top of page

CHƯƠNG 4

58 phút trước
32 phút đọc

CHƯƠNG 4

Vượt ra ngoài nỗi sợ hãi và kinh hoàng — Mâu thuẫn song tình của con người đối với người đã khuất


“Những hồn ma và cương thi vì cự tuyệt cái chết mà quay trở lại cõi trần, cuối cùng cũng đều tự nguyện rút lui khỏi vũ đài nhân thế dưới sự trợ giúp hoặc xua đuổi của con người. Cấu trúc đầy mâu thuẫn mang tên ‘cự tuyệt cái chết / chấp nhận cái chết’ này kỳ thực phản ánh chính nỗi mâu thuẫn song tình (lưỡng giá cảm xúc) của nhân loại trước sự sống và cái chết.”


“Bất luận là truyện ma của Trung Hoa hay phương Tây, chúng đều tựa như một liệu trình tâm lý trị liệu mang tính văn học, được chia làm ba giai đoạn: một là tái hiện nỗi sợ hãi trong tâm khảm chúng ta; hai là đưa ra lời giải thích mang tính an ủi; và ba là cung cấp đối sách trị liệu để triệt tiêu nỗi sợ ấy.”


“Những câu chuyện ma lặp đi lặp lại cũng giống như những cơn ác mộng tái diễn trong giấc ngủ, hay những vở bi kịch không ngừng công diễn trên sân khấu: chúng nỗ lực mượn sự tích tụ của nỗi âu lo để khôi phục khả năng kiểm soát kích thích của chúng ta, hoặc mượn việc tái hiện nỗi sợ hãi và đớn đau trong lòng để gạn lọc, thanh tẩy cảm xúc.”


CÂU CHUYỆN

【Câu chuyện 25】 Từ đường họ Hoàng


Tại một địa phương nọ, người họ Hoàng tụ họp sống chung thành một làng lớn. Mọi người cùng nhau góp tiền dựng một ngôi từ đường bề thế, gian phòng sâu hun hút. Trong dòng tộc, hễ nhà nào không đủ sức an táng ngay hoặc đang chờ ngày lành tìm đất chôn cất, đều đem quan tài gửi tạm vào trong từ đường. Ngày qua tháng lại, quan tài gửi vào ngày một nhiều, hai gian hậu đường chật ních quan tài, từ đó bắt đầu đồn ra những chuyện kỳ quái. Ban đầu chỉ nghe thấy tiếng ma khóc giữa đêm khuya, về sau thậm chí ngay ban ngày ma quỷ cũng hiện hình. Bởi thế, những người đến từ đường tế tự chỉ dám bày biện lễ vật ở tiền sảnh, không một ai dám bước chân vào dãy nhà phía sau.


Trong tộc có một gã thiếu niên tính tình hiếu thắng, thường vỗ ngực khoe khoang mình chẳng sợ ma quỷ. Đám đông bèn khích bác, bảo nếu gã dám vào từ đường lúc nửa đêm và cắm một nén hương lên từng cỗ quan tài, mọi người sẽ khao gã một bữa tiệc rượu linh đình. Thiếu niên sảng khoái nhận lời ngay. Đêm đó, gã uống vài chén rượu lấy can đảm, mọi người tiễn gã đến tiền sảnh từ đường. Gã cầm một bó hương, vỗ ngực tự tin rồi rảo bước đi vào trong.


Gã cắm hương lên từng cỗ quan tài ở gian giữa. Cắm xong, đang định bước vào gian sau thì bỗng thấy từng bóng ác quỷ đầu bù tóc xõa bu kín lại quanh mình, con giơ tay cào, con há mồm chực cắn xé. Gã sợ đến toàn thân run lẩy bẩy, thở không ra hơi. Ngay giữa ngàn cân treo sợi tóc, bỗng có một bóng ma già vừa gạt đám quỷ ra vừa quát lớn: “Nó là cháu nội của ta, chúng mày không được dọa nó!”


Lũ quỷ nghe vậy mới hơi lùi lại. Hồn ma người ông nghiêm giọng quở trách thiếu niên: “Sao mày dám mò đến chốn này? Nếu không có ta ở đây, mày đã bị chúng nó xé xác ăn thịt từ lâu rồi; dẫu không bị ăn thịt thì âm khí xâm bức cũng đủ khiến mày mất mạng! May mà chúng ám mày chưa lâu, nhưng cũng đủ khiến mày một trận ốm thập tử nhất sinh. Mau cút ra ngoài ngay, không được nán lại đây thêm nửa khắc!” Thiếu niên nghe xong, lảo đảo cắm đầu chạy thục mạng ra ngoài.


Đám đông bên ngoài trông thấy gã mặt mày xám ngoét lao ra, cả người dường như gầy rộc đi một nửa vì khiếp hãi. Vừa chạy tới cửa từ đường, thiếu niên đã đổ gục xuống đất bất tỉnh. Mọi người vực gã về nhà, gã nằm liệt giường liệt chiếu hơn một tháng trời mới hồi phục. (Thanh · Thái Hằng Tử, “Trùng minh mạn lục”)


【Câu chuyện 26】 Thi biến


Cách thành huyện Dương Tín, tỉnh Sơn Đông chừng năm sáu dặm có một thôn trang tên gọi Thái Điếm. Một ông lão cùng con trai mở quán trọ ngay đầu ngã tư đường chuyên đón khách thương hồ qua lại. Mấy người phu xe mỗi bận chở hàng ngang qua đều ghé lại nghỉ đêm. Một hôm trời đã sẩm tối, bốn người phu xe lại tới xin trọ, song các phòng đều đã kín khách. Bốn người nài nỉ ông lão thu xếp chỗ cho bằng được. Ông lão ngẫm nghĩ hồi lâu, chợt nhớ ra một chỗ nhưng chỉ sợ khách phật ý; bốn người liền đáp chỉ cầu một mái che thân ngả lưng qua đêm, không dám kén chọn.


Bấy giờ con dâu của ông lão vừa mới qua đời, thi thể hãy còn quàn ở gian nhà phía đối diện bên kia đường, còn người con trai vào thành mua quan tài vẫn chưa về. Ông lão dẫn bốn người phu xe băng qua đường, bước vào căn phòng tĩnh mịch dùng làm linh đường ấy. Vào phòng, thấy trên bàn đặt một ngọn đèn dầu le lói, phía sau giăng một bức màn trướng, thi thể đặt bên trong màn, đắp tấm vải liệm bằng giấy. Chỗ ngủ của bốn người nằm ở gian buồng trong thông với linh đường, trong phòng vừa vặn kê bốn chiếc giường.


