Não Bộ Và Sự Phát Triển Trong Thời Kỳ Sơ Sinh
- Minh Đào
- 3 giờ trước
- 93 phút đọc

Tác giả: Chris L. Minnick, M.D
CÁC MÔ HÌNH THAY VÌ CÁC LÝ THUYẾT
Bối cảnh:
Khi tôi bắt đầu chương trình đào tạo phân tâm học, có một làn sóng tranh cãi dữ dội và đầy định kiến nhắm vào Melanie Klein cùng các ý tưởng của bà ngay tại Los Angeles này. Tôi đã không thể hiểu nổi tại sao lại có nhiều sự hằn học và thành kiến công khai đến vậy đối với cách tư duy của bà. Điều đó thật phi lý nếu xét đến việc mỗi nhà phân tâm học đều phải trải qua quá trình tự trị liệu cá nhânnhư một phần bắt buộc trong khóa đào tạo. Bằng một góc nhìn có phần lý tưởng hóa, tôi từng nghĩ nhà phân tâm học phải là người ít mang định kiến nhất trong số các chuyên gia sức khỏe tâm thần. Tôi rõ ràng đã lầm, và tôi phải mất nhiều năm trong khóa đào tạo của mình để cố gắng thấu hiểu những rào cản cả vô thức lẫn hữu thức đằng sau thái độ chống đối các ý tưởng của Klein.
Điều tôi nhận ra là: các nhà phân tâm học, cũng giống như bất kỳ ai khác, đều sở hữu những cách tư duy về bản thân và người khác vốn có thể dẫn đến định kiến. Nếu trong vô thức họ cảm thấy bị đe dọa bởi một điều gì đó có nguy cơ lung lay niềm tin rằng "mình đang nắm giữ cách tốt nhất để hiểu bản thân và người khác", họ sẽ phản ứng rất dữ dội. Khi phản ứng đó đẩy lên thành sự bài xích các ý tưởng mới và bóp nghẹt tâm trí cởi mở của họ, nó đã trở thành một thứ định kiến độc hại, một nút thắt trong chính tư duy của họ.
Bài toán về Thời thơ ấu (Thời sơ sinh):
Tôi cho rằng vùng đất dễ khiến một nhà phân tâm học — hay bất kỳ ai — đánh mất "tâm trí cởi mở" nhất chính là nơi họ ít nhận thức được các ảnh hưởng vô thức của mình nhất. Khi việc nghiên cứu sự phát triển nhân cách lùi sâu về giai đoạn trước khi biết nói, đặc biệt là những ngày tuần đầu đời của trẻ sơ sinh, người ta càng buộc phải "suy đoán" về những gì đang diễn ra bên trong đứa trẻ, bởi vì phải mất 18 tháng nữa em bé mới bắt đầu phát triển ngôn ngữ.
Đứa trẻ chỉ có thể phản ứng bằng một "vũ điệu cơ thể - a physical “song and dance" — nếu bạn muốn gọi như vậy — chứ em không thể dùng ngôn từ để kể cho chúng ta nghe em đang trải qua điều gì. Đứa trẻ lưu trữ những trải nghiệm đó ở các vùng dưới vỏ não, cụ thể là "hạch hạnh nhân" (amygdala), còn chúng ta thì phải đưa ra các "suy diễn" về những gì em đang nghĩ và cảm nhận.
Như chúng ta vẫn thường nghe trên truyền hình ngày nay: "Mọi người có quyền có ý kiến riêng, nhưng không có quyền tự bịa ra sự thật." Chính vì chúng ta không thể biết chắc chắn điều gì đang diễn ra bên trong một đứa trẻ sơ sinh, chúng ta đặc biệt có xu hướng dựng lên các ý kiến riêng dựa trên cách chúng ta hiểu về chính mình và thời thơ ấu của chính mình. Điều này có nghĩa là, nếu có một vùng đất nào dễ khiến một nhà phân tâm học gặp phải những điểm mù — nơi sản sinh ra sự bảo thủ, định kiến và thái độ giáo điều — thì đó chính là thời kỳ sơ sinh. Hệ quả là, không có gì ngạc nhiên khi những vùng tranh cãi nảy lửa nhất trong phân tâm học, từ thuở sơ khai cho đến tận ngày nay, hầu như luôn xoay quanh thời kỳ sơ sinh nói chung, và đặc biệt là ý tưởng cho rằng đứa trẻ có thể sở hữu "tính hủy hoại bẩm sinh".
Điều gì ở các Ý tưởng của Klein lại gây Kích động đến vậy?
Melanie Klein là một trong những người tiên phong của ngành "phân tâm học trẻ em". Bà bắt đầu công việc của mình với trẻ nhỏ khoảng một hoặc hai năm trước năm 1920, thời điểm mà các công trình của Freud đang ở đỉnh cao của những khám phá khai phá về "vô thức" ở con người. Người ta thường nói rằng, nếu Freud tìm thấy "đứa trẻ" bên trong nhân cách của người trưởng thành, thì Klein đã tìm thấy "đứa trẻ sơ sinh" bên trong đứa trẻ của Freud.
Điểm mấu chốt là Klein phát hiện ra có một lượng lớn "bạo lực" tồn tại trong đời sống ảo tưởng (phantasy) của những đứa trẻ rất nhỏ. Hơn thế nữa, bà cho rằng trẻ sơ sinh có thể có những ảo tưởng về cha mẹ, về cơ thể của họ và về tình dục. Đó là điều vượt quá sức chịu đựng của châu Âu thời thời kỳ Victoria, bao gồm cả các nhà phân tâm học thời bấy giờ.
Khỏi phải nói, bất kỳ cuộc thảo luận nào chạm đến ý tưởng của Klein trong lịch sử đều châm ngòi cho những "cuộc tranh luận đầy tranh cãi". Hiệp hội Phân tâm học Anh thậm chí đã phải dành ra vài năm họp hành vào đầu những năm 1940 với chính tiêu đề đó. Những cảm xúc mãnh liệt đến mức nó làm phân mảnh các chương trình đào tạo của Hiệp hội thành ba nhánh: Nhóm "Freud", Nhóm "Klein", và một "Nhóm Trung dung" không muốn đứng về bên nào.
Ngụ ngôn Thầy bói xem voi:
Những ý tưởng của Klein, đúc kết từ trải nghiệm của bà với cả những đứa trẻ bình thường lẫn những đứa trẻ gặp tổn thương nặng nề, đã dẫn bà tới chỗ suy đoán về nhiều vấn đề phát triển gắn liền với những ngày tuần đầu tiên sau sinh. Ý tưởng của bà mang tính cách mạng và thách thức nhiều giả định đã bén rễ về thời kỳ sơ sinh. Vào cuối những năm 1970 và đầu những năm 1980 khi tôi còn đang học, các nhà phân tâm học trẻ em kỳ cựu đã bảo tôi rằng những ý tưởng của Klein là "bất khả thi về mặt thần kinh học" đối với một đứa trẻ sơ sinh. Ấy vậy mà đến cuối những năm 1980, các nghiên cứu tâm thần học sơ sinh đã xác nhận rằng trẻ sơ sinh thực chất rất có năng lực làm những điều mà mười năm trước chúng ta không thể chứng minh được.
Thời kỳ sơ sinh đòi hỏi chúng ta phải suy tư về những gì đang diễn ra trong "chiếc hộp đen" của thế giới nội tâm đứa trẻ. Khó khăn trong những tình huống như vậy, theo trải nghiệm của tôi, nằm ở giả định cho rằng chỉ có duy nhất một ý tưởng đúng về những gì đang diễn ra bên trong đứa trẻ đó. Bất kỳ ý tưởng cạnh tranh nào khác hiển nhiên bị coi là sai.
Tôi nghĩ giả định này vốn bắt rễ từ "phương pháp khoa học". Trong đó, người ta đưa ra một giả thuyết, thử nghiệm để chứng minh tính đúng đắn của nó, và kết thúc bằng một "lý thuyết đã được chứng minh khoa học". Do đó, nếu lý thuyết của tôi đúng và của anh khác đi, thì của anh chắc chắn phải sai!
Tôi đã chứng kiến biết bao cuộc thảo luận giữa các nhà phân tâm học đi vào ngõ cụt khi họ ra sức bảo vệ những "tín điều thiêng liêng" của mình. Kết quả là ngay từ đầu sự nghiệp, tôi đã từ bỏ từ "lý thuyết" để chuyển sang dùng từ "mô hình" (model). Tôi thậm chí từng dạy một khóa học với tiêu đề có câu: "Ai có nhiều mô hình nhất, người đó thắng." Giống như câu chuyện ngụ ngôn "thầy bói xem voi", ai cũng có quyền mô tả trải nghiệm của riêng mình. Mỗi người đang tự dựng lên một "mô hình vận hành" cho trải nghiệm đó. Một mô hình càng chạm gần đến trải nghiệm thô mộc (tức là "sát thực tế trải nghiệm") và càng có giá trị "lý giải" cũng như "tiên đoán" cao, thì mô hình đó càng hữu ích.
Sẽ luôn có nhiều mô hình cùng tồn tại cho mỗi một khía cạnh của bản tính và trải nghiệm con người. Cấu trúc não bộ, sinh lý thần kinh, ảo tưởng vô thức, hành vi, v.v. tất cả đều cung cấp những hệ quy chiếu hữu ích để soi chiếu trải nghiệm nhân sinh. Tất cả đều có những điều quan trọng, giá trị để cống hiến cho một chuyên gia sức khỏe tâm thần.
Bởi vì phân tâm học chủ yếu tập trung vào những gì diễn ra một cách "vô thức", nó đòi hỏi một hệ thống các mô hình để ta có thể hình dung ra muôn vàn khả năng cho những gì đang diễn ra trong "thế giới nội tâm vô thức" đó. Hy vọng rằng chúng ta sẽ bớt phòng thủ hơn nếu gọi chúng là "các mô hình", và giữ được sự hứng thú, tò mò về những mô hình mới lạ đối với mình.
Chúng ta sẽ không bao giờ thoát khỏi cái bẫy khó khăn nội tại khi làm việc với thế giới nội tâm vô thức — nơi mà "trí tưởng tượng" của con người mở ra một "vũ trụ ảo tưởng đa dạng gần như vô tận", thường là về những trạng thái tâm trí chưa hề có ngôn từ nào đi kèm trong trải nghiệm gốc. Điều này buộc chúng ta phải dựng lên các "mô hình" để hình dung ra chúng, từ đó có phương tiện để thảo luận về những trải nghiệm trước khi biết nói này.
May mắn cho chúng ta, những nhà trị liệu, là hệ thống các "chiến thuật tâm lý phòng thủ vô thức" để đối phó với thế giới ảo tưởng bao la đó lại "hữu hạn hơn rất nhiều". Klein và các học trò của bà có một số mô hình thực sự hữu ích để chia sẻ, mà tổng số lượng của chúng không đến mức làm chúng ta bị ngợp.
[Lưu ý: Những chiến thuật phòng thủ vô thức này sẽ được phác thảo chi tiết trong Phần Hai của Mục Hai].
"PHẦN LÕI TRẺ THƠ" CỦA NHÂN CÁCH
Giới thiệu:
Nhân loại luôn bị ám ảnh bởi việc cắt nghĩa những trải nghiệm của chính mình. Các triết gia đã dành trọn cuộc đời để thấu hiểu ý nghĩa của "tồn tại", "hiện sinh" và "ý thức" dưới góc nhìn của con người. Rồi Freud xuất hiện, tặng cho chúng ta một vũ trụ thứ hai để suy ngẫm — thế giới của "vô thức". Tuy nhiên, khi xây dựng các công cụ tư duy cho thế giới nội tâm vô thức này, mô hình của ông lại mang tính trừu tượng rất cao với những khái niệm như "bản năng", "cái nó" (id), "cái tôi" (ego), "siêu ngã" (super-ego), v.v.
Một ý niệm ít trừu tượng hơn và có vẻ dễ tiếp cận với trí khôn thông thường của chúng ta chính là việc sở hữu một "bản ngã" (self). Vì vậy, tôi muốn bắt đầu bài thảo luận về "Phần lõi trẻ thơ của nhân cách" bằng vài suy ngẫm quanh hai chữ "bản ngã".
Bản ngã được tạo thành từ nhiều mảnh ghép:
Về mặt lý thuyết, mỗi chúng ta chỉ có "một" bản ngã duy nhất. Nếu ai đó muốn bảo vệ quan điểm này, tôi hoàn toàn tôn trọng. Thế nhưng trong cuộc sống, ý tưởng về một bản ngã đơn nhất dường như không đủ rộng để bao hàm trọn vẹn những trải nghiệm thực tế của chính chúng ta khi đối diện với thế giới.
Tôi nghĩ sẽ chính xác và hữu ích hơn nếu nói rằng: Con người trải nghiệm chính mình như một tập hợp của nhiều khía cạnh, hay đúng hơn là "những phần bản ngã" (parts of self). Ngay từ thuở nhỏ, hầu hết mọi người đã hình thành những thái độ về cách họ cảm thấy mình được "nhìn nhận" trong mắt người khác, hòa quyện với cách họ tự cảm nhận cuộc sống của chính mình. Những thái độ này ban đầu được định hình từ mối quan hệ với những người chăm sóc chính, sau đó tiếp tục phát triển trong môi trường trường học và bạn bè đồng lứa. Ý thức về việc "tôi là ai" có thể tích cực hoặc tiêu cực, nhưng nó thường là kết quả của những trải nghiệm lặp đi lặp lại liên tục.
Ví dụ: Một đứa trẻ có những năm tháng đầu đời chủ yếu là êm đẹp nhờ trải nghiệm tốt lành với cha mẹ, em sẽ tự cảm nhận bản thân mình phần lớn là hạnh phúc và "ngoan ngoãn". Ngược lại, một đứa trẻ sống trong gia đình quá đông anh em và không nhận được đủ sự quan tâm của cha mẹ sẽ dễ nuôi dưỡng một cảm giác "ghen tị, bị bỏ rơi và giận dữ" như một phần lõi sâu kín của bản ngã.
Đến độ tuổi nhi đồng (giữa thời thơ ấu), đa số trẻ em đều đã gom nhặt cả những mảng màu sáng lẫn tối trong trải nghiệm sống hàng ngày để nhào nặn nên ý thức về bản thân. Những thái độ này có xu hướng kết tụ xung quanh các trải nghiệm gắn liền với những phẩm chất và đặc điểm hữu hình mà đứa trẻ tự thấy mình đang sở hữu. Chúng thường liên quan đến ngoại hình, trí thông minh, khả năng vận động, xu hướng cảm xúc hoặc một năng lực đặc biệt nào đó.
Kết quả là từ những trải nghiệm tích tụ này, một người bình thường sẽ có xu hướng mô tả bản thân sở hữu một vài mảnh ghép như sau: một phần bản ngã trưởng thành, một phần bản ngã hạnh phúc, một phần bản ngã đáng yêu và biết yêu thương (hoặc một phần bản ngã không được yêu thương), một phần bản ngã cuốn hút (hoặc kém cuốn hút), một phần bản ngã lo âu và/hoặc trầm cảm, buồn bã, một phần bản ngã thể thao (hoặc vụng về), một phần bản ngã hài hước, một phần bản ngã nghệ thuật, một phần bản ngã giận dữ, ích kỷ, ghen tị, yếu đuối, lười biếng, hay điên rồ, v.v.
Vào bất kỳ khoảnh khắc nào, một trong những khía cạnh này cũng có thể trỗi dậy và chiếm quyền kiểm soát trải nghiệm của chúng ta. Phần lớn thời gian, con người cố gắng bấu víu vào một phần bản ngã mang lại cảm giác dễ chịu. Hiếm hoi hơn, có những người lại ôm khư khư một cái nhìn tiêu cực về chính mình; nhưng thực ra họ làm vậy vì cảm thấy nó "an toàn" hơn, giúp họ giảm bớt tổn thương trước những nỗi đau hoặc mất mát lớn hơn có thể ập đến. Điều này rất dễ bắt gặp ở những thanh thiếu niên — những đứa trẻ quyết định khoác lên mình một danh tính tiêu cực như một tấm khiên che chắn khỏi những tổn thương tinh thần mà chúng đang phải vật lộn mỗi ngày.
Xét đến cùng, cảm giác bản thân được cấu thành từ những "phần bản ngã" riêng rẽ này có liên quan mật thiết đến xu hướng của con người (bắt đầu từ thời sơ sinh): giam các trải nghiệm khác biệt hoặc xung đột vào những ngăn riêng biệt trong tâm trí. Mà khuôn mẫu cốt lõi nhất chính là nhu cầu tách biệt các trải nghiệm tích cực khỏi các trải nghiệm tiêu cực.
Cách lưu trữ ký ức thời sơ sinh và thơ ấu:
Đến đây, tôi cần rẽ ngang một chút để giải thích những gì "khoa học não bộ" (neuroscience) có thể soi sáng cho chúng ta về các trạng thái danh tính ban sơ này — những thứ mà cuối cùng ta có thể gọi là "phần lõi trẻ thơ của nhân cách". Có hai hệ thống lưu trữ ký ức vận hành trong thời thơ ấu: một hệ thống hoạt động từ trước khi sinh cho đến cuối năm 2 tuổi, và hệ thống còn lại chỉ phát triển đủ độ chín để vận hành từ sau năm 2 tuổi trở đi.
Hệ thống lưu trữ ký ức sơ khai hơn này nằm ở hạch hạnh nhân, một phần di sản tiến hóa mà ta thừa hưởng từ loài bò sát. Nó lưu trữ ký ức dưới dạng "những cảm giác - feelings". Các ký ức này có một đặc tính rất nghịch lý: chúng ta không thể "chủ ý" nhớ lại chúng bằng lý trí, nhưng chúng lại có thể được "tái hiện" và "sống lại" ở thế giới bên ngoài — và tất cả đều diễn ra một cách hoàn toàn vô thức.
Hệ thống lưu trữ ký ức thứ hai — hệ thống gắn liền với những kỷ niệm mà chúng ta có thể nhớ lại và suy ngẫm — lấy vùng hải mã (hippocampus) làm trung tâm. Những ký ức này giống với những gì chúng ta thường hình dung khi nghĩ về từ "kỷ niệm". Vì vùng hải mã chỉ đủ phát triển để vận hành sau năm 2 tuổi, điều này lý giải tại sao chúng ta thường không thể nhớ lại thời thơ ấu của mình một cách đáng tin cậy trước 3 hoặc 4 tuổi, và thường là muộn hơn thế.
Khi tôi nói về "Phần lõi trẻ thơ của nhân cách", tôi đang muốn ám chỉ đến "những ký ức được lưu trữ dưới dạng cảm giác" bên trong hạch hạnh nhân.
Nhu cầu lập trật tự và Khao khát trốn chạy nỗi đau hài nhi:
Chút kiến thức nền tảng về não bộ này cho phép chúng ta quay trở lại thời thơ ấu để phân biệt giữa: (1) Ký ức và (2) Phản ứng tự nhiên của đứa trẻ trước nỗi đau tinh thần. Sự khác biệt mà tôi muốn nhấn mạnh ở đây là giữa một bên là "những ký ức lưu trữ dưới dạng cảm xúc" ở hạch hạnh nhân (thứ mà định mệnh đã sắp đặt là không thể nhớ lại bằng ý thức), và một bên là những trải nghiệm đau đớn tinh thần mà một đứa trẻ sơ sinh muốn "né tránh" bằng cách phủ nhận sự nhỏ bé, bất lực và phụ thuộc của chính mình.
