang Phính — kẻ sĩ này ngày thường làm quan tại triều, đàm luận về đạo thánh hiền Khổng Mạnh, nhưng lúc chết lại khao khát đến thế giới Cực Lạc Tây Phương — diện mạo tâm lý “ngoại Nho nội Phật” này lại chính là diện mạo tâm lý của rất nhiều sĩ tử Trung Quốc từ thời Ngụy — Tấn trở đi. Do đó, trong đặc chất văn hóa Trung Quốc cũng đan bện những nội hàm tâm lý tập thể nhất định.
Ngoài ra, vị Quán Thế Âm Bồ Tát “cao tay hơn một bậc” kia, đại pháp lực mà ngài thi triển — bẻ một cành liễu, dốc nước thần trong tịnh bình, hòa đất làm bùn đắp lên hồn thể của Thang mỗ — thực chất là dạng “ma thuật mô phỏng” (imitative magic) thường thấy ở các dân tộc nguyên thủy, tức là sản vật của mô thức tư duy cổ xưa; Quán Thế Âm Bồ Tát chẳng qua chỉ là một nữ phù thủy “tóc búi ốc trang nghiêm, dung nhan ánh sắc vàng kim” mà thôi. Tại đây, mô thức tư duy cổ xưa lại đan quyện với đặc chất văn hóa.
Tóm lại, tháo dỡ bất kỳ một truyện truyền kỳ hồn phách nào, chúng ta đều có thể phát hiện ra nó do bốn loại chất liệu kể trên kết hợp lại theo những tỷ lệ khác nhau mà thành.
Công cụ kết hợp: Trí tưởng tượng toàn năng
Một thợ may lấy nghề vá áo làm kế sinh nhai, nếu muốn tận dụng mấy mảnh vải có sẵn trong tay để may một chiếc “áo lý tưởng trong tâm trí”, thì công cụ người ấy sử dụng ngoài kéo và kim chỉ, có lẽ còn cần tìm thêm một số mảnh vải vụn khác. Nhưng đối với một người kể chuyện hay viết tiểu thuyết, khi muốn dùng mấy loại chất liệu kể trên để thêu dệt nên một “câu chuyện lý tưởng trong tâm trí”, công cụ được sử dụng lại là “trí tưởng tượng toàn năng”. Freud từng nói: “Nhân loại sở hữu một năng lực nội tại cực kỳ tinh diệu, có thể biến bất kỳ chất liệu nào họ nắm bắt được (tri giác hay tư tưởng) thành sự kiện mạch lạc và dễ hiểu; tất nhiên, nếu gặp phải tình huống đặc biệt không thể kết nối chân thực, họ sẽ chẳng chút do dự ngụy tạo ra bất cứ thứ gì cần thiết.” Lời này tuy nói về “sự cấu thành của giấc mơ”, nhưng cũng hoàn toàn thích dụng cho “sự cấu thành của truyền kỳ hồn phách”; thứ “năng lực nội tại tinh diệu của tâm linh” này chính là chiếc kéo, kim chỉ và vải vụn dùng để ráp nối bốn loại chất liệu kể trên thành một câu chuyện hoàn chỉnh.
Từ một câu chuyện đơn lẻ, chúng ta rất khó nhận thấy quá trình và thủ pháp cắt gọt, thêm thắt, chắp nối, vá víu chất liệu của “trí tưởng tượng toàn năng”; nhưng nếu có thể tìm thấy những phiên bản khác nhau rõ ràng được dệt nên từ cùng một chất liệu, so sánh sự dị biệt giữa các dị bản, sẽ không khó để nhận ra mỗi bản đã sử dụng loại kéo, kim chỉ và những mảnh vải vụn nào.
Sự hình thành của câu chuyện: Tay nghề của người thợ chắp vá
«Mộng hồn thụ hưởng» chính là một đối tượng kiểm nghiệm lý tưởng, bởi chỉ tính riêng trong tiểu thuyết bút ký của người thời Minh, ngoài «Ngụ bộc tạp ký» của Vương Kỳ, thì trong «Thiệp dị chí» của Mân Văn Chấn và «Canh tị biên» của Lục Sán cũng đều có những câu chuyện đại đồng tiểu dị. Do khuôn khổ bài viết, chúng tôi chỉ nêu câu chuyện trong «Thiệp dị chí»:
Khoảng niên hiệu Hoằng Trị, Tiến sĩ Lư Bố Triết người đất Thiên Thai tới Hoàng Châu làm Thái thú. Một hôm, ông chợp mắt nghỉ trưa nơi công đường, mơ thấy một bà lão mời mình tới một nhà dân bên cầu thết đãi món bánh sủi cảo. Ăn no nê xong trở về, chẳng ngờ tỉnh mộng, trong miệng vẫn còn vương vấn vị béo ngậy của sủi cảo.
Ông thấy làm lạ, bèn gọi sai dịch tới tả lại phương vị cùng đặc điểm nhà dân trong mộng bảo đi dò xét. Sai dịch quả nhiên tìm thấy nhà đó, thấy một bà lão tám mươi tuổi đang chuẩn bị thu dọn hương án cúng tế. Sai dịch bước tới hỏi han, bà lão nói: “Chồng tôi qua đời hơn ba mươi năm, sinh thời ông ấy thích ăn sủi cảo nhất. Hôm nay là ngày giỗ của ông nên tôi đặc biệt chuẩn bị sủi cảo cúng bái.”
Sai dịch về bẩm báo Lư Thái thú. Thái thú càng kinh ngạc hơn, vì ông vừa khéo cũng hơn ba mươi tuổi, bụng nghĩ bản thân có thể là kiếp sau của người chồng quá cố của bà lão, bèn sai nha dịch đi mời bà lão tới; kết quả giống hệt bà lão trông thấy trong mộng. Lư Thái thú ngậm ngùi khôn xiết, liền tặng bà lão một cân bạc trắng.
Câu chuyện này với «Mộng hồn thụ hưởng» rõ ràng có cùng nguồn gốc, nhưng về tình tiết lại có sự khác biệt rất lớn: một bên là “Bố chính sứ Giang Tây Hoàng Nham Lâm”, một bên là “Thái thú Hoàng Châu Lư Hi Triết”; một bên là “bà lão ngoài bảy mươi tuổi”, một bên là “bà lão tám mươi tuổi”; một bên nói việc cúng tế diễn ra vào “tiết Trung nguyên”, một bên lại nói vào “ngày giỗ”; một bên chỉ ăn “sủi cảo”, một bên lại ăn “vài loại thức ăn”; một bên nói “ngày tháng năm mất của người chồng quá cố chính là ngày tháng năm sinh của Hoàng Nham Lâm”, bên kia lại nói “mời bà lão đến, kết quả giống hệt người trong mộng”.
Qua đối chiếu, chúng ta có thể khẳng định chắc chắn có một câu chuyện đã dùng “kéo” và “vải vụn” của tâm linh can thiệp rất nhiều thủ thuật, nhưng khả năng cao hơn là cả hai câu chuyện đều có dấu vết này. Chất liệu nguyên sơ và chân thực nhất của nó có lẽ là một loại kinh nghiệm tri giác cảm quan đặc thù: một người nằm mộng thấy một bà lão mời ăn đồ ăn, tỉnh mộng thấy trong miệng có mùi vị lạ lùng.
Thế là “người thợ chắp vá” của chúng ta liền đem chất liệu này ghép thêm những chất liệu sẵn có bên tay — “cúng tế tiết Trung nguyên hoặc ngày giỗ” mang đặc chất văn hóa Trung Quốc, mô thức tư duy cổ xưa “giấc mơ là linh hồn xuất du”, cùng nội hàm tâm lý “linh hồn chuyển thế” thỏa mãn khát khao bất tử — cộng thêm một số mảnh vải vụn “từ không hóa có”, dùng “kéo” và “kim chỉ” của tâm linh cắt may, khâu nối chúng lại với nhau, kết quả tạo thành một cấu trúc câu chuyện lý tưởng phù hợp với niềm tin linh hồn.
Thủ pháp khoa trương và tô vẽ
“Chẳng chút do dự ngụy tạo ra bất cứ thứ gì cần thiết” có lẽ là điểm đặc thù nhất của công cụ “trí tưởng tượng toàn năng”, câu chuyện «Sinh con trong quan tài» có thể xem là đại diện.
Chuyện sinh con trong quan tài hay trong nấm mộ có nguồn gốc sâu xa trong truyền kỳ hồn phách Trung Quốc. Chúng ta có lý do để tin rằng chúng không phải hoàn toàn hư cấu, mà do một dạng kinh nghiệm tri giác cảm quan đặc thù diễn biến phát triển mà thành. Với loại truyện này, tình huống nguyên sơ và gần với thực tế nhất có lẽ là một sản phụ sắp lâm bồn có tử cung đã bắt đầu co thắt, vì nguyên nhân nào đó rơi vào hôn mê (trông như đã chết), nhưng phản xạ co bóp tử cung mang tính tự chủ vẫn tiếp tục diễn ra, đẩy thai nhi ra khỏi cơ thể, chỉ có điều sản phụ vĩnh viễn không tỉnh lại. Đối với người ngoài cuộc quan sát, việc “chết rồi sinh con” này là một dị tượng sinh mệnh khiến người ta bối rối; nhưng dưới sự truyền miệng của dân gian, bởi trí tưởng tượng phong phú và thói quen ưa bóp méo, thổi phồng sự thật của nhân loại, chuyện càng truyền lại càng xa rời sự thật: từ chết rồi sinh con biến thành sinh con trong quan tài, hơn nữa người mẹ đã khuất đêm đêm còn ra ngoài mua bánh trái về nuôi con.
Trong tập «Quyệt đàm» của Trần Tùng Tuyền thời Thanh, có một câu chuyện tương tự «Sinh con trong quan tài» nhưng phức tạp hơn nhiều (vì toàn văn quá dài nên xin lược bớt): đại ý kể về một thai phụ mới mang thai bảy tháng mắc bệnh qua đời, được chôn cất dưới huyệt mộ, hai tháng sau mới sinh con trong mộ; vì mắc chứng nhũ ung, huyết cạn không có sữa nuôi con, nên mỗi buổi hoàng hôn nàng đều cõng con lên thị trấn mua bánh. Bạc nàng trả đến sáng hôm sau liền hóa thành tiền vàng mã, sau khi bị chủ quán phát hiện, nàng mới rơi lệ thổ lộ thực tình, nói mình vốn định về quê báo tin cho chồng nhưng linh hồn bị thần sông ngăn trở không qua sông được, nay sự thể đã đến nước này, đành nhờ chủ quán báo tin cho người chồng đến đón con về; người chồng nghe tin tức tốc tới đào mộ, quả nhiên phát hiện trong quan tài có một đứa bé còn sống, bên cạnh thi thể vẫn còn một miếng bánh.
Chúng ta tuy không thể biết chắc linh cảm của câu chuyện này có bắt nguồn từ «Sinh con trong quan tài» hay không, nhưng lại thấy rõ dấu vết thổi phồng, tô vẽ của nó: từ mang thai mười tháng chết rồi sinh con biến thành mang thai mới bảy tháng cũng sinh con sau khi chết; từ sinh con trong cỗ quan tài quật nơi hoang dã biến thành sinh con dưới ngôi mộ chôn sâu trong đất cát; từ việc nửa đêm một mình ra ngoài mua bánh biến thành lúc hoàng hôn đã cõng con ra mua bánh; rồi tiền bạc biến thành giấy vàng mã, linh hồn bị thần sông ngăn trở... cũng theo nhau xuất hiện.
Loại “trí tưởng tượng toàn năng” này thực ra cũng chính là điều chúng ta thường gọi là “ngòi bút văn chương”, tiểu thuyết gia chính là “nhà tư tưởng toàn năng tối hậu” tùy ý điều khiển, kéo dài, thêm thắt, chắp nối, tô vẽ đủ loại chất liệu để dệt nên một câu chuyện lý tưởng.
Không ngừng kết hợp, tháo rời rồi lại kết hợp
Sau khi đã có những nhận thức cơ bản về chủng loại chất liệu và đặc tính công cụ kiến tạo nên truyền kỳ hồn phách, chúng ta có thể nói rằng, truyền kỳ hồn phách từ xưa chí kim dẫu nhiều như mồ hôi trâu làm trĩu giá sách, thực chất chỉ là việc không ngừng kết hợp, tháo rời rồi lại kết hợp các chất liệu và công cụ này mà thôi.
Trong quá trình này, điều chúng mưu cầu định hình là một cấu trúc tín ngưỡng linh hồn và cấu trúc câu chuyện vừa mang tính phổ quát của nhân loại, lại vừa có tính độc đáo của văn hóa; vừa có thể phù hợp với niềm tin ý thức, lại vừa thỏa mãn được nhu cầu tiềm thức. Và đây cũng chính là cách nhìn nhận cơ bản của người viết đối với truyền kỳ hồn phách trong tiểu thuyết bút ký thời Minh — Thanh.
Ở các chương tiếp theo, chúng tôi sẽ thường xuyên vận dụng phương pháp này để giải cấu truyền kỳ hồn phách, nhằm truy tìm những thông điệp ẩn tàng ở các bình diện tri giác cảm quan, tư duy, tâm lý và văn hóa; mà những điều ấy có lẽ mới là thông điệp giàu ý nghĩa nhất mà truyền kỳ hồn phách muốn truyền đạt tới chúng ta. Nhưng trước khi tìm kiếm những thông điệp này, chúng ta vẫn cần dành một chút thời gian để làm rõ “thông điệp chính thống” nội tại trong truyền kỳ hồn phách, đó chính là cấu trúc tín ngưỡng linh hồn hay phả hệ học linh hồn mà chúng ta sẽ luận bàn ở chương kế tiếp.
CHƯƠNG 2
Hệ phả học linh hồn của người Trung Hoa
“Kỳ thực đó là một hệ thống tri thức linh hồn học khá mạch lạc... Năng lực tâm trí của cổ nhân cũng giống hệt như chúng ta, điều khác biệt duy nhất chỉ nằm ở những giả định căn bản mà thôi.”
“Một hệ thống tín ngưỡng linh hồn cũng giống như một hệ thống sinh vật, nó biết tiến hóa... Những biến thể linh hồn khác nhau sẽ cạnh tranh lẫn nhau trong nội bộ hệ thống, nhưng yếu tố quyết định sự thịnh suy của chúng chủ yếu là các nhân tố văn hóa.”
“Do sự khác biệt về tiền đề giả định và cách đánh giá trải nghiệm tri giác giác quan, cổ nhân và người hiện đại từ cùng một dị tượng sinh mệnh đã tìm ra những trật tự khác nhau, từ đó sản sinh ra những hệ thống tri thức và hệ thống diễn giải khác biệt, tựa như những chất đồng phân (isomer) trong hóa học.”
“Sự khác biệt thực sự không nằm ở cổ đại hay hiện đại, mê tín hay khoa học, mà là mỗi bên đều có phạm vi áp dụng riêng, phản ánh hai lập trường tâm linh và nhân sinh khác nhau của con người. Vì thế, chúng sẽ tiếp tục tồn tại song song như hai đường thẳng đồng hành.”
CÂU CHUYỆN
【Câu chuyện 7】 Thiếu phụ dưới trăng
Vào một đêm trăng thanh gió mát, Lý Tinh ra ngoài thôn tản bộ hóng mát, từ đằng xa thoáng thấy một thiếu phụ nhà hàng xóm đi lại thấp thoáng trong rừng táo phía trước. Anh ngỡ rằng nàng đang trông nom vườn quả chống trộm, lại nghĩ bụng có lẽ chồng hoặc cha mẹ chồng nàng cũng đi cùng nên không tiện lên tiếng chào hỏi. Một lát sau, Lý Tinh thấy nàng bước ra khỏi vườn táo, men theo bờ ruộng đi về hướng tây; đi được hơn nửa dặm thì bất thần ngã nhào vào một ruộng kê. Lý Tinh lại ngờ rằng có khi nàng đi hẹn hò lén lút với ai, càng không dám lại gần, chỉ đứng từ xa ngóng lại.
Chốc lát sau, thiếu phụ chui ra khỏi ruộng kê, mới đi được vài bước thì gặp phải một con suối, đành quay đầu lại, đứng ngơ ngác một hồi lâu, rồi men theo bờ suối đi về hướng bắc. Đi chừng trăm bước, trước mặt là một vùng bùn lầy, thiếu phụ nhìn quanh một lúc rồi lại rẽ vào ruộng đậu phía đông bắc. Lý Tinh thấy nàng bước đi quanh co vô định, vấp ngã liên tục mấy bận, lúc này mới dám chắc là nàng đã lạc đường, bèn đứng từ xa gọi lớn: “Thím mỗ ơi, đêm hôm khuya khoắt thím định đi đâu thế? Đi về hướng bắc không có đường đâu, bước thêm chút nữa là lọt xuống đầm lầy đấy!”
Thiếu phụ nghe thấy tiếng người bèn quay đầu lại bảo: “Tôi không tìm được đường ra, xin phiền anh dẫn lối đưa tôi về với!” Lý Tinh nghe vậy liền vội vã chạy tới, song thiếu phụ thoắt cái đã biến mất không để lại chút tăm tích. Lý Tinh ngỡ mình vừa gặp ma, sợ đến lạnh thấu xương tủy, cắm đầu cắm cổ chạy thục mạng về nhà.
