Cộng sinh là sự bóp nghẹt
Cộng sinh là giảo sát (bóp nghẹt)
Hợp thì sống, phân thì chết.
Cộng sinh ẩn chứa chính logic này. Nhìn từ bình diện quốc gia, trên mảnh đất này của chúng ta, bất cứ thời điểm nào, hễ xuất hiện sự chia rẽ thì đều luôn truy cầu sự thống nhất.
So với điều đó, Hy Lạp cổ đại với địa bàn nhỏ bé dường ấy nhưng lại có hơn một ngàn thành bang cùng tồn tại suốt bao năm. Toàn bộ châu Âu cũng chỉ tương đương với diện tích lãnh thổ của chúng ta, nhưng từ xưa đến nay luôn là các quốc gia lớn nhỏ san sát dựng lên, sự thống nhất chưa từng thực sự diễn ra. Giờ đây Liên minh châu Âu muốn hướng tới thống nhất, nhưng nước Anh lại không ngừng đòi ly khai, còn trong nội bộ nước Anh, Scotland cũng luôn đòi tách rời.
Điều thú vị là, họ lại mang tâm thức "phân thì sống, hợp thì chết". Mỗi khi có kẻ dã tâm nào đó, ví như Napoléon, toan tính mưu đồ thống nhất, thì sẽ khiến máu chảy thành sông (huyết lưu phiêu xử), nhưng sự thống nhất ấy lại chẳng duy trì được bao lâu, thậm chí có thể nói, sự thống nhất chưa từng thực sự tồn tại ở châu Âu.
Còn chúng ta thì ngược lại, thống nhất chiếm phần lớn thời gian lịch sử, còn phân liệt chỉ là những khoảng đứt gãy lâm thời. Mỗi độ phân liệt, các bậc dã tâm cùng những kẻ mang gánh nặng sứ mệnh lại luôn đau đáu nghĩ về thống nhất.
Đặt lên bình diện của một cá nhân, nếu tâm lý của bạn vẫn còn dừng lại ở giai đoạn cộng sinh trước 6 tháng tuổi, vậy thì bạn cũng sẽ: hợp thì sống, phân thì chết.
Cho nên người Trung Quốc khó mà chịu đựng nổi nỗi cô độc, đều bắt buộc phải kết hôn, đại gia đình luôn toan tính nhào nặn cùng tiểu gia đình, còn sự chia cắt, phân ly lại vô cùng đáng sợ, đúng như câu: "Thà phá mười ngôi chùa, không phá một mối hôn sự."
Bởi vì tất cả đều là những đứa trẻ sơ sinh, mà trẻ sơ sinh thì không thể sống sót một mình: về mặt sinh lý, rời khỏi mẹ thì không sống nổi; về mặt tâm lý, rời khỏi người khác cũng chẳng thể tồn tại.
Một thân chủ nam giới, trong thế giới của anh chỉ có mẹ và vợ, còn người mẹ lại nói: "Trong thế giới của mẹ chỉ có con." Thực ra anh có cha, nhưng đối với người mẹ, ông dường như không hề tồn tại.
Anh thường mơ thấy một giấc mơ — bơi trong một vùng nước đặc quánh, dính nhớp, từng bước khó nhọc khôn cùng. Anh cảm nhận được mối quan hệ với mẹ khiến mình nghẹt thở, anh cũng khao khát tự do, nhưng anh không dám tách rời khỏi mẹ; anh lo sợ rằng nếu làm vậy, mẹ anh sẽ chết mất.
Cảm nhận này một phần là có thật, bởi người mẹ từng thổ lộ với anh đúng như thế. Đây cũng là cảm nhận chung của những người đang đắm chìm trong mối quan hệ cộng sinh: Hai ta không thể chia tách, con rời xa mẹ, mẹ sẽ chết; mẹ rời xa con, con sẽ chết, vì thế, con luôn cảm thấy áy náy, tội lỗi đến muốn chết.
Có một lần, anh xem một bộ phim viễn Tây nước Mỹ kể về những câu chuyện xoay quanh mỏ vàng ở bang California, bối cảnh nơi đó hệt như một khu rừng rậm của luật rừng: một lời không hợp là rút súng bắn nhau, mạng người như cỏ rác, vô cùng tàn khốc; thế nhưng anh lại đâm ra say mê bộ phim này, cảm thấy cảnh tượng ấy tự do, khoáng đạt biết bao, chết như vậy cũng thật thanh thản! Nhưng chỉ mới vừa tưởng tượng đến đó, anh liền cảm thấy một nỗi tội lỗi khổng lồ bủa vây; anh nghĩ, nếu mình thực sự dứt áo ra đi, mẹ sẽ chết mất.
Cuối cùng, anh nghĩ chỉ có một cách duy nhất để giải quyết vấn đề này: dùng thuật phân thân, xẻ đôi bản thân ra làm hai nửa — cái tôi chân thật sẽ đến mỏ vàng kia, tiêu sái sống chết; còn một cái tôi khác chỉ là một lớp bì nang (da thịt rỗng tuếch) ở lại nhà để bầu bạn với mẹ.
Một thân chủ nam khác lại rơi vào nghịch cảnh: người vợ dù chết đi sống lại cũng dứt khoát không chịu ly hôn với anh. Ban đầu anh cũng không dám mở lời đề nghị, bởi anh mường tượng rằng nếu mình to gan đề cập chuyện ly hôn, người vợ nóng nảy cay nghiệt sẽ truy sát anh cả đời, dẫu có trốn tới chân trời góc bể cũng quyết chẳng buông tha.
Điều thú vị là, người đàn ông này từ thuở nhỏ đã có một người bạn đồng hành trong tưởng tượng mang tên "Mao Mao" (毛毛), vốn là một con búp bê nhồi bông. Khi còn bé, anh thực sự có một con thú bông như vậy và cũng gọi nó là "Mao Mao". Con búp bê này theo anh mãi cho tới năm mười mấy tuổi, dù đã cáu bẩn và rách nát thảm hại, anh vẫn không nỡ vứt đi; thế nhưng mẹ anh không tài nào chịu nổi nên đã nhân lúc anh vắng nhà đem vứt nó đi, chuyện này suýt nữa khiến anh đoạn tuyệt quan hệ với mẹ. Dẫu Mao Mao trên thực tế không còn nữa, nhưng nó vẫn luôn đồng hành cùng anh trong tâm tưởng; giữa họ là một mối quan hệ cộng sinh tuyệt đối, hòa quyện như một người.
Rất nhiều sự tưởng tượng của anh về vợ thực chất lại bắt nguồn từ những mường tượng về Mao Mao. Cùng với tiến trình tham vấn, bản ngã của anh dần trở nên mạnh mẽ và hoàn thiện hơn, anh bắt đầu có ý thức muốn tách rời khỏi Mao Mao; thế nhưng trong suốt một thời gian dài, hễ ý thức này nảy sinh, trong lòng anh liền ngập tràn nỗi bi thương và sợ hãi. Nỗi bi thương thì có thể thấu hiểu, bất kỳ sự chia ly nào cũng đều kéo theo bi thương. Nhưng anh sợ hãi điều gì? Trong tâm tưởng của anh, nếu rời bỏ Mao Mao, thoạt tiên Mao Mao sẽ đau buồn, sau đó sẽ trở nên hằn học đầy oán hận, sẽ hận không thể giết chết anh, hoặc tự sát, thậm chí hủy diệt cả thế giới này.
Đối với hai thân chủ này, điều then chốt cần nhận ra là: đây thực chất chính là nỗi sợ hãi chia tách của bản thân họ dưới tư cách là những "cự anh" (đứa trẻ khổng lồ). Họ nơm nớp lo sợ rằng một khi chia tách, bản thân sẽ trở thành một đứa trẻ sơ sinh bất lực, và cái tôi bản ngã cũng sẽ vỡ vụn tan tành.
Khi đã thấu hiểu được điều này, đồng thời nhìn nhận rõ ràng rằng bản ngã của họ trên thực tế đã tương đối hoàn chỉnh, có thể độc lập đối diện với thế giới bên ngoài, thì những mường tượng về việc "chia lìa ắt phải chết" kia cũng cơ bản tan biến.
Thân mật và chia tách tạo nên hai động lực cốt lõi trong bất kỳ mối quan hệ nào. Chúng ta cần sự thân mật, cần tình yêu và cảm giác gắn kết; khi trải nghiệm được sự hòa làm một giữa tôi và bạn, một niềm hoan lạc to lớn sẽ sinh ra. Đồng thời, chúng ta cũng cần sự chia tách, để trong sự chia tách ấy ta trở thành chính mình, và sự chia tách cũng đồng nghĩa với một phép thử nghiệm đối với nhau: Tôi rời xa bạn, tôi bất đồng ý kiến với bạn, liệu bạn có còn yêu tôi nữa không?
Nếu chỉ có thân mật mà thiếu đi sự chia tách, mối quan hệ ắt sẽ nảy sinh vấn đề lớn.
Trong công việc tham vấn lẫn đời sống thường nhật, tôi từng chứng kiến nhiều mối tình trông qua vô cùng lý tưởng, tôi thực sự kinh ngạc trước sự lãng mạn và dốc lòng của họ — đó thực sự là sự dấn thân trọn vẹn cộng với vô oán vô hối. Thế nhưng điều kỳ lạ là, hai người lại càng sống càng khổ, đủ mọi chuyện bi thảm liên tiếp xảy ra; hơn nữa, sự phát triển về cá tính và năng lực của cả hai đều bị ngưng trệ, thế giới và tâm lượng của họ thậm chí ngày càng co cụm lại, cuối cùng đúng như Vương Tiểu Ba từng nói: giống hệt như một đôi chuột nhắt đang yêu đương.
Vì sao lại như vậy? Tôi có linh cảm, nhưng suốt một thời gian dài lại không thể đúc kết thành lời.
Ví như, một cô gái hẹn hò cùng một người lính, cô mắc chứng khiết phích (ưa sạch sẽ thái quá), mỗi lần cần đi vệ sinh, anh liền lái chiếc xe cũ nát đưa cô vượt mấy cây số đến tận khách sạn năm sao. Họ tuyệt đối đặt đối phương vào vị trí quan trọng nhất trong sinh mệnh của mình.