Khi đứa trẻ lớn lên, các trạng thái tâm trí và trải nghiệm gắn liền với thời thơ ấu dường như lùi sâu và biến mất khỏi nhận thức có ý thức. Tôi đoán đây là sự kết hợp giữa một bên là bản chất của hệ lưu trữ ký ức thời sơ sinh, và một bên là thực tế rằng: việc làm một đứa trẻ với tất cả những đặc tính của nó giống như một chiếc vé một chiều dẫn thẳng đến những nỗi đau cảm giác tiềm ẩn.
Việc hoàn toàn bất lực, chẳng hiểu gì về thế giới, phụ thuộc hoàn toàn vào người khác để sinh tồn (một sự sinh tồn bấu víu vào lòng tốt và khả năng "hy sinh" của người khác dành cho mình) rõ ràng không phải là một trạng thái trải nghiệm mà có ai đó muốn xếp hàng để được nếm trải lại lần nữa.
Nỗi đau khổ này dẫn đến hai hệ quả lớn trong thời thơ ấu mà tôi muốn nhấn mạnh:
Hệ quả 1 là đứa trẻ sơ sinh có nhu cầu cấp bách phải mang lại một trật tự cho sự hỗn loạn của cuộc sống bên ngoài tử cung. Trật tự này đạt được bằng cách cố gắng giữ cho trải nghiệm "tốt" (sung sướng) tách biệt hoàn toàn khỏi trải nghiệm "xấu" (đau đớn). Sự chia tách này dẫn đến việc phân mảnh "bản ngã" và "đối tượng" (trong phân tâm học, đối tượng chỉ con người, không phải đồ vật). Bản ngã và đối tượng bị chia cắt một cách thô bạo thành các khía cạnh hoặc "các phần" tốt và xấu. Những phần này có xu hướng được "bắt cặp" và trói buộc vào nhau.
Hệ quả 2 là việc chia cắt thành các phần tốt - xấu tách biệt này cuối cùng sẽ dẫn đến hành vi trục xuất các phiên bản "xấu" của bản ngã và đối tượng ra thế giới bên ngoài một cách gần như vĩnh viễn, thông qua cơ chế phóng chiếu. Tiến trình này sẽ tiếp tục vận hành bền bỉ suốt cả cuộc đời con người.
Ý thức về Bản ngã (The Sense of Self):
Điểm thứ hai tôi muốn điểm qua một chút — dù đây là một chủ đề rất phức tạp — chính là nhận thức cá nhân của mỗi người về các khía cạnh khác nhau của bản ngã. Sẽ rất hữu ích nếu chúng ta có khái niệm về "trọng tâm của ý thức danh tính" (center of gravity of the sense of identity). Đây là ý tưởng tôi lần đầu đọc được trong cuốn sách vô giá của Donald Meltzer, "Sexual States of Mind" (một cuốn sách viết về sự phát triển và vận hành của tính cách nhiều hơn là về tình dục).
Hiểu một cách ngắn gọn, ý tưởng này là: tại bất kỳ thời điểm nào trong đời, "trải nghiệm về danh tính" của một người có thể trú ngụ ở bất kỳ phần bản ngã nào trong vô số các phần bản ngã, hoặc thậm chí trú ngụ ở danh tính của một người khác (thông qua cơ chế phóng chiếu). Và "ý thức danh tính" này có thể dịch chuyển từ phần này sang phần khác chỉ trong vòng vài phút. Chính xu hướng này đôi khi làm cho việc trị liệu tâm lý cho trẻ em trở thành một công việc cực kỳ thách thức.
Sự "dịch chuyển" trọng tâm này lý giải tại sao chúng ta có thể có một "ý thức về bản ngã" vào phút này, nhưng ngay phút sau lại bị một "ý thức về bản ngã" hoàn toàn khác chiếm lĩnh, cứ như thể chúng ta vừa biến thành một con người khác vậy. Sự dịch chuyển này rất dễ thấy trong các cuộc thi đấu thể thao: một bên là người chiến thắng khải hoàn - a triumphant winner (với ảo tưởng mình thật to lớn và trưởng thành), và bên kia trở thành kẻ thua cuộc (với nguy cơ rơi vào trạng thái "trẻ thơ" của sự mất mát, nhỏ bé và nhục nhã).
Trạng thái tâm trí Người lớn đối lập với Trạng thái trẻ thơ:
Khi đã hiểu về những vách ngăn tách biệt "tốt và xấu" hay "người lớn và trẻ thơ" này, chúng ta có thể lý giải một nghịch lý thú vị của con người. Hầu hết những người tôi biết, bao gồm cả chính tôi, đều thích tự hào rằng mình là những cá nhân tiến bộ, lý trí, biết điều, tự xem bản thân là "trưởng thành" và chỉ bị kiểm soát bởi các trạng thái tâm trí "người lớn".
Tôi lại muốn lập luận một điều hoàn toàn ngược lại. Đúng là hầu hết người lớn cư xử một cách "trưởng thành và lý trí" trong phần lớn thời gian, nhưng gần như không có một điều gì chúng ta nghĩ, cảm nhận hay làm trong cuộc sống hàng ngày mà không bị chạm vào bởi các trạng thái tâm trí "trẻ thơ".
Ý tôi là, trong một ngày, tất cả chúng ta đều liên tục bị ảnh hưởng bởi những suy nghĩ, cảm xúc và thái độ phát ra từ các cấu trúc vô thức có nguồn gốc từ thời sơ sinh. Tất nhiên, phải mất rất nhiều công sức đào tạo và kinh nghiệm mới có thể dễ dàng phân biệt được trạng thái tâm trí "người lớn" và "trẻ thơ", trừ khi trạng thái trẻ thơ đang nổi loạn mất kiểm soát. Ấy vậy mà trong văn phòng trị liệu của mình, tôi dành một phần của mỗi buổi diễn ra chỉ để làm nhiệm vụ phân tách đó. Trong cuộc sống riêng tư của tôi cũng vậy thôi. Điểm khác biệt duy nhất ở đời tư là chính tôi, hoặc gia đình tôi, mới là đối tượng chính cần phải bóc tách xem đâu là suy nghĩ, cảm xúc và hành vi ở cấp độ "người lớn" và đâu là ở cấp độ "trẻ thơ".
Đến đây bạn có thể hỏi, làm thế nào để phân biệt một "trạng thái tâm trí trẻ thơ" với một "trạng thái tâm trí người lớn"? Câu trả lời đơn giản nhất, và gần như luôn đúng, đó là: Các trạng thái tâm trí trẻ thơ có xu hướng "bị phóng đại quá mức" so với thực tế của tình huống ngay tại khoảnh khắc đó. Nói cách khác, phản ứng cảm xúc đối với tình huống thực tế mạnh một cách bất thường, hoặc ngược lại, tối giản và biến mất một cách bất hợp lý.
Ví dụ: Nổi trận lôi đình chỉ vì một trải nghiệm bực mình nhỏ nhặt, hoặc chẳng có chút phản ứng nào khi một người quan trọng với mình qua đời — đó là những ví dụ về phản ứng cảm xúc thái quá hoặc trơ lì một cách bất thường. Cả hai đều là những phản ứng ở "cấp độ trẻ thơ", chứ không phải là những phản ứng cảm xúc phát ra từ "phần bản ngã người lớn".
Tóm tắt:
Tôi thấy việc hình dung con người chúng ta sở hữu một loạt các thái độ tích cực và tiêu cực về bản thân, cha mẹ, gia đình và cuộc sống nói chung là rất hữu ích — cả trong phòng trị liệu lẫn đời sống thường nhật. Những điều này bắt đầu từ thời sơ sinh, như một cách để thiết lập trật tự trước một sự hỗn loạn chực chờ. Con người dường như luôn cố gắng chia cắt và giữ các loại trải nghiệm khác nhau ở các thế giới riêng biệt. Sự phân chia nguyên thủy nhất dường như là "tốt, dễ chịu" đối lập với "xấu, không dễ chịu".
Tiếp theo, khi những trải nghiệm với người chăm sóc tích tụ theo thời gian, đứa trẻ phát triển một cảm giác rằng một số cảm xúc và hành vi nhất định sẽ khơi gợi những phản ứng nhất định từ những người chăm sóc đó. Điều này dẫn đến sự phát triển của một tập hợp các thái độ cốt lõi về bản thân (có thể tích cực, tiêu cực, dễ chịu, đau đớn, v.v.). Cuối cùng, những thái độ chiếm ưu thế và lặp đi lặp lại theo thời gian sẽ cô đặc lại thành một "phần bản ngã".
Mỗi phần bản ngã có thể tiếp tục "lớn lên và trưởng thành" theo thời gian, hoặc nó có thể bị mắc kẹt trong một hố đen thời gian, đóng băng và không thể tiến bộ hay lớn lên cùng trải nghiệm. Những phần không thể lớn lên thường có xu hướng gắn liền với một trải nghiệm tiêu cực đầu đời.
Danh mục các khía cạnh bản ngã bị mắc kẹt này phải gánh chịu một "thảm họa kép": một mặt, những trải nghiệm đầu đời được lưu trữ ở hạch hạnh nhân không thể được nhớ lại bằng lý trí; mặt khác, những trải nghiệm tạo ra nỗi đau lại có xu hướng bị "tách bóc" (bị xây tường ngăn cách và/hoặc phóng chiếu ra xa khỏi nhận thức). Cú đấm kép này khiến cho những trải nghiệm đau đớn đầu đời trở nên bất khả xâm phạm, ta không thể chạm tới để xoa dịu hay sửa đổi chúng. Những trải nghiệm đau đớn thuở xưa ấy có xu hướng nằm ngoài vùng "học hỏi từ trải nghiệm", và điều này bóp nghẹt khả năng biến những tổn thương cũ thành chất liệu cho sự trưởng thành cảm xúc.
Có thể nói, phần lớn công việc của trị liệu tâm lý là giúp bóc tách sự khác biệt này giữa các phần bản ngã "người lớn" và "trẻ thơ", vốn đang biểu hiện trong suy nghĩ, cảm xúc và hành vi của chúng ta. Do đó, một mục tiêu của trị liệu có thể được hình dung là hỗ trợ phục hồi những phần bản ngã bị đánh mất — những mảnh đã bị tách bóc từ sớm nhưng vẫn tiếp tục âm thầm gây ra những ảnh hưởng tai hại mà chúng ta không hề hay biết rằng chúng đến từ những tổn thương xa xưa.
Toàn bộ trang web này là để cắt nghĩa sự phân tách này, từ đó nhà trị liệu có thể học cách "nói tiếng trẻ thơ" khi làm việc với nhân cách con người. Đây không phải là một năng lực tự nhiên mà ai sinh ra cũng có. Đó là một năng lực phải học mới có được, mặc dù chúng ta đang sống ngập ngụa trong những biểu hiện không ngừng của nó ở mọi ngóc ngách của cuộc đời.
Tôi hy vọng đến đây, bạn đã hiểu lý do vì sao cụm từ "Phần lõi trẻ thơ của nhân cách" lại được chọn làm tiêu đề cho trang web này. Nó đồng thời là thứ gia vị làm nên hương vị cuộc sống, nhưng cũng là lời nguyền rủa cho sự tồn tại của chúng ta.
NGUỒN GỐC CỦA PHẦN LÕI TRẺ THƠ TRONG CÁC TIỀN GIẢ ĐỊNH
Giới thiệu:
Có bao giờ bạn tự hỏi làm thế nào những chú vịt con vừa mới nở đã biết đi theo sinh vật lớn đầu tiên mà chúng nhìn thấy chưa? Nhà nghiên cứu nổi tiếng Konrad Lorenz gọi hiện tượng này là "sự in vết" (imprinting). Có bao giờ bạn tự hỏi làm sao mà biết bao loài vật biết cách giao phối mà chẳng cần phải tra cứu trên Google hay Wikipedia không? Hay làm thế nào mà một đứa trẻ sơ sinh vừa đẻ ra đã biết "tìm mồi" (xoay đầu tìm núm vú) và biết cách bú mút?
Tôi cho rằng câu trả lời cho tất cả những câu hỏi này nằm ở di sản di truyền của chúng ta — một quan điểm rõ ràng là chẳng có gì phải bàn cãi. Thế nhưng, một vài người lại cảm thấy lấn cấn khi đọc thấy Melanie Klein giả định rằng: ảo tưởng của trẻ nhỏ bằng cách nào đó đã chứa đựng sẵn hình ảnh về các bộ phận cơ thể của cha mẹ, cũng như sự kết hợp của chúng trong cuộc giao hoan, ngay cả khi đứa trẻ chưa từng chứng kiến hay trải nghiệm những bộ phận hoặc hoạt động đó ngoài đời thực.
Khái niệm về "Tiền giả định" (Preconceptions):
Bệnh nhân được phân tâm bởi Klein, Wilfred Bion, đã đề xuất một chuỗi các hoạt động tâm trí rất phù hợp cho cuộc thảo luận này. Ông dường như đã được định hướng tới những ý tưởng này khi đọc các bài viết của Freud về "bản năng".
Bion đề xuất một loạt các sự kiện tâm trí được kích hoạt ngay sau một trải nghiệm cụ thể, đặc biệt là nếu trải nghiệm đó nằm trong một phạm vi khả dĩ hạn hẹp (a narrow range of possibilities). Ý tưởng của ông là: đứa trẻ sơ sinh dường như sở hữu (1) một "sự mong đợi" mang tính tự nhiên và bản năng dựa trên nền tảng di truyền, và khi sự mong đợi này được bắt cặp với (2) một trải nghiệm phù hợp ở thực tế, nó sẽ kích hoạt những hành vi đặc định.
Hãy lấy việc bú mẹ làm ví dụ. Bion sẽ nói rằng đứa trẻ có một "tiền giả định" mang tính di truyền về một cấu trúc dạng "núm vú/bầu ngực". Khi "tiền giả định" đó kết hợp với một trải nghiệm thực tế gần giống với nó, đứa trẻ được coi là đã có một trải nghiệm tạo nên "sự nhận thức" (conception) về bầu ngực.
Những trải nghiệm sâu hơn sau đó sẽ dần dần cho phép đứa trẻ phát triển "sự nhận thức" về bầu ngực thành một "khái niệm" (concept) trừu tượng về "tính chất bầu ngực - breastiness" (như cách nói hài hước của Stephen Colbert). Lúc này, đứa trẻ đã tạo ra một khuôn mẫu sơ khai về "chức năng nuôi dưỡng". Đứa trẻ cũng sẽ phát triển cùng một "khái niệm" như vậy nếu nó được trải nghiệm với một bình sữa có gắn núm vú cao su thay vì bầu ngực mẹ.
Tiền giả định và Ảo tưởng vô thức:
Điểm mấu chốt trong tất cả những điều này là chúng ta cần mở rộng phạm vi của các "ảo tưởng vô thức" mà một nhà trị liệu sẵn sàng chấp nhận rằng chúng đang vận hành trong thế giới nội tâm vô thức của một người ở bất kỳ độ tuổi nào. Việc sở hữu các mô hình tư duy như vậy sẽ giúp bạn bớt sốc hơn khi chứng kiến một cô bé ba tuổi đột nhiên đứng phắt dậy trong bồn tắm và hét lên: "Cha ơi – con bị mất dương vật rồi!"
Bạn cũng sẽ không bị hoang mang khi một đứa trẻ bốn tuổi đặt tay lên vết sẹo mổ ruột thừa của người cha (lúc anh ta đang cởi trần xem bóng đá sáng Chủ nhật trên ghế sofa) và tuyên bố với niềm tin sắt đá như một mục sư đang trừ tà: "Cha ơi, con sẽ chữa lành vết thương này cho cha, vì người con chứa đầy những chiếc dương vật tốt lành!"
Tương tự như vậy, bạn sẽ không còn ngạc nhiên khi một cô bé ba tuổi (vốn được bú mẹ hơn một năm) chỉ vào núm vú của mẹ khi mẹ đang mặc quần áo và bảo: "Đấy chính là cái thứ mà mẹ đã cắn con ngày xưa!"
[Lưu ý: Phần sau ở Mục 1 về "Ảo tưởng vô thức, Vỏ não và Thùy trán" sẽ mở rộng hơn về cách các "hình ảnh đối tượng một phần" / "tiền giả định" này liên kết với các ảo tưởng vô thức như thế nào].
Cách Klein phát triển các ý tưởng về Trạng thái tâm trí "Nguyên thủy":
Đối với các nhà phân tâm học, "mắt xích còn thiếu" để lý giải cách trẻ nhỏ có thể cảm nhận được sự tồn tại của những thứ mà chúng chưa từng trực tiếp trải nghiệm chính là khái niệm "tiền giả định". Khái niệm này không dễ để nắm bắt, và tôi khuyến khích tất cả các chuyên gia sức khỏe tâm thần tương lai hãy cố gắng thấu hiểu nó như một khái niệm lý thuyết trước. Sau đó, bạn có thể chờ đợi những trải nghiệm cá nhân ngoài đời thực mang lại niềm tin xác đáng về nó — điều mà việc trị liệu cho trẻ nhỏ hoặc việc nuôi dạy con cái trong chính gia đình bạn chắc chắn sẽ làm được.
Đó chính xác là cách mà nhiều khám phá, ý tưởng và mô hình của Klein được tạo ra. Chúng ra đời từ những trải nghiệm của chính bà trong vai trò người mẹ của ba đứa con, và sau đó là từ việc tiến hành trị liệu cho những đứa trẻ gặp tổn thương tâm lý khá nặng nề.
Những trải nghiệm này đã giúp bà nhận ra thế giới nội tâm của trẻ nhỏ bị chiếm hữu một cách "vật chất hóa/cụ thể hóa" (concretely) bởi cơ thể của cha và mẹ ở cấp độ "đối tượng một phần" đến nhường nào. Điều này biểu hiện rất rõ ràng công khai trong thời thơ ấu, nhưng thường chỉ có thể nhìn thấy trực tiếp trong đời sống giấc mơ khi chúng ta đã đi qua tuổi thơ.
Những sự bận tâm về "đối tượng một phần" này ở người trưởng thành — thứ mà ngày xửa ngày xưa vốn bắt nguồn từ các "tiền giả định" — vẫn có thể được suy ra từ việc họ thường tập trung quá mức vào các đặc điểm thể chất, chẳng hạn như kích thước ngực hoặc dương vật, và sự ám ảnh với quần áo, trang sức, cũng như diện mạo tổng thể nói chung.
Tóm tắt:
Để nghiên cứu các trạng thái tâm trí nguyên thủy mà Klein đã đắm mình trong suốt sự nghiệp của bà, người ta phải trở nên thoải mái với các trạng thái tâm trí "đối tượng một phần" rất cụ thể vốn làm nền tảng cho các khái niệm của bà. Các mối quan hệ đối tượng nguyên thủy, các quá trình phóng chiếu, sự hình thành một cấu trúc nhân cách ổn định trong trạng thái khỏe mạnh hay bệnh tật, tất cả đều đòi hỏi sự thấu hiểu về các mô hình vốn vượt ra ngoài phạm vi của "trí khôn thông thường" (common sense) hàng ngày.