Về tới nhà, Lý Tinh lại thấy chính thiếu phụ nọ đang ngồi ngoài cửa trò chuyện rôm rả với mẹ mình. Thiếu phụ kể rằng lúc nãy đang ngồi kéo sợi thì mệt quá ngủ thiếp đi, mơ thấy mình đi lạc vào giữa rừng hoang đồng vắng, tìm mãi không ra lối về, sau nghe thấy tiếng Lý Tinh gọi giật phía sau mới giật mình bừng tỉnh. Lý Tinh gặng hỏi trong mơ nàng đã đi qua những nơi nào, đối chiếu lại thì hoàn toàn trùng khớp với những gì anh vừa tận mắt chứng kiến. (Thanh · Kỷ Hiểu Lam, “Duyệt vi thảo đường bút ký”)
【Câu chuyện 8】 Nàng thiến nữ hồn lìa khỏi xác
Một phú ông nọ rất mực yêu mến một nàng tỳ nữ trong nhà, hết lòng cưng chiều sủng ái. Nàng tỳ nữ cũng đem trọn tấm lòng trao gửi, thề thốt cả đời quyết không lấy ai khác. Người vợ cả trong lòng ngấm ngầm ghen ghét căm hận, nhưng ngoài mặt đành bất lực chịu đựng.
Một ngày nọ, phú ông có việc phải đi xa, người vợ cả thấy thời cơ hiếm có bèn lập tức gọi mụ mối đến, đem nàng tỳ nữ bán đi biệt xứ; bụng tính đợi chồng về sẽ thác cớ nàng tự ý trốn theo trai để qua mặt. Một người đầy tớ trung thành hay biết chuyện, hiểu rằng chủ nhân trở về ắt chẳng chịu để yên, bèn ngấm ngầm nhờ người chuộc lại nàng tỳ nữ từ tay mụ mối rồi đem giấu vào một am ni cô.
Kể từ khi bị giải đến nhà mụ mối, nàng tỳ nữ hai mắt đờ đẫn nhìn trừng trừng, không nói chẳng rằng. Kéo đứng dậy thì đứng, ấn nằm xuống thì nằm, dắt đi mới chịu bước, bằng không thì trơ như khúc gỗ bất động. Đút cho ăn mới ăn, rót cho uống mới uống, nếu không cho ăn uống nàng cũng chẳng đòi hỏi. Sau khi đưa vào giấu trong am ni cô, tình trạng vẫn y nguyên như vậy. Thầy thuốc bảo nàng vì quá uất ức bi phẫn công tâm, một ngụm đờm nghẽn chặt lồng ngực khiến thần trí mê man. Uống thuốc mãi vẫn không thấy thuyên giảm, cứ thế sống như một cái xác không hồn suốt hơn một tháng ròng.
Phú ông trở về, không thấy tỳ nữ yêu dấu đâu, quả nhiên nổi trận lôi đình, vung đao đòi giết vợ. Sau đó ông mổ một con cừu, uống máu ăn thề trước thần minh, thề quyết không đội trời chung với người đàn bà độc ác. Người đầy tớ thấy cơ sự quá nghiêm trọng mới đem toàn bộ sự thật bẩm báo. Phú ông nghe xong lập tức sai người đến am ni cô đón nàng về. Nhưng khi trở về, nàng vẫn ngơ ngẩn đờ đẫn như cũ, mãi đến khi phú ông thương xót ghé sát tai cất tiếng gọi khẽ tên nàng, nàng mới bừng tỉnh như vừa bước ra khỏi một cơn đại mộng, khôi phục lại thần trí.
Sau khi tỉnh lại, nàng kể rằng lúc mới bị đem bán sang nhà mụ mối, nàng kinh hoảng khôn xiết, nhưng nghĩ bụng đây chỉ là ý của một mình chủ mẫu, chủ nhân yêu thương nàng sâu sắc như thế nhất định không nỡ bỏ rơi nàng, bèn lén trốn về nhà, nấp vào một góc kín đáo đợi chủ nhân trở về. Mãi đến lúc nãy nghe thấy chủ nhân gọi tên, nàng mới mừng rỡ bước ra.
Nàng tỳ nữ còn kể thêm, trong thời gian nấp trong nhà, nàng còn trông thấy ngày nào có ai đến chơi, người đó vào ngày nào đã làm những việc gì. Mọi chuyện đối chiếu lại đều hoàn toàn chính xác, không sai một ly một hào. Lúc bấy giờ mọi người mới vỡ lẽ: Hóa ra kẻ ở lại nhà mụ mối và am ni cô chỉ là cái thể xác của nàng; còn linh hồn nàng từ lâu đã thoát ly khỏi thể xác để bay về lại ngôi nhà xưa. (Thanh · Kỷ Hiểu Lam, “Duyệt vi thảo đường bút ký”)
【Câu chuyện 9】 Trang sinh sẩy chân cầu
Trang sinh là thầy giáo dạy học tư thục trong nhà họ Trần. Vào một buổi hoàng hôn tháng Tám, sau giờ dạy, ông nán lại thư trai xem hai anh em họ Trần đánh cờ; sau cảm thấy thấm mệt bèn đứng dậy cáo từ về nhà. Nhà họ Trang cách nhà họ Trần hơn một dặm đường, giữa đường có một cây cầu. Khi qua cầu, Trang sinh sơ ý sẩy chân ngã nhào xuống chân cầu. Ông lập tức lồm cồm bò dậy, coi như không có chuyện gì xảy ra rồi tiếp tục rảo bước về nhà. Về đến nơi, ông gõ cửa mãi mà chẳng thấy ai thưa. Thế là ông đành quay lại thư trai nhà họ Trần, thấy hai anh em vẫn đang mải mê sát phạt trên bàn cờ, bèn một mình tản bộ ra ngoài sân.
Bước ra sân, Trang sinh phát hiện sau hiên nhà có một cánh cửa nhỏ, bên trong là hoa viên đình tạ, lại trồng vô số cây chuối tiêu. Ông thầm khen chủ nhân có chốn thanh nhã dường này mà không dùng làm thư phòng. Bước thêm vài bước, ông thấy trong đình có một sản phụ sắp sinh đang nằm nghỉ, dung mạo vô cùng kiều diễm. Trang sinh bất giác động lòng xao xuyến, nhưng lập tức trấn tĩnh: “Đây là nội thất của chủ nhà, ta phận làm khách không nên nhìn ngó lung tung.” Bèn vội vã lui ra, trở lại thư trai ngồi xuống.
Nhìn vào bàn cờ, thấy người anh đang bị người em ngấm ngầm vây hãm mà không hề hay biết, ông buột miệng lên tiếng nhắc nước đi. Người anh bỗng giật mình ngơ ngác nhìn quanh bốn phía, song không nghe theo lời chỉ dẫn. Trang sinh sốt ruột thò thẳng tay chỉ trỏ lên bàn cờ. Ngờ đâu hai anh em họ Trần như gặp phải ma quỷ, thất thần kinh hãi bật dậy chạy thục mạng vào phòng trong; trong lúc hỗn loạn làm xô đổ ngọn đèn dầu, cả gian phòng chìm trong bóng tối mịt mùng. Trang sinh cực chẳng đã đành rời gót về nhà. Ra tới cầu, ông lại sẩy chân ngã nhào xuống chân cầu một lần nữa; gắng gượng bò dậy, ông lững thững đi tiếp. Lần này về đến nhà gõ cửa, rốt cuộc cũng có người trong nhà ra mở. Trang sinh trách người nhà lúc nãy ông về gõ cửa sao không ai chịu thưa. Mọi người ngơ ngác bảo ban nãy tuyệt nhiên chẳng nghe thấy tiếng gõ cửa nào cả.
Sáng hôm sau, Trang sinh đến thư trai nhà họ Trần từ sớm, thấy ngọn đèn dầu vẫn lăn lóc dưới đất, bàn cờ dở dang của hai anh em vẫn bày nguyên đó, trong lòng cảm thấy mơ hồ như một giấc mộng. Một lát sau, người anh bước vào bảo: “Chiều tối qua sau khi tiên sinh về, trong thư phòng bỗng nổi lên tiếng ma quỷ rợn người, cuối cùng đến đèn cũng bị dập tắt, thật là quái dị!” Trang sinh càng thêm hồ đồ, phân trần rằng sau đó mình có quay lại xem hai anh em đánh cờ, thậm chí còn chỉ nước cho anh; song người anh khẳng định chắc nịch chẳng hề thấy ông bước vào thêm lần nào. Trang sinh bèn nói: “Có một việc làm chứng được: chiều qua tôi từng bước vào hoa viên quý phủ, còn trông thấy một sản phụ sắp sinh nở.”
Người anh nghe xong bật cười bảo: “Thế thì lại càng kỳ quái, nhà tôi làm gì có hoa viên nào, càng không có người đàn bà nào sắp sinh cả.” Cốt để làm cho ra lẽ, Trang sinh kéo người anh ra vườn sau; kết quả chỉ thấy một cánh cổng đất nhỏ, bên ngoài là nửa mẫu vườn rau, góc tây vườn rau có một chuồng lợn, con lợn nái đêm qua vừa đẻ được sáu chú lợn con, năm con sống sót, một con chết yểu.
Cảnh tượng ấy khiến Trang sinh kinh hoàng ngộ ra: Hóa ra ở cú sẩy chân ngã cầu lần thứ nhất, linh hồn ông đã lìa khỏi xác xuất khiếu; đến cú ngã thứ hai, hồn vía xuất khiếu mới nhập lại vào thân. Nếu như lúc ở chuồng lợn ông không giữ mình trước sắc giới thì giờ đây e rằng đã đọa lạc vào súc sinh đạo rồi! (Thanh · Viên Mai, “Tử bất ngữ”)
【Câu chuyện 10】 Con gái quan huyện
Quan huyện Nguyên Thành thuộc phủ Thái Bình tên là Mã Phụ Xa có một cô con gái bảy tuổi, chẳng may mắc bệnh đậu mùa qua đời, chôn cất ở bãi tha ma ngoài cổng đông đã được vài ngày.
Gần cổng đông huyện thành có nhà họ Lý nọ cũng có cô con gái bảy tuổi, vì trúng phong tà mà chết. Người nhà chở quan tài cô bé ra bãi tha ma phía đông, đang chuẩn bị hạ huyệt thì bỗng nhiên trong quan tài phát ra tiếng động. Mọi người kinh hãi mở nắp quan tài ra xem, không ngờ cô bé sống lại. Nhưng khi tỉnh dậy, cô bé không nhận ra cha mình; về đến nhà, ngay cả người mẹ đẻ cô cũng chẳng nhận ra.
Cô bé tự xưng mình họ Mã, là con gái của quan huyện Mã Phụ Xa. Tin tức truyền đến tai Mã Phụ Xa, ông lấy làm lạ bèn thân hành đến thăm. Cô bé vừa trông thấy quan huyện liền ôm chầm lấy ông khóc nức nở, kể lại những chuyện cũ thời gian trước rành rọt không sai một li. Quan huyện bèn khẩn cầu người họ Lý cho phép mình đón đứa trẻ về nuôi. Khi gần về đến cổng nhà, Mã mỗ đỡ cô bé xuống ngựa, bảo con đi trước; cô bé không chút ngập ngừng chạy tót vào nhà họ Mã, vừa nhìn thấy phu nhân của Mã Phụ Xa liền cất tiếng gọi mẹ, hai mẹ con lại ôm nhau khóc ròng.
Quần áo, giày dép, đồ chơi mà con gái Mã Phụ Xa để lại lúc sinh thời, cô bé cầm lấy sử dụng vô cùng quen tay, hệt như những món đồ ấy vốn dĩ thuộc về mình. Về sau, cô bé ở hẳn lại nhà họ Mã, vợ chồng quan huyện xem nàng như con đẻ, nuôi nấng đến ngày khôn lớn. (Minh · Trương Hãn, “Tùng song mộng ngữ”)
【Câu chuyện 11】 Đục vách nhìn trộm ma
Một thư sinh đến một ngôi chùa để nghỉ hè tránh nóng. Căn phòng thiền anh ở rất đỗi khang trang sạch sẽ, duy chỉ có cửa sổ phía sau bị đóng đinh bít kín bằng ván gỗ, mà giường nằm lại kê ngay dưới cửa sổ ấy. Một đêm trăng sáng vằng vặc, thư sinh tình cờ phát hiện trên ván gỗ cửa sau có một kẽ hở hé ra chút ánh sáng lờ mờ. Ngỡ là mật thất của nhà chùa, anh bèn lén khoét kẽ nứt cho rộng thêm một chút rồi ghé mắt dòm trộm. Ngờ đâu bên ngoài cửa sổ lại là một mảnh vườn hoang phế, quàn rất nhiều quan tài. Nghĩ bụng nơi đây ắt có ma quỷ, anh liền nằm nghiêng trên gối, áp một bên mắt sát vào tấm ván để rình xem thực hư.
Đến nửa đêm, quả nhiên có những bóng đen hình người đi lại thấp thoáng dưới gốc cây. Nhìn kỹ lại, có thể lờ mờ phân biệt được nam nữ, song dung mạo vẫn vô cùng mờ ảo. Thư sinh ghé sát tai vào kẽ hở nghe ngóng nhưng chẳng nghe thấy tiếng trò chuyện nào.
Trong vườn quàn đến mấy chục cỗ quan tài, nhưng số lượng ma quỷ thư sinh thấy mỗi đêm khi ít chỉ có ba năm bóng, lúc nhiều cũng chẳng quá mười bóng. Anh thầm nghĩ có lẽ một số ma quỷ ngày tháng trôi qua lâu dần hồn phách đã tiêu tán, hoặc giả có kẻ đã đi đầu thai chuyển thế rồi. Cứ như thế quan sát suốt hơn một tháng ròng, anh không phát ra tiếng động, lũ ma dường như cũng chẳng hề hay biết.
Một đêm nọ, anh thấy một con ma nam và một con ma nữ quấn quýt ân ái sau gốc cây cách cửa sổ phòng anh chỉ chừng bảy tám thước; điệu bộ lẳng lơ cuồng nhiệt còn quá cả người sống. Thư sinh nhìn thấy bất giác bật cười thành tiếng; tức thì đôi uyên ương ma quái kia biến mất hút. Đêm thứ hai nhìn trộm lại, ngoài cửa sổ đã lặng ngắt như tờ, đến một bóng ma cũng chẳng còn. Mấy ngày sau, thư sinh bỗng lên cơn sốt rét run cầm cập, ngờ rằng bị ma quỷ tác quái ám hại bèn dọn sang ngôi chùa khác lánh nạn. (Thanh · Kỷ Hiểu Lam, “Duyệt vi thảo đường bút ký”)
【Câu chuyện 12】 Mộ cổ làng Hoắc Đồng
Ở làng Hoắc Đồng, huyện Ninh Đức có một ngôi mộ cổ lâu năm không ai hương khói tảo mộ. Niên hiệu Thành Hóa, một người dân trong làng tên Bính cùng thầy địa lý đến trước ngôi mộ cổ khảo sát, định bụng đào ngôi mộ ấy lên để cải táng cho người cha quá cố của mình. Đêm hôm đó, Bính nằm mộng thấy một ông lão bước đến bảo: “Ngươi dám đào mồ mả người khác sao! Sao không học theo gương Tôn Văn Tường? Nhược bằng ngươi dám tự tiện đào xới, ắt sẽ rước đại họa giáng xuống đầu.”
Bính tỉnh dậy lấy làm kỳ quặc, không biết Tôn Văn Tường là ai, bèn đi khắp nơi thỉnh giáo các bậc túc nho nhưng chẳng ai biết tường tận. Về sau, có người đem cuốn Phúc Ninh huyện chí cho xem, Bính đọc mới biết Tôn Văn Tường là người huyện Phúc Ninh vào niên hiệu Khai Hy thời Nam Tống. Một hôm, trên đường từ Bồ Thành trở về quê ngang qua làng Hoắc Đồng thì trời đã tối muộn, thấy ven sườn núi có một ngôi nhà bèn ghé vào xin tá túc. Nửa đêm, nghe trong buồng trong có tiếng khóc thút thít, Tôn mỗ hiếu kỳ bước tới gặng hỏi, đôi vợ chồng chủ nhà mới phân trần: “Đứa con bất hiếu muốn bán đứt ngôi nhà này, ngày mai vợ chồng tôi buộc phải dọn đi nơi khác. Hôm nay may mắn có ngài đến tá túc, chúng tôi thấy ngài là bậc nhân nhân quân tử nên bất giác tủi thân rơi lệ.”
Tôn mỗ nghe xong bảo: “Con cháu bán tháo gia sản tổ tiên âu cũng vì nghèo túng túng quẫn, hai vị chớ nên buồn rầu, tôi sẽ tìm cách giúp đỡ.” Chủ nhà bảo: “Nếu quả được như vậy, vợ chồng tôi nhất định sẽ đền ơn ngài chu đáo.”
