László Krasznahorkai Viết Vì Ông Thất Bại
- Minh Đào
- 1 ngày trước
- 23 phút đọc
Cuộc trò chuyện với chủ nhân giải Nobel về những câu văn dài đặc trưng đầy thách thức, sự xa rời của chúng ta đối với cái đẹp, và lý do vì sao ông sẽ “không bao giờ tự nguyện đọc lại” bất kỳ cuốn sách nào của chính mình.
Tác giả: Merve Emre | Tạp chí The New Yorker (28/6/2026)

Mỗi năm, tại yến tiệc trao giải Nobel ở Stockholm, mỗi chủ nhân giải thưởng đều đưa ra một bài phát biểu ngắn gọn và trang trọng. Thông thường, họ sẽ bày tỏ lòng lòng biết ơn đối với Viện Hàn lâm Thụy Điển và gửi gắm đôi điều hy vọng vào tương lai của nhân loại. Nhưng vị khách vinh dự của giải Nobel Văn học năm 2025, tiểu thuyết gia người Hungary László Krasznahorkai, lại chẳng thèm mảy may nhắc đến tương lai ấy. Thay vào đó, ông dành lời tri ân cho quá khứ của loài người: cho các nghệ sĩ Hy Lạp cổ đại; cho thời kỳ Phục hưng Ý; cho thành phố Kyoto; cho Fyodor Dostoyevsky, William Faulkner, và Johann Sebastian Bach, "vì Đấng Thiêng Liêng." Ông cảm ơn bạn bè mình, những người mà phần lớn "không còn nằm trong hàng ngũ của người sống," vì những dấu ấn riêng tư họ đã để lại trong cuộc đời ông. "Tôi muốn gửi lời cảm ơn đến người bạn Jóska Pálnik, người đã rỉ tai tôi ngay trên bậc thang thứ hai của bể bơi máng trượt vào năm 1960 về cách mà những đứa trẻ được tạo ra. Và dưới sức nặng đau lòng của sự thật ấy, tôi đã chỉ muốn chết đi cho xong."
Bài phát biểu đó sẽ không làm bất kỳ độc giả nào từng kinh qua các tiểu thuyết của Krasznahorkai phải kinh ngạc. Các chủ đề của ông luôn đậm tính bác học; bối cảnh truyện vô số và trải dài khắp các vùng đất xa xôi; trí tưởng tượng mang màu sắc tận thế nhưng lại vô cùng, vô cùng hài hước. Nhân vật của ông là những kẻ điên hoặc những vĩ nhân có tầm nhìn xa trông rộng — thật khó để phân biệt ranh giới giữa hai kiểu người này — họ bị bủa vây và quẩn quanh bởi niềm tin vào một nhận thức thiêng liêng về cái đẹp, về sự siêu việt giữa một thế giới tàn nhẫn và hẹp hòi. Mỗi cuốn tiểu thuyết của ông đều may mắn tìm được những dịch giả tiếng Anh lý tưởng cho riêng mình. Những tác phẩm thời kỳ đầu của Krasznahorkai như Satantango (Vũ điệu Satan), The Melancholy of Resistance (Nỗi u sầu của sự phản kháng), War and War (Chiến tranh và Chiến tranh) có được vẻ uy nghiêm, ảm đạm là nhờ bàn tay của nhà thơ người Anh gốc Hungary George Szirtes. Trong khi đó, các cuốn truyện vừa mang tính chất ly kỳ, cô đọng như Chasing Homer (Đuổi theo Homer), Spadework for a Palace (Nền móng cho một cung điện), Herman lại nhuốm màu hoang tưởng qua ngòi bút của nhà văn chuyên viết truyện ngắn John Batki. Gần đây nhất, văn phong uyển chuyển và đậm chất khẩu ngữ của Ottilie Mulzet đã thổi hồn sống động vào các tác phẩm Seiobo There Below (Nữ thần Seiobo ở hạ giới), A Mountain to the North, a Lake to the South, Paths to the West, a River to the East (Một ngọn núi phía Bắc, một ngôi hồ phía Nam, những lối đi phía Tây, một dòng sông phía Đông), Baron Wenckheim’s Homecoming (Sự trở về của Nam tước Wenckheim), và Herscht 07769. Chúng đánh dấu một bước chuyển dịch trong các sáng tác thời kỳ sau của Krasznahorkai, hướng tới thứ mà ông gọi là "lời thú tội bùng nổ" — một lối viết mô phỏng cách ông trò chuyện và thách thức mọi cấu trúc cú pháp gọn gàng.
