Tại sao cư dân mạng lại có niềm đam mê với việc bóc phốt?
- Minh Đào
- 1 ngày trước
- 30 phút đọc
Tác giả: Tác giả: Chris L. Minnick, M.D
Bài Gốc: On Blaming

VỀ VIỆC ĐỔ LỖI
TÓM TẮT
Giới thiệu
Tôi không dám chắc liệu xu hướng tìm ai đó để đổ lỗi mỗi khi mọi chuyện diễn ra không như kế hoạch có đang gia tăng so với những năm trước hay không. Tuy nhiên, với tần suất phủ sóng của truyền thông từ chính trị cho đến thể thao, tôi chắc chắn đang phải nghe việc đổ lỗi nhiều hơn là sự thấu hiểu, giải quyết và cải thiện. Làn sóng đổ lỗi này rõ ràng không phải là minh chứng cho thấy "các chức năng nhân cách trưởng thành" đang chiếm ưu thế trong xã hội. Vậy tại sao việc đổ lỗi lại phổ biến đến thế?
Đối với tôi, chủ đề này có tầm quan trọng đặc biệt trong cuộc sống nói chung và trong trị liệu tâm lý nói riêng. Bởi lẽ, một mặt, "đổ lỗi" và "phán xét đạo đức" có điểm chung là: chúng đều là chức năng thuộc về phần cốt lõi trẻ thơ (baby core) của nhân cách. Chúng bao gồm các quá trình phóng chiếu, sự ghét bỏ cảm giác nhỏ bé, bất lực hoặc phụ thuộc, sự không chấp nhận cảm giác tội lỗi, và thường là cả sự đố kỵ vô thức. Chúng cũng có một điểm chung nữa là KHÔNG PHỤC VỤ MỤC ĐÍCH HỮU ÍCH NÀO TRONG ĐỜI SỐNG TRƯỞNG THÀNH, và có thể HỦY HOẠI HẦU NHƯ MỌI MỐI QUAN HỆ.
Trong gia đình, hôn nhân và nơi làm việc, hành vi "đổ lỗi" và "phán xét đạo đức" người khác có xu hướng gây ra tác động "ăn mòn" nghiêm trọng đến tinh thần của các bên liên quan. Cả hai đều làm mất ổn định các mối quan hệ về lâu dài, thường dẫn đến sự rạn nứt trong gia đình, ly hôn trong hôn nhân, và ở mức cực đoan nhất là những vụ xả súng hay bạo lực bộc phát nơi công sở.
Tương tự như vậy, trong phòng trị liệu, bất kỳ nhà trị liệu nào có xu hướng vô thức "phán xét đạo đức" bệnh nhân – dù là tinh vi đến đâu – cũng sẽ gặp khó khăn trong việc giữ chân họ.
Vì cả hai chủ đề này chủ yếu là chức năng của phần nhân cách "trẻ thơ", chúng sẽ được soi chiếu rất tốt dưới các mô hình của Melanie Klein. Mô hình của Klein về "quá trình phóng chiếu", "vị thế phân liệt - hoang tưởng" (paranoid-schizoid position) và "vị thế trầm cảm" (depressive position), sự phân biệt giữa "cảm giác tội lỗi bị bách hại" (persecutory guilt) với "cảm giác tội lỗi trầm cảm" (depressive guilt), và "sự đố kỵ vô thức" đều là những điểm cốt lõi để tư duy về các vấn đề này.
Các Tiên đề
Tiên đề số 1: Một người càng để việc "đổ lỗi" trở thành chủ đề thống trị trong tâm trí về một vấn đề, sự kiện hoặc mối quan hệ cụ thể, thì điều đó càng cho thấy hoạt động tâm trí của họ đang bị thao túng một cách vô thức bởi các tầng bậc trẻ thơ trong nhân cách.
Tiên đề số 2: Việc một người "đổ lỗi" và "phán xét đạo đức" về một ai đó hoặc một tình huống nào đó chắc chắn sẽ kéo theo sự phóng chiếu vô thức những "phần bản ngã bị chối bỏ" hoặc "hình tượng cha mẹ nội tâm" từ chính phía người đang thực hiện hành vi đổ lỗi/phán xét đó.
Tiên đề số 3: Ở đâu có xu hướng "thích làm quan tòa phán xét" nổi lên như một nét tính cách chủ đạo, ở đó ta có thể ngầm hiểu rằng "sự đố kỵ vô thức" mãnh liệt đang rình rập và gây ra những rắc rối quen thuộc của nó.
Một Số Định Nghĩa Hữu Ích
PHÁN XÉT/PHÁN ĐOÁN (JUDGEMENT): Việc áp dụng "lập luận logic" vào một tình huống để hình thành nên một "ý kiến/quan điểm".
ĐẠO ĐỨC (MORALITY): Việc áp dụng giả định rằng một điều gì đó có thể được phân chia rạch ròi vào hai danh mục "đúng và sai". Nó có thể được áp dụng trên một dải quang phổ của "sự lý tưởng hóa". Dải quang phổ đó trải dài từ các mô tả ít lý tưởng hóa hơn như "có đạo đức và có nguyên tắc", cho đến những mức độ lý tưởng hóa cao hơn hẳn như "cao thượng, chính trực và đức hạnh".
Lưu ý: "Có đạo đức và có nguyên tắc" ở một mức độ hợp lý có thể được đánh giá thông qua "hành vi". Tuy nhiên, "cao thượng, chính trực và đức hạnh" lại mang quá nhiều tính "lý tưởng hóa thuần khiết về mặt động cơ" để có thể thực sự thấu tỏ ở một người khác; chúng đại diện cho những giả định có mối liên kết vô thức quay trở lại "sự lý tưởng hóa" thời thơ ấu.
TỰ ĐẶT MÌNH VÀO VỊ THẾ PHÁN XÉT ĐẠO ĐỨC (SITTING-IN-MORAL-JUDGMENT): Là hành vi gộp chung đạo đức và sự phán xét lại với mục đích đạt được cảm giác "bề trên, cao đạo giả tạo-sanctimonious superiority" đối với đối tượng bị phán xét. Nó dựa trên một giả định ngây thơ của trẻ con rằng mọi thứ chỉ có thể là "tốt hoàn toàn hoặc xấu hoàn toàn" (tức là đen hoặc trắng), và phủ nhận "sự phức tạp" tất yếu (tức là các sắc thái xám) mà việc tư duy và lập luận đúng đắn mang lại cho một tình huống.