Sáng hôm sau tỉnh dậy, Tôn mỗ bàng hoàng nhận ra nơi mình nằm ngủ đêm qua hóa ra lại là một ngôi mộ hoang! Trong lòng hết sức kinh hãi, nhưng nhớ lại lời than khóc của đôi vợ chồng già đêm trước, ông bèn nán lại bên cạnh mộ chờ đợi. Đến trưa, quả nhiên thấy một người đàn ông mặc áo vải thô dẫn theo mấy gia bộc nhà giàu mang theo cuốc xẻng sọt đất kéo tới. Tôn Văn Tường hỏi bọn họ định làm gì, người đàn ông áo thô đáp: “Vì gia cảnh bần hàn nên tôi muốn dời mộ tổ tiên đi nơi khác, bán miếng đất này lấy tiền nuôi sống gia đình.” Tôn mỗ bảo: “Ngươi ngàn vạn lần không được bán mồ mả tổ tiên, ngươi gặp khó khăn gì ta có thể chu cấp cho.” Nói đoạn liền dốc toàn bộ số bạc trong tay nải trao cho đối phương, rồi chẳng để lại họ tên mà quay gót ra đi.
Mấy ngày sau, Tôn Văn Tường mơ thấy đôi vợ chồng già nọ đến bái tạ: “Hôm trước chịu ơn sâu nghĩa nặng của ngài chưa biết lấy gì báo đáp, nay xin dâng hai chú chim phượng non tặng ngài để tỏ chút lòng thành.” Chẳng bao lâu sau, vợ Tôn mỗ mang thai và sinh đôi hai người con trai: con trưởng đặt tên là Phụ Phụng, con thứ đặt tên là Dực Phụng. Về sau cả hai anh em đều đỗ đạt cao, làm quan đến bậc công khanh hiển hách.
Người họ Bính sau khi thấu hiểu câu chuyện của Tôn Văn Tường, kinh hãi thốt lên: “Có nhân quả báo ứng rành rành như thế, ta sao dám đào bới ngôi mộ ấy nữa!” Thế là chuyện đào mộ táng cha cũng đành bãi bỏ. (Minh · Mẫn Văn Chấn, “Thiệp dị chí”)
【Câu chuyện 13】 Vị hòa thượng bị treo ngược dưới địa ngục
Trương mỗ một hôm đột ngột bạo bệnh qua đời, linh hồn bị quỷ tốt áp giải xuống địa ngục diện kiến Diêm Vương. Diêm Vương lật sổ sinh tử tra xét, giận dữ quở trách quỷ tốt bắt nhầm người, lệnh cho mau chóng đưa Trương mỗ trở về dương thế. Trước khi đi, Trương mỗ khẩn khoản xin quỷ tốt cho mình được tham quan địa ngục một phen; quỷ tốt bèn dẫn ông đi dạo khắp chín tầng cõi u minh, chỉ dẫn cặn kẽ cảnh tượng núi đao rừng kiếm kỳ dị. Đi mãi tới một nơi, bỗng thấy một vị hòa thượng bị trói chặt bắp đùi luồn dây thừng treo ngược lơ lửng, đang gào khóc thảm thiết đau đớn. Trương mỗ bước lại gần nhìn kỹ, kinh ngạc nhận ra đó chính là anh trai ruột của mình! Ông hoảng hốt hỏi quỷ tốt: “Hòa thượng phạm phải tội gì?” Quỷ tốt đáp: “Tên hòa thượng này ở chốn nhân gian quyên góp tiền tài của bá tánh thập phương, song chỉ dùng vào việc cờ bạc đĩ điếm trác táng, nên mới phải chịu hình phạt này. Nếu muốn hóa giải tội nghiệt, ắt phải tự mình ăn năn sám hối.”
Trương mỗ sau khi cải tử hoàn sinh, ngờ rằng người anh trai đang xuất gia ở chùa Hưng Phúc có thể đã quy tiên, vội vã chạy đến chùa Hưng Phúc thám thính. Vừa bước chân vào cổng chùa, ông đã nghe thấy tiếng rên xiết đau đớn thảm thiết. Bước vào trong phòng, thấy giữa hai đùi người anh không biết từ lúc nào đã mọc lên một cái nhọt độc lở loét, mủ máu tanh hôi chảy ròng ròng, đến mức người anh phải giơ hai chân lên cao, dùng dây thừng treo lơ lửng lên vách tường — dáng vẻ y hệt như cảnh tượng bị treo ngược dưới địa ngục mà ông vừa thấy. Trương mỗ hỏi anh cớ sao lại làm cái trò kỳ quặc ấy, vị hòa thượng rên rỉ đáp: “Treo hai chân lên vách tường thế này mới tạm đỡ buốt, bằng không thì đau thấu tâm can.” Trương mỗ bèn đem toàn bộ cảnh tượng dưới âm phủ kể lại cho anh nghe. Vị hòa thượng nghe xong kinh hoàng hồn phi phách tán, lập tức đoạn tuyệt rượu thịt, chí tâm tụng niệm kinh chú sám hối; hơn nửa tháng sau nhọt độc mới lành lặn. Kể từ đó, ông trở thành một vị chân tu giới luật nghiêm minh. (Thanh · Bồ Tùng Linh, “Liêu trai chí dị”)
【Câu chuyện 14】 Ba ngày chuyển thế
Tôn Nga Sơn ngồi thuyền đi qua đất Cao Bưu, vì nhiễm bạo bệnh nên nằm liệt trên thuyền. Trong cơn mê man mộng mị, ông cảm thấy bản thân như bước lên bờ tản bộ, tinh thần sảng khoái nhẹ nhõm, vô cùng khoan khoái. Một lát sau, có người đi phía trước dẫn đường, ông cứ thế mơ màng bước theo sau chẳng buồn hỏi han. Đi theo người ấy đến một phủ đệ nọ, thấy cổng ngõ hành lang vô cùng lộng lẫy xa hoa; ông theo người dẫn đường băng qua các dãy phòng bước vào nội thất, trông thấy một thiếu phụ đang nằm trên nệm sắp sinh nở. Thấy bất tiện, ông toan quay bước tháo lui thì bất ngờ bị người dẫn đường đẩy mạnh một cái từ sau lưng, tức thì bất tỉnh nhân sự.
Chốc lát sau tỉnh lại, ông bàng hoàng nhận thấy thân thể mình đã co rút lại, hóa thành một đứa trẻ sơ sinh quấn tã lót. Lúc này mới vỡ lẽ mình đã đầu thai chuyển thế, song chẳng thể làm gì được nữa. Vốn định cất tiếng nói năng, nhưng một luồng hàn khí từ thóp đỉnh đầu xông thẳng vào khiến miệng lưỡi cứng đờ không thốt nên lời. Đứa trẻ mở mắt ngắm nhìn bàn ghế giường sập bài trí trong phòng, đồ cổ trướng phủ, câu đối thư họa, thảy đều ghi nhớ rành rành trong bụng. Đến ngày thứ ba, một nàng tỳ nữ bế đứa bé đi tắm, sơ ý trượt tay làm rơi bé xuống đất; ông lại mê man bất tỉnh lần nữa. Khi tỉnh dậy, ông nhận ra mình vẫn nằm nguyên trên thuyền như trước.
Người nhà bảo ông đã tắt thở suốt ba ngày trời, nhưng vì tay chân vẫn mềm mại, vùng ngực còn chút hơi ấm le lói nên chẳng dám khâm liệm. Tôn mỗ bèn bảo người nhà lấy giấy bút, viết lại tường tận những điều tai nghe mắt thấy trong ba ngày qua, sai người lần theo địa chỉ gửi đến nhà nọ, xin chủ nhà đừng đánh đập quá tay nàng tỳ nữ đã trót lỡ tay; đoạn mới đem toàn bộ trải nghiệm ba ngày qua kể rõ cho gia quyến. Ngay hôm đó, bệnh tình của ông bỗng nhiên thuyên giảm khỏi hẳn. Ông bèn đích thân tìm đến gia đình nơi mình vừa đầu thai, nhìn thấy đám gia bộc tỳ nữ đều cảm thấy quen mặt như người quen cũ. Chủ nhà tuổi già hiếm muộn mất con, Tôn mỗ cũng chỉ biết cùng ông ta thở dài than thở, tấm tắc lấy làm chuyện dị kỳ khôn xiết. (Thanh · Kỷ Hiểu Lam, “Duyệt vi thảo đường bút ký”)
【Câu chuyện 15】 Chó vàng chân trắng
Có một người nọ giữ gìn cơ nghiệp cha để lại, gia cảnh ngày càng sung túc giàu có, người trong làng đều khen ngợi anh ta biết kế thừa sự nghiệp của tiền nhân. Về sau người cha qua đời. Một hôm, người con bỗng trông thấy hai tên sai dịch đang áp giải người cha bị trói gô bước tới, chỉ nghe người cha than rằng: “Sinh thời cha chưa từng làm lấy một việc thiện; trong đạo ngũ luân chỉ biết có vợ con. Ngày thường trọng phú khinh bần, tuyệt tình vong nghĩa; trong đám bà con bè bạn quen biết, hễ ai sa cơ lỡ bước nghèo hèn thì cha liền dặn người gác cổng tuyệt đối không cho bước chân vào nhà. Hành xử thường ngày chỉ toàn đầu cơ trục lợi, có công thì vơ vào mình, có tội thì đổ vấy cho người khác. Nay cõi âm trừng phạt tội ác của cha, bảo rằng loài chó là giống khinh nghèo hèn nhất, hễ ai cho ăn thì ngoe nguẩy đuôi nịnh bợ, trái ý thì cắn càn vô tình, vì thế phạt cha phải đầu thai làm kiếp chó. Giờ đây cha sắp đọa vào súc sinh đạo, hóa thành một con chó vàng bốn chân trắng của nhà hàng xóm phía tây. Mong con chớ nên tiếc của, hãy ra sức làm việc thiện tích đức, vừa để chuộc lại tội lỗi cho cha, vừa để bồi đắp phúc lộc cho chính mình.” Dứt lời, bóng ma người cha ôm mặt khóc lóc thảm thiết rồi biến mất.
Mấy ngày sau, người con quả nhiên thấy con chó mẹ của nhà hàng xóm đẻ một chú chó con lông vàng, bốn móng chân đều mang sắc trắng tinh. Nhớ lại lời dặn của cha, anh bèn sang xin chú chó về nuôi dưỡng. Con chó ấy quanh năm suốt tháng tuyệt nhiên không hề cất tiếng sủa cắn bất kỳ ai, dường như đang ngậm ngùi sám hối cho những lỗi lầm của kiếp trước. (Thanh · Lương Cung Thần, “Trì thượng thảo đường bút ký”)
【Câu chuyện 16】 Ông lão mua quan tài
Mùa xuân năm Nhâm Dần niên hiệu Thành Hóa, vùng Giang Triết dịch bệnh hoành hành dữ dội, chốn thôn quê lại càng tang thương tang tóc. Tại vùng Ngũ Hoàn Kính có một gia đình bảy miệng ăn đều nhiễm bệnh dịch mà chết sạch, chẳng còn sót lấy một người sống sót, cũng chẳng có ai đứng ra thu nhặt thi thể khâm liệm.
Một hôm nọ, có một ông lão bước vào tiệm quan tài trong thị trấn, bảo muốn mua bảy cỗ quan tài. Chủ tiệm đòi trả tiền trước, ông lão xòe hai bàn tay trắng biểu thị trong túi không một cắc. Ông bảo chủ tiệm: “Ông cứ việc chở quan tài đến nhà tôi, ắt sẽ có tiền trả sòng phẳng.” Chủ tiệm đành thuê thuyền chở quan tài cùng đi với ông lão.
Gần đến Ngũ Hoàn Kính, ông lão bảo: “Tôi về mở cửa trước đợi ông tới. Nói thực với ông, trong nhà tôi không có lấy nửa đồng tiền mặt, chỉ có hai mươi hộc lúa mạch, nhưng chắc chắn đủ trả tiền mua quan tài. Phía tây bắc sau nhà tôi có người họ mỗ là bà con thân thích, ông có thể tiện đường mời người đó sang giúp một tay.” Nói đoạn, ông lão bước lên bờ trước, đi vào một ngôi nhà cách đó không xa. Chủ tiệm quan tài cùng người phu thuyền khiêng quan tài đến trước cửa, bước vào trong xem thì thấy không gian lặng ngắt như tờ, trong gian buồng trong nằm la liệt bảy cỗ tử thi — mà ông lão vừa mua quan tài lúc nãy hiển nhiên cũng đang nằm cứng đờ trong số đó!
Chủ tiệm trông thấy sợ hãi thất kinh, vội vã chạy ra phía tây bắc sau nhà tìm kiếm, quả nhiên tìm được người thân thích của người đã khuất. Sau khi nghe chủ tiệm kể lại đầu đuôi sự tình, người thân vừa kinh hoàng vừa bi thương, vội vã chạy sang lo liệu hậu sự. Chủ tiệm quả thực tìm thấy hai mươi hộc lúa mạch trong nhà, bèn bốc lên thuyền chở về trừ nợ. (Minh · Chúc Doãn Minh, “Chí quái lục”)
【Câu chuyện 17】 Ước hẹn cố nhân
Hai thương nhân đất Thanh Châu là Bính và Đinh vốn là đôi bạn chí thân hữu hảo. Một ngày nọ, hai người hẹn nhau chung vốn vào Trường Sa buôn bán, giao hẹn ngày khởi hành và điểm hẹn gặp mặt. Bính đến đúng hẹn, nhưng đợi ròng rã suốt mười ngày vẫn bặt vô âm tín của Đinh. Bính ngỡ Đinh bội ước nuốt lời, trong bụng không khỏi trách móc thầm thì, đành lủi thủi lên đường một mình.
Ba năm sau, Đinh bỗng nhiên xuất hiện ở Trường Sa. Bấy giờ Bính đã kiếm bộn tiền, đang thu xếp hành lý chuẩn bị hồi hương. Bính ngạc nhiên hỏi Đinh: “Sao đến tận giờ huynh mới tới? Tôi đang định quay về quê đây!” Đinh liên tục tạ lỗi vì sự chậm trễ của mình, song tuyệt nhiên không hé răng nói rõ lý do trễ hẹn, trái lại bảo: “Đã là huynh muốn về quê, vậy đệ xin cùng đi về với huynh.” Bính khó hiểu hỏi bạn vừa mới chân ướt chân ráo tới sao lại vội vã trở về ngay? Đinh đáp: “Vì đường sá xa xôi diệu vợi, sợ huynh đi một mình nguy hiểm, đệ nguyện làm bạn đồng hành để chuộc lại lỗi lầm thất hứa trước kia.” Bính cảm kích tạ ơn: “Huynh đệ với nhau hà tất phải khách sáo thế. Huynh lặn lội ngàn dặm tới Trường Sa ắt có chí lớn muốn làm ăn. Nay vì tôi mà vừa đến hôm nay mai đã phải quay đầu, hóa ra là tôi làm liên lụy đến huynh rồi.” Nhưng Đinh khăng khăng đòi đi cùng, Bính không nỡ chối từ đành gật đầu ưng thuận.
Bính dẫu vô cùng cảm kích tình thâm nghĩa trọng của bạn, nhưng trong lòng không khỏi hồ nghi. Nghĩ bụng Đinh nếu vì vướng bận việc riêng mà trễ tràng đến tận bây giờ mới tới Trường Sa thì còn nghe được; nay vô duyên vô cớ lại lập tức quay về ngay thì thật trái với tình lý lẽ thường; dẫu là bạn bè tâm giao muốn chuộc lỗi thất hẹn cũng chẳng đến mức phải làm như vậy. Nghĩ qua nghĩ lại, Bính luôn cảm thấy có điều gì đó khuất tất dị thường.
Trên đường hồi hương, dù là trên thuyền bè xe cộ hay lúc nghỉ lại quán trọ, Đinh đối với Bính trước sau đều bộc lộ tình kim lan nghĩa kết giao thắm thiết vượt xa ngày trước; lại thường than thở đời người hợp tan vô thường, nỗi đau đớn nhất ở đời không gì bằng sự ly biệt bằng hữu. Bính nghe xong cũng xúc động ngậm ngùi, mối hồ nghi trong lòng dần dần tan biến. Khi về đến địa phận Thanh Châu, tại một ngã ba đường, Đinh bịn rịn nắm chặt tay Bính, tha thiết mời Bính ba ngày sau ghé qua nhà Đinh chơi để làm tiệc thết đãi chu đáo. Dứt lời, Đinh ngậm ngùi gạt lệ, vẫy tay từ biệt Bính.
Ba ngày sau, Bính y hẹn tìm đến nhà họ Đinh. Vợ Đinh ra tiếp khách, lau nước mắt nghẹn ngào thưa: “Nhà tôi qua đời đã ngót nghét bốn năm nay rồi. Đêm trước ngày hẹn cùng ngài đi về phương nam thì chàng đột ngột tạ thế, nên chẳng kịp báo tin cho ngài hay. Lúc lâm chung, chàng vẫn luôn day dứt ân hận vì đã thất hẹn với ngài. Tối qua, tôi nằm mộng thấy chồng trở về báo rằng hôm nay ngài sẽ ghé tệ xá, bảo tôi mổ gà nấu cơm cung kính đón tiếp đại giá của ngài. Mẹ con tôi cứ ngỡ ngài vẫn còn ở tận Trường Sa chưa về nên bán tín bán nghi, chẳng ngờ ngài quả thực đã quang lâm.”
