Các Mô Hình Hệ Klein Về Sự Hình Thành Nhân Cách Thời Ấu Thơ
- Minh Đào
- 4 giờ trước
- 36 phút đọc
Nhận thức sớm nhất của trẻ sơ sinh về mẹ:
Nếu xuất phát từ thực tế rằng một đứa trẻ đã dành chín tháng đầu đời để sống bên trong người mẹ, thì việc đứa trẻ thực sự ghi lại những ký ức về trải nghiệm ở trong bụng mẹ trong những tháng cuối thai kỳ là điều hoàn toàn hợp lý. Đứa trẻ hẳn phải làm quen với nhịp tim, dáng đi và phong cách vận động thể chất của mẹ, cao độ và nhịp điệu giọng nói, phong cách phản ứng cảm xúc cũng như các phản ứng nội tiết đối với những cảm xúc đó, cùng nhiều biến số khác vượt ngoài trí tưởng tượng của chúng ta.
Có rất nhiều nghiên cứu về trẻ sơ sinh đã chứng minh rằng khi đã ra ngoài tử cung, đứa trẻ nhận ra những người mà nó từng tiếp xúc thông qua giọng nói hoặc tiếng hát khi còn ở trong bụng mẹ. Một số nghiên cứu trong số này được thực hiện liên quan đến việc nhận diện người cha sau khi sinh, bên cạnh một vài nghiên cứu thực hiện với người mẹ. Vì vậy, bài học cốt lõi – và là điều không thể bàn cãi – là đứa trẻ đã biết mình từng ở bên trong ai, ngay sau khi nó bước ra ngoài thế giới lạnh lẽo và nghiệt ngã này.
Thực tế này, tức là sự quen thuộc và sự kết nối cảm xúc của trẻ sơ sinh với mẹ (và những người đã ở xung quanh nhiều trong thời thai kỳ), phải có cơ sở từ lịch sử tiến hóa được di truyền theo phát sinh chủng loại (phylogenetically inherited evolutionary history) vốn là nền tảng của chúng ta trên Trái Đất. Nó có giá trị sinh tồn! Nhưng đó cũng là lý do tại sao sự tách biệt, và phản ứng cảm xúc đối với nó, có lẽ là vấn đề cảm xúc nguyên sơ nhất đối với đứa trẻ.
Tính trung tâm của vấn đề "Sự tách biệt" (Separateness):
Trẻ sơ sinh dành phần lớn năng lượng cảm xúc khi thức cho vấn đề tách biệt này. Từ khi sinh ra trở đi, tất cả trẻ sơ sinh đều bị tác động sâu sắc bởi sự chia tách khỏi người mẹ. Vấn đề là ở chỗ, khi sự tác động này có tiềm năng gây hại lớn nhất cho đứa trẻ – tức là trong những ngày, những tuần và những tháng đầu tiên của năm đầu đời – thì mắt người thường nếu không được đào tạo sẽ không thể quan sát trực tiếp được, ngoại trừ các biểu hiện phái sinh (chẳng hạn như sự thay đổi trong thói quen ngủ hoặc ăn uống).
Khi mức độ "nhận thức" của vỏ não tiến bộ hơn trong thời thơ ấu, nhận thức về "sự tách biệt" như một khái niệm mới trong ý thức sẽ trở nên quan trọng căn cốt. Thay vì "phân tách" (splitting off) để giải quyết vấn đề, đứa trẻ có xu hướng trực tiếp bộc lộ phản ứng của mình đối với các sự chia tách. Một mục tiêu lớn trong thời thơ ấu là bắt đầu phát triển năng lực thừa nhận và học cách dung nạp các sự chia tách và sự tách biệt mà không bị vượt quá giới hạn để rồi trở nên "tự cung tự cấp" thái quá (tức là phủ nhận việc bạn quan tâm đến việc cần cha hoặc mẹ). Năng lực giữ cho mình "tách biệt" trong khi vẫn cho phép bản thân quan tâm đến mối quan hệ với người khác tự thân nó đã là một thành tựu phát triển khổng lồ. Điều này có lẽ ít phổ biến ở người trưởng thành hơn mức chúng ta muốn tin.
Trên thực tế, "sự tách biệt" là một vấn đề sẽ mang tính trung tâm trong suốt cả cuộc đời, và có lẽ đại diện cho một trong những trạng thái tâm trí tiến hóa nhất cần đạt được khi một người trưởng thành. Ngược lại, một nhận thức quá sớm và thái quá về sự tách biệt có thể là gốc rễ của một số rối loạn phát triển cực đoan nhất, mà chứng tự kỷ nghiêm trọng ở trẻ em có lẽ là ví dụ cực đoan nhất.
Mẹ tôi thường kể rằng khi còn là một đứa trẻ chập chững biết đi, tôi luôn khăng khăng bắt bà phải ở chính xác nơi tôi biết mình có thể nhìn thấy hoặc tìm thấy bà, nhưng sau đó tôi sẽ đi làm việc chơi đùa của mình, hoàn toàn lờ bà đi, và tôi sẽ ổn miễn là tôi biết mình có thể tiếp cận bà một cách an toàn khi cần. Thực tế, nếu trải nghiệm của tôi với tư cách là một nhà trị liệu hôn nhân có thể chứng minh cho điều gì, thì tôi chẳng tin có lúc nào đó trong đời mà "sự chia tách" và "sự tách biệt" lại không phải là những vấn đề có ý nghĩa cảm xúc trung tâm đối với mọi người.
Thực tế thời thơ ấu và Sự tách biệt:
Cường độ của ý nghĩa cảm xúc này ở một cá nhân cụ thể dường như có khả năng tương quan với một vài vấn đề. Điều rõ ràng nhất sẽ là những sự chia tách sớm khỏi mẹ mang tính sang chấn. Ý tôi muốn ám chỉ các sự chia tách chồng chéo lên bước chuyển dịch đột ngột, khổng lồ đầu tiên với sự kiện đứa trẻ được sinh ra.
Vấn đề thứ hai là tác động từ việc nhận ra – tôi đoán là sau khi sinh (nhưng có thể ngay cả khi còn trong tử cung) – rằng một người phải chia sẻ người mẹ quý giá này với những kẻ xâm nhập khác, rõ rệt nhất là cha và các anh chị em. Việc nhận ra mình phải chia sẻ mẹ dẫn đến, cùng với các thứ khác, cảm xúc mà chúng ta gọi là sự ghen tị (jealousy), thứ tôi sẽ mô tả chi tiết ở phần tiếp theo.
Vấn đề thứ ba tôi muốn chi tiết hóa đã được mô tả một cách hùng hồn bởi một đứa trẻ sáu tuổi khi hỏi một câu hỏi để đời: "Mẹ ơi, con là của mẹ, hay con là của con?". Nói cách khác, khi một đứa trẻ nhận ra mình không sở hữu mẹ và bắt đầu thừa nhận sự tách biệt của bà, nó phải đối mặt với một sự mất mát đau đớn. Nếu người mẹ thực sự tận tụy làm mẹ của đứa trẻ, thì nhận thức này và cảm giác mất mát đi kèm sẽ diễn ra một cách dần dần, không gây sang chấn khi đứa trẻ tiếp tục phát triển đến độ tuổi có thể đối mặt và chấp nhận thực tế cuộc sống này.