Vào tháng Ba, tôi đã có buổi phỏng vấn Krasznahorkai tại Liên hoan Văn học Quốc tế Athens. Đêm trước đó, chúng tôi ăn tối tại một nhà hàng ngay dưới chân thành cổ Acropolis. Sáng hôm sau, chúng tôi tham dự một buổi tiếp đón vinh danh Krasznahorkai tại Tòa thị chính, nơi ông được chào đón bởi thị trưởng, cha của thị trưởng (tay vẫn cầm khư khư cuốn Herscht 07769 của ông), một phái đoàn công chức, và cuối cùng là chú chó con hiếu động của thị trưởng có tên Pericles. Khung cảnh này làm tôi liên tưởng đến cuốn Baron Wenckheim’s Homecoming, nơi cư dân của một thị trấn Hungary rách nát đang mòn mỏi chờ đợi sự trở về của một vị quý tộc địa phương, một vị cứu tinh trong mộng tưởng, người mà họ sẽ nghênh đón bằng một thứ nghi lễ trang trọng đến mức vụng về và thái quá. Nhưng trong khi vị Nam tước kia tỏ ra nhút nhát và lóng ngóng, thì Krasznahorkai ngoài đời lại là một người cởi mở, quyến rũ và lịch thiệp. Suốt cả cuối tuần, chúng tôi trò chuyện về những mối tình của Kafka, về các nhà soạn nhạc Hungary, về âm thanh của cây đàn oud, về những ngôi đền Nhật Bản và những cửa hiệu xì gà ở vùng New England. Trước khi bước ra sân khấu, ông nhìn thấy một vệt trắng nhỏ trên chiếc quần đen của tôi, liền quay sang người đàn ông đứng cạnh — "Thomas, xin phép anh" — rồi quỳ rạp xuống để phủi sạch gấu quần cho tôi.
Cuộc trò chuyện dưới đây đã được biên tập lại về độ dài và độ mạch lạc. Các câu trả lời của Krasznahorkai được phân trần bằng tiếng Hungary và được chuyển ngữ bởi dịch giả Mulzet.
Merve Emre: Tôi đã vô cùng xúc động trước bài phát biểu của ông tại yến tiệc Nobel, đặc biệt là khi ông nhắc về người anh trai của mình. Ông cảm ơn anh ấy vì đã luôn kiệu ông trên vai khi hai người còn là những đứa trẻ, bởi vì anh ấy đã dạy cho ông biết rằng "luôn có một cách khác để nhìn ngắm thế giới." Ông đã nhìn thấy những gì khi ở trên đó?
László Krasznahorkai: Thuở đầu thì chẳng thấy gì cả. Anh trai tôi đã nổi trận lôi đình với tôi, vì cứ mỗi lần ở trên vai anh ấy, có một cái gì đó thường xuyên xảy ra trong chiếc quần đùi nhỏ của tôi. Chuyện đó chẳng dễ chịu chút nào cho anh tôi cả. Anh ấy sẽ xốc tôi lên trong cơn giận dữ, và thế là tôi chẳng thể nhìn thấy được bao nhiêu phần của thế giới. Giờ đây khi cả hai chúng tôi đều đã già cả rồi, tôi có hỏi anh ấy rằng dạo đó chuyện đó tồi tệ với anh đến mức nào. Anh ấy bảo: "Đến giờ tao vẫn còn cảm giác thấy nó đây."
Nhưng từ trên góc nhìn ấy, tôi thực sự đã thấy thế giới đang chuyển động rất nhanh. Kể từ đó, tôi luôn cố gắng giữ vững cái vận tốc này trong mọi việc mình làm. Vận tốc đó đã định hình cách tôi sáng tác âm nhạc khi còn trẻ, và sau này là cách tôi cấu trúc các câu văn của mình. Có lẽ, với cách giải thích này, tôi lại đang trở nên hơi nghiêm túc quá rồi.
Merve Emre: Các câu văn của ông có một vận tốc khủng khiếp. Chúng dài, phức tạp, được tạo nhịp bằng những sự lặp từ đầy thú vị, và có thể giăng trải ra toàn bộ cuốn tiểu thuyết, giống như trong "Herscht 07769". Nhưng không phải lúc nào chúng cũng như vậy. Kỹ thuật của ông đã thay đổi: lần đầu tiên và mạnh mẽ nhất là giữa cuốn "The Melancholy of Resistance" và "War and War", nơi mỗi chương ngắn được cấu trúc chỉ bằng một câu duy nhất, thường bị giới hạn trong một sự kiện, một bối cảnh, hoặc một góc nhìn của nhân vật; và rồi một lần nữa, giữa "War and War" và "Baron Wenckheim’s Homecoming", cuốn sách được chia thành các chương hồi dài hơn, mỗi hồi được định hình bằng một câu duy nhất cuốn phăng theo vô số sự kiện, vô số góc nhìn, chuyển động tự do xuyên qua thời gian và không gian. Cảm thức về vận tốc đã tác động thế nào đến cách ông nhào nặn các câu văn của mình?
