2. GIẢI MÃ TÂM LÝ NAM GIỚI
- Minh Đào
- 19 thg 8
- 33 phút đọc
Carl Gustav Jung là người sáng lập trường phái tâm lý học phân tích hay tâm lý học “chiều sâu”, vốn cung cấp khung lý thuyết tổng thể cho công trình của chúng tôi. Chúng tôi cũng dựa nhiều vào những góc nhìn sâu sắc từ các nhà lý thuyết thuộc các trường phái khác như Sigmund Freud, Erik Erikson, D. W. Winnicott, Heinz Kohut và Alice Miller. Tuy nhiên, chúng tôi tin rằng cách tiếp cận của Jung là phương pháp duy nhất đem lại một cách hiểu thực sự xuyên văn hóa về tâm trí con người. Hướng tiếp cận của ông cũng là cầu nối thỏa đáng duy nhất xóa nhòa khoảng cách giữa khoa học hiện đại và các truyền thống huyền thoại cũng như tâm linh của nhân loại.
Tâm lý học chiều sâu trường phái Jung trân trọng những bí ẩn của tâm hồn con người. Những giấc mơ, khải tượng, biểu tượng, hình ảnh và thành tựu văn hóa đều khởi nguồn từ những tầng sâu bí ẩn mà các tôn giáo trên thế giới vẫn hiểu là “chiều kích tâm linh”. Tâm lý học chiều sâu đón nhận mọi trải nghiệm của con người như là những biểu hiện chân thực của tâm trí. Do đó, các hiện tượng như “linh hồn”, “quỷ ám”, “mặc khải”, “cầu nguyện” hay “thượng đế” hoàn toàn tương thích với chân lý khoa học. Bởi vì mọi trải nghiệm đều mang bản chất tâm lý, nên chúng đều có thực, dẫu có kỳ lạ đến đâu. Trên hết, bất kỳ trải nghiệm nào của con người cũng vừa được đặt nền móng, vừa được nhận thức bởi các cấu trúc tâm lý sâu xa bên trong chúng ta.
Trước khi khám phá những cấu trúc sâu bên trong tâm lý nam giới, việc định nghĩa một vài thuật ngữ theo trường phái Jung sẽ rất hữu ích.
Huyền thoại (Myth): Đối với các nhà tâm lý học chiều sâu, huyền thoại không mang hàm ý về một câu chuyện ngây thơ, hư cấu và tiền khoa học về nguồn gốc thế giới hay loài người. Huyền thoại là những câu chuyện có thật, mô tả cách thức vận hành của tâm trí và phương thức mà các nguồn năng lượng tâm lý tương tác với nhau. Huyền thoại phóng chiếu các động năng nội tâm ra thế giới bên ngoài, cho phép chúng ta trải nghiệm thế giới ấy qua lăng kính suy nghĩ và cảm xúc của mình.
Vì theo đúng nghĩa thực tế, chúng ta chính là vũ trụ và vũ trụ cũng chính là chúng ta, nên huyền thoại thường mô tả chính xác sự vận hành của vũ trụ rộng lớn hơn thông qua các hình tượng nhân hóa. Nói cách khác, chúng ta là sản phẩm của vũ trụ cũng giống như các thiên hà, đại dương và cây cối. Sẽ là điều hết sức kỳ lạ nếu tâm trí chúng ta không phản chiếu những cấu trúc tồn tại bên ngoài vũ trụ. Sự tương liên trực tiếp và mật thiết giữa bên trong và bên ngoài là điều cốt lõi cho bản tính tồn tại của chúng ta. Nếu không có mối liên kết ấy, chúng ta sẽ không thể tiếp thu bất kỳ tri thức thực tế hay hữu dụng nào về thế giới, và cũng không thể sinh tồn. Rút cục, rất có thể việc phân biệt giữa bên trong và bên ngoài thuần túy chỉ là sự phân định mang tính chủ quan và thực dụng do ý thức tạo ra, nhằm định hướng bản thân giữa một thực tại bí ẩn mà nó không thể thấu suốt hoàn toàn.
Các thần thoại sáng thế là minh chứng tuyệt vời cho điều này. Trong Kinh Thánh, Thiên Chúa Yahweh của người Do Thái tạo dựng thế giới vật chất bằng lời phán. Ngài phán: "Hãy có cái này, cái kia!", và cái này, cái kia liền xuất hiện. Đằng sau khái niệm sáng tạo này là ý niệm rằng việc gọi tên một điều gì đó sẽ mang nó vào hiện hữu. Tất nhiên, khoa học hiện đại khẳng định thế giới không hề hình thành qua lời phán truyền thần thánh hay việc đặt tên cho các vật thể. Trình thuật trong Kinh Thánh không truyền tải một chân lý khoa học về nguồn gốc thế giới; chân lý mà nó nói tới thuộc về phương diện tâm lý.
Ý thức con người ở đỉnh cao phát triển phần lớn nhờ vào việc làm chủ ngôn từ. Khởi sinh từ ngôn ngữ, đồng thời lại làm nảy sinh ngôn ngữ, ý thức kiến tạo trải nghiệm của chúng ta khi nó định nghĩa thế giới được tạo thành. Những từ ngữ ta dùng cho vạn vật giúp ta phân biệt được điều này với điều nọ. Chúng cũng tác động sâu sắc đến cách ta suy nghĩ và cảm nhận về những điều ấy. Do đó, những gì ta không thể gọi tên sẽ không hoàn toàn chân thực hay trọn vẹn trong trải nghiệm của ta. Dưới góc độ tâm trí, một thứ vô danh cũng giống như "chưa từng được tạo ra".
Vì vậy, hình tượng Thiên Chúa Yahweh tạo dựng thế giới bằng cách gọi tên vạn vật là hoàn toàn tương thích với các tiến trình tâm lý của con người. Đồng thời, nếu giả định rằng có một trí tuệ siêu việt đứng sau thế giới được sáng tạo, thì rất có thể trí tuệ ấy đã biểu hiện vũ trụ qua một tiến trình tương tự như cách con người sử dụng ngôn ngữ. Nếu đúng như vậy, câu chuyện trong Kinh Thánh vừa đóng vai trò như một dụ ngôn tâm lý, vừa là một biểu đạt đầy tầm nhìn về một tiến trình thực sự đang diễn ra trong toàn thể vũ trụ.
Bản ngã (Ego): Khi các nhà phân tâm học trường phái Jung nói về Bản ngã, họ thường muốn ám chỉ cái “Tôi” mà ta vẫn quen nghĩ là chính mình. Bản ngã là con người mà ta tin mình là, là phần tâm trí gắn liền với tên tuổi và danh tính của ta. Khi ta nói: "Tôi cảm thấy thế này về chuyện đó", hay "Tôi nghĩ tôi sẽ làm việc kia", thì có lẽ chính Bản ngã đang lên tiếng.