ĐỔ LỖI (BLAMING): Một hoạt động mang tính cảm xúc, trong đó một người "phán xét đạo đức" người khác và xem người đó là "có tội" vì đã suy nghĩ, cảm nhận hoặc hành xử theo một cách "xấu xa" nào đó. Nó thường đi kèm với một trạng thái tâm lý cảm thấy mình là nạn nhân bị tổn thương và thấy mình thượng đẳng hơn kẻ gây lỗi.
• Ở tầng sâu hơn, đây thường là chức năng của việc "ngoại hiện hóa" (externalization) một thứ gì đó từ thế giới nội tâm vô thức của chính người đang phán xét hoặc đổ lỗi. Sự phẫn nộ chính đáng (righteous indignation) và sự thượng đẳng đạo đức càng tham gia vào nhiều, thì càng có khả năng các trạng thái tâm trí trẻ thơ "bị căm ghét" đã bị "tống khứ" (evacuated) vào tình huống đó.
• Không được đánh đồng điều này với "góp ý mang tính xây dựng" – thứ theo định nghĩa là có "động cơ tích cực". Góp ý xây dựng có nguy cơ giao thoa một phần với các hình thức phê bình độc hại, nhưng nó ít có khả năng chứa đựng sự phóng chiếu của các phần bản ngã "không mong muốn" nếu động cơ thực sự mang tính xây dựng cả trong vô thức lẫn ý thức.
SỰ BẤT MÃN/OÁN TRÁCH (GRIEVANCE): Một nguyên nhân gây ra khiếu nại, có thể là thật hoặc do tưởng tượng.
SỰ HẬN THÙ/MỐI THÙ (GRUDGE): Cảm giác oán hận hoặc ác cảm sâu sắc, tích tụ lâu ngày.
Tóm lại: "Đổ lỗi" đi kèm với một "hành động" rõ rệt hơn là phóng chiếu "trách nhiệm tồi tệ và tội lỗi" sang người khác; trong khi "phán xét đạo đức" mang thiên hướng một thái độ cảm xúc "thấy mình bề trên" so với người khác. Nói một cách tổng quát, đổ lỗi thường liên kết với "sự phóng chiếu cảm giác tội lỗi", còn phán xét đạo đức thường liên kết với "sự đố kỵ vô thức" theo một cách nào đó. Tuy vậy, trong cả hai tình huống, có quá nhiều khả năng xảy ra nên chúng ta không thể đưa ra các giả định chung chung nếu không khám phá chi tiết từng trường hợp.
Bất kỳ nhà trị liệu nào có xu hướng vô thức "phán xét đạo đức" bệnh nhân, dù là tinh vi đến đâu, cũng sẽ gặp khó khăn trong việc giữ chân họ. Trường hợp ngoại lệ duy nhất là với những bệnh nhân đang vô thức tái tạo lại chính tình huống đó từ thế giới nội tâm vô thức của chính họ. Trong những tình huống như vậy, tiến trình trị liệu có nguy cơ bị bóp méo vĩnh viễn và rơi vào bế tắc, biến thành một mối quan hệ bạo dâm - khổ dâm (sado-masochistic) tinh vi hoặc lộ liễu, nơi việc "phê bình tàn nhẫn" trở thành thứ ngôn ngữ giao tiếp chính.
Mặt khác, mọi nhà trị liệu sớm muộn gì cũng phải chịu đựng việc bị đổ lỗi bởi một số bệnh nhân. Điều này là tất yếu trong mọi ca điều trị mà hành vi "đổ lỗi" hoặc "phán xét" là một phần trong thế giới nội tâm vô thức của bệnh nhân. Sự "tất yếu" này đến từ hai lý do:
Đối với kiểu bệnh nhân đó, đây là một phần trong nhân sinh quan nền tảng, mang tính vô thức và nội tâm của họ về các mối quan hệ (tức là "luật chơi duy nhất mà họ biết").
Để "nhào nặn" và xử lý được thế giới nội tâm đó, nó bắt buộc phải được tái hiện lại trong mối quan hệ chuyển di (transference) với nhà trị liệu. Theo thuật ngữ của trường phái Klein, điều này được gọi là chấp nhận bị biến thành một "đối tượng xấu" (bad object).
Tổng Quan và Các Giả Định Nền Tảng
Trong cuộc sống, mọi thứ luôn có thể đi chệch hướng. Đôi khi do ngẫu nhiên, đôi khi do bỏ bê hoặc vô trách nhiệm, và đôi khi do ác ý. Nhưng có lẽ phổ biến nhất, đó là kết quả của việc thiếu "suy nghĩ", theo đúng nghĩa đen như: "Tôi đã không nghĩ là nó sẽ... bị hỏng, bị rơi, bị cháy, v.v." Khi có điều gì đó bất ổn xảy ra và người khác bị tổn thương, thất vọng, mất mát, v.v., thì sẽ có nỗi đau tâm lý xuất hiện. Bên "bị hại" phải chịu đựng theo một cách nào đó, và người tạo ra kết quả tiêu cực đó sẽ trải qua cảm giác "có trách nhiệm" và có thể là cả "cảm giác tội lỗi".
Kết quả không mong muốn là thứ mà tất cả chúng ta đều từng tạo ra hoặc phải gánh chịu vào lúc này hay lúc khác. Có những câu nói rất đáng lưu tâm áp dụng cho các tình huống như vậy:
Áp dụng cho các "kết quả tồi tệ", câu yêu thích của tôi là: "Chuyện xui xẻo luôn có thể xảy ra" (Shit happens).
Áp dụng cho "cảm giác tội lỗi", tôi luôn cố gắng tự nhắc nhở mình: "Nếu không nhờ may mắn, bản thân mình cũng đã rơi vào hoàn cảnh đó rồi."
Áp dụng cho sự "phán xét đạo đức", tôi nhớ đến câu nói trong Kinh Thánh: "Ai trong các ngươi sạch tội thì hãy ném viên đá đầu tiên."
Lưu ý: Cả ba câu nói trên đều hàm ý rằng chúng ta nên "suy nghĩ" về toàn bộ tình huống, áp dụng "lý trí" vào đó, và đừng vội vàng đưa ra một "phán xét" mang tính kết luận về việc nó đã xảy ra như thế nào và tại sao.
