Đây là cuộc đời bạn
- Minh Đào

- 3 giờ trước
- 18 phút đọc

Adam Phillips, nhà văn phân tâm học hàng đầu nước Anh, vốn chẳng mấy mặn mà với cái quan niệm hiện đại rằng tất cả chúng ta phải lao ra ngoài kia để "khai phá tiềm năng" của bản thân. Và đó cũng chính là chủ đề trong cuốn sách mới của ông, Missing Out: In Praise of the Unlived Life (Bỏ lỡ: Ngợi ca cuộc đời chưa từng sống). Thay vì luôn đau đáu cảm giác rằng mình đáng ra phải có một cuộc sống tốt đẹp hơn, Phillips lập luận rằng, chúng ta chỉ cần sống cuộc đời mình đang có một cách thỏa nguyện nhất có thể. Bằng không, ta đang tự rước lấy sự cay đắng vào mình.
Điều gì khiến ta tin rằng mình đã có thể trở thành một kẻ cự phách, một đối thủ đáng gờm trên đường đời? Ấy thế mà, trong bóng tối của những đêm trường, chúng ta vẫn thường nghĩ thế, rồi gặm nhấm nỗi đau khổ vì điều đó đã không xảy ra. "Vậy rồi, những gì không thể đạt được lại dễ dàng trở thành câu chuyện định hình cả cuộc đời ta," Phillips viết. "Cuộc đời thực tế ta đang sống có thể biến thành một chuỗi ngày tang tóc kéo dài, hoặc một tổn thương vô tận về những cuộc đời mà ta đã không thể sống."
Xem ra, bản thân ông chẳng có mấy lý do để mà than khóc cho cuộc đời mình. Sau một thời gian nghiên cứu phân tâm học và trải qua bốn năm tự phân tích lâm sàng, ông tham gia vào đội ngũ y bác sĩ tại Bệnh viện Charing Cross ở London. Tại đây, ông giữ chức nhà trị liệu tâm lý trẻ em trưởng trong gần một thập kỷ trước khi rời đi để mở phòng khám tư nhân. Giờ đây, tổng hành dinh của ông là một văn phòng rộng rãi, ngập tràn ánh nắng, sách xếp đầy tường tọa lạc tại khu Notting Hill thời thượng.
Phillips là một gã sành điệu (hipster). Ông có xu hướng chuộng trang phục tối màu, đi bốt mũi nhọn, và mái tóc thì cứ dựng ngược, rối bời theo đủ mọi hướng. Ông có một người bạn đời tài năng và quyến rũ — Judith Clark, một giám tuyển thời trang. (Trước Clark, ông cũng từng gắn bó với một người phụ nữ tài sắc vẹn toàn khác là nhà văn nữ quyền Jacqueline Rose. Từ hai mối tình này, ông có ba người con).
Quan điểm chính trị của ông thuộc cánh tả. Trong số nhiều "tội lỗi" mà ông dùng để hạch sách các đồng nghiệp phân tâm học của mình, một trong số đó là sự tham lam. Năm 2003, ông từng chia sẻ với Daphne Merkin trên tờ Times Magazine rằng ông thu phí mỗi buổi trị liệu từ 0 cho đến khoảng 75 đô la. Chắc chắn ông đã bù đắp phần còn lại bằng tiền tác quyền sách. Ở tuổi 58, ông đã xuất bản 17 cuốn sách, chưa kể 7 cuốn khác do ông làm chủ biên. Ông cũng viết bài thường xuyên cho tờ The Threepenny Review và đặc biệt là tờ London Review of Books. Ông cứ thế liên tục trước tác không ngừng nghỉ.
Và ông bảo ông chẳng mấy khi phải nhọc lòng vì chuyện đó. Tôi từng tham dự một buổi phỏng vấn giữa Paul Holdengräber, giám đốc chuỗi bài giảng của Thư viện Công cộng New York, với Phillips. Khi Holdengräber hỏi về trải nghiệm viết lách, Phillips trả lời rằng mọi thứ đến với ông rất dễ dàng. Nếu đang viết một bài luận mà cảm thấy bế tắc, ông chỉ đơn giản là ném thẳng nó vào sọt rác.