Mô hình của Bion về mối quan hệ giữa mẹ và trẻ sơ sinh ngay sau khi sinh bồi đắp rất lớn cho sự hiểu biết của chúng ta về các trạng thái tâm trí sơ khai này. Nhưng tất cả chúng đều đòi hỏi một mô hình nền tảng: Tiền giả định (Preconception) kết hợp với Trải nghiệm (Experience) để lớn lên thành Sự nhận thức (Conception), rồi từ đó có thể phát triển thành một Khái niệm (Concept) trừu tượng thông qua những trải nghiệm tiếp diễn liên tục trong đời.
Đọc tài liệu của Klein sẽ đưa bạn vào một vũ trụ hoàn toàn mới trong cách tư duy về sự phát triển sớm của con người. Nó có một tiến trình học hỏi dốc và đòi hỏi sự kiên trì. Tôi nghĩ tốt nhất nên tiếp cận nó với một tâm trí cởi mở, đặc biệt là đối với các mô hình về thời kỳ sơ sinh — nơi mà di truyền học và sự phát triển não bộ gặp gỡ những trải nghiệm đầu đời. Ý tưởng về một "tiền giả định" nằm ngay giữa giao lộ của ba lĩnh vực này.
SỰ HÌNH THÀNH CÁC MỐI QUAN HỆ NỘI TÂM CẶP ĐÔI
Tóm tắt
[Lưu ý: Từ đây trở đi, cả trong phần này và trên toàn bộ trang web, bạn sẽ thấy từ "đối tượng" (object) được dùng trong các ngữ cảnh như "mối quan hệ đối tượng", "đối tượng nội tâm", "đối tượng tốt hoặc xấu", "đối tượng một phần", v.v. Cách dùng từ "đối tượng" này không giống như một "vật thể" vô tri vô giác làm tước đi đặc tính người của chủ thể được nhắc đến. Thay vào đó, cách dùng này là tàn tích từ tham chiếu gốc của Freud về "bản năng", vốn bao gồm "nguồn gốc, mục đích và đối tượng". Vì vậy, trong ngữ cảnh này, "đối tượng" luôn luôn chỉ con người, không phải đồ vật].
Giới thiệu:
Mọi chuyên gia sức khỏe tâm thần đều bắt đầu quá trình đào tạo của mình bằng cách dùng chính những nhận thức về cảm xúc và suy nghĩ của bản thân làm khuôn mẫu để hình dung ra nhân cách của một ai đó sẽ như thế nào. Nếu người học viên này là một người có sự đồng cảm và có đầu óc tâm lý, anh ta có thể khá thành thạo trong việc nhận diện cảm xúc của người khác, đây là một điểm cộng rõ rệt trong công việc sức khỏe tâm thần. Nhưng khó khăn thực sự chỉ bắt đầu khi nhà trị liệu non trẻ này cố gắng hình dung ra thế giới nội tâm vô thức của bệnh nhân và những cấu trúc nơi các cảm xúc đó sinh ra.
Khi mới bắt đầu kỳ thực tập nội trú tâm thần, tôi là một học viên chăm chỉ, cố gắng quan sát mọi dạng cấu trúc tâm trí với sự nhiệt thành của một người ngắm chim tận tụy đang ghi lại những lần "bắt gặp" của mình. Tôi biết mình có một cảm giác về "bản ngã", và tôi biết mình có những trạng thái nội tâm còn sót lại từ mối quan hệ với cha mẹ. Tôi có một sự hiểu biết chung mang tính trừu tượng về một "siêu ngã khắc nghiệt". Tuy nhiên, tôi đã phải vật lộn để hiểu khái niệm "đối tượng nội tâm" mà tôi tìm thấy trong các tài liệu của trường phái Melanie Klein và cách chúng biểu hiện ở bệnh nhân của mình. Sau này tôi mới hiểu ra rằng, thực chất lúc đó tôi không hề biết cách tư duy về cấu trúc của một "thế giới nội tâm vô thức" hay cách nó được sinh ra. Tôi biết nó có liên quan đến trải nghiệm thời thơ ấu, nhưng nó vẫn khá mơ hồ đối với tôi.
Một lĩnh vực mà tôi đặc biệt quan tâm và dường như có một sự nhạy cảm bẩm sinh là giải mã giấc mơ. Tôi thấy các giấc mơ cực kỳ hấp dẫn và thích thú với việc cố gắng hiểu được những giấc mơ của chính mình. Theo thời gian, tôi quan sát thấy hầu hết các trạng thái cảm xúc được khắc họa trong giấc mơ của tôi, cũng như của các bệnh nhân, dường như đều nằm trong bối cảnh của một mối quan hệ giữa "một phần của mình" và "một phiên bản của cha hoặc mẹ". Qua quá trình giám sát chuyên môn và tự đi trị liệu, tôi dần nhận ra rằng cảm xúc của con người vừa là "sợi dây liên kết" giữa hai người, vừa là chất liệu tạo nên "ý nghĩa" cho mối liên kết đó. Tôi cũng bắt đầu thấy rằng những liên kết cảm xúc này giữa bản ngã và người khác đã bắt đầu từ rất sớm ngay trong thời kỳ sơ sinh, thậm chí có lẽ là trước khi chào đời. Ý tưởng "trước khi chào đời" dường như hơi khó chấp nhận trong nhiều năm, mặc dù sau này nó đã trở nên hoàn toàn hợp lý đối với tôi.
Sự hình thành của các "Đối tượng nội tâm" bắt cặp với "Bản ngã":
Để chia sẻ lý do tại sao điều này giờ đây lại hợp lý với tôi, tôi phải rẽ ngang một chút để nói về khái niệm "tiền giả định" (preconceptions). Tôi hiểu khái niệm này chủ yếu qua các ý tưởng của nhà phân tâm học người Anh Wilfred Bion, được mô tả bởi những người khác, đặc biệt là Donald Meltzer.
Để mô tả khái niệm "tiền giả định" theo cách dùng của Bion, phép ẩn dụ mà tôi thấy hữu ích nhất là việc con hàu làm ra viên ngọc xung quanh một hạt cát. Giống như con người chúng ta, như một phần của di sản tổ tiên và sự phát triển chủng loài, đã có sẵn hai hạt cát đóng vai trò là "tiền giả định": một về người mẹ và một về người cha. Nói cách khác, chúng ta được lập trình sẵn để tìm kiếm một hình bóng mẹ và một hình bóng cha ở thế giới bên ngoài, rồi bắt đầu nhào nặn nên một "viên ngọc" nội tâm về mối quan hệ với họ — tương tự như hiện tượng những chú vịt con của Lorenz sẽ "in vết" (khắc ghi) vào hình bóng đầu tiên mà chúng tiếp xúc.
Hai hạt cát này có lẽ đã được hình thành từ trước khi sinh, nhưng được bồi đắp một cách nhanh chóng và mạnh mẽ ngay sau khi chào đời, rồi sau đó được chỉnh sửa dần dần qua những năm tháng tuổi thơ tiếp theo. Toàn bộ khái niệm mà tôi vừa phác thảo là chìa khóa cốt lõi để hiểu được trải nghiệm và hành vi của con người. Đối với tôi, đây là mô hình hài hòa nhất với tất cả những gì tôi biết và hiểu về sự phát triển cũng như vận hành của tâm trí, cả khi khỏe mạnh lẫn lúc ốm đau. Hệ quả quan trọng ở đây là: trong điều kiện bình thường, thế giới nội tâm vô thức luôn phát triển và vận hành trong bối cảnh của một "mối quan hệ cặp đôi" giữa ta và đối tượng.
Đến đây bạn có thể hỏi về trường hợp một trong hai người phụ huynh vắng bóng từ thuở nhỏ, điều thường gặp hơn là người cha vắng mặt. Đứa trẻ vẫn sẽ nuôi lớn một "viên ngọc" phiên bản về người cha, nhưng nó sẽ tồn tại dưới dạng sự hiện diện của một "người cha vắng mặt", và do đó, dễ bị bóp méo và có thể gây ra rắc rối trong cuộc sống sau này. Nhưng điểm mấu chốt là chúng ta có xu hướng bẩm sinh là phải tạo ra một phiên bản nội tâm của mẹ và một của cha. Hãy lưu ý rằng những điều này tương thích với khái niệm "siêu ngã" của Freud và "đối tượng nội tâm" của Klein.
Tóm tắt về các Cấu trúc Vô thức dưới dạng Mối quan hệ Cặp đôi:
Tôi muốn tóm tắt lại những quan sát của mình về các cấu trúc được tìm thấy trong "thế giới nội tâm vô thức". Khi tôi trở nên thành thạo hơn trong việc bóc tách những khuôn mẫu sơ khai của trải nghiệm cảm xúc thời thơ ấu, tôi đã rút ra được một vài kết luận. Tôi không biết liệu mình có thể "chứng minh" chúng cho một "người hoài nghi cực đoan" hay không, nhưng tôi có thể nói rằng chúng có giá trị cực kỳ lớn trong việc thấu hiểu những lời bộc bạch, hành vi và trải nghiệm của bệnh nhân.
1. Đứa trẻ lưu giữ cảm xúc theo cặp mối quan hệ
Trẻ sơ sinh dường như ghi lại những cảm xúc nguyên thủy, cổ xưa nhất của chúng dưới dạng "gắn liền với một mối quan hệ" giữa "một phần bản ngã" và "một phiên bản của cha hoặc mẹ". Điều này diễn ra ở cấp độ của "hạch hạnh nhân" (amygdala) và vì vậy ta không thể chạm tới nó thông qua việc tự suy ngẫm có ý thức. Trẻ sẽ liên tục nhào nặn lại trải nghiệm đó trong nhiều năm sau để cố gắng tìm kiếm một ý nghĩa mạch lạc cho nó. Những trải nghiệm mạnh mẽ thường sẽ giữ nguyên tầm ảnh hưởng suốt cả cuộc đời của một cá nhân.
Ví dụ: Một bé gái 4 tuổi, sinh non đến mức từng phải mở khí quản một thời gian trong phòng chăm sóc đặc biệt cho trẻ sơ sinh, đang chơi với tôi trong một buổi trị liệu gia đình. Tôi đeo một con rối ngón tay hình "quái vật" bằng cao su có cái miệng lớn vào ngón trỏ của mình. Khi cô bé rụt rè đút ngón trỏ của chính mình vào miệng con rối, em lập tức rụt lại như thể bị đau, khóc lên "Á!" và đồng thời lấy tay kia chạm vào cổ mình, rồi ngay lập tức nhìn về phía mẹ. Người mẹ cũng nhận ra điều tương tự và nói với con: "Con đang nhớ lại hồi con phải mở khí quản đúng không."
2. Để mở rộng về "phép ẩn dụ con hàu" đã đề cập ở trên, sự truyền tải di truyền về năng lực chủng loài dường như đã lập trình sẵn để trẻ sơ sinh luôn mong đợi có cả cha lẫn mẹ trong đời. Tôi có thể hình dung điều này có giá trị sinh tồn trong một thế giới đầy rẫy thú dữ săn mồi ngày xưa. Ở con người, như tôi đã đề cập với trường hợp người cha, nhu cầu này sâu sắc đến mức sự vắng mặt của một người cha/mẹ "tốt" như mong đợi dường như sẽ tạo ra một trải nghiệm về sự hiện diện của một người cha/mẹ "xấu" — "xấu" theo nghĩa là họ đã bỏ rơi đứa trẻ. Sự vắng mặt này gây ra rắc rối thế nào cho sự phát triển thì còn tùy thuộc vào từng người. Đây rõ ràng là một vấn đề cần thừa nhận và lưu ý trong bối cảnh ngày càng phổ biến của các gia đình đơn thân hoặc cha mẹ đồng giới. Tuy nhiên, điều quan trọng nhất đối với một đứa trẻ là được yêu thương, chứ không phải là có một hoàn cảnh gia đình chuẩn chỉnh về mặt chính trị. Như tôi vẫn thường nói: "Mọi thứ trong đời đều là sự đánh đổi."
Tôi đã có nhiều trải nghiệm với các bệnh nhân là con nuôi hoặc chưa bao giờ biết mặt cha mẹ ruột của mình. Một điều thú vị là luôn có một sự hiện diện rõ rệt của người cha/mẹ mất tích đó trong thế giới nội tâm của họ, luôn được khắc họa trong các giấc mơ nếu như không xuất hiện trong đời sống tỉnh thức. Ít nhất, sự bắt cặp của một phần bản ngã với người cha/mẹ vắng mặt có xu hướng biểu hiện như một thứ gì đó bị đánh mất mà một phần bản ngã đang cố gắng tìm kiếm hoặc thấu hiểu trong giấc mơ. Ở những nơi mà sự mất mát cha mẹ ruột được cảm nhận là tổn thương tâm lý nặng nề hơn (vì bất kỳ lý do gì), cặp đôi này có thể hiện lên trong giấc mơ dưới dạng "một phần bản ngã xấu xí hoặc không đáng được yêu thương", bị giam cầm trong mối quan hệ với một phiên bản cha mẹ luôn ruồng rẫy hoặc chối bỏ họ.
3. Mối quan hệ cặp đôi này càng được truy vết ngược về giai đoạn sớm của thời thơ ấu, phiên bản của cha hoặc mẹ càng mang tính chất của một "chức năng" hoặc một "phẩm chất" cụ thể. Vì đây là những thành phần hoặc khía cạnh nguyên thủy hơn trong cách vận hành và hành vi của cha mẹ, chúng chỉ đại diện cho một mảnh chứ không phải toàn bộ con người của phụ huynh. Chính vì lý do này, Melanie Klein đã đặt cho chúng cái tên là "đối tượng một phần" (part-objects) để phân biệt với các phiên bản cha mẹ toàn vẹn, được tích hợp và phát triển đầy đủ hơn về sau.
Bạn có thể thấy sự tập trung vào "chức năng dương vật" của người cha ở cậu bé 4 tuổi được đề cập trước đó liên quan đến vết sẹo mổ ruột thừa của cha mình. Một ví dụ khác cũng thuyết phục không kém đối với tôi đã xảy ra với một cặp vợ chồng mà tôi trị liệu trong khoảng hai năm. Người vợ, người đã chiến đấu gay gắt với người cha hách dịch và kiểm soát của mình suốt thời thơ ấu, từng có một trải nghiệm bú mẹ không thành công khi bị cai sữa đột ngột lúc mới vài tháng tuổi do người mẹ mang thai đứa con thứ hai.
Điều khiến tôi đặc biệt chú ý là những từ ngữ tục tĩu mà người vợ sử dụng trước mặt tôi mỗi khi nổi điên với chồng, một cảnh tượng mà tôi chứng kiến trong gần như tất cả các buổi trị liệu của họ. Thật kinh ngạc, mọi từ tục tĩu cô ấy dùng đều là những biến thể xoay quanh chủ đề một chiếc dương vật tồi tệ, đáng ghét (a bad, hated penis). Cô ấy dễ dàng có đến hàng tá phiên bản từ chửi thề bậy bạ (prick, dick, dickhead, cock sucker, pencil shafted m…r f…r, etc.), tất cả đều được thốt ra với một sự căm hận tột cùng khiến một con rắn hổ mang cũng phải ghen tị và một người lính thủy cũng phải đỏ mặt.
Quá trình tái dựng lại các mối quan hệ thuở nhỏ của cô cho thấy cô đã bị tổn thương sâu sắc bởi việc bị cai sữa sớm. Để bảo vệ mối quan hệ mong manh với người mẹ vốn hơi trầm cảm, cô đã dịch chuyển tổn thương và cơn thịnh nộ của mình sang người cha. Nhưng vì tổn thương gốc rễ nằm ở bầu ngực và "núm vú/dương vật" của nó, cô vẫn giữ nguyên sự tức giận và uất ức ở cấp độ đối tượng một phần rất nguyên thủy. Tôi không thể nói chính xác cô ấy đã chắp ghép "tiền giả định" về một chiếc dương vật của cha với núm vú bị mất từ độ tuổi nào, nhưng nếu cơn thịnh nộ của cô ấy đối với dương vật của chồng là một dấu hiệu, thì sự tập trung vào người cha như một đối tượng một phần đã bắt đầu từ rất sớm và âm ỉ cháy suốt đời.
4. Thế giới nội tâm của mỗi con người đều chứa đựng một nắm các cặp đôi giữa các phần của bản ngã và các phiên bản của cha hoặc mẹ, ở cấp độ đối tượng một phần hoặc toàn phần. Những cặp đôi này trở thành "khuôn mẫu" cho những gì ta kỳ vọng trong các mối quan hệ suốt phần đời còn lại.
Chúng là gốc rễ cho "quan điểm sống" cơ bản của một người, biểu hiện qua niềm tin cơ bản, sự lạc quan, bi quan, lòng tự trọng, v.v. "Dấu ấn cảm xúc" của nhân cách dưới dạng hạnh phúc, nỗi buồn, lo âu, trầm cảm, tội lỗi, giận dữ, v.v. cũng bén rễ từ những mối quan hệ cặp đôi này.
Khi đến thời điểm chọn bạn đời, những mối quan hệ được lưu trữ ở cấp độ hạch hạnh nhân này sẽ có một ảnh hưởng áp đảo đối với sự lựa chọn đó ở cấp độ vô thức.
Một mô hình tối giản về các mối quan hệ cặp đôi giữa một phần bản ngã và một phiên bản của cha hoặc mẹ, xét từ khung lý thuyết, nhất thiết sẽ bao gồm bốn cặp đôi sau trong thế giới vô thức của tất cả mọi người:
Một "phần bản ngã tốt" bắt cặp với một "phiên bản mẹ tốt"
Một "phần bản ngã xấu" bắt cặp với một "phiên bản mẹ xấu"
Một "phần bản ngã tốt" bắt cặp với một "phiên bản cha tốt"
Một "phần bản ngã xấu" bắt cặp với một "phiên bản cha xấu"
Những phẩm chất cụ thể của các phần bản ngã và các phiên bản cha mẹ này vô cùng đa dạng, phong phú như chính trí tưởng tượng của con người có thể tạo ra. Nhưng ở mức tối thiểu, chúng có thể được cô đọng lại thành bốn danh mục này theo nghĩa rộng nhất.
Điều tôi thấy rất thú vị là cách các phiên bản cơ bản này có thể tích lũy thêm những phẩm chất được bồi đắp từ trải nghiệm sớm với người chăm sóc, anh chị em, hoặc bất kỳ hình bóng quan trọng nào khác từ thời thơ ấu. Phẩm chất của những nhân vật này dường như được cộng gộp vào các phiên bản nội tâm của cha mẹ, có lẽ là kết quả của việc bộ não thừa hưởng năng lực bẩm sinh về các "tiền giả định". Tôi không có ấn tượng rằng các cá nhân khác sẽ trở thành một đối tượng nội tâm mới tách biệt, ví dụ như một phiên bản nội tâm của vú em, anh chị em, hay người chú, v.v.
