CHƯƠNG 1: TÌNH THẾ BẾ TẮC TRONG MỐI QUAN HỆ
Nếu thích đọc các bài viết về tâm lý học, có lẽ bạn thường bắt gặp những tiêu đề quen thuộc như: “Hãy chịu trách nhiệm về cảm xúc của chính mình”, “Người duy nhất có thể cứu rỗi bạn là chính bản thân bạn”, “Để tâm đến ánh nhìn của người khác sẽ không thể khiến bạn hạnh phúc”, “10 kiểu tư duy dễ dẫn đến trầm cảm, nếu có nhất định phải thay đổi”, v.v. Đôi khi, những bài viết này giúp bạn thu nhận thêm kiến thức và tự soi chiếu lại mình, thậm chí bạn còn thử nỗ lực thay đổi bản thân để xoa dịu nỗi đau. Thế nhưng, lời khuyên “chịu trách nhiệm về cảm xúc của mình” xuất phát từ góc nhìn của một cá nhân đơn lẻ lại thường đẩy con người vào trạng thái bối rối sâu sắc hơn, còn phương pháp “phớt lờ cái nhìn của người khác” thì gần như bất khả thi. Góc nhìn né tránh mối quan hệ này thực chất cho thấy một tình thế bế tắc phổ biến tồn tại giữa người với người: đến gần nhau sẽ nảy sinh vấn đề, giữ khoảng cách giúp giảm bớt xung đột nhưng nỗi đau đớn thì vẫn luôn dai dẳng.
Khi nỗi đau kéo dài, chúng ta có thể tự phản tỉnh, nhưng sự phản tỉnh này rất khó dẫn dắt ta chạm tới những tầng cảm xúc sâu kín hơn. Một khi vết thương lòng bị chạm tới, con người sẽ theo bản năng trốn chạy; vì vậy ta rất dễ tìm mọi cách để xử lý những cảm xúc bề nổi. Chẳng hạn như giải quyết cơn giận dữ hay cái gọi là “tính khí xấu”, coi nó như một “triệu chứng bệnh” cần triệt tiêu, chứ hiếm khi xem tính khí xấu ấy là một manh mối để thấu hiểu người khác. Việc lấy việc triệt tiêu “triệu chứng” làm mục đích chẳng khác nào yêu cầu một bệnh nhân đang sốt vì viêm nhiễm phải hạ sốt thật nhanh, trong khi lại hoàn toàn ngó lơ ổ viêm bên trong. Điều này thường là vì so với triệu chứng “sốt” nhìn thấy được, ổ viêm khuất lấp vô hình có vẻ ít đáng sợ hơn. Nhưng rõ ràng, việc triệu chứng biến mất không đồng nghĩa với việc vấn đề của cơ thể đã được giải quyết tận gốc.
Có lẽ chúng ta không hề xa lạ với những tình thế giằng xé sau đây:
Tôi thấy rất khó chịu, nhưng lẽ ra tôi không nên như vậy.
Tôi đã nói ra cảm xúc của mình, nhưng lại càng đau đớn hơn.
Có người an ủi, khuyên nhủ tôi, lẽ ra tôi phải nghĩ thông suốt mới phải.
Cảm xúc của tôi khiến người khác khó xử, tôi cũng ghét chính bản thân mình khi như thế này…
Thế là, khi nhìn thấy tiêu đề của những bài viết tâm lý kia, chúng ta khao khát có ai đó giúp mình xóa bỏ những rắc rối của bản thân. Trên thực tế, thứ mà ta dốc sức triệt tiêu chỉ là cảm xúc của chính mình, bởi cảm xúc bất ổn sẽ khiến ta trông như một kẻ thiếu khả năng tự chủ, biến ta trong mắt người khác thành một kẻ tâm lý bất thường hoặc không được chào đón. Trong khi đó, người khác nhìn bề ngoài ai nấy đều ổn định về mặt cảm xúc, điều này lại càng khiến ta cảm thấy mình vô dụng. Ta thấy hổ thẹn vì biểu hiện của chính mình, và sự xấu hổ này lại che lấp đi nỗi đau đớn đích thực nơi sâu thẳm tâm can.
Bạn có từng tò mò liệu những người trông có vẻ điềm tĩnh, cảm xúc ổn định kia có thật sự không có nỗi đau nào hay không? Những người luôn dạy bạn phải chịu trách nhiệm về cảm xúc của mình, liệu họ đã làm được việc chỉ cần tự tìm nguyên nhân ở bản thân là có thể xóa tan cảm xúc và không còn đau đớn hay chưa? Kinh nghiệm của tôi cho thấy, những người ngỡ rằng mình làm chủ được cảm xúc thực chất chỉ là đang vận dụng các cơ chế phòng vệ hiệu quả hơn để bản thân tạm thời không cảm nhận thấy nỗi đau mà thôi. Họ tin rằng việc dùng tư duy lý trí, thay đổi nhận thức có thể triệt tiêu nỗi đau hữu hiệu hơn. Nhưng điều đó rất có thể đồng nghĩa với việc: trước đây họ từng nỗ lực bộc lộ cảm xúc trong mối quan hệ nhưng đã thất bại, nên giờ đây họ dùng chiến lược “nghĩ thông suốt” hoặc cô lập cảm xúc để giảm bớt cảm giác đau đớn.
Tuy nhiên, con người mỗi ngày đều sống trong những mối quan hệ chân thực, cảm xúc biến chuyển không ngừng qua từng lời qua tiếng lại. Dù người ta có hiểu được những cảm xúc này hay không, tâm trạng của họ vẫn sẽ bị xáo trộn ở các mức độ khác nhau. Vậy rốt cuộc điều gì đã xảy ra trong mối quan hệ? Tại sao người ta luôn cảm thấy các mối quan hệ đem lại đủ điều vướng mắc tình cảm, nhưng bản thân lại cứ phải tự đi tìm nguyên nhân ở chính mình?
Tiết 1: Những nỗ lực thất bại trong mối quan hệ
Hãy tưởng tượng bạn là một đứa trẻ năm tuổi, chạy đến nói với bố mình: “Bố ơi, con đói”. Bố bạn lại lạnh lùng buông một câu: “Nhịn đi”. Nếu ông không giải thích lý do, thái độ lại nghiêm khắc và lạnh nhạt, bạn sẽ buộc phải chọn cách im lặng. Bởi lẽ lúc này bạn phải đối diện với hai cảm giác tồi tệ: đói bụng và sợ hãi. Cảm giác đói đến từ bên trong bạn, còn nỗi sợ đến từ mối quan hệ với người bố. So với việc làm dịu cơn đói, bạn cần bố hơn — cần một mối quan hệ ổn định và an toàn, vì vậy bạn sẽ dễ chấp nhận giải pháp tự mình giải quyết vấn đề hơn.
Chẳng lẽ người bố không biết cảm giác bị bỏ đói khó chịu đến dường nào? Có thể có vài khả năng sau:
Ông cảm thấy bạn đang làm khó ông, vì bản thân ông cũng chẳng kiếm đâu ra thức ăn;
Kinh nghiệm sống của ông vốn dĩ là “phải nhịn”, vì ông cho rằng càng nghĩ sẽ càng đói, đòi ăn cũng chẳng có;
Ông có thể từng trải qua ký ức tồi tệ hơn: buộc phải nhịn, nếu không sẽ bị đòn roi trừng phạt, và trong ký ức của ông, bị đánh còn đáng sợ hơn bị đói.
Có lẽ ông cũng ghét dáng vẻ bộc lộ nhu cầu của bạn, bởi trong quá khứ ông từng bị chế giễu khi đòi hỏi điều gì đó, và bạn vô tình kích hoạt lại cảm giác tồi tệ ấy trong ông.
Nhưng bạn vốn dĩ chỉ đơn thuần là bị đói, bạn chẳng hề đưa ra yêu cầu nào quá đáng. Xét về kết quả, trong mắt bố, bạn bỗng trở thành một đứa trẻ phiền phức; bạn phải chịu đựng những lời lẽ lạnh lùng cay nghiệt từ người khác, trong khi người đó thực chất chỉ đang loay hoay xử lý cảm xúc tồi tệ của chính họ. Dẫu vậy, phần lớn người bố sẽ không nói cho bạn biết những điều này, bởi bản thân ông cũng không ý thức được logic đằng sau đó, càng không nhận ra mình đang phải đối phó với những cảm xúc tồi tệ như cảm giác bất lực vì không kiếm được đồ ăn, nỗi cô đơn từng không được ai đoái hoài, cùng nỗi sợ hãi và cảm giác xấu hổ vì từng bị phạt.
Tình huống mô phỏng này phản ánh một tình thế bế tắc điển hình của con người: Cả hai người cùng lúc đều rơi vào những rắc rối riêng, nhưng mỗi người chỉ có thể khoác lên mình chiếc “áo khoác ngoài” để chống chọi lại sự xâm lấn của nỗi đau nội tâm, và hai bên cũng chỉ nhìn thấy được chiếc “áo khoác” của đối phương mà thôi. Ai cũng quen thuộc hơn với phần bề ngoài nhìn thấy được — những suy nghĩ và cảm xúc bộc lộ ra ngoài, còn phần thực sự đem lại rắc rối thì trước sau vẫn luôn ẩn sâu dưới lớp “áo khoác”. “Áo khoác” đóng vai trò che chở, bảo vệ, nhưng đồng thời cũng khiến cả hai không thể nào thấu tỏ được cảm nhận và nhu cầu đích thực của nhau. Chúng ta có thể thấy rõ những nỗ lực thất bại khi con người không thể giao tiếp bằng cảm xúc chân thật qua các trường hợp dưới đây.
Mối quan hệ thân mật giả tạo
Tôi thường xuyên tiếp nhận những thân chủ có một mô thức chung trong quan hệ vợ chồng: Bề ngoài trông rất ôn hòa, bình lặng, hai người dường như chưa từng có bất kỳ cuộc xung đột thực sự nào. Nếu yêu cầu họ nhận xét về nhau, câu trả lời thường là đối phương không có ưu điểm gì nổi bật mà cũng chẳng có khuyết điểm gì lớn, họ không quá hài lòng nhưng cũng không bất mãn. Nhìn từ ngoài vào, công việc của họ rất ổn định, mối quan hệ hôn nhân vững chắc, mối quan hệ với cha mẹ hay con cái cũng êm đẹp. Thế nhưng, khi buổi tham vấn đi sâu hơn, tôi dần nhận ra những đợt sóng ngầm cuộn trào dưới vẻ ngoài sóng yên biển lặng ấy. Mối quan hệ thân mật giả tạo này có thể duy trì suốt nhiều năm trời, nhưng cũng có thể sau thời gian dài tích tụ sóng ngầm, nó sẽ bất ngờ làm bùng lên một cơn sóng gió dữ dội.
Ban đầu, họ thường mô tả cuộc sống của mình như sau:
“Tôi thấy cũng ổn mà.”
“Đời người ai chẳng na ná nhau, nên biết bằng lòng.”
“Tôi thấy anh ấy cũng được rồi, còn đòi hỏi gì hơn nữa?”
Khi được hỏi lý do tại sao lại tìm đến tham vấn tâm lý, họ có thể trả lời: “Cũng không có gì to tát, thấy bạn bè đi tham vấn nên tôi cũng muốn đi thử xem thế nào thôi”. Có người sẽ kể vài chuyện vụn vặt trong cuộc sống thường nhật, nhưng liền sau đó giải thích ngay rằng chẳng có vấn đề gì lớn. Họ thích trần thuật sự việc và quan điểm khách quan, khiến bạn rất khó cảm nhận được họ đang thực sự phiền lòng vì điều gì. Đôi khi, họ cũng bàn luận về tin tức thời sự, hoặc thuật lại nội dung cuốn sách mình đọc gần đây. Thông thường, khi buổi tham vấn sắp kết thúc, họ mới đặt câu hỏi xem tôi nhìn nhận thế nào về một vấn đề nào đó, như thể việc tôi cần làm chỉ là thảo luận quan điểm cùng họ và tiện thể giải quyết vài khúc mắc nhỏ mà thôi.
Hiểu Tình là mẹ của một bé trai 10 tuổi, cả hai vợ chồng cô đều có công việc ổn định. Chịu ảnh hưởng từ một người bạn, cô bắt đầu yêu thích tâm lý học, thường xuyên đọc sách báo và đang tham gia một khóa đào tạo thiền định. Cô nói hôn nhân và cuộc sống của mình hoàn toàn bình thường, chẳng có gì để phàn nàn: Đi làm về thì cô nấu cơm, cả nhà ăn xong thì ai làm việc nấy, chồng lên mạng chơi cờ với bạn, con trai làm bài tập, còn cô đọc sách.
Tôi hỏi thường ngày mọi người trò chuyện với nhau những gì, cô đáp cả nhà đều rất trầm lặng, dường như giữa mọi người chẳng có chuyện gì để nói. Sau đó, cô chuyển sang nói về chuyện thiền định, hỏi tôi làm cách nào để loại bỏ những tạp niệm trong tâm trí. Cô tâm sự trước đây luôn thấy lòng mình rất đỗi bình yên, chẳng hiểu sao từ khi tập thiền đến nay, trong đầu lại trào dâng rất nhiều suy nghĩ tiêu cực. Chẳng hạn, cô nhận ra mình biết ghen tị với người khác, thậm chí đôi khi còn cảm thấy tức giận vì điều đó — điều mà trước đây chưa từng xảy ra.
Tôi hỏi cô thường xuất hiện những cảm giác này vào lúc nào và nhờ cô lấy ví dụ cụ thể. Cô kể: Mỗi lần đi siêu thị mua sắm đồ đạc xong, bao giờ cũng là một mình cô xách đồ lỉnh kỉnh, còn chồng chỉ việc đứng trả tiền. Trước đây cô không hề nghĩ điều này có vấn đề gì, nhưng giờ đây cô lại cảm thấy có chút ấm ức khó chịu. Lại nữa, ngày nào đi làm về cô cũng là người vào bếp nấu nướng; chồng cô dù có về sớm hơn cũng chỉ ngồi vào máy tính chơi cờ hoặc chơi game, chưa bao giờ phụ giúp cô nhặt rau, rửa rau, bao năm nay đều như thế.
Ban đầu cô thấy chuyện đó bình thường: Chồng hiền lành, đáng tin cậy, hết giờ làm là về nhà ngay, bản thân cô cũng chưa từng nghĩ mình cần anh phải làm gì. Mọi chuyện chỉ bắt đầu thay đổi cho đến gần đây, khi người bạn cùng học tâm lý học đến nhà cô chơi. Người bạn đó tấm tắc khen cô đảm đang, quán xuyến gia đình chu đáo, đặc biệt là tài nấu ăn rất ngon; người bạn còn tâm sự rằng đến tận bây giờ bản thân vẫn chẳng biết nấu nướng gì, bữa cơm gia đình xưa nay đều do chồng bạn đảm nhiệm. Người bạn này tính tình cởi mở, trò chuyện rất rôm rả, tự nhiên với chồng và con trai cô, trong khi bản thân cô cứ phải cặm cụi một mình dưới bếp tất bật làm món này món kia, thế là trong lòng cô dấy lên cảm giác ghen tị mơ hồ.