Việc áp dụng tư duy, lập luận và phán đoán có thể dẫn đến kết luận rằng người gây lỗi (nếu có) cần phải có những hành động "sửa chữa" (repair) đối với người "gánh chịu kết quả không mong muốn". Thậm chí có thể cần làm điều gì đó để "giáo dục hoặc sửa đổi hành vi trong tương lai" của người gây lỗi. Nếu suy xét kỹ lưỡng, điều cốt lõi cần nhận ra là: tất cả những điều này phải là chức năng của "phần trưởng thành" trong nhân cách đứng ra kiểm soát "các phần trẻ thơ của bản ngã", ở cả người phán xét lẫn người bị phán xét.
PHÂN BIỆT TRẠNG THÁI TÂM TRÍ TRẺ THƠ VÀ TRẠNG THÁI TÂM TRÍ TRƯỞNG THÀNH
Các hành vi của con người được thể hiện qua các định nghĩa ở phần trước tồn tại dưới dạng một dải quang phổ liên tục, hoặc những vòng tròn chồng chéo lên nhau, và do đó, khi phân loại chúng, ta phải chấp nhận ít nhất một mức độ "định tính mang tính tương đối".
Để làm nổi bật các khác biệt, việc phân biệt giữa "chất lượng tư duy cấp độ trẻ thơ" và "chất lượng tư duy cùng lập luận cấp độ trưởng thành" là rất hữu ích. Sự phân biệt này là cần thiết để các định nghĩa hiện lên một cách rõ ràng và hữu dụng nhất.
Ví dụ, trẻ sơ sinh hoàn toàn không có nhận thức về "nguyên nhân và kết quả" ngoại trừ những gì gần gũi về mặt vật lý hoặc thời gian. Thêm vào đó, tư duy "cụ thể hóa" (concreteness) và "sự nghèo nàn về trí tưởng tượng-paucity of imagination" khiến chúng hoàn toàn bị chi phối bởi kiểu lập luận đơn giản theo kiểu "ở đâu có khói, ở đó có lửa". Nói cách khác, mọi thứ đều là "đen hoặc trắng", "tốt hoàn toàn hoặc xấu hoàn toàn", và một cảm giác "chắc chắn" có thể được thiết lập bất cứ khi nào chúng muốn.
Kiểu tư duy cứng nhắc, "lười suy nghĩ" này đôi khi vẫn tồn tại ở tất cả con người suốt cuộc đời, chính bởi vì "cốt lõi trẻ thơ" của nhân cách luôn hiện hữu trong suốt vòng đời của mọi cá nhân.
Nó có xu hướng nổi trội nhất ở những người từng trải qua nỗi đau tâm lý nghiêm trọng từ thuở lọt lòng. Đó là vì những nỗi đau thời thơ ấu buộc đứa trẻ phải sử dụng bất kỳ biện pháp ứng phó nào có sẵn, và những biện pháp đó luôn là các biến thể của việc "phủ nhận" hoặc "tống khứ" những trạng thái tâm trí trẻ thơ không mong muốn đó ra ngoài. (Nói cách khác, sử dụng mô hình của Klein, các biện pháp này là chức năng của cơ chế "chia tách - và - lý tưởng hóa" [splitting-and-idealization] và "chia tách - và - nhận diện phóng chiếu" [splitting-and-projective identification]).
Việc tiếp tục sử dụng các cơ chế phóng chiếu này trong giai đoạn sau của cuộc đời thường được thúc đẩy do đứa trẻ lớn lên xung quanh những bậc cha mẹ và người lớn cũng có tư duy "cụ thể hóa" và hay sử dụng cùng kiểu phán xét "trắng đen rạch ròi" như vậy.
Ngược lại, một tư duy "cấp độ trưởng thành" được nuôi dưỡng nhờ những người lớn chín chắn và không quá rập khuôn xung quanh đứa trẻ đang phát triển. Điều này đồng nghĩa với việc họ có xu hướng "thấu đáo" hơn, "chậm phán xét" cho đến khi có đủ các dữ kiện, có khả năng "bao dung" cũng như "tha thứ", và có thể "chịu đựng nỗi đau tâm lý và sự mơ hồ", v.v. Đứa trẻ học được những bài học này từ cách tư duy và hành xử của cha mẹ, và cuối cùng có thể đồng nhất hóa với các chức năng "trưởng thành" đó.
Vì cả hai chủ đề này ("đổ lỗi" và "phán xét đạo đức") chủ yếu là chức năng của "phần trẻ thơ" trong nhân cách, việc hiểu sâu sắc hơn về cội nguồn của chúng sẽ đặc biệt hiệu quả khi áp dụng một số mô hình do Melanie Klein phát triển. Các mô hình của bà về "quá trình phóng chiếu", "vị thế phân liệt - hoang tưởng và vị thế trầm cảm", "cảm giác tội lỗi bị bách hại" và "cảm giác tội lỗi trầm cảm", và "sự đố kỵ vô thức" đóng vai trò đặc biệt trung tâm khi tư duy về các vấn đề này.
NỀN TẢNG CỦA VIỆC ĐỔ LỖI TRONG THỜI THƠ ẤU
Tôi sẽ bắt đầu với giả định rằng trẻ sơ sinh có một bài toán căn bản: làm thế nào để "thiết lập trật tự" cho cuộc sống và thế giới nội tâm của chúng. Để đạt được trật tự này, nhiệm vụ ban đầu của chúng là nhận biết điều gì mang lại cảm giác dễ chịu/thỏa mãn để tìm cách giữ lấy, đồng thời nhận biết điều gì gây ra đau đớn – tức là cái "xấu" – để né tránh hoặc tống khứ nó đi.
Quá trình này có thể được hiểu là bao gồm cơ chế "chia tách - và - lý tưởng hóa" để tách biệt cái "tốt" khỏi cái "xấu". Sự phân chia đó tất yếu được theo sau bởi một quá trình "chia tách - và - đồng hóa phóng chiếu", qua đó thành phần "xấu" bị "trục xuất" ra khỏi bản thân để đẩy vào thế giới bên ngoài. "Vật chứa" (người hoặc vật vô tri) bị nhồi nhét cái "thứ xấu xa" này sẽ được đứa trẻ tưởng tượng là đang chứa đựng nó, và ít nhất là bị tác động, nếu không muốn nói là bị "chiếm hữu" bởi nó.
Nếu vật chứa này tình cờ là người mẹ, và người mẹ có khả năng chịu đựng được nó cũng như phản hồi một cách mang tính xây dựng, thì hàng trăm lần mỗi ngày quá trình này diễn ra sẽ dẫn đến một cảm giác rằng "thứ xấu xa" này không quá nguy hiểm hay độc hại.
