Bạn Có Cần Một Căn Phòng Để Viết?
- Minh Đào
- 13 giờ trước
- 12 phút đọc
Chúng ta thường nghĩ mình cần một không gian riêng để khơi nguồn sáng tạo — nhưng có lẽ tư duy đó đang bị đảo ngược hoàn toàn.
Tác giả: Joshua Rothman | Tạp chí The New Yorker (13/02/2026)

Năm 1919, Virginia Woolf và chồng là Leonard đã mua lại Monk’s House, một ngôi nhà nhỏ ở vùng Sussex, với giá 700 bảng Anh. Nơi đó khi ấy không có cả điện lẫn nước máy. Họ đã cải tạo lại nó, lắp đặt các tiện nghi hiện đại và xây thêm hai căn phòng. Một căn chòi khiêm tốn nằm ở cuối khu vườn được biến thành gian phòng viết lách — nơi Woolf nhào nặn nên những cuốn tiểu thuyết kinh điển như “Đức bà Dalloway” và “Đến ngọn hải đăng”.
Ngày nay, người ta có thể đến tham quan ngôi nhà và căn chòi này, hiện thuộc quyền quản lý của Quỹ Quốc gia Vương quốc Anh (National Trust). “Trong tâm trí tôi luôn có một hình ảnh đóng khung về nơi các nhà văn làm việc,” Katie da Cunha Lewin giải thích trong cuốn sách “The Writer’s Room: The Hidden Worlds That Shape the Books We Love” (Căn phòng văn sĩ: Những thế giới ẩn giấu định hình nên cuốn sách ta yêu). Khi đặt chân đến căn chòi của Woolf, cô thấy hình ảnh tưởng tượng của mình gần như được xác thực: Ánh sáng tràn ngập từ phía khu vườn và sự tĩnh lặng bao trùm khắp không gian. Trên bàn làm việc của Woolf vẫn còn những tờ giấy nháp vo viên, vài cuốn sách và một bình hoa thủy tiên vàng. Nơi đây hiện lên như một thánh địa trú ẩn hoàn hảo cho việc viết lách.
Thế nhưng, chỉ có một vấn đề duy nhất: Dù Woolf có làm việc trong căn chòi đó, bà lại thực hiện phần lớn công việc viết lách của mình ngay tại ngôi nhà chính, ngồi trên một chiếc ghế thấp. Bà đặt cân bằng một tấm gỗ trên đầu gối, rồi gắn vào đó một lọ mực và một cuốn sổ tay. Chính trong dáng ngồi khom lưng bên cái "thiết bị máy tính xách tay" tự chế ấy, bà đã sản sinh ra những thứ mà Lytton Strachey gọi là "những gói rác rưởi" — những bọc nhỏ chứa ngòi bút cũ, kẹp giấy và các mẩu giấy vụn vo tròn. Nói cách khác, bà cũng chỉ là một người viết bình thường, lếch thếch và bình thường như tất cả chúng ta.
“Có một điều gì đó ở hình tượng nhà văn — như một nhân vật hay một nguyên mẫu — luôn mê hoặc chúng ta,” da Cunha Lewin quan sát, và điều tương tự cũng đúng với những căn phòng nơi các nhà văn làm việc, hoặc nơi chúng ta tưởng tượng rằng họ làm việc ở đó. Đặc biệt là đối với những người đang nhen nhóm ước mơ cầm bút, căn phòng của các văn sĩ giống như những không gian mang phép thuật hộ mệnh. Khi thực hiện một chuyến hành hương đến không gian của một tác giả nào đó, chúng ta có thể muốn tìm kiếm câu trả lời cho những câu hỏi thực tế về quy trình làm việc của họ. Nhưng ở một góc độ trừu tượng hơn, chúng ta còn muốn thấu thị vào "con đường của sự sáng tạo" — như cách gọi của da Cunha Lewin — từ lúc cảm hứng nhen nhóm cho đến khi hiển hiện thành văn bản. “Viết lách là gì?” cô tự hỏi. Khi chiêm ngưỡng chiếc bàn làm việc đã lâu không ai dùng của một ai đó, nhìn đăm đăm qua ô cửa sổ mà họ từng nhìn, chúng ta hy vọng có thể nhìn thấy quá trình viết lách được hữu hình hóa ra bên ngoài, để từ đó thấu cảm được "bản chất thực sự của nó là gì".