Chồng cô trông có vẻ rất thích trò chuyện cùng cô bạn kia; họ nói về những tựa game online đang thịnh hành — những thứ mà cô vốn không thích chơi, và chồng cô trước giờ cũng chưa từng mở lời kể cho cô nghe. Cô nhận ra bạn mình quả thực là một phụ nữ đầy sức hút: Không chỉ ăn nói duyên dáng, phóng khoáng, mà diện mạo trông còn trẻ trung hơn tuổi thật rất nhiều, trong khi bản thân cô lại hiếm khi trang điểm hay chăm sóc da dẻ. Cô nói mình thấy có chút tự ti, nhưng cô hoàn toàn không biết chồng mình đang nghĩ gì; cô bảo bấy lâu nay cô luôn đinh ninh rằng chồng mình chẳng mảy may bận tâm đến nhan sắc của vợ.
Sau đó cô kể, năm cô lên năm tuổi, mẹ cô lâm bệnh qua đời, một mình bố nuôi cô khôn lớn mà không đi bước nữa. Cô luôn cảm thấy bố đã hy sinh vì mình quá nhiều, nên cô rất nghe lời bố, ngay cả người chồng hiện tại cũng là do bố cô chọn cho. Từ khi còn rất nhỏ cô đã học cách nấu cơm và làm việc nhà, sau khi kết hôn, việc cáng đáng những công việc này đối với cô là chuyện đương nhiên như lẽ trời đất. Chồng cô là con một trong nhà, từ bé đã được mẹ chăm bẵm từng li từng tí; mối quan hệ giữa cô và mẹ chồng khá tốt, hai mẹ con thường xuyên rủ rỉ chuyện ăn uống, công thức dưỡng sinh, cô cảm thấy mẹ chồng rất hài lòng về mình.
Cô tâm sự, từ ngày mẹ mất, cô hiếm khi thấy nụ cười trên gương mặt bố, vì thế cô cũng rất ít khi đòi hỏi điều gì ở ông mà chỉ cố gắng đỡ đần việc nhà nhiều nhất có thể. Có thể thấy, vì mồ côi mẹ từ nhỏ, cô đã thiếu vắng rất nhiều trải nghiệm mà một bé gái bình thường đáng ra phải có. Lẽ ra cô đã có thể nói với bố về những nhu cầu của mình: mệt mỏi cần được nghỉ ngơi, vất vả cần được giúp đỡ, được học cách chải chuốt làm đẹp như những bạn nữ khác, hay được thỏa sức chơi đùa những trò chơi tuổi thơ. Bố không đi bước nữa cũng khiến cô khó có cơ hội trải nghiệm một không khí gia đình phong phú hơn. Cô chưa từng biết cảm giác “mình có sức hút” là như thế nào, bởi tâm trạng của người cha lúc nào cũng ủ dột, ông không thể để mắt đến những nhu cầu tâm lý trong quá trình trưởng thành của con gái, tất cả những gì ông có thể làm chỉ là gồng mình nuôi đứa con khôn lớn. Cô cũng khó lòng cảm nhận được niềm vui sướng do việc vui chơi mang lại; cô nhớ thuở nhỏ hàng xóm thường khen cô hiểu chuyện, chững chạc như một “bà cụ non”. Quả thực, tuổi thơ của cô đã khép lại quá sớm. Còn người chồng xưa nay luôn được mẹ chăm chút chu đáo cũng rất hiếm khi thấu cảm được nhu cầu của người khác; cả hai người cứ thế quen dần với nếp sống này.
Có thể bạn sẽ nghĩ: Nếu Hiểu Tình không tiếp xúc với tâm lý học, không tập thiền, cứ thế sống một cuộc đời phẳng lặng chẳng phải rất tốt hay sao?
Thế nhưng, trong ký ức của Hiểu Tình, việc bộc lộ nhu cầu đồng nghĩa với việc tăng thêm gánh nặng cho bố. Cô mang mặc cảm tội lỗi rất nặng nề, luôn tự trách rằng bố không tái hôn là do mình làm vướng chân ông; cô gần như không ý thức được bản thân có quyền đưa ra đòi hỏi. Dù cuộc sống của cô rất bình lặng, nhưng sự bình lặng ấy lại được đánh đổi bằng sự hy sinh chính bản thân mình. Người bạn kia tựa như một tấm gương, phản chiếu cho cô thấy những điều cốt lõi mà cô đã đánh mất bấy lâu: chẳng hạn như quyền được thưởng thức bữa ăn do chồng nấu, sức hút của việc được người khác yêu thích, hay niềm vui cùng nhau chơi một trò chơi. Chúng ta đều biết đây chính là những điều mang lại cho con người cảm giác chân thực về sự tồn tại, giúp ta cảm nhận được giá trị của kiếp nhân sinh, và là cội nguồn của niềm vui. Nhu cầu đối với những điều ấy trong lòng Hiểu Tình vẫn luôn âm ỉ tồn tại, chỉ là chúng đã bị bỏ lại nơi tuổi thơ, bị đè nén vào cõi vô thức. Bình yên không đồng nghĩa với hạnh phúc; gia đình cô thiếu vắng chính là luồng sinh khí mới mẻ mà người bạn kia mang lại: sự chia sẻ cùng nhau về những điều thú vị, những điều mình thích, và những mong ước của bản thân.
Những nỗ lực đối thoại thất bại
Những người sống trong mối quan hệ thân mật giả tạo hầu như không bao giờ có những cuộc đối thoại thực chất. Những người thường xuyên bị nỗi đau bủa vây rất khao khát được giải thoát khỏi mối quan hệ thân mật, họ vừa mong mỏi duy trì mối quan hệ ấy, lại vừa thường xuyên bị chính mối quan hệ ấy làm cho thương tổn. Giữa họ tuy có nói chuyện, nhưng thường là những cuộc đối thoại vô hiệu. Chúng ta đều biết, khi một người biểu đạt bằng thứ ngôn ngữ mang nặng tính cảm xúc, đối phương hoặc vì không thể chống đỡ nổi mà né tránh, hoặc ngọn lửa cảm xúc bị châm ngòi — thế là những lời giải thích, biện bạch, đối đầu nhằm mục đích tự vệ sẽ lập tức nối đuôi kéo đến.
Đối thoại kiểu né tránh
Trong một số mối quan hệ nhìn bề ngoài có vẻ êm ả, mọi người đều cố duy trì sự hòa khí giả tạo. Sự tĩnh lặng ấy luôn tiềm ẩn một sự căng thẳng khó nhận biết — chỉ khi duy trì sự căng thẳng ở mức tối thiểu, mối quan hệ mới được xem là an toàn. Những mối quan hệ như vậy dù có xảy ra sóng gió gì thì sóng gió cũng sẽ qua đi rất nhanh, nhưng sự căng thẳng ngầm thì vẫn luôn tồn tại dai dẳng, và rồi sẽ lại trồi lên vào một khoảnh khắc vô tình sau đó.
Trong các cuộc đối thoại, họ luôn tìm mọi cách dĩ hòa vi quý, nhưng thứ được xoa dịu chỉ là vài cảm xúc trên bề mặt, hoàn toàn không thể chạm tới nỗi đau thực sự. Có những cặp bạn đời sống bên nhau trọn kiếp nhưng chưa từng một lần thực sự bước vào thế giới nội tâm của nhau. Bảng 1-1 liệt kê các phương thức đối thoại điển hình của mối quan hệ này: đối thoại nhượng bộ, đối thoại che đậy, đối thoại lảng tránh. Trong trường hợp dưới đây, chúng ta có thể nhìn thấy cùng lúc cả ba phương thức này.
Bảng 1-1: Ba phương thức đối thoại mang đặc trưng né tránh
Đối thoại nhượng bộ |
A: (Tức giận hoặc khóc lóc)
B: Đều là lỗi của anh/tôi cả, tôi xin lỗi.
Đối thoại che đậy |
A: Anh/em làm sao thế? Có gì không vừa ý thì cứ nói ra.
B: Không sao đâu, tôi có gì không vừa lòng đâu.
Đối thoại lảng tránh |
A: Thôi đi, đừng nói nữa, cứ vậy đi.
B: Haizz, chẳng hiểu nổi trong đầu anh/em đang nghĩ cái gì nữa.
Uyển Đình nói chồng cô có thể được gọi là một người chồng kiểu mẫu: Vừa kiếm tiền nuôi gia đình, lại không có thói hư tật xấu, mỗi dịp cuối tuần đều đi chợ mua sẵn đồ ăn và nhu yếu phẩm cho cả tuần, lại còn đưa cho cô một chiếc thẻ tín dụng để cô tùy ý chi tiêu. Cô cảm nhận được chồng rất yêu mình, nhưng đôi khi cô vẫn vì những chuyện vặt vãnh mà tâm trạng bực bội, cằn nhằn với chồng.
Chồng cô chưa bao giờ trách móc cô, cách anh thường làm là khuyên bảo, dỗ dành. Ví dụ: Khi cô bảo đồ điện trong nhà hỏng cần gọi thợ đến sửa, chồng sẽ bảo: “Sửa chữa phiền phức lắm, mua cái mới là xong”; khi cô về nhà mẹ đẻ và gặp chuyện không vui, chồng sẽ khuyên: “Em đừng chấp nhặt với người già làm gì, đợi cuối tuần anh mua ít quà rồi hai đứa mình sang thăm bố mẹ” (Né tránh). Chồng đi tiếp khách về muộn, thấy cô ngồi thui thủi ở nhà giận dỗi, anh sẽ vội vàng dỗ dành: “Là anh sai rồi, đừng khóc nữa mà” (Nhượng bộ).
Trước phản ứng đó của chồng, cảm nhận của cô là: “Hình như trong lòng tôi vẫn có điều gì đó nghẹn lại, tôi chẳng rõ là điều gì, cũng ngại không dám nói thêm nữa (Nhượng bộ); lời xin lỗi của anh ấy khiến tôi cảm thấy dường như mình đang chuyện bé xé ra to, nhưng khi ở một mình, tôi vẫn cảm thấy vô cùng tủi thân”.
Uyển Đình năm nay 53 tuổi, là nhân viên văn phòng sắp đến tuổi nghỉ hưu; chồng cô làm quản lý cấp cao trong doanh nghiệp, còn vài năm nữa mới tới tuổi hưu. Cô thường sinh lòng hờn giận vì chồng hay đi tiếp khách về khuya. Cô biết công việc của chồng chịu nhiều áp lực. Có một lần, cô tình cờ nghe thấy anh nói qua điện thoại với người khác rằng rất hối hận vì đã chọn dấn thân vào doanh nghiệp bon chen, thà cứ ở lại trường đại học làm nghiên cứu, giảng dạy cho thanh thản đầu óc. Nhưng chồng cô chưa bao giờ chịu tâm sự sâu sắc những điều này với vợ (Né tránh), những lời anh nói với cô chỉ toàn là: “Đàn ông thì phải gánh vác trách nhiệm gia đình chứ sao” (Che đậy), rồi khuyên cô đừng suy nghĩ quá nhiều (Né tránh).
Tuy đời sống vật chất dư dả, chồng cũng rất cưng chiều, nhưng trong sâu thẳm tâm hồn, Uyển Đình luôn cô độc. Cô có một người anh trai; bố mẹ cô sống chung một nhà với gia đình anh trai, cô luôn có cảm giác họ mới là một gia đình thực sự. Dù bản thân đã làm rất nhiều việc để bố mẹ hài lòng, nhưng dường như trong mắt họ chỉ có người con trai. Đôi khi cô nói với mẹ rằng mình ốm, thứ cô nhận lại luôn là sự lo lắng thái quá của mẹ cùng lời khuyên can: “Hay là xin nghỉ hưu sớm quách cho rồi”. Cô không nhận được sự vỗ về mình mong muốn, ngược lại còn thấy bản thân đang mang lại phiền phức cho cha mẹ.
Uyển Đình đang sống trong một môi trường mà chẳng có ai đón nhận cảm xúc của cô. Trông bề ngoài thì có vẻ có người quan tâm, nhưng hiếm ai chịu hỏi han và lắng nghe cảm nhận thực sự của cô: Cô vừa mới bộc lộ ra thì đã bị những lời khuyên giải chặn họng; nỗi đau của cô bị những cử chỉ vỗ về trên bề mặt che lấp.
Trên thực tế, nội tâm cô không chỉ trải qua cảm giác bất an dữ dội mà còn phải chịu đựng sự dày vò của cảm giác tội lỗi. Nhà đẻ đem lại cho cô cảm giác mình là người ngoài rìa. Cô nhớ hồi nhỏ, cách bố đối xử với cô và anh trai hoàn toàn khác nhau: Anh trai thường xuyên bị đòn roi, còn cô luôn được khen là đứa trẻ ngoan ngoãn; mọi biểu hiện của anh trai đều bị bố nhìn chằm chằm giám sát, còn cô thì không bị đòi hỏi khắt khe như thế. Năm cô 27 tuổi, cô nghe thấy bố mẹ rủ rỉ với nhau: “Lớn thêm chút nữa là ế chỏng chơ không gả đi đâu được, con gái lớn không giữ trong nhà được đâu”. Rất nhanh sau đó, chỉ sau 8 tháng quen biết chồng, cô đã vội vã kết hôn.
Về sau, cô luôn cảm thấy mình ở nhà mẹ đẻ chỉ là khách qua đường, người anh trai mới là thành viên luôn nhận được sự chú ý và kỳ vọng. Tình cảm giữa cô với bố mẹ sau khi kết hôn dường như trở nên mờ nhạt, có cũng như không. Cứ mỗi lần nghĩ tới cuộc sống cô đơn có thể phải đối mặt sau khi nghỉ hưu, trong lòng cô lại dấy lên một cảm giác tương tự như: “So với anh trai, mình chẳng có chút giá trị nào”.
Những lời dỗ dành của chồng cũng không làm cô thấy an lòng. Cô biết chồng thích tâm sự với người bạn tri kỷ khác giới của anh, điều này khiến cô vô cùng ghen tị. Trong mắt chồng, cô chỉ là một người phụ nữ nhỏ nhen chỉ biết than khóc. Chồng cô đặt toàn bộ trọng tâm vào công việc, quen dùng tiền bạc để giải quyết êm xuôi mọi chuyện, anh thấy bản thân dù áp lực nặng nề đến đâu cũng đang cắn răng gánh vác; thế nên trước những giọt nước mắt của vợ, anh vừa cảm thấy khó hiểu lại vừa chán ngán. Anh không tin vợ có thể an ủi được mình, cũng chưa từng nhìn thấy nỗi âu lo và sự cô độc ẩn sau những lời than thở của vợ.
Kỳ thực, bản thân anh cũng đang đè nén cảm xúc của chính mình, không thể giãi bày cùng vợ. Sự cằn nhằn của vợ cũng thường kích hoạt cảm giác bất tài giống như áp lực công việc đè lên vai anh. Mỗi lần anh nhận lỗi chỉ là để mau chóng dàn xếp cho êm chuyện mà thôi.
Trong những cuộc đối thoại hời hợt như vậy, đôi bên đều không thể hiểu sâu sắc về nhau. Những cảm nhận tồi tệ chỉ có thể bộc lộ một phần qua cảm xúc; khi cả hai đều không đủ tự tin, họ không dám cùng nhau chạm vào chúng. Uyển Đình từng dùng cảm xúc (khóc lóc), dùng trạng thái cơ thể (đau ốm) để phát tín hiệu cho những người xung quanh biết cảm xúc của mình, nhưng sự bộc lộ của cô lại bị chặn lại bởi một cảm giác khác khó đối diện hơn: “Mình đang đem lại rắc rối cho người khác, chẳng ai muốn nghe xem mình bị làm sao cả”. Điều này buộc cô phải lùi bước về vị trí kìm nén, và ở vị trí đó, cô trở nên u uất, trầm mặc. Còn người chồng giải quyết vấn đề theo lối lý tính, đè nén nhu cầu hoặc sự bất mãn đối với vợ để tránh phải trải nghiệm cảm giác xấu hổ do sự bất lực mang lại.