Nhưng điều gì xảy ra khi một người mẹ không thể tận tậm đủ để trở thành một "người mẹ đủ tốt" (good enough mother), như bác sĩ nhi khoa kiêm nhà phân tâm học người Anh Donald Winnicott thường nói? Về bản chất, điều gì sẽ xảy ra nếu thực tế về "sự tách biệt" bị cưỡng ép lên một đứa trẻ trước khi nó được trang bị đầy đủ về mặt cảm xúc để đối phó với thực tại đó? Câu trả lời tất yếu là đứa trẻ sẽ bị đẩy vào một phương thức thao túng nào đó để đối phó với nỗi đau khổ, cho dù đó là sự phủ nhận vấn đề, một sự phát triển quá mức của tính "tự cung tự cấp", hay con bài tủ cuối cùng – đi ngược vào bên trong người mẹ, trong tưởng tượng vô thức, để trở thành một "đứa trẻ chưa sinh ở bên trong".
Tóm tắt:
Sự chia tách luôn là cảm xúc chiếm ưu thế và quan trọng phổ quát ở cấp độ lõi của lõi đứa trẻ trong nhân cách. Khi trải nghiệm của đứa trẻ về nỗi đau chia tách quá lớn, nó sẽ tìm đến các thao túng để đối phó với nỗi đau đó.
Nếu đứa trẻ "hướng về" (turning toward) mẹ, nó sẽ nỗ lực để duy trì sự tiếp xúc với bà. Cảm giác tiếp xúc mang lại sự trấn an đó có thể đạt được – như trường hợp thường thấy – bằng việc đứa trẻ chỉ bằng lòng khi được bế đi quanh nhà trong một chiếc địu "áp sát" vào ngực của cha hoặc mẹ.
Cực đoan hơn nhưng ít biểu hiện ra bên ngoài hơn, đứa trẻ có thể đi ngược vào bên trong mẹ thông qua một tưởng tượng về việc trở thành một "đứa trẻ chưa sinh ở bên trong". Tưởng tượng này có lẽ luôn hoạt động một cách phổ biến ở mọi đứa trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ, đặc biệt là khi gặp đau khổ. Thao túng này dễ trở nên nan giải khi được sử dụng như một phương thức liên tục để đối phó với cuộc sống sau thời kỳ thơ ấu – khi nó vẫn cần thiết để đối phó với cuộc sống bên ngoài tử cung. Vấn đề trở nên ngày càng nan giải hơn khi một người lớn lên, bởi vì điều đó đồng nghĩa với việc người đó không phát triển các tập hợp kỹ năng để trở thành một "người trưởng thành độc lập, tách biệt".
Ngược lại, nếu một đứa trẻ đối phó với nỗi đau chia tách bằng cách "quay lưng" (turning away) khỏi mẹ, thì nó có thể mút ngón tay cái, hành xử như thể mình hoàn toàn không cần mẹ, và thậm chí có thể "trở thành mẹ" trong tưởng tượng vô thức, thường là bằng cách đảo ngược vai trò. Có lẽ những phiên bản cực đoan nhất của các thao túng này được nhìn thấy ở những đứa trẻ chập chững biết đi hoặc: (1) hoàn toàn bị bao bọc bởi chứng tự kỷ ở trẻ em, hoặc (2) "đứa trẻ hoàn hảo" không có nhu cầu hay lời phàn nàn nào, kẻ được định sẵn sẽ trở thành một kẻ tâm thần phân liệt thời thơ ấu. Nằm ở giữa các cực đoan này là tính tự cung tự cấp quá mức như được thấy trong "sự toàn năng giai đoạn hậu môn", các nhân cách ái kỷ, v.v.
Hệ quả đối với Nhà trị liệu:
Bởi vì sự chia tách chi phối rất nhiều đời sống cảm xúc ở cấp độ lõi trẻ thơ, mọi nhà trị liệu cần phải xem xét mọi sự chia tách thực tế trong thực tại bên ngoài để giám sát phản ứng cảm xúc của bệnh nhân đối với nó và phương thức đối phó của họ với nó. Điều này có nghĩa là mỗi khi bắt đầu và kết thúc một buổi trị liệu, mỗi dịp cuối tuần, mỗi kỳ nghỉ, mỗi sự gián đoạn bất ngờ của công việc, v.v. đều sẽ khơi dậy một phản ứng ở cấp độ đứa trẻ. Nhà trị liệu nào thất bại trong việc chú ý đến điều này sẽ bỏ lại một trong những vấn đề cảm xúc cốt lõi trong cuộc sống mà không được phân tích. Hơn nữa, liên quan đến việc giữ chân bệnh nhân của một nhà trị liệu, khi không được giải quyết, sự chia tách có lẽ là vấn đề khiến hầu hết các ca đi đến một kết thúc không tốt đẹp và quá sớm.
Điều quan trọng cần lưu ý là sự chia tách chắc chắn sẽ là một vấn đề trung tâm cho tất cả các trẻ sơ sinh phải ra đời qua sớm. Vì vậy, ví dụ, sự chia tách sẽ là một vấn đề chiếm ưu thế ở tất cả các trẻ sinh "non" hoặc bị bỏ rơi để làm "con nuôi". Nó không nhất thiết phải là một vấn đề gây hại, nhưng nó sẽ luôn là một vấn đề đòi hỏi sự chú ý và thấu hiểu. Cha mẹ và các nhà trị liệu nhận thức được các khả năng này sẽ có nhiều khả năng nhận biết và phản hồi một cách mang tính xây dựng hơn khi có bằng chứng cho thấy sự chia tách đang trở thành một vấn đề đối với trẻ sơ sinh hoặc trẻ nhỏ. Sự thấu hiểu luôn tiếp thêm năng lực đối phó của một người ở bất kỳ độ tuổi nào.
Lưu ý về Từ khóa thời thượng mới "Sự chứa đựng" (Containment):
Việc coi sự "chứa đựng" các trạng thái tâm trí của bệnh nhân như một mục tiêu trị liệu cốt lõi đang trở nên ngày càng phổ biến hơn trong một số giới phân tâm học. Chẳng có gì sai khi nói rằng tất cả bệnh nhân đều cần cảm thấy rằng nhà trị liệu của họ có thể "chịu đựng" (bear) các trạng thái tâm trí đau đớn của bệnh nhân và có một sự quan tâm chân chính trong việc duy trì tiếp xúc với họ trong khi cố gắng thấu hiểu những trạng thái tâm trí đau đớn này.
Cũng đúng khi nói rằng có một giá trị trị liệu tích cực cho trải nghiệm này. Bệnh nhân có thể chưa từng gặp ai sở hữu năng lực hoặc sự quan tâm để có sự tiếp xúc sâu sắc như vậy với bệnh nhân khi họ còn là một đứa trẻ sơ sinh hay đứa trẻ nhỏ. Vì vậy, khi một nhà trị liệu thực hiện các chức năng như vậy trong bối cảnh điều trị, đó chắc chắn là một "trải nghiệm cảm xúc sửa đổi" (corrective emotional experience) như nhà phân tâm học người Mỹ Franz Alexander thường nói, vốn có giá trị trị liệu quan trọng.
Vấn đề với ý tưởng về sự chứa đựng là nó có thể bị "lý tưởng hóa" đến mức những thiếu sót của nó bị bỏ qua. Khó khăn cốt lõi là nó có nguy cơ trở thành một "phương thuốc chữa trị chỉ kéo dài chừng nào quá trình điều trị còn diễn ra". Nói cách khác, khi bệnh nhân có trải nghiệm được "chứa đựng" bởi nhà trị liệu này, bệnh nhân đó không nhất thiết phải đang phát triển một năng lực để tự thực hiện các chức năng đó cho chính mình, độc lập với nhà trị liệu. Đây là lúc vấn đề về "sự tách biệt" quay trở lại vị trí hàng đầu.