Người phụ nữ này là người đầu tiên cảm nhận thấy sự bất ổn trong mối quan hệ của họ, cô hình dung với tôi rằng: "Tôi và anh ấy hệt như hai cái cây vặn vẹo xoắn chặt lấy nhau."
Giờ đây mới hiểu ra rằng, những con người yêu hết mình đến quặn lòng ấy thực chất đang mải miết truy cầu cảm giác cộng sinh chưa từng được thỏa mãn thuở sơ sinh: Ta chỉ có mình chàng, chàng chỉ có mỗi ta; đời sống nhất trí, tư tưởng quy về một mối; sự khác biệt bị tiêu diệt, mà sự trưởng thành cũng bị thủ tiêu.
Cần biết rằng, phong phú đa dạng vốn là cội nguồn của hạnh phúc (Tham sai đa thái, nãi hạnh phúc bản nguyên). Russell từng nói như vậy. Nhưng họ lại sống đúng theo chiều hướng ngược lại.
Rất thú vị là, phần lớn những cặp đôi như thế mà tôi biết đều không sinh con, bởi đứa con sẽ phá vỡ cảm giác cộng sinh của họ.
Họ thật lòng yêu nhau, nhưng lại thực sự sống thành cảnh tương ái tương sát. Dường như họ chẳng hề có lấy một mảy may tâm địa muốn giảo sát đối phương, thế nhưng sự giảo sát lại cứ thế diễn ra.
Bởi vì, trong một mối quan hệ cộng sinh, giảo sát là điều tất yếu sẽ xảy ra.
Trong các buổi tham vấn và tại workshop, thường xuyên diễn ra sự tình thế này: Tôi bày tỏ một vài ý kiến bất đồng với thân chủ và học viên, họ liền bảo rằng họ cảm thấy mình đang bị phê bình chỉ trích.
Điều này cũng xảy ra tương tự trong đời sống thực tế của họ: người khác chỉ cần có đôi chút ý kiến khác biệt, họ liền cảm thấy bản thân bị chỉ trích. Kỳ thực chân tướng là: chính bản thân họ hễ nghe thấy một chút ý kiến trái chiều là đã muốn công kích đối phương.
Họ cũng không hẳn chỉ có độc đoán chuyên quyền; trên thực tế, những kẻ không dung nạp nổi một mảy may ý kiến bất đồng khi muốn thiết lập mối quan hệ với người khác lại quay sang tự triệt tiêu ý kiến của chính mình. Diệt trừ ý kiến bất đồng của đối phương, hay triệt tiêu ý kiến bất đồng của bản thân, thảy đều chung một mục đích: mưu cầu sự cộng sinh tuyệt đối — tôi và bạn hoàn toàn nhất trí, giữa chúng ta không tồn tại bất kỳ tạp âm nào, cứ như thế, hai ta hòa quyện như một con người duy nhất.
Từ tất cả các mối quan hệ cộng sinh, tôi đều nhìn thấy sự giảo sát cộng sinh; nó bao hàm hai tầng ý nghĩa:
Một là, về mặt thân thể: Bạn và tôi không thể tách rời; bạn rời bỏ tôi, tôi sẽ chết, vì thế tôi hận không thể để bạn chết đi; tôi rời bỏ bạn, bạn sẽ chết, vì thế tôi cảm thấy tội lỗi đến muốn chết.
Hai là, suy nghĩ của bạn phải giống hệt như tôi, bằng không xin mời bạn đi chết; suy nghĩ của tôi cũng phải giống hệt như bạn, bằng không tôi sẽ đi chết.
Lời cổ huấn "Phụ mẫu tại, bất viễn du" (Cha mẹ còn, không đi chơi xa), theo góc nhìn của tôi, thực chất đang nói về sự giảo sát trên bình diện không gian. Thậm chí còn có một câu nói nặng nề hơn: "Thân thể phát phu, thụ chi phụ mẫu, bất cảm tổn thương, hiếu chi thủy dã" (Thân thể, da thịt, tóc tai nhận từ cha mẹ, không dám làm tổn hại, ấy là khởi đầu của chữ hiếu). Giả như có một thứ chủ nghĩa giáo điều cực đoan về chữ hiếu, vậy thì con cái vừa không có tự do rời xa cha mẹ về mặt không gian, lại vừa chẳng có quyền tự do định đoạt thân thể mình, mọi việc thảy đều phải nhất nhất nghe theo cha mẹ.
Còn về "triết lý nghe lời", đó là đòi hỏi về mặt suy nghĩ: con cái phải suy nghĩ giống hệt như những gì cha mẹ tưởng tượng.
Nếu con cái làm được như vậy, thì xem như đã thỏa mãn được nhu cầu cộng sinh của cha mẹ với con cái — "đứa trẻ này suy nghĩ y như đúc những gì ta nghĩ". Nhưng làm như thế, sự phát triển cá tính của đứa trẻ cũng coi như bị giảo sát hoàn toàn.
Nếu giữa các cặp bạn đời cũng truy cầu sự cộng sinh, vậy thì rất có thể sẽ xuất hiện tình cảnh: trên không gian tuyệt đối không chia cách, trong tư tưởng tuyệt đối phải quy về một mối; điều này tự nhiên sẽ tạo thành sự giảo sát tàn khốc lẫn nhau.
Một cặp vợ chồng ngoài năm mươi tuổi, sự giảo sát giữa họ vô cùng nghiêm trọng, mà bản thân họ lại chẳng còn mấy mặn nồng yêu thương, thế nên họ trở nên căm ghét đối phương tột cùng. Sự giảo sát của họ chủ yếu nằm ở đòi hỏi nhất trí về mặt tư tưởng: hai người hễ cùng làm một việc gì thì dường như bắt buộc phải đạt được sự đồng thuận, vả lại trong những việc do mình nắm quyền chủ động, không một ai chịu nhượng bộ dù chỉ nửa bước. Ví như, người vợ mua một chiếc xe sang, người chồng phản đối kịch liệt nhưng vô hiệu. Kết quả người chồng buông lời: "Cứ đợi đấy xem có ngày tôi đập nát cái xe của cô không!" Rồi một bận người vợ đi công tác, người chồng lái chiếc xe này ra ngoài, kết quả lúc ra khỏi gara thì tông trúng cửa và kẹt cứng tại đó. Vào khoảnh khắc ấy, người chồng bỗng dâng lên một nỗi sợ hãi kinh hoàng; anh ta hoàn toàn có thể hình dung ra cảnh người vợ khi trở về sẽ lôi đình thịnh nộ, bám riết không buông tha ra sao. Bị nỗi sợ hãi ấy thôi thúc, anh ta bèn đi sửa cửa gara, nào ngờ cánh cửa sập hẳn xuống, cả cái gara đổ sụp, đè nát chiếc xe còn thê thảm hơn.
Chuyện này, người hiểu chút ít về phân tâm học sẽ bảo rằng trong tiềm thức người chồng vốn đã muốn phá hỏng chiếc xe của vợ; thế nhưng khi tiến hành tham vấn cho họ, tôi cảm nhận sâu sắc rằng mấu chốt ở đây là: trong nhận thức của người chồng, dường như người vợ không có lấy một mảy may không gian cho sự bao dung, thế nên anh ta căn bản không có cơ hội đi cầu xin sự thứ tha từ vợ. Gạn hỏi người vợ, quả nhiên cô ấy nói mình đinh ninh người chồng cố ý công kích mình, cô hận đến nghiến răng nghiến lợi.
Sự việc tương tự cũng xảy ra đối với người vợ. Doanh nghiệp của họ vận hành rất tốt, vợ là người phụ nữ mạnh mẽ (nữ cường nhân), là người điều hành chính, còn chồng quản lý sổ sách. Người vợ vốn tính hào sảng rộng rãi, trong khi người chồng lại tiết kiệm đến mức bủn xỉn keo kiệt. Cứ mỗi độ cuối năm đến kỳ phát tiền thưởng tết cho nhân viên, người vợ lại vô cùng âu lo; cô cũng cảm thấy người chồng không chừa cho mình một chút khoảng trống bao dung nào, trong chuyện thưởng tết cứ phải nhất nhất tuân theo ý anh ta, mà điều đó vừa chẳng hợp với tác phong của cô, vừa đi ngược lại nguyên tắc quản trị. Thế là, trước khi hết năm hai tháng, cô tìm đủ mọi cách lấy lòng chồng nhằm đổi lấy sự nhượng bộ của anh ta; kết cục người chồng vẫn khăng khăng không lùi bước. Nổi trận lôi đình, cô bèn gạt phăng người chồng sang một bên, tự mình quyết định phương án phát thưởng tết.
Hai con người này ở bên nhau, dường như sinh ra là để giảo sát lẫn nhau: Trong chuyện do tôi làm chủ, anh bắt buộc phải nhất nhất tuân theo ý tôi, không có nửa phân không gian thỏa hiệp; trong chuyện do anh làm chủ, tôi lại cảm nhận thấy ở anh cảm giác khống chế tuyệt đối tương tự, chẳng hề chừa lại cho tôi một mảy may không gian để thương lượng nhượng bộ.
Họ không yêu nhau, cho nên sự giảo sát này hiện lên vô cùng rõ rệt; nhưng trong những mối quan hệ tràn ngập yêu thương, sự giảo sát ấy cũng có thể trở nên tàn khốc chẳng kém.
Ví như một cặp vợ chồng nọ, người chồng là một cổ động viên bóng đá cuồng nhiệt, mỗi mùa World Cup đều say sưa mê mẩn. Người vợ đâm ghen tuông với sở thích của chồng, bèn bảo: "Nếu anh thực sự yêu em, thì hãy cai World Cup đi." Người chồng quả nhiên làm đúng như vậy!
Như vậy thì quá đỗi đáng sợ. Nếu thế, hai con người yêu nhau sẽ tự tay chặt đứt chân tay đang vươn ra thế giới bên ngoài của đối phương, rốt cuộc dẫn đến sự giảo sát triệt để lẫn nhau.