Các nhà lý thuyết Jung đôi khi định nghĩa Bản ngã là một phức cảm (complex). Ý họ là một yếu tố cấu trúc trong tổng thể tâm trí mang những đặc tính cụ thể nhất định. Bản ngã vận hành trong những gì ta hình dung là năng lực tư duy lý trí, trong cảm xúc, trong khả năng chủ ý hành động, ghi nhớ quá khứ, kiến tạo tương lai và trong sự tiếp xúc của ta với ý thức.
Tuy nhiên, trong thực tế, vấn đề Bản ngã phức tạp hơn thế nhiều. Thông thường, không phải cái “Tôi” đang tư duy, cảm nhận, hành động, định đoạt hay quyết định. Thay vào đó, một phức cảm tự trị (autonomous complex) nào đó ngoài Bản ngã có thể tạm thời “chiếm hữu” nó và khiến nó vận hành theo góc nhìn của phức cảm ấy. Vì Bản ngã phần lớn không nhận biết được các phức cảm khác này, nó bị đánh lừa bởi cảm giác ảo tưởng rằng mình nắm giữ vị trí độc tôn trong tâm trí, cùng với ảo tưởng đi kèm về “ý chí tự do” của mình. Theo Jung, các phức cảm khác vận hành chủ yếu từ vô thức cá nhân, nhưng cũng có thể bắt rễ sâu trong vô thức siêu cá nhân (transpersonal unconscious) – nơi tạo ra ảnh hưởng sâu xa hơn lên tâm trí.
Ý thức (Consciousness): Ý thức không chỉ giới hạn ở Bản ngã. Tiềm thức hay vô thức tự thân nó cũng có ý thức. Nó chỉ là "vô thức" – vô hình và mờ mịt – dưới góc nhìn của Bản ngã mà thôi. Các phức cảm cá nhân bên ngoài Bản ngã, cùng với các cấu trúc tâm lý siêu cá nhân sâu hơn của vô thức, có thể nhận biết lẫn nhau và nhận biết cả Bản ngã, đồng thời chúng vận hành theo những mục đích riêng.
Trường hợp rối loạn đa nhân cách chứng minh rất rõ điều này. Ở đó, các phức cảm bị kích hoạt mạnh mẽ sẽ tiếm quyền Bản ngã trong những sinh hoạt thường ngày của người bệnh, khiến họ cư xử theo cách mà Bản ngã không hề mong muốn, thậm chí đôi khi sau đó chẳng còn nhớ gì.
Những gì xảy ra với người mắc rối loạn đa nhân cách cũng đúng với tất cả chúng ta, dù ở mức độ nhẹ hơn. Tất cả chúng ta đôi khi đều hành xử trái ngược với ý muốn của Bản ngã, chẳng hạn như qua những cơn thay đổi tâm trạng thất thường hay sự bộc phát dữ dội của nỗi sợ và cơn thịnh nộ. Khi trở lại trạng thái ý thức của Bản ngã, chúng ta thường thốt lên những câu như "Tôi mất trí rồi" hoặc "Tôi chẳng hiểu điều gì đã nhập vào mình nữa". Thứ đã "nhập vào" ta, tựa như một làn sóng năng lượng làm thay đổi toàn bộ cách thức tri giác, cảm nhận và hành động, chính là một phức cảm tự trị – một dạng ý thức khác bắt nguồn từ bên trong hệ thống tâm trí toàn vẹn vốn là Bản thể (Self) của chúng ta.
Các phức cảm tự trị thường (dù không phải luôn luôn) được hình thành xoay quanh những trải nghiệm tổn thương thời thơ ấu. Trong những chấn thương thuở nhỏ, Bản ngã non nớt của chúng ta đã phân tách và kìm nén những khía cạnh của tâm trí mà cha mẹ, anh chị em hoặc xã hội cho là không thể chấp nhận được. Những khía cạnh bị phân tách này có thể là suy nghĩ, cảm xúc, hình ảnh hoặc sự liên tưởng. Chúng thường rất giá trị và đáng được hồi phục. Chúng có thể mang theo những tài năng tiềm ẩn, trực giác, năng lực hoặc cảm xúc chân thực – những điều sẽ làm cho nhân cách của ta thông tuệ và toàn vẹn hơn nếu ta biết tái hòa nhập chúng.
Cho đến khi sự tái hòa nhập có thể diễn ra, tâm trí chúng ta giống như những mảnh gương vỡ, giữ lại từng mảnh vụn của một hình ảnh phản chiếu từng nguyên vẹn. Thông qua tất cả các phức cảm, bao gồm cả Bản ngã và vùng đất vô thức bao la, ý thức thẩm thấu khắp tâm trí chúng ta.
Nguyên mẫu (Archetypes): Các nguyên mẫu vận hành ở tầng tâm trí sâu hơn vô thức cá nhân vốn chứa đựng các phức cảm tự trị. Chúng là những thành phần được lập trình sẵn trong cỗ máy tâm trí được truyền lại qua di truyền. Chúng là cấu trúc nền tảng định hình bản chất tâm trí con người và tạo nên sự đồng nhất ở mọi cá nhân, bất kể họ sống trong nền văn hóa nào. Theo nghĩa này, các nguyên mẫu đại diện cho những đặc tính tâm lý siêu cá nhân của loài người. Chúng là những yếu tố năng động và tràn đầy năng lượng bên trong mỗi chúng ta; dâng lên rồi lại lắng xuống nơi sâu thẳm vô thức tựa như những đợt thủy triều. Cuộc sống thường nhật của chúng ta bị chi phối bởi những nguồn năng lượng này theo những cách mà ta chẳng thể nào thấu triệt hết được.
Jung tuyên bố rằng các nguyên mẫu tương đương với bản năng ở các loài động vật khác. Ông đặt chúng vào nơi mà ông gọi là "vô thức tập thể". Sự tồn tại của vô thức, hay điều mà nhiều người gọi là tiềm thức, đã được ghi nhận từ lâu. Nhưng Freud là người đầu tiên biến nó thành trọng tâm của các cuộc nghiên cứu tâm lý học quy mô lớn. Trước thời ông, ngay cả khi giới tâm lý học thừa nhận sự tồn tại của tiềm thức, họ cũng thường gạt bỏ nó như một kho chứa thụ động những trải nghiệm bị lãng quên hoặc dồn nén.
Niềm hứng thú của Freud đối với các tiềm năng của tâm trí được khơi dậy trong thời gian ông theo học y khoa với nhà thôi miên lừng danh người Paris, Jean Martin Charcot. Charcot từng xem nhẹ kết quả từ các cuộc thực nghiệm của chính mình, cho rằng chúng chỉ bắt nguồn từ chứng cuồng loạn (hysteria) của bệnh nhân. Dù nguồn gốc của chúng là gì, những biểu hiện thôi miên mà chàng trai trẻ Freud chứng kiến đã thuyết phục ông rằng mình vừa tìm thấy một mảnh đất màu mỡ cho những nghiên cứu sâu hơn.
Sự nghiệp cả đời của Freud ngụ ý rằng tồn tại một tầng tiềm thức chung cho tất cả chúng ta, sâu hơn tiềm thức mang tính cá nhân. Ông gọi tầng tiềm thức dựa trên bản năng này là Cái Ấy / Id (trong tiếng Latin có nghĩa là "nó"). Cái Ấy hoang dã, nguyên thủy này là cội nguồn của mọi xung năng vô cùng mạnh mẽ và phi lý trí, đặc biệt là tính dục mang tính xâm kích.