Điều đó không có nghĩa là anh chị em, họ hàng, người giúp việc không xuất hiện trong giấc mơ. Nhưng họ thường có xu hướng đại diện cho các phần của bản ngã hoặc các phiên bản của cha mẹ khi chúng ta phân tích ý nghĩa của họ.
Siêu Ngã Thuở Sơ Khai (The Early Super-Ego):
Tôi thấy thuật ngữ "siêu ngã" (super-ego) của Freud quá trừu tượng để có thể hữu ích trong lâm sàng. Tôi muốn thay thế nó bằng khái niệm "các phiên bản nội tâm của cha hoặc mẹ". Những phiên bản này sau đó có thể được tinh chỉnh thành các phẩm chất nổi trội đang hiện hữu vào ngay khoảnh khắc đó: tích cực hay tiêu cực, nguyên thủy hay đã phát triển đầy đủ, mang tính lý tưởng khát vọng hay mang tính chỉ trích, v.v.
Cách tiếp cận sau này cho phép nhà trị liệu đưa ra những nhận xét rất cụ thể về các cấu trúc nội tâm của bệnh nhân, điều này có khả năng giúp ích nhiều hơn trong việc thấu hiểu lịch sử phát triển của bệnh nhân và sự tái hiện của nó trong quá trình trị liệu dưới dạng "chuyển di".
Hơn thế nữa, các mối quan hệ cặp đôi mà trong đó các phiên bản cha mẹ này được găm giữ ở cấp độ hạch hạnh nhân liên tục được tái tạo một cách vô thức ở thế giới bên ngoài, được gọi là "sự cưỡng chế lặp lại" (repetition compulsion). Việc tạo ra khái niệm về một "mối quan hệ cặp đôi" cho phép nhà trị liệu cân nhắc khả năng rằng vào một thời điểm nhất định, một ai đó đang được giao vai diễn cho một trong hai nửa của mối quan hệ cặp đôi đó — tức là đóng vai một phần của bản ngã hoặc một phiên bản của cha/mẹ.
Tưởng tượng Vô thức, Vỏ não và Thùy trán
Tổng quan:
Tôi từng cân nhắc việc đặt phần này sau hai phần tiếp theo (Hệ quả của việc lưu trữ ký ức ở não giữa và Hiện tượng "Rò rỉ hệ viền" của những ký ức não giữa đó dưới dạng cảm xúc). Các vấn đề cốt lõi ở đây là: (1) ký ức được lưu trữ và gán cho ý nghĩa như thế nào và khi nào, và (2) những ý nghĩa đó thực tế hay mang tính hoang tưởng đến mức nào. Kho tàng kinh nghiệm của bất kỳ nhà lâm sàng nào cũng đủ để trả lời cho câu hỏi các tưởng tượng vô thức của con người thực tế đến mức nào, và câu trả lời rõ ràng là chúng không thực tế cho lắm. Nhưng chỉ đến bây giờ, với các phương pháp chẩn đoán hình ảnh thần kinh mới hơn và nghiên cứu về sự phát triển của trẻ sơ sinh, chúng ta mới tìm ra câu trả lời chi tiết hơn về việc những tưởng tượng đó được hình thành như thế nào, khi nào và ở đâu trong não bộ.
Khó khăn thực sự, theo trải nghiệm của tôi, là các nghiên cứu và công cụ nghiên cứu này thường không được thực hiện bởi hoặc sử dụng kết hợp với các nhà phân tâm học – những người thực sự đang thực hiện loại công việc duy nhất đưa ta vào chiều sâu thế giới nội tâm vô thức của một ai đó, nơi mà các tưởng tượng này trú ngụ và sinh sống.
Vấn đề này được minh chứng rõ nét trong cuốn sách mang tên "Thế giới liên cá nhân của trẻ sơ sinh" (The Interpersonal World of the Infant) của nhà phân tâm học Daniel Stern, xuất bản vào cuối những năm 1980. Theo tôi nhớ, sáu chương đầu tiên có những bản tóm tắt tuyệt vời về nghiên cứu trẻ sơ sinh, và nhìn chung cuốn sách mang tính tiên phong. Tác giả có lưu ý ở phần đầu sách rằng bản thân ông từng phải nằm viện một thời gian dài khi còn là một đứa trẻ sơ sinh, và điều đó đã biến ông thành một "người quan sát nhạy bén" đối với mọi thứ xung quanh. Tuy nhiên, ở phần sau của cuốn sách, ông lại ngụ ý rằng trẻ sơ sinh lưu trữ các phiên bản "thực tế" về những gì diễn ra xung quanh chúng.
Theo toàn bộ kinh nghiệm của tôi, không có điều gì có thể xa rời sự thật hơn thế. Đúng là trẻ sơ sinh có quan sát, và đúng là chúng lưu trữ rất nhiều trải nghiệm đó. Thế nhưng, ý nghĩa mà chúng gán cho những trải nghiệm đó luôn luôn mang tính vị kỷ cực đoan, tràn ngập các cơ chế phóng chiếu, và bị bóp méo bởi một nhận thức rất hạn chế về các nguyên tắc "nguyên nhân và kết quả". Nói tóm lại, chúng hoàn toàn không "thực tế".
Người giám sát ca phân tâm học trẻ em đầu tiên của tôi, bà Susanna Isaacs Elmhirst, từng kể lại chuyện cô con gái ba tuổi của bà chỉ vào núm vú của mẹ khi người mẹ đang mặc quần áo và thản nhiên nhận xét: "Mẹ đã cắn con bằng núm vú của mẹ đấy." Thật là một minh chứng cho thấy cái gọi là "quan sát chính xác" bị trói buộc bởi các phóng chiếu đến mức nào!
Một chút thảo luận ngắn về Thuật ngữ Kleinian:
Trước khi đi xa hơn, tôi cần làm rõ lý do tại sao tôi lại viết từ "phantasies" bằng chữ "ph" thay vì chữ "f" (fantasies). Trong tài liệu của trường phái Kleinian, việc sử dụng chữ "ph" là một thông lệ được chấp nhận để phân biệt giữa "tưởng tượng vô thức" (unconscious phantasy) với kiểu "mơ mộng giữa ban ngày có ý thức" (conscious daydream/fantasy).
Tính chất bạo lực tiềm ẩn trong các Trạng thái Cảm xúc của Trẻ sơ sinh:
Bây giờ, hãy quay trở lại với tưởng tượng vô thức. Điều thực sự làm đảo lộn bản chất thực tế trong các ý niệm của một đứa trẻ về trải nghiệm của nó chính là cường độ phản ứng cảm xúc của đứa trẻ đối với mọi thứ. Bạn có thể không thích cách tôi chọn từ, nhưng các phản ứng của trẻ sơ sinh không chỉ mãnh liệt, chúng thường còn khá "bạo lực" nữa. Nếu bạn hoài nghi điều này, hãy ở cạnh một đứa trẻ chập chững biết đi đang quá mệt mỏi hoặc đang đói trong một hoặc hai giờ. Điều đó sẽ nhanh chóng làm bạn tỉnh ngộ khỏi bất kỳ hình ảnh lý tưởng hóa nào về việc trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ lúc nào cũng ngọt ngào và ngây thơ.
Tôi muốn lập luận thêm rằng, dù không thể chứng minh, những đứa trẻ sơ sinh được định sẵn là sẽ có những rối loạn lớn nhất hoặc rắc rối nhất trong quá trình phát triển chính là những đứa trẻ có phản ứng cảm xúc bạo lực nhất. Điều này có lẽ có thể được đúc kết thành một định lý: "Rối loạn cảm xúc lớn nhất có mối tương quan cao với các phản ứng cảm xúc bạo lực nhất trong thời thơ ấu sớm."
Đến đây, tôi đã đưa chúng ta vào một vùng lãnh thổ thực sự phức tạp. Vấn đề là không phải tất cả các phản ứng bạo lực đều biểu hiện ra ngoài bằng cường độ cảm xúc có thể quan sát được. Một số phản ứng bạo lực nhất lại dẫn đến sự "trục xuất" (evacuation) tức thì các trạng thái tâm trí ra thế giới bên ngoài và né xa khỏi các trải nghiệm cảm xúc tiếp theo, do đó về mặt chức năng, chúng bị "tách rời" (split off) khỏi bản thân và thế giới của nó. Điều này có thể xảy ra một cách tức thời đến mức người quan sát không thấy có sự thay đổi nào trong hành vi của đứa trẻ. Một vài ví dụ có thể sẽ giúp ích:
Một đứa trẻ hai tuổi, khi cha nó lần đầu tiên mang một cây đàn guitar ra và bắt đầu chơi, đứa trẻ đã bước đến bên cha, đặt hai tay lên các dây đàn để ngăn không cho bất kỳ âm thanh nào phát ra, và điều đó đã khiến người cha không bao giờ chơi đàn guitar cho đứa trẻ nghe nữa. Bạn có quyền đưa ra cách diễn giải của riêng mình về tình huống này, nhưng khi tôi xem xét các chi tiết và theo dõi đứa trẻ, tôi kết luận rằng đó rất có thể là một phản ứng đố kỵ cực kỳ mãnh liệt từ phía đứa trẻ chập chững biết đi, người đã "tắt tiếng" tình huống đó theo nghĩa đen để không cần phải làm gì thêm nữa.
Một ví dụ khác về sự trục xuất tức thì một trạng thái cảm xúc thực sự mãnh liệt – trong trường hợp này là sự lo âu tột độ – đã xảy ra với chính tôi ngay tại văn phòng của mình. Một thanh niên gặp bất ổn tâm lý rất nặng đến buổi trị liệu vào một ngày nọ, và khi tôi cho cậu ấy vào, cậu ấy đi thẳng đến chiếc ghế của tôi và ngồi vào đó. Cậu ấy ngay lập tức nói với tôi rằng cậu ấy đang vô cùng giận dữ, muốn giết tôi, và hỏi làm sao tôi biết được cậu ấy không có một khẩu súng trong áo khoác để bắn tôi.
Lúc này tôi đang ngồi trên chiếc ghế của cậu ấy, vai trò của chúng tôi hoàn toàn bị đảo ngược, tôi cố gắng tuyệt vọng để giữ bình tĩnh và tư duy. Thế rồi một điều xảy ra khiến cả hai chúng tôi đều sốc. Tôi đã vô thức nhắm mắt lại và ngủ thiếp đi, có lẽ trong khoảng ba giây! Phản ứng đau khổ ngay lập tức của cậu ấy là: "Không chịu đựng nổi đúng không, Minnick!" Câu trả lời của tôi là: "Tôi đoán là vậy."
Sau một lúc, tôi nói tiếp rằng có lẽ cậu ấy đang cho tôi biết cảm giác khi ở trong hoàn cảnh của cậu ấy là như thế nào, cậu ấy đã cảm thấy thế nào trong cả thời thơ ấu và hiện tại trong mối quan hệ với tôi. Sau khoảng mười phút thảo luận tập trung vào điều gì đã kích động cơn giận dữ của cậu ấy, chúng tôi trở lại vị trí thông thường và tiếp tục công việc của mình. Tôi chưa bao giờ quên buổi trị liệu đó!
Hãy để tôi tóm tắt lại chúng ta đang ở đâu với các tưởng tượng vô thức. Bản chất của trẻ sơ sinh là trải nghiệm mọi thứ rất mãnh liệt. Theo những gì tôi biết, cường độ phản ứng của chúng luôn lồng ghép trong bối cảnh của một mối quan hệ đối tượng tưởng tượng, có khả năng là với một "hình bóng giống cha hoặc mẹ". Nếu đó là một trải nghiệm tích cực mãnh liệt, thì mối quan hệ mà nó lồng vào sẽ được xem là "tốt". Nếu đó là một trải nghiệm tiêu cực mãnh liệt, nó sẽ được xem là "xấu" và thường được quy cho một mối quan hệ tồi tệ giữa một phần "xấu" của bản thân và một phiên bản "xấu" của cha hoặc mẹ.
Các Ý niệm Nền tảng để Tư duy về Tưởng tượng Vô thức:
Tại thời điểm này, việc chuẩn bị sẵn một vài ý niệm then chốt rất quan trọng:
1 – "Sự vắng mặt của một người cha/mẹ tốt thường được trải nghiệm như sự hiện diện của một người cha/mẹ xấu."
2 – Trẻ sơ sinh dường như có xu hướng phổ quát là tự biến mình thành "trung tâm của mọi thứ". Nói cách khác, nếu có bất kỳ điều gì chệch hướng, chúng sẽ luôn xem đó là lỗi của mình theo một cách nào đó.
3 – Trẻ sơ sinh dường như luôn tưởng tượng rằng cha và mẹ "có tất cả mọi thứ, biết tất cả mọi thứ và có thể làm bất cứ điều gì."
Nếu chúng ta cộng tất cả những điều này lại, kết luận cốt lõi trong suy nghĩ của đứa trẻ sẽ kiểu như thế này: "Trải nghiệm này diễn ra thực sự tồi tệ là vì cha và/hoặc mẹ muốn như vậy, bởi vì tôi theo một cách nào đó có lỗi và do đó tôi chắc chắn là kẻ xấu." Bạn sẽ ngạc nhiên về tần suất mà phép toán nhỏ này có thể giải thích cho phản ứng của rất nhiều bệnh nhân khác nhau trong những năm đầu phát triển của họ.
Do đó, dưới góc nhìn của một đứa trẻ sơ sinh hay đứa trẻ nhỏ, một người mẹ bị trầm cảm, cha mẹ nghiện rượu cãi nhau, cha mẹ ly hôn, một người anh chị em bị xe đâm, mẹ bị sảy thai, cha mẹ không chú ý đến đứa trẻ, v.v., tất cả bằng cách nào đó đều là "lỗi của tôi".
Tại điểm này, chúng ta cần nhớ lại một ý niệm khác đã được đề cập trước đó. Đó là điều mà Klein đã chỉ ra: để vượt qua (work through) bất kỳ tình huống cảm xúc khó khăn nào, như trong các ví dụ trên, người ta phải đồng thời xử lý lại tất cả các tình huống sớm hơn vốn song song, và do đó làm nền tảng, cho tình huống hiện tại.
Điều này có nghĩa là, để vượt qua bất kỳ tình huống mãnh liệt hoặc chấn thương hiện tại nào, bạn phải xử lý lại tất cả các tình huống tương tự trước đó, đặc biệt là các tình huống tiền ngôn ngữ. Nếu tình huống tiền ngôn ngữ đó từng mang cường độ đau đớn mãnh liệt, bạn có thể sẽ thất bại trong việc vượt qua tình huống hiện tại, và điều đó có thể mở cánh cửa dẫn đến trầm cảm.
Cách Hạch Hạnh Nhân làm Phức tạp hóa việc Xử lý lại các Trạng thái Cảm xúc Sớm:
Đến đây, tôi phải nhắc nhở người đọc rằng "hạch hạnh nhân" (amygdala) là hệ thống lưu trữ ký ức chính hoạt động trong hai năm đầu đời, lưu trữ các trải nghiệm mãnh liệt và quan trọng dưới dạng "cảm xúc", nhưng không theo cách có thể truy xuất và "nhớ lại" thông qua việc tự ngẫm có ý thức. Nghịch lý thay, chúng có thể được ngoại hiện hóa và "sống lại".
Vấn đề mà điều này tạo ra là các trải nghiệm đau buồn mạnh mẽ trong cuộc sống sau này sẽ có tiềm năng chồng chập lên, và khuấy động bất kỳ "ký ức bằng cảm xúc" chấn thương mạnh mẽ nào có thể đang tồn tại trong hạch hạnh nhân. Nhưng vì người đó không thể nhớ lại các trạng thái tâm trí ở cấp độ hạch hạnh nhân sớm hơn này, họ thường phản ứng thái quá với trải nghiệm hiện tại, mà không biết rằng phản ứng thái quá này có liên kết với một trải nghiệm đầu đời. Kết quả là họ không thể hiểu đầy đủ và "vượt qua" phản ứng thái quá của mình.
Như tôi thường nói, "Một vấn đề được định nghĩa rõ ràng là một vấn đề đã được giải quyết một nửa." Vì vậy, trong tình huống này, thành phần cấu thành mạnh mẽ ở "cấp độ trẻ thơ" của phản ứng đã bị bỏ sót, và vấn đề không được định nghĩa đầy đủ, do đó thường dẫn đến việc giải quyết không thỏa đáng.
Một ví dụ rất phổ biến về điều này được thấy trong sự căng thẳng của trải nghiệm chiến đấu trong quân đội, từ đó một số người cuối cùng có thể bước tiếp và vượt qua các trải nghiệm chấn thương, trong khi cuộc đời của những người khác lại bị chệch hướng theo một cách rắc rối hơn nhiều, đôi khi không bao giờ hồi phục. Trong những tình huống sau, ta sẽ cần một tiền sử thời thơ ấu để loại trừ khả năng các tình huống chấn thương sớm hơn nhiều từ thời sơ sinh đang bị tái kích hoạt.
Quá trình Xử lý lại các Ký ức ở Cấp độ Hạch Hạnh Nhân thành Tưởng tượng Vô thức:
Bây giờ, trở lại với các tưởng tượng thời thơ ấu và nguồn gốc của chúng. Tôi thấy hữu ích khi xây dựng một mô hình hai giai đoạn cho việc tạo ra cái mà Klein gọi là một "tưởng tượng vô thức". Giai đoạn đầu tiên sẽ liên kết với trải nghiệm cảm xúc mãnh liệt được lưu trữ trong hạch hạnh nhân dưới dạng một "ký ức bằng cảm xúc".
Mô hình hoạt động tốt nhất cho toàn bộ kinh nghiệm lâm sàng của tôi, mặc dù tôi không thể chứng minh một cách chắc chắn là nó chính xác, đó là: hầu hết các trải nghiệm thời thơ ấu thực sự mãnh liệt luôn được lưu trữ dưới dạng một "cảm xúc" lồng trong bối cảnh của một mối quan hệ giữa một "phần của bản thân" và một "phiên bản của cha hoặc mẹ".
Điều này đưa chúng ta đến giai đoạn thứ hai của việc tạo ra một tưởng tượng vô thức. Bất cứ khi nào trải nghiệm cảm xúc ở cấp độ hạch hạnh nhân tích tụ đủ mức độ quan trọng, hoặc vì cường độ mà nó được trải nghiệm hoặc vì một số lượng lặp đi lặp lại đáng kể của trải nghiệm cảm xúc cụ thể đó, đứa trẻ sơ sinh sẽ cảm thấy nhu cầu phải "lý giải" trải nghiệm cảm xúc đó. Nói cách khác, nó sẽ cố gắng gán cho trải nghiệm đó và các trạng thái cảm xúc đi kèm một "ý nghĩa". Một cách ngắn gọn và hữu ích để mô tả điều này là đứa trẻ đang cố gắng hiểu: "Ai đang làm gì, với ai, và tại sao họ lại làm điều đó?"