Hơn nữa, điều này cũng sẽ khơi dậy cơn thịnh nộ khôn cùng. Chẳng hạn như người chồng nọ, vì để bảo vệ mối quan hệ cộng sinh mà dứt bỏ niềm đam mê World Cup, nhưng từ đó anh lại nảy sinh nỗi phẫn nộ ngút trời đối với người vợ. Song le, vì muốn duy trì cảm giác hai người là cặp đôi yêu nhau sâu sắc nhất trần đời, anh tuyệt nhiên không bao giờ bộc lộ sự giận dữ ấy. Kết quả là, cơn giận dữ rốt cuộc đã biến chất thành lòng căm thù. Và theo quan sát của tôi, một chuỗi những bi kịch thảm khốc mà mối tình cộng sinh này phải gánh chịu về sau, thảy đều bắt nguồn từ chính những phẫn nộ cùng oán hận ấy mà biến chuyển thành.
Một sinh mệnh vốn là một tiến trình dần dần tiến bước tới một thế giới khoáng đạt, rộng mở hơn; một mối quan hệ lành mạnh tốt đẹp rốt cuộc phải dẫn tới kết quả này. Nếu trong một mối quan hệ lâu dài, bạn, hoặc cả hai người, càng sống lại càng trở nên hạn hẹp, tù túng, vậy thì thực sự cần phải nghiêm túc phản tư xem liệu mối quan hệ của hai bạn có phải đã biến thành sự giảo sát cộng sinh hay không.
Từ một đứa trẻ sơ sinh trưởng thành tới thiếu niên cần phải trải qua ba giai đoạn: Trước 6 tháng tuổi là giai đoạn cộng sinh của một người; từ 6 tháng đến 3 tuổi là giai đoạn của hai người; từ 3 đến 5 tuổi là giai đoạn của ba người.
Tương ứng như vậy, tình yêu cũng có ba giai đoạn:
⚬ Giai đoạn thứ nhất, 1 + 1 = 1: Hai chúng ta hòa quyện như một người.
⚬ Giai đoạn thứ hai, 1 + 1 = 0: Mọi thống khổ bất hạnh của tôi đều do bạn gây ra, tôi hận bạn.
⚬ Giai đoạn thứ ba, 1 + 1 = 2: Tôi là tôi, bạn là bạn, và chúng ta ở bên nhau.
Sự cộng sinh ở giai đoạn thứ nhất ban đầu rất đỗi mê hoặc, nhưng không thể tránh khỏi việc sẽ bước sang giai đoạn thứ hai; nếu hóa giải được oán hận và phẫn nộ trong giai đoạn này, đôi bên mới có thể bước vào giai đoạn thứ ba. Để rồi về sau, đó sẽ là cảnh tượng hai con người cùng nhau gắn kết thân mật, sải bước tiến vào một cuộc đời khoáng đạt, thênh thang.
Ý Tượng Về Sự Dính Dớp Và Những Con Mắt
Trong nhóm “F4” của giới nghệ thuật đương đại Trung Quốc, tôi chú ý sớm nhất đến Trương Hiểu Cương và Nhạc Mẫn Quân, về sau có người giới thiệu Phương Lực Quân cho tôi, tôi mới bắt đầu để mắt tới, và các tác phẩm của anh cũng để lại cho tôi ấn tượng rất sâu sắc.
Phải thừa nhận rằng, việc có thể thưởng thức được các tác phẩm của nhóm F4, công tác tham vấn tâm lý đóng vai trò rất lớn. Mãi đến năm 2007 tôi mới bắt đầu chính thức làm tham vấn, mà đa số các ca tham vấn đều là dài hạn, những ca hiện vẫn đang tiếp tục đều đã trò chuyện ít nhất trên ba năm trời.
Dài hạn đồng nghĩa với chiều sâu, mà tham vấn chuyên sâu mới có thể đi sâu vào tận đáy lòng thân chủ; cũng chính nhờ không ngừng chạm tới phần nhân tính sâu hoắm tựa vực thẳm, tôi mới nhận ra rằng: những gì các nghệ sĩ này biểu đạt chính là nhân tính ẩn sâu nơi tầng sâu tiềm thức.
Các bức họa của Phương Lực Quân, tôi thấy anh đang vẽ những “linh hồn chưa hóa thành hình người”. Bất kỳ ai cũng cần ít nhất một mối quan hệ có sự kết nối trọn vẹn để làm chiếc bình chứa; chiếc bình chứa này cho phép năng lượng của người đó tuôn chảy bên trong, và được định hình ngay trong mối quan hệ ấy. Nhưng nếu thiếu vắng một mối quan hệ như thế, đặc biệt là thiếu hụt vào giai đoạn sơ sinh thuở đầu đời, linh hồn của một con người sẽ không thể thành hình, hay nói đúng hơn là chưa thành hình người.
Một chùm tác phẩm vẽ cảnh những gã đàn ông khổ sở bơi trong nước của anh khiến tôi nhớ tới giấc mơ mà một thân chủ trạch nam thường hay gặp: anh ta đang bơi trong một thứ chất lỏng sền sệt, dính dớp tựa như siro, nhưng độ nhớt của chất lỏng quá đậm đặc, tay chân anh như bị trói chặt khó lòng vươn ra được, đến mức mọi cử động đều như quay chậm.
Trong buổi tham vấn, tôi hỏi chàng trạch nam này: “Chất lỏng như siro khiến anh liên tưởng tới điều gì?” Điều đầu tiên anh nghĩ tới là tình yêu của mẹ: tình mẹ tựa như siro đường đặc quánh; tiếp đó anh nghĩ tới cảm giác tội lỗi của mình đối với mẹ. Tình yêu của mẹ quá đỗi nặng nề. Mẹ anh đã nhiều lần bảo: “Cuộc đời mẹ chỉ có duy nhất mình con.” Kỳ thực anh có bố, nhưng mối quan hệ giữa mẹ và bố lại rất xa cách.
“Cuộc đời mẹ chỉ có duy nhất mình con.” Khi một người mẹ nói với con trai như vậy, ý tứ đằng sau là: Mẹ và con đang cùng cộng sinh với nhau.
Margaret Mahler từng nói, trẻ sơ sinh trước 6 tháng tuổi nằm trong giai đoạn cộng sinh bình thường. Tức là chỉ đối với trẻ trước 6 tháng tuổi thì cộng sinh mới là bình thường, còn sự cộng sinh sau mốc đó đều là cộng sinh bệnh lý.
Cộng sinh vốn là nhu cầu bình thường của đứa trẻ trước 6 tháng tuổi, nhưng ở người mẹ của chàng trạch nam này, nó lại biến thành nhu cầu của chính người mẹ. Thế là, không còn là đứa con trai muốn cộng sinh cùng mẹ nữa, mà chủ yếu là người mẹ muốn cộng sinh cùng con trai.
Nhưng cùng với quá trình lớn khôn, đứa trẻ sẽ từ cộng sinh bước tới độc lập, ngày càng khao khát rời khỏi vòng tay mẹ để dấn thân vào thế giới rộng lớn. Chàng trạch nam này cũng không ngoại lệ. Thế nhưng, chỉ cần anh để lộ ra dẫu một tia ý niệm nhỏ nhoi muốn rời xa mẹ, bà liền tỏ ra đau đớn đến mức như không thiết sống nữa.
Điều này dẫn tới cảm giác tội lỗi mãnh liệt của anh đối với mẹ: Động lực căn bản của sinh mệnh thôi thúc anh muốn rời xa mẹ, nhưng khi ấy anh phát hiện mẹ sẽ không thể sống nổi; dẫu mẹ có đau đớn đến nhường nào, anh vẫn muốn rời xa bà — dù trên thực tế anh chưa làm được điều đó. Do vậy, động lực muốn rời đi của anh chẳng khác nào một sự tấn công nhắm vào mẹ — hãy nhìn xem mẹ đau đớn đến mức sống dở chết dở thế kia. Thế là, anh trở nên vô cùng cắn rứt tội lỗi.
Hơn nữa, xét từ tầng mức sâu sắc hơn, trong tiềm thức của anh thực ra có động lực giết mẹ mãnh liệt: “Tôi chỉ muốn rời xa bà, nếu rời xa bà mà bà chết, vậy thì bà cứ chết đi cho rồi.” Động lực này cũng đem lại cho anh mặc cảm tội lỗi nặng nề. Vì thế đối với anh, khao khát cộng sinh của người mẹ tựa như thứ siro đặc quánh dính dớp, dính chặt lấy tay chân anh, khiến anh không tài nào nhúc nhích nổi.
Nếu bạn từng có giấc mơ tương tự hoặc cảm giác tương tự, điều đó rất có thể đồng nghĩa với việc bạn vẫn đang ở trong một mối quan hệ cộng sinh với một ai đó; người này rất dễ là bạn đời của bạn, nhưng thuở ban đầu, hoặc ở tận sâu thẳm tiềm thức, phần nhiều chính là mẹ của bạn.
Có thể nói, nếu người mẹ không thể chia tách với đứa con mà xem đứa con như một phần bản ngã của mình, thì tâm lý của đứa trẻ sẽ rơi vào trạng thái hỗn độn, chưa phân hóa, không phân biệt rạch ròi giữa bạn và tôi.
Trong một buổi tham vấn, có thân chủ đột nhiên cảm thấy bản thân mình đang lún một nửa người trong đầm bùn lầy quánh dính dớp, không sao rút chân ra được. Tương tự như vậy, cô nghĩ ngay đến mẹ. Mẹ cô từng tuyên bố thẳng thừng rằng nửa đời sau bà sẽ bám chặt lấy cô.
Nguyên mẫu của chất lỏng dính dớp đặc quánh ấy, hẳn chính là nước ối trong tử cung của người mẹ.
Những giấc mơ và ý tượng về chất lỏng đặc quánh là ẩn dụ cho chính cuộc đời họ. Khi làm nhiều việc, họ đều cảm thấy dường như có thứ gì đó đang dính chặt lấy mình, khó lòng bung mở ra được. Họ sẽ duy trì một sự trung thành tuyệt đối đối với mẹ, hoặc đối với những người được họ phóng chiếu là mẹ, chẳng hạn như bạn đời, con cái hay cấp trên.