Những người theo thuyết Freud cổ điển có xu hướng coi tiềm thức là một vùng ít nhiều vô trật tự. Nhưng nhiều nhà tâm lý học phái Tân Freud lại khẳng định rằng tâm trí tầng sâu, thay vì hỗn loạn, lại mang tính cấu trúc rất rõ ràng. Erik Erikson nói về các “cấu trúc bản năng” và các “khuôn mẫu hành động định hình sẵn”, vốn sẽ khơi dậy “năng lượng xung năng để giải phóng tức thì, mạnh mẽ và thuần thục” khi gặp hoàn cảnh phù hợp. Ông đề xuất sự tồn tại của “một nguồn năng lượng tâm lý chung (lực bản năng) có thể được vận dụng bởi nhiều khuôn mẫu bản năng tương đối tự trị và đã được định hình sẵn”. Ông cũng khẳng định: “các khuôn mẫu hành động – các phương thức và thể thức – đều đã hiện diện trong bản thiết kế nền tảng ngay từ đầu, nhưng chúng có thời điểm riêng biệt để trỗi dậy.” Tư tưởng của ông gần gũi một cách đáng kinh ngạc với quan niệm của Jung về các “khuôn mẫu hành động” mang tính nguyên mẫu được giải phóng theo thời gian và hoàn cảnh từ vô thức tập thể.
Jung đã đẩy việc khám phá các cấu trúc vô thức tập thể tiến thêm một bước. Ông khẳng định rằng ẩn chứa bên trong chúng vừa là những viên gạch nguyên mẫu tạo nên tâm trí con người, vừa là ký ức tập thể tích lũy của toàn thể nhân loại. Ông đi đến kết luận này vì phát hiện ra rằng các biểu tượng, hình ảnh, thần thoại và các vị Thần từ những nền văn hóa và thời đại khác nhau có nét tương đồng đến kinh ngạc với nhau, cũng như với những hình ảnh xuất hiện trong giấc mơ của các bệnh nhân của ông. Theo quan niệm của ông, vô thức tập thể là ngọn nguồn và là kho tàng vô tận của mọi hình tượng được lưu giữ trong nghệ thuật, thần thoại và tôn giáo của loài người. Từ đó bật ra tiếng hát của thi nhân lẫn kiến giải sâu sắc của nhà khoa học. Từ đó tuôn trào những giấc mơ mang điềm báo, vốn thường có ý nghĩa với cả một xã hội cũng như với chính người mơ.
Các cấu trúc nguyên mẫu của tâm trí đóng vai trò là những ống dẫn cho các khối năng lượng tâm lý nguyên thủy khổng lồ. Do cấu hình động năng riêng, chúng nhào nặn nguồn năng lượng này, truyền cho nó những khuôn mẫu đặc thù. Các nhà tâm lý học gọi lực sống này dưới dạng thức tâm trí là Dục năng (Libido). Freud tin rằng Libido về căn bản mang tính dục. Bất kỳ biểu hiện nào của Libido được chuyển hướng sang các mục tiêu khác ngoài tính dục đều được ông gọi là “sự thăng hoa” (sublimations). Trái lại, Jung tin rằng Libido là một sinh lực tổng quát, biểu hiện qua những xung động mang tính tưởng tượng và tâm linh, cũng như qua tính dục.
Đối với mỗi cá nhân, các nguyên mẫu có thể mang tính sáng tạo và nâng tầm sự sống, hoặc mang tính hủy diệt và đoạt mạng sống. Kết quả phụ thuộc một phần vào cách thức Bản ngã tương tác với chúng dựa trên tiến trình phát triển của chính Bản ngã. Việc tiếp cận và sử dụng đúng cách nguồn Dục năng sẵn có trong tâm trí tương đương với một dạng "công nghệ tâm lý". Nếu học được công nghệ này và sử dụng đúng đắn, chúng ta có thể dùng nguồn năng lượng đó để biến mình thành những người đàn ông và phụ nữ tràn đầy năng lực kiến tạo. Nhưng nếu không học cách sử dụng những nguồn tài nguyên năng lượng to lớn này, hoặc lạm dụng chúng, chúng ta sẽ tự rước lấy sự hủy diệt, và có thể kéo theo cả những người khác.
Nếu cố tình phớt lờ các nguyên mẫu, chúng vẫn sẽ tác động mãnh liệt lên ta. Chúng bẻ gập chúng ta theo ý chí phi nhân, đôi khi vô nhân tính của chúng. Do đó, chúng ta phải đối diện với những bằng chứng mà tâm lý học chiều sâu cùng các nghiên cứu khác đã chỉ ra: Chúng ta không hề thoát khỏi bản năng hay các nội dung vô thức như ta từng được khuyến khích tin tưởng. Tự do đích thực của Bản ngã chỉ đến từ việc thừa nhận và tiếp cận đúng cách những ngọn lửa phản ứng đang âm ỉ cháy bỏng trong tâm trí vô thức của chúng ta.
Một số nhà phân tích theo trường phái Jung lãng mạn hóa các nguyên mẫu. Họ khuyến khích bệnh nhân tìm kiếm và nhận lấy nguyên mẫu hoặc huyền thoại cụ thể đã chi phối cuộc đời mình. Khi đó, cuộc sống trở thành một tiến trình khẳng định và sống trọn vẹn theo huyền thoại đó. Theo quan điểm của chúng tôi, mục tiêu không nên là đồng hóa mình với một khuôn mẫu nguyên mẫu, hay để mặc cho biểu hiện huyền thoại của nó nhào nặn cuộc đời mình. Chúng tôi tin rằng khi lãng mạn hóa và tự đồng hóa với bất kỳ nguyên mẫu nào, chúng ta sẽ không còn là những con người thực thụ đang tiến tới sự toàn vẹn nữa. Nếu bị cuốn hút vào một nguyên mẫu bởi sức quyến rũ chết người của nó, bởi lời hứa hẹn rằng ta có thể trốn tránh trách nhiệm cá nhân cùng nỗi đau khi làm một con người có Bản ngã riêng, ta sẽ bị đè bẹp bởi chính sức nặng của những xung lực cưỡng bách từ vô thức.
Mặt khác, mục tiêu của chúng ta cũng không phải là trở nên tầm thường trong hành trình tìm kiếm sức khỏe tâm thần. Chúng ta không được đánh mất mối liên kết sống còn với nguồn năng lượng dục năng mà các nguyên mẫu cung cấp, để ta có thể sống trọn vẹn, tràn đầy sinh lực và sáng tạo. Mục tiêu là học cách phân biệt bản thân với các nguyên mẫu mà không hoàn toàn tách rời khỏi chúng. Nếu học được cách tiếp cận chúng thành công, chúng sẽ trở thành nguồn năng lượng dồi dào cho đời sống cá nhân lẫn việc chữa lành hành tinh này – chúng ta sẽ trở nên rạng rỡ hơn trong mọi lĩnh vực của đời sống.