Ở các phương diện khác, ông cũng giữ một cái nhìn thư thái, thậm chí có phần tinh quái. Giờ đây, ông không còn cảm thấy có nghĩa vụ phải tự mình viết hết các cuốn sách nữa (trong 6 cuốn gần nhất, có 3 cuốn là đồng tác giả). Thực tế, ông cũng chẳng nhất thiết phải viết về phân tâm học. Năm 2010, cùng với Judith Clark, ông xuất bản cuốn The Concise Dictionary of Dress (Từ điển tóm tắt về trang phục), phần lớn bao gồm các bức ảnh chụp các tác phẩm sắp đặt của Clark tại Bảo tàng Victoria và Albert, đi kèm với những câu châm ngôn của Phillips.
Nhưng ngay cả khi viết một mình về phân tâm học, ông cũng không cảm thấy mình thực sự phải gò ép để hoàn thiện một cuốn sách đúng nghĩa. Như ông từng giải thích, ông chỉ viết vài bài luận, rồi tin tưởng rằng việc chúng cùng xuất hiện từ não bộ của ông vào khoảng cùng một thời điểm có nghĩa là chúng phải có mối liên hệ với nhau, và thế là ông xuất bản chúng chung trong một tập sách. Vì vậy, trong khi một số cuốn sách của ông được quảng cáo là "tập hợp các bài luận", thì thực chất nhiều cuốn sách khác của ông cũng được nhào nặn theo công thức đó. Missing Out chính là cũng thuộc thể loại này. Cuốn sách thảo luận dong dài không chỉ về sự bỏ lỡ, mà còn về vở Vua Lear và Othello, đồng thời đính kèm cả một bài giảng mà ông đã đọc tại Học viện Âm nhạc Brooklyn vào năm 2011 về các biểu hiện của sự điên rồ trên sân khấu kịch. Phillips gần như thích làm bất cứ trò chết tiệt nào mà ông muốn.
Chương đầu tiên của Missing Out có tựa đề "On Frustration" (Về sự thất vọng), một bài ca ngợi cảm xúc đó. Sự thất vọng làm cho con người trở nên chân thực đối với chúng ta, ông nói, bởi vì trong cuộc sống, họ thường chính là nguồn cơn gây ra nó. Thật vậy, sự thất vọng làm cho chính thực tại trở nên có thực. Hãy thử nghĩ về tình yêu mà xem:
"Có một thế giới hoàn toàn khác biệt giữa những giấc mơ ban ngày về sự lãng mạn, nhục dục với việc thực sự gắn kết với một ai đó; ở bên nhau đòi hỏi nhiều công sức hơn rất nhiều, và không bao giờ chính xác là những gì người ta từng hy vọng. Vì vậy, có ba sự thất vọng liên tiếp xảy ra: sự thất vọng của nhu cầu, sự thất vọng khi những thỏa mãn trong tưởng tượng không thành hiện thực, và sự thất vọng khi sự thỏa mãn trong thế giới thực xung đột với sự thỏa mãn hằng mong ước trong mộng tưởng... Và đó là khi mối quan hệ ấy còn đang êm đẹp."
Phillips cam đoan với chúng ta rằng chúng ta có thể tìm thấy những thỏa mãn thực tế, nhưng giống như hầu hết các nhà văn phân tâm học, ông không dành nhiều thời gian để gợi ý xem những điều đó cụ thể là gì. Những kết luận của ông, ít nhất là tại thời điểm này trong cuốn sách, có vẻ bi quan. Nhưng phân tâm học chưa bao giờ hứa hẹn sẽ biến một chiếc tai lợn thành một chiếc túi lụa cao cấp. Thành một chiếc túi vải thô thì may ra.
Điều này dẫn Phillips đến chương thứ hai, cũng là chương hay nhất: "On Not Getting It" (Về chuyện không thấu hiểu). Ở đây, ông tuyên bố rằng tốt hơn hết là chúng ta đừng cố thấu hiểu chính mình hay người khác làm gì. Nếu việc Phillips tán dương sự thất vọng là một cái tát vào mặt phong trào phát triển tiềm năng con người, thì sự hoài nghi này đối với "sự thấu hiểu" lại đi ngược lại hoàn toàn với trí tuệ phân tâm học chính thống. Điều đó chẳng làm ông bận tâm: "Có lẽ thấu hiểu là một điều chúng ta có thể làm cho nhau — một điều gì đó đặc biệt mê hoặc và quyến rũ — nhưng cũng là một điều có thể mang tính giới hạn, kéo lùi." Thậm chí, nó có thể mang lại rủi ro. "Ảo tưởng về việc biết rõ một người sẽ tạo ra khả năng, sự tự do để gạt bỏ việc thực sự hiểu họ; để rồi được tự do, bằng cách không hiểu họ, mà làm một điều gì đó khác với họ" — nghĩa là, đối xử tệ bạc với họ, dựa trên cái sự thấu hiểu mà ta tự giả định.