Đồng thời, có một điều rất thú vị là: để đối kháng lại sự cộng sinh này, họ cũng sẽ phát triển nên một loạt cơ chế phòng vệ mà bản thân không hề tự ý thức được, cốt để ngăn chặn bất kỳ ai bước vào trái tim mình.
Chúng ta cần được nhìn thấy, nhưng đó phải là những đôi mắt mang theo sự thấu hiểu, yêu thương và tiếp nhận, và thứ được nhìn thấy cũng phải là chính bản thân ta, chứ không phải hình ảnh tưởng tượng của đối phương. Thế nhưng, trong trường quan hệ dính dớp nhầy nhụa kiểu Trung Quốc, những đôi mắt ta chạm trán cùng đôi mắt của chính chúng ta đa phần lại là những con mắt khắt khe, phán xét và không mấy thiện chí. Tệ nhất cũng là những con mắt chất đầy đòi hỏi — bạn bắt buộc phải đáp ứng đúng kỳ vọng của họ.
Chẳng hạn, trong dịp Tết kiểu Trung Quốc, người trẻ hễ về quê là tất yếu sẽ bị bảy cô tám dì tra khảo đủ điều: Có người yêu chưa? Cưới chưa? Kiếm được bao nhiêu tiền?...
Trong trường quan hệ dính dớp đặc quánh, thường là bạn chưa kịp làm gì đã thấy mệt lả cả người, bởi vì rất nhiều năng lượng đã bị tiêu hao trong vô thức khi phải căng thẳng đối phó với những con mắt đang chằm chằm soi mói kia. Vì thế mới xuất hiện cái gọi là “hội chứng sau kỳ nghỉ Tết”: đối với quá nhiều người, về quê ăn Tết thực chất chẳng hề có mùi vị của sự quay về bến đỗ bình yên, trái lại, đợi đến khi trở về với mái ấm nhỏ và cơ quan làm việc, họ mới cảm thấy một sự trút bỏ nhẹ nhõm vô cùng.
Trường quan hệ dính dớp rất dễ dẫn tới một hiện tượng: bạn không được phép phạm sai lầm. Hễ có chút sơ sẩy, những con mắt kia liền phật ý không vui. Nếu nhận thấy bản thân mình đặc biệt không chấp nhận nổi việc mình phạm sai lầm, điều đó đồng nghĩa với việc không gian hành động của bạn vô cùng chật hẹp. Nhận thức được điều này, bạn có thể thử cho phép mình phạm phải một vài lỗi lầm vô hại về mặt lý tính lẫn thực tế, rồi tự nhủ với chính mình: Không sao cả! Nhờ thế mà vươn mở tay chân mình ra thêm một chút.
Từ trong xương tủy, chúng ta đều thật lòng mong muốn người khác hài lòng. Đặc biệt là những kẻ bản ngã chưa thành hình, tha nhân chính là chiếc gương soi của chính họ; nhất cử nhất động có ý nghĩa hay không đều phụ thuộc hoàn toàn vào việc tấm gương kia nhìn nhận họ ra sao.
Chiếc gương quan trọng đến thế, nên chúng ta rất dễ đòi hỏi thẳng thừng tấm gương phải phản hồi lại theo đúng cảm nhận của mình; điều này đã tạo nên sự kiềm tỏa dữ dội đối với chiếc gương — tức một con người bằng xương bằng thịt sống động khác. Nếu bản ngã của đối phương cũng chưa thành hình, họ sẽ lao vào giằng xé, siết chết lẫn nhau.
Bạn có từng cảm thấy bị ai đó dán chặt mắt theo dõi, hễ có chút gì phật ý là đối phương liền cực kỳ khó chịu, thậm chí bùng nổ ác ý thù địch? Liệu chính bạn có đang dùng đôi mắt soi mói xét nét của mình để dán chặt vào đối phương hay không? Ánh nhìn chằm chằm dày đặc của bạn cũng sẽ tạo nên áp lực khủng khiếp cho người kia. Ta thường thấy một kiểu khuôn mẫu bạn đời: đôi bên đều nơm nớp lo sợ đối phó với nhau, nhưng đồng thời, chính bản thân mình lại là nguyên nhân khiến đối phương nơm nớp lo sợ.
Rất nhiều thân chủ có những ý tượng về đôi mắt, thường là một con mắt hoặc một đôi mắt dõi theo sát sao từng cử chỉ hành động của mình. Lại có những người, ý tượng của họ là trên khoảng không trên đỉnh đầu chen chúc dày đặc những con mắt. Những người mang ý tượng thứ hai này, khi hành động dường như chẳng có lấy một tấc không gian tự do nào; mỗi bước đi của họ cứ như thể liên quan đến chuyện sống còn, hễ sảy chân một bước là tai họa ngập đầu sẽ giáng xuống vậy.
Ai Đã Bức Tử Dương Nguyên Nguyên?
Tôi vẫn luôn khó mà tưởng tượng nổi suốt hơn ba mươi năm qua, cô ấy đã sống như thế nào. Bởi người mẹ không rời nửa bước, không có không gian riêng tư, không có thời gian cho cá nhân, không có lấy một góc nhỏ cho cảm xúc của chính mình — người mẹ dường như đã trở thành “nửa kia” mà kiếp này đời này cô không tài nào rũ bỏ nổi. Vì thế cô không thể đi tìm một nửa kia đích thực, cũng chẳng thể bắt đầu một mối tình. Đi tới bất cứ nơi đâu cô cũng phải tha theo người mẹ vốn chẳng hề già yếu cũng không mang bệnh tật, trước sau luôn sống dưới sự giám sát và kiểm soát của mẹ. Xét từ góc độ lựa chọn cá nhân, cô gần như chưa từng có được quyền lợi chính đáng mà một người trưởng thành cần có, mà điều đó lại vừa vặn bị nền văn hóa đạo hiếu tước đoạt sạch trơn.
— Cư dân mạng Thiên Nhai “Thủy Yêu Buổi Chiều”
Diễn đàn Thiên Nhai Tạp Đàm trong suốt nhiều năm trời có lẽ xứng đáng được gọi là cơ quan truyền thông số một Trung Quốc.
Rất nhiều người tìm đến đây để kêu oan, trong khi ở những nơi khác họ chưa chắc đã có được cơ hội này. Một bộ phận trong số họ nhận được sự quan tâm thỏa đáng, thậm chí oan khuất cũng nhờ đó mà được hóa giải. Nhưng cũng có rất nhiều nỗi oan của người ta bị chứng minh chỉ là lời dối trá, để rồi màn kêu oan của họ rốt cuộc lại diễn biến thành một trò cười.
Cái chết của Dương Nguyên Nguyên từng gây chấn động diễn đàn Thiên Nhai năm 2009 cũng có quỹ đạo phát triển tương tự. Thoạt tiên, có người lên Thiên Nhai đăng bài viết cho rằng Đại học Hàng hải Thượng Hải đã cậy thế lấn lướt, dồn ép một nữ học viên cao học nghèo khó một lòng muốn tận hiếu như Dương Nguyên Nguyên vào chỗ chết. Bài đăng này suốt một thời gian dài đã lấy đi vô vàn nước mắt và sự đồng cảm của đông đảo cư dân mạng; thế nhưng đồng thời, ngày càng có nhiều cư dân mạng phát hiện ra những lỗ hổng sơ hở trong bài viết, và cũng liên tục có những sự thật mới được phơi bày, để rồi cuối cùng đa số cư dân mạng đã quay ngoắt sang lập trường đối lập với người đăng bài.
Cái chết của Dương Nguyên Nguyên là một bi kịch thê thảm. Cái chết là một sức nặng khôn kham; khi bàn luận về cái chết, người ta phải gánh trên vai sức nặng ấy, và những người dám đứng ra chất vấn cần phải có lòng dũng cảm cùng trí tuệ đáng nể. Đồng thời, người đăng bài cũng đã khéo léo lồng ghép vào những chủ đề mang tầm vóc vĩ mô, rất đỗi phù hợp với hệ thống tưởng tượng của dân gian: một là tận hiếu, hai là sự đối đầu giữa một cá nhân nghèo khổ đơn độc với một trường đại học thế lực bề trên — đặc biệt là chủ đề thứ hai, nó mang tính mê hoặc và đánh lừa dư luận cực kỳ ghê gớm. Điều này trực tiếp dẫn đến việc không chỉ vô số cư dân mạng bị dẫn dắt, mà ngay cả đa phần các cơ quan truyền thông báo chí cũng bị dắt mũi theo.
Thế nhưng, đăng bài trên một diễn đàn truyền thông sôi sục bậc nhất như vậy thực sự phải hết sức cẩn trọng, bởi nơi đây vừa có đám đông “ô hợp chi chúng” như lời nhà xã hội học người Pháp Gustave Le Bon từng mô tả, nhưng cũng không thiếu những bậc sáng mắt tinh đời. Hơn nữa, gần như tất cả những người trong cuộc đều có khả năng lên mạng, vì thế ắt sẽ có những tiếng nói từ đủ mọi góc độ, những tầng bậc sự thật từ các phía cùng dâng trào; cuối cùng, lời dối trá hầu như luôn bị bóc trần về đúng bản chất dối trá, và chân tướng hầu như luôn được làm sáng tỏ.
Xoay quanh sự kiện Dương Nguyên Nguyên, chân tướng rốt cuộc là gì? Chân tướng là: Thay vì bảo đây là một đề tài vĩ mô về sự vùng vẫy kháng cự của một cá thể nghèo khó trước một xã hội thiếu vắng hơi ấm tình người, thì chi bằng hãy thẳng thắn thừa nhận rằng: Đây chính là một bi kịch gia đình, một bi kịch trong quá trình trưởng thành của một cá nhân.
Đề Tài Vĩ Mô — Cuộc Kháng Cự Của Cá Nhân Nghèo Khó Trước Một Xã Hội Lạnh Lùng?
Dương Nguyên Nguyên qua đời vào rạng sáng ngày 26 tháng 11. Tại phòng vệ sinh của ký túc xá trường, cô nối một chiếc khăn tắm và một chiếc khăn trải gối lại với nhau, một đầu buộc chặt vào vòi nước, một đầu tròng vào cổ mình, rồi ngồi xổm trên mặt đất, kết thúc cuộc đời mình một cách đau đớn khôn xiết theo một phương thức khó mà tưởng tượng nổi.