Đám phu xe do ban ngày bôn ba mệt nhọc, đầu vừa chạm gối đã thi nhau ngáy như sấm. Trong đó có một người còn đương thiu thiu nửa tỉnh nửa mơ, bỗng nghe ngoài linh đường phát ra tiếng sột soạt kỳ quái. Anh ta vội mở mắt ra nhìn; ngọn đèn dầu soi rõ mồn một trong ngoài linh đường: người đàn bà đã chết bỗng vén vải liệm ngồi dậy, chốc lát sau liền bước xuống giường linh, chậm rãi đi vào phòng trong. Mặt mụ mang sắc vàng nhạt, dải khăn lụa quấn đầu rủ xuống tận trán. Mụ bước đến gần giường, cúi gập người phà hơi thở lạnh toát vào mặt ba người phu xe đang ngủ say. Người phu xe chưa ngủ sợ đến hồn phi phách tán, kinh hãi sợ cương thi sẽ phà hơi vào mình, bèn lén kéo chăn trùm kín mít đầu, nín thở bất động. Một lát sau, nữ thi quả nhiên bước tới trước giường anh ta, cúi xuống phà hơi lạnh.


Cảm thấy mụ đã bước ra ngoài linh đường, lại nghe thấy tiếng sột soạt vén vải liệm, người phu xe mới dám hé đầu nhìn trộm, thấy xác chết lại nằm đơ cứng trên giường linh như cũ. Anh ta sợ không dám lên tiếng, lén dùng chân đạp những người bên cạnh nhưng họ tuyệt nhiên bất động. Hoảng loạn không biết tính sao, anh ta toan bụng tẩu thoát, nhưng vừa nhỏm dậy với lấy áo quần thì lại nghe thấy tiếng lạo xạo, sợ quá vội chui tọt vào chăn trùm kín đầu. Chỉ thấy con cương thi kia lại bước vào, tiếp tục phà hơi vào mặt từng người, thổi đi thổi lại mấy bận mới chịu rời đi.


Chẳng bao lâu, nghe tiếng giường linh kẽo kẹt, biết cương thi đã nằm xuống trở lại, người phu xe mới rón rén thò tay lấy chiếc quần mặc vào, rồi cắm đầu cắm cổ chân trần lao thục mạng ra cửa. Ngờ đâu lúc này con cương thi bỗng bật dậy, làm bộ đuổi theo. Khi người phu xe vừa lao ra khỏi cửa thì cương thi cũng đã rời giường đuổi sát nút phía sau. Anh ta vừa chạy vừa kêu cứu thất thanh, nhưng chẳng ai đáp lại; định gõ cửa gọi chủ quán trọ thì lại sợ chậm trễ sẽ bị cương thi tóm được, đành liều mạng nhắm thẳng hướng đại lộ dẫn vào thành mà chạy rẽ đất.


Chạy một mạch đến ngoại ô phía đông huyện thành, người phu xe trông thấy một ngôi chùa, bên trong vẳng ra tiếng mõ cầm canh, anh ta vội vàng đập cửa cầu cứu. Vị đạo sĩ trong chùa lấy làm lạ nhưng không ra mở cửa ngay. Chẳng mấy chốc, cương thi đã đuổi tới nơi, áp sát ngay sau lưng. Đường cùng lối cụt, người phu xe đành lách mình nấp sau một cây bạch dương cổ thụ trước cổng chùa. Cương thi chồm sang phải thì anh ta né sang trái, cương thi vồ mãi không trúng nên vô cùng giận dữ; lúc này đôi bên đều đã kiệt sức. Bỗng nhiên, cương thi đứng sững bất động, người phu xe mồ hôi đầm đìa nhân cơ hội trèo tót lên cây. Cương thi bỗng nhảy chồm lên, hai tay vồ thẳng về phía anh ta; người phu xe hoảng hốt ngã nhào từ trên cây xuống đất. Cương thi vồ hụt, nhưng hai tay lại bập chặt vào thân cây bạch dương, đứng sững đơ cứng như khúc gỗ.


Đạo sĩ trong chùa ghé tai nghe ngóng hồi lâu, đợi đến khi bên ngoài bặt hẳn tiếng động mới hé cửa ngó ra. Trông thấy người phu xe nằm ngất lịm dưới đất, đạo sĩ cầm nến soi gần, ngỡ đã tắt thở nhưng sờ ngực thấy tim còn đập thoi thóp, bèn vực vào trong chùa, mãi đến rạng đông anh ta mới tỉnh lại.


Người phu xe tỉnh dậy, đạo sĩ cho uống nước nóng rồi gặng hỏi nguyên do, anh ta mới đem đầu đuôi câu chuyện kể lại tường tận. Bấy giờ chuông sớm của chùa đã điểm, đạo sĩ bước ra ngoài cổng, trong màn sương sớm lờ mờ quả nhiên nhìn thấy một nữ cương thi đang ôm chặt lấy thân cây bạch dương không nhúc nhích. Đạo sĩ kinh hoàng vội lên quan báo án. Huyện quan đích thân đến hiện trường khám nghiệm, sai người trèo lên cây gỡ hai tay nữ thi ra, nhưng bám chặt đến mức không tài nào lay chuyển nổi. Xem xét kỹ mới thấy tám ngón tay ở hai bàn tay cương thi quắp lại như móc sắt, cắm sâu vào tận thớ gỗ. Quan bèn điều thêm nhiều tráng đinh đồng lòng dùng sức giật mạnh mới lôi được mụ xuống. Chỗ móng tay cắm vào thân cây sâu hoắm như thể dùng đục đục lỗ.


Huyện quan phái sai dịch đến nhà chủ quán trọ, đúng lúc người nhà đang xôn xao bàn tán chuyện xác chết biến mất và ba người khách trọ đột tử trong phòng. Sai dịch kể lại đầu đuôi cho ông lão nghe, ông lão mới theo sai dịch tới nhận diện và chở thi thể về. Người phu xe sống sót vừa khóc vừa thưa với huyện quan: “Bốn người chúng tôi cùng nhau rời quê hương đi làm ăn, nay chỉ còn trơ trọi một mình tôi sống sót trở về, biết ăn nói làm sao với bà con chòm xóm?” Huyện quan bèn cấp cho anh ta một tờ công văn, ghi rõ sự tình để mang về quê ăn nói với mọi người. (Thanh · Bồ Tùng Linh, “Liêu trai chí dị”)


【Câu chuyện 27】 Ma vấn vương vợ


Có một người họ Chu, nhà ở bờ bắc sông Ngự Hà. Một đêm khuya nọ, trên đường về nhà đi ngang qua con ngõ vắng, Chu mỗ thấy một người đàn ông đang ghé sát vào cửa sổ sau mé đường của một ngôi nhà để nhìn trộm vào trong. Chu mỗ bước tới trách móc: “Nhìn trộm phòng riêng nhà người ta, còn ra thể thống gì nữa?” Kẻ kia chẳng thèm đoái hoài, vẫn dán mắt vào khe cửa sổ ngó nghiêng.


Chu mỗ thấy hắn không nghe lời can gián, nổi giận giơ tay kéo giật hắn lại. Người kia bỗng quay ngoắt đầu lại: chỉ thấy sắc mặt hắn khô đét như khúc củi mục, tóc tai bù xù như cỏ rác, hai hốc mắt sâu hoắm lóe lên hung quang rợn người, miệng làu bàu với Chu mỗ: “Can hệ gì đến mày!” Dứt lời, hắn vặn ngược tay bóp chặt lấy lưng Chu mỗ. Chu mỗ chỉ cảm thấy bàn tay đối phương lạnh buốt như băng tuyết, bóp mạnh đến đau thấu tận tâm can. Thoắt một cái, bóng người kia bỗng biến mất không để lại dấu vết.