László Krasznahorkai: Tôi nghĩ điều này xuất phát từ việc tôi ngày càng tiến gần hơn đến ngôn ngữ nói thường ngày. Khi ai đó muốn nói một điều gì đó thực sự quan trọng, chẳng hạn như một người đàn ông muốn nói với một người đàn bà, hoặc một người đàn bà muốn nói với một người đàn ông rằng: "Em đã yêu anh suốt mười bảy năm qua, và em không thể chịu đựng thêm được nữa, em phải nói cho anh biết, vì mọi chuyện không thể cứ tiếp diễn thế này được nữa," dấu phẩy, dấu phẩy, dấu phẩy — người ta không thể nào chặt khúc một lời thú tội mang tính bùng nổ như thế từ lời ăn tiếng nói sống động thành những câu văn nhỏ nhắn, vuông vắn được. Kiểu vấn đề này thực sự đã định đoạt mối quan hệ của tôi với vận tốc.
Đối với tôi, một vận tốc được lựa chọn chuẩn xác chính là thứ quyết định nên tính chất của một tác phẩm văn xuôi. Dĩ nhiên, tôi không ám chỉ vận tốc theo nghĩa vật lý của từ này, mà theo một nghĩa bóng rất mạnh mẽ, mặc dù nó vẫn có mối liên hệ với khái niệm vận tốc trong vật lý. Không thể phủ nhận rằng trong hai hoặc ba cuốn sách đầu tay, tôi không thực sự cảm thấy cái nghĩa vụ phải sử dụng ngôn ngữ sống của những lời tự sự mang tính thú tội này. Với tôi, tình hình trở nên nghiêm trọng hơn, bởi vì tôi càng ngày càng ít hài lòng với những cuốn sách mà mình xuất bản. Nghe có vẻ nực cười, nhưng tôi coi hầu hết tất cả các cuốn sách của mình đều là những thất bại. Và nếu chuỗi thất bại này không xảy ra, tôi đã kết thúc sự nghiệp của mình ngay sau cuốn sách đầu tiên rồi. Kinh Thánh đâu có phần hai, đúng không?
Thế rồi, khi bước vào tuổi trung niên, trong lúc đang viết cuốn Seiobo There Below, tôi thực sự muốn thử nói một điều gì đó quan trọng. Tôi muốn nói một điều quan trọng về việc tại sao tôi lại không thể nói được bất cứ điều gì quan trọng, bởi vì tôi gặp phải rất nhiều vấn đề với chính cái ý niệm về "sự quan trọng", và thậm chí với cả ý niệm về "khả năng biểu đạt". Nhưng tôi lại chẳng gặp vấn đề gì với lối nói mang tính thú tội này. Tôi sẽ tóm lấy một sợi chỉ từ những sự việc đang diễn ra ở phía sau cuộc đời của chính mình, nó bất chợt vụt sáng trong đại não, và tôi sẽ khởi hành từ sợi chỉ đó. Ban đầu, các câu văn chỉ nằm trong đầu tôi, tôi sẽ đi đi lại lại quanh bất kỳ căn phòng nào mà mình đang sống vào thời điểm đó, và rồi đột nhiên, có khoảng mười lăm hoặc hai mươi trang giấy viết ra trên khổ giấy A4 cũ kỹ. Tôi đã sửa toàn bộ các lỗi về nhịp điệu, giai điệu và tốc độ, như thể tôi là một kẻ mộng tưởng cuồng tín giống như Hölderlin hay Kleist. Trong những khoảng thời gian đó, sống cùng tôi chẳng dễ chịu chút nào, bởi tôi không bao giờ có thể tập trung vào bất kỳ việc gì khác.
Mục tiêu của tôi là làm sao để các hình tượng nhân vật trong sách của mình, những hình tượng vốn chưa hề tồn tại — mục tiêu của tôi là viết họ vào thực tại theo một cách thức khiến họ sẽ mãi mãi ở lại đó. Chẳng hạn như Hoàng thân Myshkin, ngày nay, ông không còn là nhân vật của riêng một cuốn tiểu thuyết nào của Dostoyevsky nữa. Ông đã là một phần máu thịt trong thực tại của chúng ta. Dostoyevsky đã viết nên ông với một sức mạnh khủng khiếp đến mức giờ đây Hoàng thân Myshkin là một phần của thực tại như cách chúng ta cảm nhận về nó. Tôi cũng đang hướng tới một điều giống như vậy.
Merve Emre: Ông nói ông không hài lòng vì tất cả những gì ông viết ra đều là thất bại. Làm thế nào ông đi đến phán xét đó? Ông cảm thấy mình đã chưa hoàn thiện được điều gì?