Ngược lại, nếu "thứ xấu xa" này được cảm thấy là thực sự nguy hiểm cho cả bản thân lẫn đối tượng (vì bất kỳ sự kết hợp lý do nào), thì sẽ tồn tại một nguy cơ suốt đời về nhu cầu phải giữ cho thứ đó thật "tách biệt" và xem như "không phải tôi". Sau này trong cuộc sống, điều này dẫn đến một xu hướng mãn tính là cần phải tìm các "vật chứa" cho nó – hoặc như một cách tiếp cận cuộc sống "mãn tính, liên tục", hoặc như một vấn đề "cấp tính, mang tính tình huống" khi có điều gì đó kích ngòi mối đe dọa phải tiếp xúc với một phần bản ngã (hoặc đối tượng) bị chối bỏ vốn bị xem là "xấu".
Điều quan trọng cần nhận ra là: bất kể thứ gì đang được phóng chiếu, nó được phóng chiếu bởi vì nó gắn liền với một "cảm xúc" cụ thể nào đó vốn là nguồn cơn gây ra nỗi đau. Do đó, để hiểu được nền móng của một hoàn cảnh mà một người đang "phán xét đạo đức" người khác hoặc một tình huống khác, thông thường sẽ rất hữu ích nếu nhận diện được "cảm xúc đau đớn" nào đang diễn ra bên trong chính người đang phán xét đó.
Nhưng cũng cần hiểu rằng những cảm xúc đau đớn này "không tự nhiên tồn tại trong chân không". Chúng thường được nhúng vào bối cảnh của một "mối quan hệ nội tâm hóa" đang diễn ra giữa một "phần của bản ngã" và một "phiên bản của cha hoặc mẹ". Vì thực tế này, "cảm xúc" bị trục xuất thường bị tống khứ cùng với "phần bản ngã" đang trải qua cảm xúc đó, hoặc cùng với "phiên bản cha/mẹ" bị xem là nguyên nhân khiến phần bản ngã phải chịu đựng cảm xúc đó.
Khi đứa trẻ chứa đựng quá nhiều nỗi đau vì bất kỳ lý do gì, hoặc đã "quay lưng" lại với các hình tượng cha mẹ, thì đứa trẻ đó sẽ không có các hình tượng người lớn "tốt" để đồng nhất hóa và nội tâm hóa. Nếu các hình tượng người lớn chủ yếu được nhìn nhận như nguồn cơn gây ra nỗi đau tâm lý, đứa trẻ sẽ có nguy cơ biến cha mẹ thành kẻ "xấu xa hoàn toàn". Việc kết quả là đứa trẻ "đổ lỗi" nỗi đau đó lên cha mẹ có khả năng dẫn đến một "mối thâm thù và/hoặc sự oán trách mãn tính".
Người ta có thể thấy điều này phổ biến nhất là kết quả của việc sinh các anh chị em quá dày nhau. Điều này dẫn đến một cảm giác phẫn uất rằng "nỗi đau" của việc sinh dày đó, và việc không bao giờ nhận được "phần chia công bằng" của mình, là những "hành vi cố ý" từ phía người mẹ và/hoặc người cha nhằm tước đoạt của đứa trẻ "phần tốt đẹp xứng đáng". Ảo tưởng (phantasy) đó thường đi kèm với việc đứa trẻ nghĩ mình bị thay thế bởi em bé mới sinh vì mình "hư" ở điểm nào đó và "không được yêu thương". Những ảo tưởng như vậy dẫn đến những sự oán trách có thể kéo dài suốt đời, hiển hiện trong mọi cuộc tụ họp gia đình, ngay cả khi đã về già.
Trước khi đưa ra một vài ví dụ về các phóng chiếu liên quan đến việc đổ lỗi, tôi cần đưa ra một điểm cuối cùng về thời thơ ấu trong mối tương quan với việc đổ lỗi. Đó là, giống như hầu hết những thứ "gặp rắc rối" ở con người, người ta phải đưa "SỰ ĐỐ KỴ VÔ THỨC" vào phương trình nếu muốn hiểu được toàn bộ các hoạt động đổ lỗi. Lý do là vì việc đổ lỗi gắn liền với một cảm giác "oán trách" rất lớn, thường có các thành phần vô thức mạnh mẽ đối với một số cá nhân.
Bất cứ khi nào ta thấy "sự oán trách" xuất hiện như một xu hướng lâu dài ở một cá nhân, ta phải cân nhắc rằng sự oán trách đó bắt nguồn từ cảm giác tức giận của một đứa trẻ về việc bị sinh ra làm một "đứa bé bất lực" thay vì bước ra đời đã là một "người mẹ" có khả năng "có mọi thứ, biết mọi thứ, và làm được mọi thứ". Nói cách khác, đứa trẻ ước mình được giống như người mẹ trong tưởng tượng, thay vì phải là một đứa bé bất lực, phụ thuộc.
Như tôi thường diễn đạt, đứa trẻ khi sinh ra như thể đang nói rằng: "Tại sao mẹ lại được làm người mẹ lớn lao, xịn sò, có mọi thứ, biết mọi thứ và làm được mọi thứ, trong khi con lại là một đứa bé bất lực, bẩn thỉu? Con ghét điều đó! Tại sao mẹ không làm đứa bé đi và để con làm người mẹ lớn lao, xịn sò xem nào. Để xem mẹ có thích không nhé."
Một Số Trạng Thái Trẻ Thơ Bị Ghét Bỏ
1 – Một số "ĐẶC TÍNH GẮN LIỀN VỚI VIỆC LÀM MỘT ĐỨA TRẺ" có thể bao gồm: sự nhỏ bé; sự bất lực; sự phụ thuộc hoàn toàn; sự không biết; sự bất lực hoàn toàn về mặt thể chất, sự kém hiệu quả hoặc kém cỏi về mặt hành vi; v.v.
Đây là những điều tiềm ẩn nguy cơ gây đau khổ cho trẻ sơ sinh, đặc biệt là khi những người chăm sóc người lớn không đủ năng lực để xoa dịu những nỗi đau này, và do đó để mặc đứa trẻ với một mức độ đau khổ lớn hơn mức tất yếu phải có ở thời thơ ấu. Khi không được xoa dịu thỏa đáng lúc nhỏ, các đặc tính này trở thành "đối tượng của sự căm ghét", không được chấp nhận, và chỉ được cảm thấy là phù hợp để "tống khứ" ra ngoài.
Trải nghiệm kiểu này thời thơ ấu có thể dẫn đến một đứa trẻ không thể chờ đợi để được "lớn lên" và tự làm mọi thứ cho mình. Trong tương lai, nó sẽ né tránh "sự phụ thuộc" bằng mọi giá. Nó sẽ muốn tự cầm bình sữa, tự ăn và hoàn toàn độc lập ở độ tuổi sớm nhất có thể.