Người vợ: Bộc lộ nhu cầu => Lo sợ bị từ chối => Tôi là kẻ mang lại rắc rối cho người khác => Cảm giác xấu hổ.
Người chồng: Bộc lộ nhu cầu => Lo sợ tạo áp lực cho đối phương => Tôi là một kẻ bất tài => Cảm giác xấu hổ.
Đối thoại kiểu tấn công
Trong kiểu đối thoại tấn công, nhìn bề ngoài hai bên có vẻ tương tác, giao tiếp nhiều hơn, nhưng thực chất cả hai thường rơi vào thế đối đầu kịch liệt: một bên bộc lộ, bên kia lập tức thanh minh, đôi bên đều không thể lắng nghe và hiểu được nhu cầu của nhau, rồi ngày càng lún sâu vào vòng xoáy làm tổn thương lẫn nhau. Các hình thức điển hình gồm có: đối thoại đấu khẩu qua lại, đối thoại gây áp lực, đối thoại tự hạ thấp bản thân, như thể hiện trong Bảng 1-2.
Trong đối thoại đấu khẩu, đôi bên đều lấy tấn công làm chủ đạo, không ai nhường ai, người này chỉ trích vấn đề của người kia, rồi ra sức biện minh cho mình, đồng thời vạch ra khuyết điểm của đối phương để phản công; xung đột cứ thế không ngừng leo thang. Cách thức giao tranh trực diện này rất dễ làm tổn thương nhau.
Trong đối thoại gây áp lực, một bên luôn chiếm giữ vị thế kẻ cả, đạo đức cao hơn, trong khi bên kia luôn ở thế yếu và phải chịu đựng áp lực khủng khiếp. Phía chỉ trích thường khiến đối phương bất lực không thể thanh minh, chỉ đành đáp lại bằng cách thuận theo, nhận lỗi.
Trong đối thoại tự hạ thấp bản thân, một bên trong quá trình bị chỉ trích ngày càng trở nên yếu thế, bèn dùng cách tự tấn công chính mình để dập tắt sự công kích tiếp theo của đối phương, khiến đối phương thấy mình hơi quá đáng mà tạm thời dừng tay.
Bảng 1-2: Ba phương thức đối thoại mang đặc trưng tấn công
Đối thoại đấu khẩu qua lại
A: Trong lòng anh/cô căn bản không hề có tôi!
B: Cô/anh hãy tự hỏi lại bản thân mình trước đi, trong lòng cô/anh có tôi không?
Đối thoại gây áp lực
Mẹ: Lần này mà còn thi kém nữa thì đừng hòng đi học tiếp, ra đường mà đi ăn xin!
Con: Lần sau con sẽ cố thi thật tốt, mẹ cho con thêm một cơ hội nữa đi ạ!
Đối thoại tự hạ thấp bản thân |
A: Tôi sai rồi, tôi là đồ khốn nạn, cô tát tôi hai cái cho hả giận đi!
B: Sao anh lại nói như thế? Thế này thì còn nói chuyện làm sao được nữa! |
Dù là kiểu đối thoại nào, cảm xúc kích động dữ dội của đôi bên đều sẽ làm bùng lên hàng loạt cảm giác tồi tệ, cả hai bị dồn ép bởi sự căng thẳng tột độ đến mức không còn đường lui. Trong những va chạm ban đầu, họ còn vướng mắc ở ngòi nổ châm ngòi cho xung đột; nhưng về sau, họ sẽ càng lúc càng khó làm rõ lý do vì sao hai người lại nảy sinh cãi vã. Họ đã bị nhấn chìm trong cơn thịnh nộ và cảm xúc kích động, trong khi những cảm giác tồi tệ không dám đối diện ẩn sau những cảm xúc ấy lại đang ngày đêm thiêu đốt, gặm nhấm hai tâm hồn vốn dĩ đã vô cùng mong manh.
Ví dụ về đối thoại đấu khẩu qua lại
Một cặp vợ chồng nọ thường xuyên xảy ra cãi vã vì những chuyện liên quan đến cậu con trai 8 tuổi. Một lần, đứa trẻ chơi đùa cùng các bạn nhỏ trong khu chung cư, trong lúc đuổi bắt nô đùa thì bị ngã trầy xước da. Nghe con trai nói mình bị một bạn đẩy ngã, người vợ lập tức nổi trận lôi đình, yêu cầu chồng phải liên lạc ngay với phụ huynh của đứa bé kia.
Người chồng xưa nay vốn ngán ngẩm tính khí “chạm là nổ” của vợ, bèn gạt đi: “Trẻ con chơi đùa trầy xước chút xíu có sao đâu, đừng vì chuyện cỏn con này mà làm mất hòa khí xóm giềng”. Câu nói này khiến người vợ cảm thấy mình đang bị trách móc, như thể cô là một kẻ thích gây sự cãi cọ, và thế là “mồi lửa chiến tranh” bùng cháy dữ dội:
Vợ: “Cứ đến lúc then chốt là anh chẳng bao giờ chịu đứng ra bảo vệ mẹ con tôi!”
Chồng: “Chuyện bé bằng cái móng tay thế này có đáng để cô phải tính toán so đo thế không?”
Vợ: (Gắt gỏng) “Sao lại là chuyện nhỏ! Con bị đau mà anh không biết xót à?!”
Chồng: “Cô quát tháo ầm ĩ với tôi thì có tài cán gì, giỏi thì tự đi mà nói với người ta ấy!”
Vợ: “Anh là đàn ông mà không dám lên tiếng, thế rốt cuộc tôi cần anh để làm cái tích sự gì?!”
Trong những cuộc đối thoại đấu khẩu qua lại, bên dưới lớp vỏ cảm xúc của đôi bên thường ẩn giấu những điều mà họ khó lòng đối diện. Nhìn thấy con bị thương, trải nghiệm tồi tệ thời thơ ấu từng bị người khác ức hiếp của người vợ đã bị kích hoạt. Trước năm bảy tuổi, cô lớn lên ở vùng nông thôn, sau đó mới theo bố mẹ lên thị trấn học tiểu học; cô thường xuyên bị bạn bè trêu chọc, chế giễu vì nói giọng địa phương. Bố mẹ cô đều là những người chất phác, vụng về, chẳng biết cách nào để dỗ dành cô.
Còn người chồng tính tình vốn khá hướng nội, thuở nhỏ sống chủ yếu cùng mẹ; bố anh là một quân nhân, mãi đến khi con trai lên cấp hai mới về sống chung cùng hai mẹ con. Người chồng thường xuyên bị bố rầy la là tính tình nhu nhược, ẻo lả, không ra dáng một đấng nam nhi.
Người vợ hy vọng chồng có thể bảo vệ mình và con trai, trong khi người chồng lại cảm thấy việc phải đi thương lượng, cự cãi với phụ huynh khác là chuyện vô cùng khó xử. Cảm giác tồi tệ của người vợ đến từ việc cảm thấy không được coi trọng, còn người chồng thì bị khơi lại sự xấu hổ tương tự như thuở bé bị bố hạ thấp danh dự.
Thế nhưng, cả hai người chỉ biết chỉ trích đối phương mà không thể bộc bạch trực tiếp nhu cầu và nỗi khó xử của bản thân. Người vợ trong trải nghiệm bị phớt lờ (“Tôi cảm thấy rất tồi tệ, chẳng ai thèm để tâm đến tôi cả”) quay sang kết tội chồng không biết gánh vác trách nhiệm; còn người chồng, thông qua việc chê trách vợ quá chấp nhặt, toan tính, để trốn tránh nỗi xấu hổ do sự hèn nhát của mình mang lại (“Tôi không giống một người đàn ông đích thực”), và sau khi cảm thấy bị sỉ nhục, anh quay lại đả kích sự yếu đuối, vô lý của vợ.
Điều này đối với người vợ từng bị bắt nạt từ bé lại là một vết thương chí mạng khác: “Những lúc bị bắt nạt, tôi là một kẻ bất lực vô dụng”. Nỗi đau này thôi thúc cô phải tiếp tục hạ thấp chồng hơn nữa (“Người đàn ông vô tích sự”) để thoát khỏi cảm giác bất lực của chính mình.
Khi cuộc đối thoại kiểu đấu khẩu nổ ra, cả hai đều chìm nghỉm trong trải nghiệm tồi tệ của riêng mình. Cuộc cãi vã bùng lên dữ dội là vì đã chạm trúng vào điểm đau của một trong hai bên. Một người luôn khao khát được đoái hoài sẽ vô cùng nhạy cảm với cảm giác bị ngó lơ: Chẳng hạn, khi đang nói chuyện, chỉ một cái ngáp vô tình của đối phương cũng có thể khiến người ấy đinh ninh rằng người kia hoàn toàn không có chút hứng thú nào với mình; một khoảnh khắc lơ đãng thoáng qua cũng đủ để làm lung lay cảm giác tồn tại của họ.
Đối diện với một người như vậy, nếu bạn lại vừa hay là một người luôn thiếu vắng sự công nhận của đối phương, bạn sẽ rất dễ bị từng lời chỉ trích của họ bắn trúng. Bạn sẽ thấy rằng trong mắt họ, mình lúc nào cũng làm sai, họ chưa bao giờ vừa ý với mình. Những mồi lửa châm ngòi trong cuộc sống thì nhan nhản khắp nơi, và cuộc chiến đấu khẩu có thể phát nổ bất cứ lúc nào.
Ví dụ về đối thoại gây áp lực
Tiểu Hoan là một nữ sinh lớp 9. Kỳ thi chuyển cấp lên cấp ba cận kề khiến cô bé phải chịu đựng áp lực vô cùng nặng nề. Cô bé thích môn Ngữ văn, Tiếng Anh, nhưng môn Toán lại là nỗi ám ảnh lớn. Tình trạng học lệch nghiêm trọng khiến thành tích học tập của em rất bết bát, khả năng cao em sẽ trượt cấp ba công lập. Em có một cô em gái kém mình bốn tuổi, bố mẹ rất mực cưng chiều em gái vì con bé trông thông minh hơn, thành tích học tập lại vượt trội; so với em gái, Tiểu Hoan luôn cảm thấy vô cùng tự ti.
Dạo gần đây, thái độ của mẹ đối với em ngày càng trở nên gay gắt, hà khắc. Em chỉ vừa cầm điện thoại lên một lát là mẹ đã quát tháo ầm ĩ; em muốn mua một bộ quần áo mới, mẹ lại càng quở mắng thậm tệ hơn. Điều này khiến cô bé luôn sống trong hoảng sợ và dấy lên cảm giác khủng hoảng tột độ:
Mẹ: “Đã là lúc nào rồi mà mày còn rảnh rỗi ngồi bấm điện thoại thế hả? Những câu làm sai trong đề thi hôm qua đã sửa lại chưa?”
Tiểu Hoan: “Lát nữa con sửa ạ.”
Mẹ: “Lát nữa?! Mày định lần lữa đến mấy giờ hả? Đưa điện thoại đây cho tao mau!”
Tiểu Hoan: (Giấu điện thoại ra sau lưng) “Con đang nhắn tin với bạn cùng lớp mà mẹ.”
Mẹ: (Càng lúc càng tức giận) “Bạn mày nó thi đỗ được cấp ba, mày có đỗ nổi không? Với cái học lực rách nát này của mày thì đừng mơ sờ vào cổng trường cấp ba! Sau này không học nổi đại học thì mày làm được cái trò trống gì? Ra chợ bán rau chắc?!”
Tiểu Hoan: (Cúi gằm mặt xuống, đặt chiếc điện thoại lên bàn, nước mắt lã chã rơi)
Mẹ: (Cao giọng) “Khóc lóc thì có ích gì?! Mày nhìn em mày xem, học hành có bao giờ phải để ai giục một câu không! Mày mà không chịu cố gắng thì tao thấy cũng khỏi cần thi cấp ba làm gì cho tốn tiền, ngày mai dắt xe ra chợ mà bán rau!”
Tiểu Hoan: “Mẹ ơi con không chơi nữa đâu, giờ con sửa bài luôn đây ạ.”
Mẹ: (Vẫn đầy vẻ phẫn nộ) “Không đỗ nổi cấp ba thì ra đường đừng có mở mồm nhận là con tao!”
Năm một tuổi, Tiểu Hoan đã bị gửi về quê sống với ông bà nội, bố mẹ bận rộn làm việc trên thành phố, mãi đến khi cô bé đến tuổi đi học tiểu học mới được đón về ở cùng. Lúc đó, cô em gái đã ba tuổi. Tiểu Hoan không được đi học mẫu giáo như em gái, nên ngay từ khi bước vào lớp một, em đã cảm thấy việc học của mình thua kém bạn bè. Em luôn có cảm giác em gái mới là đứa con thực sự của gia đình này, còn bản thân em trước sau vẫn cảm thấy lạc lõng, xa lạ với chính ngôi nhà của mình.
Thành tích học tập của em quả thực không mấy khả quan, áp lực từ người mẹ khiến em càng thêm kinh hãi: Nếu không đỗ cấp ba, dường như em sẽ bị gia đình này vứt bỏ, bị cả xã hội này đào thải. Em không có thói quen bày tỏ nhu cầu của mình, vì vậy khi đối mặt với những khó khăn trong việc học, em luôn cảm thấy bơ vơ bất lực, trong khi người mẹ lại đinh ninh rằng tất cả là do em quá đần độn.
Đối với cô con gái lớn không được lớn lên bên cạnh mình, người mẹ luôn cảm thấy đứa trẻ không gần gũi với mình, cho rằng con bé vừa bướng bỉnh vừa lười biếng. Thêm vào đó, gần đây giáo viên chủ nhiệm của Tiểu Hoan thường xuyên nhắn tin phản ánh rằng em hay không hoàn thành bài tập toán, điều đó khiến bà thấy vô cùng mất mặt, nỗi lo lắng cho tương lai của con gái vì thế ngày càng đè nặng.
Thế nhưng, sau sáu năm xa cách mẹ con thuở nhỏ, sợi dây tình cảm mẫu tử giữa họ chưa từng thực sự được hàn gắn. Người mẹ không cảm nhận được sự nương tựa và tin tưởng của đứa trẻ dành cho mình. Giây phút nhìn thấy con cầm điện thoại chơi, toàn bộ những cảm xúc dồn nén bấy lâu trong bà lập tức bị kích hoạt: Tất cả sự bất lực, chán nản, hụt hẫng, lo âu trong chớp mắt quy tụ lại thành một cơn thịnh nộ dữ dội.
Khi người mẹ trút hết mọi cảm giác tồi tệ lên đầu đứa con, nỗi xấu hổ và sự hoảng loạn trong lòng cô bé cũng đồng thời bùng nổ. Dưới áp lực khủng khiếp, đứa trẻ không còn phản kháng nữa, nó dùng sự nhượng bộ, quy phục để ngăn chặn mối đe dọa đáng sợ đang giáng xuống từ người mẹ.
Đối thoại gây áp lực nhìn bề ngoài thường mang lại hiệu quả tức thì. Nhưng trên thực tế, cả hai người đều đang phải đối mặt với những áp lực khó lòng gánh vác. Thường là một trong hai bên gặp phải vấn đề nào đó — chẳng hạn như thất bại, phạm sai lầm hoặc khó lòng xoay chuyển cục diện — còn bên kia thì cảm thấy vô cùng tồi tệ, coi vấn đề đó là chuyện tày đình.