Nhưng hiểu lầm mà Phillips đề cập mãnh liệt nhất lại chính là khao khát được thấu hiểu của chúng ta. Điều này, ông nói, có thể là "hình thức hoài niệm bạo liệt nhất của chúng ta", một sự khơi dậy khao khát thuở còn thơ ấu: mong muốn người mẹ xuất hiện ngay lập tức vào giây phút ta cất tiếng khóc vì đau đớn hay đói khát.
Phillips từng là một sinh viên văn học cho đến khi ông bị quyến rũ vào thế giới phân tâm học bởi những tác phẩm của D. W. Winnicott, nhà tâm lý học trẻ em được kính trọng ở nước Anh giữa thế kỷ 20. Một trong những đóng góp chính của Winnicott cho tư tưởng phân tâm học là khái niệm về "người mẹ đủ tốt" (good-enough mother) — người mẹ đôi khi đáp ứng nhanh chóng các nhu cầu của chúng ta và đôi khi thì không. Vẻ đẹp của khái niệm này là nó được áp dụng rộng rãi — hầu hết mọi người đều có một người mẹ như thế — và nó cũng ban tặng một sự tôn vinh vừa vặn cho bà. (Những người mẹ đó thường có những đứa con khác phải chăm sóc, cộng với bữa tối phải nấu).
Tôi nghĩ rằng Phillips coi "người mẹ đủ tốt" của Winnicott không chỉ là đủ tốt mà còn là người mẹ tuyệt vời nhất, bởi vì bà nói cho chúng ta biết sự thật: đôi khi chúng ta sẽ được thỏa mãn và đôi khi thì không. Chúng ta cần sự thấu hiểu vào một vài thời điểm, chứ không phải mọi lúc. Nếu chúng ta khăng khăng đòi hỏi nó mọi lúc, ông hỏi, "làm sao chúng ta có thể là một cái gì đó khác ngoài một kẻ lúc nào cũng phẫn nộ?"
Theo quan điểm của Phillips, việc mưu cầu sự thấu hiểu không chỉ là một sự xúc phạm đối với sức khỏe cảm xúc; đó còn là một sai lầm về mặt trí tuệ. "Chúng ta nghĩ rằng mình biết nhiều về những trải nghiệm mà mình không có" — cuộc đời chưa từng sống — "hơn là về những trải nghiệm mà chúng ta đang có." Trong vùng đất kẹo ngọt của trí tưởng tượng, không có sự kiểm chứng nào đối với "quyền lực của sự thiếu trải nghiệm, niềm tin sắt đá mà chúng ta có được từ việc chưa từng làm những điều đó (sau khi đọc D. H. Lawrence hồi thiếu niên, tôi đã nghĩ không một ai trên đời hiểu biết về mối quan hệ giữa đàn ông và đàn bà nhiều hơn chính mình)." Tuy nhiên, đằng sau sự thiếu hiểu biết đó là những sự thật mà chúng ta thật ngu ngốc nếu phớt lờ:
"Chẳng có điều gì chúng ta có thể biết về bản thân hay về một người khác có thể giải quyết được một thực tế rằng: những người khác thực sự tồn tại, và chúng ta hoàn toàn phụ thuộc vào họ... Chẳng có gì để biết ngoài điều này, và tất cả những điều khác chúng ta biết, hoặc tuyên bố biết, hoặc được cho là biết, hay không biết, đều diễn tiến từ đây."
Vì vậy, chúng ta đang ở trong địa hạt của chủ nghĩa hiện sinh: "Địa ngục là những kẻ khác" (L'enfer, c'est les autres). Giống như Sartre và Camus, Phillips dường như tin rằng cuộc sống bạn đang sống không phải là cuộc sống bạn bị buộc phải chấp nhận, mà là cuộc sống do bạn lựa chọn, hoặc trong bất kỳ trường hợp nào, bạn phải chịu trách nhiệm về nó. Phillips trích dẫn Randall Jarrell, người mà ông nói là đối tượng nghiên cứu văn học chính của mình trước khi chuyển sang phân tâm học: "Cái cách mà chúng ta bỏ lỡ cuộc đời mình, chính là cuộc đời."