Chu mỗ sợ đến tè cả ra quần, cắm đầu chạy thục mạng. Hôm sau dò hỏi mọi người, mới hay ngôi nhà có gã đàn ông rình trộm kia đêm qua có người cưới một góa phụ về làm vợ kế, tối qua chính là đêm động phòng hoa chúc. Mọi người đều bảo bóng ma mà Chu mỗ trông thấy chính là người chồng trước của cô dâu, vì còn nhớ thương vợ nên mới từ cõi âm trở về nhìn lén một phen. (Thanh · Lý Khánh Thần, “Túy trà chí quái”)


【Câu chuyện 28】 Giường quan tài


Tú tài Lục Hà Linh trên đường đến làm mạc khách (thư ký cố vấn) ở Phúc Kiến, một buổi chiều muộn đi ngang qua huyện Giang Sơn thì trời đổ mưa như trút nước. Nhìn thấy phía trước nơi lùm cây rậm rạp có vài gian nhà ngói, ông bèn tới gõ cửa xin tá túc một đêm. Người chủ mở cửa đón khách có phong thái khá nho nhã, tự xưng họ Thẩm, cũng là một bậc tú tài. Thẩm mỗ áy náy phân trần trong nhà không còn dư phòng trống để đãi khách, Lục mỗ liên tục chắp tay khẩn khoản, Thẩm mỗ ngẫm nghĩ một hồi lâu rồi chỉ tay về phía gian phòng ở chái đông, nói: “Vậy ngài sang bên ấy nghỉ tạm vậy!” Bèn cầm nến dẫn Lục mỗ vào phòng.


Lục mỗ vừa bước vào phòng, liếc thấy bên chái trái gian nhà lại quàn sẵn một cỗ quan tài, trong lòng không khỏi rợn tóc gáy. Nhưng nghĩ bụng xưa nay mình vốn gan dạ, vả lại ngoài nơi này ra chẳng còn chốn nương thân, đành chắp tay tạ ơn Thẩm mỗ.


Trong phòng vốn kê sẵn một chiếc giường gỗ, Lục mỗ đặt hành lý lên giường. Tiễn chủ nhà ra khỏi cửa, một mình đối diện với cỗ quan tài, trong lòng càng nghĩ càng sợ, bèn lấy cuốn Kinh Dịch trong tay nải ra ngồi đọc dưới ánh đèn, đến tận canh hai vẫn chẳng dám tắt nến, chỉ mặc nguyên quần áo ngả lưng xuống giường chợp mắt.


Một lát sau, ông nghe thấy trong quan tài phát ra tiếng lục cục sột soạt, hé mắt nhìn trộm thì nắp quan tài đã mở toang từ lúc nào, một ông lão râu bạc mang giày đỏ đang thò hai chân trèo ra ngoài. Lục mỗ sợ chết khiếp không dám động đậy, hai tay nắm chặt màn giường, nhưng mắt vẫn không kìm được hé qua khe màn nhìn trộm. Chỉ thấy ông lão râu bạc bước đến chỗ chiếc bàn ông vừa ngồi lúc nãy, lật giở cuốn Kinh Dịch xem qua, dường như chẳng hề sợ hãi thứ kinh sách trừ tà ấy. Kế đó, ông lão lại móc từ trong tay áo ra một chiếc tẩu thuốc, ghé vào ngọn nến châm lửa rít thuốc phì phèo. Lục mỗ càng thêm kinh sợ, bụng nghĩ con ma này vừa không sợ Kinh Dịch, lại vừa biết hút thuốc, đích thị là một con ác quỷ ghê gớm.


Vì nơm nớp sợ ông lão ma quái kia bước lại gần giường, Lục mỗ nín thở dõi theo từng cử động của đối phương, người không kìm được run bần bật, làm cả chiếc giường rung lắc theo. Ông lão râu bạc quay đầu nhìn về phía chiếc giường mỉm cười, nhưng không bước lại. Một lát sau, ông nhét tẩu thuốc vào tay áo, tự giác trèo trở lại vào quan tài, rồi kéo nắp quan tài đậy kín lại.


Trải qua phen kinh hồn bạt vía, Lục mỗ thức trắng cả đêm không dám chợp mắt. Sáng sớm hôm sau, chủ nhà bước vào phòng ân cần hỏi han đêm qua ngủ có yên giấc không. Lục mỗ gượng gạo đáp: “Cũng tạm, chỉ là không hay cỗ quan tài kia quàn thi thể của vị nào?”


Thẩm mỗ đáp: “Đó là thân phụ của tôi.” Lục mỗ vô cùng kinh ngạc hỏi: “Đã là lệnh tôn, sao lại quàn quan tài trong nhà mà không đem an táng?”


Thẩm mỗ lúc này mới bật cười giải thích: “Thân phụ tôi vẫn mạnh khỏe an khang, sống sờ sờ ra đó. Chỉ là cụ tính tình khoáng đạt, cho rằng đời người xưa nay ai mà chẳng phải chết, chi bằng cứ tự mình tập dượt trước một phen? Vì thế sau khi mừng đại thọ bảy mươi, cụ tự chuẩn bị cỗ thọ quan này, bên trong dán giấy bông dày dặn, lại trải sẵn chăn nệm êm ái, đêm nào cụ cũng nhất quyết ngủ trong quan tài, coi quan tài như chiếc giường của mình vậy.”


Thẩm mỗ dứt lời liền kéo Lục mỗ đến trước quan tài, gọi ông lão thức dậy. Chỉ thấy nắp quan mở ra, người trèo ra quả nhiên chính là ông lão râu bạc mà đêm qua Lục mỗ trông thấy dưới ánh đèn. Sau khi Lục mỗ và ông lão thi lễ chào nhau, ông lão cười bảo: “Đêm qua làm quý khách kinh sợ rồi phải không?” Cả ba người cùng vỗ tay cười òa. Lục mỗ nhìn kỹ cỗ quan tài, bốn vách đều làm bằng gỗ sa mộc, bên trong rộng rãi, nắp quan tài lại làm bằng lụa viền then phủ sơn đen, vừa thông thoáng lại vừa vô cùng nhẹ nhàng! (Thanh · Viên Mai, “Tử bất ngữ”)


【Câu chuyện 29】 Vợ ma quấy phá phòng tân hôn


Nhiếp Bằng Vân ở huyện Thái An lấy vợ tình cảm mặn nồng son sắt. Về sau người vợ chẳng may mắc bệnh qua đời, Nhiếp mỗ ngày đêm thương nhớ khôn nguôi, cả ngày thơ thẩn như người mất hồn. Một đêm nọ, chàng đang ngồi một mình dưới ánh đèn thì thấy người vợ quá cố bỗng đẩy cửa bước vào. Nhiếp mỗ vừa mừng vừa sợ, hỏi sao nàng có thể trở về được? Nàng đáp: “Thiếp tuy làm ma, nhưng cảm kích nỗi tương tư đau buồn của chàng, đã khẩn khoản xin phép Diêm Vương dưới cõi âm, được ngài thương tình ân chuẩn mới được trở về nối lại tiền duyên với chàng.” Nhiếp mỗ nghe xong mừng rỡ khôn xiết, ôm choàng lấy vợ lên giường, ân ái mặn nồng như thuở nào. Từ đó về sau, vợ ma cứ thoắt đến thoắt đi, thấm thoát đã hơn một năm trôi qua, Nhiếp mỗ chẳng màng đến chuyện tục huyền nối dõi.