Tại sao Dương Nguyên Nguyên lại tự sát? Về điều này, cư dân mạng có tên “Đãi Cương Du Dân” — người đầu tiên châm ngòi phanh phui vụ việc lên Thiên Nhai — trong bài viết mang tựa đề Nguyên nhân thực sự dẫn đến cái chết của nữ học viên cao học Luật Hàng hải Đại học Hàng hải Thượng Hải đã khẳng định rằng: Chính sự lạnh lùng vô cảm của phía nhà trường đã bức tử Dương Nguyên Nguyên.
Bài viết này kể rằng, mẹ của Dương Nguyên Nguyên là bà Vọng Thụy Linh do bị mất việc (hạ cương), lại thêm khu nhà ở tập thể dành cho thân nhân bị niêm phong đóng cửa nên không còn chốn dung thân, đành phải đi theo con gái lên Thượng Hải. Vì nghèo đói, không có tiền thuê nhà trọ, mà những phòng trọ thuê được thì lại quá đỗi lạnh lẽo, nên bà đành phải chen chúc ngủ chung một giường trong ký túc xá của con gái. Cứ như thế sống qua hơn một tháng, cuối cùng người bạn cùng phòng của Dương Nguyên Nguyên đành chủ động dọn ra ngoài.
Tiếp đó, phía nhà trường yêu cầu mẹ Dương Nguyên Nguyên phải dọn ra khỏi ký túc xá. Khi hai mẹ con van nài khẩn cầu, một vị cán bộ nhà trường đã buông ra những lời lẽ vô cùng xót xa: “Không có tiền, không có tiền thì đi học làm cái gì?” Thêm vào đó, người phụ trách quản lý ký túc xá họ Cao còn buông lời đe dọa rằng nếu mẹ cô không dọn đi, Dương Nguyên Nguyên đừng hòng mong lấy được bằng thạc sĩ và chứng nhận tốt nghiệp.
Theo lời bài viết này, người quản lý ký túc xá nọ còn lớn tiếng mắng nhiếc mẹ cô, gọi bà là “dân nhà quê”, bảo bà đừng có đem cái thói ở thôn quê lên đây mà áp dụng. Đáng phẫn nộ hơn nữa là khi phát hiện Dương Nguyên Nguyên tự sát, những nhân sự của trường bao gồm cả người quản lý ký túc xá này đã cản trở không cho mẹ cô cứu giúp.
Nhìn theo cách ấy, phía nhà trường mà đại diện là người quản lý ký túc xá kia không chỉ phải gánh vác trách nhiệm gián tiếp vì đã dồn ép Dương Nguyên Nguyên vào bước đường cùng không lối thoát, mà còn phải chịu trách nhiệm trực tiếp vì đã ngăn cản việc cứu nạn cứu hộ — quả thực là tội ác tày trời.
Bài đăng còn khắc họa một chi tiết hết sức cảm động: kể rằng sau khi bị đuổi khỏi ký túc xá sinh viên, người mẹ đã giấu con gái, lẳng lặng ngồi suốt đêm trước thềm hội trường của trường giữa những cơn gió lạnh thấu xương; khi Dương Nguyên Nguyên phát hiện ra đã òa khóc nức nở, ôm chặt lấy mẹ để sưởi ấm cho mẹ.
Thế nhưng những chi tiết này rốt cuộc đã lần lượt bị bác bỏ, hoặc chí ít cũng bị vạch rõ rằng đó chỉ là lời nói phiến diện từ một phía gia đình họ Dương. Có cư dân mạng cuối cùng đã tổng hợp lại tất cả những điểm bất minh, vô căn cứ trong bài đăng đó, ví dụ như:
1. Người mẹ giấu con gái ngồi qua đêm trước thềm hội trường giữa gió lạnh cắt da cắt thịt: Bịa đặt.
2. Trong lúc tìm phòng thuê còn chưa có kết quả, nhà trường đột ngột cưỡng chế đuổi người: Bịa đặt.
3. Nhà trường không hề thu xếp chỗ ở cho mẹ của Dương Nguyên Nguyên: Bịa đặt.
4. Gia cảnh họ Dương nghèo đói tột cùng: Bịa đặt. Mẹ Dương có lương hưu hàng tháng, bản thân Dương Nguyên Nguyên cũng có chút tiền tích lũy.
5. Khi việc tìm phòng chưa ngã ngũ, cán bộ liên quan của trường liên tục gây sức ép khiến Nguyên Nguyên năm ngày năm đêm không thể chợp mắt, tinh thần hoàn toàn suy sụp tuyệt vọng: Bịa đặt.
6. Nhà trường không tạo điều kiện bố trí công việc làm thêm vừa học vừa làm (cần công kiệm học): Bịa đặt.
Dương Nguyên Nguyên là người Chi Giang, tỉnh Hồ Bắc, từng học đại học tại Đại học Vũ Hán. Cư dân mạng “Đãi Cương Du Dân” cho rằng năm 2001 khi Dương Nguyên Nguyên học năm thứ ba đại học, nhà máy quân đội nơi mẹ cô làm việc phải di dời nên mất chỗ ở, thế là bà tìm đến ký túc xá của con gái, chen chúc ngủ cùng con trên một chiếc giường đơn. Vài tháng sau, nhờ cậy mối quan hệ của một giảng viên, bà mới dọn vào ở nhờ một căn phòng bỏ trống chỉ có trơ trọi một chiếc bàn.
Đại học Vũ Hán hành xử thấu tình đạt nghĩa đến nhường ấy, lại càng làm nổi bật lên sự lạnh lùng tàn nhẫn của Đại học Hàng hải Thượng Hải. Thế nhưng, chi tiết này cũng hoàn toàn không đáng tin cậy. Một cư dân mạng hiểu rõ nội tình đã đăng bài vạch trần: “Bảo quê nhà không còn chỗ ở là nói dối, khu tập thể của nhà máy 404 hiện nay vẫn còn sờ sờ ra đó, hơn một phần ba cán bộ công nhân viên vẫn đang sinh sống bình thường; bảo hồi ở Đại học Vũ Hán hai mẹ con ở chung ký túc xá cũng là dối trá, chính các bạn học ở Đại học Vũ Hán đã lên tiếng cho chúng ta biết rằng bà Vọng Thụy Linh thời điểm đó thuê phòng trọ ở ngay cạnh ký túc xá để ở...”
Thậm chí ngay cả một số chi tiết không mấy then chốt cũng trở nên mập mờ, sai sự thật. Gia đình họ Dương rêu rao rằng năm xưa Dương Nguyên Nguyên thi đỗ vào khoa Kinh tế Đại học Vũ Hán với thành tích xuất sắc, nhưng cư dân mạng chỉ ra rằng đó là chuyện bịa. Sự thật là Dương Nguyên Nguyên thi đỗ vào một trường đại học khác, chỉ là trước thời điểm cô tốt nghiệp, ngôi trường đó mới được sáp nhập vào Đại học Vũ Hán mà thôi.
Một Bi Kịch Cá Nhân Hay Bi Kịch Gia Đình?
Sau khi những chi tiết ngụy tạo kia được làm sáng tỏ, chi tiết mấu chốt nhất đã trở thành chiếc chìa khóa vạn năng để giải mã toàn bộ sự kiện này. Chi tiết the chốt ấy chính là: Kể từ năm thứ ba đại học của Dương Nguyên Nguyên, người mẹ đã dọn đến ở cùng một chỗ với con gái.
Chi tiết này từng được “Đãi Cương Du Dân” tô vẽ thành minh chứng hùng hồn nhất cho lòng hiếu thảo của Dương Nguyên Nguyên. Thế nhưng, chỉ riêng chi tiết này thôi đã đủ quái dị và bất thường đến tột cùng rồi: Lẽ nào Dương Nguyên Nguyên bắt buộc phải dùng phương thức này để tận hiếu hay sao?
Vì đủ loại nghịch cảnh gia đình éo le, sinh viên đại học ở Trung Quốc từng viết nên không ít câu chuyện lay động lòng người. Chẳng hạn như chàng sinh viên Hà Nam Hồng Chiến Huy cõng em gái đi học, hay cậu sinh viên Trương Hằng của Đại học Sư phạm Từ Châu cõng người cha đi học — hai câu chuyện ấy từng khiến hàng triệu con tim thổn thức, và các trường đại học cũng đã dang tay trợ giúp họ hết mình.
Thế nhưng, trường hợp của Hồng Chiến Huy và Trương Hằng đều là những sự lựa chọn bất đắc dĩ; việc mang theo người thân đi học gần như là con đường sống duy nhất của họ, bởi lẽ em gái của Hồng Chiến Huy còn quá thơ dại và không một ai chăm sóc, còn cha của Trương Hằng thì bị bại liệt toàn thân chẳng ai đoái hoài.
Thế nhưng việc dắt mẹ đi học tuyệt nhiên không phải là lựa chọn duy nhất của Dương Nguyên Nguyên, thậm chí còn thua xa một lựa chọn tối ưu. Bởi lẽ mẹ của cô khi ấy mới ngoài năm mươi tuổi, thân thể hoàn toàn khỏe mạnh, lại đều đặn nhận mức lương hưu 937 nhân dân tệ mỗi tháng. Số tiền này dẫu không nhiều, nhưng nếu biết tằn tiện chắt bóp thì cũng thừa đủ sống qua ngày. Hơn thế nữa, điều quan trọng là cư dân mạng đã chỉ ra rằng bà Vọng Thụy Linh không hề lâm vào cảnh không chốn nương thân; bà vẫn có phòng ở tại khu tập thể cơ quan. Dẫu cho cách nói này không đúng đi chăng nữa, thì với một người khỏe mạnh, nếu chịu đi làm những công việc như giúp việc gia đình (gia chính) thì việc tự nuôi sống bản thân là chuyện dễ như trở bàn tay.