Nói chính xác hơn, mục đích của chúng ta là phát triển những cấu trúc Bản ngã trưởng thành đủ mạnh để dẫn truyền nguồn năng lượng dục năng hữu ích vào đời sống thường nhật. Ta có thể bắt đầu bằng cách ý thức được nguồn năng lượng nguyên mẫu đang chiếm hữu mình ra sao. Chỉ khi đó, ta mới có thể bắt đầu tiếp cận chúng một cách sáng tạo, thông qua một tiến trình mang lại cảm giác tự do ý chí rõ rệt hơn trong các lựa chọn của cuộc đời. Nỗ lực giải phóng bản thân đến lượt nó sẽ thúc đẩy chúng ta giúp đỡ người khác làm điều tương tự. Nguồn năng lượng được tái tạo sẽ mang lại lợi ích cho bản thân và tha nhân ở mọi cấp độ tổ chức tâm lý: cá nhân, gia đình, cộng đồng, quốc gia và toàn cầu.
Bóng tối (Shadow): Đôi khi chính Jung cũng đồng nhất Bóng tối với toàn bộ vô thức. Nhưng phần lớn các nhà tâm lý học chiều sâu xem Bóng tối như một Bản ngã đối lập (contra-Ego) mang tính cá nhân, đa diện và cùng giới tính với Bản ngã. Nếu Bản ngã là một bức ảnh, thì Bóng tối chính là tấm phim âm bản của nó. Nằm ở vị trí đối lập trực tiếp với Bản ngã, Bóng tối là một phức cảm tự trị nắm giữ những quan điểm, bộc lộ những cảm xúc và thường mưu cầu một mục đích hoàn toàn khác biệt với Bản ngã.
Giống như hầu hết các phức cảm tự trị khác, Bóng tối là kết quả của những tổn thương thời thơ ấu. Những phẩm chất trong tổng thể tâm trí hoàn toàn tương phản với Bản ngã đang hình thành, và bị Bản ngã chối bỏ do áp lực từ môi trường thời thơ ấu, sẽ kết tụ lại trong vô thức. Tại đó, chúng tạo thành một thực thể riêng biệt, có ý thức và có ý chí riêng. Trừ khi được tái hòa nhập vào giai đoạn sau của cuộc đời, chúng sẽ không ngừng tìm cách phá hoại các kế hoạch và hành vi của Bản ngã.
Chúng ta ai nấy đều từng trải qua cảm giác mong muốn một đằng nhưng thực tế lại diễn ra một nẻo. Chẳng hạn, ta chủ định giữ thái độ hòa nhã khi sang thăm gia đình bên vợ/chồng, nhưng rồi lại thấy mình bị cuốn vào những cuộc tranh cãi và đối đầu không thể cưỡng lại. Bản ngã của chúng ta muốn duy trì hình ảnh về một gia đình hòa thuận. Nhưng Bóng tối của chúng ta, vốn không thể chịu đựng được sự đạo đức giả ấy và ôm giữ lòng thù ghét thực sự đối với nhà thông gia, sẽ thúc ép chúng ta hành xử một cách thành thật hơn, dẫu cho cách đó có tính hủy hoại hơn.
Lòng thù địch mà ta cảm nhận rút cuộc lại là nhắm vào chính bản thân mình, nhưng thường phải mất rất nhiều công sức ta mới có thể nhận ra điều này. Bóng tối ủng hộ tiến trình này vì nó khao khát được tái hòa nhập. Phương thức của Bóng tối là dẫn dụ chúng ta giữ khư khư những lập trường phòng thủ mù quáng và phi lý – nhằm bắt chúng ta phải đối mặt với bất kỳ phức cảm tâm lý nào mà ta thà quên đi còn hơn. Những mối hận thù ngoài “thế giới thực” của chúng ta hầu hết đều nhắm vào chính các phức cảm nội tâm này, và Bóng tối vận hành thông qua sự cưỡng bách lặp lại (repetition compulsion) để lôi kéo sự chú ý của chúng ta về phía chúng.
Thay vì đối mặt với những phẩm chất bị chối bỏ bên trong mình – dù là tích cực hay tiêu cực – chúng ta lại thường xử lý Bóng tối bằng cách phóng chiếu những phẩm chất đó lên người khác. Dưới tư cách là Bản ngã, ta không phóng chiếu chúng. Nhưng Bóng tối làm vậy để hướng sự quan tâm của ta vào những cảm xúc, ước muốn và mục đích của nó. Bóng tối khiến ta nhìn những người mà ta không đồng tình hoặc không ưa qua những gam màu có lẽ chỉ giống rất ít với bản chất "thực sự" của họ, nhưng lại chính là những màu sắc mà bản thân Bóng tối đang nắm giữ.
Jung tin rằng việc thu hồi sự phóng chiếu của Bóng tối và thừa nhận nó là một phần của chính mình đòi hỏi lòng can đảm đạo đức phi thường. Ông cũng tin rằng điều gì ta không chịu đối mặt bên trong tâm trí, ta sẽ buộc phải đương đầu với nó ở thế giới bên ngoài. Do đó, nếu có thể đón nhận các phẩm chất của Bóng tối và học hỏi từ chúng, ta sẽ hóa giải được phần lớn những xung đột giữa các cá nhân mà lẽ ra ta phải đối mặt. Những người từng đóng vai trò làm màn chiếu cho sự phóng chiếu của Bóng tối sẽ trở nên bớt đáng ghét hơn và mang tính con người hơn. Đồng thời, chúng ta cũng trải nghiệm bản thân như những cá nhân phong phú hơn, phức hợp hơn và mạnh mẽ hơn.
CẤU TRÚC TAM GIÁC CỦA CÁC NGUYÊN MẪU
Trong cuốn sách này, định nghĩa của chúng tôi về Bóng tối bao hàm cách hiểu truyền thống của Jung, nhưng đồng thời bổ sung thêm một khía cạnh nguyên mẫu và siêu cá nhân khác. Chúng tôi tin rằng các nguyên mẫu nam tính và nữ tính đều sở hữu Bóng tối của riêng mình. Vua (King), Chiến binh (Warrior), Pháp sư (Magician) và Người tình (Lover) là các cấu trúc nguyên mẫu nam tính mà chúng tôi đảm nhận nghiên cứu trong bộ sách này. Ở một khía cạnh nào đó, những nguyên mẫu này vận hành ở những tầng mức nguyên thủy hơn so với Bản ngã đang tiếp cận chúng, và mỗi nguyên mẫu đều có Bóng tối riêng.
Theo định nghĩa mở rộng của chúng tôi, Bóng tối luôn xuất hiện ở những nơi tâm trí còn non nớt, phân mảnh, bởi sự phân tách luôn là triệu chứng của một tiến trình phát triển chưa được tích hợp. Theo quan điểm truyền thống của Jung về sự trưởng thành, sự toàn vẹn đạt được phần lớn tùy thuộc vào mức độ vượt qua sự phân tách giữa Bản ngã và Bóng tối. Phần lớn, sự trưởng thành về tâm lý là thước đo mức độ Bản ngã có thể tích hợp triệt để Bóng tối vào ý thức của nó.