Da Cunha nhớ lại niềm say mê của chính mình đối với những căn phòng văn sĩ: “Tôi từng muốn tự thiết kế một không gian sáng tạo cho riêng mình, như thể chỉ cần sắp đặt mọi thứ thật chuẩn chỉnh, tôi sẽ tự khắc trở thành một nhà văn.” Cô mô tả việc mình mua một chiếc bàn làm việc mới, hình dung nó sẽ bày biện ngập tràn “những sổ tay, trà, nến và cả một sự bừa bộn có chủ ý”. Cô nghĩ, với một chiếc bàn như vậy, cô sẽ thiết lập được những thói quen mới — thức dậy sớm, dành cả buổi sáng để viết và cả buổi chiều để đọc sách thay vì dán mắt vào TV. Trên đường đến Monk’s House, cô vẩn vơ nghĩ đến việc mua “vài món đồ lưu niệm tuyệt đẹp liên quan đến Woolf, chẳng hạn như một bức tranh minh họa xinh xắn về ngôi nhà”, hoặc thậm chí là “một chiếc khăn lau tay” — một thứ "di vật" mà cô có thể bổ sung vào phòng nghiên cứu của mình, nhằm khỏa lấp khoảng cách giữa không gian của Woolf và không gian của chính cô. (Cuối cùng cô bằng lòng với việc dùng điện thoại chụp lại bức ảnh chiếc bàn của Woolf). Trở về nhà, cô sắp xếp các “chồng sách, bản in thử, sổ tay, bút chì và những bát quả khô” của riêng mình. Ấy thế mà, bức tranh toàn cảnh mang đậm chất văn sĩ của cô lại luôn bị đảo lộn: Cuối cùng, chiếc bàn làm việc của cô đã bị chiếm trọn bởi tấm đệm thay tã cho cậu con trai nhỏ.
Bằng cách lướt qua lịch sử các không gian viết lách, cuốn sách “The Writer’s Room” đã mô tả một cách tao nhã những căn phòng của Maya Angelou, Charles Dickens, Joan Didion, John Keats và các bậc danh gia khác. Cuốn sách nhận ra rằng, trong rất nhiều trường hợp, việc mưu cầu một căn phòng hoàn hảo thường mang tính tự hủy: Bị tra tấn bởi những âm thanh trong khu phố (trong đó có tiếng gà trống của nhà hàng xóm), Thomas Carlyle đã cố gắng xây dựng một căn phòng cách âm, nhưng rốt cuộc nó lại biến thành "nơi ồn ào nhất trong nhà". Trong khi đó, nhiều người lại chẳng có đủ không gian cho một căn phòng viết lách, hoặc cuộc sống của họ khước từ sự cô độc, hoặc đơn giản là họ không thích ngồi yên một chỗ. Họ làm việc trong thư viện hoặc các quán cà phê; họ viết trên tàu điện ngầm, trên giường bệnh, hoặc trên Google Docs. Da Cunha Lewin lưu ý rằng, dù chúng ta thường hình dung nhà văn phải ở trong một căn phòng, thì vẫn luôn tồn tại “một nhà văn với một công việc khác để mưu sinh”, “một nhà văn đang xếp hàng dài”, “một nhà văn đang phải làm chăm sóc người bệnh”, hay “một nhà văn đang ở trong tù”.