László Krasznahorkai: Tôi không phải là độc giả của chính những cuốn sách của mình. Tôi sẽ không bao giờ tự nguyện đọc lại bất kỳ cuốn nào trong số chúng. Nhưng tôi có một người bạn, Béla Tarr, người đã làm phim bằng cách lấy tác phẩm của tôi làm nguồn cảm hứng. Chúng tôi đã cùng nhau làm việc trong những bộ phim này. Tôi phải đọc to các văn bản của chính mình để viết kịch bản cho Béla, việc đó vô cùng, vô cùng khó khăn đối với tôi, bởi tôi rất sợ chuyện đó sẽ xảy ra, và nó luôn xảy ra, luôn luôn như vậy — tôi sẽ bắt đầu đọc, và đột nhiên tôi nhìn thấy một lỗi gây sốc về nhịp điệu, về giai điệu, về nội dung, một vết rạn trong hình thức. Và vại là tôi đã không thể tránh khỏi việc phạm sai lầm. Nhưng đối với tôi, đó không chỉ là một sai lầm đơn lẻ, nó hủy hoại toàn bộ tác phẩm. Nó làm tôi dằn vặt đến mức tôi phải cố gắng cứu vãn điều đó trong cuốn sách tiếp theo. Toàn bộ cuộc đời tôi chỉ là một nỗ lực đền bù như vậy. Và tôi làm việc đó cũng không tốt lắm.
Mặc dù có lẽ cái sự cầu toàn này thậm chí không hẳn là cầu toàn, vì ở các khía cạnh khác tôi lại khá thích những sai sót, ngoại trừ những lỗi tôi mắc phải khi làm việc cùng Béla. Chẳng hạn như nghệ thuật Nhật Bản. Những ai trân quý nghệ thuật Nhật Bản đều không tiếc lời ngợi ca sự cầu toàn của nó. Ấy thế mà, nghệ thuật Nhật Bản không hề cầu toàn, vì nó yêu những kết cấu bất đối xứng. Khi người ta bày biện bàn ăn, hoặc trong một khu vườn đá tại một tu viện Phật giáo, không hề có một nguyên tắc thống trị nào của sự đối xứng tâm hay trật tự tỷ lệ. Ở đó có một tình yêu dành cho những sai sót. Trong nghệ thuật gốm sứ Nhật Bản, chẳng hạn như từ thời đầu Minh Trị, một món đồ mang một vết rạn mang tính định đoạt lại có giá trị khổng lồ, bởi vì vết rạn ấy làm cho nó trở nên đặc biệt hơn. Và tôi cũng là kiểu người như vậy với mọi thứ khác trên đời, ngoại trừ các cuốn sách của chính mình.
Merve Emre: Như vậy, mỗi cuốn tiểu thuyết đều hiển hiện từ chính nỗi ám ảnh muốn hoàn thiện văn phong của mình. Các nhân vật của ông cũng là những kẻ ám ảnh. Họ là những người đàn ông đi tìm kiếm những cuộc chạm ngõ thiêng liêng với các báu vật hiếm có và đẹp đẽ: một bản thảo, một khu vườn, một bộ xương cá voi, âm nhạc của Bach, những cuốn sách trong Thư viện Công cộng New York, hay thành cổ Acropolis. Hầu như không một ai thấu hiểu hay cảm thông với những người đàn ông này. Thường thì họ bị hủy hoại. Có người bị tàn tật. Có người chết ngay khi nhận ra rằng, như một nhân vật từng nói: "Địa hạt cao quý hơn đã biến mất khỏi thế giới loài người." Cái giá của việc bị ám ảnh bởi cái đẹp trong thế giới loài người là gì — một thế giới của sự dã man, nơi không còn điều gì là thiêng liêng nữa?
László Krasznahorkai: Tất cả những gì đẹp đẽ — dù là tự nhiên hay do con người tạo ra, dù do Thượng đế hay do chính cuộc sống này tạo nên — đều tồn tại trong một địa hạt bất khả xâm phạm, một nơi không bao giờ thay đổi. Chỉ có chúng ta thay đổi, chỉ có mối quan hệ của chúng ta với địa hạt này thay đổi, và cơ hội để chúng ta kết nối với nó thay đổi. Trong thời kỳ Phục hưng, cơ hội của chúng ta đã được cải thiện, và giờ đây trong thời đại hiện đại, chúng đã bị hủy hoại — những cơ hội để làm cho cái đẹp hoàn hảo này hiển lộ, để bước vào mối giao cảm với nó, để nó ôm ấp lấy linh hồn chúng ta.
Trong các cuốn sách của mình, điều này dần trở thành một trong những chủ đề quan trọng nhất đối với tôi. Tôi đặt sự lưỡng nan này lên các nhân vật của mình, để tôi có thể kể câu chuyện về việc họ đã xoay xở thế nào trong câu hỏi đó, và cuối cùng họ đã thất bại ra sao. Có một đặc điểm mang tính cá nhân duy nhất trong các cuốn sách của tôi: Tôi trút bỏ những thất bại của chính mình lên nhân vật này hay nhân vật khác xuất hiện trong tiểu thuyết, để họ là người phải chịu đau khổ, bởi vì tôi không muốn phải đau khổ nữa.