"Ý nghĩa" được gán cho mối quan hệ đó, tại thời điểm đó, không nhất thiết là ý nghĩa cuối cùng sẽ chiếm giữ thế giới nội tâm của một người trong nhiều năm tới. Điều tôi nghĩ có thể quan sát được là trẻ em, đặc biệt là bắt đầu từ nửa sau của năm đầu đời, vẫn sẽ tiếp tục xử lý lại các trải nghiệm sớm nhất của chúng. Nói cách khác, đứa trẻ sẽ có một trạng thái cảm xúc cố định rất nguyên thủy ở cấp độ hạch hạnh nhân, lồng trong một mối quan hệ giữa một phần bản thân và một hình bóng cha mẹ, và sẽ tiến hóa "ý nghĩa" của việc họ được tưởng tượng là đang làm "gì" với nhau, và "tại sao" họ lại làm điều đó.
Vỏ não và Thùy trán:
Tôi thấy cần thiết phải tổng hợp lại từ đầu đến giờ. Giờ đây, chúng ta có một đứa trẻ sơ sinh với một "cảm xúc dưới dạng ký ức" được lưu trữ ở cấp độ hạch hạnh nhân, mà đứa trẻ có nhu cầu lý giải và gán cho nó một "ý nghĩa" có thể tư duy được.
Ký ức bằng cảm xúc này có thể lồng trong bối cảnh của một mối quan hệ giữa một phần bản thân và một phiên bản của cha hoặc mẹ, vốn có thể được ngoại hiện hóa nhưng không thể được tư duy một cách có ý thức. "Hải mã" (hippocampus) của đứa trẻ, cấu trúc cần thiết để gợi lại ký ức, chưa được hình thành đầy đủ để nhớ và xử lý lại trải nghiệm một cách có ý thức cho đến cuối năm thứ hai cuộc đời.
Vì vậy, điều tôi nghĩ diễn ra là đứa trẻ tiếp tục ngoại hiện hóa (externalizing) và tái tạo trải nghiệm dưới nhiều hình thức khác nhau với các nhân vật quan trọng trong cuộc sống bên ngoài của nó, và từ từ, một cách tiệm tiến trong suốt thời thơ ấu, đi đến các ý nghĩa có tiềm năng được diễn đạt bằng lời nói. Nếu những người xung quanh trong cuộc đời đứa trẻ đó nhận ra mối liên kết giữa trải nghiệm thời thơ ấu và những lần xử lý lại sau này, đứa trẻ có thể phát triển một sự hiểu biết khá chính xác về trải nghiệm cảm xúc sớm. Thật không may, thường thì ý nghĩa được xử lý lại vẫn bị bóp méo một cách đáng kể so với thực tế.
Việc nhận nuôi như một Tình huống Ví dụ cho Tưởng tượng Vô thức:
Việc nhận nuôi đại diện cho một tình huống mà sự tiến hóa của một tưởng tượng vô thức luôn hiện hữu rõ ràng và là một tình huống mà hầu hết mọi người đều có thể liên hệ. Vì lợi ích của cuộc thảo luận này, tôi sẽ hình dung một ca nhận nuôi theo kế hoạch, trong đó cha mẹ nuôi đón đứa trẻ trực tiếp từ bệnh viện khi vừa sinh ra, và đứa trẻ được nhận nuôi không bao giờ nhìn thấy cha mẹ sinh học sau khi sinh.
Trải nghiệm cảm xúc mạnh mẽ trong trường hợp này là sự "biến mất" của người mẹ sinh học, người mà giọng nói, nhịp điệu cơ thể, v.v., tất cả đột nhiên biến mất, không bao giờ trở lại. Mỗi đứa trẻ hoặc người trưởng thành được nhận nuôi mà tôi từng tiếp xúc đều thể hiện trực tiếp hoặc gián tiếp bằng chứng về việc bị tác động bởi sự chia ly và mất mát đó, cũng như nhu cầu phải gán cho nó một "ý nghĩa". Nói cách khác: người phụ nữ mà tôi đã sống bên trong suốt chín tháng đã đi đâu, tại sao bà ấy lại bỏ đi, đó có phải là lỗi của tôi không, v.v.
Khi các câu hỏi này được xem xét một cách lâu dài và chuyên sâu với một cá nhân được nhận nuôi, người ta thường có thể lần theo một sự tiến hóa của các ý niệm được phát triển, bắt đầu từ các phản ứng cảm xúc rất nguyên thủy, và từ từ tiến triển trong hầu hết các trường hợp đến các lời giải thích chi tiết và tinh vi hơn cho những câu hỏi đó. Không hiếm khi có một sự mâu thuẫn giữa các lời giải thích hoặc câu trả lời được ủng hộ "có ý thức" (the “consciously” espoused explanations or answers) và những gì sự phát triển cảm xúc của người đó gợi ý về các tưởng tượng vô thức vốn đã nắm quyền chi phối từ một cấp độ tư duy nguyên thủy hơn của cá nhân đó (a more primitive level of the individual’s thinking).
Tôi đã chứng kiến trong nhiều dịp lời giải thích đầy nỗ lực của một người nhằm hợp lý hóa việc nhận nuôi một cách có ý thức, lại bị mâu thuẫn bởi một tưởng tượng vô thức khá rõ ràng về việc mình không "đáng được yêu thương", thể hiện qua tiền sử trầm cảm theo giai đoạn của người đó, cảm giác vô giá trị, và việc tái tạo lại trong các mối quan hệ cảm giác ban đầu là bị từ chối và bỏ rơi.
Xin lưu ý, tôi hoàn toàn không gợi ý rằng đây là cách mà tất cả các em bé được nhận nuôi lớn lên sẽ cảm thấy. Nhưng tôi muốn gợi ý rằng khi một người có một tiền sử như vậy trong cuộc sống sau này, và họ là con nuôi, thì có lẽ có một mối liên kết quan trọng cần được công nhận và khám phá.
Các Trạng thái Cảm xúc Trẻ thơ bị "Tách rời" Mạnh mẽ và Sự Trở lại của Chúng ở Tuổi Dậy thì:
Trước khi chuyển sang sự phát triển tinh vi của một tưởng tượng vô thức, tôi cần đưa ra một nhận xét quan trọng bên lề. Không phải tất cả các trải nghiệm mạnh mẽ trong thời thơ ấu đều được xử lý theo một cách thức tiệm tiến (a progressive manner). Vì một sự kết hợp nào đó giữa cả yếu tố bẩm sinh (thể tạng) lẫn môi trường, một số trải nghiệm bị tách rời hoàn toàn khỏi vùng nhận thức của đứa trẻ, giống như thể chúng đã bị 'hô biến' cho biến mất hoàn toàn khỏi đời thực.
Ví dụ, một đứa trẻ sơ sinh có thể có một trải nghiệm rất đau buồn trong giai đoạn sơ sinh sớm, và các nhân vật người lớn xung quanh không thể thấy rằng nó dường như có bất kỳ tác động nào. Điều này đôi khi có thể được nhìn thấy trong việc nhận nuôi, hoặc một vụ ly hôn xảy ra khi còn ẵm ngửa, và mọi người đều cho rằng tác động của trải nghiệm đó là con số không.
Sai lầm!!! Trải nghiệm đó sẽ trở lại một cách mạnh mẽ vào vị trí tiên phong trong đời sống cảm xúc của người đó ở tuổi dậy thì, khi "phần cốt lõi trẻ thơ" của nhân cách được tái sinh lên bề mặt trải nghiệm cảm xúc của cá nhân đó. Nếu không có kết nối nào được tạo ra với chấn thương thời thơ ấu, thì "chiếc hộp Pandora" sẽ bị mở toang cho tất cả các loại phát triển rắc rối trong tuổi vị thành niên.
Tôi từng làm cố vấn cho Nhà Tạm giam Vị thành niên Quận Los Angeles trong nhiều năm ở đầu sự nghiệp của mình, thiếu chút là tròn con số 900 thanh thiếu niên được đánh giá cho tòa án. Với một sự đều đặn rải rác (sporadic regularity), tôi sẽ thấy một thanh thiếu niên từng là một học sinh giỏi suốt thời thơ ấu, không có vấn đề gì rõ ràng đối với bất kỳ ai, lại bắt đầu xuống dốc một cách khó hiểu sau tuổi dậy thì mà không ai có bất kỳ ý niệm nào về lý do tại sao.
Luôn luôn, trong những trường hợp đó, có một điều gì đó rất quan trọng trong tiền sử sớm của họ mà không ai kết nối với sự sa sút cảm xúc ở tuổi dậy thì. Các tiền sử sớm bao gồm việc nhận nuôi mà thanh thiếu niên đó chưa bao giờ được kể cho nghe, sinh non, bệnh tật với việc nhập viện và/hoặc phẫu thuật thời sơ sinh, cha mẹ ly hôn khi còn ẵm ngửa và không còn liên lạc với một bên cha hoặc mẹ, v.v.
Trong bất động sản, câu thần chú là "Vị trí, vị trí, vị trí!" Trong cuộc sống, đó là "Cốt lõi Trẻ thơ, Cốt lõi Trẻ thơ, Cốt lõi Trẻ thơ!"
Vỏ não và Thùy trán:
Đây là thời điểm mà vỏ não, và đặc biệt là thùy trán, đi vào hoạt động. Như chúng ta sẽ thấy trong phần tiếp theo, chúng không bắt buộc phải có mặt để các trải nghiệm sớm nhất của thời thơ ấu được ghi lại dưới dạng ký ức.
Tuy nhiên, khi "hải mã" tham gia vào cuối năm thứ hai cuộc đời, cùng với các mối kết nối của nó đến nhiều vùng "cao hơn" khác của não bộ, thì vỏ não và cuối cùng trong đời sống trưởng thành là thùy trán, có lẽ là nơi các trải nghiệm sớm nhất đó được xử lý lại để tiến hóa các "ý nghĩa" vốn sẽ mang lại một tầm quan trọng "có thể tư duy được" cho các trải nghiệm được lưu trữ sớm nhất này.
Chắc chắn là các "tưởng tượng vô thức" được trau chuốt chi tiết và xử lý lại trong suốt phần đời còn lại ở cấp độ vỏ não/thùy trán của não bộ. Tôi không tin não giữa có khả năng thực hiện loại hoạt động này.
Điều này là cốt lõi của một ý niệm mà tôi ngày càng đánh giá cao kể từ khi nó lần đầu tiên được chỉ ra cho tôi bởi nhà phân tâm học trường phái Klein, Albert Mason vài năm trước: "CÔNG VIỆC CỦA CUỘC ĐỜI, VỀ BẢN CHẤT CỦA NÓ, LÀ SỰ TĂNG TRƯỞNG NĂNG LỰC QUẢN LÝ NỖI ĐAU TÂM TRÍ!" Vì thùy trán cuối cùng sẽ đóng vai trò trung tâm trong hoạt động này, và chúng thậm chí còn chưa phát triển đầy đủ cho đến độ tuổi giữa hai mươi, người ta có thể thấy tại sao nhiệm vụ này là suốt đời.
Các ví dụ về việc Xử lý lại Suốt đời các Tưởng tượng Vô thức:
Hãy đến với một vài ví dụ trực quan, đồng thời giả định rằng mỗi ca phân tâm học đều tạo ra vài ví dụ như thế này trong những năm làm việc với một bệnh nhân cụ thể. Người bệnh nhân mà tôi đã ngủ thiếp đi khi cậu ấy chia sẻ cơn giận dữ mãnh liệt với tôi, đã có một thời thơ ấu thảm khốc khi mẹ cậu rơi vào một đợt trầm cảm loạn thần lúc cậu chưa đầy hai tháng tuổi. Bà nằm liệt giường và ngừng mọi hoạt động trong vài tháng. Cậu vật lộn với một cảm giác suốt đời rằng mình không đáng được yêu thương và tồi tệ ở một mặt, và với một cơn giận dữ khổng lồ vì bà đã bỏ rơi cậu ở mặt khác. Ở mỗi thập kỷ của cuộc đời, người ta đều có thể lần theo sự tiến hóa trong các phản ứng của cậu đối với các trải nghiệm cảm xúc mạnh mẽ trong ba tháng đầu đời.
Một ví dụ khác về việc xử lý lại suốt đời ý nghĩa của một sự kiện tuổi thơ (reworking of the meaning of an early event) đã xảy ra với một cô bé chỉ được bú sữa mẹ trong một tuần và khóc dạ đề nghiêm trọng một tuần sau đó, kéo dài cho đến khi bắt đầu tháng thứ tư của cuộc đời cô. Ở tuổi 10 tháng, cô bé ngừng ăn các sản phẩm từ thịt không vì lý do rõ ràng nào. Lúc ba tuổi, một ngày nọ cô bé nói khi được yêu cầu thử một ít thịt: "Không, vì thịt là người đấy!"
Vào thời điểm đó, cô bé trở nên bận tâm với khủng long, đặc biệt là loài bạo chúa ăn thịt Tyrannosaurus Rex. Lúc sáu tuổi, sau khi đi xem Thủy cung và quan sát cá mập, cô bé trở nên ám ảnh với cá mập trắng lớn. Trong vài năm tiếp theo, cô muốn trở thành một nhà sinh vật học biển để nghiên cứu chúng. Do đó, người ta có thể lần theo tưởng tượng khả dĩ mà cô bé có thể đã có trong giai đoạn sơ sinh sớm, cụ thể là các thôi thúc cắn mang tính "ăn thịt đồng loại" (cannibalistic) của cô bằng cách nào đó đã làm tổn thương bầu ngực và dẫn đến việc cai sữa sớm và chứng khóc dạ đề.
Ví dụ thứ ba nhấn mạnh một 'phản ứng dưới mức' (under-reaction). Một người phụ nữ rất dịu dàng và nhút nhát có một tiền sử bị nhận nuôi lúc chín tháng tuổi, nhưng không có tiền sử nào về cuộc sống của cô trước đó, hoặc làm thế nào cô lại có mặt trong cô nhi viện nơi cô được nhận nuôi.
Triệu chứng suốt đời của cô là cô luôn có một cảm giác mơ hồ rằng mình không đáng được yêu thương, mặc dù cha mẹ nuôi của cô rất yêu thương, và theo những gì tôi biết thì họ là những bậc cha mẹ rất tốt.
Thú vị là, cô gần như không thể nhớ được gì về cuộc sống của mình trước mười tuổi, và không có gì ngạc nhiên khi cô rất kém trong việc có bất kỳ trí tưởng tượng nào về bất cứ điều gì đáng sợ hoặc tồi tệ. Trước khi đến gặp tôi, cô chưa bao giờ thực sự kết nối việc mình được nhận nuôi, chín tháng đầu đời bị mất tích, và xu hướng cảm thấy không đáng được yêu thương và lo âu của mình.
Tóm tắt về Tưởng tượng Vô thức:
Trước khi chúng ta chuyển sang các trải nghiệm thậm chí còn sớm hơn trong hai phần tiếp theo, tôi muốn tóm tắt lại những gì chúng ta vừa trải qua.
1 – Tôi đang đề xuất một mô hình cho sự phát triển của thế giới nội tâm vô thức. Tôi thấy hữu ích khi gọi nền tảng này là "Phần lõi Trẻ thơ của Nhân cách". Tôi cũng gợi ý rằng việc nghĩ về "lõi trẻ thơ" này như được cấu thành từ cùng lắm là một vài "mối quan hệ cặp đôi" là rất hữu ích. Tất cả điều này diễn ra ở cấp độ "hạch hạnh nhân".
2 – Các mối quan hệ này dường như hầu như luôn quy về "các phần của bản thân" trong một mối quan hệ với một "phiên bản của cha hoặc mẹ" ở cấp độ đối tượng một phần hoặc toàn thể.
Như đã đề cập trước đó, lý do cho việc các mối quan hệ được lưu trữ này luôn quy về các cặp đôi với cha hoặc mẹ dường như có liên kết với sự thừa hưởng chủng loại phát sinh (phylogenetic) của chúng ta về một "tiền khái niệm" đối với một "hạt cát mang hình bóng mẹ" và một "hạt cát mang hình bóng cha". Bất kể người chăm sóc của chúng ta là ai, cuối cùng chúng ta dường như đều tạo ra các phiên bản của cha và mẹ, những người sẽ xuất hiện trong các giấc mơ của chúng ta suốt phần đời còn lại.
3 – Các cặp này dường như là sản phẩm của cả các trải nghiệm mãnh liệt và các trải nghiệm lặp đi lặp lại trong giai đoạn đầu đời.
Các cặp liên kết này dường như được định hình từ chính những phần bản ngã mà ta 'nhận diện' được. Gọi là nhận diện được bởi vì phần bản ngã đó sở hữu một kiểu phản ứng cảm xúc đặc thù, và nó luôn soi chiếu mọi trải nghiệm sống qua lăng kính cảm xúc quen thuộc ấy.
Hình ảnh của người cha hay người mẹ khắc sâu trong tâm trí ta một cách 'rõ nét' chính là vì họ liên tục hiện thân hoặc hành xử theo một khuôn mẫu nhất định: hoặc tràn đầy yêu thương, hoặc chối bỏ, trầm uất, xa cách, giận dữ, tàn nhẫn, hay thiên vị một người anh em khác...
Để chuyển ngữ đoạn văn này theo tiêu chí toàn văn nhưng phải thật dễ hiểu, chúng ta cần cởi bỏ những cấu trúc mang tính hàn lâm nặng nề của phân tâm học, thay vào đó bằng cách diễn đạt đời thường, sáng rõ mà vẫn giữ nguyên bản chất khoa học.
4 - "Tưởng tượng vô thức" giữ cho mối quan hệ giữa ta và cha/mẹ bền chặt thực chất được dệt nên từ hai thứ: những "cảm xúc nguyên thủy" mà đứa trẻ tự tưởng tượng là cha mẹ đang có, kết hợp với những cảm xúc của chính đứa trẻ dành cho phiên bản đó của cha mẹ.
Hầu hết người bệnh đều có thể lờ mờ nhận ra những cảm xúc đang bám rễ trong mối quan hệ này. Nhưng điều họ còn thiếu là một sự hiểu biết thấu đáo về "ý nghĩa" thực sự của nó. Nói cách khác, họ không hiểu chuyện gì đang xảy ra và tại sao nó lại xảy ra để có thể lý giải cho những cảm xúc mà cả hai bên đang trải qua trong bối cảnh mối quan hệ đặc biệt đó.
Bác sĩ Albert Mason đã mô tả trạng thái này khi nó được người bệnh tái hiện lại trong mối quan hệ trị liệu (hiện tượng chuyển di — mang cảm xúc với cha mẹ áp đặt lên nhà trị liệu). Lúc này, nhà trị liệu cần phải tự đặt câu hỏi: "Ngay khoảnh khắc này, mình là ai trong mắt người bệnh? Họ đang tưởng tượng mình đang làm gì họ, và tại sao họ lại nghĩ mình làm như thế?"
5 - Tôi cho rằng "ý nghĩa" của mối quan hệ cặp đôi này — thứ đã trở thành một cấu trúc vĩnh viễn trong thế giới vô thức của đứa trẻ — sẽ liên tục biến đổi, thường là trong rất nhiều năm. Tuy nhiên, tôi không có cảm giác là những "cảm xúc" ẩn sâu trong đó lại dễ dàng bị thay đổi hay lay chuyển một cách đáng kể.