Trong quá trình lớn lên đúng đắn để bước vào tuổi trưởng thành, "phần trưởng thành của bản thân" (adult part of self) phát triển năng lực "dung nạp" các trạng thái tâm trí đứa trẻ vốn bị khuấy động và đang hoạt động trong các phần con trẻ của nhân cách. Nói cách khác, "cái tôi trưởng thành" sẽ chăm sóc cho "các phần con trẻ của bản thân" khi cá nhân đó gặp đau khổ, và thực hiện các chức năng mà hy vọng là cha mẹ đã thực thi khi người đó lớn lên.
Khi cha mẹ không sẵn sàng hoặc không tương xứng với nhiệm vụ điều hòa nỗi đau của đứa trẻ, "phần trưởng thành của bản thân" sẽ không phát triển đầy đủ. Một nhà trị liệu (hoặc một hình tượng người lớn quan trọng) khi đó phải thực hiện chức năng này để "cách một người trưởng thành đúng đắn hành xử - proper adult functioning" được chứng kiến và phân biệt khỏi sự bắt chước "giả trưởng thành" (pseudo-adult) của nó trong các hình thức khác nhau của "sự toàn năng thời thơ ấu - infantile omnipotence" bị nhầm lẫn với việc làm một "người lớn - grown-up".
Vì vậy, cái khó của khái niệm 'sự chứa đựng' là ở chỗ: dù có giá trị nhất định nhưng tự thân nó chưa đủ. Nó dễ khiến người bệnh nảy sinh cảm giác hòa làm một với nhà trị liệu trong vô thức. Cái mã ngoài theo kiểu 'đã ổn định hơn' sẽ không phải là sự tiến triển bền vững, bởi lẽ 'phần trưởng thành bên trong' vẫn chưa học được cách thấu hiểu các trạng thái tâm thức con trẻ – thứ vốn rất dễ nhấn chìm 'phần con trẻ bên trong' họ. Vai trò người lớn đó thực chất đang do nhà trị liệu gánh vác; một khi nhà trị liệu không còn ở bên, 'phần trưởng thành bên trong' người bệnh sẽ không có đủ sự thấu hiểu để tự mình xoa dịu nỗi đau con trẻ mỗi khi nó trỗi dậy trong tâm tính.
Bài học cốt lõi ở đây là: phải có sự 'thấu suốt' vào các tưởng tượng, lo âu, chiến thuật tự vệ cùng nguồn gốc của chúng ở cấp độ con trẻ. Có như vậy mới nuôi dưỡng được 'năng lực trưởng thành' để nhận diện và biết cách đối phó với chúng một cách thông tuệ. 'Sự chứa đựng' chỉ là một phần trong tiến trình này, chứ không nên được coi là cốt lõi của toàn bộ vấn đề.
Dưới đây là bản dịch toàn bộ phần văn bản được trau chuốt theo văn phong thuần Việt, mượt mà và tự nhiên, giảm bớt sự nặng nề của cấu trúc câu tiếng Anh nhưng vẫn đảm bảo tính chuẩn xác của các thuật ngữ phân tâm học:
CÁC CẢM XÚC CỦA PHẦN CON TRẺ SƠ KHAI TRONG MỐI QUAN HỆ VỚI MẸ: SỰ GHEN TỊ (JEALOUSY)
Tổng quan:
Trước hết, hãy bắt đầu bằng một định nghĩa hữu ích về sự ghen tị.
1 – Đây là một mối quan hệ tay ba, mang tính hình tam giác, dựa trên các đối tượng toàn phần (tức là giữa con người với con người).
2 – Nó bắt rễ chủ yếu từ tình yêu – đây là một điểm mấu chốt.
3 – Tâm điểm trong "tam giác tình yêu" này là khao khát được người mình yêu đáp lại tình cảm, chứ không phải là đem tình cảm đó trao cho một người thứ ba.
Dù ghen tị có thể là một cảm xúc vô cùng đau đớn, nhưng chính việc nó gắn liền với tình yêu đã khiến nó trở thành một cảm xúc "chấp nhận được". Điều này hoàn toàn trái ngược với người chị em kế xấu xí và già dặn hơn của nó – sự đố kị (envy). Vì đố kị gắn liền với sự thù hận nhiều hơn, nên theo bản năng, người ta luôn cảm thấy nó là thứ không hay ho gì. Đây chính là gốc rễ của việc người ta thường gọi tên nhầm sự đố kị thành ghen tị. Chẳng hạn, với câu nói: "Tôi ghen tị với chiếc xe mới của bạn quá", người ta chỉ dùng như vậy chứ chẳng bao giờ nghe thấy điều ngược lại – tức là lấy từ ghen tị để chỉ sự đố kị thực sự!
Nguồn gốc sớm của sự ghen tị:
Hãy bắt đầu hành trình khám phá sự ghen tị bằng cách quay ngược về thời khắc chào đời, cùng với nỗi khó khăn khởi phát khi đứa trẻ không còn cảm thấy mình hòa làm một với người mẹ. Nếu việc sinh ra khiến sự chia tách trở thành một vấn đề nhãn tiền, thì sự ghen tị cũng bám theo ngay sau đó. Đứa trẻ – vốn có toàn bộ đời sống tinh thần ở giai đoạn này đều dính chặt vào hành tung và hoạt động của mẹ – không thể không chú ý mỗi khi mẹ đang bận tâm đến ai đó hoặc cái gì đó khác. Vì đứa trẻ này phụ thuộc hoàn toàn vào mẹ, nó sẽ ngày càng nhận thức rõ ràng rằng khi mình không nhận được sự chú ý từ bà, thì một ai đó khác có thể đang là người tận hưởng điều đó. Thêm vào đó, khi đứa trẻ dần nhận ra mình yêu mẹ nhường nào và khao khát được mẹ yêu lại ra sao, việc chứng kiến mẹ ở bên một người khác càng làm nỗi đau ấy nhân lên.
Vì người cha thường là người đầu tiên, ngoài mẹ, dành nhiều thời gian cho đứa trẻ, nên ông thường là "người khác" chính yếu trong cuộc đời của mẹ. Nếu việc trẻ sơ sinh có "khuynh hướng bẩm sinh" (predisposed) chờ đợi sự xuất hiện của một hình tượng người cha trong đời là đúng (mà Bion gọi là 'tiền khái niệm' – preconception, bắt nguồn từ di sản phát sinh chủng loại), thì điều đó càng làm tăng thêm nhận thức tiềm tàng về một "tình thế tay ba" – mảnh đất màu mỡ cho sự ghen tị nảy nở. Nói vậy không có nghĩa là người cha không thể là đối tượng cốt lõi của sự ghen tị. Cảm giác đó thường cũng sẽ phát triển, nhưng có lẽ là muộn hơn trong thời thơ ấu; bởi sau khi sinh, mẹ thường là đối tượng cốt lõi đầu tiên sau chín tháng nằm trong bụng mẹ, cùng với nhận thức sâu sắc đi kèm về sự hiện diện và các phẩm chất của bà.