Các bậc chú bác anh em trong họ lo chàng tuyệt tự, lén khuyên chàng nên cưới vợ kế. Nhiếp mỗ sau cùng cũng xuôi lòng nhận lời, tìm một cô gái nhà lành đàng hoàng làm lễ dạm hỏi; song sợ người vợ ma phật ý nên giấu kín không hé răng nửa lời. Chẳng bao lâu, ngày cưới cận kề, chuyện đến tai vợ ma. Nàng nghiêm giọng trách móc: “Ta vì tấm chân tình của chàng mà cam lòng chịu sự trừng phạt nơi cõi u minh để về đây sum họp. Nay chàng bội ước nuốt lời, lẽ nào đó là tấm lòng chung tình của chàng đối với ta sao?” Nhiếp mỗ phân trần đó là ý của họ hàng, nhưng vợ ma mặt vẫn đầy giận dữ, cuối cùng phất tay áo bỏ đi. Nhiếp mỗ tuy thương xót nàng, nhưng nghĩ bụng được bên này mất bên kia, đời người ai chẳng thế.


Đến đêm động phòng hoa chúc, Nhiếp mỗ và cô dâu vừa lên giường chuẩn bị loan phụng hòa minh thì bóng ma người vợ bỗng nhiên xuất hiện. Mụ lao tới giáng cho cô dâu mấy cái tát trời giáng, lớn tiếng chửi rủa: “Mày là đứa nào mà dám chiếm giường của bà?” Cô dâu kinh hoảng vùng dậy, giằng co xô đẩy với người vợ ma; Nhiếp mỗ khó xử ngồi một bên, chẳng dám thiên vị bên nào. Cứ thế giằng co dùng dằng mãi đến khi gà gáy sáng, người vợ ma mới chịu rút lui. Cô dâu nghi ngờ vợ trước của Nhiếp mỗ chưa chết, ngỡ mình bị lừa cưới nên đòi thắt cổ tự tử. Cực chẳng đã, Nhiếp mỗ đành đem đầu đuôi câu chuyện kể rõ, cô dâu mới biết đối phương là ma.


Đêm thứ hai, vợ ma lại đến, cô dâu sợ hãi lánh sang chỗ khác. Lần này con ma cũng chẳng buồn ân ái với Nhiếp mỗ, chỉ dùng móng tay bấm véo da thịt chàng liên hồi, rồi ngồi trơ trơ bên ngọn nến, mắt hằm hằm nhìn Nhiếp mỗ không nói nửa lời. Mấy đêm liền đều diễn ra như thế, Nhiếp mỗ chịu không thấu nỗi đọa đày, cuối cùng đành phải nhờ một thuật sĩ làng bên vót cọc gỗ đào đóng chặt quanh bốn góc mộ của người vợ quá cố, bóng ma mới bặt tăm không xuất hiện nữa. (Thanh · Bồ Tùng Linh, “Liêu trai chí dị”)


【Câu chuyện 30】 Chỉ cần nói một chữ sợ


Bậc đại nho Đái Đông Nguyên kể lại rằng, một người ông trong họ của ngài từng dọn đến ở trong một gian nhà bỏ hoang trong con ngõ hẻo lánh. Căn nhà này đã lâu không có người ở, hàng xóm láng giềng đều đồn đại trong nhà có ma, song cụ Đái khẳng khái bảo: “Ta đây chẳng sợ ma!”


Đêm xuống, ma quả nhiên hiện hình dưới ánh đèn, âm khí lạnh buốt thấu xương xông tới, nhưng cụ Đái vẫn ung dung bất động. Một con quỷ khổng lồ tiến sát lại gần cụ hỏi: “Ngươi không sợ ma sao?” Cụ Đái điềm nhiên đáp: “Phải, ta không sợ ma.” Con quỷ lớn bèn biến hóa ra đủ thứ hình dạng dữ tợn, gớm ghiếc tột cùng, rồi lại hỏi: “Thế này mà ngươi vẫn không sợ ư?” Cụ Đái bảo: “Vẫn không sợ!”


Lúc này, khí thế của con quỷ hơi chùng xuống, nó bảo: “Ta cũng chẳng nhất thiết phải đuổi ngươi đi, chỉ là ghét cái thói nói khoác của ngươi thôi. Ngươi chỉ cần nói một chữ ‘Sợ’, ta lập tức biến đi ngay.” Cụ Đái nổi giận quát: “Ta thực lòng không sợ ngươi, cớ sao phải nói dối là sợ ngươi? Ngươi muốn làm gì thì tùy ý!” Con quỷ mặt dày quấy rầy đủ cách, cụ Đái nhất quyết coi như không thấy, chẳng thèm đếm xỉa. Con quỷ cùng đường đành thở dài than thở: “Ta ở đây hơn ba mươi năm, chưa từng thấy kẻ nào bướng bỉnh ngang ngạnh như ngươi. Thứ ngu độn gàn dở thế này, sao ta có thể chung sống cùng một phòng được cơ chứ?” Dứt lời, nó liền biến mất hút.


Có người trách cụ Đái: “Sợ ma là lẽ thường tình của con người, cụ cứ việc ậm ừ nói bừa một chữ ‘sợ’ cho xong chuyện, giữ cho đôi bên yên ổn, hà tất phải căng thẳng hơn thua đến cùng như vậy?” Cụ Đái đáp: “Người có đạo lực thâm hậu có thể nhờ công phu tĩnh tại mà xua đuổi tà ma, nhưng ta không phải hạng người ấy. Ta hoàn toàn dựa vào chính khí dũng mãnh để áp chế ác quỷ; khi khí thế của ta đang thịnh, quỷ không thể uy hiếp được ta, điều đó phần nào kiềm chế được nó. Nhược bằng khí thế của ta vừa suy suyển chùn bước, con quỷ sẽ tìm ra kẽ hở thừa cơ lấn tới ngay. Con quỷ kia tìm đủ trăm phương nghìn kế cốt để dụ dỗ ta mở miệng nhụt chí, may mà ta không mắc mưu của nó.” Mọi người nghe xong đều tấm tắc khen lời cụ Đái chí lý. (Thanh · Kỷ Hiểu Lam, “Duyệt vi thảo đường bút ký”)


LUẬN BÀN

Tình yêu và nỗi sợ hãi trong nghi thức tang ma

Khi ma quỷ và cương thi được chế tạo ra và bước vào trong các câu chuyện, chúng lập tức phát sinh muôn vàn mối quan hệ tương tác với con người, từ đó định hình nên cái gọi là tình tiết hay cấu trúc tự sự.


Để thấu hiểu cấu trúc của câu chuyện, trước hết ta phải hiểu được mô thức tương tác giữa con người với ma quỷ hoặc cương thi; mà muốn hiểu được điều này, lại cần nhận thức rõ thái độ căn bản của loài người đối với cái chết và người chết, bởi lẽ ba yếu tố này gắn bó khăng khít không thể tách rời.