Vậy thì, cớ sao một người mẹ khỏe mạnh, có đầy đủ năng lực sinh hoạt và có lương hưu lại cứ nhất quyết phải sống bám lấy Dương Nguyên Nguyên, mà lại bằng cái cách chen chúc chung một chiếc giường đơn trong ký túc xá sinh viên với con gái mình? Đây là nhu cầu tận hiếu của Dương Nguyên Nguyên, hay thực chất là nhu cầu ích kỷ của chính bản thân người mẹ?
Một thuật ngữ trong tâm lý học — sự cộng sinh — có thể giải thích vô cùng thỏa đáng cho hành vi này của bà mẹ. Cộng sinh tức là hai con người không thể tách rời khỏi nhau; giữa họ có thể tồn tại muôn vàn đau khổ thậm chí là thù hận, nhưng họ dứt khoát không thể chia lìa, mà bắt buộc phải dính chặt, giằng xé lấy nhau trong một mối quan hệ bệnh lý.
Nhà tâm lý học Margaret Mahler — người phát triển thuật ngữ này — từng khẳng định: Đối với trẻ sơ sinh trước 6 tháng tuổi, cộng sinh là bình thường; nhưng cộng sinh sau mốc thời gian đó đều là cộng sinh bệnh lý.
Hiện tượng cộng sinh bệnh lý thường thấy nhất trong hai mối quan hệ thân mật: quan hệ tình nhân và quan hệ cha mẹ - con cái. Điểm khác biệt nằm ở chỗ: trong quan hệ tình nhân, nó tương đối cân bằng bởi sức mạnh của hai người trưởng thành là ngang tài ngang sức; nhưng nếu là sự cộng sinh trong quan hệ cha mẹ - con cái, nó thường mang tính mất cân bằng nghiêm trọng. Đây trước hết là nhu cầu từ phía cha mẹ: cha mẹ về mặt tâm lý không thể rời xa con cái, nếu đứa con rời đi, họ sẽ cảm thấy như đánh mất chính mình, sẽ trống rỗng tột cùng, không tìm thấy cảm giác về sự tồn tại của bản thân, vì thế họ sẽ sống chết túm chặt lấy đứa con không buông.
Đối với con cái, trong ý thức họ thường đinh ninh rằng đây là bổn phận mình phải làm, nhưng trong thẳm sâu nội tâm họ lại vô cùng đau đớn; họ khao khát đến cháy bỏng được bước ra độc lập, song ý thức lại phán xét rằng điều đó là sai trái, thậm chí chính bản thân họ cũng không thể chấp nhận nổi cái động lực muốn vươn tới sự độc lập của mình. Nhìn từ toàn bộ cuộc đời của Dương Nguyên Nguyên, việc thoát ly khỏi người mẹ để vươn tới sự độc lập luôn là một động lực vô cùng quan trọng. Năm 1998, khi đăng ký nguyện vọng thi đại học, Dương Nguyên Nguyên khao khát được đến Đại học Hàng hải Đại Liên để học ngành Luật Hàng hải, nhưng đã bị người mẹ gạt phăng đi. Lý do mà bà Vọng Thụy Linh đưa ra để ngăn cản con gái là: thi vào các trường ở Vũ Hán thì đỡ tốn tiền tàu xe đi lại.
Nguyện vọng dang dở chưa thành ấy đã hóa thành một nút thắt tâm lý (tâm kết) đè nặng trong lòng Dương Nguyên Nguyên. Ngày 25 tháng 11 — đúng một ngày trước khi tự sát — theo lời kể của người mẹ, khi hai mẹ con ngồi trò chuyện, cô đã hồi tưởng lại tường tận mọi chuyện từ thuở tấm bé cho đến lúc trưởng thành — việc nhìn lại toàn bộ cuộc đời là hành vi mà những người có ý định tự sát thường làm trước khi kết liễu đời mình. Cô đã dũng cảm nói thẳng với mẹ: “Nếu năm xưa mẹ ủng hộ con thi vào Đại học Hàng hải Đại Liên, thì bây giờ mọi chuyện đã tốt đẹp rồi.” Đồng thời, cô còn cố ý nhắc đến một cô bé 15 tuổi mà cô từng dạy kèm gia sư, chỉ vì áp lực học tập nặng nề mà đã nhảy từ tầng 28 xuống tự vẫn.
Trước những lời gan ruột ấy của con gái, người mẹ chẳng biết phải đáp lại ra sao. Vậy thì, liệu bà có từng thấu hiểu nổi tại sao con gái mình lại khát khao thi vào chuyên ngành Luật Hàng hải của Đại học Hàng hải Đại Liên đến thế hay chăng?
Cuộc Đời Của Ai? Ước Mơ Của Ai?
Theo lời bà mẹ, sở dĩ Dương Nguyên Nguyên muốn học luật là vì hồi học cấp ba, danh hiệu “Học sinh Ba tốt cấp thành phố” của cô đã bị một vị lãnh đạo địa phương dùng quyền thế cướp đoạt để trao cho con cái của ông ta. Có lẽ lý do này là có thật, nhưng theo góc nhìn của tôi, nguyện vọng này của Dương Nguyên Nguyên mang một ý nghĩa tượng trưng vô cùng mãnh liệt.
Đến một nơi xa xôi tít tắp như Đại Liên, chính là vì cô muốn rời khỏi nhà, rời xa người mẹ để vươn tới sự độc lập, dùng cách thức ấy để giành lấy một không gian độc lập cho riêng mình.
Nỗ lực này cô từng làm đi làm lại rất nhiều lần. Sau này cô từng hai lần thi đỗ công chức ở một thành phố nhỏ thuộc tỉnh ngoài, nhưng rốt cuộc đều không đi. Theo lời giải thích của người mẹ, một là vì khoảng cách quá xa xôi, hai là vì đó không phải những đại đô thị tuyến một như Bắc Kinh hay Thượng Hải.
Thế nhưng sự thật trần trụi lại là: Rời khỏi nhà để đến những phương trời xa xôi là ước mơ của Dương Nguyên Nguyên; còn việc không muốn cho con gái đi đến những nơi “xa xôi” và muốn ép con gái phải tới những thành phố tuyến một thực chất chỉ là ước mơ của riêng bà Vọng Thụy Linh mà thôi.
Trên một diễn đàn nọ, có một chàng trai muốn tìm bạn gái, một người bạn của anh đã đăng bài khuyên rằng: Tuyệt đối đừng bao giờ tìm những cô gái sinh ra, đi học rồi đi làm đều chỉ quanh quẩn ở cùng một thành phố, đặc biệt là những cô gái sau khi đi làm vẫn tiếp tục sống chung dưới một mái nhà với cha mẹ. Ngược lại, nếu là con gái đi tìm bạn trai thì lời khuyên này cũng hoàn toàn xác đáng. Bởi lẽ dấu mốc để một con người từ một đứa trẻ lột xác thành một người trưởng thành chính là việc rời xa cha mẹ và giành lấy không gian độc lập cho chính mình — sự độc lập này không chỉ thuần túy ở phương diện kinh tế, mà quan trọng hơn cả là ở phương diện tâm lý.
Khao khát về một không gian độc lập thực chất là nguyện vọng chung của tất cả những đứa con. Tôi không nhớ nổi đã có bao nhiêu người từng bộc bạch với tôi rằng: hồi học đại học, nguyện vọng cháy bỏng nhất của họ chính là được đi học thật xa nhà. Có người đã thành công, có người thất bại; và sở dĩ thất bại, nguyên nhân trăm người như một đều là do sự ngăn cấm của cha mẹ.
“Phụ mẫu tại, bất viễn du” (Cha mẹ còn sống, con không đi xa) — chúng ta có một lời răn cổ xưa như vậy. Nhưng xét từ góc độ tâm lý học, cha mẹ phản đối con cái rời xa gia đình là bởi vì cha mẹ đã xem đứa con như một phần của cái “Tôi”. Tức là, cha mẹ nhìn thấy đứa con thì mới cảm thấy bản thân mình đang tồn tại; hễ không nhìn thấy con thì không tìm đâu ra cảm giác về sự tồn tại của mình nữa — nói theo cách bình dân dễ hiểu là “trong lòng thấy trống trải rỗng tuếch”.
Khi con cái rời xa gia đình, có lẽ đa phần các bậc cha mẹ ít nhiều đều nảy sinh cảm giác hụt hẫng; nhưng nếu họ có cảm giác tồn tại về bản ngã tương đối sáng rõ, họ sẽ không quá đỗi khiếp sợ trước sự độc lập của con cái; nếu có ý thức bản ngã vững vàng, họ thậm chí còn cổ vũ đứa con bước ra tự lập. Thế nhưng nếu rơi vào tình trạng thiếu thốn trầm trọng cảm giác tồn tại của bản ngã, không biết mình là ai, thì khi đứa con rời xa mình, họ sẽ trào dâng nỗi sợ hãi khủng khiếp, thậm chí cảm thấy mình như sắp chết đến nơi. Vì thế, những bậc cha mẹ thiếu thốn nghiêm trọng cảm giác về cái tôi sẽ tìm đủ trăm phương ngàn kế để cản trở bước chân tự lập của con; họ cũng không muốn giữa con cái và mình có bất kỳ ranh giới nào, họ mải miết theo đuổi một ảo ảnh cuồng vọng: Tôi chính là con, và con chính là tôi.
Dương Nguyên Nguyên không chỉ muốn đến Đại Liên, mà cô còn muốn học Luật Hàng hải. Sự theo đuổi đối với hàng hải tượng trưng cho nỗi khát khao hướng về một thế giới bao la rộng lớn.
Còn về pháp luật, thế giới của nó vô cùng rành mạch, có căn cứ, có ranh giới rõ ràng, chứ không mập mờ hỗn độn như thế giới tâm lý để người ta có thể tùy tiện xâm lấn chà đạp. Hơn nữa, mặt đối lập của pháp luật trong tâm khảm Dương Nguyên Nguyên có lẽ không phải là hành vi phi pháp, mà chính là đạo đức. Đạo đức luôn mập mờ, cây gậy đạo đức rất dễ bị người ta đem ra sử dụng để tước đoạt quyền lợi của chính mình, trong khi bản thân lại chẳng có lấy một kẽ hở nào để thanh minh phân bua. Thế nhưng, pháp luật thì hoàn toàn khác.