Bính nghe xong òa khóc nức nở thảm thiết, bảo con trai Đinh dẫn mình ra trước mộ phần cố nhân, rót một chén rượu tràn, hướng về nấm mồ mà khấn rằng: “Huynh đài ơi là huynh đài, huynh đã về nơi chín suối rồi sao? Trước đây tôi cứ ngỡ huynh bội ước, nào ngờ đã nghìn thu vĩnh biệt! Huynh chẳng quản dặm trường ngàn dặm đến Trường Sa thăm tôi, lại hộ tống tôi trở về quê nhà an toàn, thật xứng danh là tri kỷ sinh tử của đời tôi! Thể xác huynh dẫu đã tan biến, nhưng tình bạn vẫn ấm nồng như thuở nào, xưa nay hiếm có trên đời. Nay trước nấm mồ của huynh, tôi xin kính cẩn dâng một chén rượu, nguyện cho tình bạn đôi ta đời đời bền vững.” Khấn xong kêu gào thảm thiết, con trai Đinh cũng òa khóc theo, người đi đường chứng kiến cảnh tượng ấy không ai là không rơi lệ. Bỗng nhiên, trước nấm mồ nổi lên một trận âm phong buốt lạnh, cỏ cây bay tán loạn; mọi người trông thấy Đinh hiện hình trong làn sương khói bụi mờ, hướng về phía Bính chắp tay rơi lệ nghẹn ngào, hồi lâu sau bóng hình mới dần tan biến. (Thanh · Nhạc Quân, “Nhĩ thực lục”)
【Câu chuyện 18】 Đêm giông thi thể vùng dậy
Vào một đêm tháng Bảy năm Quý Mùi, trời đất nổi cơn giông bão dữ dội, sấm sét đùng đùng xé rách màn đêm. Bấy giờ trong thành quê tôi có một ông lão họ Hoa vừa mới qua đời, thi thể hãy còn quàn trong nhà chưa kịp nhập liệm. Đúng lúc ngoài trời một tia chớp chói lòa lóe lên kèm theo tiếng sét nổ vang trời long đất lở, thi thể bỗng nhiên bật thẳng dậy đứng sững giữa nhà! Đám người thân túc trực bên linh cữu sợ hãi kêu la tán loạn tháo chạy. Có người nhanh chân quay lại toan đóng sập cửa phòng, song nhanh như chớp, cửa phòng chưa kịp khép thì con cương thi đã lao tới nơi. Rất may có cánh cửa gỗ chắn ngang, cương thi không nhảy xổ ra ngoài được, bèn ôm chặt lấy cánh cửa đứng sững trơ trơ ở đó.
Mãi đến khi trời sáng rõ, mọi người rủ nhau quay lại xem xét thì thấy con cương thi vẫn đứng nguyên bên cửa; bốn ngón tay phải của nó cắm phập vào cánh cửa gỗ, lún sâu ngập cả móng tay. Mấy người tráng đinh phải cùng nhau hợp lực gắng sức giật mạnh mới gỡ được bàn tay nó ra ngoài. (Thanh · Lý Khánh Thần, “Túy trà chí quái”)
LUẬN BÀN
Ghép tranh từ mười tám câu chuyện
Truyền kỳ về hồn phách của một dân tộc và tín ngưỡng linh hồn của dân tộc ấy ắt phải là hai mặt biểu lý của nhau. Ta có thể nói rằng: tín ngưỡng linh hồn của một dân tộc quyết định những mạch ngầm khả dĩ trong các truyền kỳ hồn phách; ngược lại, từ các câu chuyện truyền kỳ về hồn phách, ta hoàn toàn có thể nhận diện được cấu trúc và hệ phả khả dĩ của tín ngưỡng linh hồn nơi dân tộc đó. Để thấu hiểu chất liệu và công cụ dùng để kiến tạo nên các câu chuyện hồn phách, chúng ta buộc phải tháo dỡ từng mẩu chuyện riêng lẻ; song muốn nắm bắt được cấu trúc cùng hệ phả tín ngưỡng linh hồn của người Trung Hoa, ta lại phải làm điều ngược lại: sử dụng thật nhiều truyền kỳ hồn phách để tiến hành một trò chơi “ghép tranh”.
Mười hai câu chuyện được dẫn ra ở trên, cộng thêm sáu câu chuyện ở chương thứ nhất, chính là những “mảnh ghép” tất yếu để chúng ta tái hiện diện mạo căn bản của tín ngưỡng linh hồn Trung Hoa. Mỗi câu chuyện đại diện cho một vị trí then chốt trong hệ phả linh hồn ấy. Và để tiện bề luận bàn, tôi đã sắp xếp chúng theo trình tự xuất hiện trước sau trong hệ phả. Giờ đây, chúng ta hãy bắt đầu trò chơi ghép tranh này.
Sự phân hợp giữa linh hồn và thể xác
Người Trung Hoa, cũng giống như bao dân tộc khác trên thế giới, quan niệm rằng con người được cấu thành từ hai yếu tố: thể xác và linh hồn. Thể xác và linh hồn không chỉ phân tách khi con người chết đi; mà trong những trạng thái tương tự như cái chết hoặc khi sinh mệnh bị đe dọa nghiêm trọng, linh hồn cũng có thể tạm thời thoát ly khỏi thể xác.
Giấc ngủ là trạng thái giống với cái chết nhất; do đó, giấc mơ chính là chuyến du ngoạn của linh hồn. Truyện Thiếu phụ dưới trăng và mẩu chuyện Nhà sư và chú rắn nhỏ ở chương 1 chính là đại diện cho ý niệm này. Linh hồn du ngoạn trong giấc mộng lại có thể mang hai hình thái:
Một là mang nguyên vẹn dung mạo ban đầu của đương sự để xuất hành, như trong Thiếu phụ dưới trăng;
Hai là hóa thân thành một người tí hon hoặc loài vật nhỏ bé để ngao du, như trong Nhà sư và chú rắn nhỏ.
Còn truyện Nàng thiến nữ hồn lìa khỏi xác lại là ví dụ điển hình cho trường hợp sinh mệnh phải gánh chịu một mối đe dọa tâm lý cực kỳ nghiêm trọng khiến linh hồn tạm thời xuất khiếu. Riêng câu chuyện Viên thái giám trên nóc nhà ở chương 1 lại bàn về tình cảnh linh hồn xuất khiếu khi đương sự đối mặt trực diện với lằn ranh sinh tử.
Khi bị ngã ngựa, sẩy chân rơi xuống cầu, hay lâm bạo bệnh rơi vào trạng thái hôn mê sâu, linh hồn cũng có thể phiêu dạt ra ngoài. Nếu linh hồn kịp thời quay trở lại thể xác cũ, hiện tượng ấy được gọi là “chết đi sống lại” (tử hậu hoàn hồn). Truyện Trang sinh sẩy chân cầu và Thang công hoàn hồn ở chương 1 chính là sự hiển lộ của quan niệm này. Nếu linh hồn thoát ly khỏi xác lại nhập vào một thể xác khác (thường là một thể xác vừa mới mất đi linh hồn), nó sẽ trở thành hiện tượng “mượn xác hoàn hồn”. Truyện Con gái quan huyện miêu tả chính xác tình cảnh này: khi ấy, thể xác mới sẽ mang trọn vẹn tư tưởng, tình cảm và ký ức của linh hồn trước đó.
Nhược bằng không thể “tử hậu hoàn hồn” hay “mượn xác hoàn hồn” — tức là đã bước qua điểm không thể quay đầu của cái chết — thì câu hỏi “Hồn về nơi đâu?” sẽ mở ra những khả năng tiếp theo dưới đây.
Sau khi chết hồn về nơi đâu?
Người thư sinh trong truyện Khoét vách nhìn trộm ma đã gợi mở cho chúng ta hai viễn cảnh khả dĩ về số phận của linh hồn sau cái chết:
Một là ngày tháng trôi qua lâu dần, “hồn tự tiêu tán”; song trước khi tiêu tán hoàn toàn, nó vẫn có thể quanh quẩn vất vưởng gần nơi chôn cất thi thể.
Khả năng thứ hai là đi đầu thai chuyển thế, tuần hoàn lặp lại, bắt đầu một vòng chu chuyển sinh mệnh mới.
Truyện Mộ cổ làng Hoắc Đồng cùng với Sinh con trong quan tài và Mục Tiểu Quỳnh phục thù ở chương 1 lại cung cấp thêm hai ngã rẽ phát triển tiếp nối cho viễn cảnh thứ nhất:
Một là trải qua nghi thức tang ma chu tất, thi thể được an trí yên ổn trong mồ mả, và vong hồn sẽ tiếp tục tồn tại bên trong “âm trạch” (ngôi nhà cõi âm) ấy.
Hai là thiết lập một “bài vị” (thần chủ) đề tên người chết để vong hồn có nơi nương náu. Nếu được con cháu định kỳ cúng tế phụng thờ, vong hồn có thể tiếp tục tồn tại; bằng không, năm dài tháng rộng hồn phách cũng sẽ dần tiêu tán.
Đối với viễn cảnh thứ hai — chuyển thế luân hồi, tương tự cũng có hai nẻo đường:
Một là như miêu tả trong Ba ngày chuyển thế: linh hồn phiêu dạt bốn phương trực tiếp nhập thẳng vào thân xác của một đứa trẻ sơ sinh vừa chào đời để tái sinh làm người.
Hai là như phản ánh trong Vị hòa thượng bị treo ngược dưới địa ngục và Chó vàng chân trắng: vong hồn trước tiên phải xuống địa ngục điểm danh trình diện, căn cứ vào thang điểm công đức đạo đức ở kiếp trước mà đi đầu thai. Nếu tiền kiếp tích thiện thì kiếp sau được sinh vào gia đình quyền quý hoặc gặt hái thành tựu hiển hách; nếu tiền kiếp làm ác thì có thể bị trừng phạt đọa vào súc sinh đạo; thậm chí một số vong hồn bị giam cầm vĩnh viễn dưới ngục tối không được siêu sinh; cá biệt có trường hợp người chưa chết hẳn mà sinh hồn đã bị triệu xuống âm ty thọ phạt.
Sau khi con người chết đi, bất luận linh hồn dần dần tiêu tán theo năm tháng, hay đi đầu thai chuyển thế, hoặc sống một cuộc đời khác trong nấm mồ hay chốn u minh, thì theo quan niệm “âm dương phân giới, người ma khác đường”, họ vốn dĩ không hề can dự hay quấy nhiễu người sống nơi dương gian. Thế nhưng, lại có những nguyên cớ đặc biệt khiến họ quay trở lại nhân thế, hoặc dùng dằng lưu luyến cõi trần không chịu rời đi. Và chính những vong hồn trở về hoặc nán lại ấy mới được gọi là “Quỷ”.
Ma tâm lý học, ma nhân học và cương thi
Có một số loài ma quỷ mà chúng ta có thể gọi là “ma thuộc phạm trù nhân học”, bởi lẽ nguyên nhân khiến chúng lưu luyến hoặc quay lại trần gian bao gồm: không được mồ yên mả đẹp, nghi thức tang ma thiếu sót khiếm khuyết, chết đi không được thân nhân cúng tế hương khói... Những điều này đều thuộc về phạm trù nghiên cứu của nhân học. Ông lão ma trong Ông lão mua quan tài hiện hình là vì bản thân và gia quyến không được nhập thổ an táng; còn đôi vợ chồng già trong Mộ cổ làng Hoắc Đồng hiện về báo mộng là vì đứa con bất hiếu muốn bán đứt “âm trạch” khiến họ mất chốn nương thân. Đó đều là những “con ma mang tính nhân học”.
Một loại ma khác lại có thể gọi là “ma thuộc phạm trù tâm lý học”: chúng xuất hiện vì những nguyên nhân tâm lý như mối hận thù khôn nguôi, mối tơ vương tình cảm khó dứt, hoặc những tâm nguyện dang dở chưa vẹn tròn. Nhân vật Đinh mỗ trong Ước hẹn cố nhân quay về nhân gian là vì nặng lòng với tình bằng hữu cùng Bính mỗ; còn Mục Tiểu Quỳnh trong Mục Tiểu Quỳnh phục thù ở chương 1 hiện hình là do nỗi oán hận ngút trời không thể nguôi ngoai.
Song, bất luận là “ma nhân học” hay “ma tâm lý học”, một khi căn nguyên được hóa giải, quỷ hồn thông thường sẽ tự động rút lui khỏi cõi người, duy trì trật tự “âm dương phân giới, người ma khác đường”.
Riêng trong câu chuyện Đêm giông thi thể vùng dậy, thứ xuất hiện không phải là quỷ, mà là cương thi. Ở Trung Hoa, quỷ và cương thi là hai trạng thái tồn tại sau cái chết hoàn toàn khác biệt:
Nhìn chung, Quỷ là trạng thái tồn tại sau khi chết có mang tư tưởng, tình cảm, ký ức; có thể thoắt ẩn thoắt hiện; mang sắc thái âm u, lạnh lẽo.
Trái lại, Cương thi là trạng thái tồn tại sau khi chết hoàn toàn không có tư tưởng, ký ức, tình cảm; song lại còn sót lại thứ sinh lực có thể khiến lông tóc, móng vuốt mọc dài bất thường, điều khiển xác thịt cứng đờ vận động như một cỗ máy.
Ta có thể nói rằng chúng đại diện cho hai khái niệm cổ xưa: “Hồn” và “Phách” của người Trung Hoa. Trong đó, “Hồn” chỉ thành phần linh hồn phi vật chất, còn “Phách” chỉ thành phần linh hồn mang tính vật chất (những câu chuyện khác nhắc đến chữ “linh hồn” thực chất đều nhằm chỉ chữ “Hồn”). Con người sau khi chết, “hồn thăng phách giáng”, “hồn xiêu phách lạc”; nhưng cũng như có những nguyên do khiến hồn dùng dằng không tan, thì lại có những nhân tố khiến phách không giáng không tiêu (chẳng hạn như tia sét trong câu chuyện này); kết quả là phách bám vào xác mà cử động, biến thành cương thi (chúng ta sẽ luận giải tường tận điều này ở chương 3: Chế tạo quỷ và cương thi).
Cấu trúc phổ quát của tín ngưỡng linh hồn
Sau khi đã mượn hơn mười câu chuyện để ghép nên một cấu trúc cùng hệ phả khái lược về tín ngưỡng linh hồn của người Trung Hoa, vấn đề tiếp theo đặt ra là: chúng ta nên “nhìn nhận” hay “thấu hiểu” nó như thế nào?
Trước hết, chúng ta nhận thấy đây kỳ thực là một hệ thống “tri thức” linh hồn học có tầng bậc vô cùng mạch lạc. Dĩ nhiên, hệ thống tri thức này được xây dựng trên tiền đề giả định rằng linh hồn có thực. Song đúng như lời nhận định của Carl Jung — cha đẻ của ngành tâm lý học phân tích: “Năng lực tâm trí của cổ nhân cũng giống hệt như chúng ta, điều khác biệt duy nhất chỉ nằm ở những giả định căn bản mà thôi.” Dưới cùng một tiền đề giả định (sự tồn tại của linh hồn), rất nhiều dân tộc cổ xưa hoặc các bộ lạc nguyên thủy cũng đều sản sinh ra những cấu trúc và hệ thống tín ngưỡng linh hồn tương tự.
Xét về phương diện cấu trúc, hầu như mọi dân tộc đều quan niệm con người cấu thành từ hai phần: linh hồn và thể xác; đồng thời giữa “Người” và “Quỷ”, giữa “Dương gian” và “Minh giới” luôn tồn tại những cặp quan hệ đối ứng nhị nguyên như sau:
Dương (陽) —— Âm (陰)
Ban ngày —— Ban đêm
Nhân gian —— Minh giới
Người —— Quỷ
Mượn lời nhà tâm lý học cấu trúc Jean Piaget, đây chính là hiện tượng “cấu trúc của tri thức phản ánh cấu trúc của tâm trí”. Hay nói theo cách của Claude Lévi-Strauss, “cấu trúc phổ quát của tín ngưỡng linh hồn bắt nguồn từ chính cấu trúc phổ quát của bộ não con người”. Cấu trúc đối ứng nhị nguyên xuất hiện ở bình diện tự nhiên và cấu trúc đối ứng nhị nguyên xuất hiện ở bình diện tín ngưỡng linh hồn chính là kết quả tư duy chung của nhân loại theo nguyên lý “người cùng một lòng, lòng cùng một lẽ”, đồng thời là sự hiển lộ của “tính logic nội tại” vốn có trong bộ não con người.
Tính tương đồng giữa các hệ thống tín ngưỡng linh hồn
Xét về phương diện hệ thống, hệ thống tín ngưỡng linh hồn của các dân tộc khác nhau kỳ thực cũng có rất nhiều điểm tương đồng kỳ lạ. Chẳng hạn như người bản địa trên quần đảo Trobriand ở Nam Thái Bình Dương — đối tượng điền dã lâu năm của nhà nhân học lừng danh Bronisław Malinowski — sở hữu một hệ thống tín ngưỡng linh hồn khái lược như sau:
Họ cũng tin rằng con người do thể xác và linh hồn kết hợp thành. Sau khi chết, linh hồn vẫn tiếp tục tồn tại và được chia làm hai loại:
Một loại gọi là kosi: là một khối bóng mờ, sau khi chết bay lượn vất vưởng quanh làng xóm, thoắt ẩn thoắt hiện ở những nơi người chết sinh thời hay lui tới; đôi khi đến gõ cửa nhà người thân, trêu ghẹo người qua đường nhưng không làm hại chết ai; kosi tồn tại một thời gian rồi dần dần tự biến mất.