Lý do là vì tông màu cảm xúc cốt lõi đó đã kịp găm sâu vào vùng não giữa (cụ thể là hạch hạnh nhân — trung tâm xử lý nỗi sợ hãi), bất chấp việc vỏ não của chúng ta sẽ liên tục thêu dệt, mở rộng ý nghĩa và nhào nặn lại cảm xúc đó khi chúng ta lớn lên, đi qua thời thơ ấu rồi bước vào đời sống trưởng thành. Đây là lý do tại sao "phần lõi trẻ thơ" (đứa trẻ bên trong) của nhân cách vẫn chiếm quyền kiểm soát quá lớn trong suốt cuộc đời người lớn, và thường là thứ duy nhất còn sót lại khi chúng ta về già.
6 – Sự chữa lành chỉ đến từ một Mối quan hệ sâu sắc
Tôi luôn thấy mình dùng cụm từ "bị đóng băng gần như vĩnh viễn" để nói về những mối quan hệ cặp đôi này. Bởi lẽ, như tôi đã quan sát đi quan sát lại trong suốt cuộc đời và sự nghiệp của mình, chúng ta gần như không thể thay đổi chúng một cách thực chất nếu không "tái hiện" lại chúng với một ai đó trước đã. Từ việc tái hiện đó, chúng ta mới đưa chúng ra ánh sáng của ý thức, và bằng sự thấu hiểu vừa có được, ta chủ động chọn cách thay đổi hành vi của mình — ngay cả khi những cảm xúc bén rễ bên dưới vẫn rất khó đổi thay.
Theo quan điểm của tôi, tiến trình thay đổi này chỉ có thể xảy ra trong bối cảnh của một "mối quan hệ thân mật". Sự "thân mật" ở đây có nghĩa là nơi mà "phần lõi trẻ thơ" của cả hai người cùng bước vào và chạm mặt nhau, chứ tôi không có ý nói "thân mật" theo kiểu tình dục hay thể xác.
Một mối quan hệ sâu sắc như vậy vốn rất dễ bắt gặp giữa cha mẹ hay anh chị em, nhưng thường chúng không diễn ra theo cách có thể giúp chúng ta thấu suốt hay thay đổi được nhân cách. Kiểu mối quan hệ có thể đánh thức đứa trẻ bên trong và cùng nhau chuyển hóa đôi khi có thể xảy ra với một người bạn, và có lẽ phổ biến hơn là trong một cuộc hôn nhân mang tính xây dựng cao. Thế nhưng, mối quan hệ duy nhất đặt mục tiêu tối thượng là tái hiện và thấu hiểu các mối quan hệ cặp đôi vô thức, cứng đầu này chính là môi trường trị liệu tâm lý chuyên sâu — nơi làm việc trực tiếp với hiện tượng "chuyển di".
Việc tái sinh "những mối quan hệ vô thức thuộc về phần lõi trẻ thơ" chính là bản chất của hiện tượng chuyển di. Đó là lý do tại sao các loại thuốc hướng thần có thể giúp một người tạm thời đóng băng, không phải "cảm nhận" những trạng thái tinh thần đau đớn của họ, nhưng thuốc men sẽ chẳng bao giờ thay đổi được những ảo tưởng từ thuở nôi mầm — thứ vốn là gốc rễ của mọi nỗi thống khổ tâm can mà vì nó, người ta mới phải uống thuốc.
Trải nghiệm Sống: Cảm xúc ở "Cấp độ Trẻ thơ" đối với Ý nghĩa Nhận thức của "Người lớn"
Giới thiệu:
Các trải nghiệm sống bắt đầu ngay từ trong bụng mẹ, tiếp tục sau khi sinh ra và có khả năng được lưu trữ trong não bộ dưới một dạng thức ký ức nào đó. Rất có thể ngành thần kinh học và nghiên cứu trẻ sơ sinh sẽ có những bước tiến lớn giúp chúng ta hiểu sâu hơn nữa về cách lưu trữ các trải nghiệm rất sớm này. Tuy nhiên, các nghiên cứu về trẻ em trước và sau khi sinh đã đủ để giúp chúng ta xây dựng nên những mô hình rất hữu ích trong việc lý giải trải nghiệm và hành vi của con người khi nó liên quan đến những trải nghiệm đầu đời sớm nhất.
Tôi thấy cực kỳ hữu ích khi hình dung rằng ký ức đã bắt đầu hình thành trước khi đứa trẻ có năng lực "suy nghĩ" – theo cách thức nhận thức thông thường – về ý nghĩa khả dĩ từ trải nghiệm của nó. Điều này dẫn đến một vài hệ quả:
1 – Mô hình hữu ích nhất mà tôi tìm thấy bắt đầu bằng giả định rằng con người được thừa hưởng từ tổ tiên loài bò sát và động vật có vú một "sự kỳ vọng" về sự tồn tại của hình bóng người cha, người mẹ và các "chức năng" của họ như cho ăn, v.v. Những kỳ vọng này có thể được hiểu thông qua khái niệm của nhà phân tâm học người Anh Wilfred Bion về các "tiền khái niệm" (preconceptions) bẩm sinh.
2 – Hệ quả thứ hai của ký ức trước và ngay sau khi sinh là nó dường như được lưu trữ không phải dưới dạng một hình ảnh hay một ý nghĩ, mà là dưới dạng một "cảm xúc". Quá trình này diễn ra ở cấp độ não giữa, tại các cấu trúc thuộc hệ viền, bắt đầu từ "hạch hạnh nhân" (amygdala) từ lúc còn "trong tử cung" cho đến suốt hai năm đầu đời. Những "ký ức bằng cảm xúc" này không thể gợi lại bằng cách tự ngẫm có ý thức, nhưng nghịch lý là chúng có thể được ngoại hiện hóa (hiện thực hóa ra bên ngoài) và được sống lại ở thế giới ngoài kia.
Thần kinh học về Sự phát triển Tâm lý Sớm:
Nghiên cứu về sự phát triển đã chứng minh rằng khi sinh ra, một số lượng khổng lồ các đường dẫn truyền thần kinh được tạo ra, và những đường dẫn nào được sử dụng thường xuyên nhất sẽ trở nên bền vững nhất. Những đường ít được sử dụng nhất sẽ bị đào thải bắt đầu từ vài năm sau khi sinh, và thậm chí nhiều hơn nữa sẽ bị đào thải một cách chủ động trong giai đoạn cuối thời thơ ấu.
Trong vài ngày, vài tuần và vài tháng đầu sau khi sinh, bộ não – ở cấp độ vỏ não – phát triển với tốc độ rất nhanh. Thùy trán của vỏ não, nơi diễn ra quá trình xử lý cảm xúc theo cách "tư duy" nhận thức hơn, là vùng trực tuyến muộn nhất, và phải đến khoảng 25 tuổi mới phát triển hoàn thiện đến mức trưởng thành. Khi các thùy này trở nên tích hợp hơn với các vùng vỏ não khác, chúng bắt đầu định hình và lý giải các trải nghiệm sớm của chúng ta, vốn đã được lưu trữ ở cấp độ não giữa dưới dạng "ký ức bằng cảm xúc" như đã đề cập ở trên.
Điều này dẫn chúng ta đến các vấn đề cốt lõi mà trang web này được tạo ra để giải quyết. Tôi muốn đề xuất một số câu hỏi then chốt để bắt đầu khu vực thảo luận tiếp theo này.
Các Câu hỏi Cốt lõi về "Phần Cốt lõi Trẻ thơ" của Nhân cách và Sự phát triển Sớm:
1 – Những trải nghiệm có nguồn gốc từ thời thơ ấu (giai đoạn sơ sinh) có tầm quan trọng then chốt như thế nào đối với phần đời còn lại, nếu so với những trải nghiệm xảy ra sau khi ngôn ngữ đã được phát triển một cách chủ động?
[Lưu ý: Ngôn ngữ thường bắt đầu hoạt động một cách có ý nghĩa vào khoảng giữa năm thứ hai đối với hầu hết trẻ chập chững biết đi. Vì vậy, từ gốc 'infans' có nghĩa là không có lời nói, gợi ý rằng "thời thơ ấu/giai đoạn sơ sinh" (infancy) kết thúc ở đâu đó khoảng đầu đến giữa năm thứ hai của cuộc đời sau khi sinh.]
2 – "Ý nghĩa" đã được gán cho những ký ức bằng cảm xúc sớm và tiền ngôn ngữ này chưa, hay chúng được thêm vào sau đó, và nếu có thì khi nào chúng được thêm vào? Những "ý nghĩa" này thực tế đến mức nào khi so sánh hoặc đánh giá dưới góc nhìn nhận thức của một người trưởng thành?
3 – Liệu các "ký ức bằng cảm xúc" có sức tác động mạnh mẽ này có thể tiếp tục được lưu trữ ở cấp độ não giữa "không thể tư duy được" và không bị biến đổi bởi sự phát triển nhận thức ở cấp độ vỏ não sau này hay không? Liệu chúng có thể "rò rỉ" ra ngoài từ các cấu trúc não giữa suốt cuộc đời, bất cứ khi nào một tình huống cảm xúc nào đó kích hoạt sự giải phóng của chúng, giống như một hiện tượng "hồi tưởng" (flashback) từ thời kỳ sớm nhất của cuộc đời?
Tôi đặt ra những câu hỏi này như những câu hỏi tu từ, tất cả đều nhằm gợi ý rằng các trải nghiệm sớm, khi chúng tạo ra một tác động cảm xúc mạnh mẽ lên trẻ sơ sinh (do cường độ hoặc do sự lặp đi lặp lại), sẽ được lưu trữ một cách mạnh mẽ trong các kho ký ức của chúng ta. Hơn nữa, chúng dường như đóng dấu ấn một cách bất cân xứng lên phần đời còn lại của chúng ta, dù tốt hay xấu. Nếu mọi thứ diễn ra không suôn sẻ trong giai đoạn sơ sinh sớm (early infancy), cuộc đời tôi sẽ không lành được sao.
Sự nhấn mạnh của Klein vào Trải nghiệm Sớm:
Điều này đưa chúng ta đến những đóng góp chính của Melanie Klein. Bà đã đưa ra một giả định, mà ngành tâm thần học trẻ sơ sinh kể từ đó đã chứng thực, rằng trẻ sơ sinh không phải là một "tấm bảng trắng" khi mới sinh (tức là không giống như Freud ngụ ý với 'giai đoạn tự kỷ' của ông trong tháng đầu tiên của cuộc đời). Thay vào đó, như bà đã diễn đạt, đứa trẻ có đủ năng lực "bản ngã" (ego) để bước vào một "mối quan hệ đối tượng" (object relationship) ngay khi sinh ra với người mẹ của mình. Hơn nữa, bà gợi ý rằng những trải nghiệm sớm này được lưu trữ dưới dạng "ký ức bằng cảm xúc" và sau đó trở thành cái mà sau này được mô tả là "phần tưởng tượng vô thức" (unconscious phantasy).
Mặc dù tôi sẽ thảo luận kỹ về lĩnh vực này trong các phần khác của học phần này và trong Học phần Hai, tôi muốn nhấn mạnh rằng những trải nghiệm sớm nhất này cuối cùng sẽ được ban cho "ý nghĩa" vô thức, và được lưu trữ như một "tưởng tượng" về một "mối quan hệ cặp đôi" giữa một "phần của bản thân" và một "phiên bản của cha hoặc mẹ".
Ý nghĩa của mối quan hệ đó sẽ nằm trong những gì mà mỗi nửa của cặp đôi đó (each half of that pair) được tưởng tượng là đang làm gì với nhau và tại sao họ lại làm điều đó. Ý nghĩa này sẽ tràn ngập những cảm xúc và thôi thúc của chính đứa trẻ, và do đó có tiềm năng trở nên rất phi thực tế dưới góc nhìn thực tế của người lớn.
Trạng thái Cảm xúc Trẻ thơ đối với Ý nghĩa Nhận thức của Người lớn:
Tại thời điểm này, tôi muốn đề xuất rằng bất kỳ phản ứng cảm xúc nào trong cuộc sống đều có thể được đánh giá từ câu hỏi: Đó là một phản ứng cảm xúc bắt nguồn từ một "phần người lớn của bản thân", hay nó chủ yếu đến từ "phần cốt lõi trẻ thơ" của nhân cách? Nói cách khác, phản ứng cảm xúc đó có phải là phản ứng mà bất kỳ một "người lớn" hợp lý nào cũng sẽ có trong hoàn cảnh đó, hay nó bị bóp méo theo cách nào đó do bị chi phối bởi góc nhìn của một "đứa trẻ"?
Nếu phản ứng đó là "quá mức" – hoặc quá mãnh liệt hoặc quá yếu một cách không phù hợp, hoặc thậm chí là vắng bóng – thì người ta thường có thể giả định, gần như một định lý, rằng đó là một phản ứng cảm xúc đến từ một "khía cạnh trẻ thơ" của nhân cách. Giả định này có thể mang lại giá trị to lớn vì nó có khả năng chuyển trọng tâm của việc khám phá (về "nguồn gốc" phản ứng của một người trước một điều gì đó) ra khỏi thực tại khách quan "ở đây và bây giờ" để quay trở lại một thời kỳ sớm hơn.
Sự chuyển dịch trọng tâm này thường cần thiết và có ý nghĩa quan trọng bởi vì, như Klein đã chỉ ra, bất kỳ tình huống hiện tại nào chồng chập lên một tình huống song song quan trọng từ thời thơ ấu đều đòi hỏi cả hai phải được xử lý lại để đạt được giải pháp cho tình huống hiện tại. Điều này làm cho việc giải quyết nhiều chấn thương trong cuộc sống trở nên phức tạp hơn so với cái nhìn thoáng qua ban đầu. Việc không nhìn thấy các lớp ý nghĩa sâu sắc hơn của sự kiện sẽ làm tăng nguy cơ không thể vượt qua khó khăn một cách có tính xây dựng, đồng thời làm tăng nguy cơ các sự kiện đó dẫn đến các kết quả vô thức có vấn đề hơn, chẳng hạn như trầm cảm.
Tóm tắt:
Tôi thấy hữu ích khi cho rằng các trải nghiệm có ý nghĩa về mặt cảm xúc (hoặc vì cường độ hoặc vì sự lặp đi lặp lại), cả tích cực lẫn tiêu cực, ban đầu đều được lưu trữ ở các cấp độ kho ký ức rất nguyên thủy của não giữa (ví dụ: "hạch hạnh nhân") và do đó chỉ có khả năng được trải nghiệm dưới dạng "ký ức bằng cảm xúc" chứ chưa thể "suy nghĩ về nó".
Khi các cấu trúc não cao hơn, tiên tiến hơn đi vào hoạt động, và các mối kết nối giữa chúng cũng phát triển trong suốt thời thơ ấu, các "ký ức dưới dạng cảm xúc" sớm nhất này có thể được gán cho các "ý nghĩa", từ đó giúp chúng trở nên "có thể tư duy được" và "có thể tiếp cận được" hơn. Thông qua tiến trình tất yếu và phổ quát này, trẻ sơ sinh chuyển dịch từ các "ký ức bằng cảm xúc" rất nguyên thủy sang các "tưởng tượng vô thức" có thể tư duy được.
Nhiệm vụ của các nghiên cứu tiếp theo là khám phá sâu hơn về mốc thời gian của quá trình cụ thể hóa các "tưởng tượng vô thức" này. Tuy nhiên, tôi thấy cực kỳ hữu ích khi giả định rằng các "ký ức bằng cảm xúc" ngay từ đầu đã được lồng ghép trong bối cảnh của một "mối quan hệ đối tượng" giữa một "phần của bản thân" và một "phiên bản của cha hoặc mẹ" – ban đầu ở "cấp độ đối tượng một phần" (part object level) trong những tháng đầu sau khi sinh, và ở "cấp độ đối tượng toàn thể" (whole object level) vào khoảng giữa đến cuối năm đầu đời.
Một số Hệ quả của Ký ức được Lưu trữ dưới dạng Cảm xúc
Tổng quan:
Giờ đây, chúng ta đã có một hình dung sơ bộ về thế giới nội tâm vô thức – nơi tồn tại một vài mối quan hệ cặp đôi (paired relationships), mỗi cặp được gắn kết với nhau bằng những cảm xúc tích cực hoặc tiêu cực mãnh liệt. Ý nghĩa của mối quan hệ này sẽ dần được cụ thể hóa và phát triển chi tiết ở cấp độ vỏ não (đặc biệt là vùng thùy trán) một cách tiệm tiến trong suốt thời thơ ấu và tiếp tục diễn ra khi bước vào đời sống trưởng thành. Cốt lõi của cái mà các nhà tâm lý học theo trường phái Kleinian gọi là "phần tưởng tượng vô thức" (unconscious phantasy) chính là ý nghĩa được gán cho bất kỳ mối quan hệ cặp đôi nào ở mọi lứa tuổi trong vòng đời, cụ thể là: "ai đang làm gì với ai và tại sao".
Bức tranh này sẽ trở nên phức tạp hơn một chút khi chúng ta xét đến sự phát triển của các cấu trúc não bộ, bắt đầu từ giai đoạn "trong tử cung" và thời sơ sinh sớm, cho đến khi thùy trán hoàn thiện hoàn toàn ở độ tuổi giữa 20.
Tôi đoán rằng suốt hàng thiên niên kỷ qua, nhân loại đã không ngừng suy ngẫm về sự tiến hóa của "cảm xúc" và "suy nghĩ" ở tất cả các sinh vật nằm dưới chúng ta trong chuỗi tiến hóa và phát triển. Liệu loài cá có cảm xúc không? Còn loài rắn hay bò sát máu lạnh thì sao? Chắc chắn, động vật có vú phải có một vài cảm xúc sơ khai nào đó.
Thế nhưng, nếu động vật có vú chỉ có lớp vỏ não mỏng như tờ giấy so với lớp vỏ não phát triển quá mức với vùng thùy trán to lớn, phô trương của chúng ta, thì cảm xúc của chúng được lưu trữ ở đâu? Và chúng có thể làm được gì với những cảm xúc đó ngoài việc phản ứng lại chúng một cách gần như là phản xạ?
Đây chính là điểm mấu chốt đối với con người. Chúng ta cảm thấy mình thật ưu việt so với những sinh vật nằm dưới mình trong chuỗi thức ăn giả định vì chúng ta có thể làm được nhiều điều hơn chúng rất nhiều, nhưng chúng ta vẫn làm cả những điều mà chúng làm. Nghĩa là, chúng ta cũng lưu trữ cảm xúc ở cấp độ não giữa, và cũng có những phản ứng bản năng, không cần suy nghĩ trước các kích thích giống như chúng, đặc biệt là trong các tình huống đe dọa đến tính mạng!
Ký ức của Con người được Lưu trữ dưới dạng Cảm xúc ở Giai đoạn Đầu đời và Giai đoạn Sau này:
Những "ký ức bằng cảm xúc" của cô bé bốn tuổi mà tôi đã đề cập trước đó – người sinh non vài tháng và phải thở máy qua lỗ mở khí quản – đã được lưu trữ trong hạch hạnh nhân (một phần của hệ viền) từ rất lâu trước khi vỏ não hoặc thùy trán của cô bé có thể hiểu được những trải nghiệm của mình. Điều này đặt ra một câu hỏi mang tính đối chiếu về một trải nghiệm chấn thương mạnh mẽ xảy ra ở giai đoạn sau của cuộc đời: Nó liên quan như thế nào đến hệ thống lưu trữ ký ức nguyên thủy và các hệ thống tiên tiến hơn vốn chỉ được kích hoạt sau hai tuổi?