Thái độ căn bản của con người đối với cái chết và người đã khuất được bộc lộ một cách sinh động nhất trong các nghi thức tang ma. Về phương diện này, người Trung Hoa không có quá nhiều khác biệt so với các dân tộc khác trên thế giới.


E. S. Hartland trong chuyên luận Cái chết và việc xử lý thi thể (Death and Disposal of the Dead) từng nhận định:


“Mọi nghi thức tử vong đều bao hàm hai động cơ nhằm tìm kiếm sự tự chủ của con người: một mặt, xuất phát từ nỗi sợ hãi đối với cái chết và người chết, con người sợ làm ô uế thi thể nhưng đồng thời lại khao khát ngăn chặn sự quấy phá của hồn ma; mặt khác, họ lại bộc lộ những tình cảm chân thật hoặc ngụy trang đối với người đã khuất, nhằm thương tiếc sự ra đi của người đó. Do vậy, trong toàn bộ nghi thức, người đã khuất phải gánh chịu đồng thời cả tình yêu lẫn nỗi sợ hãi đến từ thân nhân của mình — bởi những người thân ấy chính là những kẻ được hưởng nhiều nhất và cũng mất mát nhiều nhất từ cái chết của họ.”

Trong nghi thức tang ma, ta rất dễ dàng nhận ra sự bộc lộ của tình yêu thương và nỗi bi thương: chẳng hạn như tắm rửa khâm liệm thi thể (sái tịnh), thay cho người chết bộ quần áo mới tinh tươm sạch sẽ, chải chuốt mái tóc, chuẩn bị những vật phẩm tượng trưng phục vụ cho nhu cầu ăn, mặc, ở, đi lại, giải trí của “người ấy” ở “thế giới bên kia”. Thân nhân một mặt dốc hết lòng yêu thương và hiếu thuận để lo toan cho người đã khuất; mặt khác, bản thân họ lại khoác lên mình bộ tang phục tượng trưng cho sự đau buồn, khóc lóc thảm thiết, đồng thời mời đạo sĩ, nhà sư về tụng kinh siêu độ vong hồn. Những biểu hiện của tình yêu và nỗi bi thương này đều hiển lộ rõ ràng, và thông thường là sự bộc lộ tự nhiên của cảm xúc chân thực.


Thế nhưng, nỗi sợ hãi đối với người chết lại được biểu đạt bằng một phương thức kín đáo và tế vi hơn nhiều. Chẳng hạn như trong tang lễ truyền thống ở Đài Loan, khi người chết nhập liệm, gia quyến sẽ dùng một sợi dây gai buộc một đầu vào cổ tay áo của người chết, đầu kia xé nhỏ ra chia cho từng người trong nhà nắm lấy; sau đó nhờ “Sư công” (thầy cúng) dùng dao chặt đứt sợi dây, hàm ý “đoạn tuyệt” với linh hồn người chết. Kế đó, người ta đặt vào trong quan tài những viên sỏi, gối đá, trứng luộc chín, đậu xị..., ngầm gửi gắm thông điệp: trừ phi đá mục nát, trứng chín nở ra gà, đậu chín nảy mầm, bằng không người chết tuyệt đối không được quay về “hãm hại” người nhà. Còn việc chôn sâu quan tài xuống lòng đất, bên trên đắp đất dày hoặc chặn đá tảng lớn, thực chất cũng bắt nguồn từ nỗi sợ hãi ngăn không cho người chết quay trở lại nhân gian.


Những nghi thức tang lễ như thế chứng minh rằng: đối với người đã khuất, nhân loại luôn ôm ấp một mối mâu thuẫn song tình (lưỡng giá cảm xúc) vừa mang tên “Yêu thương”, vừa mang tên “Sợ hãi”.


Khi người chết cự tuyệt cái chết, trở lại nhân gian

Trong nghi lễ tang ma, tình cảm yêu thương mà con người bộc lộ đối với người chết — việc chuẩn bị đầy đủ vật dụng sinh hoạt cho họ sang “thế giới bên kia” — có thể xem là sự bộc lộ của ý niệm “cự tuyệt cái chết”, cự tuyệt việc tin rằng người thân yêu của mình cứ thế tan biến thành tro bụi hư vô. Trái lại, nỗi sợ hãi đối với người đã khuất — các nghi thức mang màu sắc phù thuật kiểu như “chờ đá mục, trứng chín nở con mới được trở về” — chính là sự phóng chiếu của ý niệm “chấp nhận cái chết”, buộc người chết phải chấp nhận cái chết như một định mệnh tối hậu không thể đảo ngược.


Do đó, sự giằng xé giữa “Yêu thương / Sợ hãi” trên thực tế cũng chính là đại diện cho cấu trúc mâu thuẫn giữa “Cự tuyệt cái chết / Chấp nhận cái chết”. Hai cấu trúc song trùng này cấu thành nên thái độ căn bản nhất của loài người trước cái chết và người chết.


Chúng chính là chiếc khung tham chiếu cốt lõi và hữu hiệu nhất giúp chúng ta thấu hiểu các câu chuyện về ma quỷ và cương thi. Bởi lẽ, cốt lõi của mọi truyện ma và cương thi đều miêu tả một tình cảnh duy nhất: người chết cự tuyệt cái chết để trở về cõi trần.


Trong câu chuyện Từ đường họ Hoàng, xét về mặt lý lẽ, con người chính vì tràn trề tình yêu thương và nỗi tưởng nhớ tổ tiên nên mới lập nên từ đường, phụng thờ bài vị liệt tổ liệt tông; và việc đến từ đường cúng tế cũng xuất phát từ niềm tin rằng linh hồn tiền nhân vẫn tồn tại để hưởng thụ những phẩm vật này. Thế nhưng, một khi trong từ đường rộ lên tin đồn có ma — tức là người chết thực sự cự tuyệt cái chết để hiện hình trở lại trần thế — thì phản ứng của người sống lại hoàn toàn không phải là sự hân hoan “rốt cuộc đã chứng minh được linh hồn tổ tiên có thật” để vội vã chạy đến trùng phùng; ngược lại, họ bộc lộ nỗi kinh hoàng rợn tóc gáy, sợ hãi và xa lánh đến mức không kịp trốn, đúng như câu chuyện miêu tả: “người đến từ đường tế tự chỉ dám bày biện lễ vật ở tiền sảnh, không một ai dám bước chân vào dãy nhà phía sau.”


Còn gã thiếu niên đánh cược với bạn bè kia, khi một mình bước vào gian hậu đường trong đêm khuya, tận mắt chứng kiến bầy ma quỷ vây bủa thì sợ đến gần chết, về nhà “nằm liệt giường liệt chiếu hơn một tháng mới hồi phục”. Điều đó cho thấy lời khoe khoang “ta đây không sợ ma” của gã hoàn toàn không chịu nổi thử thách thực tế; thực chất trong sâu thẳm, gã sợ ma đến chết khiếp!