Phần lớn các trường hợp, bên gây áp lực thường chiếm ưu thế về mặt danh phận hoặc vị thế so với bên kia: ví như cha mẹ đối với con cái, cấp trên đối với cấp dưới, hoặc người có tính cách lấn lướt đối với người yếu thế. Người nắm giữ ưu thế vị thế sẽ dùng thái độ cứng rắn để gây sức ép lên đối phương, thông qua việc phóng đại mức độ nghiêm trọng của vấn đề để buộc đối phương phải thay đổi thái độ; song cả hai bên đều không có khả năng đối diện với vấn đề thực sự.
Kiểu đối thoại này cũng rất thường thấy trong các xung đột giữa cha mẹ và con cái xung quanh những vấn đề bước ngoặt: chẳng hạn như con cái trì hoãn chuyện kết hôn, ngập ngừng chuyện sinh con, muốn nghỉ việc, không muốn đi làm mà chỉ thích ở nhà, hoặc có ý định ly hôn, v.v. Con cái có thể có những suy nghĩ riêng, hoặc có thể đang gặp phải nỗi niềm khó xử; nhưng trong mắt một số bậc cha mẹ, những hành vi đó là điều không thể chấp nhận được. Trong những cảm xúc tồi tệ của cha mẹ, ngoài nỗi lo âu cho con cái, thường còn ẩn chứa nỗi xấu hổ khó dung thứ gắn liền với cảm giác bất tài, thất bại.
Những bậc cha mẹ kiểu này có thói quen duy trì ưu thế vượt trội hơn người khác để chống chọi lại cảm giác tự ti sâu kín; do đó, ý nghĩ “sao mình lại có một đứa con như thế này” sẽ lập tức kích hoạt những cảm giác tồi tệ của chính họ. Điều này khiến họ không thể chấp nhận nổi và quay sang gây áp lực lên con cái; thông thường, khẩu hiệu “tất cả là vì muốn tốt cho con” sẽ trở thành tấm bình phong khiến họ không nhận ra ý đồ thực sự của bản thân.
Về mặt lý lẽ, con cái có thể phần nào đồng tình với ý tốt của cha mẹ, nhưng trải nghiệm cảm xúc của họ lại vô cùng tồi tệ. Ban đầu, họ có thể chọn cách đấu khẩu phản kháng; nhưng dưới sức ép dồn dập của cha mẹ, nếu bản thân họ cũng không đủ tự tin vào tương lai của mình, họ sẽ rơi vào trạng thái cắn rứt lương tâm và âu lo tột độ. Một mặt, họ cảm thấy mình làm chưa tốt khiến cha mẹ thất vọng; mặt khác, dưới đòn thị uy của cha mẹ, họ bắt đầu hoài nghi chính những suy nghĩ của mình, lo sợ đánh mất sự ủng hộ và không duy trì nổi sự ổn định của mối quan hệ.
Đứng trước những ngã rẽ cuộc đời, nếu cha mẹ áp dụng kiểu đối thoại gây áp lực này, thì dù người con có chọn cách chống đối, phục tùng hay lảng tránh thoái lui, họ đều không thể thấu hiểu và bộc lộ được nhu cầu thực sự của chính mình, mà chỉ có thể gồng mình chống đỡ sự căng thẳng khủng khiếp trong mối quan hệ trước mắt. Lối ứng xử áp đặt này cũng có thể đè bẹp đứa trẻ, đẩy chúng vào ngõ cụt không lối thoát và dẫn tới những bi kịch đau lòng.
Ví dụ về đối thoại tự hạ thấp bản thân
Y Na tâm sự với tôi rằng cô đang có ý định ly hôn. Những cuộc cãi vã giữa cô và chồng chẳng khác nào một bộ phim được chiếu đi chiếu lại: Gần như lần nào kịch bản cũng y hệt nhau, từ cách mở đầu, diễn biến cho đến hồi kết đều không sai một li, điều đó khiến cô vô cùng chán chường. Cô bảo hai vợ chồng cứ liên tục rơi vào cùng một cái hố mà chưa từng thực sự trèo lên được. Bắt đầu cuộc cãi vã là màn đấu khẩu qua lại, sau đó khi cô không chịu đựng nổi nữa thì bắt đầu lôi những điểm yếu của chồng ra chỉ trích, còn người chồng đến cuối cùng bao giờ cũng buông một câu: “Tôi là kẻ vô tích sự, tồi tệ cùng cực, được chưa hả?!”. Trước phản ứng đó, Y Na chán nản: “Mỗi lần đến nước này là tôi thấy vô nghĩa hết sức. Cãi nhau cũng chẳng ra ngô ra khoai gì, thôi dẹp đi”.
Y Na là con gái lớn trong gia đình, dưới cô còn có một cậu em trai. Cô kể trong ký ức của mình, kể từ khi có em trai, cô dường như biến thành con của ông bà nội, không bao giờ còn cơ hội được dọn về sống chung trong căn phòng của bố mẹ nữa. Cô bảo dù bản thân đã nỗ lực rất nhiều, bố mẹ cũng hiếm khi để mắt đến cô, toàn bộ sự chú ý của họ đều dồn hết cho cậu em trai. Cô cảm thấy chồng mình chỉ biết chăm chú vào những việc riêng của anh, hiếm khi nhìn thấy những nhu cầu của vợ.
Y Na là một phụ nữ tháo vát, năng nổ: Trong công việc cô liên tục thăng tiến, lại có tài đầu tư quản lý tài chính, mức sống gia đình cô vượt trội hơn hẳn bạn bè đồng trang lứa. Trong khi đó, chồng cô bắt đầu dấn thân vào con đường đầu tư khởi nghiệp từ năm năm trước, nhưng lợi nhuận và kết quả đạt được trước sau vẫn không như kỳ vọng, điều này khiến anh chịu áp lực rất lớn.
Y Na luôn hoài nghi năng lực và khả năng phán đoán của chồng; cô đã nhiều lần khuyên anh nên từ bỏ dự án đầu tư đó, rút vốn về để cô quản lý tài chính. Nhưng cứ mỗi lần đề cập đến chuyện này, hai người lại tranh cãi gay gắt, ai cũng giữ khăng khăng ý kiến của mình. Y Na cảm thấy những cống hiến của mình cho gia đình chưa từng được chồng công nhận; còn người chồng lại khăng khăng muốn kiếm được lợi nhuận từ việc khởi nghiệp để chứng minh bản thân.
Cả hai người đều có nhu cầu tương tự nhau nhưng không ai nhận được sự công nhận từ phía đối phương. Người chồng trong mỗi cuộc cãi vã đều nếm trải cảm giác bất lực của bản thân đến mức gần như sụp đổ; anh bèn chọn cách tự hạ thấp mình để ép vợ phải dừng tay. Hai con người, một người tràn trề thất vọng, một người đầy rẫy vết thương; những trải nghiệm lặp đi lặp lại khiến cả hai đều rơi vào tuyệt vọng, cuộc hôn nhân của họ dường như đã đi đến hồi kết.
Đối thoại tự hạ thấp bản thân thường xảy ra khi một bên cảm thấy bản thân cực kỳ tồi tệ và không còn đường lui; cách thức tự công kích chính mình này có thể khiến đối phương rất khó tiếp tục cất lời chỉ trích. Logic sâu xa bên trong là: “Tôi đã tự nhận mình chẳng ra cái gì rồi, cô/anh có thể ngậm miệng lại được chưa?”.
Cách thức này dù có thể xoa dịu sự căng thẳng trên bề mặt, nhưng do đối phương hoàn toàn không hiểu được căn nguyên sâu xa đằng sau, ngược lại sẽ thấy không còn cách nào để tiếp tục giao tiếp nữa. Kẻ tự hạ thấp bản thân sau khi tự hành hạ mình thường thì vết thương nội tâm lại càng thêm rách toạc, và trong lần đối đầu kế tiếp, họ sẽ lại tiếp tục lôi “vết thương” ấy ra làm vũ khí tự vệ, khiến đối phương không biết phải ra tay thế nào.
Thế nhưng, việc phơi bày “vết thương” một cách trần trụi không che đậy này lại rất khó giúp họ thoát khỏi cảm giác xấu hổ: Dù nó phần nào làm suy giảm sự tấn công của đối phương, nhưng nó lại thường khiến họ cảm nhận được sự khinh miệt từ người kia. Một khi đối phương phớt lờ cách làm này — chẳng hạn như im lặng hoặc quay lưng bỏ đi — thì dư chấn của hành động tự tấn công ấy sẽ khiến trái tim họ càng thêm vỡ vụn. Đây là một phương thức đối thoại mang tính hủy diệt; nếu bị lạm dụng thường xuyên, chắc chắn sẽ có một bên lựa chọn trốn chạy khỏi mối quan hệ.
Tiết 2: Những hiểu lầm về dục vọng
Hiểu lầm 1: Nỗi đau của con người là do dục vọng mang lại.
Hiểu lầm 2: Con người ai nấy đều ích kỷ, trong lòng chỉ có bản thân.
Hiểu lầm 3: Dục vọng của con người là không đáy.
Khi một người không thể tìm thấy sự thấu hiểu trong mối quan hệ, họ sẽ quay ngược vào bên trong để tìm nguyên nhân ở bản thân. Sau đó họ phát hiện ra rằng nỗi đau đớn thường bắt nguồn từ việc những ước vọng của mình không được đáp ứng, từ đó rất dễ quy kết rằng mọi rắc rối đều do dục vọng gây ra.
Nếu nghe thấy những lời hồi đáp dưới đây, liệu bạn có cảm thấy nghẹn lời không thể biện bạch?
“Thứ cô/anh đòi hỏi chẳng ai có thể đáp ứng nổi đâu, trên đời này làm gì có ai làm cho cô/anh vừa lòng mọi chuyện được!”
“Nếu cô/anh bớt lắm chuyện đi thì mối quan hệ của chúng mình đâu đến nông nỗi này!”
“Lúc nào cô/anh cũng bới lông tìm vết, rốt cuộc thì phải là người như thế nào mới làm vừa lòng cô/anh đây hả?!”
Hiểu lầm 1: Nỗi đau của con người là do dục vọng mang lại
Khi trả dục vọng về đúng bản chất nguyên sơ của nó, chúng ta sẽ nhận ra rằng: Đó chính là động lực nội tại thúc đẩy mỗi cá nhân phát triển bản thân. Nó giống như sức sống tiềm tàng vốn có bên trong hạt mầm, dưới sự nuôi dưỡng của ánh nắng, mưa móc và đất đai màu mỡ, nó sẽ thôi thúc hạt mầm đâm chồi nảy lộc, vươn mình lớn mạnh.
Chất dinh dưỡng cho sự trưởng thành của con người được cung cấp bởi tình cảm của những người nuôi dưỡng: Từ tiếng vỗ về của mẹ xoa dịu tiếng khóc thuở lọt lòng, cho đến lời ngợi khen của cha mẹ khi ta chập chững bước đi đầu đời, nguồn dưỡng chất mà ta nhận được không gì là không đến từ mối quan hệ. Chúng ta tràn trề khát khao đối với ánh mắt ấm áp và đầy sức mạnh của cha mẹ, hệt như loài cây đang lớn luôn hướng về phía có ánh mặt trời. Sự vỗ về của người mẹ và sự che chở của người cha giúp ta xác tín rằng mình đang được yêu thương, chú ý; còn sự tán thưởng trước mỗi tiến bộ cùng lòng kiên nhẫn, khích lệ khi ta vấp ngã thất bại giúp ta xác tín rằng bản thân được công nhận và đón nhận.
Dục vọng (khát khao) chính là chiếc cầu nối kết các mối quan hệ, giúp dòng chảy tình cảm luân chuyển giữa nhu cầu và sự thỏa mãn, khiến nội tâm ta nhờ những sự xác tín này mà tìm thấy ý nghĩa của sự tồn tại bản thân. Có thể thấy, dục vọng phải nương nhờ vào mối quan hệ mới có thể được thỏa mãn; thế nhưng con người lại thường cảm thấy rất khó để thỏa mãn dục vọng của mình từ người khác, và cảm thấy vô cùng đau đớn vì điều đó. Thế là, họ đổ lỗi cho dục vọng gây ra nỗi đau, từ đó ngộ nhận rằng hễ bớt dục vọng đi thì sẽ bớt đau khổ.
Ẩn sau suy nghĩ này là một giả định ngầm: Hạnh phúc = Dục vọng được thỏa mãn; nói cách khác, Dục vọng không được thỏa mãn = Bất hạnh. Thế nhưng, hoạt động tâm lý của con người không hề đơn giản như một phép toán như vậy.
Chúng ta đều biết, trẻ con thuở nhỏ thường xuyên đòi hỏi cha mẹ đủ thứ nhu cầu: Đòi đồ ăn ngon, đòi đồ chơi đẹp, đòi thêm thời gian chơi đùa; và sự đáp ứng của cha mẹ đối với những nhu cầu ấy luôn có giới hạn. Những giới hạn này đại diện cho những quy tắc cần thiết, điều này hoàn toàn không có gì sai. Tuy nhiên, một khi đứa trẻ khăng khăng đòi hỏi mà cha mẹ lại cứng nhắc giữ quy tắc, cảm xúc của đôi bên sẽ lập tức dao động dữ dội: đứa trẻ sẽ ăn vạ khóc lóc, cha mẹ sẽ bực bội gắt gỏng. Việc cha mẹ giữ nguyên tắc “con đòi gì cho nấy” chắc chắn là không ổn, đứa trẻ buộc phải học cách tiết chế thì mới có thể trưởng thành.
Thế nhưng, mấu chốt vấn đề không nằm ở chỗ có thỏa mãn dục vọng hay không, mà nằm ở chỗ có thỏa mãn được ý nghĩa đại diện đằng sau dục vọng đó hay không. Ý nghĩa này chính là: Một con người được phép trải nghiệm niềm vui sướng khi dục vọng của mình được đáp ứng.
Khi cha mẹ truyền tải thái độ: “Bố mẹ biết con rất thích ăn món này” hoặc “Bố mẹ biết con vẫn chưa chơi thỏa thích”, đứa trẻ sẽ xác tín được rằng: “Bộc lộ nhu cầu là điều được phép, bố mẹ luôn sẵn lòng muốn mình được vui vẻ, chỉ là lúc này mình không thể đòi thêm được nữa, ngày mai mình vẫn có thể có được nó”. Khi ấy, đứa trẻ dẫu có đôi chút tiếc nuối nhưng trong lòng vẫn ấp ủ niềm hy vọng, mong chờ.
Ngược lại, nếu cha mẹ thay đổi thái độ, trở nên gay gắt, đem đủ thứ đạo lý ra để cự tuyệt hoặc phớt lờ thẳng thừng nhu cầu của con, thì trải nghiệm của đứa trẻ sẽ biến thành: Đưa ra đòi hỏi sẽ làm bố mẹ phật ý, bản thân có thể sẽ bị phạt — sau này bố mẹ có thể sẽ không bao giờ đáp ứng đòi hỏi của mình nữa. Từ đó đứa trẻ cho rằng vấn đề nằm ở chính bản thân mình, cho rằng những dục vọng đó của mình là xấu xa, sai trái. Điều này sẽ mang lại một trải nghiệm xung đột sâu sắc: “Tại sao niềm vui của con lại khiến bố mẹ không vui?”.