Nếu chúng ta coi người cha/mẹ chính yếu là đối tượng của tình yêu và người cha/mẹ còn lại là tình địch, thì chúng ta đã chạm đến tình thế "Mặc cảm Oedipus" mà Sophocles đã khắc họa vô cùng tài tình trong các vở kịch của mình. Nói bên lề một chút, tôi luôn thấy kinh ngạc mỗi khi nghe một người thuộc giới phân tâm học tuyên bố rằng "Mặc cảm Oedipus" không hề tồn tại hoặc chẳng có gì quan trọng. Phải chăng người đó chưa từng là một đứa trẻ nhỏ? Nếu còn nghi ngờ, hãy thử làm cha mẹ: hãy đón người vợ/chồng của bạn vào giờ ăn tối khi họ đi làm về, hôn nhau trước mặt một đứa trẻ chập chững đang ngồi trên chiếc ghế ăn dặm cao, rồi hãy nhìn vào môi dưới của nó mà xem. Đứa trẻ sẽ mếu máo khóc chỉ trong vòng 1,39 giây!
Đối phó với sự ghen tị thời thơ ấu:
Thực tế này dẫn đến hệ quả là: nếu một đứa trẻ đang lớn phải trải qua quá nhiều trải nghiệm ghen tị đau đớn – dù là do thực sự mất đi sự chú ý của mẹ (chẳng hạn như có quá nhiều anh chị em sinh ra quá sát nhau) hay do bất kỳ nguyên nhân nào khác – nó sẽ tìm đến các chiến thuật tự vệ để né tránh nỗi đau.
– Chiến thuật rõ ràng nhất, dù hơi cực đoan, để đối phó với sự ghen tị là "tiết chế tình yêu" của mình dành cho bất kỳ ai.
– Hoặc ngược lại, giống như tôi từng thử hồi còn nhỏ, người ta có thể tìm cách "kiểm soát chiếm hữu" đối tượng yêu thương, khiến đối tượng đó không thể ở bên ai khác. Sự kiểm soát này có thể thực hiện từ bên ngoài đối tượng, hoặc bằng cách đi ngược vào bên trong đối tượng để trở thành một "đứa trẻ chưa sinh ở bên trong".
Một dạng phái sinh của tưởng tượng phía sau này thường được thấy ở giai đoạn muộn hơn trong đời, thông qua khao khát chế ngự của người đàn ông muốn thâm nhập vào cơ thể người phụ nữ bằng dương vật của mình, nhằm sở hữu và kiểm soát cô ấy. Tưởng tượng ngược lại từ phía người phụ nữ đối với người đàn ông cũng có thể xảy ra, nhưng có lẽ ít mang tính thúc đẩy về mặt sinh học hơn.
Sự cạnh tranh giữa anh chị em, Sự đố kị và Sự ghen tị hoang tưởng:
Sự kết hợp giữa đố kị và ghen tị chính là nguyên nhân lớn cấu thành nên tình thế cảm xúc mà chúng ta thường gọi là "sự cạnh tranh giữa anh chị em" (sibling rivalry). Đây là điều phổ biến trong mọi gia đình có từ hai con trở lên và thường có cường độ mãnh liệt hơn nhiều so với dự tính của các bậc cha mẹ, bởi người lớn thường đã mất kết nối với cảm xúc này sau khi bước qua tuổi vị thành niên. Nó vẫn âm thầm vận hành suốt cả cuộc đời, thường với cường độ mạnh mẽ y như thời thơ ấu, nhưng đã được hợp lý hóa hoặc phủ nhận, và vì thế người ta không nhận ra rằng nó thực chất là sự nối dài trực tiếp của lòng đố kị và sự ghen tị thời thơ ấu.
Trong những tình huống mà các anh chị em sinh ra quá sát nhau, sự cạnh tranh này thường biểu hiện thành sự khoảng cách và ghẻ lạnh kéo dài suốt cả cuộc đời giữa họ.
(Lưu ý: Nếu khoảng cách từ 24 đến 36 tháng là khoảng thời gian lý tưởng nhất giữa các lần sinh, thì sự ghen tị sẽ tăng lên rất dữ dội theo từng tháng thiếu hụt dưới mức 24 tháng, và sẽ biến thành một trận đại địa chấn ghen tị theo hàm số mũ với mỗi tháng thiếu hụt dưới mức 18 tháng).
Tạm gác lại chuyện cạnh tranh rõ rệt giữa anh chị em, bất cứ khi nào ta bắt gặp một sự ghen tị mãnh liệt đến mức bất thường, dù là ở thời thơ ấu hay giai đoạn muộn hơn trong đời, ta nên cân nhắc đến khả năng nó đã hòa lẫn với lòng đố kị vô thức từ thuở sớm; có điều lòng đố kị này không dễ gì bóc tách ra khỏi sự ghen tị. Thậm chí còn tồn tại một trạng thái gọi là "ghen tị hoang tưởng" (delusional jealousy) – thứ thực chất có thể là sản phẩm của lòng đố kị vô thức nhiều hơn, nhưng lại được người bệnh thêu dệt theo cách khiến nó trông như thể là chuyện ghen tị tình cảm.
Một trong những tác nhân góp phần tạo nên sự nhầm lẫn này là thực tế: khi ta dò tìm sự ghen tị ngược về thời thơ ấu sớm nhất, ranh giới của nó sẽ nhòa dần vào lòng đố kị. Điều này có thể được hình dung qua ý niệm rằng: hình thái sơ khai nhất của một mối quan hệ tay ba chính là đứa trẻ với hai bầu ngực mẹ, nơi đứa trẻ cảm thấy mình bị bỏ rơi bên ngoài một "bữa tiệc" mà hai bầu ngực đang rủ nhau tận hưởng. Trong tưởng tượng đó, đứa trẻ đang đố kị với những khoái cảm mà hai bầu ngực mang lại cho nhau nhiều hơn là đang ghen tị về tình yêu mà bầu ngực này dành cho bầu ngực kia.
Nếu lấy đó làm mô hình hay nguyên mẫu, ta có thể nhận ra rằng một số tình huống trong cuộc sống của người trưởng thành nhìn bề ngoài thì giống như ghen tị, nhưng thực chất lại thấm đẫm lòng đố kị vô thức hơn bất kỳ ai nhận biết được.
Tóm tắt:
Ghen tị là một trong những cảm xúc cốt lõi mà mọi đứa trẻ đều phải đương đầu trong mối quan hệ với người mẹ yêu dấu của mình, và ở mức độ thấp hơn – ít nhất là lúc ban đầu – với cả người cha nữa. Vì ghen tị gắn liền với một cảm xúc đáng ao ước xét theo tiến trình phát triển – đó là tình yêu – nên nó có thể đau đớn, nhưng vẫn nằm trong phạm vi của "sự lành mạnh". Nhìn chung, nó sẽ không leo thang đến mức trở thành vấn đề nan giải trừ khi các tình huống bên ngoài kích động nó một cách trầm trọng (ví dụ: khoảng cách giữa các lần sinh quá ngắn, trẻ ngủ chung phòng với bố mẹ, sự thiên vị của cha mẹ, v.v.).
Vậy bây giờ, hãy cùng chuyển sang một tình thế cảm xúc nan giải hơn vô số lần: Lòng đố kị vô thức.