Trong xã hội chúng ta, một điều luật đạo đức kéo dài suốt hàng ngàn năm qua chính là đạo hiếu. Đạo hiếu đòi hỏi con cái phải trung thành vô điều kiện với cha mẹ; bởi thế, khi một người mẹ đòi hỏi không gian tồn tại từ đứa con gái, đứa con dường như chẳng còn đường nào để trốn chạy ngoài việc cúi đầu phục tùng.
Chính vì bóng ma của đạo hiếu, mà trong cái chết của Dương Nguyên Nguyên, chi tiết quái đản và dị thường nhất là hai mẹ con ngủ chung một chiếc giường đơn suốt những năm tháng đại học lại dễ dàng bị người đời bỏ qua, thậm chí còn được tô vẽ thành một biểu hiện vĩ đại của lòng hiếu thảo của đứa con.
Chữ “Hiếu” (孝) này, nếu chiết tự ra có thể hiểu thành “chém đứa trẻ một nhát đao, rồi vùi đứa trẻ xuống dưới lòng đất” (chữ Lão 老 đè lên trên chữ Tử 子), thật chẳng hiểu nổi vì sao từ xưa tới nay nó cứ mãi được phụng thờ như một sự tồn tại vĩ đại thiêng liêng đến thế.
Số Phận Của Juliet, Liệu Có Được Đoạn Kết Của Juliet?
Được đến một phương trời xa xôi để học tập, ước mơ này Dương Nguyên Nguyên không thể tự mình thực hiện, thế là cô đã đặt để ước mơ ấy lên vai người em trai. Cô viết thư dặn dò em: “Sau này em đừng nghe lời mẹ nữa...” Và khi người em trai Dương Bình Bình — lúc đó cũng đang học đại học ở Vũ Hán — tốt nghiệp đại học có ý định ở lại trường công tác, Dương Nguyên Nguyên đã đặt ra cho em một mục tiêu không cho phép chối từ: phải thi đỗ cao học tại Đại học Bắc Kinh. Và người em trai quả thực đã thay cô hoàn thành trọn vẹn tâm nguyện ấy.
Thế nhưng, đó rốt cuộc vẫn chỉ là chuyện của người em, còn ước mơ của chính cô thì vĩnh viễn chẳng có cơ hội trở thành hiện thực. Năm 2009, Dương Nguyên Nguyên thi đỗ vào Đại học Hàng hải Thượng Hải. Thoạt nhìn, Đại học Hàng hải Thượng Hải và Đại học Hàng hải Đại Liên dường như chẳng khác biệt là bao; nhưng trên thực tế lại hoàn toàn khác một trời một vực. Bởi lẽ, việc đặt chân tới một đại đô thị tuyến một như Thượng Hải, trước hết chính là ước mơ của bà Vọng Thụy Linh.
Khi Dương Nguyên Nguyên khăn gói lên Thượng Hải nhập học, bà Vọng Thụy Linh đương nhiên coi việc “phải đi theo con gái” là lẽ hiển nhiên trần đời. Khi người cậu ruột nhắc nhở chị gái rằng liệu đã nghĩ đến chuyện đại sự cả đời (chuyện chồng con) của con gái hay chưa, bà Vọng Thụy Linh thản nhiên buông một câu: “Tầng trên nhà mình thiếu gì đứa ba mươi mấy tuổi đầu đã lấy chồng đâu.”
Đến Thượng Hải, chen chúc ngủ cùng con gái trên một chiếc giường, đây không chỉ là sự tiếp nối của chuỗi ngày tăm tối trong quá khứ, mà còn mang thêm một tầng ý nghĩa khác: Thượng Hải chính là giấc mộng của riêng Vọng Thụy Linh. Trong một lần trả lời phỏng vấn, bà từng thừa nhận rằng thời trẻ bà từng đến Thượng Hải và mê đắm một đại đô thị như thế này.
Bước chân vào ngôi trường mới, Dương Nguyên Nguyên luôn cần mẫn, an phận và chăm chỉ. Một người bạn học kể lại: “Mỗi lần lên lớp, cô ấy đều lầm lũi ngồi một mình ở dãy bàn đầu tiên, thời buổi này còn tìm đâu ra một học viên cao học như thế nữa?”
Bà Vọng Thụy Linh kể rằng trước khi tự sát, con gái bà từng cảm thán: “Người ta đều bảo tri thức thay đổi số phận, con học nhiều đến thế này rồi, mà chẳng thấy có gì thay đổi cả.” Nghe qua, dường như Dương Nguyên Nguyên đang than thở cho những vất vả cơ cực trong cảnh nghèo hèn; nhưng liệu có thực sự là như vậy chăng? Hay ngoài điều đó ra, cái gọi là “số phận” trong lời trăn trối của Dương Nguyên Nguyên còn hàm chứa một tầng ý nghĩa nào khác?
Ít nhất ta có thể nhìn thấy một điều: Số phận bị người mẹ bám chặt không rời nửa bước này là thứ cô vĩnh viễn không tài nào thay đổi nổi. Bà Vọng Thụy Linh thoạt tiên chen chúc trên một chiếc giường đơn với con gái, rồi tha lôi cả đồ đạc sinh hoạt cá nhân của mình vào; khoảng một tháng sau, người bạn cùng phòng của Dương Nguyên Nguyên đành ngậm ngùi chủ động dọn đi nơi khác.
Ước mơ của Dương Nguyên Nguyên rộng lớn bao la như biển cả, thế nhưng thế giới thực tại của cô lại chật chội khôn cùng, ngoài người mẹ ra, chẳng còn có bất kỳ ai khác. Người thầy giáo phụ trách lớp kể lại rằng trong ký ức của thầy, Dương Nguyên Nguyên chưa từng tham gia bất kỳ một hoạt động tập thể nào: “Lần nào cô ấy cũng lầm lũi đi phía sau lưng mẹ mình, lặng lẽ lắng nghe mẹ nói chuyện.”
Có lẽ cô căn bản chẳng hề có cơ hội để bước chân vào một thế giới rộng lớn hơn. Năm 2001, sau khi bà Vọng Thụy Linh nghỉ hưu sớm ở nhà máy, bà đã lập tức dọn đến trường sống chung với con gái. Ban ngày lúc Dương Nguyên Nguyên đi học, bà Vọng Thụy Linh bày một sạp hàng nhỏ trong khuôn viên trường để bán đồ lặt vặt; tan học, Dương Nguyên Nguyên lại ra trông hàng giúp mẹ. Bạn học thời đại học nhớ lại rằng dạo ấy Dương Nguyên Nguyên rất hiếm khi giao tiếp với mọi người, thường nói được đúng một câu là câm nín không mở miệng nữa.
Về điều này, bạn bè giải thích là trông cô có vẻ vô cùng tự ti. Nhưng có lẽ đó không hẳn là tự ti, mà là một thứ cảm xúc vô cùng phức tạp đan xen giữa tuyệt vọng và ngưỡng mộ: cô hiểu rõ bản thân mình không thể nào giống như chúng bạn bước ra một thế giới bao la hơn; người mẹ ngồi bán hàng rong trong trường, người mẹ đêm đêm chen chúc trên cùng một chiếc giường đơn trong ký túc xá đã hoàn toàn đóng sập cánh cửa thế giới của cô lại. Dường như cô chỉ có thể thông qua người mẹ mới có được chút liên hệ mong manh với thế giới bên ngoài.
Sở dĩ đến tận năm 2001 bà Vọng Thụy Linh mới bắt đầu quấn chặt lấy con gái một cách dày đặc đến thế, nhìn bề ngoài có vẻ liên quan đến chuyện nghỉ hưu. Trước đó, bà có công việc để gửi gắm tâm tư, có đồng nghiệp để trò chuyện giãi bày; nhưng sau khi nghỉ hưu, thế giới của bà đã thu hẹp lại rất nhiều. Có lẽ khi ấy bà cảm thấy hoang mang sợ hãi, lo sợ không tìm thấy chính mình, lo sợ bản thân không còn tồn tại trên thế giới này nữa. Vậy thì, liệu có phải bà đã thông qua một đứa con gái đang học đại học để chứng minh cho sự tồn tại của chính bản thân mình hay chăng?
Sức sống của Dương Nguyên Nguyên vốn vô cùng bền bỉ và kiên cường. Sau khi tốt nghiệp đại học, cô từng bốn lần thi trượt cao học, phải trải qua chuỗi ngày dài đằng đẵng suốt tám năm trời trôi dạt không chút thành tựu, đầy tủi nhục và bế tắc. Tưởng chừng như danh phận học viên cao học ngành Luật Hàng hải của Đại học Hàng hải Thượng Hải sẽ là một bước ngoặt rực rỡ soi sáng cuộc đời cô.
Thế nhưng, cô lại “rút lui một cách đầy bí ẩn ngay khi rạng đông vừa hé rạng”. Đó là lời đúc kết cả cuộc đời cô từ một người bạn thân thiết. Trước khi rời khỏi cõi đời, cô đang tham gia tập luyện vở kịch Romeo và Juliet; dẫu trong lòng ngập tràn âu lo căng thẳng, nhưng cô đã hóa thân vào vai Juliet một cách xuất thần; theo lời các bạn học, buổi diễn tập lần đó đạt tới độ hoàn hảo không tì vết.
Lẽ nào, chính tiếng thở dài cảm thán của nàng Juliet đã đánh trúng tim can cô? Trong vở kịch Romeo và Juliet, nàng Juliet cũng giống như Romeo luôn cất tiếng thở dài trước số phận; nàng có linh cảm rằng dường như có một định mệnh nghiệt ngã đòi hỏi gia tộc của nàng và gia tộc của Romeo phải đổ máu hy sinh thì mối thù truyền kiếp giữa hai dòng họ mới có thể chấm dứt, và chính nàng là người phải gánh vác định mệnh nghiệt ngã ấy.
Cuối cùng, Juliet và Romeo đã cùng nhau gánh trọn số phận bi thương đó; sau khi sinh mệnh tươi trẻ của hai người tan biến vào cõi hư vô, hai gia tộc cuối cùng mới chịu dẹp bỏ mối huyết thù truyền đời.