Merve Emre: Phải chăng chúng ta đang ở một nốt trầm đặc biệt trong mối quan hệ với cái đẹp và một nốt cao đặc biệt trong nỗi đau khổ của mình?
László Krasznahorkai: Đã có vài thời đại trong lịch sử nhân loại, và ở đây tôi chỉ đang nói về nền văn minh châu Âu. Từ góc nhìn văn hóa châu Âu, tại vùng Địa Trung Hải này từng tồn tại một nền văn hóa thực tế, nơi người ta coi sự hiện diện của thần linh là điều hiển nhiên. Việc thực hiện một nghi thức tế lễ trước một ngôi đền để gây tác động đến một vị thần hay nữ thần không bị xem là bất kỳ loại vấn đề nào. Mối quan hệ kiểu đó làm cho cuộc sống của những con người thời cổ đại không bị vướng bận bởi sự phân tách nhị nguyên giữa cái siêu việt và không gian của thực tại. Sau đó, trong nền văn hóa châu Âu, Kitô giáo xuất hiện, một tôn giáo đã tạo ra một phát kiến kinh ngạc, cụ thể là: nguyên nhân gốc rễ của mọi thứ — con người, động vật, tự nhiên, sự sinh sôi, thế giới vô tri, vũ trụ, cõi cựu cực — đều có thể được thu nhỏ lại vào một điểm duy nhất. Điều này làm cho tất cả mọi người dịu lòng lại, và lập tức bước vào một không gian không còn bất kỳ ranh giới nào giữa cái thiêng liêng và cái thực tại của con người. Đối với bản tính con người, câu hỏi chính trở thành làm thế nào để sự thừa nhận này có thể được lan tỏa rộng khắp trong một xã hội nhất định, dù là ở châu Âu hay ở vùng Cận Đông.
Dĩ nhiên, mọi chuyện chưa bao giờ là lý tưởng, và điều đó không có nghĩa là, giống như trong truyện cổ tích, bất kỳ ai cũng có thể bước vào một mối quan hệ không chút vướng bận với đấng thiêng liêng bất cứ khi nào họ muốn. Thượng đế đã cung cấp một bề mặt cho sự hiện diện của cái đẹp. Bề mặt đó chính là diện mạo bên ngoài của một vật thể, là hình thái được ban tặng của nó. Nói một cách rất chung quy, đó là một thực thể có thể được định danh. Và rồi thời kỳ Phục hưng đến, một thời đại cũng mang tính thực tế rất mạnh mẽ, và có thêm nhiều khả năng hơn cho một người được gọi là có học thức, bước lùi lại một chút khỏi mối quan hệ thần bí hoặc siêu việt, để chạm đến một cái đẹp thuần túy nhân bản, một cái đẹp được tạo ra bằng các phương tiện của con người. Chính sau thời Baroque là lúc các vấn đề liên tục nảy sinh. Một thế giới bị tước đoạt không phải là Thượng đế mà là tính thiêng liêng, điều này chắc chắn là một vấn đề đối với nhân loại. Bạn có thể tận hưởng nó, bởi vì thế giới vẫn tồn tại ngay cả khi không có Thượng đế, và con người chúng ta có khả năng xây dựng bất cứ thứ gì mình muốn. Bởi vì, vại, chúng ta đang ở đâu bây giờ?
Merve Emre: Chúng ta đang ở trong một nền văn minh kỹ thuật bị giải thiêng.
László Krasznahorkai: Thế nhưng nền văn minh kỹ thuật hiện tại này lại thông thái đến kinh ngạc, ngay cả với tất cả những vấn đề khổng lồ của nó, bởi vì nó dường như là vô hạn. Và vì con người là sinh vật nguy hiểm, cho nên nền văn minh kỹ thuật mà anh ta tạo ra cũng nguy hiểm theo. Nhưng mối quan hệ với cái lằn ranh này đã thay đổi một cách căn bản. Kể từ thời Khai sáng, chẳng hạn, con người hiện đại không còn đòi hỏi cái mối quan hệ với cái lằn ranh này nữa. Michelangelo giờ đây chỉ là một miếng nam châm dán tủ lạnh. Ông là một bức ảnh tôi chụp khi đứng trước một bức tượng của ông. Nhưng ông vẫn tốt. Những thứ khác vẫn tốt. Bức họa Mona Lisa vẫn tốt, ngôi đền lộng lẫy ngay gần nơi chúng ta đang ngồi đây vẫn tốt. Mọi thứ đều tốt; điều cốt lõi là tôi không thể trải nghiệm được nó.