Chúng tôi cho rằng sự phân tách giữa Bản ngã và Bóng tối tự nó đại diện cho một hệ thống Bóng tối. Sự phân tách này thực chất kéo Bản ngã vào Bóng tối lưỡng cực (bipolar Shadow) của một hoặc nhiều nguyên mẫu. Trong tình huống này, Bản ngã của chúng ta thường tự đồng hóa với một cực của Bóng tối nguyên mẫu và tự tách rời khỏi cực còn lại. Do đó, theo góc nhìn của chúng tôi, Bóng tối vẫn có thể được xem xét theo cách truyền thống như một vùng tâm lý bị chia cắt khỏi Bản ngã, nhưng một cách đầy đủ hơn, nó là một hệ thống lưỡng cực được đặc trưng bởi sự phân tách, đè nén và phóng chiếu bên trong trường năng lượng của một nguyên mẫu.
Trong một thời gian dài, các nhà tâm lý học gần như chỉ gắn “rối loạn lưỡng cực” với chứng nhân cách hưng-trầm cảm. Sau đó, trong tác phẩm Bệnh học tâm thần hiện đại (Modern Psychopathology), Theodore Millon đã mở rộng khái niệm tính lưỡng cực để bao gồm cả các chiều kích thụ động và chủ động trong tất cả các chứng rối loạn nhân cách chính. Theo cách tương tự, một số học giả phái Jung đã mô tả mối quan hệ lưỡng cực giữa một số nguyên mẫu nhất định (mặc dù bản thân chúng không phải là rối loạn nhân cách). Điều đó làm nảy sinh các cặp nguyên mẫu như senex-puer (ông lão – cậu bé vĩnh cửu), domina-puella (bà lão – cô gái vĩnh cửu) và những cặp khác.
Chẳng hạn, trong trường hợp nguyên mẫu Chiến binh, cả Kẻ bạo dâm (Sadist) lẫn Kẻ khổ dâm (Masochist) – hai cực của Bóng tối Chiến binh – đều không đại diện cho sự phát triển hay thành tựu cá nhân. Sự hiện thân trọn vẹn của Chiến binh nằm ở một lựa chọn siêu việt thứ ba, tích hợp hai cực thành một cấu trúc tâm lý sáng tạo. Vì các nguyên mẫu định hình sự toàn vẹn của tâm trí, nên chúng luôn hòa giải các lực lượng đối lập theo cách này.
Cả hai cực đối lập trong các hệ thống Bóng tối nguyên mẫu đều chứa đựng những phẩm chất cốt yếu cho sức khỏe tâm lý. Nhưng nếu bị bỏ mặc trong trạng thái căng thẳng triền miên, chúng sẽ kết án Bản ngã vào một sự tồn tại phân mảnh và non nớt. Dưới sự dẫn dắt của các nguyên mẫu trong sự viên mãn siêu việt, một nhân cách trưởng thành sẽ tích hợp những phẩm chất quan trọng này bằng cách dung hòa những chia rẽ trong Bóng tối nguyên mẫu.
Cách hiểu tinh tế hơn của chúng tôi về sự vận hành của các nguyên mẫu gợi mở những nét tương đồng thú vị với các trường phái tư tưởng khác:
Alfred Adler: Nhà tâm lý học đương thời với Freud và Jung, tin rằng các rối loạn nhân cách xuất hiện ở cả thể chủ động và thụ động, tương tự như góc nhìn của chúng tôi về cách thức vận hành của các hệ thống Bóng tối nguyên mẫu.
Paul Tillich: Nhà thần học Cơ Đốc giáo xây dựng tư tưởng trên niềm tin vào điều ông gọi là những “sự mơ hồ” của không gian và thời gian trong thế giới thụ tạo. Ông tin rằng những sự mơ hồ này tìm thấy lời giải trong một thực tại thứ ba cao hơn nằm “trên” lịch sử, được thôi thúc bởi “Tinh thần” (Spirit).
Hegel: Triết gia người Đức xem sự vận động tiến lên của vũ trụ diễn ra thông qua tiến trình “chính đề, phản đề, hợp đề” (thesis, antithesis, synthesis), trong đó mỗi hợp đề lại trở thành một chính đề mới trong một tiến trình liên tục nâng cao về tính phức hợp và sự tích hợp tiến hóa.
Alfred North Whitehead: Triết gia vĩ đại người Mỹ thế kỷ XX, coi toàn bộ “cuộc phiêu lưu của các ý niệm” là một tiến trình mà qua đó Thượng đế dẫn dụ thế giới thụ tạo tiến về phía trước theo từng bước nhỏ gọi là các “dịp/cơ duyên” (occasions). Những dịp này giống như các chính đề của Hegel, và Thượng đế là phản đề luôn biến đổi. Ông gọi tiến trình không ngừng nghỉ này là “sự tiến bộ sáng tạo” (creative advance).
Tương tự, Jung đã rút ra từ các nghiên cứu thuật giả kim của mình khái niệm coniunctio oppositorum (“sự hợp nhất của các mặt đối lập”) được thúc đẩy bởi một “chức năng siêu việt” (transcendent function) – khái niệm tương đương với “Tinh thần” của Tillich và “sự dẫn dụ” của Whitehead. Jung tin rằng điều cốt yếu đối với Bản ngã là phải cân bằng các hình ảnh, cảm xúc và quan điểm đối lập mà không để bên nào biến mất vào vô thức. Cuối cùng, khi cuộc giằng co này được trải nghiệm một cách có ý thức cùng mọi đau đớn mà nó đòi hỏi, tâm trí chúng ta có thể bước theo một khả năng thứ ba siêu việt để tiến tới sự toàn vẹn lớn hơn.
Các môn đồ của Jung phần lớn đã bỏ qua vai trò sống còn của Bản ngã trong việc định đoạt cách thức các nguyên mẫu nhào nặn đời sống hàng ngày của chúng ta. Với mô hình cấu trúc tam giác của các nguyên mẫu do chúng tôi đưa ra, một cá nhân có thể chú tâm để đảm bảo rằng các nguyên mẫu sẽ biểu hiện ở dạng thức trọn vẹn nhất thay vì ở các cấu trúc Bóng tối của chúng.
Một Bản ngã không tiếp cận đúng cách một nguyên mẫu sẽ bị Bóng tối của nguyên mẫu đó chiếm hữu và bị bỏ mặc cho dao động qua lại giữa hai cực của Bóng tối. Tại một cực, Bản ngã sẽ chịu sự phồng đại dương tính (nổ tung ra ngoài), và tại cực kia là sự phồng đại âm tính (nổ sụp vào trong). Khi bị tách rời, hai cực của Bóng tối thể hiện một sự đen tối bệnh lý, thứ chỉ được "khai sáng" bằng sự tích hợp lưỡng cực vào yếu tố thứ ba siêu việt của nguyên mẫu. Bệnh lý của chúng được Bản ngã chuyển hóa thành một bước tiến sáng tạo.