Loại thứ hai gọi là baloma: đây là chủ thể của linh hồn, kế thừa trọn vẹn ký ức, tình cảm và tư tưởng của người chết lúc sinh thời; cũng có thể ăn uống, ân ái như người bình thường. Baloma sau khi chết sẽ mang theo những đồ dùng thường nhật do thân nhân cõi dương chuẩn bị để đi đến cõi âm, sống một cuộc đời khác.
Cõi âm của họ là một nơi chốn tách biệt với trần thế, tọa lạc tại hòn đảo nhỏ Tuma cách đảo Trobriand mười dặm về phía tây bắc. Các baloma tùy theo cách thức tử vong khác nhau mà đi theo những con đường khác nhau để bước vào đảo Tuma. Tại đây, họ an cư lạc nghiệp, xây dựng các mối quan hệ mới, bồi đắp tình cảm mới, tham gia các hoạt động mới, mọi thứ y hệt như cõi trần; song họ cũng sẽ già đi theo năm tháng. Thỉnh thoảng các baloma sẽ “về quê thăm thân”, chủ yếu là đi vào giấc mộng của người thân để gặp gỡ và dặn dò vài điều. Hàng năm vào khoảng tháng Tám, tháng Chín có một tháng gọi là “Milamala” (tương tự như “tháng cô hồn” của Trung Hoa), các baloma sẽ cùng nhau quay về dương gian để thụ hưởng sự tiếp đãi nồng hậu của thân nhân.
Khi một baloma ở cõi âm già đi, linh hồn ấy sẽ xuống biển tắm rửa, như loài rắn lột xác để cải lão hoàn đồng, hóa thành một hài nhi ma quái dạng bào thai chuẩn bị đầu thai chuyển thế. Việc chuyển thế cũng có hai cách: hoặc tự mình bám vào những khúc gỗ trôi dạt trên biển để trở về đảo Trobriand rồi chui vào tử cung của người phụ nữ đang tắm biển; hoặc được các nữ baloma nhặt lấy bỏ vào giỏ, mang về đảo Trobriand nhét vào tử cung người phụ nữ. Người đàn bà đó mang thai, và baloma lại đầu thai chuyển thế làm kiếp người mới.
Chúng ta không khó để nhận ra rằng: hệ thống tín ngưỡng linh hồn của cư dân đảo Trobriand và hệ phả linh hồn của người Trung Hoa có vô số nét tương đồng, dĩ nhiên cũng không ít điểm dị biệt. Đối với những điểm tương đồng, trong các chương sau chúng ta sẽ hướng tới việc khám phá tính tư duy phổ quát của nhân loại; còn đối với những điểm dị biệt, trọng tâm sẽ đặt vào việc khảo sát tính đặc thù văn hóa.
Sự phân nhánh và biến dị của hệ thống tín ngưỡng linh hồn
Dẫu hệ thống tín ngưỡng linh hồn nhìn chung mang tính hoàn chỉnh và tính logic nội tại nhất định, song chúng ta cũng buộc phải thừa nhận rằng bên trong nó vẫn tồn tại không ít sự tùy tiện của tư duy:
Rốt cuộc linh hồn xuất khiếu là có thể nhìn thấy hay vô hình?
Linh hồn mang hình hài người thật hay hóa thành loài vật nhỏ bé như chú rắn con?
Sau khi chết linh hồn có nhiều nơi để về, nhưng cớ sao lại là nơi này mà không phải nơi kia?
Cõi u minh địa phủ rốt cuộc là chốn để linh hồn an cư lạc nghiệp hay là nơi chốn trừng phạt đọa đày?
Việc chuyển thế là tự mình đi hay phải trải qua muôn vàn thủ tục nhiêu khê...?
Những phân nhánh và biến dị ấy cùng tồn tại đan xen hỗn tạp trong các truyền kỳ hồn phách mà dường như chẳng có một lời giải thích thỏa đáng nào. Dĩ nhiên, ta có thể mượn quan điểm của Lévi-Strauss để cho rằng những phân nhánh ấy “thuần túy là kết quả vận hành mang tính toán học của tâm trí con người”; song điều đó hiển nhiên chưa đủ để thấu hiểu tường tận ngọn nguồn của cả một hệ thống tín ngưỡng.
Tác giả cho rằng: một hệ thống tín ngưỡng linh hồn cũng giống như một hệ thống sinh vật, nó biết “tiến hóa”. Động lực nguyên sơ của tiến hóa sinh học — sự đột biến gen di truyền — dẫu có thể xem là “thuần túy là kết quả vận hành toán học của DNA”, song những biến đổi ấy có cái là “nội sinh”, có cái lại là “ngoại tạo”:
Đối với sự tiến hóa của quan niệm linh hồn, cái gọi là nội sinh chính là “sự vận hành tư duy mang tính toán học” của một tộc người; ngay từ các trước tác tư tưởng thời Xuân Thu - Chiến Quốc, ta đã thấy manh nha nhiều phân nhánh và biến dị trong hệ phả linh hồn Trung Hoa ngày nay.
Còn cái gọi là ngoại tạo chính là sự va đập, tiếp biến từ văn hóa ngoại lai; chẳng hạn như quan niệm về “Nghiệp” (Karma) của Phật giáo từng khiến quan niệm linh hồn nguyên thủy của người Trung Hoa “thụ thai”, từ đó sản sinh ra những biến dị hoàn toàn mới.
Nhìn từ góc độ tiến hóa, hệ thống linh hồn cũng như hệ sinh vật, biểu hiện một chuỗi tồn tại “từ đơn giản đến phức tạp”; theo nguyên lý “thích giả sinh tồn”, chỉ cần vẫn còn được con người chấp nhận thì chúng sẽ tiếp tục tồn tại. Vì thế, sau khi chết, bốn nẻo về của linh hồn — dần dần tiêu tán, sống trong âm trạch (mồ mả), xuống địa phủ điểm danh, hay đầu thai chuyển thế — sự cùng tồn tại đan xen của chúng cũng hệt như việc bướm, cá sấu, đà điểu và voi cùng chung sống trên cõi đời này: nó không phản ánh “sự mâu thuẫn trong tư tưởng”, mà phản ánh dấu vết của “sự tiến hóa tư tưởng”.
Các biến thể sinh vật khác nhau sẽ cạnh tranh lẫn nhau trong hệ thống, và môi trường tự nhiên sẽ tiến hành chọn lọc, quyết định sự thịnh suy của chúng. Tương tự, những biến điệu linh hồn khác nhau cũng cạnh tranh trong nội bộ hệ thống, song yếu tố quyết định sự còn mất của chúng chủ yếu là các nhân tố văn hóa. Một quan niệm linh hồn nào đó hay một nhánh phả hệ nào đó nếu đặc biệt thịnh hành trong một cộng đồng người, điều đó cho thấy nó đã tìm được mảnh đất văn hóa màu mỡ để sinh sôi nảy nở.
Bởi vậy, trong các chương luận bàn tiếp theo, đối với những phân nhánh và biến dị trong hệ phả linh hồn, chúng ta sẽ đặc biệt chú trọng đến vấn đề tiến hóa quan niệm và sự đào thải, chọn lọc của văn hóa.
Tiền đề giả định khác nhau, diễn giải khác nhau
Nhìn từ một góc độ khác, hệ phả linh hồn không chỉ là một hệ thống tín ngưỡng hay một hệ thống tri thức, mà nó còn là một hệ thống diễn giải. Đối với muôn vàn trải nghiệm ly kỳ và dị tượng sinh mệnh trong hơn mười câu chuyện kể trên, nó đều có thể đưa ra những “lời giải thích hoàn hảo”.
Thế nhưng, chúng ta buộc phải chỉ ra rằng: khoa học chính thống ngày nay lại đưa ra những cách diễn giải hoàn toàn khác biệt trước những trải nghiệm và dị tượng ấy. Lấy trải nghiệm cận tử (Near-Death Experience - NDE) trong các truyện Viên thái giám trên nóc nhà và Thang công hoàn hồn ở chương 1 làm ví dụ: quan niệm linh hồn truyền thống bảo đó là “linh hồn xuất khiếu”, song giới khoa học đương đại lại có những lý giải rất khác:
Một số nhà khoa học (như Russell Noyes) đứng từ góc độ tâm lý học cho rằng: việc thoát xác rồi từ bên ngoài nhìn xuống thân xác mình (trải nghiệm cận tử tự quan sát / autoscopic NDE) thực chất là hiện tượng tâm lý “giải thể nhân cách” (depersonalization / mất cảm thức cá nhân). Khi một người nhận thức được cái chết đang từng bước cận kề không thể kháng cự, bản ngã cự tuyệt cái chết sẽ tạo ra một “vết trật khớp tâm lý” đối với thể xác, cảm thấy cái thể xác sắp chết kia không còn thuộc về mình nữa; bản ngã trở thành kẻ đứng ngoài cuộc — tựa như đứng bên ngoài dửng dưng quan sát — kết quả là nỗi sợ hãi tột cùng được thay thế bằng một sự bình thản hoặc tê liệt kỳ lạ. Điều này hơi giống với chữ “Quán” trong nhà Phật — đứng bên ngoài quán chiếu chính mình, tức cái gọi là “sự thức tỉnh tách rời”; kỳ thực nó là một chiến lược thích ứng tâm lý được con người vận dụng nhằm né tránh nỗi lo âu và đau đớn tột cùng.
Một số nhà khoa học khác (như Ronald Siegel) lại đứng từ góc độ sinh lý học để giải thích: việc nhìn lại toàn bộ cuộc đời mình trong tích tắc, đi xuyên qua đường hầm, nhìn thấy những thể người phát sáng, thành phố ánh sáng, người dẫn đường... (trải nghiệm cận tử siêu việt / transcendent NDE) thực chất là những ảo giác sinh ra do hoạt động điện hóa bất thường khi não bộ rơi vào trạng thái hưng phấn cực độ. Việc sử dụng các chất thức thần như LSD, mescaline gây kích thích hệ thần kinh não bộ cũng có thể tạo ra những ảo cảnh xuyên qua đường hầm, thấy người phát sáng hay thành phố ánh sáng tương tự. Còn cảm giác hồi tưởng nhanh và toàn diện về cuộc đời, thậm chí cảm giác thiên nhân hợp nhất, chính là “trạng thái biến đổi ý thức” (Altered State of Consciousness - ASC) do hưng phấn thần kinh tạo nên: sự ức chế của bán cầu não trái giảm xuống, khiến năng lực trực giác, quán chiếu tổng thể và cấu trúc toàn thể (Gestalt) của bán cầu não phải trỗi dậy mạnh mẽ.
Có lẽ sẽ có người bảo rằng những lời giải thích khoa học này chưa chắc đã “cao minh” hơn việc dùng linh hồn để giải thích, thậm chí có phần gượng ép chắp vá. Thành thực mà nói, đúng là như vậy. Song mấu chốt nằm ở “tiền đề giả định”: khi các nhà khoa học dấn thân thăm dò và đưa ra kiến giải, họ không lấy việc “linh hồn tồn tại” làm tiền đề giả định. Không phải các nhà khoa học sau khi đưa ra những lời giải thích trên mới đi đến kết luận linh hồn không tồn tại; mà chính vì họ đã giả định từ trước rằng linh hồn không tồn tại, rồi mới đi tìm những lời giải thích mang tính duy vật sinh lý ấy.
Tiền đề giả định khác nhau phản ánh những lập trường nhân sinh hoàn toàn khác biệt.
Đánh giá cao và đánh giá thấp trải nghiệm tri giác giác quan
Việc tận mắt chứng kiến quỷ hồn (bao gồm cả linh hồn người sống) xuất hiện có lẽ là trải nghiệm tri giác giác quan đặc thù được miêu tả nhiều nhất trong các truyền kỳ về hồn phách. Song loại trải nghiệm này trong các báo cáo học thuật hiện đại cũng chẳng hề hiếm gặp; xin dẫn ra một ví dụ sau:
Carl Jung trong luận án tiến sĩ Bàn về tâm lý học và bệnh lý học của các hiện tượng huyền bí từng đề cập đến một ca bệnh khá kỳ quặc:
Cô E đến miền nam nước Đức nghỉ dưỡng, một hôm nọ cùng cô bạn gái uống hết một chai rượu vang rồi cùng nhau tản bộ đến nghĩa trang gần đó. Tại nghĩa địa, cô đột nhiên nhổ bật gốc hoa cỏ bên các ngôi mộ, rồi dùng tay cào bới lớp đất mả. Sau khi trở về Zurich, nhìn thấy ba đứa trẻ bên đường, cô E bỗng quả quyết rằng đó chính là ba người chết mà cô vừa đào được dưới mồ lên, rồi nằng nặc đòi quay lại nghĩa trang gần đó ngay lập tức.
Về sau, cô được đưa vào bệnh viện tâm thần. Đêm đầu tiên nhập viện, cô than phiền với các nhân viên y tế rằng cả căn phòng chật ních những người chết hình hài như bộ xương khô, nhưng các y bác sĩ chẳng nhìn thấy gì cả. Sáng hôm sau tỉnh dậy, cô bảo trên giường mình có người chết đang nằm. Vài đêm sau, cô nghe thấy tiếng trẻ con khóc thét từ bãi tha ma gần đó van vỉ rằng chúng đang bị chôn sống; cô toan chạy đến cứu nhưng bị các nhân viên y tế ngăn lại.
Sau đó, bác sĩ tiến hành điều trị bằng thôi miên, cô E lúc này mới thổ lộ rằng khi đi nghỉ ở miền nam nước Đức, vì nghe thấy tiếng trẻ con cầu cứu dưới lòng mộ nên cô mới muốn cứu chúng ra, do đó mới đi nhổ cỏ bới đất mộ. Kể từ đó trở đi, hình ảnh những đứa trẻ bị chôn sống, xác chết, bộ xương khô và ma quỷ cứ liên tục xuất hiện trước mắt cô. Sau một tháng nằm viện, những tri giác giác quan đặc thù này mới dần dần biến mất, song cô vẫn mắc các chứng mất ngủ, đau đầu kéo dài.
Nếu nhìn ca bệnh này như một thiên “truyền kỳ hồn phách”, mức độ ly kỳ giật gân của nó chẳng hề thua kém bất kỳ câu chuyện nào được dẫn trong chương này. Đối với những ai tin vào sự tồn tại của linh hồn, những gì cô E nhìn thấy đích thị là “linh hồn người chết”; thậm chí người ta sẽ cho rằng một kẻ chẳng những ban đêm mà ngay cả ban ngày cũng thấy được ma quỷ như cô là người có dị bẩm sở hữu “mắt âm dương” hay “mắt thông linh”, rất thích hợp để làm một “bà đồng” chuyên giải mã những điều huyền bí. Thế nhưng đối với những ai không tin vào linh hồn, cô E lại là một “bệnh nhân” cần phải nhập viện tâm thần điều trị, bởi lẽ cô mắc chứng Hysteria (chứng ức chế/phân ly), và những trải nghiệm tri giác dị thường của cô thực chất là ảo thính và ảo thị thường gặp trong cơn “mê sảng Hysteria” (hysterical delirium).
Những lập trường tâm linh và lập trường nhân sinh khác nhau không chỉ đưa ra những tiền đề giả định và cách diễn giải khác nhau trước các dị tượng sinh mệnh, mà còn có cách định giá hoàn toàn trái ngược. Ta có thể nói rằng:
Lời giải thích của khoa học là sự “đánh giá thấp trải nghiệm tri giác giác quan”, hay nói cách khác là “rời xa tri giác giác quan”; việc xem những trải nghiệm giác quan đặc thù là ảo giác hay sản phẩm bệnh lý tâm thần chẳng những chứng minh tính bất khả tín của tri giác giác quan, mà còn coi chúng là thứ cấp thấp, sai lệch.
Trái lại, cách giải thích của hệ phả học linh hồn lại là sự “đánh giá cao trải nghiệm tri giác giác quan”, hay nói cách khác là “bám sát tri giác giác quan”; những câu chuyện tâm linh thâu nhận trọn vẹn mọi trải nghiệm tri giác giác quan, xem trạng thái dị thường như một lẽ thường, và lấy đó làm chất liệu cốt lõi để thấu hiểu sự tồn tại tối hậu của kiếp người.
“Chất đồng phân” của khoa học hiện đại
Do sự khác biệt về tiền đề giả định và cách định giá tri giác giác quan, cổ nhân và người hiện đại từ cùng một dị tượng sinh mệnh đã kiến tạo nên những trật tự khác nhau, từ đó sản sinh ra những hệ thống tri thức và hệ thống diễn giải khác biệt — chúng tựa như những chất đồng phân (isomer) trong các hợp chất hóa học: cùng chung một công thức phân tử (cùng một hiện tượng sinh mệnh), nhưng cấu trúc liên kết lại hoàn toàn dị biệt.
Mục đích của cuốn sách này không nhằm tranh biện xem “có linh hồn hay không”, mà là nỗ lực thấu hiểu xem cấu trúc tín ngưỡng linh hồn hay hệ phả học linh hồn của cổ nhân đã được xác lập như thế nào, và chúng ta nên nhìn nhận nó ra sao. Tác giả đúc kết:
Dẫu hệ phả học linh hồn của cổ nhân là một “trật tự tâm lý” được kiến tạo dựa trên “sự toàn năng của tưởng tượng” hay “lối tắt của tư duy”, song cổ nhân đã dốc hết tâm lực để đưa ra những lời giải thích hoàn hảo nhất trong khả năng của họ. Đó là hệ thống tri thức hoàn bị nhất được xác lập dưới tiền đề giả định “linh hồn có thực”.