Nếu chúng ta đặt câu hỏi — có bao nhiêu người trên hành tinh này bây giờ, có lẽ là tám tỷ? — nếu chúng ta hỏi năm tỷ khách du lịch xem họ có biết điều gì đó về thành cổ Acropolis không, tôi nghĩ tất cả mọi người trong căn phòng này sẽ rất buồn. Câu trả lời sẽ là: Có, tôi đã thấy Acropolis, nó rất đẹp, nhưng dạo đó mặt trời chói chang quá, và tôi chẳng nhìn thấy gì mấy về Acropolis cả, vì tôi quên không mang theo kính râm. Chúng ta có thể gọi đây là sự suy thoái, nhưng chúng ta cũng có thể mô tả nó như một điều gì đó khác: rằng những đòi hỏi của con người hiện đại, hậu hiện đại, và hậu-hậu-hiện đại đã thay đổi. Con người này đòi hỏi một cuộc sống mà trong đó sự khoái lạc được ban tặng vai trò tối thượng. Đó là một thái độ sống rất mực tiện nghi cho một tạo vật như con người.
Có thể hình dung rằng đây không phải là một tiến trình tiêu cực. Điều quan trọng là cái đẹp mà Michelangelo đã tạo ra, hoặc cái đẹp được xây dựng bởi bộ óc thiên tài hoặc những thiên tài đã làm nên Acropolis. Nhưng có khả năng là sẽ ngày càng có ít người trong chúng ta cảm nhận theo cách này. Mối quan hệ của chúng ta với quá khứ đã thay đổi một cách cực đoan. Một nửa trong số đó bị hiểu sai. Văn hóa ngày nay, trong thời kỳ nở rộ của chủ nghĩa dân túy châu Âu, không gì khác hơn là một kiểu hệ tư tưởng cánh hữu hoặc cực hữu nực cười về truyền thống, trong đó văn hóa là cao quý, và làm cho tôi trở nên cao quý, và bất kỳ ai không sẵn lòng chấp nhận điều này đều trở thành kẻ thù của tôi. Một kiểu mối quan hệ cảm xúc được hình thành, nhưng nó là một mối quan hệ cảm xúc hoàn toàn tiêu cực.
Tôi rất vui vì mình đã ở cái tuổi này, bởi tôi thực sự cảm thấy tội nghiệp cho những người còn trẻ. Tôi có thể khóc thương cho một thời đại văn hóa. Có lẽ đây thậm chí không phải là một thời đại theo nghĩa thông thường của từ này, không theo nghĩa nền văn minh Baroque hay La Mã hay Hy Lạp cổ đại đại diện cho một thời đại, mà đúng hơn là: toàn bộ những gì diễn ra của văn minh nhân loại cho đến nay đại diện cho một kỷ nguyên duy nhất, và kỷ nguyên đó đã kết thúc. Nếu nó thực sự đã kết thúc, tôi rất hạnh phúc được làm người khóc tang cho nó.
Merve Emre: Có lẽ ông không cần phải cảm thấy tội nghiệp cho những người trẻ tuổi, bởi vì thế giới hư cấu của ông đang thực thi một mối quan hệ khác đối với cái đẹp và đối với lịch sử. Cái kịch bản mà ông vừa mô tả, về một người đàn ông đến thăm Acropolis vào một ngày nắng nóng, trời trong vắt nhưng không thể nhìn thấy nó vì đã quên kính râm, chính là một phân cảnh từ cuốn "Seiobo There Below". Trong đó, người đàn ông loạng choạng bước đi, bị mù lòa bởi ánh mặt trời, vây quanh bởi những người khách du lịch vô cảm. Trò đùa ở đây, tôi nghĩ, là trải nghiệm về Acropolis đã bị thương mại hóa một cách triệt để đến mức chuyện người đàn ông có nhìn thấy nó hay không cũng chẳng còn quan trọng nữa. Dẫu vậy, thất bại của anh ta trong việc thiết lập mối giao cảm với cái đẹp lại nhắc nhở chúng ta về mặt đối lập của nó: một nền văn hóa từng trải nghiệm cái đẹp như một sự siêu việt. Đọc "Seiobo There Below" làm tôi cảm thấy rất u sầu. Nhưng tôi cũng có một sự hoài nghi, hoặc có lẽ chỉ là một niềm hy vọng, rằng một mối quan hệ mới đối với nghệ thuật vẫn có thể khả thi.