Trong tang lễ, nỗi sợ hãi đối với người chết được bộc lộ một cách kín đáo, có thể coi là nội hàm tâm lý thuộc tầng sâu tiềm thức. Và những câu chuyện ma quỷ, cương thi chính là chiếc đòn bẩy khuấy đảo, lật tung toàn bộ lớp nội hàm tâm lý tiềm ẩn ấy trồi lên bề mặt ý thức.


Tác dụng lan tỏa của nỗi sợ hãi và âu lo

Câu chuyện Thi biến vô cùng khủng khiếp, nhưng cũng chính nhờ nỗi kinh hoàng tột độ ấy mà ta mới có cơ hội nhìn thấu xem con người thực sự đang sợ hãi điều gì.


Dù trong thời đại khoa học phát triển rực rỡ ngày nay, rất nhiều người theo chủ nghĩa “vô thần/vô quỷ”, song khi bước qua bãi tha ma tăm tối lúc nửa đêm, ai nấy đều ít nhiều nảy sinh những phản ứng lo âu nhất định. Lý trí liên tục trấn an: “Trên đời làm gì có ma quỷ”, nhưng hệ thần kinh dường như chẳng chịu nghe lời: lòng bàn tay túa mồ hôi lạnh, hơi thở dồn dập gấp gáp. Theo quan điểm của phân tâm học, phản ứng bất giác không tự chủ này bắt nguồn từ “nỗi lo âu về cái chết” (death anxiety) nằm sâu trong tiềm thức của chúng ta. Việc tận mắt chứng kiến một tử thi sẽ trực tiếp kích hoạt nỗi lo âu cái chết ấy; vì thế chúng ta luôn mang một nỗi sợ hãi gần như thuộc về bản năng đối với xác chết. Nỗi sợ hãi này lại tiếp tục “lan tỏa” (khuếch tán) sang tất cả những nơi chốn gắn liền với tử thi — chẳng hạn như quan tài, mồ mả, linh đường, nhà xác, nhà có án mạng (hung trạch), v.v.


Nghi thức tang ma và tế tự cổ xưa của Trung Hoa vốn dĩ tuân theo nguyên tắc “Mộ táng miếu tế” (Chôn xác nơi mồ mả, cúng tế tại miếu đường) — mồ mả chỉ là nơi chôn giấu thi thể, còn hồn phách của người chết thì nương náu trên bài vị thần chủ được thờ phụng tại tông miếu, từ đường hay bàn thờ gia tiên, để con cháu cõi dương định kỳ tế lễ. Cách sắp đặt này dường như có ý đồ muốn rũ bỏ nỗi sợ hãi đối với xác chết, nhưng hiển nhiên đã không thành công. Bởi lẽ trong các truyền kỳ về hồn phách, ta hầu như chẳng bao giờ thấy bóng ma nào chui ra từ chiếc bài vị cả. Nơi ma quỷ xuất hiện luôn luôn là những chốn gắn liền với xác chết: bãi tha ma, ngôi chùa quàn quan tài, từ đường, nơi chôn cất thi thể...


Từ đây ta cũng có thể nhận ra: việc chế tạo nên ma quỷ và cương thi, ngoài những trải nghiệm tri giác giác quan đặc thù và đặc trưng văn hóa Trung Hoa ra, còn phải bổ sung thêm một yếu tố trọng yếu — đó chính là nỗi lo âu về cái chết nằm sâu trong nội hàm tâm lý tiềm thức. Việc một con ma trèo ra từ cỗ quan tài luôn tạo cảm giác rùng rợn hơn nhiều so với một bóng ma bước ra từ cánh rừng; hay việc cương thi khiến người ta khiếp đảm hơn ma quỷ, âu cũng đều vì đối tượng trước dễ gợi liên tưởng đến xác chết hoặc tiếp cận gần hơn với bản thân tử thi.


Cấu trúc “Cự tuyệt cái chết / Chấp nhận cái chết”

Sau khi đã có nhận thức sơ khởi về hai cấu trúc căn bản “Yêu thương / Sợ hãi”, “Cự tuyệt cái chết / Chấp nhận cái chết” cũng như việc con người thực sự đang sợ “cái gì”, chúng ta hãy cùng xem xét xem truyện ma và cương thi mang cấu trúc tự sự như thế nào. Để hiểu cấu trúc câu chuyện, tốt nhất nên bắt đầu từ những mẩu chuyện giản đơn. Truyện Thi biến dẫu dung lượng khá dài, song cấu trúc lại vô cùng đơn giản (rất may là cương thi không có tư tưởng, ký ức và tình cảm):


Một người chết cự tuyệt cái chết, hóa thành cương thi quay trở lại dương gian tàn sát người sống; con người bộc lộ nỗi kinh hoàng tột độ đối với nó; nhưng cuối cùng cương thi lại mất đi sinh lực (nhờ mặt trời mọc và gà gáy sáng), bị đem đi mai táng lại, chấp nhận cái chết thực sự; và nỗi sợ hãi của con người cũng theo đó tan biến, không còn sợ hãi nữa.

“Cự tuyệt cái chết / Chấp nhận cái chết” và “Kích hoạt nỗi sợ / Triệt tiêu nỗi sợ” chính là hai cấu trúc cơ bản trong câu chuyện này. Cấu trúc thứ nhất hướng về kẻ cự tuyệt cái chết trở lại cõi trần; còn cấu trúc thứ hai lại nhắm vào phản ứng tâm lý của con người.


Hai cấu trúc căn bản này lặp đi lặp lại trong tất cả các câu chuyện cương thi được dẫn ra trong sách từ đầu đến giờ. Nếu đem chúng đối chiếu với những truyện ma phức tạp hơn, ta không khó để nhận ra rất nhiều truyện ma kỳ thực cũng sở hữu cấu trúc tương tự: chẳng hạn như Vợ ma quấy phá phòng tân hôn, hay ở các chương trước như Mục Tiểu Quỳnh phục thù, Sinh con trong quan tài, Ông lão mua quan tài... Những bóng ma vì cự tuyệt cái chết mà quay lại trần gian, sau khi phát sinh muôn vàn tương tác với con người, rốt cuộc đều tự nguyện, hoặc dưới sự trợ giúp hay xua đuổi của người sống, rút lui khỏi vũ đài nhân thế, chấp nhận cái chết thực sự. Và con người trong suốt quá trình đó dẫu bị kích hoạt những mức độ lo âu, sợ hãi khác nhau, song cuối cùng đều đạt được sự giải tỏa, an lòng.


Cấu trúc câu chuyện như thế tạo nên một mối quan hệ “cộng hưởng” với hai cấu trúc căn bản của con người trước cái chết và người chết đã nêu ở trên. Xét về cấu trúc “Cự tuyệt cái chết / Chấp nhận cái chết”, nó đại diện cho mối mâu thuẫn song tình của con người đối với sự sống và cái chết: bóng ma hay cương thi xuất hiện do “cự tuyệt cái chết” hiển nhiên là sự phóng chiếu ý niệm “chối bỏ cái chết” của chính bản thân con người; song số phận tối hậu của chúng — “chấp nhận cái chết” — lại cũng chính là định mệnh tối hậu mà loài người buộc phải cúi đầu chấp nhận. Nó đều là sự phóng chiếu của nội hàm tâm lý con người; hình thái câu chuyện này phần nào phản ánh những giằng xé mâu thuẫn giữa ý thức và tiềm thức bên trong chúng ta.