Việc cổ nhân nương tựa vào cảm giác, tưởng tượng và người hiện đại đề cao lý tính, thực nghiệm chính là “hai phương thức song hành” của nhân loại trong tiến trình tìm kiếm tri thức. Hệ thống tri thức được kiến tạo từ đó, sự khác biệt đích thực của chúng không nằm ở ranh giới “cổ đại hay hiện đại”, “mê tín hay khoa học”, mà là mỗi bên đều có phạm vi thích ứng riêng, phản ánh hai lập trường tâm linh và nhân sinh khác nhau của con người. Bởi thế, chúng sẽ tiếp tục “song hành tồn tại” dài lâu.
Dẫu rằng trong các chương tiếp theo, hệ phả linh hồn ấy sẽ phải đối mặt với số phận bị chúng ta giải phẫu và tháo dỡ, song việc giải cấu trúc nó tuyệt đối không phải để hủy diệt nó, mà là để tái định vị nó vào một vị trí thích hợp, nhằm giúp chúng ta có được một sự tái nhận thức sâu sắc hơn về chính tâm thức của giống loài mình.
CHƯƠNG 3
Thuật hóa trang linh hồn — Chế tạo quỷ và cương thi
“Hồn và phách là hai mật mã cơ bản trong quan niệm về linh hồn của người Trung Hoa. Chúng có thể tạo thành bốn dạng kết hợp cơ bản sau: có hồn có phách, không hồn không phách, có hồn không phách, không hồn có phách. Còn bốn phương thức tồn tại của con người: người sống, người chết, ma quỷ và cương thi, đại khái có thể xem là sự chuyển dịch mang tính văn hóa của bốn dạng kết hợp ấy.”
“Hồn là động lực nguyên sơ khiến cho ‘thần’ (tinh thần, ý thức) phát huy tác dụng, vì thế ma quỷ vẫn mang tư tưởng, tình cảm, ký ức lúc sinh thời của người đã khuất, hơn nữa còn thoắt đến thoắt đi như một dòng suy nghĩ. Phách là động lực nguyên sơ khiến cho ‘hình’ (thể xác) vận hành, do đó dẫu cương thi không có tư tưởng, tình cảm hay ký ức, nhưng tóc và móng tay vẫn tiếp tục mọc dài, đồng thời tạo ra động tác cùng sức mạnh cứng nhắc như một cỗ máy.”
“Ma quỷ có mặc quần áo là bởi hình ảnh con người lưu trữ trong tâm trí chúng ta tuyệt đại đa số đều có mặc y phục.”
CÂU CHUYỆN
【Câu chuyện 19】 Nữ quỷ xin áo
Viên võ quan Ô Đồ Lân kể rằng, ông có một người anh trai đến huyện Kính thăm bạn. Khi trời sập tối, bỗng đổ mưa rào, đành phải ghé vào một ngôi chùa trú mưa. Chùa hoang phế đã lâu, khắp nơi nhà xiêu vách đổ, cỏ dại mọc um tùm, tuyệt không một bóng người, duy chỉ có cổng tam quan ở lối vào là còn tạm che mưa chắn gió, thế là ông ngồi dưới cổng chờ mưa tạnh.
Bấy giờ mây đen giăng kín trời, tối đen như mực, giơ tay gần như không thấy rõ năm ngón. Trong màn đêm bỗng vẳng lại tiếng của một người phụ nữ: “Oan quỷ ở đây xin dập đầu bái kiến, khẩn cầu ngài ban cho một bộ áo giấy, nắm xương tàn dưới đất sẽ muôn phần cảm kích.” Người anh họ Ô sợ đến mức không dám cựa quậy, nhưng bụng bảo dạ có muốn trốn cũng chẳng trốn đi đâu được, đành gượng đứng dậy cất tiếng hỏi cho ngọn ngành.
Chỉ nghe nữ quỷ sụt sùi trong bóng tối: “Thiếp vốn là người làng này, một hôm đi một mình qua ngôi chùa, hòa thượng trong chùa ép thiếp ở lại, giở trò làm nhục. Thiếp khóc lóc mắng nhiếc nhất quyết không theo, hòa thượng nổi cơn giận dữ liền giết chết thiếp. Khi ấy quần áo trên người thiếp đều bị lột sạch, nên thi thể bị chôn trần trụi, đến nay đã hơn trăm năm. Thiếp tuy ở cõi âm nhưng vẫn còn lòng liêm sỉ, vì trên người không tấc vải che thân, thà ôm hận ngậm oan nấp ở chốn này chứ thẹn không dám đi gặp thần minh. Hôm nay may mắn gặp được bậc quân tử như ngài, nếu ngài có thể lấy mấy tờ giấy màu, cắt làm váy áo rồi đốt trước cửa chùa, cho vong hồn của thiếp có vật che thân, thiếp mới có thể xuống địa phủ kêu oan, tái nhập luân hồi, chuyển thế đầu thai. Mong ngài rủ lòng thương xót số kiếp của thiếp mà rộng tay cứu giúp.”
Người họ Ô toàn thân run rẩy gật đầu ưng thuận, tiếng khóc của nữ quỷ mới dứt.
Mưa tạnh trời quang, người họ Ô rời chùa tiếp tục lên đường. Về sau không còn dịp nào đi qua nơi ấy nữa, nên rốt cuộc cũng chưa đốt được áo giấy cho nàng. Ông từng kể với người khác rằng, vì bản thân không thể thực hiện lời hứa mà khiến cho nữ quỷ kia tiếp tục chịu oan ngậm hận nơi chín suối, trong lòng luôn day dứt khôn nguôi. (Thanh · Kỷ Hiểu Lam, “Duyệt vi thảo đường bút ký”)
【Câu chuyện 20】 Cướp hồn đêm hồi sát
Tại huyện Hoài An có một người họ Lý, tình cảm vợ chồng vô cùng ân ái. Năm hơn ba mươi tuổi, Lý mỗ vì bạo bệnh mà qua đời. Thi thể đã nhập liệm, nhưng người vợ không nỡ đóng đinh nắp quan tài, ngày ngày đều ôm quan tài khóc lóc, thỉnh thoảng lại mở nắp ra ngắm nhìn dung nhan người chồng đã khuất. Mấy ngày trôi qua, sắc mặt Lý mỗ vẫn tươi tỉnh như lúc còn sống, không hề biến đổi.
Theo phong tục dân gian, sau khi người ta mất từ chín đến mười tám ngày (tùy theo can chi của ngày mất), Sát Thần sẽ dẫn vong hồn trở về nhà, do đó các gia đình có tang đều làm lễ đón sát (nghênh sát). Vào đêm nghênh sát, ngay cả cốt nhục ruột thịt cũng phải lánh mặt. Đêm nghênh sát hôm ấy, vợ Lý mỗ vì thương nhớ chồng tha thiết nên nhất quyết không chịu tránh đi. Nàng bảo các con sang phòng khác, còn một mình ở lại linh đường chờ đợi.
Đến canh hai, một luồng âm phong thổi tới, ngọn đèn trên linh đường bỗng chuyển sang màu xanh biếc. Vợ Lý mỗ trông thấy một quỷ tốt thân dài hơn một trượng, tóc đỏ mắt tròn xoe, tay cầm cây chĩa sắt, dùng một sợi dây thừng dắt người chồng từ ngoài cửa sổ bước vào. Quỷ tốt thấy trước quan tài có bày sẵn rượu thịt bèn đặt chĩa sắt xuống, cởi dây thừng, một mình ngồi ăn uống thỏa thuê. Linh hồn Lý mỗ thì thơ thẩn đi sang một bên, tay vịn mép bàn trong phòng, ngậm ngùi thở dài. Tiếp đó, Lý mỗ bước đến trước giường, vén rèm lên; người vợ nấp bên trong òa khóc ôm chầm lấy chồng. Nàng cảm thấy thân thể chồng nhẹ bẫng và lạnh ngắt như một đám mây giá rét, bèn lấy chăn bông quấn chặt lấy chàng.
Quỷ tốt tóc đỏ thấy thế chẳng lành, xông lên định cướp lại linh hồn Lý mỗ. Vợ Lý mỗ cất tiếng kêu cứu thất thanh, con cái nghe tiếng chạy ùa đến. Quỷ tốt thấy đối phương người đông thế mạnh, đành lảo đảo tháo lui. Vợ con Lý mỗ đặt linh hồn chàng đang bọc trong chăn vào lại quan tài, thi thể dần dần ấm lại và có sinh khí. Vợ Lý mỗ bèn bế chàng lên giường, mớm nước gừng cho uống. Đến khi trời sáng, Lý mỗ đã hồi sinh.
Cây chĩa sắt quỷ tốt bỏ lại vốn là cây chĩa giấy đốt trong tang lễ. Về sau, Lý mỗ lại cùng vợ chung sống thêm hơn hai mươi năm nữa. (Thanh · Viên Mai, “Tử bất ngữ”)
【Câu chuyện 21】 Mỹ nữ trong tranh
Vị quan giám sát ở Ôn Châu có một cô con gái mười sáu tuổi đang độ trăng tròn chưa gả, dung nhan kiều diễm, tính nết hiền thục, được cha mẹ hết mực yêu thương, chẳng may mắc bệnh qua đời. Quan giám sát trong cơn đau xót tột cùng đã nhờ thợ vẽ một bức di dung sống động như thật, cứ mỗi dịp lễ tết lại đem ra treo để cúng tế, ngày thường cất kỹ trong rương tráp. Đến khi mãn nhiệm chuyển đi nơi khác, vị quan vì sơ ý mà bỏ quên bức họa của con gái.
Vị giám sát quan mới sau khi dọn vào phủ đệ, người con trai chưa lập gia đình của ông tình cờ tìm thấy bức họa này, thầm nghĩ trong bụng: “Nếu lấy được người vợ như thế này thì ta mãn nguyện một đời.”
Chàng bèn đem bức họa treo trong phòng ngủ. Một đêm nọ, mỹ nữ bỗng từ trong tranh bước xuống, đến bên giường cùng công tử giãi bày tâm sự. Cả hai gặp nhau hận tương phùng muộn màng, rốt cuộc phát sinh quan hệ chăn gối. Từ đó trở đi, đêm nào mỹ nhân trong tranh cũng đến.
Nửa năm sau, thân thể công tử ngày một gầy mòn suy nhược. Cha mẹ nghi ngờ, nghiêm giọng gặng hỏi, công tử đành phải thưa rõ thực tình với cha mẹ, lại nói: “Nàng ấy nhất định phải đợi đến đêm khuya mới tới, canh năm là rời đi. Thỉnh thoảng nàng có mang theo hoa quả, con cũng từng chuẩn bị bánh trái chiêu đãi, nhưng nàng chưa từng ăn qua.” Cha mẹ nghe xong liền bảo con trai: hễ nàng đến lần nữa thì nhất định phải hết lời khuyên nàng ăn đồ.
Đêm hôm ấy, mỹ nữ quả nhiên lại từ trong tranh bước xuống. Công tử liên tục giục nàng ăn ít bánh ngọt, nàng thấy ý tốt khó chối từ bèn ăn một chút. Đến khi trời hửng sáng, nàng muốn đi mà chân không nhấc nổi, cuối cùng đành phải ở lại. Ban ngày, trông nàng sống động chẳng khác gì người thật, chỉ duy nhất là không thể nói năng. Về sau, công tử cùng nàng kết thành phu thê thực sự, thân thể hao mòn của chàng cũng dần dần bình phục. (Minh · Đào Tông Nghi, “Nam thôn xuyết canh lục”)
【Câu chuyện 22】 Kẻ sĩ đất Nam Xương
Ở huyện Nam Xương, tỉnh Giang Tây, có hai thư sinh là Giáp và Ất, một người lớn tuổi, một người trẻ tuổi, cùng nhau dùi mài kinh sử ở chùa Bắc Lan. Cả hai tâm đầu ý hợp, thân thiết như tri kỷ. Một ngày nọ, người lớn tuổi hơn là Giáp về nhà rồi đột ngột qua đời. Người trẻ tuổi là Ất không hay biết gì, vẫn ở lại chùa đọc sách.
Một đêm, Ất thấy đêm đã khuya, đang chuẩn bị lên giường đi ngủ thì bỗng thấy Giáp đẩy cửa bước vào, ngồi xuống mép giường vỗ vai Ất, nói: “Tôi với huynh xa nhau chưa đầy mười ngày, chẳng ngờ tôi mắc bạo bệnh mà chết, nay đã thành ma nơi suối vàng. Nhưng nghĩ tình bạn bè đôi ta khó nỗi dứt tình, nên đặc biệt đến đây từ biệt huynh.”
Ất nghe xong, toàn thân run rẩy cầm cập, sợ đến mức không thốt nên lời. Giáp an ủi: “Nếu tôi muốn hại huynh thì việc gì phải nói thực cho huynh biết? Huynh ngàn vạn lần đừng sợ hãi. Tôi sở dĩ đến tìm huynh là có mấy việc hậu sự muốn nhờ cậy.”
Ất lúc này mới hơi an lòng, hỏi xem là việc gì. Giáp nói: “Trong nhà tôi còn mẹ già ngoài bảy mươi và người vợ chưa đầy ba mươi tuổi, mỗi năm chỉ cần vài hộc gạo là họ không bị chết đói, mong huynh nể tình bạn hữu mà chu cấp cho họ, đó là việc thứ nhất. Ngoài ra, tôi có mấy bản thảo văn chương chưa kịp in ấn, phiền huynh thu xếp khắc ván xuất bản, để cái tên của tôi không vì cái chết mà chôn vùi vào quên lãng, đó là việc thứ hai. Lại nữa, tôi còn nợ hiệu bút mấy nghìn văn tiền, mong huynh trả giúp cho tôi, đó là việc thứ ba.”
Ất đều gật đầu nhận lời. Giáp bèn đứng dậy nói: “Đã được huynh nhận lời, vậy tôi xin cáo từ!” Dứt lời toan bước đi. Ất thấy lời lẽ của bạn đầy tình người, dung mạo lại y như ngày trước, nỗi sợ hãi trong lòng dần tan biến, bất giác rơi lệ cố giữ bạn lại: “Lần này chia ly là vĩnh biệt, sao huynh không ngồi thêm một lát?”
Giáp nghe xong cũng rơi lệ, bèn quay lại ngồi bên mép giường, cùng Ất ôn lại chuyện xưa. Nhưng mới nói được vài câu, Giáp lại đứng dậy bảo: “Tôi thực sự phải đi rồi!” Nhưng lần này Giáp đứng trơ trơ không chịu đi, hai mắt trừng trừng nhìn thẳng vào Ất, dung mạo cũng dần dần thối rữa, biến dạng ghê rợn. Ất kinh hãi giục: “Lời đã nói hết rồi, nếu đi thì huynh mau đi đi!” Nhưng xác chết của Giáp vẫn bất động. Ất cuống cuồng đập mạnh xuống giường quát lớn: “Đi đi! Huynh đi mau đi!” Xác chết vẫn như điếc, trơ trơ đứng sừng sững như cũ.
Ất lúc này hồn siêu phách lạc, bật dậy vùng chạy thục mạng ra ngoài, xác chết kia cũng lao ra cửa đuổi theo. Ất càng chạy nhanh, xác chết càng đuổi gấp. Cứ thế đuổi nhau suốt mấy dặm đường, Ất trèo qua một bức tường rồi ngã nhào xuống đất. Xác chết đuổi tới chân tường, không trèo qua được bèn thò đầu qua đỉnh tường, nước dãi bên khóe miệng rỏ ròng ròng xuống ướt đẫm cả mặt Ất.
Mãi đến khi trời sáng, có người qua đường trông thấy Ất nằm bất tỉnh bèn đổ nước gừng nóng vào miệng, chàng mới tỉnh lại. Còn người nhà của Giáp cũng đang cuống cuồng lo lắng vì xác chết mất tích, tìm kiếm khắp nơi không thấy, hay tin mới hốt hoảng đến khiêng xác về nhập liệm. (Thanh · Viên Mai, “Tử bất ngữ”)
【Câu chuyện 23】 Cương thi kiếm ăn
Ngoài núi cửa Nam thành Phù Châu, trong vòng chu vi năm dặm rải rác toàn là mồ mả, san sát nhau gần như không còn một tấc đất trống. Dân cư quanh tường thành thường xuyên bị mất trộm gà vịt vào ban đêm. Ban đầu mọi người cứ ngỡ là mèo rừng, chồn hương lẻn vào bắt trộm, thế là có nhà dùng lồng đan dày úp gà vịt lại, trên chèn thêm tảng đá lớn; có nhà lại làm hàng rào rào kín, lắp thêm then cài then chốt, nhưng rốt cuộc gà vịt vẫn mất. Dân làng ai nấy đều băn khoăn không tài nào hiểu nổi.