Có một chút lạnh lẽo ngoài kia trong vương quốc của sự "không thấu hiểu", nhưng để bù đắp, Phillips mang đến cho chúng ta một cuộc đời đủ tốt, bao gồm, chẳng hạn như một chút lòng trắc ẩn. Ông không hề sướt mướt về điều này. Con người, ông viết, không có mối liên hệ rõ ràng nào với nhau. Nhưng chúng ta có thể mang lại sự an ủi cho những người mình quan tâm bằng cách cho phép họ chỉ cần tồn tại, mà không cần phải giải thích về bản thân họ. Rilke, trong một bức thư, cũng từng đưa ra quan điểm tương tự: "Tôi coi đây là nhiệm vụ cao cả nhất cho mối gắn kết giữa hai con người: rằng mỗi người phải bảo vệ sự cô độc của người kia." Phillips nói rằng lòng tốt đã lỗi thời, rằng ngày nay nó bị coi là "đức hạnh của những kẻ thua cuộc". Theo ý kiến của ông, nó cần phải được phục hồi vị thế.
Phillips sùng bái Freud. Ông trích dẫn ông ấy hết lần này đến lần khác. Nhưng Freud của ông đôi khi trông chẳng giống Freud mà chúng ta từng biết cho lắm. Ông ấy trông giống... Adam Phillips hơn. Theo một bài báo gần đây mà Phillips viết trên tờ The Threepenny Review, Freud không hề giáo điều, ông không ban bố các điều luật, và ông không cố gắng đại diện phân tâm học như một ngành khoa học. Đối với niềm tin phổ biến rằng Freud nghĩ các chứng loạn thần chức năng có thể được xoa dịu bằng sự thấu hiểu các xung đột bị dồn nén, Phillips nói với chúng ta rằng vị tiền bối ấy không thực sự nói thế. Ngược lại, liệu pháp mà ông phát minh ra "cai nghiện cho con người khỏi sự bắt buộc phải thấu hiểu và được thấu hiểu; đó là một 'sự giáo dục muộn' (after-education) trong việc không thấu hiểu... Tác phẩm của Freud được đọc tốt nhất như một bài điếu văn dài cho tính có thể hiểu được của cuộc đời chúng ta. Chúng ta tìm kiếm ý nghĩa cho cuộc đời mình để được tự do, chứ không phải để bắt buộc đời mình phải có ý nghĩa."
Theo hiểu biết của tôi, phần lớn điều này là không đúng, nhưng nó có thể sẽ dần trông có vẻ đúng hơn. Nhà xuất bản Penguin Modern Classics đã giao cho Phillips công việc giám sát một bộ tuyển tập mới các tác phẩm của Freud, bản dịch tiếng Anh toàn diện đầu tiên kể từ bộ "Standard Edition" 24 tập thiêng liêng của James Strachey (1953-74). Nhiều người đã phàn nàn rằng ấn bản của Strachey quá cứng nhắc, quá "khoa học", quá mang tính ban phát luật lệ. Ấn bản của Phillips, gồm 17 tập (2002-06), có thể thay đổi điều đó. Đối với tất cả các văn bản, ông chọn các dịch giả từ bên ngoài giới phân tâm học (từ văn học, triết học, v.v.). Một số người thậm chí chưa từng đọc Freud trước đây. Bản thân Phillips không biết tiếng Đức, vì vậy ông không thể kiểm tra bản dịch của họ.
Nhưng thực ra, phần lớn cái sự tân trang mà ông dành cho Freud đã hiển hiện từ trước đó, ngay trên những dòng tư tưởng của chính mình. Thông thường, khi ông có thể gắn một ý kiến thông thái nào đó với Freud, ông sẽ nói đó là quan điểm của Freud. Khi nó không thể được dán nhãn một cách chặt chẽ cho Freud, hoặc khi Phillips coi đó là điều đáng bàn cãi, thì đó là quan điểm của "phân tâm học" — một bộ môn đã phát triển, cả đúng lẫn sai, từ những lời dạy của Freud. Đây là câu nói của Phillips về việc phân tâm học luôn phải mang tính giả định như thế nào: "Điều duy nhất mà nhà phân tích không thể để bản thân mắc phải... là biết chắc rằng mình đang làm gì." Hãy tin tôi đi, vị bác sĩ thần kinh người Vienna hút xì gà ẩn nấp sau cụm từ "nhà phân tích" đó chắc chắn nghĩ rằng ông ấy biết rất rõ mình đang làm gì.