Bị cự tuyệt hoặc phủ nhận sẽ khiến bạn không ngừng hoài nghi những nhu cầu của chính mình; bị chế giễu hoặc hạ thấp sẽ khiến bạn cảm thấy bản thân không xứng đáng được bày tỏ nhu cầu. Chính sự chối bỏ đối với trải nghiệm vui sướng khi nhu cầu được đáp ứng mới thực sự là nguồn cơn đích thực của mọi nỗi đau.
Hiểu lầm 2: Con người ai nấy đều ích kỷ, trong lòng chỉ có bản thân
Tiêu Lôi là một người đàn ông cao ráo, khôi ngô, nhưng gương mặt anh lúc nào cũng đăm chiêu nghiêm nghị, tạo cho người đối diện cảm giác rất xa cách. Lời ăn tiếng nói của anh thường lộ rõ vẻ khinh khỉnh và ngạo mạn; đặc biệt đối với phụ nữ, anh luôn dùng những từ ngữ như “ích kỷ”, “máu lạnh” để miêu tả về họ. Anh đã 39 tuổi, sự nghiệp rất thành đạt nhưng đến nay vẫn chưa kết hôn. Anh thường xuyên hẹn hò với những cô gái xinh đẹp, nhưng chỉ sau một thời gian ngắn qua lại, anh sẽ tìm đủ mọi lý do để rũ bỏ đối phương. Giọng điệu của anh luôn toát ra một vẻ lạnh lẽo ghê người.
Tiêu Lôi nói: “Tôi không có niềm tin vào hôn nhân. Từ bé tôi đã chứng kiến bố mẹ cãi nhau triền miên không dứt, lúc nào tôi cũng chỉ mong họ mau mau ly hôn cho xong. Mẹ tôi mở mồm ra là sỉ vả bố tôi, còn bố tôi thì muôn đời làm kẻ đào tẩu. Những đối tượng tôi xem mắt chẳng có ai thực lòng muốn mang lại hạnh phúc cho tôi cả, vẻ dịu dàng trên gương mặt họ chưa bao giờ chạm tới được trái tim tôi, ai nấy đều khiến tôi nhìn thấy hình bóng của mẹ mình; nghĩ thôi cũng biết, tương lai sau này sẽ có vô số nỗi bất mãn đang chực chờ tôi”.
Anh kể lại vài mối tình đã qua, một mực khẳng định những cô gái ấy đều là phường “hám danh hám lợi”. Tôi chỉ vừa mới bày tỏ một góc nhìn hơi khác đôi chút thì đã lập tức chọc giận anh; anh đùng đùng nổi giận chất vấn tại sao tôi không đứng về phía anh, trong chớp mắt tôi cũng biến thành đối tượng bị anh công kích.
Anh bảo chẳng thể hiểu nổi tại sao mẹ mình lúc nào cũng bất mãn, trong mắt bà chỉ có duy nhất bản thân mình, luôn săm soi bới móc những người xung quanh; còn bố anh thì cứ trốn ra ngoài nhậu nhẹt, biến anh thành kẻ chịu trận thay. Để bớt bị mắng chửi, ngay cả khi bị ốm anh cũng cắn răng không dám nói ra. Anh bảo trên cõi đời này chẳng có ai bảo vệ anh cả, ngoại trừ chính bản thân anh.
Qua trường hợp này, chúng ta thấy Tiêu Lôi và mẹ anh dường như đều là những kẻ ích kỷ. Người mẹ luôn chỉ bận tâm đến cảm xúc của mình, bằng cách săm soi người khác để cân bằng lại cảm xúc nội tâm; còn Tiêu Lôi thì chưa từng cảm nhận được sự quan tâm của mẹ dành cho mình, trong mắt anh, mẹ mãi mãi là một kẻ đòi hỏi, vòi vĩnh, điều này khiến anh đinh ninh rằng những người phụ nữ khác trên đời cũng đều ích kỷ, chỉ biết nghĩ cho nhu cầu của bản thân.
Anh kể với tôi, ngoại lệ duy nhất là có một lần anh bị ốm, người bạn gái khi đó đã đi mua hoa quả cho anh; ký ức ấy khiến anh mãi mãi không thể nào quên. Trải nghiệm được yêu thương chăm sóc quá đỗi nghèo nàn khiến anh khó lòng bước lại gần phụ nữ, và những nhu cầu bình thường của người phụ nữ trong mối quan hệ đối với anh đều có thể bị xem như một sự bóc lột, tước đoạt.
Một người ích kỷ trước hết là một người vô cùng thiếu thốn tình yêu thương. Họ không còn muốn cho đi để cân bằng lại cảm giác thiếu hụt vì không được yêu thương; họ không thể tin rằng trên đời lại có người thực lòng để tâm đến mình, vì vậy sự ích kỷ chính là sản phẩm của những mối quan hệ đổ vỡ, thất bại. Sự ích kỷ ở người khác mà bạn cảm nhận được, phần lớn chính là phản ứng tổn thương của họ trước những đối xử lạnh nhạt và thiếu thiện chí trong quá khứ; con người trông có vẻ ích kỷ kia không phải không khao khát một mối quan hệ tốt đẹp, mà chính những vết thương lòng từng gánh chịu đã khiến họ hoàn toàn đánh mất niềm tin vào tình cảm giữa con người với con người.
Hiểu lầm 3: Dục vọng của con người là không đáy
Người ta thường cho rằng: Có thể chấp nhận việc một người có nhu cầu, nhưng người đó cần phải biết kiềm chế dục vọng của mình. Đúng là chúng ta không ngừng mua sắm, tiêu dùng, nhu cầu đối với đời sống vật chất dường như chẳng bao giờ có điểm dừng.
Thế nhưng, kinh nghiệm đúc kết từ hàng trăm, hàng ngàn cuộc trò chuyện với các thân chủ đã mách bảo tôi rằng: Thứ mà con người ta mê đắm, tham luyến thực chất là cái cảm giác “cầu mà không được”. Nói cách khác, không phải con người tham lam vô độ, mà là vì “ý nghĩa” tối quan trọng ẩn chứa bên trong những cảm giác ấy chưa từng được thỏa mãn.
Sở dĩ bạn có thể sống là chính mình, sống một cách có tôn nghiêm, là nhờ ý nghĩa của một con người mang lại cảm giác thỏa mãn: nghĩa là bạn cảm thấy thế giới này có người sẵn lòng muốn thấy bạn vui vẻ, có người công nhận bạn; cảm giác này chủ yếu đến từ “những người quan trọng” trong cuộc đời bạn.
Khi không thể tìm thấy sự thỏa mãn về mặt tình cảm trong các mối quan hệ, con người sẽ chọn cách dùng sự thỏa mãn về vật chất để thay thế. Nhưng vật chất chỉ mang lại cảm giác thỏa mãn ngắn ngủi, nhất thời, nó không thể nào thay thế được sự chú ý và để tâm bộc lộ qua tình cảm con người.
Khi thiếu vắng sự hồi đáp tình cảm từ người khác, con người sẽ liên tục dùng những vật phẩm thay thế để lấp đầy, vì thế trông họ mới có vẻ tham lam vô độ. Cái hố sâu của sự thiếu thốn tình cảm sẽ vĩnh viễn không bao giờ có thể lấp đầy bằng tiền tài vật chất, quyền lực hay tình dục, bởi tất cả những thứ đó đều không thể thay thế được tình cảm chân thành từ một trái tim thực sự để tâm đến bạn.
Lệ Văn là một phụ nữ xinh đẹp. Cô kể chồng rất yêu cô, họ đã kết hôn được mười năm và có hai đứa con kháu khỉnh. Kể từ khi sinh con, cô không còn đi làm nữa. Cô nói thu nhập của chồng rất cao, hoàn toàn không cần cô phải bươn chải kiếm tiền. Bấy lâu nay, cô vẫn luôn ngỡ rằng mình rất đỗi hạnh phúc: Có thừa tiền để vung tay mua sắm đủ loại đồ hiệu xa xỉ, trong nhà có người giúp việc chăm sóc con cái và quán xuyến sinh hoạt gia đình.
Thế nhưng dạo gần đây, cô lại cảm thấy bản thân ngày càng mất đi cảm giác an toàn. Cô nhận ra mình mua rất nhiều đồ đạc không phải vì bản thân thực sự cần chúng, mà chỉ đơn thuần là tìm kiếm cảm giác thỏa mãn trong giây phút tiêu tiền. Cô kể mình luôn có thói quen mua những món đồ đắt đỏ, ăn uống cũng phải chọn những nhà hàng sang trọng nhất. Gần đây cô thường xuyên mất ngủ, thấy cuộc sống của mình trôi qua hư ảo như một giấc mộng, tất cả những gì đang sở hữu đều vô cùng mong manh. Đột nhiên cô cảm thấy mình chẳng có gì trong tay cả.
Trong ký ức tuổi thơ của Lệ Văn, cô luôn phải mặc lại quần áo cũ của chị gái. Vì bố cô mắc bệnh dạ dày nên mẹ luôn nấu những món ăn riêng biệt cho ông; cô rất muốn nếm thử, nhưng mẹ luôn gạt đi bảo cô háu ăn, chưa bao giờ chịu xới cho cô một miếng.
Bước vào hôn nhân, người chồng thỏa mãn đầy đủ cho cô về mặt vật chất, cô quả thực đã dùng sự sung túc này để bù đắp cho những thiếu thốn thời thơ ấu, nhưng sự thỏa mãn vật chất không thể nào khỏa lấp được sự trống rỗng trong tâm hồn.
Trong trải nghiệm thuở bé, cô là một đứa trẻ không quan trọng, luôn bị gạt ra ngoài rìa. Cô không nhất thiết cứ phải mặc quần áo mới hay ăn món ăn của bố, cô chỉ muốn xác nhận xem mẹ có thực sự để tâm đến mình hay không, có sẵn lòng muốn cô được vui vẻ thỏa nguyện hay không.
Rất nhiều khi, cha mẹ cảm thấy mình đã hy sinh quá nhiều và cũng thấy ấm ức; trên thực tế, không phải họ không muốn đáp ứng nhu cầu tình cảm của con cái, mà chính sự thiếu thốn tình yêu thương thời thơ ấu đã khiến bản thân họ cũng không biết cách bày tỏ nhu cầu: Khi một người chưa từng nhận được sự thỏa mãn về mặt tình cảm, họ sẽ rất khó nhìn thấy hoặc đáp ứng nhu cầu tình cảm của người khác.
Trong cuộc hôn nhân này, Lệ Văn vẫn thiếu vắng cảm giác tồn tại và cảm giác về giá trị bản thân; người chồng không hề nhận ra những nhu cầu thực sự của cô — chẳng hạn như cảm giác thỏa mãn về giá trị có thể đạt được thông qua công việc, hay niềm vui được sẻ chia cuộc sống trong giao tiếp xã hội. Đời sống tinh thần của cô vô cùng nghèo nàn, khô hạn, cô chưa từng nghe thấy có ai hỏi xem bản thân cô thực sự cần điều gì.
Mức độ hưởng thụ vật chất và giải trí của đời sống hiện đại đã vượt xa mọi thời đại trước đây, điều này thường tạo ra một ảo tưởng sai lầm: Hễ kiếm được càng nhiều tiền, mua sắm được vô vàn hàng hóa và dịch vụ xa hoa thì con người sẽ hạnh phúc. Ảo tưởng ấy lại càng khiến người ta không tin rằng mình có thể tìm thấy sự thỏa mãn từ tình cảm giữa người với người.
Chúng ta có thể rút ra kết luận: Bản thân dục vọng không hề có lỗi, cũng không phải do con người đòi hỏi quá nhiều, mà là vì nhu cầu tình cảm ẩn giấu đằng sau dục vọng chưa từng nhận được sự hồi đáp. Ý nghĩ muốn triệt tiêu dục vọng xuất phát từ một giả định đầy bi quan về các mối quan hệ giữa người với người: Người ta đúc kết từ kinh nghiệm rằng ai nấy đều ích kỷ, chẳng ai muốn đáp ứng nhu cầu tình cảm của người khác, chỉ có cách dập tắt dục vọng thì mới mong tránh xa được nỗi đau. Thế nhưng, ý nghĩa tiềm ẩn bên trong dục vọng vẫn luôn chôn sâu nơi đáy lòng ta, và trước sau vẫn tạo ra những tác động vô cùng to lớn đến cảm giác hạnh phúc của mỗi con người.
Tiết 3: Tình thế nan giải và logic tầng sâu trong mối quan hệ của con người
Các mối quan hệ của con người trong phần lớn thời gian đều có thể duy trì được thế cân bằng; nhưng một khi có người rơi vào đau khổ, thế cân bằng ấy sẽ lập tức bị phá vỡ. Dù con người không ngừng tìm kiếm giải pháp, nhưng ta lại thường bước vào cùng một tình thế nan giải lặp đi lặp lại: Người có mối quan hệ thân thiết nhất với bạn lại thường là người làm bạn tổn thương sâu sắc nhất. Bạn càng ôm ấp nhiều khát khao trong mối quan hệ này bao nhiêu thì lại càng dễ rơi vào thất vọng, thậm chí tuyệt vọng bấy nhiêu; bộc lộ càng nhiều thì mối quan hệ lại càng trở nên tồi tệ hơn.
Trước nghịch lý không có lời giải này, một bộ phận lựa chọn rời xa những tranh chấp, một bộ phận khác lại không ngừng giằng xé với dục vọng và nỗi đau. Chúng ta thường thấy ở bố mẹ mình những trận cãi vã triền miên không hồi kết, hoặc hai con người sống bên nhau trọn đời hệt như hai kẻ xa lạ; chúng ta nghe bạn bè than thở đủ điều về người bạn đời của họ. Chúng ta chịu thương tích trong tình yêu, và hôn nhân thì biến thành một bãi chiến trường ngổn ngang lông gà vỏ tỏi.
Con người dường như rất khó chung sống hòa thuận với nhau: Ở xa thì cô đơn, đến gần thì lại đâm chích làm tổn thương nhau. Ta thường thấy mình đòi hỏi chẳng đáng là bao nhưng mãi không thể có được, chuyện chẳng có gì to tát nhưng trong lòng cứ mãi canh cánh không nguôi.
Sau vô số lần bộc lộ cảm xúc mà chỉ nhận lại sự hiểu lầm, cự tuyệt, phớt lờ, để tránh bị tổn thương, chúng ta bắt đầu tự kiểm điểm xem liệu cội nguồn của nỗi đau có phải là do chính bản thân mình hay không. Ta có thể bị đối phương gán cho cái mác là không biết bằng lòng, quá nhõng nhẽo làm bộ, ấu trĩ trẻ con; hoặc bị chê là quá đa sầu đa cảm, suy nghĩ quá nhiều, tự chuốc lấy phiền muộn.
Nhưng kết quả của việc tự kiểm điểm bản thân lại thường dẫn đến sự bi quan: Chúng ta dường như luôn bị mắc kẹt bởi những điều không buông bỏ nổi, lại rất khó nhận được sự giúp đỡ từ đối phương; bởi lẽ đối phương trông có vẻ quá ổn định về mặt cảm xúc đến mức không thể thấu cảm được nỗi niềm của ta, hoặc là họ cũng chẳng khá hơn ta là bao, một khi cảm xúc bùng nổ còn khiến người khác phát điên hơn cả ta.