Tình cảnh như thế kéo dài hơn nửa năm, có một tên trộm nọ định lẻn vào nhà một phú ông trộm cắp. Hắn nấp sau một ngôi mộ cổ đợi đồng bọn tới. Đợi mãi không thấy bạn, đang định đơn thương độc mã hành động thì bỗng nhiên trong ngôi mộ phát ra tiếng “cạch”, một khối vật thể từ trong mồ xuyên đất chui ra. Trông “nó” thân dài chỉ độ năm sáu tấc, nhưng đầu và mặt lại dài hơn một thước, tay dài quá đầu gối, móng vuốt buông thõng chấm đất, hình thù nom giống như một con đười ươi, hai mắt màu vàng nhạt, tròn xoe và lóe sáng. Tên trộm nhìn thấy sợ đến toát mồ hôi lạnh. May thay quái vật chui ra khỏi mồ liền đi thẳng về phía trước, bước đi nhanh như bay, không hề phát hiện ra hắn.
Quái vật đi rồi, tên trộm liền trèo lên một cây cổ thụ gần đó, ẩn mình trong tán lá rậm rạp chờ đợi. Lúc này đồng bọn của hắn mới lục tục đến muộn, đi tới sau ngôi mộ cổ huýt sáo ra ám hiệu. Tên trộm vội gọi bạn lại dưới gốc cây, bảo: “Đêm nay không làm ăn gì được nữa rồi, mau về đi thôi, yêu quái sắp về đến nơi rồi!” Đồng bọn nghe thấy thất kinh hồn vía, sợ đến vãi cả linh hồn cắm đầu cắm cổ tháo chạy. Tên trộm ở trên cây nơm nớp đợi đến canh năm, nghe tiếng gà gáy mới thấy quái vật lông lá kia hấp tấp trở về, hai tay mỗi bên cắp một con vịt, nhảy phắt tới trước ngôi mộ cổ, người thụp xuống một cái là lập tức biến mất. Ngay sau đó lại nghe một tiếng “bịch”, tên trộm đoán chừng đó là tiếng đóng nắp quan tài.
Trời sáng hẳn, tên trộm mới dám leo xuống cây, quay về kể lại chuyện quái dị đêm qua cho đồng bọn. Trước đây hắn từng nghe chuyện các hộ dân quanh vùng bị mất gà vịt, đoán chừng mười phần thì có đến tám chín là do quái vật này gây ra. Thế là hắn rủ thêm bốn người nữa cho thêm gan, lúc chập tối cả bọn nấp gần khu mộ, đợi quái vật lông lá rời mồ thì bám theo sau xem thực hư thế nào.
Trông thấy quái vật đi vào trong làng, thoắt cái đã nhảy tót lên nóc nhà dân, hai tay quơ quào vào khoảng không, vung tay hơn chục lần liền tóm được một con gà. Sau đó nó lại nhảy từ nóc nhà này sang nóc nhà khác, hai tay lại quơ quào như trước, tóm thêm được một con vịt. Cứ như thế bắt gà vịt ba lần, nó ngang nhiên ngồi chồm hổm trên nóc nhà, ăn trước một con, nuốt chửng cả lông lẫn xương, nhai ngấu nghiến. Ăn xong, hai tay nó cắp hai con còn lại, nhảy xuống mái nhà, men theo đường cũ trở về.
Mọi người bèn đến gõ cửa nhà người bị mất trộm gà vịt, kể lại tận mắt những gì vừa chứng kiến, dân làng nhìn nhau hoang mang kinh hãi. Sáng hôm sau, dân chúng tập hợp thêm nhiều người mang theo cuốc xẻng đao giáo kéo đến nghĩa địa. Trước ngôi mộ cổ mà tên trộm chỉ điểm, họ tìm thấy một phiến đá di động được, bốn phía nhẵn thín không có góc cạnh, phỏng đoán đây chính là lối ra vào của quái vật. Mọi người cạy phiến đá, đào bới lớp đất, đợi khi quan tài lộ ra liền chặt đứt nửa phần nắp quan tài phía trước. Con quái vật bỗng nhảy chồm ra ngoài! Đám đông thấy vậy la hét kinh hoàng, rồi đao kiếm giáo mác thi nhau chém đâm tới tấp, quái vật rốt cuộc trúng thương ngã gục xuống đất.
Mọi người tiến lại gần quan sát, chỉ thấy quái vật miệng to nhe nanh nhọn hoắt, mặt mũi dữ tợn dị thường. Kỳ dị nhất là dưới vai trên nách nó mọc thêm hai cánh tay quái đản, không có cẳng tay hay cùi chỏ, chỉ có hai bàn tay dài chấm đến đầu gối. Mọi người vội vàng chặt đầu chém đứt thân nó, một dòng máu đen từ trong xác trào phụt ra ngoài, tanh tưởi hôi thối vô cùng. Mọi người bèn chất củi, tưới dầu trẩu lên rồi châm lửa thiêu rụi con quái vật. Kiểm tra trong quan tài thì chẳng còn thứ gì, nhưng nhìn kiểu dáng mộ phần và cỗ quan, dường như là được chôn cất từ cuối thời nhà Minh. (Thanh · Trần Tung Tuyền, “Quyệt đàm”)
【Câu chuyện 24】 Hai cương thi ân ái
Có một tráng sĩ phiêu bạt đến vùng Hồ Quảng, một mình ngụ tại ngôi cổ tự. Một đêm nọ, thấy ánh trăng vằng vặc thanh tao, chàng liền ra ngoài chùa tản bộ. Chợt nhìn thấy trong rừng cây thấp thoáng có bóng người đội khăn Đường lướt đi thoăn thoắt, chàng ban đầu ngỡ là gặp ma, nhưng thấy đối phương mau chóng đi sâu vào rừng tùng, chui vào một ngôi mộ cổ, lúc này tráng sĩ mới dám chắc mình vừa thấy cương thi.
Nghe đồn cương thi hễ mất nắp quan tài thì không thể tác oai tác quái được nữa. Thế là tối hôm sau, tráng sĩ nấp sẵn trong rừng cây, định bụng đợi cương thi ra ngoài sẽ lấy trộm nắp quan tài của nó. Sau canh hai, cương thi quả nhiên ra khỏi mộ, dường như vội vã đi tới nơi nào đó. Tráng sĩ bí mật bám theo sau, đến bên ngoài cánh cổng của một tòa đại trạch. Trông lên cửa sổ trên lầu tòa nhà lớn, có một người phụ nữ mặc áo đỏ đang đứng đợi. Nàng buông một dải lụa trắng xuống, cương thi nắm dải lụa đu bám leo lên lầu, rồi nghe thấy hai người trên lầu thì thầm to nhỏ, nhưng không rõ nói những gì. Tráng sĩ bèn quay lại trước, lén đem nắp quan tài giấu vào một nơi kín đáo, rồi tiếp tục nấp trong rừng tùng chờ đợi.
Trời sắp hửng sáng, cương thi vội vã quay về, phát hiện mất nắp quan tài, dáng vẻ vô cùng quẫn bách, tìm kiếm khắp nơi không thấy, cuối cùng lại lảo đảo men theo đường cũ chạy đi. Tráng sĩ tiếp tục bám theo sau, thấy cương thi trở lại tòa đại trạch, đứng dưới lầu nhảy nhót liên hồi, trong miệng phát ra những tiếng kêu “khục khục” quái gở. Người phụ nữ áo đỏ trên lầu cũng hướng xuống dưới kêu lên “khục khục”, tay xua lia lịa làm điệu bộ cự tuyệt, dường như trách nó không nên quay lại nữa. Chẳng mấy chốc, phương xa vang lên tiếng gà gáy, cương thi vừa nghe thấy liền ngã vật xuống bên vệ đường.
Trời sáng, người qua đường nhìn thấy cảnh tượng ấy đều kinh hoàng thất sắc. Mọi người đến dưới lầu tòa đại trạch hỏi thăm mới biết đó là từ đường họ Chu, trên gác có quàn một cỗ quan tài, bên ngoài có một nữ cương thi nằm cứng đờ. Đám đông hiểu rằng đây là hiện tượng kỳ quái “cương thi dã hợp”, bèn xếp hai cỗ thi thể lại cùng nhau, châm một mồi lửa thiêu rụi cả hai. (Thanh · Viên Mai, “Tử bất ngữ”)
LUẬN BÀN
Tạo hình và đặc trưng dị biệt giữa ma quỷ và cương thi
Sigmund Freud từng nói: “Việc chế tạo ra ma quỷ chính là thành tựu đầu tiên của nhân loại.” Thế nhưng người Trung Hoa, khi suy ngẫm về các phương thức tồn tại khả dĩ sau khi chết, không chỉ tạo ra quỷ, mà còn tạo ra cả cương thi; hơn nữa quỷ và cương thi lại mang những tạo hình cùng đặc trưng hoàn toàn khác biệt. Điều khiến chúng ta thấy thú vị là những tạo hình và đặc trưng dị biệt ấy bắt nguồn từ đâu? Để thấu hiểu “thuật hóa trang linh hồn” độc đáo của người Trung Hoa, trước tiên, ắt phải mời những bóng ma và cương thi trong các tập bút ký tiểu thuyết ra đây để tiến hành một cuộc “tẩy trang” cho chúng.
Trong bút ký tiểu thuyết, quỷ và cương thi rất hiếm khi “cùng đứng chung một sân khấu”. Truyện Kẻ sĩ đất Nam Xương là một ví dụ vô cùng hiếm hoi, chẳng những quỷ và cương thi cùng xuất hiện trong một câu chuyện, mà Giáp mỗ còn từ quỷ biến thành cương thi. Từ lời miêu tả trong truyện có thể thấy, khi tồn tại dưới thân phận “quỷ”, Giáp mỗ có dung mạo y như lúc sinh thời, lại nặng tình sâu nghĩa khó dứt với Ất mỗ, canh cánh trong lòng ba tâm nguyện chưa vẹn toàn. Nhưng một khi đã hóa thành “cương thi”, dung mạo lập tức thối rữa ghê rợn, chẳng còn chút tư tưởng, tình cảm hay ý thức nào nữa, trái lại chỉ còn mối sát khí mù quáng, tấn công điên cuồng, và nước dãi thì rớt ròng ròng nơi khóe miệng.
Từ những mẩu chuyện khác được dẫn trong chương này, ta còn có thể nhận ra nhiều tạo hình cùng đặc trưng khác biệt giữa quỷ và cương thi:
Nữ quỷ trong Nữ quỷ xin áo không có hình thể, chỉ có âm thanh.
Nam quỷ trong Cướp hồn đêm hồi sát dẫu có hình hài nhưng lại “nhẹ bẫng và lạnh ngắt” như một đám mây giá rét.
Nữ quỷ trong Mỹ nữ trong tranh thì “chẳng cần ăn uống”.
Song, tất cả bọn họ đều có thất tình lục dục như người thường, đặc biệt là nữ quỷ xin áo kia, chỉ vì trên người không tấc vải che thân mà “thẹn” không dám xuống cõi âm trình diện. Ngoài ra, có lẽ còn phải kể thêm việc ma quỷ có thể biến hóa, sở hữu những năng lực siêu nhiên (trong các chương sau, những loài quỷ như thế sẽ lần lượt xuất hiện).
Trong khi đó, các truyện Cương thi kiếm ăn, Hai cương thi ân ái và mẩu chuyện Đêm giông thi thể vùng dậy ở chương hai lại cho ta hay: lông tóc và móng tay của cương thi có thể mọc dài vượt bậc; dẫu không còn tư tưởng, tình cảm và ý thức, nhưng chúng vẫn còn giữ lại thực dục (thèm ăn đồ tươi sống như gà vịt) và tính dục (giao hợp).
Những dị biệt về tạo hình và đặc trưng ấy giữa quỷ và cương thi biểu đạt điều gì? Ở phần kết của truyện Kẻ sĩ đất Nam Xương, Viên Mai từng thêm vào một đoạn bình chú (án ngữ):
“Hồn người thiện mà phách người ác, hồn người linh mà phách người ngu. Lúc mới đến, một điểm linh quang chưa tắt, hồn nương vào phách mà đi; đến lúc muốn đi, tâm sự đã dứt, hồn vừa tán thì phách ngưng trệ lại. Hồn còn, ấy là người; hồn đi, ấy phi nhân (chẳng còn là người nữa). Kẻ ở đời thấy xác dời bóng chạy, thảy đều do phách gây nên vậy.”
Dẫu lời này nhắm vào Giáp mỗ trong truyện, song nó cũng nói rõ cho chúng ta hay: Quỷ lấy “Hồn” làm chủ thể, còn Cương thi lấy “Phách” làm chủ thể.
Và cũng từ đoạn luận giải này, chúng ta nhận ra: “vị chuyên gia trang điểm” ẩn giấu đằng sau quỷ và cương thi chính là quan niệm về hồn phách của người Trung Hoa.
Hồn phách và quan niệm cấu thành sinh mệnh của người Trung Hoa
Để thấu suốt quan niệm hồn phách của người Trung Hoa, trước hết phải hiểu được cái nhìn của tổ tiên chúng ta về sự cấu thành của sinh mệnh.
《Dịch Kinh · Hệ Từ thượng truyền》 viết: “Tinh khí vi vật, du hồn vi biến” (Tinh khí tụ lại thành muôn vật, hồn lìa trôi dạt hóa thành biến đổi). Hậu nhân giải thích điều này là: “Âm tinh dương khí tụ lại thành vật thể; hồn bay lên phách giáng xuống, tiêu tán đi mà sinh ra biến hóa.”
《Lễ Ký · Giao đặc sinh》 viết: Người sau khi chết thì “Hồn khí quy vu thiên, hình phách quy vu địa” (Khí của hồn bay về trời, hình thể của phách chìm vào đất).
《Liệt Tử · Thiên Thụy thiên》 lại bàn: “Tinh thần giả, thiên chi phận; cốt hài giả, địa chi phận; thuộc thiên, thanh nhi tán; thuộc địa, trọc nhi tụ; tinh thần ly hình, các quy kỳ chân” (Tinh thần thuộc phần của trời; xương cốt thuộc phần của đất; thuộc về trời thì thanh nhẹ mà phân tán, thuộc về đất thì vẩn đục mà tụ kết; tinh thần rời khỏi hình hài, mỗi bên đều trở về cội nguồn chân thật của nó). (Ghi chú: Liệt Tử ở đây dùng hai chữ “tinh thần” cốt để đối ngẫu với “cốt hài”, còn ở những chỗ khác thì lấy “thần” đối chiếu với “hình”.)
Chỉ dẫn ra ba đoạn cổ thư ngắn ngủi mà đã xuất hiện sáu khái niệm: Tinh, Khí, Hình, Thần, Hồn, Phách. Trong tư tưởng Bách Gia Chư Tử, có lúc hai chữ khác nhau lại cùng chỉ một khái niệm, nhưng cũng có lúc cùng một chữ lại biểu thị những nội hàm sai biệt, khiến người đọc vô cùng đau đầu. Để tiện cho việc luận bàn dưới đây, tôi không muốn tiếp tục “tầm chương trích cú” nữa, mà xin dùng nhát dao sắc chặt đứt mớ bòng bong, quy nạp chúng thành ba cặp quan hệ song hành như sau:
Khí (氣) —— Tinh (精)
Thần (神) —— Hình (形)
Hồn (魂) —— Phách (魄)
Trong đó, “Tinh” và “Khí” là hai nguyên liệu khởi thủy cấu thành nên sinh mệnh; “Tinh” phát triển thành “Hình” (thể xác), còn “Khí” ngưng tụ thành “Thần” (ý thức, tư tưởng); “Hồn” là động lực nguyên sơ khiến “Thần” phát huy tác dụng, còn “Phách” là động lực nguyên sơ khiến “Hình” vận hành. Mối quan hệ tương hỗ và động thái vận hành giữa chúng có thể hình dung khái lược qua sơ đồ:
Plaintext
Khí ──► Thần ──► Hồn
▲ ▲ ▲
│ │ │
▼ ▼ ▼
Tinh ──► Hình ──► Phách
Khung cấu trúc này dẫu chưa thể bao quát chu toàn mọi quan niệm phức tạp của Bách Gia Chư Tử, song nó giúp ta tỏ tường hàm nghĩa của những câu như:
“Hồn khí quy vu thiên, hình phách quy vu địa” trong Lễ Ký;
“Tinh giả, phách tàng chi; khí giả, hồn tàng chi” (Tinh do phách tàng giữ; khí do hồn tàng chứa) trong Quan Doãn Tử;
“Tinh chi thần vị chi phách, khí chi thần vị chi hồn” (Cái thần của tinh gọi là phách, cái thần của khí gọi là hồn), và “Nhĩ mục sở dĩ năng thị thính giả, phách vi chi; thử tâm sở dĩ năng tư lự giả, hồn vi chi” (Tai mắt sở dĩ nhìn thấy nghe được là nhờ phách; tâm này sở dĩ suy nghĩ lo toan được là nhờ hồn) trong Tính Lý Hội Thông.
Đồng thời, cấu trúc ấy cũng giúp ta hiểu vì sao trong văn hóa ngôn ngữ Trung Hoa lại có những thành ngữ như “thần thanh khí sảng” (tinh thần sảng khoái nhẹ nhõm), “đoán luyện thể phách” (rèn luyện thân thể), “thần hồn điên đảo”, “thất hồn lạc phách” (hồn bay phách lạc), hay “câu hồn nhiếp phách” (mê hoặc tâm can, hút mất linh hồn).