Sau này trong cuộc sống, bất kỳ lời gợi nhắc nào về những "trạng thái tâm trí đáng ghét này - hated states of mind" này đều bị né tránh hoặc tấn công, thường là với cường độ cực kỳ mãnh liệt. Người đó sẽ có nguy cơ trở thành một kẻ "hách dịch, ngạo mạn, biết tuốt" khi lớn lên, như một biểu hiện của nỗi sợ phải quay trở lại "các trạng thái trẻ thơ đáng ghét này". Những cá nhân như vậy thường khiến những người xung quanh cảm thấy mình như một "kẻ ngốc nghếch" hoặc "đứa trẻ kém cỏi".
Họ cũng sẽ có một xu hướng rõ rệt là thích nghĩ rằng có thể đưa ra những "phán xét tuyệt đối" về đúng hay sai, tốt hay xấu, v.v. Những phán xét này sẽ luôn có nguy cơ bị nhiễm độc bởi "sự căm ghét các trạng thái trẻ thơ" và nhu cầu cảm thấy "thượng đẳng về mặt đạo đức" so với các trạng thái đó – thứ mà sau này sẽ được nhìn thấy là đang tồn tại ở người khác chứ không phải ở chính họ.
2 – NỖI SỢ "SỰ TÁCH BIỆT" (SEPARATENESS): Nếu sự chia tách là nguồn cơn gây ra nỗi đau lớn thời thơ ấu (như một hệ quả từ sự phụ thuộc hoàn toàn của đứa trẻ vào những người chăm sóc xung quanh), thì bất cứ điều gì có thể dẫn đến sự chia tách (hoặc mức cực đoan của nó là sự bỏ rơi hoàn toàn) sẽ bị né tránh như tránh tà. Phản ứng như vậy đối với sự tách biệt thường dẫn đến một nhu cầu mạnh mẽ là cảm thấy "tự lực một cách toàn năng" (omnipotently self-sufficient), hoặc ở cực đối lập, là nhu cầu luôn luôn phải "hòa làm một" với bất kỳ ai mà họ đang liên đới.
Cách tiếp cận thứ hai có thể mở rộng thành việc không thể "tự suy nghĩ cho mình", vì việc có một "tâm trí của riêng mình - mind of one’s own" được cảm thấy là quá nguy hiểm; nó mang lại rủi ro cảm thấy bị tách biệt khi không có sự đồng thuận với môi trường xung quanh. Nỗi lo âu như vậy được minh họa qua câu chuyện ngụ ngôn "Bộ quần áo mới của Hoàng đế", nơi các cận thần của Hoàng đế sợ bị xem là "ngốc nghếch" hoặc "không hợp với công việc" nếu họ có "chính kiến riêng".
Bài học rút ra liên quan đến việc "đổ lỗi" và "phán xét đạo đức" là sự chia tách và sự tách biệt là những thứ cần phải tránh, và người đó sẽ chuyển sang thế tấn công khi bị đe dọa.
Đối với người đã "quay lưng" lại với các đối tượng tốt của mình như một hệ quả của "sự không chịu nổi việc phải cần đến hình tượng cha mẹ", bất kỳ cảm giác dịu dàng, nhu cầu hoặc sự phụ thuộc nào cũng sẽ khiến người cần sự "tự lực" đó khinh miệt những cảm xúc ấy, chế giễu bất kỳ ai thể hiện chúng, và tấn công bất kỳ ai cố gắng tạo ra chúng ở cá nhân "né tránh" đó. Người đó có khả năng phóng chiếu sự nhu cầu, bất lực của trẻ con, v.v. và "chế giễu" người nhận phóng chiếu là một "đứa trẻ to xác", "đồ ẻo lả" hoặc "kẻ yếu đuối", v.v.
Người muốn được "hòa làm một" với một cá nhân hoặc một nhóm luôn có nguy cơ tấn công bất kỳ ý tưởng mới hoặc nhóm đối thủ nào "khác biệt". Người ta thấy điều này liên tục trong tôn giáo và chính trị ở quy mô lớn, và nơi làm việc hoặc gia đình ở quy mô nhỏ. Nỗi sợ vô thức bị bỏ rơi hoặc cô lập thường dẫn đến thái độ cực kỳ "phán xét" đối với những ai "khác biệt" trong niềm tin, thái độ hoặc hành vi của họ.
3. SỰ ĐỐ KỴ VÔ THỨC: Khi kết hợp với điều số 1 hoặc số 2, điều này tạo nên hình thức độc hại nhất của sự "bề trên phán xét", và khiến bất kỳ ai ở trong trạng thái tâm trí đó đều có nguy cơ trở thành một Adolf Hitler thu nhỏ. Nó dẫn đến sự cao đạo, tính độc ác, tàn nhẫn và đạo đức giả ở mức độ cao nhất.
"Sự căm ghét đố kỵ đối với người khác" sinh ra một thôi thúc vô thức muốn "hủy hoại" những yếu tố đáng đố kỵ ở đối phương. Ví dụ: sự căm ghét đố kỵ của người Hutu đối với sự giàu có của người Tutsi ở Rwanda đã dẫn đến nạn diệt chủng; Saddam Hussein đã phá hủy các mỏ dầu của Kuwait khi rút quân để tước đoạt nguồn tài sản đáng đố kỵ của họ; Hitler phá hủy nghệ thuật, sách báo và văn hóa trên đường hành quân khắp châu Âu; Lucifer từ chối làm phó tướng trên Thiên đàng, v.v. Tất cả đều là những biểu hiện của "sự căm ghét đố kỵ" đối với sự tốt đẹp, thành công và hạnh phúc của người khác.
Ở quy mô nhỏ hơn nhiều, tất cả chúng ta đều có khả năng cảm thấy nhẹ nhõm khi ai đó "thất bại trong việc đạt được điều gì đó" mà nếu họ đạt được, chúng ta sẽ cảm thấy đố kỵ. Nếu việc đó được đảm bảo ẩn danh, nhiều người trong chúng ta sẽ bỏ phiếu quyết định tước đi thành công đó của họ. Đây đơn giản là phần "con người" mặc dù nó không hề đẹp đẽ. Hầu hết chúng ta không thừa nhận với chính mình rằng mình thường cảm thấy như vậy.