Quả quyết là vậy, nhưng xem ra chính ông cũng thấy lập luận của mình thiếu đi một chỗ dựa vững vàng. Giải pháp của ông là mời gọi chúng ta coi Freud như một triết gia. Đây là một nước đi thông minh. Freud có vài ý tưởng, và chúng đã có tầm ảnh hưởng khổng lồ trong hơn một thế kỷ. Nhưng liệu chúng ta có đòi hỏi một triết gia không bao giờ được sai lầm? Cách tiếp cận này cho phép Phillips gạt phắt những kẻ gièm pha Freud, những người đang xuất hiện rất nhiều ngày nay. Ông nói, những lời chỉ trích của họ là không liên quan, đặc biệt là khi họ thường dựa vào những thất bại trong nhân cách của Freud — việc ông sử dụng chất kích thích, việc ông nói dối — làm bằng chứng cho thấy toàn bộ sự nghiệp của ông là một trò lừa bịp.
(Trên thực tế, một số học giả được kính trọng cao đã thách thức những nguyên lý cơ bản nhất của Freud — hãy quên nhân cách của ông ấy đi. Xem chẳng hạn cuốn Unauthorized Freud: Doubters Confront a Legend xuất bản năm 1998, do Frederick Crews biên tập, một thủ lĩnh của những người bài Freud). Phillips nói thêm, một cách cáu bẳn, rằng ông muốn biết những nhà phê bình này của Freud sẽ đề xuất liệu pháp điều trị nào, và tại sao. Người ta thấy vui khi nghe ông tỏ ra tức giận. Ông luôn cố uốn mình để tỏ ra công bằng, và điều này đôi khi trở nên mệt mỏi.
Sự hạ mình của Phillips đối với những người bài Freud không làm ông được lòng họ. Ở chiều ngược lại, ông cũng chẳng được lòng những người theo trường phái Freud chính thống, những người cảm thấy rằng trong những nỗ lực nhằm cứu vớt Freud, ông đã làm mờ nhạt các nguyên lý của bậc vĩ nhân, và làm ô danh chúng. Thật khó để trách họ khi nghĩ như vậy. "Khi các nhà phân tâm học dành quá nhiều thời gian ở bên nhau," ông viết trong cuốn Terrors and Experts (1995), "bọn họ bắt đầu tin vào phân tâm học. Họ bắt đầu nói chuyện một cách tỏ vẻ biết tuốt, giống như những thành viên của một giáo phái tôn giáo. Như thể họ đã thấu hiểu một điều gì đó. Nói cách khác, họ quên mất rằng họ chỉ đang kể những câu chuyện về các câu chuyện." Cũng trong cuốn sách đó, ông nói: "Phân tâm học chỉ mới bắt đầu nhận được kiểu giám sát công khai, sự thù địch thông minh mà nó cần." Kể từ khi ông viết điều đó, phân tâm học đã gặp phải khá nhiều sự thù địch từ những người bài Freud. Và, mặc dù ông gạt bỏ bọn họ, ông lại thường có giọng điệu giống hệt như một trong số họ — một nghịch lý mà có lẽ ông vô cùng tận hưởng.
Lĩnh vực mà Phillips buông thả bản thân nhất chính là phong cách viết. Trong những cuốn sách đầu tay, ông rất chuộng những tựa đề hóm hỉnh: On Kissing, Tickling and Being Bored (1993), The Beast in the Nursery (1998). Và cuốn sách về trang phục không phải là cuốn duy nhất được cấu thành từ những câu châm ngôn. Cuốn Monogamy (Một vợ một chồng) năm 1996 của ông, vốn được kỳ vọng rất nhiều (ai cũng muốn biết ông ủng hộ hay phản đối), hóa ra lại là một chuỗi những suy tưởng bay bổng (pensées), chỉ có vài câu, hoặc thậm chí chỉ một câu, trên mỗi trang. Đây là toàn văn văn bản trên trang 56: "Hầu hết các vụ ngoại tình không hề xấu xí, chúng chỉ trông có vẻ như thế thôi."