Cổ nhân có sự đánh giá và định vị tôn ti rất khác nhau giữa Hồn và Phách. 《Quan Doãn Tử · Tứ phù thiên》 viết:
“Ở cõi nhân gian, hồn bay lên là quý, phách chìm xuống là hèn; hồn linh thiêng là hiền triết, phách dữ dằn là ngu xuẩn; hồn thanh nhẹ là quang minh, phách nặng nề là tăm tối; hồn bay bổng ví như lông vũ chim trời, phách đần trệ ví như lông mao muông thú.”
Đoạn án ngữ của Viên Mai nói trên, âu cũng chính là sự hồi vọng của quan niệm này.
“Bộ gen linh hồn” của Quỷ và Cương thi
Hồn và phách chính là hai mật mã cơ bản trong quan niệm về linh hồn của người Trung Hoa. Giống như các hệ thống ký hiệu khác, chúng có thể tạo thành bốn dạng kết hợp cơ bản: “có hồn có phách”, “không hồn không phách”, “có hồn không phách” và “không hồn có phách”. Còn bốn phương thức tồn tại của con người: “người sống”, “người chết”, “quỷ” và “cương thi”, đại khái có thể xem là sự chuyển dịch mang tính văn hóa của bốn tổ hợp ấy.
Cái gọi là “Quỷ”, ý chỉ trạng thái tồn tại sau khi chết ở dạng “có hồn không phách” hoặc “nhiều hồn ít phách”. Từ quan niệm hồn phách nêu trên, ta có thể suy ra rằng quỷ sẽ mang theo tư tưởng, tình cảm, ký ức lúc sinh thời của người đã khuất, và cũng giống như dòng tư tưởng, nó có thể “thoắt đến thoắt đi”, vượt qua mọi giới hạn vật lý của thời gian và không gian. Hồn không nhất thiết phải nương tựa vào hình thể, do đó quỷ cũng không nhất thiết phải có hình thể; dù có hình thể đi chăng nữa, thì vì “vô phách” hoặc “thiếu phách” nên nó cũng chỉ nhẹ bẫng lơ lửng, không cần thông qua đường ăn uống để nạp “năng lượng sinh mệnh” (nói chính xác hơn là không cần ăn thức ăn thật).
Những con ma trong các câu chuyện được dẫn ở phần trước đã di truyền trọn vẹn “bộ gen linh hồn” này. Ta không dám khẳng định mọi bóng ma trong các truyền kỳ về hồn phách đều mang đủ các đặc điểm trên, song đại đa số quỷ quả thực đều được nhào nặn từ quan niệm “có hồn không phách” hoặc “nhiều hồn ít phách”.
Ngược lại, “Cương thi” lại là trạng thái tồn tại sau khi chết ở dạng “không hồn có phách” hoặc “ít hồn nhiều phách”. Chiếu theo quan niệm cổ xưa của Trung Hoa về phách, cương thi không còn giữ lại tư tưởng, tình cảm và ký ức lúc sinh thời, lục thân bất nhận (không nhận ra bất kỳ người thân nào), song vẫn còn tàn dư động năng khiến hình thể vận động. Động năng này có thể tái kích hoạt xác chết, làm cho lông tóc và móng tay của nó tiếp tục mọc dài, đồng thời sinh ra một sức mạnh mù quáng, cứng ngắc như cỗ máy (hình ảnh cương thi nhảy tưng tưng trong các bộ phim đương đại có thể coi là sự hoạt họa hóa quan niệm này; dĩ nhiên một phần cũng phản ánh các khớp xương đã xơ cứng của thi thể). Cương thi nhất định phải có hình thể, thực chất nó chính là “xác chết biết đi” (hành thi tẩu nhục), và không thể thoắt ẩn thoắt hiện. Những con cương thi trong các câu chuyện kể trên chính là thừa hưởng “bộ gen linh hồn” như thế.
Nếu ta tổng hợp các đặc tính của cương thi — tính công kích mù quáng, kiếm ăn, giao phối — để nhìn nhận tổng thể, không khỏi khiến người ta liên tưởng tới khái niệm “Id” (Bản ngã nguyên sơ / Nguyên ngã - tiếng Đức: Es) của Sigmund Freud. “Id” chính là những xung năng mang tính sinh vật mù quáng: thực dục, sắc dục, xung năng gây hấn... Từ id trong tiếng Đức cũng mang sắc thái tương tự như it trong tiếng Anh, nghĩa là một dạng xung năng mang tính “vật chất”; mà “Phách” lại chính là thành phần linh hồn hay động năng thuộc về phần “vật chất” của con người. Nhìn từ góc độ này, ta sẽ càng thấu hiểu sâu sắc hơn nội hàm cổ xưa của chữ “Phách” trong văn hóa Trung Hoa.
Quỷ và ảo giác — Vì sao ma quỷ lại mặc quần áo?
Nếu nói quan niệm hồn phách độc đáo là một đặc trưng mang tính văn hóa của người Trung Hoa, thì tạo hình và đặc trưng của quỷ cùng cương thi trong bút ký tiểu thuyết chính là sự hiển lộ của đặc trưng văn hóa ấy. Song chỉ dựa vào văn hóa thì tuyệt đối không đủ để tạo ra ma quỷ và cương thi; chúng cần thứ chất liệu căn bản hơn: chính là những trải nghiệm tri giác giác quan đặc thù.
Trước hết bàn về ma quỷ. “Trông thấy ma” có thể xem là một dạng trải nghiệm tri giác giác quan đặc thù tương đối phổ biến; ngay cả thời nay, theo các cuộc thăm dò dư luận của Gallup (Hoa Kỳ), vẫn có tới 10% số người khẳng định mình từng “gặp ma”. Đối với loại trải nghiệm đặc biệt này, nếu chỉ “nói qua loa vài câu” rằng đó là ảo giác hay ảo ảnh thì hiển nhiên không thể khiến những người từng “thấy ma” tâm phục khẩu phục. Song nói đến việc tận mắt chứng kiến quỷ hồn hay u linh xuất hiện, e rằng hiếm ai có trải nghiệm phong phú hơn nhân vật chính trong ca bệnh dưới đây:
Có một phụ nữ người Anh thường xuyên thấy “u linh” của người cha xuất hiện trước mặt mình (trên thực tế, cha bà vẫn còn sống nhưng đang ở một quốc gia xa xôi). Bà có thể nhìn rõ từng sợi tóc bạc trong đôi mày rậm của “cha”, hàm răng trong miệng và cả hoa văn kẻ ca-rô trên chiếc áo sơ mi của ông; thậm chí bà còn nghe thấy tiếng cha trò chuyện với mình, ngửi thấy cả mùi cơ thể của cha. Dần dà, bà phát hiện mình còn có thể tùy ý điều khiển sự xuất hiện của hình ảnh người cha, và không chỉ có u linh của cha, mà cả u linh của chồng, con trai, bạn bè, bác sĩ và thậm chí của chính bản thân bà, cũng đều có thể gọi là đến, phất tay là biến mất.
Khả năng dị biệt bẩm sinh này thực sự rất khó giải thích, vì thế bà được đưa đến Bệnh viện St Thomas ở London để làm các nghiên cứu về thị giác bằng máy điện não đồ vi tính hóa. Bác sĩ yêu cầu bà trong lúc hai mắt chăm chú nhìn vào một hoa văn bàn cờ đổi màu phía trước thì hãy “cho u linh xuất hiện” chắn ngang hoa văn ấy. Kết quả là sóng kích thích (Evoked Potentials - EP) đo được từ vỏ não thị giác của bà cho thấy, hoa văn đổi màu liên tục dường như đã bị một vật thể có thực nào đó che khuất, kích thước và hình dáng của nó hoàn toàn trùng khớp với “u linh” mà bà miêu tả.
Nhưng khi kiểm tra phản ứng cảm quang nơi võng mạc đáy mắt, các bác sĩ lại nhận thấy ánh sáng từ hoa văn biến đổi kia đều đi vào võng mạc của bà; nói cách khác, giữa hoa văn và võng mạc không hề có bất kỳ vật thể thực nào cản trở nguồn sáng. Điều này chứng minh rằng thực thể “u linh” mà bà nhìn thấy được sinh ra trên con đường dẫn truyền từ võng mạc đến vỏ não thị giác, tức “nó” hoàn toàn là sản phẩm nội tại của bộ não.
Sản phẩm nội tại của não bộ này chính là “ảo giác”. Cái gọi là “thấy ma” thực chất không phải trông thấy “linh hồn” của người chết hay người sống, mà là sự phản chiếu những hình ảnh lưu trữ trong não bộ của chúng ta lên vỏ não thị giác.
Dù là trong bút ký tiểu thuyết hay những lời đồn đại ngoài dân gian, đại đa số ma quỷ đều “có mặc quần áo”. Ngay từ hơn một ngàn năm trước, thời Đông Hán, Vương Sung trong 《Luận Hành · Luận tử thiên》 đã đưa ra nghi vấn:
“Người ta bảo quỷ là tinh thần của người chết... Thế thì người thấy quỷ lẽ ra chỉ thấy hình hài trần truồng trần trụi, cớ sao lại thấy cả áo xiêm dải mũ? Bởi lẽ áo quần đâu có tinh thần, người chết thì áo quần cũng mục nát cùng với thể xác, làm sao mà mặc vào được nữa?”
Ma quỷ “mặc quần áo” là bởi vì những hình ảnh con người được lưu trữ trong não bộ của chúng ta tuyệt đại đa số đều là hình ảnh “có mặc quần áo”.
Trên thực tế, tạo hình và đặc trưng của ma quỷ phản ánh chính những đặc tính của trải nghiệm giác quan mang tên “ảo giác” — ngoài chuyện “ma mặc quần áo”, còn có những trạng thái như “không có hình thể, chỉ có tiếng nói”, “thoắt tỏ, thoắt mờ”, “biến hình”, “thoắt ẩn, thoắt hiện”, v.v.
Cương thi và âm thi — Vì sao móng tay cương thi lại rất dài?
Tạo hình và đặc trưng của cương thi hoàn toàn khác biệt với ma quỷ. Từ những đặc điểm như mang hình hài thực thể cứng đờ, không thoắt ẩn thoắt hiện, hiển nhiên cương thi không lấy ảo giác làm chất liệu, mà bắt nguồn từ một cội rễ khác.
Năm 1992, tuần báo Thời Báo Chu Khản (Đài Loan) có đăng một bản tin: nghĩa trang Sơ Lộc tại hương Ty Nam, huyện Đài Đông do vướng công trình công cộng nên phải di dời mộ phần theo kỳ hạn; trong quá trình di dời mồ mả tổ tiên, người dân địa phương phát hiện có mười mấy cỗ thi thể chôn cất chừng mười năm ở vào trạng thái “âm thi” (xác chết biến dạng đặc biệt / xác không phân hủy) — chẳng những xác chết không thối rữa, áo liệm nguyên vẹn không rách, mà lông tóc, móng tay của một số tử thi còn mọc dài ra, thậm chí nhe cả “răng nanh”. Bầu không khí quỷ dị, kinh hoàng lập tức bao trùm khắp bãi tha ma âm u và vùng thôn quê chất phác.
Chúng ta có đầy đủ lý do để tin rằng dị tượng sau khi chết này rất có thể chính là chất liệu thực tế để tạo nên hình tượng cương thi.
Đứng từ góc độ khoa học hiện đại, hiện tượng dị thường này hiển nhiên có liên quan đến thành phần thổ nhưỡng, nguồn nước và các điều kiện địa chất nơi chôn cất (nếu không thì chẳng thể có nhiều thi thể cùng xuất hiện chung đặc điểm như vậy). Nhưng đối với cổ nhân, cảnh tượng thi thể không rữa nát, tóc và móng tay tiếp tục dài ra lại khiến họ ngỡ rằng đó là do con người sau khi chết vẫn còn sót lại một sức sống nhất định (thứ sức sống huyền bí này kỳ thực chính là “Phách” trong quan niệm linh hồn của người Trung Hoa). Và nếu như sức sống đáng sợ này đột ngột bùng phát, khiến cho những cỗ “âm thi” ấy bật dậy nhảy chồm chồm, chúng sẽ trở thành những con cương thi trong truyền kỳ về hồn phách.
Có lẽ chúng ta có thể đúc kết thế này: Trải nghiệm tri giác giác quan đặc thù mang tên ảo giác và dị tượng tử thi mang tên âm thi lần lượt là “phần cứng” để chế tạo nên ma quỷ và cương thi; còn quan niệm nhị nguyên về Hồn - Phách thuộc đặc trưng văn hóa Trung Hoa lại chính là “phần mềm” đắp nặn nên hình tượng của chúng.
Điểm tương đồng và dị biệt giữa Cương thi Trung Hoa và Ma cà rồng phương Tây
Những quan niệm linh hồn khác nhau sẽ sản sinh ra những thuật hóa trang linh hồn khác biệt. Quan niệm linh hồn của người Trung Hoa khi so sánh với các dân tộc khác có điểm đặc thù nổi bật là quan niệm về “Phách”, và chính nó đã tạo nên nét độc nhất vô nhị của cương thi Trung Quốc. Có người gọi cương thi là “ma cà rồng Trung Hoa” (Chinese vampire), nhưng kỳ thực cương thi Trung Hoa và ma cà rồng phương Tây có sự khác biệt rất lớn. Dẫu đôi bên cùng thuộc dạng người chết mượn xác thịt trở lại nhân gian, cùng phải hút máu ăn tươi nuốt sống, ban ngày nằm ngủ trong quan tài đêm đến mới bò ra hoạt động, song ma cà rồng phương Tây vẫn sở hữu tư tưởng, tình cảm và ký ức, trong khi cương thi Trung Quốc lại hoàn toàn trống rỗng không có những thứ này.
Dựa theo các nghiên cứu của phương Tây, hình tượng ma cà rồng có thể bắt nguồn từ dị tượng sau cái chết như sau: Thời xưa, do y học chưa phát triển, những trường hợp người chưa chết hẳn đã bị kết luận là qua đời rồi thảm cảnh bị chôn sống không phải là hiếm. Khi những người bị chôn sống này tỉnh lại, nhận ra mình bị giam hãm trong cỗ quan tài kín mít, họ liền giãy giụa điên cuồng trong tuyệt vọng, căm phẫn dùng mu bàn tay cào cấu vách quan tài, nhai nuốt cả áo liệm để gắng gượng thoi thóp, cuối cùng trong nỗi căm hận tột cùng đã cắn rách môi hoặc cắn đứt lưỡi, ngậm hận mà chết. Đến khi những cỗ quan tài này được khai quật trở lại, mọi người nhìn thấy áo liệm của người chết có dấu vết bị xé rách, vách trong quan tài hằn sâu những vết cào cấu, còn khóe miệng tử thi thì vương vãi vệt máu, liền ngỡ rằng đó là do “hắn” ban đêm đã chui ra khỏi quan tài đi hút máu người khác.
Những dị tượng sau cái chết khác nhau đã cung cấp cho các dân tộc những chất liệu khác nhau để nhào nặn nên các trạng thái tồn tại sau khi chết. Nhưng yếu tố đào sâu thêm sự dị biệt giữa cương thi và ma cà rồng lại đến từ quan niệm linh hồn khác nhau giữa Đông và Tây. Người phương Tây chỉ có “một” khái niệm linh hồn duy nhất (soul / spirit), nên họ ban cho ma cà rồng đầy đủ các đặc tính của “linh hồn”; trong khi người Trung Hoa với “hai” khái niệm linh hồn nhị nguyên, lại chỉ ban cho cương thi chữ “Phách”, còn chữ “Hồn” thì dành trọn cho loài quỷ.
Cấu trúc cổ xưa chấn động tiềm thức
Nhà văn viết tiểu thuyết kinh dị nổi tiếng người Mỹ Clive Barker từng nói:
“Hình ảnh muốn tạo ra sự chấn động đối với tiềm thức thì cần phải có một cấu trúc. Cấu trúc ấy có thể mang một truyền thống lịch sử hết sức tinh tế, đại diện cho cuộc hạnh ngộ giữa cá nhân và một phần bản ngã khác của chính mình. Mỗi thế hệ đều có những hình ảnh mới, và đó đều là sự tái kiểm chứng cùng tái diễn giải đối với vô thức tập thể (collective unconscious).”
Những bóng ma và cương thi thoắt ẩn thoắt hiện trong bút ký tiểu thuyết thời Minh - Thanh, hay thậm chí xa hơn nữa, quan niệm hồn phách bàng bạc trong tư tưởng Bách Gia Chư Tử, trải qua bao đời truyền miệng, nay đã trở thành “một phần bản ngã khác” của chúng ta. Trong thời đại công nghệ âm thanh và hình ảnh này, đại đa số mọi người có lẽ không còn đọc bút ký tiểu thuyết nữa, họ thưởng thức thứ “hình ảnh mới” mang tên điện ảnh. Song, nếu chúng ta có thể “tẩy trang” cho những hình tượng ma quỷ và cương thi trên màn ảnh đương đại, thì thứ hiện ra trước mắt ta vẫn cứ là cái “cấu trúc cổ xưa” và “truyền thống lịch sử tinh tế” như đã luận bàn ở trên.
Những hình tượng vừa rùng rợn vừa đầy ma lực ấy không chỉ đơn thuần khiêu khích các đầu dây thần kinh của chúng ta, mà chúng còn đang triệu hồi tiềm thức, khiến ta trong vô thức được ôn lại những ký ức chủng tộc và ký ức văn hóa cổ xưa về cái chết và linh hồn.
Bình luận