Ví dụ, điều gì sẽ xảy ra với một người lính 18 tuổi ở Iraq hoặc Afghanistan khi chiếc xe Humvee của anh ta bị trúng bom tự chế (IED) và anh ta phải chứng kiến cảnh tượng kinh hoàng là người bạn thân nhất của mình bị "tan xác thành từng mảnh"? Trải nghiệm kinh hoàng đó sẽ được ghi nhận ở đâu trong tâm trí anh ta? Liệu người lính 18 tuổi đó có khả năng bị "hồi tưởng" (flashback) về trải nghiệm đó khi đã 80 tuổi, giống như cách cô bé bốn tuổi ở trên có thể trải nghiệm lại những chấn thương thời thơ ấu của mình hay không?
Việc Lưu trữ Chấn thương ở Giai đoạn Sau của Cuộc đời dưới dạng "Cảm xúc" và "Ký ức":
Tôi sẽ đi thẳng vào vấn đề. Tôi tin rằng hội chứng rối loạn căng thẳng sau chấn thương (PTSD), hiện tượng hồi tưởng các sự kiện chấn thương, chứng lo âu ở trẻ em, trầm cảm theo tình huống (situational depression) ở người lớn, sự sụp đổ của nhân cách ranh giới, v.v., tất cả đều có một điểm chung: đó là một thành phần của trải nghiệm cảm xúc được lưu trữ trong các cấu trúc não giữa nguyên thủy, mà quan trọng nhất là ở "hạch hạnh nhân".
Xét cho cùng đối với trẻ sơ sinh, hoặc diễn ra đồng thời đối với các sự kiện chấn thương ở giai đoạn sau của cuộc đời, tôi nghĩ chúng cũng được lưu trữ ở các cấu trúc vỏ não, nhưng thường không được thấu hiểu đầy đủ ở cấp độ vỏ não này và dễ bị biến đổi cũng như bóp méo một cách đáng kể tại đây – một thực tế mà bất kỳ chuyên gia pháp y nào chuyên về sự sai lệch trong lời khai của "nhân chứng thị giác" đều có thể chứng thực.
Có thể lập luận rằng, chính việc lưu trữ trải nghiệm chấn thương cảm xúc ở cấp độ "hạch hạnh nhân" nguyên thủy hơn mới là điều có ý nghĩa quan trọng đối với chuyên gia sức khỏe tâm thần, điều mà tôi sẽ khám phá trong phần tiếp theo về "Rò rỉ Hệ Viền".
Khi có điều gì đó kích hoạt một kết nối thần kinh đến cấp độ não giữa, những gì trỗi dậy sẽ là ký ức của các cảm xúc, thứ có thể gây đau đớn tột cùng về mặt tâm lý và thường xuyên mang lại cảm giác như thể chúng tự dưng xuất hiện từ "hư không". Đôi khi, việc phản ứng và các cảm xúc đi kèm cũng được ghi nhận ở cấp độ vỏ não có thể giúp cá nhân đó suy nghĩ thấu đáo mọi chuyện, nhưng thường thì việc "suy nghĩ" đó không đủ sức để ngăn chặn dòng lũ cảm xúc nguyên thủy hơn đang tràn về. Đây là một trong những lý do tại sao sự "trấn an" thường có rất ít tác dụng trong các tình huống chấn thương.
Để đưa ra một ví dụ cụ thể, giả sử chàng thanh niên trong chấn thương quân đội nói trên là con đầu lòng trong gia đình, và năm anh ta 18 tháng tuổi, người em kế của anh bị chết lưu. Việc trấn an anh ta trong bối cảnh vụ nổ rằng anh ta không thể làm gì hơn để cứu bạn mình có thể có rất ít hoặc không có giá trị. Điều này sẽ đặc biệt đúng nếu sự kiện đó đã kích hoạt một phản ứng não giữa, khiến anh tự đổ lỗi cho bản thân về cái chết lưu của người em – một sự kiện mà có lẽ anh ta không thể kết nối được với sự kiện trong quân đội.
Trong cuộc sống hàng ngày của chính mình, tôi thường xuyên bị một tâm trạng tiêu cực xâm chiếm mà bản thân không thể liên hệ một cách có ý thức với bất kỳ điều gì mình vừa trải qua. Tôi thường phải tự dò tìm nguyên nhân của tâm trạng đó, đối chiếu nó với kho lưu trữ những gì tôi biết về lịch sử của chính mình, và thường có thể có được ít nhất một tuệ giác mơ hồ về những gì đang bị khuấy động. Đây vẫn là một công việc khó khăn đối với tôi: tìm kiếm ý nghĩa từ những tàn dư của tuổi thơ gian khó của chính mình, ngay cả sau hai cuộc phân tâm học kéo dài khoảng mười sáu năm trong cuộc đời tôi.
Tóm tắt:
Các sự kiện diễn ra trong suốt cuộc đời của một người, nếu có cường độ cảm xúc mạnh mẽ, sẽ được ghi nhận và lưu trữ ở cả cấp độ não giữa nguyên thủy lẫn cấp độ vỏ não (nơi có tiềm năng "tư duy" được). Trong thời thơ ấu sớm, mọi thứ thường rất mãnh liệt, nhưng việc lưu trữ nguyên thủy dưới dạng "ký ức bằng cảm xúc" sẽ chiếm ưu thế hơn do vỏ não lúc này chưa được tổ chức tốt. Những cảm xúc ở não giữa đó sẽ được xử lý lại ở cấp độ vỏ não trong một thời gian dài, thường gắn liền với một mối quan hệ đối tượng (object relationship), với hy vọng cuối cùng sẽ trở thành một phần tưởng tượng vô thức sẵn có để được xử lý lại bất cứ khi nào cần thiết.
Nhưng liệu vỏ não có chuyển hóa (metabolize) được toàn bộ các ký ức bằng cảm xúc ở não giữa, để nó giống như một ổ cứng máy tính đã được xóa sạch hoàn toàn hay không? Điều này dẫn chúng ta đến chủ đề tiếp theo: Rò rỉ hệ viền.
Hiện tượng Rò rỉ Hệ Viền: Phản ứng Suốt đời đối với Trải nghiệm Đau buồn
Tổng quan:
Dựa trên kinh nghiệm lâm sàng, tôi đã cảm nhận được khái niệm "Rò rỉ Hệ Viền" (Limbic Leakage) từ nhiều năm nay, nhưng phải đến khi nghiên cứu tài liệu cách đây vài năm để chuẩn bị cho bài giảng về "Cấu trúc và Chức năng Não bộ Cốt lõi dành cho Chuyên gia Sức khỏe Tâm thần", tôi mới ý thức và "khái quát hóa" nó thành một thuật ngữ cụ thể. Tôi đặc biệt ấn tượng với các nghiên cứu gần đây về quá trình hình thành ký ức và quan điểm cho rằng phần "não bò sát" (phần não nguyên thủy nhất) của chúng ta có thể lưu trữ ký ức, nhưng theo những gì tôi hiểu rõ nhất, nó lại không thể tư duy hay suy ngẫm về những ký ức đó.
Vì tất cả các phần của bộ não đều có mối liên kết chặt chẽ với nhau, một điều khiến tôi đặc biệt chú ý là các cấu trúc ở não giữa (đặc biệt là "hạch hạnh nhân" – amygdala, cùng với "hải mã" – hippocampus, đều thuộc "hệ viền"). Do nằm gần thân não và các bộ phận ngoại vi của cơ thể hơn, các cấu trúc này thực sự có thể gửi tín hiệu đến các cơ bắp để hành động trước cả khi vỏ não (nơi xử lý tư duy ý thức) kịp nhận biết chuyện gì đang xảy ra.
Đây cũng là một phần lý do gần đây đã thôi thúc Sam Harris, một học giả về tôn giáo và vô thần, cho ra mắt cuốn sách mới lập luận rằng ý niệm con người có "ý chí tự do" chỉ là một ảo tưởng. Một trong những lý do khiến ông cho rằng con người không đưa ra mọi quyết định dựa trên "lựa chọn có ý thức", chính là thực tế rằng "thế giới nội tâm vô thức" chi phối phần lớn cách chúng ta hành xử, mà chúng ta không hề nhận thức được lý do tại sao.
Vì vậy, tiêu đề của phần này có cụm từ "rò rỉ hệ viền" bởi tôi muốn truyền tải rằng: những trải nghiệm đầu đời được lưu trữ dưới dạng "ký ức bằng cảm xúc" trong "hạch hạnh nhân" sẽ nhuộm màu lên tất cả những phản ứng cảm xúc mạnh mẽ nhất của chúng ta đối với các sự kiện trong đời, vậy mà chúng ta lại thường xuyên không nhận ra điều đó đang diễn ra. Thậm chí, nếu một người cẩn thận quan sát trạng thái tâm trí của mình trong suốt cả ngày, họ có thể nhận thấy sự "rò rỉ và tầm ảnh hưởng" âm thầm của "trạng thái tâm trí trẻ thơ" lên gần như mọi thứ họ suy nghĩ và thực hiện qua từng giờ.
Quyền năng của Hạch Hạnh Nhân thuộc "Hệ Viền" – Trung tâm của "Phần Cốt lõi Trẻ thơ trong Nhân cách":
Tại điểm này, tôi muốn đưa ra một giả định. Nói một cách thẳng thắn, tất cả những trải nghiệm cảm xúc mãnh liệt thời thơ ấu đều được ghi lại ở hệ viền, cụ thể là ở cấp độ não giữa trong "hạch hạnh nhân", và chúng có thể được (hoặc không được) xử lý một cách mang tính xây dựng ở cấp độ vỏ não và thùy trán.
Vì thế, bất kể những nỗ lực giải quyết vấn đề bằng vỏ não (bằng lý trí và tư duy) có lớn đến đâu, nếu trải nghiệm ban đầu đó thực sự quá mãnh liệt, nó có khả năng sẽ vẫn 'rò rỉ' ra từ cấp độ não giữa bất cứ khi nào có điều gì đó trong cuộc sống hiện tại kích hoạt những "ký ức bằng cảm xúc" đang được lưu trữ ở hệ viền này.
Hệ quả của Hiện tượng Rò rỉ Hệ Viền:
Đây là một ý niệm rất đáng sợ. Nó ngụ ý rằng khi mọi thứ diễn ra không suôn sẻ ở thời thơ ấu, một người có thể sẽ phải cam chịu cuộc chiến vật lộn với vấn đề đó suốt phần đời còn lại. Đây là lý do tại sao các mô hình tâm trí dựa trên tâm lý trẻ thơ này lại khó khám phá sâu sắc đến thế. Nó nhanh chóng đẩy chúng ta vào những câu hỏi đạo đức cực kỳ gai góc, nếu không muốn nói là bất khả thi, chẳng hạn như các vấn đề về phương pháp điều trị hiếm muộn dẫn đến đa thai, sinh non và các nỗ lực cứu sống y khoa tại phòng hồi sức tích cực nhi khoa (ICU), nạo phá thai, v.v. Nhưng chính sự gai góc của những câu hỏi này mới là động lực thúc đẩy chúng ta tiến về phía trước để tìm cách tư duy thấu đáo dựa trên những hiểu biết mang tính xây dựng nhất có thể.
Hãy lấy ví dụ về một số vấn đề phổ biến nhất của chúng ta: sinh non, chứng khóc dạ đề (colic), khoảng cách giữa các anh chị em quá ngắn, và việc được nhận nuôi. Không có vấn đề nào trong số này nhất thiết phải hủy hoại một cuộc đời hay ngăn cản hạnh phúc. Nhưng tôi chưa bao giờ thấy trải nghiệm nào trong số này mà lại không để lại dấu ấn lên nhân cách – một dấu ấn hiện rõ mồn một đối với tôi khi đào sâu tìm hiểu chi tiết.
Người "được nhận nuôi" có thể có nỗi lo sợ lớn hơn mức bình thường về "sự chia ly". Người có "anh chị em sinh quá sát nhau" có thể gặp khó khăn rõ rệt trong việc "chia sẻ". Đứa trẻ từng bị "khóc dạ đề" lớn lên có thể có những "thói quen ăn uống kỳ quặc" cụ thể hoặc mắc chứng "lo âu" mang tính khái quát hóa rằng mọi thứ lúc nào cũng sắp sửa trở nên tồi tệ. Đứa trẻ "sinh non" có thể bị chậm trễ đáng kể trong mọi "cột mốc phát triển", ngay cả khi kết quả lâu dài vẫn ổn định.
Ý tôi muốn nói ở đây là sự "rò rỉ hệ viền" của các cảm xúc nguyên thủy sẽ phủ lên cuộc sống một gam màu, nó thường giống như một thứ âm thanh nền hoặc một phản ứng nền không bao giờ biến mất hoàn toàn. Đối với một số người, nó có thể chỉ là "tiếng ồn trắng" (vô hại), nhưng với những người khác, nó lại gây ra sự "tê liệt".
Tóm tắt:
Bài học rút ra, theo góc nhìn của tôi, là nếu sự rò rỉ này gây tổn hại hoặc phiền toái quá mức và đang cản trở bạn có được một cuộc sống thỏa mãn, thì đã đến lúc bạn cần tìm kiếm sự trợ giúp để thấu hiểu nó. Trầm cảm mãn tính, rối loạn nhân cách ranh giới và các rối loạn lo âu nghiêm trọng chỉ là một vài ví dụ về các tình trạng khớp với mô tả này.
Việc cố gắng dùng thuốc để kìm hãm nó thêm nữa sẽ không có tác dụng. Bạn sẽ phải chấp nhận mình sống như một kẻ "vô hồn như thây ma" (zombie), và nếu các bộ phim điện ảnh gần đây có ẩn ý gì đó, thì tôi không thấy có tương lai nào trong cách làm đó cả.
Tuổi dậy thì và Sự trỗi dậy của Cốt lõi Sơ sinh trong Nhân cách
Tổng quan:
Trẻ sơ sinh là một cái túi khổng lồ của “sự bất lực”, dẫu đó là cái túi chứa đựng tiềm năng vĩ đại để phát triển năng lực. Nhưng chúng bước vào thế giới bên ngoài trong trạng thái bất lực về mặt thể xác, hầu như không hiểu biết gì về những gì đang diễn ra xung quanh mình, và phải chịu đựng mọi hình thái, kiểu cách của nỗi đau đớn thể chất lẫn tổn thương cảm xúc.
Làm một đứa trẻ sơ sinh là điều cực kỳ gian nan! Vậy thì có gì đáng kinh ngạc khi hầu hết trẻ sơ sinh đều nỗ lực với tất cả sức mạnh và khả năng của mình để thoát khỏi trạng thái bất lực và phụ thuộc hoàn toàn đó? Việc nhận thức được tất cả những điều này khơi dậy ở hầu hết các bậc cha mẹ những bản năng tuyệt vời nhất của họ để bảo vệ và nâng đỡ đứa trẻ khi nó cố gắng trưởng thành vượt qua giai đoạn khó khăn nhất này của cuộc đời.
Việc thấu hiểu và mang lại trật tự cho tất cả các thành tố này của thời thơ ấu chi phối sự phát triển tâm trí của trẻ, dẫn đến những cột mốc lớn thông thường trong tiến trình của cuộc sống. Sự phát triển năng lực tiếp xúc với những người chăm sóc, sự kiểm soát vận động của phần thân, việc cai sữa, biết đi, biết nói, kiểm soát đại tiểu tiện, v.v. tất cả đều trấn an cha mẹ cũng như đứa trẻ rằng mọi thứ bên ngoài tử cung rồi sẽ ổn thôi.
Đến năm hai hoặc ba tuổi, với khả năng vận động phối hợp tốt hơn nhiều cùng kỹ năng ngôn ngữ để tương tác với người lớn, đại đa số trẻ chập chững đều hạnh phúc khi để lại sự bất lực và phụ thuộc của thời sơ sinh ở phía sau gương chiếu hậu càng xa càng tốt. Trên thực tế, chúng liên tục và đầy ước vọng đánh giá cao quá mức các năng lực thể chất của mình trong thế giới xung quanh cũng như sự hiểu biết tâm trí của chúng về nó, bằng chứng là các vụ đổ nước, làm vỡ đồ đạc, vấp ngã hàng ngày, v.v. Sự ước tính và phán đoán của chúng về năng lực và vị trí của mình trong thế giới sai lệch đến mức chúng ta phải thực hiện việc “thiết kế nhà an toàn cho trẻ” để giữ cho chúng không tự gây thương tích nghiêm trọng cho bản thân.
Sự chuyển dịch Tâm trí từ Thời thơ ấu sớm sang Tuổi đi học:
Rất thú vị là đâu đó giữa độ tuổi từ ba đến năm, và tôi không hoàn toàn hiểu rõ điều này xảy ra như thế nào, một sự chia tách lớn xuất hiện giữa cái “ý thức” và cái “vô thức”. Giống như thể tất cả các thao tác cụ thể để điều chỉnh các trạng thái tâm trí của chúng – thứ vốn bắt nguồn từ khi các trạng thái tâm trí và trạng thái thể chất dường như không thể phân biệt được – vẫn tiếp tục diễn ra không giảm bớt khi tiến trình phát triển vượt qua cột mốc này.
Nhưng trong khoảng thời gian này, có một khoảng cách ngày càng lớn giữa sự vận hành tâm trí của các thao tác này và các quy luật của thực tại bên ngoài. Trong khi đứa trẻ nhỏ đang phát triển một sự hiểu biết lý tính về trọng lực, vật lý, các ranh giới, v.v., thì nó đồng thời đang sử dụng và vận hành với các quy luật mang tính phép thuật và giả tưởng phi thực tế của các thao tác ứng phó tâm trí ở “cấp độ em bé” ban đầu của mình.
Ví dụ, ý niệm mang tính phép thuật rằng người ta có thể “chui ngược vào bụng mẹ” để chưa được sinh ra, hoặc di chuyển các nội dung tâm trí trong không gian vật lý (vốn là cơ sở cho các tưởng tượng vô thức nằm bên dưới các quá trình phóng chiếu) vẫn tiếp tục diễn ra không giảm bớt ở một cấp độ của tâm trí. Trẻ em ở mọi lứa tuổi sẽ ném một lời chửi bới vào người khác và rồi lấy ngón tay bịt tai lại để ngăn chặn sự quay trở lại của quả tên lửa cụ thể được gửi “vào” người khác với ác ý đó.
Đồng thời, ở một cấp độ “người lớn” hơn, chúng đang bắt đầu nhận biết và chấp nhận các quy luật của thực tại bên ngoài. Tôi muốn chủ ý gọi đây là “phần bản thân trưởng thành” (adult part of self) vì đây là một mô hình rất hữu ích. Tôi định nghĩa phần bản thân trưởng thành là: (1) phần bản thân chín chắn, phát triển về mặt cảm xúc và thực tế nhất ở bất kỳ cấp độ tuổi nào, và (2) nó ước ao được mô phỏng theo các hình mẫu cha mẹ tốt (giả định là có vài hình mẫu để mô phỏng).