Tuy nhiên, điều Phillips thích nhất lại là trò chơi chữ. Đảo ngữ, vòng vo, điệp phụ âm, điệp nguyên âm, phép đối chéo, nghịch lý: không có trò nào mà ông không nhúng tay vào. "Một cuộc đời không được suy xét chắc chắn là rất đáng sống, nhưng liệu một cuộc đời chưa từng sống có đáng để suy xét?": đó là câu mở đầu của Missing Out.
Lặp từ là sở thích lớn nhất của ông. Ông yêu nó hơn cả Edgar Allan Poe. Trong một câu khác từ cuốn sách, ông kể cho chúng ta nghe cách Darwin, bằng việc lật đổ tôn giáo, đã khuyến khích phong trào phát triển tiềm năng con người như thế nào: "Một khi lời hứa về sự bất tử, về việc được chọn lựa, bị thay thế bằng lời hứa về một cuộc sống nhiều hơn — lời hứa, như chúng ta thường nói, về việc thu nhận được nhiều hơn từ cuộc sống — thì cuộc đời chưa từng sống đã trở thành một sự hiện diện ám ảnh trong một cuộc đời vốn được hợp thức hóa bởi chẳng có gì ngoài ham muốn được sống nó." Đó là ba từ "lời hứa" và sáu từ "cuộc sống/cuộc đời/sống" trong cùng một câu. Điều này có thể là thú vị, nhưng nó cũng đầy tính hùng biện. Kết hợp với một thứ logic thường mang tính rập khuôn, nó có thể làm bạn hoa mắt chóng mặt và khiến bạn ngừng bận tâm về sự thật.
"Nỗi sợ duy nhất là nỗi sợ thấu hiểu bản thân"; "Tôn giáo là về cuộc đấu tranh để không phải là Chúa"; "Người mẹ cũng dễ bị tổn thương trước nhu cầu của bà dành cho đứa con như đứa con đối với nhu cầu của nó dành cho mẹ" — bạn nhìn vào những tuyên bố như vậy và tự nhủ: "Ồ thú vị đấy, mình sẽ nghĩ về nó sau." Và rồi, khi nghĩ về nó sau, bạn nhận ra rằng nó không đúng. Hơn thế nữa, những trò điệp từ này đôi khi lại rất lập lờ. Trong Missing Out, "thấu hiểu" (ngược lại với bỏ lỡ) mang một ý nghĩa trong chương này và một ý nghĩa khác trong chương khác. Những cuốn sách được cấu thành từ các bài luận là như thế đấy. Ông có thể gắn kết các bài luận lại với nhau bằng trò chơi chữ.
Một phần trong thứ pháo hoa ngôn từ biến ảo của Phillips chính là vùng liên tưởng tham chiếu rộng đến kinh ngạc. Trong lời mở đầu của Missing Out — nghĩa là trước khi ông kịp bắt đầu nhập cuộc — ông đã trích dẫn Darwin, Camus, William Empson, Randall Jarrell, và dĩ nhiên, cả Freud. Ông đôi khi được mô tả không phải là một nhà văn phân tâm học mà là một triết gia đạo đức với nền tảng phân tâm học. Một số người cũng coi ông là một nhà phê bình văn học. Ông hiện là giáo sư thỉnh giảng tại khoa Anh văn của Đại học York.
Bất chấp tất cả những điều này, trong các cuộc phỏng vấn, ông có xu hướng né tránh việc khẳng định bất kỳ quyền lực hay học vấn uyên bác nào của mình. Trong cuộc trò chuyện tại Thư viện Công cộng New York, ông được hỏi về một điều ông từng viết. Ông bảo ông không có câu trả lời: "Tôi để lại rất nhiều thứ trong sách mà chính tôi cũng không biết mình phải nghĩ gì về chúng." Tôi nửa tin nửa ngờ sự khiêm tốn này. Phillips đã nhiều lần nói rằng một trong những vấn đề chính với các đồng nghiệp phân tâm học của ông là bài viết của họ quá nhàm chán. Điều này đúng, và vì vậy bạn phải ghi nhận công lao của ông trong việc viết ra những cuốn sách dễ đọc. (Chúng cũng ngắn nữa — trung bình chỉ khoảng hai trăm trang). Thực ra, một số người lại thấy văn phong của ông, với những trò chơi chữ điêu luyện, là không thể đọc nổi, chưa nói đến chuyện tỏ vẻ bợm bãi, kiêu kỳ.