Hành động của Bản ngã chính là chìa khóa cho trải nghiệm chuyển hóa này. Bản ngã và các yếu tố của nguyên mẫu tạo ra một lực hấp dẫn lẫn nhau. Để quá trình chuyển hóa diễn ra, Bản ngã phải đặt mình “ở trên” thời gian và không gian, trong cảnh giới của Tinh thần hay vô thức tập thể. Bản ngã rốt cuộc sẽ đóng vai trò như một cơ duyên để nguyên mẫu biểu hiện trong không gian và thời gian. Trừ phi Bản ngã có thể vận hành vượt lên trên chiều kích không-thời gian, nếu không nguyên mẫu sẽ chủ yếu xuất hiện dưới những khía cạnh phân cực manh mún, và Bản ngã sẽ hút những mảnh vụn này về phía mình. Ngược lại, trong cảnh giới của Tinh thần, Bản ngã có thể giữ vững tầm nhìn vào ngôi sao dẫn đường mà yếu tố thứ ba siêu việt của nguyên mẫu đại diện.
Sự sắp đặt lưỡng cực của nguyên mẫu trong không gian và thời gian được khắc họa qua hình tượng thần thoại Symplegades – Những Hòn Đá Va Nhau mà Bản ngã phải vượt qua trên con đường tìm kiếm yếu tố thứ ba siêu việt của nguyên mẫu. Bản ngã cần được sự biểu hiện trọn vẹn này của nguyên mẫu dẫn dụ để trải nghiệm bước tiến sáng tạo của riêng mình và trong thế giới. Và nguyên mẫu cũng cần Bản ngã để trải nghiệm chính nó trong không gian và thời gian, cũng như để thu hồi lại những mảnh vụn Bóng tối đã thất lạc. Hành động thu hồi này tiếp thêm sức mạnh cho hành động sáng tạo không ngừng của nguyên mẫu trong thế giới.
Theo lý thuyết của chúng tôi, có bốn nguyên mẫu nền tảng của tính nam trưởng thành (cũng như của tính nam chưa trưởng thành). Mỗi hình tam giác này – Vua, Chiến binh, Pháp sư và Người tình – vì là những khía cạnh phụ thuộc lẫn nhau của một Bản thể (Self) nam tính duy nhất, nên khớp lại với nhau thành một hình kim tự tháp.
Kim tự tháp xuất hiện xuyên suốt các thời đại có thể được diễn giải như một biểu tượng cho Bản thể nam tính. Các kim tự tháp từ Ai Cập đến Trung Mỹ, từ Lưỡng Hà đến Hawaii, đều là những biểu trưng thu nhỏ của vũ trụ và thường có dạng phân tầng hay bậc thang. Các tầng bậc của kim tự tháp hầu như luôn tượng trưng cho các tầng của vũ trụ, các mức độ thực tại khác nhau của cõi trời đất. Bằng cách bước lên kim tự tháp, một cá nhân leo từ chiều kích phàm tục lên cõi thiêng liêng, từ cõi ít thần thánh đến biểu hiện viên mãn nhất của thần tính.
Ý niệm này tương đồng với quan điểm của chúng tôi về hướng tiến “đi lên” trong tiến trình cá nhân hóa (individuation) của Bản ngã: từ một trạng thái ít tích hợp (phàm tục) sang trạng thái tích hợp hoàn toàn (thiêng liêng hay “thần thánh”). Bản ngã của một người đàn ông phải bước lên bốn mặt của kim tự tháp bậc thang thuộc Bản thể nam tính, qua đó vượt qua sự phân tách Bóng tối lưỡng cực ở chân mỗi mặt. Bản ngã phải luôn hướng mắt về đỉnh chóp (capstone) của kim tự tháp – nơi đại diện cho biểu hiện viên mãn nhất trong cuộc đời một cá nhân về bốn nguyên mẫu trong sự hợp nhất hoàn hảo.
Sự thăng tiến này của ý thức Bản ngã, theo Jung, luôn là câu chuyện về việc dung hòa các mặt đối lập và tích hợp các chất liệu tâm lý bị phân tách. Khi Bản ngã của người đàn ông tiến lên qua từng cấu trúc tam giác của các nguyên mẫu, anh ta ngày càng trở nên tích hợp và toàn vẹn hơn, đồng thời ngày càng có khả năng tiếp cận tốt hơn các nguyên mẫu trong sự viên mãn của chúng tại đỉnh kim tự tháp:
Ở mặt Vua, anh ta tích hợp Kẻ bạo chúa (Tyrant) và Kẻ nhu nhược (Weakling).
Ở mặt Chiến binh, anh ta tích hợp Kẻ bạo dâm (Sadist) và Kẻ khổ dâm (Masochist).
Ở mặt Pháp sư, anh ta tích hợp Kẻ thao túng vô cảm (Detached Manipulator) và Kẻ chối bỏ "ngây thơ" (Denying "Innocent" One).
Ở mặt Người tình, anh ta tích hợp Kẻ nghiện ngập (Addicted Lover) với Kẻ bất lực (Impotent Lover).
Mỗi cực trong các Bóng tối bị phân tách của bốn nguyên mẫu chính đều sở hữu những tuệ giác và sức mạnh mà khi Bản ngã tích hợp chúng, sẽ góp phần tạo nên một cảm nhận vững chắc về Bản thể. Từng cặp đối lập lưỡng cực, khi được hợp nhất, sẽ hé lộ “yếu tố thứ ba siêu việt” của nguyên mẫu trong sự viên mãn của nó. Bằng cách vượt qua sự phân tách trong các Bóng tối nguyên mẫu lưỡng cực, người đàn ông sẽ cảm thấy được tiếp thêm sức mạnh từ bên trong. Và theo một nghĩa nào đó, trong khi kiến tạo cấu trúc nam tính nội tâm, anh ta cũng đồng thời khám phá ra kim tự tháp của Bản thể nam tính – thứ vốn luôn hiện diện bên trong anh ta, ngay tại cốt lõi của mình.
CÁC NGUYÊN MẪU VÀ CẤU TRÚC NÃO BỘ
Những mối tương đồng đáng kinh ngạc đang được khám phá giữa các lĩnh vực nghiên cứu não bộ và tâm lý học chiều sâu. Trong cuốn sách Nguyên mẫu: Lịch sử tự nhiên của Bản thể (Archetypes: A Natural History of the Self), nhà tâm lý học Anthony Stevens đã mở rộng việc khám phá các vùng não có thể là vị trí cư ngụ của các dạng thức nguyên mẫu. Ông cố gắng giải thích lý thuyết về các kiểu nhân cách của Jung dưới góc độ cấu trúc não bộ. Ông suy đoán rằng những kiểu người trực giác theo Jung có thể sử dụng Não Phải là chủ yếu, còn những người thiên về Não Trái sẽ tương ứng với các kiểu người tư duy.