Một người bạn thân của tôi, người thường xuyên cùng tôi tham gia một hoạt động mà anh ấy chơi giỏi hơn tôi, đã nhận xét trong một cuộc thảo luận rằng anh ấy không nghĩ mình "biết đố kỵ", và anh ấy "thực lòng yêu thích thành công của người khác" trong hoạt động đó. Gần đây, chúng tôi có một ngày mà tôi làm gì cũng đúng còn anh ấy làm gì cũng hỏng trong hoạt động đó. Gần cuối buổi, anh ấy bước đến gần tôi, và với một cái nháy mắt đau đớn nhưng bao dung, anh ấy nói với tôi: "Tôi đã sai về việc mình không biết đố kỵ, bởi vì ngay lúc này tôi đang ghét cay ghét đắng cậu đây!"
Hầu hết chúng ta cảm thấy an toàn trong kiểu "ghét cay ghét đắng" ai đó từ một khoảng cách an toàn, và thể hiện nó dưới hình thức "phán xét bề trên" đối với ngôi sao điện ảnh, nhân vật chính trị, vận động viên, đội thể thao, quốc gia đó, v.v. khi họ vấp ngã hoặc thất bại. Thường có một "sự đảo ngược đố kỵ" (envious reversal) ở gốc rễ của các trạng thái tâm trí đó, theo đó một khía cạnh hoặc một phần trẻ thơ "bị căm ghét" của chính chúng ta đang được phóng chiếu vào người khác vừa bị ngã ngựa.
4 – SỰ BẤT DUNG NẠP CẢM GIÁC TỘI LỖI (INTOLERANCE OF GUILT): Đây là một danh mục rất quan trọng vì "sự đố kỵ và cảm giác tội lỗi mãnh liệt" nằm trong số những cảm xúc "không thể chịu đựng nổi" nhất của con người, và có xu hướng lập tức bị phóng chiếu vào thế giới bên ngoài.
Rất có thể những cảm giác tội lỗi rất nguyên thủy – ban đầu liên quan đến người mẹ và bất kỳ ai tiếp xúc với mẹ – chính là gốc rễ của một lượng lớn hành vi phán xét và đổ lỗi. Thái độ nguyên thủy này có khả năng liên kết với sự đố kỵ và ghen tị đối với những đứa con khác của mẹ (đã sinh ra hoặc chưa sinh) và người cha, cũng như đố kỵ trực tiếp với mẹ, như đã đề cập ở trên, vì mẹ là "nguồn gốc" của mọi điều đáng khao khát trong cuộc sống dưới mắt đứa trẻ.
Vấn đề với những trạng thái tội lỗi nguyên thủy này (về bản chất là do các cuộc tấn công thù địch vào mẹ, cơ thể của mẹ và các mối quan hệ khác của mẹ xuất phát từ sự đố kỵ và ghen tị) là người ta sẽ phải thực sự quan sát người đó trong một bối cảnh phân tâm học suốt một thời gian dài, bao gồm cả việc xem xét các giấc mơ và các mối quan hệ đối tượng hiện tại của họ, mới có thể cảm nhận được chiều sâu của "cảm giác tội lỗi vô thức" này. Sự khó khăn trong việc nhìn ra những nền móng sớm này là do chúng nằm "quá sâu trong vô thức" ở hầu hết các cá nhân, ngay cả khi chúng có thể bao trùm lên cách tiếp cận cuộc sống của cá nhân đó.
Có lẽ điều tốt nhất chúng ta có thể làm là tìm kiếm các điểm tương đồng hợp lý trong thái độ và hành vi có ý thức của người đó, như được mô tả trong phần tiếp theo dưới đây.
CÁC DẤU HIỆU CHO THẤY TRẠNG THÁI TÂM TRÍ TRẺ THƠ ĐANG DẪN DẮT VIỆC PHÁN XÉT VÀ ĐỔ LỖI
Dấu hiệu đầu tiên được thấy dưới dạng việc mọi người đưa ra những "PHÁN XÉT CHỚP NHOÁNG" (SNAP JUDGMENTS) về một ai đó. Điều này luôn được thực hiện mà không thèm xem xét các chi tiết độc nhất của tình huống – điều mà "phần trưởng thành của bản ngã" sẽ có xu hướng làm nhiều hơn.
Dấu hiệu thứ hai là việc sử dụng ngôn từ mang tính "ĐƯỢC ĂN CẢ NGÃ VỀ KHÔNG, TRẮNG ĐEN RẠCH RÒI" (ALL OR NONE, BLACK OR WHITE). Một trong những ví dụ phổ biến nhất là việc sử dụng từ "ác độc/tội lỗi" (evil). Có những hành vi là không thể bào chữa, và xu hướng thiên về những hành vi như vậy của một số cá nhân đòi hỏi họ phải bị giam giữ suốt đời để bảo vệ người khác.
Nhưng mọi người đều bắt đầu cuộc sống từ một đứa trẻ và "không có đứa trẻ nào là xấu xa hoàn toàn"! Mọi bệnh nhân tôi từng gặp, bất kể hành vi hay nét tính cách của họ có đáng ghét hay mang tính hủy hoại đến đâu, đều trở thành một "nhân vật đáng cảm thông" mà tôi có thể đồng cảm, khi tôi học được cách nhìn và hiểu thế giới họ đang sống qua lăng kính và góc nhìn của chính họ. Tôi chưa từng thấy một người nào hoàn toàn không có điểm gì tốt mà lại "xấu xa hoàn toàn" như từ "ác độc" ám chỉ.
SỰ "KHOÁI TRÁ", "KỊCH LIỆT" hoặc "CAO ĐẠO" khi thực hiện hành vi "phán xét" và "đổ lỗi" luôn là một chỉ dấu cho thấy các trạng thái tâm trí trẻ thơ đã xâm nhập, hoặc đang thống trị góc nhìn của người phán xét hay đổ lỗi. Điều này thể hiện rất rõ ràng khi một nhân vật công chúng đả kích điều gì đó với sự bất bình ghê gớm, để rồi sau đó chính họ bị phát hiện lại là một "tay chơi khét tiếng" của chính thứ mà họ đã tấn công kịch liệt trước đó.
Gợi ý cuối cùng về các trạng thái tâm trí sơ sinh mà tôi muốn nhấn mạnh trong bài luận này là hoạt động "BỚI LÔNG TÌM VẾT ĐỂ BÔI ĐEN TOÀN BỘ" (LOOKING FOR SMALL DETAILS TO POISON THE WELL). Đây là một "trạng thái tâm trí đậm chất trẻ con" vốn thường bị bỏ qua bởi những kẻ thích phán xét và đổ lỗi; nó gắn liền với một cảm giác rằng nếu một thứ gì đó không "tinh khiết trong sự tốt đẹp của nó", thì nó có thể bị đối xử như thể "xấu xa hoàn toàn".