Một liệu trình tâm lý trị liệu mang tính văn học

Các nhà nhân học và tâm lý học đều đồng thanh chỉ ra rằng: nỗi sợ hãi đối với một đối tượng nào đó thường dẫn đến những tư tưởng sùng bái tôn giáo và các hành vi mang tính nghi thức. Nỗi sợ đối với thi thể và người chết, khi biểu hiện cụ thể trên bình diện văn hóa, chính là “thận chung” (nghi lễ tang ma chu toàn) và “truy viễn” (tụng niệm, thờ phụng tổ tiên lâu dài); mục đích của nó không chỉ để biểu đạt tình yêu và nỗi sợ, mà đồng thời còn nhằm hạ thấp, xoa dịu nỗi sợ hãi ấy.


Cấu trúc “Kích hoạt nỗi sợ / Triệt tiêu nỗi sợ” trong các câu chuyện ma và cương thi dường như cũng mang chức năng của một nghi thức. Dĩ nhiên đây không phải là việc diễn lại nghi thức tang tế tổ tiên, mà xét về bản chất, nó giống như một nghi thức tâm lý trị liệu nguyên sơ.


Đa phần các liệu trình tâm lý trị liệu đều mang cấu trúc chung ba bước:


  1. Tái hiện nỗi sợ hãi trong lòng thân chủ;


  2. Đưa ra lời giải thích mang tính an ủi, giải tỏa;


  3. Tiến hành can thiệp trị liệu để triệt tiêu nỗi sợ hãi.


Và đại đa số các câu chuyện ma quái cũng sở hữu đúng “cấu trúc văn học” của một liệu trình tâm lý trị liệu như vậy:


1. Tái hiện nỗi sợ hãi trong tâm khảm: Trong đêm tối mịt mùng, đương sự (thường là một cá nhân đơn độc) bị đặt vào những bối cảnh gợi nhắc đến xác chết hoặc nhuốm màu tử khí: nghĩa địa, linh đường, ngôi cổ tự quàn quan tài, từ đường, căn nhà ma ám, nơi hoang dã hẻo lánh. Kết quả là ma quỷ hay cương thi xuất hiện; con người không nơi trốn chạy buộc phải trực diện tiếp xúc với chúng. Kẻ mặt mày dữ tợn như dạ xoa đương nhiên lập tức khiến người ta rợn tóc gáy; còn kẻ đẹp tựa thiên tiên thì cũng toát lên vẻ ma mị khác thường, việc chuyển từ nghi ngờ sang kinh hãi chỉ là chuyện sớm muộn. Đoạn mở đầu của các truyện Thi biến, Ma vấn vương vợ, Giường quan tài đều miêu tả tình cảnh này. Phần tình tiết này giống hệt như việc nhà trị liệu tâm lý khai quật tầng tiềm thức của bệnh nhân, kéo nỗi sợ mà họ vốn không dám đối diện phơi bày ra ngay trước mắt.


2. Đưa ra lời giải thích mang tính an ủi: Khi nỗi sợ hãi đạt đến đỉnh điểm, câu chuyện thường sẽ đưa ra lời giải thích thỏa đáng cho sự xuất hiện của hồn ma, mà nguyên nhân không ngoài các “nguyên nhân nhân học” và “nguyên nhân tâm lý học” đã đề cập. Chẳng hạn bóng ma người đàn ông rình trộm bên cửa sổ phòng tân hôn trong Ma vấn vương vợ là vì hắn vẫn nặng lòng tơ vương người vợ chốn dương gian. Đoạn tình tiết này tương tự như việc chuyên gia tâm lý giải thích cho ta hay: nỗi sợ đi thuyền của một bệnh nhân bắt nguồn từ một trải nghiệm sang chấn trong quá khứ, hay chứng nghiện rửa tay của người khác thực chất là để tẩy rửa cảm giác tội lỗi xưa cũ. Mọi sự xuất hiện của ma quỷ đều có lý do, và việc ma quỷ tác quái ám ảnh con người cũng có sự chọn lọc; chỉ cần bạn không làm điều khuất tất thẹn với lòng, chúng thường sẽ không hãm hại bạn. Một khi đã tỏ tường nguyên do, nỗi sợ hãi thông thường sẽ giảm đi hơn một nửa; và như Lục mỗ trong Giường quan tài, khi biết “ông ma già” nửa đêm trèo ra từ quan tài hóa ra lại là người cha còn sống sờ sờ của chủ nhà, nỗi sợ hãi và u ám trong lòng ông lập tức tan biến sạch sành sanh một cách đầy kịch tính.


3. Cung cấp đối sách trị liệu: Sau khi đã thấu hiểu căn nguyên, người ta sẽ đưa ra đối sách nhắm thẳng vào nguyên nhân khiến ma quỷ tác quái: chẳng hạn giúp “con ma thuộc về nhân học” được mồ yên mả đẹp, được hưởng hương khói cúng tế; giúp “con ma thuộc về tâm lý học” hoàn thành tâm nguyện dở dang. Nếu cả hai cách này đều vô hiệu hoặc bất khả thi, người ta vẫn còn các ngón phù thuật trừ tà mang ra thi triển: như Nhiếp mỗ trong Vợ ma quấy phá phòng tân hôn, trước sự quấy nhiễu khôn xiết của vong hồn vợ cũ, “đành phải nhờ một thuật sĩ làng bên vót cọc gỗ đào đóng chặt quanh bốn góc mộ của người vợ quá cố, bóng ma mới bặt tăm không xuất hiện nữa”. Phương pháp “trị liệu” này giống như các bác sĩ tâm thần sử dụng thuốc men, sốc điện, liệu pháp gây sốc hay liệu pháp ghê sợ (aversion therapy) để điều trị cho bệnh nhân vậy.


Một số loài ma quỷ, đặc biệt là cương thi, xuất hiện không rõ nguyên nhân và vô cùng hung hãn ngoan cố khiến con người bó tay bất lực. Song điều đó cũng chẳng sao, bởi vì “thời gian sẽ chiến thắng tất cả”: khi trời vừa hửng sáng, tiếng gà gáy rộ lên, ma quỷ hay cương thi sẽ lập tức tiêu biến ma lực và bị con người chế ngự. Tình cảnh này rất giống với một số chứng rối loạn tâm lý dai dẳng (như “rối loạn nhân cách chống đối xã hội”), theo dòng chảy thời gian sẽ dần “tự hao mòn” (burnout) mà tự động thuyên giảm trên cơ thể bệnh nhân.


Thế nhưng điều then chốt nhất là: mọi liệu pháp tâm lý đều nhấn mạnh việc thân chủ phải “tăng cường chức năng của bản ngã” (ego strength), gia tăng sức chịu đựng trước các cảm xúc tiêu cực hoặc khả năng miễn dịch tâm lý. Và đây cũng chính là điều mà câu chuyện Chỉ cần nói một chữ sợ muốn nhấn mạnh: chỉ cần bạn “không sợ”, giữ cho “khí thế” của mình đè bẹp tà ma thì ma quỷ tự khắc thấy tẽn tò mà bỏ đi.