Cô dần đi đến suy nghĩ rằng, ở một khía cạnh nào đó, hình ảnh một nhà văn hướng nội đang tập trung cao độ bên bàn làm việc có thể là một sự ngộ nhận chung. Chẳng hạn như Emily Dickinson, bà có một chiếc bàn viết nhỏ bên cửa sổ phòng ngủ, nhưng chiếc váy được trưng bày tại bảo tàng ngôi nhà của bà lại được may thêm một chiếc túi nhỏ ở phía ngoài — thứ mà nhà thơ Mary Ruefle gọi là "chiếc túi của người thợ". (Nó có kích thước vừa vặn một cách hoàn hảo cho một cây bút chì và một mảnh giấy). Dickinson có thể đã dành gần như toàn bộ thời gian ở trong nhà, nhưng có vẻ như bà vẫn muốn viết ngay cả khi rời xa chiếc bàn làm việc của mình. “Không gian bàn làm việc sở hữu một phẩm chất quyến rũ và lãng mạn không thể phủ nhận,” da Cunha Lewin viết, nhưng cơ thể cũng giống như tâm trí, luôn luôn chuyển động. Tốt hơn hết, chúng ta nên hình dung nhà văn là một người đang trò chuyện, vận động, giao lưu và tương tác với thế giới thay vì chỉ đơn thuần là quan sát — một người đang lao mình ra ngoài cuộc đời thay vì tự giam cầm trong một căn phòng đóng kín.
Trong cuốn sách “The Theory of the Leisure Class” (Lý thuyết về giai cấp nhàn rỗi) xuất bản năm 1899, nhà kinh tế học Thorstein Veblen đã khám phá việc mua sắm các loại hàng hóa xa xỉ và không cần thiết. Ông lập luận rằng chúng ta mua những thứ đẹp đẽ vì chúng ta thích chúng, vì chúng tốt hơn, và vì chúng ta muốn người khác ngưỡng mộ và ghen tị với mình; thế nhưng, chúng ta làm điều đó còn là để tác động vào chính bản thân. Hãy xem xét những người thợ săn: “Ngay cả những người đàn ông có tính cách vô cùng ôn hòa và thực tế khi đi săn cũng có xu hướng mang theo dư thừa vũ khí và trang thiết bị, cốt là để khắc sâu vào trí tưởng tượng của chính họ về tầm quan trọng và sự nghiêm túc trong công việc mà họ đang đảm nhận,” Veblen viết. Nếu bạn vung tiền mua một chiếc túi Birkin, một chiếc ống ngắm súng trường vượt quá nhu cầu, hay một chiếc máy ảnh mới đắt đỏ, có thể bạn có hoặc không cố ý muốn làm người khác trầm trồ, nhưng chắc chắn bạn đang cố gắng tự làm mình trầm trồ. Đây là lý do tại sao người ta lại cảm thấy thực sự ngượng ngùng khi một người cùng đam mê nhận ra món đồ xa xỉ bạn vừa sắm và muốn bàn luận về nó. Bạn không nhất thiết muốn được người khác nhìn thấy; bạn chỉ muốn tự nhìn ngắm chính mình mà thôi.
Làm thế nào để các nghệ sĩ bắt đầu tự xem mình là nghệ sĩ? Bất kỳ một tác phẩm nghệ thuật nào cũng đều bắt đầu từ những điều vụn vặt, tầm thường. Nốt nhạc, nét cọ hay câu văn đầu tiên đều vô nghĩa; một đoạn văn mở đầu viết dở dang mang lại cảm giác thật bẽ bàng. Những hoàn cảnh nảy sinh các nỗ lực sáng tạo hiếm khi nào là thuận lợi. Da Cunha Lewin chia sẻ rằng, với một đứa con nhỏ ở nhà, giờ đây cô thường viết lách trong dáng ngồi “sụp xuống chiếc ghế bành nơi phòng khách”. Mọi thứ xung quanh đều như đang rỉ tai nhắc nhở một người làm sáng tạo hãy bỏ cuộc đi. Và vì thế, các nhà văn phải tự khẳng định sự nghiêm túc của mình với chính bản thân — có lẽ bằng cách ngồi vào một chiếc bàn làm việc được bày biện đẹp đẽ, hoặc thong thả bước vào một quán cà phê thời thượng trong bộ trang phục mà da Cunha Lewin gọi là "đồng phục nghệ sĩ giới trung lưu" (áo khoác thợ may, kính gọng tròn, quần ống rộng).