Dưới đây là bản dịch toàn bộ phần văn bản về Lòng đố kị vô thức (Unconscious Envy) được trau chuốt theo văn phong thuần Việt, tự nhiên, mượt mà và giữ đúng tinh thần của hệ thuật ngữ phân tâm học Melanie Klein:
CÁC CẢM XÚC CỦA PHẦN CON TRẺ SƠ KHAI TRONG MỐI QUAN HỆ VỚI MẸ: LÒNG ĐỐ KỊ (ENVY)
Tổng quan:
Nếu như châu Phi tự hào với nhóm "Năm đại thú" (Big Five) gồm voi, sư tử, tê giác, báo và trâu rừng, thì Melanie Klein cũng có nhóm "Hai đại thể" (Big Two) của riêng bà – đó là lòng đố kị vô thức và các tiến trình phóng chiếu. Có thể nói, đây vừa là hai thành tố tinh thần nằm xa tầm nhận thức tỉnh táo của con người nhất, lại vừa là những yếu tố quan trọng nhất chi phối đời sống hàng ngày. Tình yêu – thứ dễ chạm đến bằng nhận thức hơn nhiều – là cảm xúc hoặc cơ chế duy nhất trong các mối quan hệ có tầm quan trọng tương đương để đặt lên bàn cân với chúng.
Trước tiên, hãy bắt đầu bằng một định nghĩa hữu ích về lòng đố kị:
1 – Đây là mối quan hệ giữa hai bên ở cấp độ "đối tượng một phần" (part-object) – tức là hướng vào một phần hoặc một khía cạnh nào đó của một con người.
2 – Nó bắt rễ từ sự thù hận nhiều hơn tình yêu – đây là một điểm cực kỳ mấu chốt, dẫu cho bên trong nó vẫn ngầm chứa một thành tố của sự ngưỡng mộ.
3 – Tâm điểm của nó là sự so sánh giữa bản thân và người khác trên ba phương diện: (1) phẩm chất, (2) năng lực, hoặc (3) sự sở hữu. Khoảng cách chênh lệch mà một người cảm thấy giữa mình và người khác chính là nỗi đau mà chúng ta gọi là lòng đố kị.
Khi tôi nói ra điều này, có thể bạn sẽ không thấy ngay được tầm ảnh hưởng của nó, nhưng không nghi ngờ gì nữa, lòng đố kị vô thức chính là vấn đề gây tranh cãi và tốn nhiều giấy mực nhất trong toàn bộ lịch sử phân tâm học. Với nhiều người, thật là một ý nghĩ kinh khủng khi cho rằng một đứa trẻ vừa chui ra khỏi bụng mẹ đã có thể lập tức tuyên bố: "Mẹ ơi, tại sao mẹ lại được làm người lớn, có mọi thứ, biết mọi thứ và làm được mọi thứ; trong khi con lại phải làm đứa trẻ nhỏ bé, bất lực, người ngợm đầy phân thế này? Con ghét điều đó! Hay là mẹ làm em bé đi, còn con làm mẹ cho?"
Ý nghĩ đó đã dập tắt hoàn toàn sự lý tưởng hóa của chúng ta về tuổi thơ ấu như một quãng thời gian ngọt ngào và êm đẹp! Tôi nghĩ cái khó thực sự ở đây là mỗi người trong chúng ta đều phải đối diện với sự thù hận đố kị của chính mình – một phản ứng cảm xúc ở cấp độ con trẻ sơ khai mà chúng ta có nguy cơ phải gánh chịu hàng ngày, nếu không muốn nói là hàng giờ. Giải pháp cho phần góc khuất cốt lõi này trong bản tính con người (thứ mà tất cả chúng ta đều được trang bị dư dả khi chào đời) chính là: hãy làm điều đúng đắn và đổ hết tội lỗi lên đầu người mẹ! [Nói đùa]
Ý tôi muốn ám chỉ là điều này thường được thực hiện một cách vi tế hơn, dưới hình thức ngụy biện rằng phản ứng đố kị của đứa trẻ là một sự đáp trả đáng tha thứ trước sự tước đoạt (tức là do một người mẹ tồi tệ hoặc bỏ bê ép buộc đứa trẻ phải chịu đựng), tương tự như việc giết người có lý do chính đáng. Không còn nghi ngờ gì nữa, sự tước đoạt có thể làm tăng cường độ của lòng đố kị, nhưng nếu thế thì người ta sẽ kỳ vọng rằng việc bù đắp những gì đứa trẻ không nhận được thuở ban đầu sẽ giải quyết được vấn đề. Thế nhưng, điều đó gần như chẳng bao giờ ngăn được lòng đố kị tiếp tục tràn lan trong nét tính cách của cá nhân đó.
Bạn sẽ thấy ngay điều này khi nghiên cứu lối sống của giới siêu giàu và quan sát được hai điều. Thứ nhất, họ không bao giờ cảm thấy mình có đủ – dù là vật chất hay tiền bạc. Thứ hai, họ luôn so sánh mình với một ai đó khác mà họ tưởng tượng là đang có nhiều hơn họ một cái gì đó. Gốc rễ của những thái độ này luôn liên kết một phần với lòng đố kị sâu kín trong vô thức.
Lòng đố kị đó đã bắt đầu từ thuở lọt lòng, khi người mẹ có tất cả còn đứa trẻ cảm thấy mình chẳng có gì khi so với mẹ. Thái độ đó tiếp tục diễn tiến ở một cấp độ sâu thẳm trong vô thức suốt cuộc đời của người giàu có kia, nhưng đã được chuyển dịch từ người mẹ sang bất cứ thứ gì mà sau này người đó quyết định gán cho giá trị – dù là của cải, quyền lực, tầm ảnh hưởng, sự khét tiếng, hay việc quen biết những người giàu sang và nổi tiếng, v.v.
Tại sao Lòng đố kị lại là một Vấn đề Nhạy cảm đến thế?
Tại điểm này, tôi muốn làm nổi bật một vài lý do khiến chủ đề này trở nên quá khó để con người chấp nhận và muốn khám phá.
1 – Vấn đề trung tâm nhất là lòng đố kị vô thức có tiềm năng gây ra nỗi đau lớn đến mức nó gần như luôn bị xử lý ngay vào khoảnh khắc nó vừa được cảm nhận trong vô thức. Nghĩa là trước khi nó kịp chạm tới nhận thức tỉnh táo, nhân cách đã ra tay thực hiện các bước phòng vệ để ngăn chặn bất kỳ trải nghiệm đau đớn nào. Vì vậy, đây là một chủ đề hiếm khi được đề cập trực tiếp, kể cả trong trị liệu, cho đến khi nhà trị liệu chủ động khơi gợi cuộc thảo luận về nó. Ngay cả trong cuộc sống hàng ngày, khi mọi người tham gia vào các cuộc buôn chuyện nói xấu hoặc tranh luận thù địch về người khác (những hành vi mà lòng đố kị vô thức thực chất chính là nền tảng), từ "đố kị" cũng không bao giờ được nhắc đến trực tiếp. Tôi sẽ mở rộng điều này khi chúng ta thảo luận về các cơ chế phòng vệ chống lại trải nghiệm đố kị.
2 – Trở ngại lớn thứ hai khiến ta khó nhận thức được lòng đố kị như một khái niệm tỉnh táo là vì nguồn gốc của nó xuất hiện quá sớm trong đời, đến mức ta rất khó để hình dung ra được. Việc lòng đố kị bắt đầu từ phản ứng của đứa trẻ đối với mẹ ngay sau khi sinh là điều diễn ra sớm hơn rất nhiều so với bất kỳ ký ức nào mà chúng ta có thể nhớ lại một cách tỉnh táo khi đã lớn lên.