Cấu trúc phổ quát giữa truyện ma phương Đông và phương Tây

Cấu trúc trị liệu này không chỉ xuất hiện trong truyện ma Trung Hoa, mà còn bàng bạc trong các câu chuyện kinh dị phương Tây. Chẳng hạn như hình tượng Ma cà rồng (vampire) được nhào nặn từ những dị tượng tử vong đặc thù kết hợp cùng quan niệm linh hồn của người phương Tây (như đã bàn ở chương 3), vốn lưu truyền lâu đời trong dân gian phương Tây và được Bram Stoker nâng tầm thành tác phẩm kinh điển qua cuốn tiểu thuyết Bá tước Dracula (1897). Về sau, dẫu hình tượng ma cà rồng liên tục được viết lại, chuyển thể thành vô số bộ phim điện ảnh, song dù biến hóa thế nào chúng vẫn mang nguyên vẹn cấu trúc sau:


Nhân vật nam chính (chàng luật sư đến từ London) bước chân vào tòa lâu đài cổ kính u ám đầy huyền bí, chạm trán với Bá tước Dracula ma quái; càng dấn sâu khám phá, nỗi sợ hãi trong lòng chàng càng dâng cao — đây chính là giai đoạn “tái hiện nỗi sợ hãi trong tâm khảm”.

Kế đó, câu chuyện hé lộ cho ta biết: không phải ai cũng biến thành ma cà rồng, chỉ những ai bị ma cà rồng hút máu đồng thời uống lại máu của nó mới bị đồng hóa. Bản phim điện ảnh mới của đạo diễn Francis Ford Coppola (1992) còn giải thích thêm: con ma cà rồng đầu tiên — Dracula — hóa quỷ là vì uất hận trước lời nguyền rủa của giáo hội đối với người vợ dấu yêu của ông ta. Thứ “bệnh lý học ma cà rồng” này chính là bước “đưa ra lời giải thích mang tính an ủi”.


Cuối cùng, đám đông dùng tỏi, nước thánh, bánh thánh, thánh giá để chế ngự ma cà rồng, trục xuất hắn khỏi cõi người; hoặc dưới sự cảm hóa của “tình yêu”, khiến chúng tự động rời đi — đây chính là bước “cung cấp đối sách trị liệu”.

Bởi thế, bất kể là truyện ma phương Đông hay phương Tây, chúng đều hệt như một liệu trình tâm lý trị liệu mang tính văn học. Song có lẽ vì nỗi sợ hãi bên trong con người quá đỗi thâm sâu, chỉ dựa vào một lần trị liệu thì không thể nào dứt điểm được, cho nên cứ cách một khoảng thời gian lại phải “tái trị liệu” một lần, “diễn lại” một bận; cứ thế lặp đi lặp lại suốt hàng ngàn năm qua mà dường như vẫn chưa thể giải tỏa triệt để.


Truyện ma, ác mộng và bi kịch

Những câu chuyện ma lặp đi lặp lại cũng hệt như những cơn ác mộng tái diễn trong giấc ngủ. Sigmund Freud khi bàn về ác mộng từng đúc kết: “Những giấc mơ này thực chất là nỗ lực mượn sự tích tụ của nỗi âu lo để khôi phục khả năng kiểm soát đối với kích thích.” Truyện ma dường như cũng mang thuộc tính ấy: nó liên tục tái tạo lại những khung cảnh từng khiến chúng ta cảm thấy run rẩy bất an (màn đêm, quan tài, mồ mả, linh đường, chốn hoang vu), buộc chúng ta phải tao ngộ lần nữa với nỗi sợ hãi trong lòng mình, từ đó tiến hành “giải mẫn cảm” (desensitization) nhằm khôi phục năng lực kiểm soát của ta đối với các kích thích sợ hãi. Điều này hoàn toàn trùng khớp với nhận định đã nêu ở đầu chương: “Mọi nghi thức tử vong đều bao hàm động cơ tìm kiếm sự tự chủ của con người.”


Những câu chuyện ma lặp đi lặp lại cũng tựa như những vở bi kịch không ngừng công diễn trên sân khấu. Mâu thuẫn song tình mà con người ôm ấp đối với người chết hay ma quỷ, cũng như thái độ mâu thuẫn vừa “thích nghe” lại vừa “sợ nghe” truyện ma, giống hệt như tâm lý lưỡng phân trước các vở bi kịch: xem đến nước mắt đầm đìa nhưng mắt vẫn không nỡ rời màn hình, thậm chí sau khi chứng kiến những cảnh tượng đau thương tột cùng lại nảy sinh một cảm giác khoái cảm kỳ lạ (mỹ cảm bi kịch). Aristotle cho rằng, nỗi mâu thuẫn ấy chính là tác dụng thanh tẩy cảm xúc (Catharsis) — bi kịch khơi gợi những cảm xúc đau đớn, kinh hoàng trong tâm can chúng ta, rồi sau đó tiến hành gạn lọc, gột rửa, giúp tinh thần đạt được trạng thái thanh thản, tươi mới.


Những câu chuyện về ma quỷ và cương thi không ngừng được biên soạn và truyền tụng bao đời nay chính là mang thuộc tính như thế. Chúng phơi bày sự tồn tại đầy bi kịch vĩnh cửu của kiếp người: số phận giằng xé giữa việc cự tuyệt cái chết nhưng lại buộc phải chấp nhận cái chết. Đó là cội nguồn của mọi niềm hy vọng, tình yêu, nỗi sợ hãi và đớn đau của nhân loại. Chúng ta mượn những câu chuyện ma quỷ và cương thi để tái hiện niềm hy vọng, tình yêu, nỗi sợ hãi cùng nỗi đau trong lòng mình, rồi sau đó gạn lọc, thanh tẩy chúng, giúp cho tâm trạng mâu thuẫn đầy giằng xé của chúng ta đối với sinh mệnh tìm được một lối thoát để nguôi ngoai và giải tỏa.

 
 
 

Bài đăng gần đây

Xem tất cả
Chương 1

Chương 1 Giải cấu truyền kỳ hồn phách Trung Quốc “Xét về nội dung câu chuyện, chúng thiên biến vạn hóa, gần như là vô hạn; nhưng xét về chất liệu và công cụ được sử dụng, chúng lại là hữu hạn. Chúng c

 
 
 
Chương 4: Phát triển nhân cách và bệnh lý

Trong phân tâm học, bất kể là trường phái nào, thực hành lâm sàng của phân tâm học nhất định đều liên quan đến tâm lý học phát triển mà trường phái đó tôn sùng; chỉ khi hiểu được tâm lý học phát triển

 
 
 
C1

Vị Trí Của Tâm Lý Học Tự Thể Trong Phân Tâm Học Là Gì? Khoảng năm 1890, Freud bắt đầu phát triển phân tâm học. Lý thuyết của ông không hoàn toàn nhất quán từ đầu đến cuối mà được chia thành nhiều thời

 
 
 

Bình luận


bottom of page