Một căn phòng văn sĩ mang lại cảm hứng có thể giáng một đòn mạnh mẽ đẩy lùi sự tầm thường. Nhưng cú đòn đó có sức mạnh đến đâu? Khi còn là sinh viên đại học, tôi đã chật vật viết các truyện ngắn trong phòng ký túc xá, trong tiếng ngáy pho pho của cậu bạn cùng phòng ngay phía sau lưng; tôi đã làm việc tốt hơn hẳn kể từ khi tìm thấy một kiểu phòng kho dưới tầng hầm của tòa nhà vốn vô tình bị bỏ quên không khóa, và tự biến nó thành phòng nghiên cứu của mình. Năm sau đó, khi tôi cùng vài người bạn thành lập một công ty khởi nghiệp công nghệ, tôi thường dành cả đêm để viết truyện viễn tưởng ngay tại văn phòng mà chúng tôi thuê, xung quanh là các máy chủ máy tính. Nơi đó chính xác không phải là một căn phòng văn sĩ, nhưng đó là nơi mà tôi đang phải trả tiền để thuê, và sự tồn tại của nó cho thấy tôi đang nỗ lực sáng tác.
Khi trở thành học viên cao học, rồi làm giảng viên, và sau đó là một nhà báo, tôi đã không ngừng tìm kiếm một chuỗi những không gian viết lách tốt hơn. Tôi đã làm việc ở không biết bao nhiêu quán cà phê, văn phòng học thuật và thư viện; tôi từng thuê một văn phòng bên trong một công ty luật, và ngày nay, tôi làm việc trong một căn phòng nhìn ra mặt nước — chính xác là kiểu nơi chốn mà tôi từng mơ mộng mình sẽ ngồi viết ở đó. Tôi cũng dành một sự tận tụy tương tự để chăm chút cho môi trường soạn thảo kỹ thuật số của mình: Sau khi kinh qua đủ loại trình xử lý văn bản và ứng dụng viết lách, giờ đây tôi dựa chủ yếu vào một chiếc máy tính bảng mực điện tử e-ink ngách do một công ty Na Uy tên là reMarkable sản xuất. Khi hạ mình sử dụng máy tính, tôi sẽ viết trên một chương trình có tên là Ulysses, định dạng phông chữ kiểu Sabon — một bộ phông chữ tôi tự bỏ tiền túi ra mua từ nhiều thập kỷ trước — và cài đặt sao cho văn bản hiển thị trong một cột hẹp, nhìn y hệt như một trang tạp chí.
Được tiếp cận với những không gian và tài nguyên này là một đặc quyền. Không còn nghi ngờ gì nữa, chúng đã giúp ích cho việc viết lách của tôi. Ấy thế mà, nếu nhìn lại toàn bộ sự nghiệp cầm bút của mình, giá trị mà tôi thu lượm được từ việc kiểm soát kỹ lưỡng môi trường xung quanh hoàn toàn mờ nhạt khi đặt cạnh nguồn động lực tối thượng của tôi: Những email đáng sợ từ các biên tập viên. Khi còn viết lách hoàn toàn tự do cho chính mình, tôi làm việc khá ổn. Nhưng chất lượng và số lượng bài viết của tôi chỉ thực sự tăng vọt kể từ khi tôi bắt đầu nhận được những lời nhắc nhở kinh hoàng rằng: Nếu tôi không nộp bản thảo ngay lập tức, một số báo tạp chí có nguy cơ sẽ không thể hoàn thiện để xuất bản. Sau khi nhận được những tin nhắn như vậy, tôi đã hoàn thành các dự án một cách nhanh chóng và hiệu quả ở đủ mọi nơi chốn — trên tàu hỏa, trong ô tô, và có một lần là trong một quán bar, khi tôi cạch gõ từng chữ trên điện thoại. Thực tế là sau này, khi chính tôi gửi những dòng nhắc nhở ấy với tư cách là một biên tập viên nhằm khơi dậy năng suất của các nhà văn của mình, quyền lực răn đe của chúng đối với tôi vẫn không hề giảm sút. “Vấn đề của căn phòng văn sĩ là không phải ai cũng có được một căn phòng như thế,” da Cunha Lewin kết luận. Thế nhưng, nguồn tài nguyên khan hiếm nhất đối với các nhà văn có lẽ không phải là không gian, mà chính là những kỳ vọng.