Vậy thì, liệu Dương Nguyên Nguyên có thể nhận được sự đền đáp số phận giống như nàng Juliet hay chăng? Sự ra đi của một sinh mệnh tươi trẻ như cô, liệu có thể khiến bánh xe số phận của gia đình cô, và thậm chí là của cả xã hội chúng ta, quay chậm lại đôi phần?
Giữ Vững Ranh Giới: Đừng Làm Kẻ Tốt Bụng Vô Lối
Trong các mối quan hệ giữa người với người, sự thân mật là vô cùng quan trọng.
Ranh giới cũng quan trọng tương đương!
Thế nhưng ranh giới lại là một điểm khó trong các mối quan hệ nhân sinh kiểu Trung Quốc. Trong các gia đình Trung Quốc, có quá nhiều sự nuốt chửng, quá nhấn mạnh vào việc làm người tốt, và cũng quá đề cao việc con cháu hậu bối phải biết nghe lời. Kết quả là, những kẻ quá biết nghe lời, quá hiểu chuyện, quá nghĩ cho người khác mà không thể chủ động vạch ra ranh giới, sẽ sở hữu một phương thức phân định ranh giới rất đỗi đặc biệt: không nghe, không nhìn, không nói.
Có kiểu không nhìn, không nghe, không nói mang tính thông thường; lại có kiểu mang tính thực thể (bệnh lý tổn thương nội tạng/giác quan), chẳng hạn như thính giác hoặc thị giác gặp vấn đề.
Trong buổi tham vấn đầu tiên với một người đàn ông nọ, tôi cảm thấy buồn ngủ rũ rượi; tôi nghĩ nguyên do là bởi anh ta không hề kể chi tiết. Mời anh ta kể chi tiết, anh ta bảo quên rồi. Anh ta quả thực đã quên thật.
Nhưng về điều này, tôi có phần thấu hiểu, thế là hỏi anh ta: “Có phải anh có một người mẹ không ngóc ngách nào không len lỏi vào, chuyện gì cũng phải gặng hỏi đến tận cùng gốc rễ hay không?”
“Đúng vậy, mẹ tôi đúng là người như thế,” anh ta ngạc nhiên đáp, “sao thầy lại biết được?”
Tôi nói: “Nhờ vào việc anh không kể chi tiết mà tôi suy đoán ra đấy.”
Không kể chi tiết chính là phương thức để anh ta đối phó với sự xâm lấn không ngõ ngách nào không thấu của người mẹ. Không kể chi tiết thì người mẹ sẽ bị anh ta chặn đứng ở bên ngoài. Hơn nữa, anh ta hoàn toàn thành thật — tức là ở bình diện ý thức, anh ta thực sự đã quên đi những chi tiết ấy. Cứ như thế, anh ta sẽ không còn cảm giác tội lỗi nữa. Trong một gia đình mà người mẹ kiểm soát tất cả như thế này, về mặt ý thức anh ta sẽ cảm thấy không thể cự tuyệt mẹ, mẹ quá đỗi vĩ đại — anh ta thậm chí rất muốn viết hẳn một cuốn sách để nhiệt thành ca tụng mẹ. Thế nhưng về mặt cảm giác, anh ta lại rất muốn cự tuyệt sự xâm lấn mạnh mẽ của mẹ để giữ lại cho mình một khoảng không gian độc lập; ngặt nỗi ý thức lại cho rằng làm thế là sai trái, nên nguyện vọng này đành phải hoàn thành thông qua phương thức của tiềm thức. Tiềm thức đã thúc đẩy anh ta quên đi các chi tiết, nhờ vậy mà cả anh ta lẫn người mẹ đều chẳng có lý do gì để trách cứ anh ta được nữa.
Sau khi nghe tôi đưa ra lời giải thích này, anh ta mới có thể kể ra các chi tiết.
Những câu chuyện mang logic tương tự như vậy nhiều vô kể.
Một lần nọ, khi tham gia lớp học tại workshop Sắp đặt Hệ thống Gia đình của thầy Heinrich Breuer — bậc thầy sắp đặt hệ thống gia đình người Đức; có một buổi tối bên bàn ăn, một phụ nữ chia sẻ rằng hễ cô cứ bước chân ra khỏi cửa là người cha sống cùng cô lại đổ bệnh, và cô lại phải quay về chăm sóc ông. Nhưng lần này, cô đã ra ngoài rồi, vả lại người cha cũng đã có người chăm sóc, nên sau nhiều lần do dự, cô vẫn quyết định đi học.
Thầy Heinrich nhân đó liền giải thích rằng: Cha hễ đổ bệnh là cô quay về chăm sóc, làm như vậy chẳng khác nào cô đang khuyến khích cha mình sinh bệnh. Một khi ông ấy có thể thông qua việc đổ bệnh để có được sự chăm sóc của cô, vậy thì hà cớ gì ông ấy phải thay đổi?
Người phụ nữ này dường như phớt lờ hoàn toàn lời giải thích của thầy Heinrich, tiếp tục trút bầu tâm sự than thở nỗi khổ của mình. Cảm giác này tôi vốn rất quen thuộc trong quá trình làm tham vấn. Một bộ phận thân chủ do quá tự luyến mà không ý thức được người khác, nên khó tránh khỏi việc phớt lờ sự tồn tại của nhà tham vấn; nhưng cũng có một bộ phận thân chủ có tâm trí tương đối trưởng thành, họ có năng lực nhận thức người khác, mà sở dĩ lại ngó lơ nhà tham vấn là bởi có một động lực rất đặc biệt ẩn chứa bên trong.
Thế là tôi ngắt lời người phụ nữ ấy mà rằng: Cô phớt lờ lời của thầy Heinrich, sở dĩ làm vậy là vì thứ cô muốn phớt lờ nhất thực chất chính là tiếng nói của cha mình. Cô bắt buộc phải dùng phương thức phớt lờ thì mới có thể vạch ra một lằn ranh giới giữa cô và cha. Bằng không, nếu cô cứ luôn nghe rõ mồn một tiếng nói của cha, cô sẽ bị thanh âm ấy thao túng kiểm soát, để rồi đành phải trái với lòng mình mà quay về chăm bẵm ông.
Dùng phương thức “không nói” để thiết lập ranh giới trong vô thức dẫu sao vẫn còn tạm ổn, bởi ngày rộng tháng dài, kết quả nó dẫn tới chỉ là sự thoái hóa chức năng ngôn ngữ; nhưng nếu “không nghe” mà diễn tiến lâu ngày thì thực sự có thể dẫn tới điếc tai; còn “không nhìn” thì có thể dẫn tới mờ mắt, thậm chí mù lòa.
Tôi từng thấy ở rất nhiều cặp vợ chồng già: người nào tràn trề sức sống, mang tính xâm lấn, có thể mạnh mẽ phát ra tiếng nói và dục vọng của bản thân thì về già vẫn tai thính mắt tinh; trong khi người bạn đời của họ lại rất dễ bị tai nghễng ngãng, mắt mờ lòa, tính tình đờ đẫn, khù khờ đến quá mức. Kẻ sau chính là đang dùng phương thức tự hủy hoại các giác quan của mình để cắt đứt liên kết với người bạn đời đầy tính xâm lấn, qua đó gìn giữ lấy một không gian bản ngã độc lập tương đối.
Nhưng điều này gây tổn hại quá lớn cho bản thân. Vì vậy, chúng ta phải học những phương thức kiên quyết, mạnh mẽ để bảo vệ ranh giới của chính mình.
Vào buổi tối ngày thứ hai trong khóa học của thầy Heinrich, các trợ giảng tụ tập trong phòng tôi uống rượu. Trong lúc đó, một người bạn thân kể rằng cha anh (nhà có mấy anh em trai, con cháu đời sau cũng rất đông) đã đùn đẩy trách nhiệm một mình chăm sóc bà nội sang cho anh, mà bà nội cũng thấy điều đó là hết sức hợp tình hợp lý... Anh bình thản kể lại, còn tôi thì lặng người đi, cơ thể tôi cảm nhận rõ ràng nơi cổ họng của gã "người tốt cả nể" này đang cuộn trào một chữ: "CÚT!"
Tôi ngắt lời anh, nói hộ anh cái chữ ấy. Đó quả thực là điều anh muốn nói nhưng không dám nói ra; và ngay khi chữ ấy vừa thốt lên, khí huyết trong người anh lập tức được thông suốt.
Tiếp đó, một trợ giảng khác kể câu chuyện của chính mình: Anh làm trợ giảng trong một buổi học nọ, sau giờ học, một người đàn ông ngoài năm mươi tuổi bước tới, chẳng đầu chẳng đũa mắng thẳng vào mặt anh: “Đồ ngu độn!” Lẽ thường với tư cách trợ giảng, anh nên kiềm chế một chút, nhưng đúng vào giây phút ấy cơn thịnh nộ bùng lên, anh không sao kìm nén nổi liền chửi mắng té tát vào mặt người đàn ông kia một hồi lâu; thế mà rốt cuộc, người đàn ông ấy lại thốt lên: “A, cậu cừ thật đấy! Tôi ngưỡng mộ cậu quá đi mất!”
Trong bất kỳ mối quan hệ nào, chúng ta đều phải dám dùng sự phẫn nộ để giữ vững ranh giới của mình. Dựa vào đâu mà tôi là phận hậu bối của anh/chị thì phải tùy ý chịu sự sai bảo của anh/chị? Tôi là trợ giảng của anh thì phải chịu trận cho anh mắng? Tôi là bạn đời của anh/em thì phải mặc cho anh/em thao túng định đoạt?...
Freud từng nói, một con người bắt buộc phải học được cách biểu đạt tính công kích của mình một cách hợp lý hoặc mang tính tượng trưng, bằng không anh ta sẽ gặp phải các vấn đề về tâm lý.
Cũng có rất nhiều người luận giải rằng, một chức năng vô cùng quan trọng của tính công kích chính là phân định ranh giới. Khi suy ngẫm về chuỗi vấn đề này, cuối cùng tôi đã đúc rút được một câu thế này: Tâm lý khỏe mạnh vốn là thứ cần phải trả giá, mà một cái giá thường thấy chính là — tôi không còn là một người tốt trong miệng lưỡi bia miệng của thiên hạ nữa.
Bình luận