Trẻ nhỏ thường sẽ từ chối ăn một chiếc bánh quy nếu chiếc bánh đó có một vết khuyết hoặc vết nứt nhỏ. Khi nhìn vào bất kỳ chủ đề phức tạp nào như chăm sóc sức khỏe, nhập cư, phá thai, nóng lên toàn cầu, v.v., việc nhìn thấy toàn bộ bức tranh lớn là rất khó khăn trừ khi bạn là một chuyên gia, nhưng lại rất dễ dàng để tìm ra "lỗi ở một chi tiết cụ thể nào đó" trong bức tranh ấy.
Với bất kỳ vấn đề nào trong số này, một "trạng thái tâm trí trưởng thành" sẽ cố gắng nhìn nhận "toàn cục bức tranh" với con mắt hướng về điều gì là "lợi ích lớn hơn cho số đông mọi người". Các phần trẻ thơ của bản ngã không có khả năng không bị thao túng bởi các "nhu cầu cảm xúc" và "lợi ích tự thân trong tưởng tượng" của chính chúng. Ngay cả khi chúng có thể nhìn thấy bức tranh lớn, khả năng chịu đựng sự thất vọng và hy sinh của chúng là quá nhỏ, và các "thùy trán" trong não của chúng – nơi các "đánh giá phức tạp hơn về hành vi đạo đức và luân lý" sẽ được thực hiện trong tương lai – hiện tại vẫn còn khá kém phát triển.
Thật bi kịch khi có quá nhiều người trong chúng ta không bao giờ phát triển các chức năng này, hoặc chọn cách ngó lơ chúng khi đã là người lớn, và trên thực tế không bao giờ đạt được một "sự trưởng thành đúng nghĩa" được dẫn dắt bởi các trạng thái tâm trí và chức năng trưởng thành.
TÓM TẮT VÀ KẾT LUẬN
1 – Đổ lỗi và phán xét đạo đức người khác luôn là chức năng của "các trạng thái tâm trí trẻ thơ". Nó hầu như luôn liên kết với việc phóng chiếu các trạng thái tâm trí trẻ thơ không mong muốn hoặc thậm chí bị căm ghét từ phía người phán xét/đổ lỗi vào đối tượng của sự phán xét và đổ lỗi đó.
Những trạng thái tâm trí trẻ thơ đó thường bao gồm: 1. Các "đặc tính không mong muốn" vốn dĩ gắn liền với việc làm một đứa trẻ (như sự nhỏ bé, bất lực, nhu cầu và sự phụ thuộc) 2. Hoặc các cảm xúc cụ thể là tội lỗi và đố kỵ.
"Cảm giác tội lỗi" thường là sản phẩm của các trạng thái tâm trí thù địch từ rất sớm đối với những người mà đứa trẻ phải chia sẻ mẹ cùng.
Để bảo toàn mối quan hệ tốt đẹp của mình với người mẹ yêu dấu, các yếu tố thù địch bị "chia tách" vào thế giới bên ngoài và được xem là "không phải một phần của bản thân".
"Sự đố kỵ" thường có gốc rễ từ thái độ coi người mẹ là nguồn gốc của mọi thứ mà đứa trẻ cần nhưng không thể tự cung cấp cho mình. Nó cũng thường bị chia tách, nhưng dẫn đến các cuộc tấn công đố kỵ vào những người khác được cảm thấy là xứng đáng nhận nó, từ đó dịch chuyển cuộc tấn công khỏi đối tượng ban đầu của nó, thường là người mẹ.
2 – Bằng chứng cho thấy việc "đổ lỗi" và "phán xét đạo đức" là chức năng của các trạng thái tâm trí trẻ thơ thường được thấy ở việc "vội vàng phán xét", biến đối tượng của sự phán xét thành "xấu xa hoàn toàn", cảm thấy "thượng đẳng" một cách gay gắt hoặc thậm chí "hả hê" trước sự sa ngã của người khác, và tìm kiếm "những mẩu bằng chứng nhỏ nhặt" có thể dùng để bôi bẩn toàn bộ tình huống hoặc con người đó.
3 – Tất cả các đặc tính và hành vi trên của tư duy sơ sinh có thể được tương phản với "các trạng thái tâm trí trưởng thành" và "chất lượng tư duy". Một cách tiếp cận trưởng thành để đánh giá một tình huống thừa nhận rằng đồng xu nào cũng có hai mặt và cuộc sống hiếm khi là một chiều hay chỉ có trắng và đen. Điều này khiến cách tiếp cận trưởng thành chuyển động chậm rãi và thận trọng hơn để đi đến kết luận cuối cùng, công nhận các sắc thái xám, rằng không có ai là xấu xa hoàn toàn, và hiếm có tình huống nào lại không có cả các yếu tố tích cực lẫn tiêu cực đan xen. Bản ngã trưởng thành có thể thấy được giá trị của những ý tưởng như: "Mọi thứ trong cuộc sống đều là SỰ ĐÁNH ĐỔI", và "Đối với mỗi vấn đề, luôn có một giải pháp đơn giản, trực diện, và SAI."
4 – Khi một người muốn phân xử bản chất đạo đức hay luân lý của một tình huống trong cuộc sống hoặc một con người, việc đánh giá "động cơ" liên quan vào thời điểm đó trở nên quan trọng. "Chuyện xui xẻo luôn có thể xảy ra" như câu nói đã đưa ra, và một số thứ chỉ là một trò đùa không may của số phận, chứ không phải "lỗi" của người thực hiện hoạt động vốn đã không "diễn ra như mong muốn hoặc kế hoạch".
5 – "Đổ lỗi" và "phán xét đạo đức" là bản tính tự nhiên của con người, bởi vì tất cả chúng ta đều từng là những đứa trẻ. Nhưng chúng không phục vụ mục đích hữu ích nào nếu được thực hiện bởi "các phần trẻ thơ của bản ngã" một khi người ta đã "trưởng thành".
Trong hôn nhân và gia đình: cặp đôi – với tư cách là bạn đời và là cha mẹ – cần phải có khả năng phân biệt "các trạng thái tâm trí trưởng thành" với "các trạng thái tâm trí trẻ thơ", và không cho phép các trạng thái trẻ thơ thống trị. Việc "đổ lỗi" và "phán xét đạo đức" bạn đời của mình, hoặc con cái của mình, là một tấm vé một chiều dẫn đến ly hôn hoặc bất hạnh, hoặc tệ hơn nữa là hủy hoại những đứa trẻ.