Cuốn sách “The Writer’s Room” mang một cái nhìn khá ảm đạm về trải nghiệm của người viết ngày nay. Do cuộc khủng hoảng nhà ở tại các thành phố lớn, nhiều nhà văn trẻ tuổi không thể chi trả nổi cho một căn phòng của riêng mình, và những đợt co hẹp của ngành công nghiệp truyền thông đã khiến viết lách trở thành một nghề không còn ổn định. Trình độ học vấn và thói quen đọc viết nhìn chung đang trên đà sụt giảm, và trí tuệ nhân tạo đang đe dọa làm suy giảm giá trị của tư duy và câu chữ do con người tạo ra. Ấy thế mà, tương phản với bức tranh tối màu đó, có một thực tế khá nghịch lý là: Dù tốt hay xấu, chưa bao giờ một người viết lại dễ dàng tìm kiếm độc giả cho mình đến thế. Bất kỳ ai cũng có thể tự xuất bản một cuốn sách hoặc lập một trang Substack riêng. Không gian vật lý có thể khan hiếm, các biên tập viên có thể khó tìm, nhưng độc giả thì có ở khắp mọi nơi.
Điều đó có nghĩa là gì, da Cunha Lewin tự hỏi, nếu chúng ta thử “biến chính hành động viết lách thành ngôi nhà của mình”, bất kể nó diễn ra ở đâu và theo cách nào? Câu trả lời của cô, nhìn chung, là chúng ta nên phát triển một góc nhìn về cuộc đời cầm bút tập trung vào sự tiếp nhận, thay vì vào sự sản xuất. Cô trích dẫn lời của bell hooks: “Mặc dù viết lách là một hành động đơn độc, nhưng khi tôi ngồi xuống với những câu chữ mà tôi tin chắc rằng sẽ được một ai đó đọc, tôi biết rằng mình không bao giờ thực sự cô đơn.” Có thể lập luận rằng, trong thời đại của mạng xã hội, số lượng người được trải nghiệm cảm giác này đã nhiều hơn bao giờ hết. Và vì thế, da Cunha Lewin gợi ý rằng chúng ta có thể thay thế hình ảnh một nhà văn cô độc trong phòng kín bằng hình ảnh của “một người xa lạ, một độc giả, đang ngồi lại và sống cùng những ý tưởng mà một ai đó đã dành nhiều giờ để nhào nặn nên”. Cô giải thích, “sự thấu cảm thân mật và đẹp đẽ này chính là cách tôi muốn hình dung về sự cô độc của mình khi đặt bút viết”.
Các công cụ để viết lách vừa rẻ tiền lại vừa có sẵn ở khắp nơi; độc giả đang chờ đợi; căn phòng chỉ là một lựa chọn có thể có hoặc không. Nếu tất cả những điều đó đều đúng, vậy thì điều gì đang ngăn cản bạn? Thách thức thực sự nằm ở ngôn từ. Câu chữ phải mang tính biểu đạt; viết lách phải viết về một cái gì đó. Mộng tưởng về một nhà văn trong căn phòng có thể rất hào nhoáng, biến viết lách thành một kiểu phong cách sống thời thượng. Nhưng nó cũng có một mặt tối: Một nhà văn ôm đầu bất lực, cạn kiệt nguồn cảm hứng, sa vào trạng thái bế tắc (writer’s block). Cả hai khía cạnh của mộng tưởng ấy đều bỏ quên chính bản thân việc viết — chủ đề, nội dung, dụng ý và ý nghĩa của nó. Da Cunha Lewin có xu hướng đồng tình với nhà văn Anh Geoff Dyer, người nghĩ rằng chứng bế tắc văn sĩ chỉ là một huyền thoại hoang đường. Dyer nói, nếu ông không viết được gì, đó không phải vì ông bị bế tắc. Đó là vì ông đang ở trong một trạng thái mặc định mà mọi nhà văn đều phải tự mình thoát ra, dù họ ở bất kỳ đâu: “Chỉ là tôi chẳng có điều gì để nói mà thôi.”



Bình luận