Nhưng trong khi đôi khi ông chắc chắn là đang biểu diễn, những chiêu trò ngôn ngữ của ông dường như được dựa trên các nguyên tắc đáng ngưỡng mộ. Tình yêu của ông dành cho nghịch lý rõ ràng là sản phẩm của một sự căm ghét thói đạo đức giả, giáo điều. Và rất nhiều trò chơi chữ là nỗ lực để giữ cho mọi thứ luôn cởi mở. Một phần điều làm cho các bài viết phân tâm học trở thành một cực hình khi đọc là tính giáo điều của nó, việc ban phát luật lệ — và về những vấn đề không có sự hỗ trợ từ bằng chứng, chứ chưa nói đến từ lẽ thường. Một số tài liệu phân tâm học cũ hơn thực sự rất buồn cười khi đọc. Vì vậy, nếu lối nhảy múa ngôn từ của Phillips đôi khi có làm người ta ngứa mắt, thì đó chính là gáo nước lạnh ông dội thẳng vào những học giả huênh hoang, rỗng tuếch của thế hệ đi trước. Và nếu những tuyên bố về sự khiêm tốn của ông đôi khi nghe có vẻ như "phản kháng quá mức", thì ít nhất ông cũng đang lên tiếng. Ông căm ghét những kẻ độc tài giáo điều. Giống như những niềm tin kiên định khác của mình, ông đã viết hẳn một cuốn sách về chủ đề này, mang tên Equals (Ngang hàng) năm 2002.
Thói quen phản kháng đó có lẽ là đóng góp lớn nhất của ông cho lĩnh vực này. Một số khuyến nghị của ông đối với tôi dường như hoàn toàn sai lầm, thậm chí là quái đản, chẳng hạn như tuyên bố rằng chúng ta nên ngừng cố gắng thay đổi cuộc sống của mình. Tôi chưa từng biết một ai, sau khi nghỉ việc hoặc chủ động ly hôn, mà sau đó lại cảm thấy mình đã phạm sai lầm. Nhưng Phillips đang tấn công vào một định kiến có sẵn (idée reçue), và bạn phải cảm ơn ông vì điều đó. Tương tự như vậy với khái niệm rằng chúng ta nên từ bỏ việc cố gắng thấu hiểu chính mình. Nghe có vẻ điên rồ, nhưng chẳng phải tất cả chúng ta đều ngưỡng mộ những người, thay vì liên tục tự hỏi tại sao mình lại làm thế này thế nọ, cứ thế mà bắt tay vào làm việc đó hay sao?
Tôi cũng cảm nhận được trong lập luận này của Phillips một sự phản đối không chỉ đối với những ảo tưởng của chính chúng ta, mà còn đối với thói "biết tuốt" của ngành phân tâm học mà ông đã mô tả trong Terrors and Experts: cái nhìn soi mói, việc tỏ ra hiểu rõ suy nghĩ của bạn hơn chính bạn, sự sẵn sàng — nếu bạn phản đối — nói rằng đó chỉ là các cơ chế phòng vệ của bạn đang lên tiếng. Thay vào đó, Phillips dường như tin rằng phân tâm học không nên là một cuộc điều tra, mà là một cuộc trò chuyện thú vị.
Điều này dẫn chúng ta đến góc nhìn của ông về cách chúng ta nên sống cuộc đời mình. Trong mắt ông, niềm tin vào sự chắc chắn và thói quen chất vấn để đạt được điều đó chính là bức tường ngăn cách chúng ta khỏi mối giao cảm trần trụi, nguyên sơ với thực tại như khi còn là những đứa trẻ — nơi màu sắc, đường nét hay thanh âm đều được cảm nhận trực tiếp bằng mọi giác quan — và hệ quả là, nó khép lại cánh cửa của sự khám phá. Phillips đã điều trị cho trẻ em trong nhiều năm, và ông dường như đã học được rất nhiều từ chúng. (Đôi khi, giữa các dòng chữ, tôi như có thể nghe thấy ông đang tự nhủ: "Chuyện gì sẽ xảy ra nếu mình chọc chiếc bút chì này vào mũi nhỉ?"). Ông muốn chúng ta trở nên giống trẻ thơ hơn, như lúc còn chưa học môn đạo đức. Ông muốn chúng ta dễ bị ấn tượng hơn, tò mò hơn, ngây thơ hơn. Đây không phải là một triết lý sống làm rúng động thế giới. Nó khá khiêm tốn, nhưng, một lần nữa, ông luôn cố gắng tỏ ra khiêm tốn.



Bình luận