Cái sự u sầu đó đã được các nhà lãng mạn khám phá ra, và trong biến thể thô lậu hơn của nó, nó tương đương với sự tuyệt vọng. Chính thời kỳ Lãng mạn đã mang đến cho chúng ta hình thức biểu đạt đó, thứ mà tôi đang phải chịu đựng rất nhiều. Đó là một tín hiệu rất quan trọng chỉ ra rằng chúng ta đang gặp phải rất nhiều rắc rối xét về mối quan hệ với nghệ thuật, một mối quan hệ mà trước đây từng là điều hiển nhiên: một mối quan hệ thông qua Thượng đế, hoặc thông qua một vị thần, hoặc có lẽ thông qua sự lộng lẫy của tạo tác con người. Đây thực sự là một sự khác biệt cốt lõi.
Có khả năng đây thực sự là trạng thái mới của thế giới, và chúng ta đang ở đâu đó quanh điểm khởi đầu của nó, thay vì ở điểm kết thúc của trạng thái trước đó. Có lẽ sẽ phù hợp hơn nếu không ép buộc các thế hệ trẻ phải khóc lóc cùng chúng ta về chuyện Dante dạo ấy là một nhà thơ tuyệt diệu thế nào, hay Euripides dạo ấy là một tác giả lập dị, tuyệt diệu ra sao. Họ sẽ phải chịu đựng chúng ta khi chúng ta than khóc rằng sẽ không còn một Michelangelo nào nữa, không còn Bach, không còn Dante, sẽ không có ai viết nên những tác phẩm như thế này thế nọ nữa, và ôi, tai họa, tai họa, tai họa cho chúng ta.
Đối với tôi, điều này là không thể chấp nhận được. Chuyển động đầu tiên của sự tuyệt vọng, khi một người rơi vào trạng thái bất định, khi họ cảm thấy mình mong manh, là bắt đầu tìm kiếm một hình thức sẽ giải thoát họ khỏi sự bất định này. Và thế là các hệ tư tưởng chính trị này bắt đầu xuất hiện một cách rất dễ dàng, mà không cần bất kỳ loại nền tảng triết học nghiêm túc nào, hoặc thậm chí không có một chút nền tảng triết học nào cả. Khi một con người đánh mất cảm thức về căn tính của mình, sẽ nảy sinh nhu cầu về cái gọi là "bản sắc dân tộc" và những ý tưởng ngốc nghếch tương tự. Chủ nghĩa truyền thống, hay việc bám víu vào nó, đã là một phạm trù chính trị rồi. Hãy cứ để nó là như vậy, hoặc tốt hơn hết là đừng để nó đóng bất kỳ vai trò nào trong lĩnh vực chính trị cả, nếu chỉ vì nó chỉ có thể dẫn đến những rắc rối khổng lồ.
Khi còn trẻ, khi nghĩ về tương lai, tôi tự nhiên đi đến kết luận rằng thế giới này là không thể chấp nhận được. Giải pháp duy nhất khả dĩ là nổi loạn chống lại nó. Có một câu nói mà tôi muốn sửa đổi một chút, hoặc thêm vào cách diễn giải của riêng mình: Người trẻ tuổi không nổi loạn là người không có trái tim. Còn người già mà nổi loạn thì thật nực cười. Mặc dù tôi không coi góc nhìn mà mình đang tán dương là nực cười, nhưng điều đó có nghĩa là người ta phải nổi loạn vì sự sáng rõ của các ý niệm. Bằng cách nào đó, chúng ta phải lấy lại các định nghĩa về việc cái gì là cái gì. Chúng ta phải một lần nữa quyết định xem sự tiến hóa nghĩa là gì, Thượng đế là gì, và vân vân.
Nếu chúng ta không nhìn lại các khái niệm này một cách mới mẻ và từ một góc nhìn khác, thì chúng ta không thực sự có nhiều cơ hội, bởi vì bất kể chúng ta có đi đến đâu, chúng ta sẽ chỉ đơn thuần là chuyển động trong khi đang đứng yên tại chỗ, và chỉ chuyển động nhiều bằng mức mà Trái Đất chuyển động cùng chúng ta. Vận tốc chỉ bắt đầu khi chúng ta thực hiện dù chỉ một chuyển động nhỏ nhất, bởi vì ngay cả với một chuyển động nhỏ nhất đó, chúng ta đã có được nhiều vận tốc hơn Trái Đất, nếu chúng ta khởi hành theo đúng hướng. Nếu làm được, chúng ta sẽ có thể làm sáng tỏ các khái niệm này một lần nữa. Có lẽ đây sẽ không phải là một giai đoạn rất hạnh phúc hay bình yên trong tư duy của con người, bởi vì chúng ta có thể đi đến một số kết luận nhất định vốn chẳng giúp ích gì trong việc cố gắng làm cho thực tại của chính mình trở nên dễ hiểu hơn. Nhưng đừng nói với những người trẻ rằng: "Nếu cháu không đứng về phía chú trong chuyện này, thì cháu là một kẻ vô học." Hãy đợi một chút, hãy kiên nhẫn.