Tóm lại, Não Phải (bán cầu não phải của vỏ não) “tư duy” bằng hình ảnh và biểu tượng, nắm bắt các tình huống và khuôn mẫu như những chỉnh thể toàn vẹn, và là trung tâm chính sản sinh ra những giấc mơ, thị kiến cùng ảo tưởng. Não Trái (bán cầu não trái tương ứng) tư duy theo trình tự, phân tích các tình huống và khuôn mẫu một cách logic, đồng thời sử dụng ngôn ngữ trong các tiến trình nhận thức.
Nhiều người định vị Bản ngã hoàn toàn ở Não Trái. Ngược lại, Stevens cho rằng dù Bản ngã có thể hoạt động phần lớn thời gian ở Não Trái, nó cũng tận dụng cả Não Phải. Ông cho rằng ý thức là một chức năng lan tỏa khắp toàn bộ não bộ, mặc dù các phương thức ý thức của Não Phải và Não Trái hoàn toàn khác biệt nhau. Vô thức cá nhân cùng các phức cảm khác nhau của nó dường như biểu hiện ở Não Phải. Thông qua những giấc mơ, Não Phải giao tiếp với Bản ngã vốn vẫn chủ yếu đồng nhất với Não Trái.
Thay vì định vị các nguyên mẫu ở Não Phải, Stevens đề xuất rằng chúng khởi nguồn từ các tầng sâu hơn, cổ xưa hơn của não bộ – những tầng mà theo nhà nghiên cứu não bộ Paul MacLean, gần như không thay đổi qua hàng triệu năm tiến hóa của động vật. Vỏ não hai bán cầu mà chúng ta vẫn nghĩ là não người thực ra chỉ là thành phần tiến hóa gần đây nhất trong ba vùng thần kinh riêng biệt. Trước nó, xét theo thứ tự cổ xưa tăng dần:
Tân vỏ não / Não thú mới (Neocortex / Neomammalian brain): Chịu trách nhiệm về nhận thức và tri giác tinh vi.
Não giữa / Não thú cổ (Paleomammalian brain / Hệ viền - Limbic system): Sản sinh các cảm xúc cơ bản như sợ hãi, giận dữ, sự gắn kết bầy đàn, tình mẫu tử cùng các hành vi cá nhân và xã hội đặc trưng của loài.
Não bò sát (Reptilian brain / Phức hợp R): Phần phát triển đi lên của tủy sống, chịu trách nhiệm cho các hoạt động sinh tồn cơ bản, đồng thời có lẽ là nơi ngự trị của những bản năng sơ đẳng nhất cùng các khuôn mẫu hành vi theo thói quen.
Ba bộ não bên trong một bộ não này vận hành tương đối độc lập. Tiến trình tích hợp tâm lý của chúng ta một phần chính là nỗ lực hợp nhất và đồng bộ hóa ba vùng não bộ này.
Nếu các nguyên mẫu nảy sinh ở tầng mức bản năng nền tảng như Jung tin tưởng, thì rất có thể chúng bắt nguồn từ vùng nguyên thủy nhất của chúng ta: não bò sát. Khi được trau chuốt và phát triển khi truyền ngược lên qua não thú cổ và não thú mới, các cấu trúc mang tính hình tượng và trực giác của nguyên mẫu sẽ trỗi dậy chủ yếu ở Não Phải. Nhưng vì trải nghiệm của Bản ngã về các nguyên mẫu cũng được trung gian qua Não Trái, chúng cũng sẽ chịu ảnh hưởng bởi các phương thức tư duy ngôn ngữ và logic tập trung tại đó.
Các nguyên mẫu mang lại cảm giác về một "cái khác" (otherness) có lẽ bởi vì chúng bắt nguồn từ các tầng não sâu hơn rất nhiều so với nguồn cội của ý thức Bản ngã, và sau đó phải được chuyển dịch thành những thuật ngữ có ý nghĩa, đặc biệt là đối với Não Trái.
Các nguyên mẫu trong sự viên mãn của chúng bao hàm các chức năng của cả Não Trái lẫn Não Phải. Đây là trường hợp rõ ràng với bốn nguyên mẫu nền tảng của tính nam trưởng thành mà chúng tôi đang phác thảo trong bộ sách này. Chắc chắn rằng các phương thức lý tính, chiến lược và tách biệt cảm xúc của Pháp sư và Chiến binh mang đặc trưng của các tiến trình Não Trái (mặc dù chúng dường như cũng dựa thêm vào các chức năng Não Phải), còn các phương thức thiên về thị giác, thẩm mỹ và trực giác của Người tình mang đặc trưng của các chức năng Não Phải (mặc dù Người tình dường như cũng vận dụng các tiến trình Não Trái).
Chúng tôi cố gắng thảo luận kỹ lưỡng hơn về nguồn gốc của bốn nguyên mẫu tính nam trưởng thành và hệ viền não bộ (não thú cổ) trong Phụ lục B. Lĩnh vực tìm hiểu này đang mở rộng đón chào những nghiên cứu đầy hào hứng trong tương lai.
SỰ HỘI TỤ CỦA CÁC NGUYÊN MẪU NAM TÍNH TRƯỞNG THÀNH
Các nhà tâm lý học chiều sâu thường hòa trộn các nguyên mẫu nam tính trưởng thành lại với nhau. Bởi vì chỉ có Bản ngã được hiện thực hóa hoàn hảo nhất mới lĩnh hội được sự biểu hiện trọn vẹn của một nguyên mẫu, nên với hầu hết chúng ta, chúng vẫn giữ lại một mức độ bí ẩn nhất định. Chính những hình ảnh và biểu tượng mà các nguyên mẫu dùng để giao tiếp với chúng ta lại chỉ đến những hình ảnh và biểu tượng khác vượt ra ngoài bản thân chúng theo một cách phức tạp gần như vô tận. Chẳng hạn, dương vật (phallus), cây thánh giá, cái cây, trục vũ trụ (axis mundi), cột sống, ngọn núi thiêng và kim tự tháp, mỗi thứ đều có thể được đọc dưới dạng biểu tượng như những khía cạnh của nhau.
Tuy nhiên, vẫn tồn tại những mối nguy hiểm đi kèm với việc diễn giải thái quá. Một cá nhân có thể dễ dàng đánh mất mình – như Yeats từng được cảnh báo trong quá trình nghiên cứu về huyền thuật – dọc theo "Con đường Tắc Kè Hoa" (Path of the Chameleon), một lối mòn mê cung của những sự tương ứng liên miên. Bên cạnh đó, bốn nguyên mẫu cơ bản chi phối người đàn ông trưởng thành – Vua, Chiến binh, Pháp sư và Người tình – vốn là những mảnh ghép của một Bản thể toàn vẹn nguyên sơ, và chúng bổ sung cho nhau đến mức không một nguyên mẫu nào có thể đạt đến biểu hiện viên mãn nhất mà không dung nạp các nguyên mẫu còn lại.