Giữa những trận cãi vã bất tận và những dòng nước mắt rơi hoài không dứt, qua vô số lần hợp rồi lại tan, trong những màn đối đầu giữa chỉ trích và thanh minh, giữa vòng luẩn quẩn vừa yêu thương lại vừa tàn hại lẫn nhau, con người dường như không còn tin rằng giữa người với người có thể cùng chung sống hòa hợp. Những kinh nghiệm đau thương trong quá khứ đã hình thành nên giả định đầy bi quan này, và họ tin rằng nó rất khó lòng thay đổi.
Hãy cùng xem cuộc đối thoại dưới đây giữa một cặp đôi sau một trận cãi vã nảy lửa:
Nam: “Anh xin lỗi, anh sai rồi, đừng khóc nữa mà.”
Nữ: (Tiếp tục nức nở khóc)
Nam: “Vừa nãy tâm trạng anh cũng không tốt.”
Nữ: “Tôi không muốn nghe anh giải thích!”
Nam: (Bắt đầu mất kiên nhẫn) “Anh có cố ý làm em tức giận đâu.”
Nữ: “Anh gắt gỏng cái gì chứ!”
Nam: “Được rồi, được rồi, là do anh không kiểm soát tốt bản thân.”
Nữ: (Bực bội gắt lên) “Tôi có đòi hỏi anh phải làm gì to tát đâu, anh chỉ cần nói đúng một câu thôi là tôi hết giận ngay rồi!”
Nam: (Tức tối gầm lên) “Nhưng anh căn bản không biết cái câu đó rốt cuộc là câu gì cả!”
Cảnh tượng này bạn có thấy quen thuộc không? Bản thân bạn trong các mối quan hệ liệu có từng rơi vào tình cảnh trớ trêu như vậy chăng? Tại sao những lúc như thế này việc giao tiếp lại trở nên khó khăn đến vậy, rốt cuộc vấn đề nằm ở đâu?
Đặc tính của mối quan hệ con người — Mô hình “Áo khoác ngoài”
“Khi nghe một ai đó nói chuyện đến phát ngán mà muốn thoát khỏi họ, tôi liền giả vờ nhiệt tình đồng tình tán thành.”
— Albert Camus
Khi giao tiếp, con người thường chỉ bộc lộ những nội dung an toàn trong mối quan hệ — tức những nội dung đã qua lớp màng phòng vệ hiệu quả; tương tự, những gì bạn nghe được cũng là thông tin đã được người khác xử lý. Đây chính là mô hình “Áo khoác ngoài” trong mối quan hệ con người.
Ví dụ, một người có thể tìm cớ từ chối lời mời của người khác: “Dạo này bận quá, để hôm khác hẹn nhé”. Trên thực tế, có thể vì một chuyện gì đó xảy ra giữa hai người trước đây khiến anh ta thấy khó chịu nên mới từ chối; nhưng anh ta không hề để lộ sự khó chịu âm ỉ đó, mà dùng chiếc “áo khoác ngoài” để bọc kín và che đậy cảm xúc mà bản thân chưa sẵn sàng đối diện. Thử nghĩ xem, nếu không có chiếc “áo khoác” này mà nói thẳng tuột ra: “Hôm nọ anh làm tôi khó chịu, tôi không muốn gặp mặt anh nữa”, anh ta sẽ lập tức tự phơi mình trước xung đột. Trừ phi anh ta thực sự muốn giãi bày nỗi khó chịu ấy, và bản thân không cần quá bận tâm việc sẽ châm ngòi cho một cuộc cãi vã.
Ngoài việc đáp ứng nhu cầu giữ ấm chống lạnh, áo khoác còn là thứ mặc cho người khác ngắm nhìn. Bạn luôn cần có vài chiếc áo khoác phù hợp với mình trước mặt người khác: Chúng vừa giúp bạn phô diễn những mặt tốt đẹp, đồng thời cũng giúp che giấu đi những góc khuất mà bạn không muốn ai nhìn thấy.
Tôi dùng hình ảnh “áo khoác ngoài” thay vì thuật ngữ quen thuộc “phòng vệ tâm lý” (defense mechanism) là muốn diễn tả một cách hình tượng hơn rằng: Cốt lõi của quá trình tâm lý này có mối liên hệ mật thiết với bối cảnh tương tác giữa người với người. Hai từ này có nội hàm tâm lý giống nhau, nhưng góc nhìn lại khác nhau. Từ “phòng vệ” rất dễ mang lại hai ảo tưởng sai lệch:
Đó là cơ chế nội tại của riêng một cá nhân — chỉ giải quyết xung đột nội tâm của chính người đó;
Nó ám chỉ sự đề phòng, cảnh giác đối với người khác, là một trạng thái không lành mạnh.
Thế nhưng, xuất phát từ nhu cầu duy trì sự ổn định của một con người, mọi sự phòng vệ đều là cần thiết; nó không phải là vấn đề của riêng một ai, mà là vấn đề cần phải được soi chiếu và thấu hiểu dưới góc nhìn tương tác của cả hai người.
Cảm hứng mượn hình ảnh “áo khoác ngoài” bắt nguồn từ một câu chuyện thú vị trong một buổi đào tạo tham vấn tâm lý. Khi ấy, tôi mời hai chuyên viên tham vấn thực hiện bài tập đóng vai làm việc với một thân chủ có tính phòng vệ cao. Hai người lập tức nghĩ ra hoạt cảnh bác sĩ chụp X-quang lồng ngực cho bệnh nhân. Họ lần lượt đóng vai bác sĩ và bệnh nhân cần kiểm tra; bác sĩ bảo bệnh nhân cần phải cởi áo khoác ngoài ra để tiến hành chụp chiếu.
Lúc đó vừa hay là đầu đông ở Bắc Kinh, phòng ốc chưa có hệ thống sưởi ấm, người đóng vai bệnh nhân vẫn đang mặc một chiếc áo khoác rất dày.
Bệnh nhân: “Tôi không cởi áo khoác có được không?”
Bác sĩ: “Không cởi áo thì không thể kiểm tra được, ai cũng đều phải cởi áo khoác ra hết.”
Bệnh nhân: (Dùng hai tay ôm chặt lấy ngực) “Thế thì tôi không khám nữa.”
Vòng thực hành đầu tiên khiến cô “bác sĩ” cảm thấy khá thất bại. Tôi mời hai người chia sẻ xem bản thân vừa trải nghiệm cảm giác gì. “Bác sĩ” nói thường ngày các bệnh nhân khác đều rất hợp tác, nên cô hoàn toàn không hiểu chuyện gì đang xảy ra, và dường như càng đem lý lẽ ra thuyết phục thì kết quả lại càng phản tác dụng; còn cô “bệnh nhân” thì giãi bày rằng mình cảm nhận thấy một sự áp bức, chỉ muốn vùng chạy trốn.
Sau đó, họ quyết định thử lại lần thứ hai. Lần này, “bác sĩ” không còn khăng khăng bắt ép “bệnh nhân” phải cởi áo nữa, mà đổi sang giọng điệu nhẹ nhàng, ôn hòa để trò chuyện:
Bác sĩ: “Chị có vẻ không muốn cởi áo khoác ngoài lắm nhỉ?”
Bệnh nhân: “Cũng không hẳn là không thể, chỉ là cái cảm giác bị bắt ép khiến tôi thấy rất khó chịu.”
Bác sĩ: “Ồ, tôi rất xin lỗi, thái độ vừa rồi của tôi đã làm chị không thoải mái. Tôi quen miệng mất rồi, ngày nào cũng làm như vậy nên không để ý đến cảm nhận của chị. Thực tế là chị đang giúp tôi hoàn thành công việc mới đúng.”
Bệnh nhân: (Thở phào nhẹ nhõm) “Vậy thì bác sĩ khám cho tôi đi.” (Cô đồng ý cởi áo khoác ra)
Chúng ta có thể thấy, mô hình “Áo khoác ngoài” thể hiện một thái độ hoặc phản ứng đối với mối quan hệ, nó đại diện cho sự kiên định tự thân và sự tự bảo vệ mà bạn cần có trong một mối quan hệ nhất định. Đồng thời nó cũng không phải là thứ bất di bất dịch: Khi mối quan hệ thay đổi, bạn có thể khoác thêm lớp áo dày hơn, hoặc cũng có thể không còn cần phải luôn mặc nó trên người nữa.
Thuở mới bước chân vào nghề tham vấn tâm lý, tôi chưa từng nghĩ xem bản thân đang mang lại cảm giác gì cho thân chủ ngồi đối diện; tôi luôn nghĩ mình đang làm việc vô cùng nghiêm túc, mà không nhận ra rằng sự nghiêm túc ấy có thể đem lại cảm giác căng thẳng cho người khác.
Tôi nhớ có một cậu học sinh nam cấp hai, ban đầu cậu bé dường như chẳng buồn trả lời những câu hỏi của tôi, còn bảo giữa tôi và cậu chẳng có chuyện gì để nói. Sau một khoảng lặng im lặng đầy ngượng ngùng, tôi quyết định không hỏi dồn dập nữa, mà mời cậu bé cứ nói bất cứ điều gì cậu thích. Thế là cậu bé hào hứng kể cho tôi nghe về những nhân vật anime cậu yêu thích, các trò chơi điện tử, ca sĩ hát chính của ban nhạc rock. Lúc này trông tôi hệt như một đứa học sinh tiểu học ngập tràn sự tò mò, bởi trong cuộc sống của tôi hoàn toàn xa lạ với những thứ đó, thành ra cậu bé càng kể càng đắc chí.
Về sau cậu bé tâm sự: Ban đầu cậu rất ghét dáng vẻ của tôi, trông quá nghiêm nghị, chẳng khác nào giáo viên chủ nhiệm ở trường. Rõ ràng những câu hỏi của tôi đã tạo ra áp lực cho cậu; ngược lại, khi tôi rũ bỏ vẻ đạo mạo, nghiêm túc thường thấy, cậu mới chịu thả lỏng để tôi nhìn vào thế giới của mình. Khi tôi bị niềm vui của cậu lay động và tò mò về cuộc sống của cậu, ý nghĩa của những thứ ẩn sâu dưới chiếc “áo khoác” của cậu bé không còn mang ý nghĩa tiêu cực như trước đây — ví như ham chơi hay lêu lổng không lo học hành — mà trở thành phần cốt lõi quan trọng cần được nhìn nhận và thấu hiểu.
Khi mối quan hệ giữa bạn và một người trở nên thân thiết hơn, bạn sẽ ít sử dụng mô hình “áo khoác ngoài” hơn, điều này chắc chắn sẽ làm hé lộ con người chân thực hơn của bạn, và đây là một thử thách lớn cho cả hai người trong mối quan hệ. Đứng trước một người dám bộc lộ trần trụi bản thân, nếu bạn chưa sẵn sàng mở rộng cõi lòng đến mức độ tương tự, đối phương có thể sẽ cảm thấy lạc lõng, hụt hẫng; họ sẽ cố lôi kéo bạn cùng “cởi bỏ áo khoác”, hoặc sau khi thử bất thành, chính họ sẽ lại vội vã “khoác áo vào” lần nữa.
Trong quá trình tham vấn, khi mức độ tin tưởng gia tăng, thân chủ sẽ chia sẻ với tôi nhiều suy nghĩ hoặc trải nghiệm riêng tư hơn; những lúc đặc biệt đau đớn, bất lực, có thể họ cũng sẽ bộc bạch thẳng thắn. Đôi khi tôi không thể thấu hiểu và hồi đáp kịp thời, điều này sẽ khiến những khát khao, nỗi đau, sự xấu hổ của họ bị phơi bày trơ trọi ra ngoài. Chỉ khi tôi bước lại thật gần trải nghiệm của họ — thừa nhận rằng sự thiếu thấu hiểu của tôi đang mang lại cho họ cảm giác tồi tệ — thì họ mới không phải vội vã “khoác lại chiếc áo ngoài” lên người.
Đặc trưng của mô hình “Áo khoác ngoài”
Dưới mô hình “áo khoác ngoài”, những gì con người phô diễn ra đều là phần an toàn.
Khi bộc lộ nhu cầu thực sự của bản thân, con người sẽ cởi bỏ “áo khoác”.
Việc cởi bỏ “áo khoác” có thể ẩn chứa sự nguy hiểm, chẳng hạn như bị cự tuyệt hoặc bị đem ra làm trò cười.
Nguyên lý của mô hình “Áo khoác ngoài”
Phần mà chiếc áo khoác che đậy lại chính là phần chưa từng được thấu hiểu nhưng lại vô cùng khao khát nhận được sự thấu hiểu. Thế nhưng, theo kinh nghiệm trong quá khứ của con người, việc để lộ nó ra lại mang đến sự bất an tột cùng, bởi cho đến tận ngày hôm nay vẫn chưa từng có ai thực sự hiểu được nó. Trông nó rất giống phần xấu xí, khiếm khuyết của bản thân; khi chưa có ai mang lại cho bạn một sự hồi đáp hoàn toàn mới mẻ, bạn rất khó lòng tự mình đối diện với nó, bởi bạn không thể tin rằng bản thân có thể thản nhiên đối mặt với góc khuất ấy. Mặc dù ai ai cũng có chiếc “áo khoác” của riêng mình, nhưng mô hình “áo khoác ngoài” vốn không phải là một sự lựa chọn tất yếu, mà phần lớn thời gian nó chỉ là một chiến lược bất đắc dĩ mà thôi.
Hai tình thế nan giải trong mối quan hệ con người: Tiến thoái lưỡng nan & Điểm mù kép
Nan giải thứ nhất: Tiến thoái lưỡng nan
Sự tự bảo vệ trong mối quan hệ bắt nguồn từ tình thế tiến thoái lưỡng nan nơi nội tâm sâu kín của chúng ta: Bộc lộ nhu cầu rất có thể sẽ kéo theo sự cự tuyệt và phủ nhận, điều này khiến ta cảm thấy sợ hãi và xấu hổ; nhưng nếu không bộc lộ nhu cầu thì nỗi đau đớn vẫn sẽ mãi mãi nằm lại đó. Sự thân mật cần phải tiến lại gần, nhưng tiến lại gần lại rất có thể sẽ phải chịu tổn thương.
Những người từng bị phớt lờ, ngó lơ thuở nhỏ sẽ rất khó bày tỏ nhu cầu của mình, bởi họ đã nếm trải quá đủ nỗi đau đớn khi bị khước từ. Vì thế, trong mối quan hệ thân mật, họ trở nên vô cùng nhạy cảm: vừa khát khao được quan tâm, lại vừa rất dễ cảm thấy mình bị lạnh nhạt hoặc bài xích. Dưới cảm giác này, “ý nghĩa bản thân” — biến thành cảm nghĩ “mình là kẻ chẳng có ai thèm thích” — sẽ gặm nhấm nghiêm trọng cảm giác ổn định và sự vẹn toàn của “sự tồn tại” nơi một con người. Vì vậy, họ sẽ không kìm nén nổi mà bộc phát cảm giác tồi tệ này ra trong mối quan hệ, nhằm mục đích thoát khỏi sự dày vò ấy.
Từ Hình 1-1, chúng ta có thể cảm nhận được họ đang mắc kẹt trong một tình thế tiến thoái lưỡng nan đầy xung đột:
A: Tôi mong chờ được yêu thích
\
\_________ (Bập bênh giằng xé)
\
\
B: Chẳng ai thích tôi cả
(Hình 1-1: Tình thế tiến thoái lưỡng nan do việc bộc lộ cảm xúc mang lại)
Sự xung đột giữa hai phần này sẽ khiến một người vừa muốn giãi bày lại vừa muốn che đậy. Vì vậy chúng ta có thể thấy, “câu nói đó” trong cuộc đối thoại ở trang trước chắc chắn là một câu nói vô cùng hệ trọng nhưng lại cực kỳ khó thốt ra bằng lời.