Merve Emre: Bài giảng Nobel của ông, mang tựa đề "Enough About Angels" (Đủ rồi về những thiên thần), kết thúc bằng một lời kêu gọi nổi loạn tương tự và vai trò mà một ý niệm mới về các thiên thần có thể mang lại trong việc thúc đẩy cuộc nổi loạn ấy. Trong bài giảng, ông nói rằng ông sẽ không bàn về những thiên thần của ngày cũ, những sứ giả từ thiên đường từng được tôn vinh bởi Michelangelo và Giotto, bởi vì giờ đây bầu trời đã bị chiếm đóng bởi những người như Elon Musk. Ông sẽ chỉ nói về những thiên thần mới đang bước đi giữa chúng ta, những người không mang theo thông điệp nào để trao đi và cũng chẳng có thông điệp nào để nhận lại. Họ chỉ mang đến một cơ hội để chúng ta chứng kiến sự bất công của thế giới, sự tàn bạo của nó, sự nhẫn tâm của nó đối với những con người không có khả năng tự vệ. Ông hình dung rằng cuộc chạm ngõ với những thiên thần mới này một ngày nào đó có thể kích ngòi cho một kiểu nổi loạn nào đó, thứ mà ông gọi là cuộc nổi loạn "trong mối liên hệ với cái toàn thể." Cuộc nổi loạn trong mối liên hệ với cái toàn thể là gì? Nó khác gì với cuộc nổi loạn trong mối liên hệ với cái bộ phận?
Những thiên thần ngày cũ luôn mang theo một thông điệp — họ gửi lời chào thiên thần đến Mary — nhưng con người ngày nay không còn bất kỳ loại nhu cầu nào dành cho những thiên thần này nữa. Đó là lý do tại sao họ tiêu vong, và đó là lý do tại sao những thiên thần mới này vẫn ở đây giữa chúng ta, nhưng trong một hình thái hoàn toàn khác và vì thế với một mục đích hoàn toàn khác, mặc dù họ trông giống hệt chúng ta.
Bất kỳ ai trong số các bạn đều có thể va phải một người trong số họ, dù là ở Athens này hay ở bất kỳ nơi nào khác. Nếu có ai đó đứng trước mặt bạn, một người đàn ông, người đàn bà, một đứa trẻ, người già, người trung niên, hoặc trong bất kỳ hình thái nào, nếu có một người đứng trước mặt bạn, người mà dường như thực sự muốn nói một điều gì đó, nhưng chỉ đứng trân trân ở đó, và bạn nghĩ rằng người này có thể có ý đồ xấu, hoặc bị điên, hoặc tôi thậm chí không biết nữa, thì tạo vật này đơn giản là đang chờ đợi bạn gửi cho họ một thông điệp. Người này đang cần thông điệp đó ngay lúc này, và họ chờ đợi nó từ chúng ta, mặc dù tôi nghĩ rằng họ sẽ phải chờ đợi trong vô vọng.
Đã rõ cuộc nổi loạn trong mối liên hệ với cái bộ phận nghĩa là gì rồi. Trong một tình thế không thể chịu đựng được, người ta không thể tiếp tục dung thứ cho một trạng thái sự việc nhất định nữa. Ở đây chúng ta đang nói về một vấn đề cụ thể nào đó, một sự áp bức nhất định, các đợt sa thải trong một nhà máy, một hệ thống hưu trí tồi tệ, và vân vân. Tuy nhiên, cuộc nổi loạn liên can đến cái toàn thể lại khai sinh ra sự tuyệt vọng. Sự tồn tại của con người cảm nhận được rằng có một cái gì đó đang ngăn cản nó sinh tồn. Điều này giống như khi một người ở trong bóng tối hoàn toàn, và họ chẳng nhìn thấy gì, và họ sợ hãi, họ run rẩy, và họ quờ quạng xung quanh. Bạn phải hình dung ra một bóng đêm khổng lồ, nơi một người đang tìm kiếm một kiểu ánh sáng nào đó, bởi vì người này chỉ đơn thuần đang cố gắng nổi loạn chống lại bóng tối bằng cách cố gắng cứu chữa cho chính trạng thái tuyệt vọng của mình. Và đây là cuộc nổi loạn của toàn bộ tâm trí của con người đó, cụ thể là: khi một người không thể chịu đựng nổi chính bản thân mình nữa, và coi không chỉ cuộc sống con người trong một tình thế nhất định là không thể chấp nhận được, mà là toàn bộ thế giới, toàn bộ văn minh nhân loại, thân phận con người, và tìm cách bằng cách nào đó tự đấm một lối thoát ra khỏi nó. Tôi không mong muốn bất kỳ ai trong số các bạn phải trải nghiệm điều này. Tôi không muốn điều đó cho các bạn, hay cho chính bản thân tôi.



Bình luận