3 – Trở ngại thứ ba, vi tế hơn nhưng rất mạnh mẽ, gắn liền với xu hướng tự nhiên của con người là lý tưởng hóa tuổi thơ. Chúng ta dường như mặc định nhìn nhận tuổi thơ như một thời kỳ của sự ngây thơ và thánh thiện, điều này hóa ra lại hoàn toàn mâu thuẫn với khái niệm về lòng đố kị vô thức do Melanie Klein phát triển. Ý tưởng của bà là: chính "sự tốt lành và rộng lượng" thực tế của người mẹ mới là thứ đáng đố kị nhất trong số mọi đặc điểm cuộc sống liên quan đến mẹ.
Tôi từng nghe một vở kịch hài có nội dung chính rất tài tình nói về việc bị mẹ "quấy rối" vì bà "bắt tôi phải bú mớm suốt mấy tháng trời sau khi tôi sinh ra – tôi sẽ kiện mụ già đó ra tòa!". Nếu câu nói đó là chân thành, nó sẽ khắc họa một cách hoàn hảo bản chất sơ khai nhất của lòng đố kị vô thức.
4 – Biến chứng cuối cùng trong chương truyện cố gắng hình dung về lòng đố kị vô thức là: khi lòng đố kị được một cá nhân thừa nhận một cách tỉnh táo, và những hệ quả hủy hoại của các cơ chế phòng vệ mà họ từng sử dụng được nhìn nhận, thì có hai nguồn đau đớn khác sẽ lập tức hòa vào cuộc chơi. Thứ nhất là cảm giác tội lỗi nặng nề vì những tổn thương mình đã gây ra. Thứ hai là sự đau khổ khi nhận ra việc ngăn chặn sự tấn công ồ ạt của các phản ứng đố kị vô thức khó khăn đến nhường nào khi một người muốn cải thiện thái độ và hành vi của mình (điều này được minh chứng rất rõ trong các giấc mơ của họ). Khi anh ta cố gắng ngăn chặn sự biểu hiện của lòng đố kị ở vùng này, nó lại mọc lên ở một vùng khác. Giống như những cái đầu rắn của quái vật Hydra trong thần thoại Hy Lạp, bạn vừa chặt đứt một cái đầu thì hai cái đầu khác lại xuất hiện.
Nguồn gốc của Lòng đố kị từ Thuở Sơ khai nhất:
Tại điểm này, chúng ta nên mở rộng về những chiếc rễ nguyên thủy của lòng đố kị và sau đó mô tả các cơ chế phòng vệ chống lại mọi trải nghiệm về nó.
Để kiến tạo một mô hình cho nguồn gốc của lòng đố kị vô thức, tôi nghĩ cách tốt nhất là trước hết hãy bày ra những gì có khả năng là góc nhìn nguyên sơ của đứa trẻ khi chào đời. Tôi sẽ dùng từ ngữ để gọi tên cho những trải nghiệm vốn có thể bắt đầu dưới một hình thái vô định hình, không thể suy nghĩ và còn phôi thai. Đứa trẻ lập tức bắt đầu trải nghiệm một loạt các kích thích tràn ngập, nhiều cái gây đau đớn, và nó không có năng lực để thấu hiểu, kiểm soát hay quản lý toàn bộ tình huống đó.
Nó hoàn toàn bất lực, hoàn toàn bất tài (đôi khi ngay cả việc bú mớm cũng không xong), và chẳng hiểu một cái gì hết! Để làm trầm trọng thêm tình trạng sự việc đó, chúng ta phải thêm vào thực tế là nó hoàn toàn phụ thuộc và nằm dưới lòng thương hại của một ai đó khác, thường là người mẹ. Trái ngược với tình cảnh đau đớn tội nghiệp của đứa trẻ, người kia dường như – như tôi đã đề cập trước đó – có mọi thứ, biết mọi thứ và làm được mọi thứ.
Đối với nhiều đứa trẻ, một người mẹ đến giải cứu tại thời điểm đó là một tình huống chấp nhận được; và dù không quên trải nghiệm đó đau đớn ra sao, chúng vẫn tiến về phía trước và đẩy nhận thức về nỗi khổ sở trước đó sang một bên. Ý tôi muốn nói là nỗi đau của việc quá nhỏ bé, bất lực và phụ thuộc không hề biến mất hoàn toàn, và mọi con người đều sẽ nhớ phản ứng của mình đối với nó. Tuy nhiên, đối với một vài đứa trẻ, việc phải chịu sự bất lực như vậy là một sự xúc phạm vào lòng tự tôn của chúng nhiều hơn so với những đứa trẻ khác, và chúng không thể dễ dàng bỏ qua như vậy. Tôi đoán đây ít nhất là một phần, hoặc thậm chí phần lớn, là một phản ứng được di truyền về mặt sinh học.
Đây chính là gốc rễ của nhiều tranh cãi phân tâm học sau này; bởi không nghi ngờ gì nữa, một người mẹ không có khả năng xoa dịu nỗi đau cảm xúc của thời thơ ấu sẽ làm tăng tiềm năng đứa trẻ cảm thấy căm ghét trạng thái trẻ con của mình và thèm khát trạng thái đáng đố kị của người mẹ nhiều hơn nữa. Nhưng theo ấn tượng của tôi từ những cuộc tự khám phá sâu sắc về bản thân, về nhiều bệnh nhân và từ việc quan sát nhân loại nói chung, chiếc rễ quan trọng nhất của nó là do di truyền. Những ai đọc tiểu sử của các nhân vật lừng lẫy và khét tiếng nhất trong lịch sử sẽ nhận thấy lòng đố kị vô thức luôn là một mảng màu lớn trong bức tranh cuộc đời họ.
Đối với tôi và hầu hết những người khác, thành tố gây đau đầu nhất của lòng đố kị là nó thường xuất hiện nhất như một sự đáp trả đối với "sự tốt lành" của đối tượng bị đố kị. Tôi chợt nhớ đến câu châm ngôn "không có việc tốt nào mà không bị trừng phạt" và lời quan sát hóm hỉnh của Mark Twain rằng sự khác biệt cơ bản giữa con người và loài chó là một con chó sẽ không cắn bàn tay đang cho nó ăn. Lòng đố kị vô thức luôn là thủ phạm chính mỗi khi sự tốt lành và rộng lượng bị tấn công. Ý tưởng đi ngược lại trực giác này rất khó để hầu hết mọi người thấu hiểu ở cấp độ cảm xúc, ngay cả khi họ "nắm được lý thuyết của nó". Người ta phải quay lại trải nghiệm sự tốt lành này trong bối cảnh nỗi đau và sự thấp kém kinh khủng của đứa trẻ để nhận ra rằng: việc nhìn thấy người mẹ tràn đầy hạnh phúc, sự thỏa mãn và sẵn sàng chia sẻ nó một cách rộng lượng – thực chất lại là một điều quá đau đớn để có thể dung nạp.
Klein đã nỗ lực đưa điều này vào các thuật ngữ mang tính thực nghiệm lâm sàng khi bà mô tả mối quan hệ của đứa trẻ với bầu ngực: đứa trẻ trải nghiệm bầu ngực như nguồn cội của mọi thứ nó cần và ao ước. Sự mở rộng tự nhiên của điều đó sẽ là khao khát muốn có được tất cả các phẩm chất của bầu ngực (ví dụ: sự hạnh phúc và rộng lượng), các năng lực (ví dụ: tạo ra thức ăn, lưu trữ và cung cấp nó), và các thứ nó sở hữu (ví dụ: sữa và núm vú/dương vật để cung cấp sữa). Suy ngẫm về lòng đố kị ở cấp độ cực kỳ sớm và nguyên thủy này là một bài tập đòi hỏi một "bước nhảy của niềm tin" đối với hầu hết mọi người; và vì lý do đó, tôi thấy ích lợi khi cứ hiểu lý thuyết trước rồi đơn thuần chờ đợi bất kỳ dữ liệu nào từ các quan sát lâm sàng có thể làm sáng tỏ tư duy của mình.