Tôi gọi phương thức biểu đạt vô cùng phổ biến trong phòng tham vấn này là mô thức “A-B”: Trong đó, A liên quan đến việc bày tỏ nhu cầu, còn B là sự ngụy trang, che đậy cho A. Hãy xem các ví dụ dưới đây:
“Các bạn trong lớp lúc nào cũng xa lánh em, lúc đi chơi chẳng bao giờ rủ em đi cùng (A), chắc là do bản thân em có vấn đề gì đó (B).”
“Em vẫn gửi tin nhắn soạn sẵn đó cho anh ấy rồi (A), nhưng em cũng chẳng trông mong gì anh ấy sẽ nhắn tin trả lời lại đâu (B).”
Trong lối diễn đạt này, phần A ngầm chứa một sự kỳ vọng nào đó đối với mối quan hệ, nhưng phần B lại lập tức phủ nhận hoặc che đậy niềm kỳ vọng ấy. Bởi lẽ kỳ vọng có thể sẽ đi kèm với sự từ chối phũ phàng, và việc che đậy sẽ giúp xóa tan đi nỗi xấu hổ có thể xảy đến, từ đó hạ thấp luôn cả niềm kỳ vọng ban đầu.
Nỗi sợ hãi và cảm giác xấu hổ bắt nguồn từ những ký ức hằn sâu khi bạn bộc lộ nhu cầu thuở ấu thơ. Chúng cùng với những khát khao của bạn bị chôn giấu đi, bởi bạn cần duy trì mối quan hệ bền chặt với cha mẹ để bảo toàn sự an toàn của chính mình. Nhưng những khát khao ấy lại quan trọng đối với bạn đến nỗi: Trong những mối quan hệ sau này, bạn sẽ luôn vô thức tìm cách để thỏa mãn chúng; và thế là nỗi xấu hổ cùng nỗi sợ hãi năm xưa lại lũ lượt kéo nhau trỗi dậy.
Trong Hình 1-2, chúng ta có thể thấy sự xấu hổ và nỗi sợ hãi hệt như hai chiếc “tai lớn” bám chặt lấy phần khát khao bên dưới. Điều này có nghĩa là chúng ta càng khó lòng chạm tới khát khao đích thực của mình, bởi trước hết ta buộc phải nếm trải hai chiếc “tai lớn” kia — sự xấu hổ và nỗi sợ hãi. Chúng có sức tàn phá khủng khiếp đối với cảm giác an định của con người, mang lại những trải nghiệm tồi tệ tột cùng — khiến người ta thấy xấu hổ đến mức không còn lỗ nẻ nào chui xuống và cảm giác như không thể tồn tại nổi. Điều này thôi thúc ta vội vã thu hồi khát khao của mình lại, cùng hai chiếc “tai lớn” ấy giấu biệt vào bóng tối; và đó chính là mô hình “áo khoác ngoài” mà ta buộc phải sử dụng.
Trước khi nhận được sự thấu hiểu, khát khao/dục vọng luôn gắn chặt không rời với nỗi xấu hổ và sự sợ hãi; chính sự kiềm tỏa lẫn nhau giữa các bên đã đẩy chúng ta rơi vào tình thế tiến thoái lưỡng nan.
[ ÁO KHOÁC NGOÀI ]
----------------------------------------------
(Phần nguy hiểm)
/ \
[ XẤU HỔ ] [ SỢ HÃI ]
\ /
\ [ KHÁT KHAO ] /
(Hình 1-2: Xấu hổ và sợ hãi bám chặt trên khát khao)
Cảm giác khó chịu không hề biến mất chỉ vì ta đã che đậy nó lại; nỗi đau đớn khiến chúng ta không ngừng quẩn quanh giữa thế lưỡng nan. Khi nỗi sợ hãi và sự xấu hổ vơi bớt đi đôi phần, khát khao sẽ lại cuộn trào dâng lên; nhưng ngay sau đó, xấu hổ và sợ hãi cũng sẽ lập tức ùa về tấn công, khiến bạn một lần nữa phải trải nghiệm lại cảm giác tồi tệ năm xưa. Nếu tình thế lưỡng nan xen lẫn trong đó không được tháo gỡ và thấu hiểu, bạn chỉ đành tìm cách trốn chạy khỏi nó thêm một lần nữa: để không bị chế giễu và cự tuyệt, bạn lại chôn vùi dục vọng vào tận đáy sâu tâm can.
Nếu cả hai người trong mối quan hệ đều cùng rơi vào tình thế tiến thoái lưỡng nan này, giữa họ sẽ hình thành một trạng thái giằng xé, quấn chặt lấy nhau. Bạn vừa phải tìm cách thoát khỏi nỗi xấu hổ và sợ hãi của chính mình, lại vừa phải ra sức chống đỡ những đòn tấn công mà đối phương phóng chiếu sang nhằm mục đích tương tự. Niềm tin giữa đôi bên bị bào mòn dần trong quá trình kháng cự lại sự xấu hổ và sợ hãi; hai con người đang mải mê tự vệ lại càng khó lòng bày tỏ rành mạch nhu cầu của riêng mình.
Qua trường hợp dưới đây, chúng ta có thể thấy rõ những cặp vợ chồng rơi vào thế tiến thoái lưỡng nan đã giằng xé, làm khổ nhau như thế nào.
Một cặp vợ chồng nọ, người chồng ngoại tình. Lý do anh đưa ra là vì anh cảm thấy vợ quá ít quan tâm đến mình, trong khi người vợ thì tổn thương sâu sắc, hoàn toàn không thể chấp nhận được lời trách cứ của chồng.
Họ đều có những khát khao của riêng mình: Người chồng mong mỏi được vợ quan tâm săn sóc, mong mình là người quan trọng trong mắt vợ; người vợ lại mong mỏi nhận được sự công nhận từ chồng. Đồng thời, cả hai đều khó lòng đối diện với những lời kết tội từ phía đối phương: Người chồng không dám đối diện với sự thật rằng mình là một kẻ lừa dối và phản bội; còn người vợ cũng không thể thừa nhận bản thân quả thực đã ngó lơ chồng, là một người có phần ích kỷ và lạnh lùng về mặt tình cảm.
Sau những trận cãi vã kịch liệt, họ bắt đầu bước vào cuộc chiến tranh lạnh; trong lòng ai nấy đều giằng xé dữ dội chuyện có nên ly hôn hay không. Người chồng nghĩ rằng chọn lại một con đường khác có lẽ sẽ hạnh phúc hơn hiện tại, nhưng cái giá phải trả có thể là thân bại danh liệt, tiền đồ tan thành mây khói, điều đó đối với anh là vô cùng khủng khiếp; người vợ dẫu lòng đầy vết thương muốn chấm dứt cuộc hôn nhân này, nhưng cuộc sống đơn độc một mình sau ly hôn cũng là điều cô không dám tưởng tượng nổi.
Rốt cuộc vấn đề nằm ở đâu? Có thể bạn sẽ lấy làm tò mò: Tại sao người chồng không chịu bày tỏ nhu cầu của mình với vợ, mà lại đi tìm kiếm sự thỏa mãn từ một người phụ nữ khác? Tại sao người vợ không chịu quan tâm đến chồng nhiều hơn một chút để đối phương công nhận mình? Đây cũng chính là câu hỏi mà bản thân họ trước sau không thể nào hiểu nổi.
Thực chất, người chồng đã đè nén nhu cầu cần được quan tâm, bởi anh lo sợ bị cự tuyệt; trong khi ở bên người phụ nữ khác vốn đã dành sẵn thiện cảm cho anh, anh sẽ dễ dàng bộc lộ nhu cầu hơn rất nhiều. Còn người vợ vì không dám chắc chắn liệu mình có được yêu thích hay không, nên luôn giữ khoảng cách với chồng; cô cảm thấy việc chủ động tiến lại gần sẽ khiến bản thân trở nên hèn mọn, thấp kém.
Thế nhưng, người chồng không thể ngờ được rằng việc vợ không quan tâm mình là để trốn tránh cảm giác thấp kém, hèn mọn; còn người vợ cũng chẳng thể hiểu nổi việc chồng đi mê mẩn người đàn bà khác mà không chịu nói nhu cầu với mình là vì anh ta lo sợ sẽ bị cô lạnh lùng cự tuyệt.
Từ Hình 1-3, chúng ta có thể thấy đôi bên đều ôm ấp những khát khao riêng, nhưng điểm đau của mỗi người — tức phần có thể mang lại cảm giác xấu hổ — cũng lập tức ùa về. Cả hai đều vô thức che giấu điều thực sự muốn giãi bày, thay vào đó là sử dụng những đòn tấn công ngấm ngầm hoặc công khai để thế chỗ cho sự biểu đạt; họ chọn cách đâm trúng vào điểm đau của đối phương để che đậy phần mà bản thân không dám đối mặt, rồi cứ thế lặp đi lặp lại vô tận trong một vòng tuần hoàn thất bại.
Những vấn đề này nhìn bề ngoài có vẻ được châm ngòi bởi những dục vọng — muôn hình vạn trạng các loại nhu cầu — nhưng căn nguyên không phải vì nhu cầu của họ là vô tận, mà là vì cả hai đã cùng rơi vào tình thế bế tắc: vừa không thể bộc lộ ra, lại vừa không thể lắng nghe và hiểu thấu.
(Hình 1-3: Hai vợ chồng cùng rơi vào thế tiến thoái lưỡng nan và giằng xé lẫn nhau)
Bài tập nhỏ:
Trong mối quan hệ thân mật quan trọng nhất của bạn, khát khao lớn nhất của bạn là gì?
Điều gì đang ngăn cản bạn bộc lộ một cách chân thật, và nỗi lo sợ thực sự của bạn là gì?
Nan giải thứ hai: Điểm mù kép
“Đôi mắt chỉ nhìn thấy những gì mà trái tim sẵn lòng thấu hiểu.”
— Henri Bergson
Khi không thể đối diện với khát khao của chính mình cùng nỗi sợ hãi và cảm giác xấu hổ bám chặt trên đó trong mối quan hệ, những điều ấy sẽ rơi vào vùng mù (điểm mù); nếu đối phương cũng ở vào tình cảnh tương tự, thì chúng ta sẽ vừa không nhìn rõ được chính mình, lại vừa không nhìn thấu được đối phương — đó chính là Điểm mù kép (Song mù).
Từ Hình 1-4, chúng ta có thể thấy A và B tuy đều đưa ra những suy nghĩ của mình, nhưng cả hai đều không nhận biết được sự tồn tại của vùng mù nằm ở phía dưới. Vì thế họ chỉ có thể luẩn quẩn bên ngoài vùng mù, không thể thấu hiểu bản thân, không thể thấu hiểu đối phương, và càng không thể hiểu nổi tại sao đối phương lại không chịu hiểu cho mình.
(Hình 1-4: Điểm mù kép)
Dưới đây, chúng ta hãy cùng xem xét ví dụ về một cặp cha con đang ở trong trạng thái điểm mù kép.
Khái quát sự việc: Cậu con trai đang học lớp 9 gặp khó khăn trong học tập, các bài thi môn Toán thường xuyên bị điểm kém dưới trung bình khiến cậu bé chịu áp lực rất lớn. Cậu về nói với bố rằng mình muốn xin bảo lưu nghỉ học một năm. Người bố lại cho rằng con trai cần phải nỗ lực vượt qua khó khăn, không được phép trốn chạy hay bỏ cuộc giữa chừng. Hai cha con ai cũng giữ khăng khăng lý lẽ của mình, không ai thuyết phục được ai.
Chúng ta hãy cùng nhìn xem vùng mù của mỗi người là gì, và tại sao họ lại không thể thấu hiểu được nhau (xem Hình 1-5).
(Hình 1-5: Hai cha con trong trạng thái điểm mù kép)
Quan điểm của hai cha con đều bắt nguồn từ chính nhu cầu và cảm giác xấu hổ bị kích hoạt của bản thân. Người con trai ở trường vì thành tích kém cỏi mà cảm thấy tự ti, việc xin nghỉ học có thể giúp cậu tạm thời không phải đối mặt với cảm giác tồi tệ này; suy nghĩ ấy bắt nguồn từ nhu cầu được tôn trọng. Còn đối với người bố, ông không thể nào chấp nhận chuyện con trai bỏ dở việc học, bởi điều đó đã kích hoạt cảm giác bất an về tương lai cùng nỗi xấu hổ do sự thất bại mang lại; việc ông kiên quyết bắt con phải cố gắng là hy vọng thỏa mãn lòng tự trọng của bản thân và duy trì cảm giác an định.
Chúng ta thấy đấy, hai cha con đều đang khăng khăng bám giữ lập trường của mình; họ không hề hay biết và cũng chẳng thể hiểu nổi nỗi xấu hổ cùng sự bối rối của đối phương. Người con không hiểu tại sao bố lại cứ khăng khăng bắt mình phải đến trường để hứng chịu cảm giác tồi tệ kia; còn người bố cũng chẳng hiểu nổi tại sao rõ ràng mình đang đưa ra sự lựa chọn đúng đắn mà lại không nhận được sự đồng tình của con trai. Đứa con rất khó mở lời để kể cho bố nghe nỗi xấu hổ mà mình phải nếm trải ở trường; và người bố cũng khó lòng giãi bày với con về nỗi bất an và sự suy sụp nơi đáy lòng mình.
Bài tập nhỏ:
Hãy nhớ lại một mối quan hệ từng khiến bạn cảm thấy phiền muộn, bạn cảm thấy suy nghĩ hoặc hành động của mình khi ấy có liên quan mật thiết đến cảm xúc nào của bản thân?
Liệu bạn có thể nhận ra những suy nghĩ hoặc hành động ấy thực chất bắt nguồn từ nỗi sợ hãi và sự xấu hổ mà bản thân không dám đối mặt hay không?
Logic tầng sâu: Hai thuyết quyết định luận
Quá khứ quyết định hiện tại
Trong khoảng không gian của thế lưỡng nan và điểm mù kép, thứ còn lưu lại chính là những dấu vết không bao giờ phai mờ của quá khứ: những khát khao năm nào cùng nỗi sợ hãi và cảm giác xấu hổ mà bạn từng bất lực không thể chống đỡ. Khát khao là điều vô cùng hệ trọng, nó luôn thắp lên trong bạn niềm hy vọng; thế nhưng hy vọng lại luôn mang đến sự bất an, dễ dàng bị lung lay bởi nỗi sợ hãi và sự xấu hổ.
Tiểu Phàm là một phụ nữ có học thức, nhưng cô luôn tạo cho những người xung quanh cảm giác vô cùng xa cách. Cô không thích sẻ chia và cũng không muốn nhận sự giúp đỡ từ bất kỳ ai. Trong thâm tâm, cô biết rõ mình không hề có ác ý với người khác, nhưng bản thân cũng chẳng thể giải thích nổi vì sao mình lại khó tìm thấy niềm vui khi chung sống hòa nhập cùng mọi người.
Cô kể với tôi, thuở còn rất nhỏ, cô yêu mẹ mình tha thiết, cho đến mãi sau này khi mẹ sinh thêm các em. Cô kể về mối quan hệ giữa mình và mẹ với tâm trạng vô cùng giằng xé; cô liên tục nhắc lại rằng mẹ là một người phụ nữ cả đời hy sinh, tận tụy vì gia đình và cô vô cùng kính trọng mẹ.