Cấp độ Em bé đối chọi với Cấp độ Trưởng thành của Vận hành Tâm trí/Cảm xúc:
Kết quả của những thay đổi mang tính phát triển này để lại cho con người, vào thời điểm chúng ta sẵn sàng bước vào nền giáo dục chính quy lúc năm hoặc sáu tuổi, sự chia làm hai cấp độ tiến trình. Nhà phân tâm học theo trường phái Klein người Mỹ là Jim Grotstein sử dụng cụm từ “trong khi đó, và ở một cấp độ khác” để ám chỉ, một phần, đến năng lực này của con người trong việc vận hành trên “các đường ray kép” cùng một lúc.
Người ta có thể dễ dàng nhìn thấy sự vận hành của các cấp độ này – ‘cấp độ em bé’ liên tục của nhân cách và ‘cấp độ trưởng thành’ đang phát triển – trong mọi mối tiếp xúc với trẻ em ở độ tuổi từ ba đến mười tuổi. Chúng thường đồng thời bị mê hoặc bởi các em bé sơ sinh nhưng lại khinh miệt sự bất lực và các năng lực kém cỏi của em bé.
Nếu thời sơ sinh của chính đứa trẻ quá đau đớn, thì năng lực dung nạp những lời nhắc nhở về nó của trẻ có thể bị tổn hại. Tôi từng biết một đứa trẻ không thể chịu đựng được tiếng khóc của các em bé trong nhà hàng và thấy điều đó không thể dung thứ đến mức gia đình phải chuyển bàn hoặc thậm chí rời đi nếu em bé đó không nhanh chóng ngừng khóc.
Giai đoạn Tiềm tàng và Vẻ bề ngoài nông cạn của việc trở nên “Lớn hơn”:
“Giai đoạn tiềm tàng” (latency period) của Freud kéo dài từ khoảng sáu đến mười tuổi (xê dịch tùy từng đứa trẻ), trong suốt giai đoạn này, sự tập trung của trẻ vào “tính dục” dường như đã lùi xa khỏi suy nghĩ ý thức và sự bận tâm bận lòng. Freud lưu ý rằng trong thời gian này, đứa trẻ bắt đầu kìm nén các ký ức tổn thương sớm hoặc quá tồi tệ.
Tôi có xu hướng nghĩ về “giai đoạn tiềm tàng” này như một sự rút lui khỏi sự thống trị của các “trạng thái em bé” trong tư duy, cảm xúc và bản thể, khi đứa trẻ tiếp cận cái có thể được mô tả là một phẩm chất hành vi “giả trưởng thành” (pseudo-adult). Như nhà phân tâm học theo trường phái Klein người Anh Donald Meltzer mô tả, “các cơ chế phân tách” mang tính ám ảnh chiếm ưu thế. Các cơ chế này cố gắng giữ cho “suy nghĩ” tách biệt khỏi “cảm xúc”, và các hành vi “em bé” tách biệt khỏi các hành vi “người lớn”, v.v.
Để làm nổi bật sự phân biệt này, Meltzer dùng từ “người lớn” (grown-up) để chỉ đơn thuần lớp vỏ bọc bên ngoài của diện mạo và hành vi. Ông dè dặt dành từ “trưởng thành” (adult) cho các khía cạnh thực sự chín chắn của suy nghĩ, cảm xúc và hành vi. Trẻ em trong giai đoạn tiềm tàng thường nhầm lẫn kích cỡ và diện mạo của một thứ gì đó là “ban tặng” một mức độ trưởng thành vốn chỉ có thể được phát triển qua nhiều năm. Việc tô son và đi giày cao gót của mẹ hay uống bia của bố không lập tức ban tặng tư cách trưởng thành đúng nghĩa!
Sự chuyển dịch sang Tiền vị thành niên và Vị thành niên thực thụ:
Tại thời điểm này, tôi muốn đưa tuổi dậy thì, chủ đề của phần này, vào cuộc thảo luận. Hãy hình dung một đứa trẻ tiền vị thành niên ở độ tuổi mười một hoặc mười hai (sớm hơn một năm đối với một số bé gái, và muộn hơn một năm đối với một số bé trai) biết rằng kỳ kinh nguyệt hoặc sự phóng tinh đang chực chờ quanh góc phố, vào bất kỳ khoảnh khắc nào. Cơ thể của chúng bắt đầu thay đổi. Chúng đồng thời bị tò mò, thậm chí có thể bị phấn khích, nhưng cũng bị khiếp sợ ở một cấp độ nào đó về tất cả những điều đó.
Như Donald Meltzer mô tả một cách sâu sắc trong cuốn sách tuyệt vời nhưng đậm đặc của ông “Các trạng thái tâm trí tình dục”, cuộc đời của một người đã chạm đến một “cuộc khủng hoảng danh tính”. Nói cách khác, “Cơ thể này là của ai?”. Đứa trẻ tuổi dậy thì đang ăn cắp cơ thể của cha mẹ mình và chiếm đoạt các đặc quyền tình dục đi kèm với nó, hay đó là cơ thể của chính nó để làm bất cứ điều gì nó thích? Như đứa con sáu tuổi sớm phát triển của một người bạn từng hỏi mẹ mình: “Mẹ ơi, con là của mẹ, hay con là của con?”.
Tại thời điểm này trong cuộc đời, đứa trẻ bước vào tuổi dậy thì vừa ở trong một cuộc khủng hoảng vừa ở một ngã rẽ. Liệu nó có sẵn lòng bỏ lại thời thơ ấu phía sau và bước vào một thế giới đáng sợ của sự chia ly và độc lập ngày càng tăng?
“Cốt lõi Sơ sinh” của Nhân cách tái xuất hiện và Chi phối ở Tuổi dậy thì:
Khi nỗi lo âu liên quan đến sự chia ly đang lờ mờ hiện ra của cuộc sống trưởng thành kết hợp với những thay đổi nội tiết tố vốn dường như làm tăng cường trải nghiệm của tất cả các cảm xúc, thì tất yếu xảy ra một sự trỗi dậy mạnh mẽ mối tiếp xúc mãnh liệt với tất cả các cảm xúc em bé mà nó đã phải rất gian khổ mới vượt qua được trong tám hoặc mười năm trước đó, kể từ khi là một đứa trẻ chập chững.
Như tôi thích mô tả, cốt lõi sơ sinh của nhân cách được “tái sinh” lên bề mặt của nhân cách ở tuổi dậy thì để có thể được tái cấu trúc một cách có tính xây dựng hơn những gì đã đạt được cho đến nay, nhưng cũng có tiềm năng “đi tong xuống hố”.
Vài năm tiếp theo sau tuổi dậy thì, với các trạng thái tâm trí em bé chi phối như vậy, sẽ đau đớn gần như thời sơ sinh vậy. Wilfred Bion mô tả mối quan hệ của cá nhân đối với các trạng thái tâm trí đau đớn về mặt cảm xúc bằng cách mô tả lựa chọn mà người vị thành niên sẽ có đối với các vấn đề lớn ở cấp độ em bé còn sót lại từ thời thơ ấu.
Mỗi vấn đề sẽ đòi hỏi một hình thức “đối diện và điều chỉnh” nào đó nếu muốn sự tăng trưởng và trưởng thành cảm xúc diễn ra. Lựa chọn thay thế là “né tránh” vấn đề cảm xúc quá đỗi đau đớn đó bằng việc sử dụng các thao tác vô thức “toàn năng”, ngầm ý sự né tránh nỗi đau tâm trí ngay trước mắt và tại khoảnh khắc đó, và do đó, làm suy yếu sự tăng trưởng và trưởng thành đúng nghĩa.
Khi ‘né tránh’ trở thành thái độ bao trùm đối với nỗi đau tâm trí, thì việc sử dụng ma túy hoặc rượu, hành vi phá phách diễn dịch ra hành động (acting out), tống khứ các trạng thái tâm trí vào cơ thể mình một cách ‘tâm thể’ (psychosomatically), v.v. sẽ chi phối sự phát triển. Người ta phải lo ngại rằng việc hợp pháp hóa cần sa sẽ gợi ý cho nhiều người vị thành niên rằng việc trải qua thời vị thành niên trong trạng thái “phê thuốc” hàng ngày là ổn, thay vì coi đó là một sự kiện giải trí thỉnh thoảng. Việc sử dụng hàng ngày sẽ gợi ý cho tôi một sự “né tránh” các nỗi đau của tuổi vị thành niên.
Sự biến chuyển linh hoạt của Danh tính Vị thành niên Sớm khi đi qua những năm Tuổi teen:
Những lựa chọn này, liên quan đến nỗi đau cảm xúc ở cấp độ em bé, là lý do cốt lõi tại sao người ta không đưa ra các chẩn đoán nhân cách trước giữa tuổi vị thành niên là sớm nhất. Ngoại trừ tự kỷ sơ sinh và tâm thần phân liệt thời thơ ấu, hầu như tất cả các chẩn đoán khác đều không thể đưa ra ở thời thơ ấu. Chúng ta có thể xác định một đứa trẻ có nguy cơ gặp phải các khó khăn nghiêm trọng sau tuổi dậy thì và xa hơn nữa, nhưng chúng ta chỉ có thể suy đoán về hình thái mà chúng sẽ chọn. Các thao tác ứng phó và mối quan hệ đối với sự tổn hại cảm xúc sẽ chỉ trở nên vững chắc vào giữa và cuối tuổi vị thành niên (khoảng từ mười sáu đến hai mươi lăm tuổi).
Đối mặt với tổn hại cảm xúc từ rất nặng đến nghiêm trọng sau tuổi dậy thì, với các trạng thái tâm trí em bé quay trở lại nở rộ hoàn toàn, chúng ta có thể thấy người vị thành niên đi theo bất kỳ hướng chẩn đoán lớn nào về mặt phát triển. Dưới đây là danh sách các hướng phổ biến sử dụng thuật ngữ mô tả:
1. Chúng có thể phát triển một “rối loạn tư duy”, bao gồm loạn thần và tâm thần phân liệt.
2. Chúng có thể phát triển một “rối loạn tâm trạng”, tức là trầm cảm có hoặc không có các đặc điểm hưng cảm, có thể bao gồm ý tưởng tự sát.
3. Chúng có thể không xử lý được bất ổn cảm xúc (emotional distress) và viện đến “các chất làm tê liệt tâm trí” như rượu hoặc ma túy.
4. Một cách khác, chúng có thể tống khứ các trạng thái tâm trí (tâm lý) đau khổ này vào cơ thể (thể xác) của mình một cách vô thức và chịu đựng bệnh lý “tâm thể”. Điều này đặc biệt phổ biến khi xu hướng di truyền kết hợp với một môi trường thời thơ ấu không thúc đẩy việc suy nghĩ về các trạng thái cảm xúc.
5. Chúng có thể chịu đựng một “sự hoang mang về giới tính/danh tính” nghiêm trọng, có thể là tạm thời hoặc kéo dài suốt đời.
6. Chúng có thể dễ nảy sinh sự nổi loạn dữ dội chống lại thẩm quyền của cha mẹ và có một rối loạn “hành vi/đạo đức”.
7. Chúng phát triển một cấu trúc nhân cách “bất tuân xã hội/mắc chứng sociopath” mà trong đó chúng “quay lưng lại” với các đối tượng tốt, có hoặc không bao giờ tham gia vào các hành vi phạm tội.
8. Chúng có thể viện đến một “sự kiểm soát ám ảnh - obsessional control” đối với tâm trí và các đối tượng của mình, giữ cho các cảm xúc bị kìm giữ trong một vùng riêng biệt của tâm trí và đứng ngoài các mối quan hệ nhân sinh, sao cho suy nghĩ và cảm xúc không bao giờ được phép tiếp xúc với nhau, ở bất kỳ lĩnh vực nào của cuộc sống, thứ có thể gây ra sự bùng phát của tổn hại cảm xúc không thể kiểm soát.
Dưới đây là bản dịch toàn văn, được trau chuốt theo phong cách dễ hiểu, tự nhiên nhưng vẫn đảm bảo độ chính xác tuyệt đối so với thuật ngữ và ý nghĩa của bản gốc:
9. Một biến thể của Kiểu số 8 với một lối tập trung khác. Họ có thể quyết định rằng toàn bộ cơn bão cảm xúc hỗn độn tuổi dậy thì này vượt quá mức họ muốn dấn thân vào. Do đó, họ rút lui về trạng thái tương đối bình yên và trật tự của "giai đoạn tiềm tàng" (giai đoạn cuối thời thơ ấu).
Ở những cá nhân này, việc hòa nhập xã hội, làm một người tốt, ngoan ngoãn và hợp tác với "người lớn" được đặt lên làm giá trị tối thượng. Trong khi đó, "sự tò mò" và "sự thử nghiệm" đối với thế giới "người lớn" (như tình dục, các mối quan hệ...) – vốn là một phần bình thường trong hành trình khám phá để bước vào đời sống trưởng thành – thường bị hy sinh.
Ở điểm cực đoan của biểu đồ hình chuông, một số người trong nhóm này sẽ không bao giờ bước vào được giai đoạn "kết đôi" của tuổi vị thành niên. Những cá nhân này thường vẫn "kết đôi" và kết hôn, nhưng thiếu đi đam mê của việc tìm kiếm một người tri kỷ. Đến giai đoạn trung niên, họ có nguy cơ nhận ra cuộc sống của mình quá nông cạn, giả tạo và rập khuôn (kiểu "Stepford") để có thể mang lại sự thỏa mãn trọn vẹn.
Tóm tắt
Tôi muốn đưa ra một đánh giá tóm tắt về thời thơ ấu (giai đoạn sơ sinh) và mối quan hệ của nó đối với tuổi dậy thì và tuổi vị thành niên. Nhiệm vụ của thời thơ ấu là mang lại trật tự cho thế giới cảm xúc của trẻ sơ sinh, phát triển một bộ máy tâm trí có thể đương đầu với thế giới bên ngoài, và học cách làm cầu nối giữa thực tại tâm trí của chính mình với thực tại khách quan khi bước đi trong thế giới bên ngoài.
Nhiệm vụ này còn bao gồm cả việc đối phó với hiện tượng "rò rỉ hệ viền" (limbic leakage) – tức là các trạng thái cảm xúc còn sót lại từ thời rất vĩ mô, được lưu trữ dưới dạng các "ký ức bằng cảm xúc" nguyên thủy. Đôi khi, những nỗ lực ở thời thơ ấu và những năm đầu đời không đạt được nhiều thành công trong việc phát triển năng lực để vượt qua các vấn đề sớm này.
May mắn thay, chúng ta có cơ hội thứ hai để vượt qua chúng một cách thành công hơn so với ban đầu. Nghĩa là, tất cả chúng sẽ trồi lại lên bề mặt sau tuổi dậy thì. Nếu may mắn, chúng ta có thể có những bước tiến đáng kể và bước vào cuộc sống trưởng thành một cách ít bị trói buộc hơn bởi thời thơ ấu của mình.
Nếu không may mắn, vì bất kỳ sự kết hợp nào giữa các nguyên nhân bên trong và bên ngoài, chúng ta sẽ gánh nặng suốt phần đời còn lại với những vấn đề cần đến sự trợ giúp từ bên ngoài mới có thể vượt qua. Là những chuyên gia sức khỏe tâm thần, chúng ta sẽ không bao giờ hết việc để làm, nhưng chắc chắn chúng ta sẽ được trang bị tốt hơn nếu hiểu được mối quan hệ giữa các vấn đề của tuổi vị thành niên và thời thơ ấu.
Sự tương quan giữa hai giai đoạn này mạnh mẽ đến mức chúng ta hoàn toàn có thể khai thác kỹ lưỡng tiền sử tuổi vị thành niên – điều mà hầu hết bệnh nhân có thể cung cấp được mà không cần hỏi ý kiến cha mẹ – để từ đó hình dung khá rõ ràng về việc thời thơ ấu của họ đã diễn ra như thế nào nói chung (một điều mà hầu hết bệnh nhân không thể mô tả nếu không có sự trợ giúp của cha mẹ). Người ta thậm chí thường có thể đoán trước các kịch bản hợp lý về những gì đã xảy ra trong thời thơ ấu. Khi tiến hành buổi tham vấn đầu tiên với một bệnh nhân mới, tôi thường xuyên nhận được lời nhận xét từ họ: "Sao bác sĩ biết chuyện đó đã xảy ra?"
Một số bài học rút ra về Tuổi vị thành niên và Phần cốt lõi trẻ thơ của Nhân cách:
Tôi muốn chia sẻ một nhận xét cuối cùng về tuổi dậy thì và giai đoạn đầu vị thành niên, điều thường rất hữu ích cho các bậc cha mẹ có con ở độ tuổi thanh thiếu niên.
Tuổi dậy thì trung bình bắt đầu từ mười một đến mười ba tuổi (dù thật không may, xu hướng này dường như đang ngày càng sớm hơn). Độ tuổi từ mười ba đến mười lăm dường như là thời điểm hỗn loạn và đau khổ tột độ đối với hầu hết các thanh thiếu niên, bởi vì tất cả những cảm xúc thời thơ ấu đã trồi lại lên bề mặt nhân cách.
Mọi thứ thường sẽ bắt đầu đi vào một quỹ đạo ổn định hơn từ nửa sau của năm 15 tuổi và bước sang tuổi 16. Do đó, chúng ta không cho phép thanh thiếu niên lái xe cho đến khi họ ít nhất 16 tuổi. Đến năm 17 tuổi, nhiều thanh thiếu niên đã sẵn sàng tách khỏi cha mẹ để vào đại học. Tuy nhiên, không hiếm trường hợp – khi xét đến các vấn đề thời thơ ấu – một số trẻ cuối vị thành niên sẽ ổn nhất nếu được ở gần nhà hơn, để có được sự an toàn và trấn an từ việc tiếp xúc thường xuyên với cha mẹ.
Những đứa trẻ ở tuổi dậy thì từng rút lui về giai đoạn tiềm tàng đôi khi vẫn háo hức vào đại học vì nghĩ rằng mình có thể làm "người lớn", để rồi sau đó sụp đổ dưới gánh nặng của những cảm xúc "trẻ thơ" không được nhận diện và không được chuyển hóa (un-metabolized), vốn trồi lên bề mặt do kết quả của việc sống xa nhà.
Vì vậy, tôi muốn gợi ý rằng việc nhận ra mối tương quan giữa trải nghiệm thời thơ ấu của một cá nhân với những gì họ có khả năng phải đối mặt ở tuổi vị thành niên là cực kỳ hữu ích. Điều này giúp cho việc lập kế hoạch học tập trong tương lai dễ thành công hơn, thay vì bị sụp đổ dưới sức nặng của những lo âu và vấn đề trẻ thơ chưa được nhận diện.
Người ta có thể lập luận rằng trong một thế giới lý tưởng, tất cả thanh thiếu niên nên có một số buổi tư vấn hoặc trị liệu tâm lý như một phần của kế hoạch chuẩn bị sống xa nhà, khi họ bắt đầu bước vào hành trình tự lập của người trưởng thành.

Bình luận