Tuy nhiên, mô hình nguyên thủy này của lòng đố kị lại cực kỳ hữu ích trong việc giải thích một số hiện tượng trong phòng tham vấn và trong thế giới xung quanh chúng ta mà không một mô hình nào khác có năng lực giải thích thỏa đáng. Hãy lấy ví dụ về nữ văn sĩ nổi tiếng Virginia Woolf, người đã bắt trọn bản chất của lòng đố kị khi bà nói: "Mỗi khi nghe về thành công của một ai đó, một phần nhỏ bên trong tôi lại chết đi."
Tính Hủy hoại của các Cơ chế Phòng vệ Vô thức Chống lại Lòng đố kị:
Tại điểm này, chúng ta cần khám phá nửa sau lý do tại sao lòng đố kị vô thức lại là một "cú giáng kép" (double whammy) cho nhân loại. Nó không chỉ đau đớn đến mức không thể chịu đựng nổi, mà những phản ứng đối phó với nó còn mang tính hủy hoại rất nan giải, cho cả bản thân lẫn người khác. Bằng "các phản ứng đối phó với nó", ý tôi muốn nói là các chiến thuật tự vệ. Hệ quả là đối tượng của lòng đố kị thường bị tổn hại, và người có lòng đố kị cũng đánh mất luôn sự tốt lành của đối tượng bị tổn hại đó, cũng như đánh mất sự tốt lành của chính mình do đã hủy hoại đối tượng. Tôi sẽ thử đưa ra một danh mục khiêm tốn về các chiến thuật được sử dụng để né tránh trải nghiệm đố kị:
1 – Người ta có thể hủy hoại (spoil) đối tượng của lòng đố kị để nó không còn đáng đố kị nữa. Đây là một cách rẻ tiền, nhanh chóng, bẩn thỉu và hiệu quả để đối phó với lòng đố kị. Nó cũng rất nan giải, một phần vì nó lập tức tạo ra kỳ vọng vô thức về sự trả đũa, và nó tàn phá chính những phẩm chất "tốt đẹp" trong cuộc sống mà đáng ra người ta nên hy vọng sẽ học hỏi và có được vào một ngày nào đó.
2 – Người ta có thể phủ nhận (deny) rằng mình không hề có chút đố kị nào. Điều này tiêu tốn nhiều nỗ lực vô thức hơn mức nhìn thấy trước mắt và làm cạn kiệt các nguồn lực cũng như chính cuộc sống của một người. Đó là tấm vé một chiều dẫn đến một cuộc đời hạn hẹp; và trong trường hợp cực đoan, sự phủ nhận có thể dẫn đến định kiến, sự cứng nhắc và/hoặc sự nhạt nhẽo.
3 – Người ta có thể phóng chiếu (project) "năng lực cảm thấy đố kị" của chính mình vào một ai đó khác – điển hình là cha mẹ, anh chị em hoặc người phối ngẫu – để người kia bị nhìn nhận như một kẻ đố kị và hủy hoại xấu xa.
4 – Người ta có thể phóng chiếu "phần con trẻ bên trong vốn đang đau đớn vì sự nhỏ bé và đố kị" vào người khác bằng cách phô trương một cách lộ liễu – giống như một con công đực – những gì rất đáng đố kị ở bản thân. Điều này tương tự như việc một người đàn ông đi vào một lớp học mẫu giáo, lôi dương vật của mình ra và khoe khoang kích thước của nó. Nó thường hiệu quả trong việc khiến người khác cảm thấy đố kị, nhưng không hề chữa lành được lòng đố kị của chính mình.
5 – Người ta có thể dung nạp (tolerate) lòng đố kị và tự nuôi dưỡng bản thân lớn mạnh lên bằng cấp độ của đối tượng. Tôi thấy thật nhún nhường khi phải thừa nhận rằng tôi từng dạy cả một khóa học về lòng đố kị mà không hề nghĩ đến khả năng này, cho đến khi một học viên đặt câu hỏi về nó. Tôi đã quá quen với việc bản thân sử dụng bốn chiến thuật trước đó đến nỗi không nhận ra một khả năng mang tính xây dựng về mặt cảm xúc. Và, như bạn có thể nhận thấy, dung nạp nhận thức về sự tốt lành của một ai đó gần như đồng nghĩa với việc bạn nói rằng bạn ngưỡng mộ họ.
(Lưu ý: Học phần Bốn chứa đựng một cuộc thảo luận chi tiết hơn về lòng đố kị vô thức).
Tác động của Lòng đố kị Vô thức lên Cuộc sống Hàng ngày:
Với tất cả những điều trên làm phông nền, bây giờ tôi muốn thử đưa ra một ý tưởng để xem bạn nghĩ thế nào. Sẽ ra sao nếu hầu hết những gì mang tính hủy hoại xảy ra trên hành tinh Trái Đất này hóa ra đều có liên quan đến lòng đố kị vô thức? Tôi không thể chứng minh điều đó là đúng, nhưng đó là một góc nhìn phản biện cực kỳ hữu ích. Tôi nghi ngờ đố kị là một trong những thành tố chính của nhiều cuộc chiến tranh trong suốt chiều dài lịch sử nhân loại. Bất cứ nơi nào một nhóm người được nhìn nhận là có sự giàu có hoặc đặc quyền, một nhóm người khác sẽ thèm khát nó và khơi mào chiến tranh vì nó, thậm chí đến mức diệt chủng.
Trước khi Hoa Kỳ tống khứ Saddam Hussein ra khỏi Kuwait vào đầu những năm 1990, tôi nghi ngờ lý do đằng sau việc người Iraq phóng hỏa các mỏ dầu của Kuwait là vì, bên cạnh những thứ khác, người Kuwait quá đáng đố kị, và Hussein muốn hủy hoại hạnh phúc và sự mãn nguyện của họ. Ở Rwanda vào những năm 1990, người Hutu đố kị với người Tutsi (cái tên theo nghĩa đen có nghĩa là "giàu trâu bò"), và hệ quả là cuộc tàn sát kinh hoàng đối với tất cả mọi người, bao gồm cả phụ nữ và trẻ em.
Đây là điểm mấu chốt: Bản thân lòng đố kị vô thức không phải là thứ mang tính hủy hoại, dù cho nó có thể nằm trong số những cảm xúc đau đớn nhất của con người. Chính các cơ chế phòng vệ chống lại mọi trải nghiệm về lòng đố kị mới là thứ gây ra nhiều tổn hại và tàn phá đến thế. Có thể mất nhiều năm để xây dựng một tòa nhà tráng lệ, nhưng nó có thể bị biến thành đống đổ nát trong vài giây bằng những khối thuốc nổ được đặt cẩn thận. Chỉ mất vài giờ để đánh sập tòa tháp đôi của Trung tâm Thương mại Thế giới, hủy hoại mạng sống của hàng ngàn người và ảnh hưởng tiêu cực đến cuộc sống của hàng triệu người khác.