Chỉ sau khi tôi liên tục nhấn mạnh với cô rằng: Việc có nhu cầu là điều hết sức bình thường, không đáng phải bị ngó lơ, thì nỗi đau buồn, sự tủi thân và cơn giận dữ trong cô mới từng chút một bộc lộ ra ngoài.
Cô kể niềm vui lớn nhất thuở bé của mình là mỗi buổi sáng được mẹ ngồi chải tóc tết bím cho. Tóc cô rất dài, dường như chưa từng bị cắt ngắn bao giờ; mỗi sáng sớm cô đều ngoan ngoãn ngồi trước gương, tận hưởng khoảnh khắc mẹ chăm chút tỉ mẩn từng lọn tóc cho mình; bím tóc dài óng ả ấy luôn là niềm kiêu hãnh của cô.
Cho đến một ngày nọ, mẹ bảo sẽ dắt cô đến cơ quan của mẹ chơi, bảo cô đi gội đầu cho sạch sẽ. Thế nhưng khi cô vừa gội đầu xong bước ra, thứ trên tay mẹ cầm không còn là chiếc lược quen thuộc nữa, mà là một cây kéo sắc lẹm. Mẹ bảo với cô: “Con sắp đi học rồi, mẹ còn phải chăm sóc các em nữa, không có thời gian tết tóc cho con mỗi ngày đâu”.
Cô bé liên tục van nài: “Mẹ ơi, con thích tết tóc lắm, con xin mẹ đừng cắt mà!”. Nhưng rồi cô bé chỉ biết vừa rơi nước mắt vừa bất lực nhìn mẹ cắt phăng đi mái tóc dài mà mình hết mực yêu quý.
Cô nói sự việc này cô gần như chưa từng nhớ lại bao giờ, thậm chí có lúc còn hoài nghi ký ức của chính mình. Bất giác trong cô dâng lên một cảm giác bị lừa dối vô cùng dữ dội: Hóa ra mẹ không hề có ý định dắt cô đi chơi cơ quan, mà chỉ muốn tạo cơ hội để cắt phăng mái tóc dài của cô mà thôi. Cảm giác ấy chân thực đến nghẹt thở, vậy mà trước đây cô chưa từng ý thức được, nơi đáy lòng cô trước sau vẫn luôn gìn giữ hình ảnh một người mẹ tuyệt vời.
Trên thực tế, niềm vui của cô đã bị nhát kéo ấy cắt đứt lìa, bị thay thế bằng sự lặng câm và nỗi cô đơn. Cô không còn muốn bày tỏ nhu cầu của mình nữa; vết thương lòng từ việc bị cắt tóc khiến cô đinh ninh rằng nhu cầu của mình chính là gánh nặng, là sự phiền phức cho người khác. Cô đã tự tay đóng sập cánh cửa giao lưu sâu sắc với thế giới con người.
Chúng ta có thể thấy, thứ đã trôi qua chỉ là những mảnh vụn thường nhật tương đối vô nghĩa; còn những quá khứ mang chở ý nghĩa sâu sắc thì vĩnh viễn không bao giờ trôi qua. Dù bạn không thể xuyên không gian thời gian để kết nối với quá khứ của mình, nhưng bất kể bạn có ý thức được hay không, chúng vẫn đang tác động một cách vô cùng chuẩn xác lên hiện tại của bạn.
Kinh nghiệm trong quá khứ thường được chia làm hai phần: niềm vui và nỗi buồn. Chúng tạo nên toàn bộ con người bạn: Những ký ức vui vẻ bạn có thể dễ dàng gọi về vô số lần, niềm hân hoan và sự thỏa mãn ấy dẫu qua năm tháng vẫn vẹn nguyên như mới; còn những ký ức đau buồn thì lại lẩn khuất nơi tầng sâu u tối, chúng âm thầm chi phối cuộc đời bạn theo cách mà bạn không thể nhận biết, rồi không ngừng tái hiện trong mỗi trải nghiệm thương đau.
Chúng tạo thành những chương hồi trọng đại trong cuộc đời bạn; trong những thước phim ám ảnh khôn nguôi ấy luôn có sự hiện diện của những nhân vật mang tầm ảnh hưởng lớn lao đối với bạn, dung mạo và bóng hình của họ như bị đóng đinh tại một khoảnh khắc định mệnh nào đó. Bạn rất khó giải mã những câu chuyện xưa cũ đã bị lớp bụi thời gian phong kín, không thể hiểu nổi tại sao niềm tin của bản thân lại dễ dàng bị lung lay bởi một người thân cận.
Những gì còn sót lại của ngày hôm nay là những ký ức đã bị viết lại, chúng chồng lớp lên những ký ức vui vẻ năm xưa; những điều bạn không thể nào quên cùng những kỳ vọng mãi mãi chưa thành sẽ trở thành chủ đề lặp đi lặp lại trong suốt cuộc đời bạn:
Quá khứ quyết định cảm xúc hiện tại của bạn: Bình thản hay Phẫn nộ.
Quá khứ quyết định sự kỳ vọng hiện tại của bạn: Xứng đáng hay Không xứng.
Quá khứ quyết định sự lựa chọn hiện tại của bạn: Lặp lại hay Đột phá.
Ý nghĩa quyết định suy nghĩ và hành vi
“Mỗi một hành vi đều là sự hiện thực hóa của một ý định.”
— Henri Bergson
Ý nghĩa chiếm giữ vị trí cốt lõi nơi thế giới tâm lý; mọi suy nghĩ và hành vi của bạn đều bắt nguồn từ nó. Thế nhưng, chúng ta lại không dễ gì chạm tới phần này, bởi chúng ta vốn quen thuộc hơn với cảm xúc của mình, và sẽ đưa ra đủ mọi hành vi để đối phó mỗi khi tâm trạng tồi tệ.
Chúng ta cũng không ngừng điều chỉnh suy nghĩ của bản thân nhằm cố gắng thoát khỏi tình cảnh bế tắc. Đôi khi hành vi có thể giúp ta tạm thời tránh xa nỗi đau, nhưng vấn đề cốt lõi thì vẫn còn nguyên vẹn ở đó, và nó sẽ lại tiếp tục tái hiện trong một mối quan hệ khác, ở một sự việc khác. Chỉ là ta mãi mãi không thể khiến bản thân và người khác hiểu được nhu cầu đích thực của mình; vô số nỗ lực thất bại chỉ càng làm ta thêm phần hoang mang và bi quan.
Trân Ái là một phụ nữ 31 tuổi xinh đẹp. Cô đã trải qua vài mối tình, diễn biến và kết cục của chúng đều tương tự nhau: Cô luôn nhanh chóng bước vào một mối tình mới ngay sau khi vừa bước ra khỏi một mối quan hệ không vừa ý. Cô tâm sự mô thức yêu đương “nối tiếp không khoảng nghỉ” này khiến cô thấy có phần xấu hổ, ngượng ngùng; cô rất sợ tôi sẽ chê cười cô.
Cô khẳng định mình luôn nghiêm túc trong từng mối tình, rất hy vọng có được một cái kết viên mãn, và cũng chính vì thế mà cô luôn nắm giữ mối quan hệ quá chặt. Cô bảo đối phương chưa từng xem cô là tất cả như cách mà cô đã đối xử với họ. Cô tuyệt đối không thể dung thứ cho các mối quan hệ xã giao riêng của bạn trai; cô muốn người yêu chỉ được đi ăn cơm, dạo phố, xem phim với duy nhất một mình mình. Mỗi khi bạn trai đi tụ tập với bạn bè, cô liền cảm thấy khó chịu và liên tục giục giã đối phương phải về sớm; nếu bạn trai ngồi chơi game một mình, cô sẽ có cảm giác mình bị lạnh nhạt, bỏ rơi.
Trong những tình huống ấy, bạn trai thường phải mở lời xin lỗi và dỗ dành cô, nếu không cô sẽ làm ầm ĩ đủ mọi kiểu cảm xúc, từ hờn dỗi nhẹ nhàng cho đến khóc lóc tủi thân tột độ. Cô từng cố gắng khuyên nhủ bản thân phải nghĩ thoáng ra, chẳng hạn như tự nhủ rằng bạn trai vẫn yêu mình, mình không việc gì phải chuyện bé xé ra to; cô cũng từng thử thay đổi hành vi bằng cách bồi dưỡng những sở thích riêng thay vì chỉ chăm chăm dồn hết sự chú ý vào người yêu, nhưng rốt cuộc cô vẫn không thể nào làm được.
Mọi mối quan hệ đều do chính cô chủ động đặt dấu chấm hết, và lý do lần nào cũng gần như y hệt nhau: Những lúc đang buồn bực, cô lại bị lay động bởi một người đàn ông khác xuất hiện bên cạnh — chẳng hạn như được người đó ân cần chăm sóc hoặc đối phương mê mẩn nhan sắc của cô. Cô sẽ lập tức kết thúc mối quan hệ cũ để rồi lại giẫm vào vết xe đổ trong mối quan hệ mới. Cô vẫn tiếp tục yêu đương một cách nghiêm túc, trân trọng từng phút từng giây hai người ở bên nhau.
Đối với Trân Ái, những trải nghiệm tình ái của cô trước sau đều xoay quanh một chủ đề trọng đại: “Trong mối quan hệ thân mật, tôi là người quan trọng”. Chủ đề này to lớn đến mức, chỉ cần có chút gì đó không chắc chắn là nó sẽ lập tức làm lung lay niềm tin của cô vào bản thân trong mối quan hệ.
Đối với cô, “Tôi là người quan trọng” bao hàm hai tầng ý nghĩa: Được yêu thích và Được để tâm. Hai tầng ý nghĩa này vô cùng hệ trọng đối với mỗi chúng ta. Khi bạn không thể trải nghiệm được tầm quan trọng của mình trong các mối quan hệ khác — ví như trong công việc được đồng nghiệp công nhận và yêu quý, hay được cha mẹ ruột thịt nhớ nhung đoái hoài — bạn sẽ dồn toàn bộ sự để tâm của mình vào mối quan hệ thân mật trước mắt, đem tất cả hy vọng ký thác lên duy nhất một con người này.
Khi đối phương không thể thấu hiểu được ý nghĩa sâu xa này, họ sẽ cho rằng mọi cảm xúc của bạn chỉ là do quá nhạy cảm mà ra, thậm chí sẽ coi đó là những đòi hỏi vô lý không thể hiểu nổi. Bởi lẽ trong thế giới chủ quan của đối phương, họ có sự xác tín vững chắc đối với chủ đề “Tôi là người quan trọng”; họ không cần phải dùng cách làm mình làm mẩy hờn dỗi để xác nhận tầm quan trọng của mình, vì thế họ hoàn toàn không thể thấu hiểu nổi những phản ứng cảm xúc tồi tệ đến mức cực đoan của bạn.
Liệu có con đường vượt qua thế tiến thoái lưỡng nan và xuyên thấu điểm mù kép?
Mười năm làm công tác tham vấn tâm lý đã cho tôi chứng kiến biết bao cảnh ngộ của những con người chìm trong đau khổ mỗi ngày. Rất nhiều khi, tôi cùng họ nếm trải vị đắng chát của cuộc đời, cùng họ rơi những giọt nước mắt xót xa, cùng họ hoang mang lạc lối và chìm vào những khoảng lặng thinh.
Họ từng nổi giận, đau lòng hoặc kìm nén trốn chạy trong quá trình lo sợ hoặc cảm thấy không được tôi thấu hiểu; còn tôi thì cảm thấy xấu hổ và suy sụp mỗi khi bị họ buông lời trách cứ. Thế nhưng, cả họ và tôi đều chưa từng muốn từ bỏ nỗ lực: Chúng tôi cùng nhau quẩn quanh nơi mép bờ của sự xấu hổ, cùng nhau giãy giụa giữa màn đêm đen kịt của nỗi sợ hãi.
Từ chỗ ban đầu mải miết kiếm tìm phương pháp triệt tiêu nỗi đau, cho đến khi có thể chậm rãi cảm nhận những cảm giác tồi tệ ấy, từng bước dũng cảm đối diện với nỗi sợ hãi và sự xấu hổ, cuối cùng họ mới xác nhận được rằng: Thứ mà họ khát khao bấy lâu thực chất chỉ là được đối xử tử tế, được tin tưởng và được công nhận mà thôi.
Những con người từng làm tôi đau đầu không muốn gặp lại; những con người giãy giụa nơi lằn ranh sinh tử khiến tôi bao đêm ăn không ngon ngủ không yên; những con người thoạt đầu bị tôi chán ghét nhưng cuối cùng lại khiến tôi đem lòng yêu quý — tất cả họ chẳng qua chỉ đang muốn nói với tôi một điều duy nhất: Họ muốn tôi biết được nỗi đau đớn mà họ đang phải gánh chịu.
Họ đang dũng cảm thách thức bài toán hóc búa nhất của nhân loại: Thấu hiểu chính mình, thấu hiểu con người nơi tầng sâu thẳm nhất của thế giới tinh thần. Đúng như đại văn hào Albert Camus từng nói: “Không có sự tuyệt vọng về cuộc sống thì sẽ không có tình yêu đối với cuộc sống.” Họ chính là những người không thể trốn chạy khỏi nỗi đau, và cũng là những con người dũng cảm nhất dám dấn thân tìm cách hóa giải nỗi đau ấy.
Ý nghĩa của mối quan hệ
Ý nghĩa thứ nhất của mối quan hệ
Điều mang lại cho tôi trải nghiệm sâu sắc nhất chính là thứ tình cảm chân thành trong mối quan hệ tham vấn: niềm tin tưởng mà thân chủ dành cho tôi và sự để tâm sâu sắc mà tôi dành trọn cho họ. Trong những kinh nghiệm đã qua, dẫu đôi khi ta không dám chắc chắn về thứ tình cảm này, nhưng ta chưa từng bao giờ có thể từ bỏ sự kiếm tìm khắc khoải đối với nó. Trong những cuộc đối thoại đằng đẵng qua năm tháng, sự hội ngộ giúp chúng ta tìm lại niềm hy vọng được thấu hiểu; sự đồng hành giúp chúng ta gìn giữ niềm tin; và những va chạm va đập giúp chúng ta trở nên chân thực hơn với chính mình.
Ý nghĩa thứ hai của mối quan hệ
Trong các mối quan hệ, chúng ta ai nấy đều từng chịu thương tổn vì không được người khác thấu hiểu; thế nhưng chúng ta chưa bao giờ ngừng việc lui tới, gắn kết cùng nhau. Chúng ta không muốn từ bỏ việc bộc lộ cảm xúc khi bị tổn thương, và cũng luôn lưu luyến khoảnh khắc làm hòa cùng nỗi xót xa dành cho nhau sau những trận cãi vã nảy lửa.
Dẫu ta không hiểu điều gì đã đẩy đôi bên bước vào những cuộc giao tranh vô nghĩa, nhưng trong những giằng xé ngoài sự đối đầu ra, chúng ta đều có thể nhìn thấy khát khao cháy bỏng của đối phương về sự biểu đạt và được thấu hiểu. Trong các mối quan hệ luôn ẩn chứa lòng dũng cảm bất diệt của con người: Chúng ta cần sự tồn tại của nhau, cần lòng dũng cảm của nhau, và cần cả những niềm mong đợi ở nơi nhau.
Bình luận