Trong lịch sử, các nguyên mẫu này đã từng hòa nhập rồi lại phân tách trong muôn vàn cấu hình đa dạng đến hoa mắt. Chẳng hạn, những pháp sư cầu mưa sinh ra các vị vua cầu mưa, những người này lại bổ nhiệm các tư tế để bầu ra các vị vua chiến binh, và vua chiến binh lại ủy thác cho các chiến binh khác phục vụ các pháp sư – những người rồi cũng sẽ trở thành vua. Một vị vua phàm trần, trong chừng mực ông thể hiện trọn vẹn nguyên mẫu Vua, sẽ là một chiến binh thực thi trật tự trong vương quốc và có thể tiến hành các hành động quân sự để mở rộng bờ cõi. Ông cũng là một vị vua thiêng liêng, vị pháp sư thượng tế đứng ra làm cầu nối giữa cõi tâm linh và thần dân của mình. Ông cũng là một người tình – của muôn dân, và theo một nghĩa đặc biệt, của hoàng hậu thiêng liêng của mình, vì ông không thể trị vì một cách chính danh hay hiệu quả trừ khi cuộc hôn phối của họ sinh hoa kết trái.
Bất chấp những ranh giới bất định này, việc phân biệt các nguyên mẫu nam tính vẫn rất hữu ích nhằm nâng cao năng lực của Bản ngã trong việc tiếp cận các cấu trúc tâm lý này trong toàn bộ sự phong phú và phức tạp của chúng. Trong cuốn sách này, chúng tôi sẽ tập trung vào mảng chiến binh thuộc bản thể nam tính được trao quyền.
CON ĐỰC ALPHA VÀ CÁC CHIẾN BINH CỦA NÓ: HÌNH DẠNG TIỀN THÂN Ở LOÀI LINH TRƯỞNG
Tinh tinh là loài họ hàng động vật còn sống gần gũi nhất với chúng ta. Cấu hình di truyền của chúng giống chúng ta tới hơn 98%. Nghiên cứu tập tính học linh trưởng cho thấy những sự tương đồng chặt chẽ giữa cấu trúc xã hội cũng như hành vi ứng xử tương tác của chúng với chúng ta. Rất có thể các tiến trình tâm lý tương tự cũng đang vận hành ở loài này.
Dù tất nhiên ta không thể thấu hiểu trọn vẹn những gì các loài động vật khác cảm nhận và suy nghĩ, thì theo nhiều cách, ta cũng chẳng thể chắc chắn mình biết được một con người khác đang cảm nhận hay suy nghĩ điều gì. Trong cả hai trường hợp, chúng ta đều đưa ra phán đoán dựa trên những hành vi có thể quan sát được. Lợi thế lớn nhất của chúng ta khi quan sát con người rõ ràng là ngôn ngữ nói, nhưng chúng ta vẫn phải gánh vác nhiệm vụ chủ quan là giải mã các ký hiệu ngôn ngữ đó. Tinh tinh, dù không biết nói, có thể giao tiếp với chúng ta bằng ngôn ngữ ký hiệu và thông qua các phương pháp tựa ngôn ngữ khác do các nhà nghiên cứu thiết kế.
Ngoài ra, chuỗi tín hiệu cơ thể phức tạp của chúng có nét tương đồng kinh ngạc với ngôn ngữ cơ thể của chính chúng ta. Hoàn toàn có cơ sở xác đáng để cho rằng khi loài tinh tinh tỏ vẻ sợ hãi, thịnh nộ, phục tùng, yêu thương hay kính sợ, chúng thực sự đang trải qua những cảm xúc ấy. Có lẽ trải nghiệm cảm xúc của chúng ít tính tự ý thức và ít phức tạp hơn của chúng ta, nhưng nó vẫn mang lại những manh mối về tâm lý học linh trưởng, bao gồm cả chính chúng ta.
Các khối quyền lực và liên minh có thứ bậc trong xã hội tinh tinh tập trung xoay quanh một con đực trưởng thành thống trị mà các nhà tập tính học gọi là Con đực Alpha (Alpha Male). Những Con đực Alpha thành công thường trưởng thành và có thể lực mạnh mẽ. Chúng thể hiện tầm nhìn, lòng can đảm và những phẩm chất mà ta chỉ có thể gọi là "bản lĩnh". Các Con đực Alpha bộc lộ nhiều hành vi tương tự như vị vua thiêng liêng – hình mẫu cụ thể được truyền cảm hứng từ nguyên mẫu mà chúng tôi đã khám phá trong cuốn The King Within (Vị Vua Bên Trong).
Các Con đực Alpha vây quanh mình những “hiệp sĩ” đực để giúp bảo vệ và giữ gìn “lãnh địa” của chúng. Những con đực chiến binh này bộc lộ những đặc tính của điều mà David Gilmore gọi là “sự sùng bái nam tính” (cult of manhood) ở nam giới loài người. Giống như những người tương ứng ở loài người, các con tinh tinh đực là những kẻ bảo vệ và chu cấp cho con cái và con non trong bầy đàn.
Chúng tôi tin rằng những con đực chiến binh ở loài tinh tinh, khỉ đột và các loài linh trưởng khác đang vận hành dựa trên các cấu trúc nguyên mẫu tương tự như cấu trúc ở loài người, dù ở mức độ nguyên thủy hơn nhiều. Chúng bảo vệ cộng đồng của mình với sự hung dữ tột bậc và đôi khi phải trả giá cho những nỗ lực ấy bằng chính mạng sống của mình.
Nam giới loài người trải nghiệm vai trò chiến binh này dưới một hình thức tinh vi và phức tạp hơn đáng kể. Ở một khía cạnh, khoảng cách giữa các loài linh trưởng khác và những chiến binh trong lịch sử loài người là một khoảng cách khổng lồ, kéo dài hàng triệu năm. Nhưng ở một khía cạnh khác, khoảng cách ấy lại thật nhỏ bé. Nó nằm vừa vặn bên trong hộp sọ của chúng ta! Nếu Stevens và những người khác đúng trong phân tích của họ về cấu trúc não bộ con người, thì luôn có một người nam chiến binh hiện diện bên trong chúng ta. Chúng ta phải học cách quản trị và dẫn dắt các nguồn năng lượng của chàng chiến binh ấy để phục vụ cho cộng đồng nhân loại.
Chúng tôi dành tặng cuốn sách này và toàn bộ bộ sách cho người đàn ông đang tìm kiếm một cuốn cẩm nang hướng dẫn vận hành tâm trí, và cho người phụ nữ muốn có một chỉ dẫn về các cấu trúc cố hữu (hard-wiring) của nam giới, cũng như về tính nam bên trong chính bản thân nàng. Cũng giống như không một phi công lái máy bay phản lực nào dám thử điều khiển chiếc Boeing 747 mà không hiểu rõ tường tận các tính năng và thiết bị của nó từ trong ra ngoài, cách duy nhất để “cầm lái” thành công một tâm lý nam giới vô cùng phức tạp là phải thấu suốt nó từ trong ra ngoài, với một sự hiểu biết rõ ràng về cách tiếp cận các hệ thống năng lượng nguyên mẫu của nó. Việc sử dụng nguồn năng lượng này một cách tỉnh thức sẽ đưa người đàn ông cập bến an toàn vào thời kỳ nam tính trưởng thành của đời mình.
Bình luận