Vì vậy, hãy quay lại với thời khắc chào đời và cái tình cảnh có thể tồi tệ nhường nào khi làm một đứa trẻ túng thiếu, bất lực. Như tôi đã gợi ý trước đó, một vài đứa trẻ – vì những lý do bẩm sinh, có lẽ do di truyền – chỉ ghét việc một ai đó khác sở hữu và là nguồn cội của mọi sự tốt lành. Sau một bài giảng tôi từng thực hiện về các biểu hiện lâm sàng của lòng đố kị vô thức, một bác sĩ tâm thần – người đã dành cả sự nghiệp của mình để làm việc với các bệnh nhân tâm thần phân liệt tại một bệnh viện tâm thần công – đã tiến lại gần tôi với vẻ vô cùng hào hứng. Bà nói rằng bà luôn nghĩ rằng nếu có một "gen" khiến ai đó dễ mắc bệnh tâm thần phân liệt, thì đó sẽ là gen quy định "lòng đố kị". Bà tiếp tục mô tả cách mà hầu như tất cả các cá nhân phải nhập viện mãn tính tại cơ sở của bà dường như đều bị bủa vây một cách phổ biến bởi cảm xúc đó. Bà đã giữ ấn tượng đó cho riêng mình cho đến khi nghe bài giảng này.
Có một vấn đề cố hữu cho bất kỳ ai muốn tìm kiếm bằng chứng về tầm ảnh hưởng của lòng đố kị khi quan sát một đứa trẻ sơ sinh. Cái oái oăm là bạn phải thực hiện nhiều năm theo dõi để xem liệu những nghi ngờ của bạn về lòng đố kị, như một vấn đề trung tâm của đứa trẻ đó, có được chứng minh theo thời gian hay không. Tôi từng thấy những trẻ sơ sinh hoặc trẻ chập chững từ chối cho phép người mẹ làm một số việc cho chúng, thậm chí từ chối gọi bà là mẹ mà thay vào đó gọi mẹ bằng tên khai sinh của bà.
Vậy làm thế nào người ta biết được liệu điều này có phải là do lòng đố kị vô thức hay không, ngay cả khi đó dường như là giả thuyết tốt nhất? Câu trả lời cần có thời gian, và thường bạn phải đợi cho đến giai đoạn muộn hơn trong đời mới quyết định được. Tôi từng có một bệnh nhi gặp phải những bất ổn rất nghiêm trọng. Suốt bảy năm trời, tôi đã đưa ra vô số lời diễn giải về lòng đố kị, nhưng chưa bao giờ nhận được bất kỳ sự xác nhận trực tiếp nào. Vài năm sau khi đã dừng các buổi trị liệu của chúng tôi, cậu quay lại thăm và nhận xét vào thời điểm đó, giờ đã ở độ tuổi giữa hai mươi, rằng cậu tự nghĩ về bản thân như một "người đố kị nhất mà cậu từng biết". Điều đó rất buồn, nhưng vẫn là một trải nghiệm "mở mang tầm mắt" đối với tôi.
Lòng đố kị Vô thức trong Bối cảnh Lâm sàng:
Lòng đố kị vô thức đặt ra một số vấn đề độc nhất vô nhị cho nhà lâm sàng. Trước hết, nó sẽ không bao giờ xuất hiện trong liệu pháp cho đến khi nhà trị liệu chủ động khơi mở chủ đề này. Đôi khi, một cách khá kinh ngạc, sau khi nhà trị liệu giới thiệu nó như một vấn đề rất đỗi con người, bệnh nhân sẽ nắm lấy cơ hội và tự mình đào sâu nó suốt nhiều năm trời. Nhưng phổ biến hơn, công việc trị liệu sẽ giải quyết các vấn đề vốn dễ tiếp cận hơn với nhận thức tỉnh táo của bệnh nhân, đại diện cho những phần việc dễ xơi trước mắt của liệu pháp (the low-hanging fruit of the therapy). Tôi đã thường thấy phải mất từ năm năm trở lên trước khi lòng đố kị vô thức xuất hiện như một ranh giới cuối cùng còn sót lại của các vấn đề quan trọng cần được sửa đổi bằng liệu pháp.
Đôi khi, cách duy nhất lòng đố kị vô thức xuất hiện là dưới hình thức một "phản ứng trị liệu tiêu cực" (negative therapeutic reaction). Về bản chất, đây là nơi bệnh nhân vạch ra một lằn ranh vô hình và tuyên bố trong vô thức: "Tôi từ chối tiến bộ thêm nữa, bởi vì ông sẽ được hưởng công trạng cho công việc tốt đẹp của mình, và tôi không thể dung nạp được điều đó." Họ thường bỏ cuộc tại thời điểm đó, mặc dù có thể vẫn ở lại trong quá trình điều trị một thời gian rất dài trong trạng thái tương đương một thế bế tắc trị liệu.
Manh mối để nhận ra vấn đề này là: bệnh nhân có thể hiểu rất sâu sắc về bản thân khi trò chuyện, nhưng cuộc sống thực tế của họ lại chẳng tiến bộ được bao nhiêu. Đây là một bài toán cực kỳ đau đầu đối với các nhà trị liệu. Dù vậy, việc trang bị mô hình về lòng đố kị vô thức ít nhất cũng là một công cụ sắc bén giúp chúng ta nhìn thấu và tháo gỡ những ca dậm chân tại chỗ như thế này.
Tóm tắt:
Lòng đố kị vô thức bắt nguồn từ thuở ấu thơ, gắn liền với người mẹ cùng sự tốt lành của bà, và thường là một thứ cảm giác vô cùng bóp nghẹt, khó lòng chịu đựng nổi. Những cơ chế phòng vệ được dựng lên để né tránh nỗi đau này lại nằm trong số những tác nhân gây hủy hoại cuộc đời con người nhất. Cách dễ nhất để trốn chạy khỏi nó là phá hoại và làm hoen ố đối tượng bị đố kị; thế nhưng, điều đó cũng đồng nghĩa với việc từ nay về sau, người đó phải đi qua cuộc đời mà không còn nhận được bất kỳ 'sự tốt lành' nào từ những hình tượng người lớn mà mình cần tựa nương. Chưa kể, những lo âu hoang tưởng nảy sinh sau đó sẽ khiến họ luôn nơm nớp lo sợ rằng chính mình cũng sẽ trở thành đối tượng bị kẻ khác đố kị. Nỗi sợ này kìm hãm, không cho họ được sống hết mình và phát huy trọn vẹn tiềm năng trong đời. Lựa chọn duy nhất còn sót lại lúc này là chấp nhận làm một thủ thư phẳng lặng trong bộ trang phục màu be rộng thùng thình.
Đối với nhà trị liệu, nhận diện và làm việc với lòng đố kị vô thức không phải là một nhiệm vụ dễ dàng. Như tôi đã được dạy, việc thay thế từ "lòng đố kị vô thức" bằng từ "sự thù hận" thường mang lại hiệu quả cao. Bệnh nhân thường có thể cảm nhận nó dễ dàng hơn khi bạn nói: "Một phần trong bạn thù hận tôi vì tôi quá quan trọng đối với bạn" thay vì "một phần trong bạn đang đố kị với tôi vì tôi quá quan trọng đối với bạn". Ngược lại, nếu nhà trị liệu lúc nào cũng ra rả nói rằng: "Bạn đố kị cái này hoặc cái kia", từ ngữ đó sẽ mất đi phần lớn sự kết nối cảm xúc của nó, và bệnh nhân chỉ đơn thuần cảm thấy bị chỉ trích và tuyệt vọng. Thực sự có cả một nghệ thuật để làm việc với lòng đố kị, và điều đó có lẽ cuối cùng đòi hỏi một người phải nhìn thấy nó trước tiên, một cách chi tiết, ở chính bản thân mình.


Bình luận