Ở quy mô lớn hơn nhiều: hàm ý rõ ràng là những thành viên "chín chắn nhất" trong xã hội nên là những người đưa ra các phán xét như vậy về "các vấn đề đạo đức và luân lý". "Các trạng thái tâm trí trẻ thơ" vốn dẫn đến "sự phóng chiếu các phần bản ngã bị căm ghét hoặc cảm giác tội lỗi" không bao giờ được phép thống trị diễn đàn thảo luận công chúng.
Tương tự như vậy: "sự tham lam và đố kỵ của trẻ con" sẽ luôn "làm hoen ố động cơ" của những người nắm quyền lực và đưa ra các phân xử như vậy, nếu lợi ích cá nhân được phép thống trị quá mức các chính sách và quy trình quản trị. Xã hội cần phải thừa nhận và ghi nhớ điều này nếu muốn tồn tại thêm một thiên niên kỷ nữa.
LƯU Ý DÀNH CHO CÁC NHÀ TRỊ LIỆU
1 – Nhiệm vụ làm trị liệu đòi hỏi nhà trị liệu phải đưa ra rất nhiều "phân xử" (adjudications). Tôi nên giải quyết một yếu tố có ý thức hay vô thức tại thời điểm này? Tôi nên lắng nghe lâu hơn trước khi lên tiếng? Tôi nên mổ xẻ vấn đề này trong giấc mơ hay nên chờ đợi thêm các liên tưởng tự phát tiếp theo? Tôi nên nhập vai vào cái vai diễn mà mình đang bị đặt vào hay nên lập tức bắt đầu diễn dịch các phóng chiếu?
Khá thường xuyên, người ta phải "đưa ra một quyết định" và quan sát xem nó diễn tiến ra sao sau đó để xem liệu quyết định đó có vẻ hiệu quả hay không.
Tuy nhiên, có một kiểu phán xét thường cần được đưa ra vốn rất mật thiết với bài nói chuyện này, đó là việc quyết định xem điều gì đó có phải là "có vấn đề, mang tính hủy hoại, hoặc điên rồ" hay không. Thỉnh thoảng người ta bắt gặp một bệnh nhân khăng khăng rằng hành vi hoặc suy nghĩ của họ không thuộc ba điều trên trong khi bạn hoàn toàn tin tưởng vào điều ngược lại. Những bệnh nhân như vậy đôi khi sẽ khăng khăng rằng bạn đang "phán xét đạo đức" họ.
2 – Lý do tại sao việc tất cả các nhà trị liệu phải từng trải qua quá trình trị liệu của chính họ là để "hiệu chuẩn công cụ của họ" (calibrate their instrument). Quá trình trị liệu của họ càng kéo dài và càng có chiều sâu thì càng tốt. Nếu không, không tài nào biết được liệu bệnh nhân có ít nhất một phần đúng khi cho rằng bạn đang là một "kẻ rao giảng đạo đức" vì một lý do vô thức nào đó, hoặc đang phóng chiếu "vấn đề" của chính bạn vào họ hay không. Trừ khi bạn biết rất nhiều về thế giới nội tâm vô thức của chính mình.
Vấn đề ở đây là có những nhà trị liệu thực sự có một xu hướng mang tính "nét tính cách" (characterological) là "phán xét đạo đức" trong cuộc sống, và nó sẽ lan sang cả phòng tham vấn của họ. Nó có thể vô cùng tinh vi, hoặc nó có thể lộ liễu đến mức gây ra rắc rối.
Trong trường hợp đầu tiên, một số bệnh nhân nhất định – thường là với các mối quan hệ nội tâm mang tính "phán xét" – sẽ tái tạo lại các tình huống nội tâm có vấn đề đó với nhà trị liệu. Nhà trị liệu sẽ có nguy cơ không thể phân tích được vấn đề bởi vì chính anh ta/cô ta thực chất đang là vấn đề.
Ở nơi mà sự phán xét của nhà trị liệu lộ liễu hơn, anh ta/cô ta có khả năng gặp khó khăn trong việc giữ chân bệnh nhân. Trường hợp ngoại lệ hiếm hoi đối với các nhà trị liệu như vậy là kiểu bệnh nhân vô thức ngoại hiện hóa một "yếu tố bạo dâm - khổ dâm" từ các mối quan hệ nội tâm vô thức của chính họ vào mối quan hệ trị liệu. Thường trong những hoàn cảnh đó, bệnh nhân thà vô thức để nhà trị liệu "tàn nhẫn" với mình còn hơn là họ phải công nhận sự "tàn nhẫn" trong chính bản thân họ.
3 – Tất cả những điều này chuyển tiếp sang một nhiệm vụ quan trọng khác được đòi hỏi ở một nhà trị liệu có năng lực. Đó là vấn đề chịu đựng việc bị biến thành một "đối tượng xấu" (bad object) để bệnh nhân có thể "tái hiện trong mối quan hệ chuyển di" một tình huống nội tâm sâu kín từ thế giới vô thức của họ.
Đôi khi bản chất của cái phiên bản "xấu xa" của cha hoặc mẹ đang được phóng chiếu vào nhà trị liệu chính là một hình tượng cha mẹ "hay chỉ trích và phán xét". Nếu một nhà trị liệu rất rõ ràng về xu hướng phán xét của chính mình nhờ việc đã trải qua trị liệu chuyên sâu, thì họ có thể tự tin về việc liệu họ có đang hoặc không đang "phán xét quá mức".
Đôi khi bệnh nhân sẽ thao túng một nhà trị liệu – vốn về cơ bản không phải là người "rao giảng đạo đức và hay phán xét" – vào chỗ vô thức nhận lấy vai diễn hay rao giảng đạo đức và phán xét đó. Sẽ dễ dàng hơn nhiều để chịu đựng một tình huống như vậy khi bạn biết rõ liệu mình có nên cảm thấy "có lỗi hay hối lỗi" vì đã làm điều gì đó sai sót hay không, khi bệnh nhân khăng khăng rằng bạn đã làm vậy.
Làm một nhà trị liệu là một công việc rất hấp dẫn và mãn nguyện khi bạn có thể nhìn thấy cái gì thực sự thuộc về bạn hoặc không thuộc về bạn. BẠN BẮT BUỘC PHẢI HIỆU CHUẨN CÔNG CỤ CỦA CHÍNH MÌNH!



Bình luận