2. Tâm Lý Cự Anh: Cộng Sinh
2. Tâm Lý Cự Anh: Cộng Sinh
Trẻ sơ sinh trong 6 tháng đầu đời nằm ở giai đoạn cộng sinh.
Ở giai đoạn này, trẻ sơ sinh nằm trong một trạng thái hỗn độn, chưa phân hóa; không có ý thức về “tôi”, cũng không có ý thức về “thế giới bên ngoài”. Trẻ cảm thấy bản thân và vạn vật hợp làm một: tôi chính là vạn vật, vạn vật chính là tôi, tôi chính là vũ trụ, vũ trụ chính là tôi.
Chủ nghĩa tập thể cũng là một trạng thái hỗn độn, chưa phân hóa.
Đặc biệt, đứa trẻ cảm thấy bản thân và mẹ cấu thành một thể cộng đồng, hai người chẳng khác nào một người: tôi tức là mẹ, mẹ tức là tôi. Đối với trẻ sơ sinh, cộng sinh không chỉ là một trạng thái tâm lý mà còn là nhu cầu thực tế. Mọi nhu cầu của đứa trẻ đều phải dựa vào người mẹ để được đáp ứng. Nếu rời xa mẹ, đứa trẻ sẽ chết.
Tâm lý cộng sinh khi biểu hiện ở những cự anh sẽ có dạng như sau:
Một, đi khắp nơi tìm mẹ. Không muốn tự lo liệu cuộc sống, lúc nào cũng muốn tìm người chăm sóc mình, giúp mình “chùi đít” (dọn dẹp hậu quả).
Hai, chủ nghĩa tập thể. Mọi người phải cộng sinh cùng nhau.
Ba, thống nhất tư tưởng. Mọi người bắt buộc phải thống nhất trong cùng một tư tưởng nào đó; đây là mấu chốt để xây dựng thể cộng đồng, nếu tư tưởng không còn đồng nhất thì thể cộng đồng sẽ xuất hiện vết rạn nứt.
Bốn, phản đối sự độc lập. Điều này mang tính hai chiều: một mặt, tập thể kìm hãm sự độc lập của cá nhân; mặt khác, cá nhân rời khỏi tập thể thì sẽ tan vỡ.
Năm, không có ranh giới. Hễ thiết lập ranh giới là lập tức cảm thấy giữa hai người hoàn toàn cắt đứt liên hệ, trở nên xa lạ.
Tất Cả Đều Đang Tìm Mẹ: Bản Chất Của Văn Hóa Trung Quốc
Dưới sự áp chế kép của văn hóa truyền thống và chủ nghĩa tập thể, người Trung Quốc đa phần bị xóa nhòa tính cá thể; cá nhân thường phải nương tựa vào một cấu trúc cộng đồng — chẳng hạn như cấu trúc gia đình hoặc cấu trúc xã hội — và điều này sẽ hình thành nên mối quan hệ cộng sinh không phân biệt bạn và tôi. Vào thời cổ đại, tính cá thể không được đề cao; tuy chúng ta có nói đến chuyện tu hành, nhưng một bí quyết của việc tu hành lại là chủ động xóa bỏ tính cá thể của chính mình.
Ở Trung Quốc hiện đại, chúng ta cũng đã hòa nhập vào dòng chảy toàn cầu hóa, và một cách rất tự nhiên, bắt đầu đề cao tính cá nhân hóa cùng sự tự do. Thế nhưng, chủ nghĩa tập thể vẫn là gen văn hóa của chúng ta, và chiếc gen này vẫn chưa được phân tích một cách sâu sắc. Là một nhà tham vấn tâm lý bản địa theo định hướng phân tâm học, việc đi phân tích ý thức và tiềm thức của cá nhân lẫn tập thể trong nền văn hóa nước mình đã trở thành một thứ bản năng của tôi.
Rất nhiều người sẽ cho rằng văn hóa truyền thống Trung Quốc đa phần xóa bỏ tính cá thể của con người, nhưng đồng thời, nước Mỹ vốn đề cao chủ nghĩa cá nhân cũng tồn tại một số vấn đề nhất định, chẳng hạn như có thể dẫn đến tình trạng “tự luyến” tràn lan. Cho nên, thậm chí có cách nói cho rằng văn hóa Trung Quốc là phương thuốc hay để chữa trị chủ nghĩa cá nhân, và đạo hiếu có thể cứu rỗi cả thế giới.
Quả thực, việc nước Mỹ đề cao chủ nghĩa cá nhân sẽ dẫn đến một số vấn đề, nhưng đây không phải là vấn đề giữa chủ nghĩa cá nhân và chủ nghĩa tập thể. Thuốc giải cho chủ nghĩa cá nhân của nước Mỹ tuyệt đối không phải là chủ nghĩa tập thể; ngược lại, nguyên nhân chính xác là bởi chủ nghĩa cá nhân của họ vẫn còn chưa đủ.
Chưa đủ ở đây có nghĩa là vẫn chưa đạt tới mục tiêu “cá nhân hoàn thiện”, vẫn chưa tự hiện thực hóa bản thân (self-actualization), và cũng chưa trở thành chính mình. Hơn nữa, chủ nghĩa cá nhân có tinh thần của cõi siêu việt ở bên trong: cá nhân chịu trách nhiệm trước Thượng đế, trực tiếp đối thoại với Thượng đế, chứ không phải là sự phình to vô biên của thói coi mình là trung tâm.
Chủ nghĩa tập thể của người dân nước mình thực chất là một sự lựa chọn bất đắc dĩ, bởi vì cá nhân không thể tự sinh tồn. Sự không thể sinh tồn này không chỉ ở phương diện vật chất, mà hơn hết là ở phương diện tâm lý. Một người Trung Quốc với tư cách là một cá thể đơn lẻ khi ở trong xã hội này có thể sẽ cảm thấy cô đơn và vụn vỡ, cái tôi thậm chí vẫn còn chưa thành hình. Sở dĩ người dân nước mình thích tụ tập thành bầy thành nhóm đều là bởi về mặt tâm lý cần có người bầu bạn, bằng không sẽ phải trực tiếp đối diện với cái tôi vụn vỡ chưa thành hình — một điều vô cùng đáng sợ. Sự thật của chủ nghĩa tập thể là: mức độ phát triển tâm lý của cá thể quá thấp, dẫn đến phần cốt lõi bên trong của đại đa số mọi người đều bị vụn vỡ; họ bắt buộc phải mang khuôn mặt giống hệt nhau (nghìn người một mặt), dùng phương thức cộng sinh để theo đuổi sự dung hợp với người khác, qua đó khảm chặt cá thể vào trong một cái tôi mang tính tập thể.
Mọi sự cộng sinh đều có thể truy ngược cội nguồn về giai đoạn trước 6 tháng tuổi của trẻ sơ sinh — sự cộng sinh với người mẹ, được gọi là thể cộng đồng mẹ - con, tức là đứa trẻ cảm thấy nó và mẹ là một thể thống nhất, hai người là một người. Tuy nhiên, chỉ có sự cộng sinh trước 6 tháng tuổi mới là bình thường, còn mọi mối quan hệ cộng sinh sau giai đoạn đó đều là bệnh lý; thế nhưng cộng sinh bệnh lý ở Trung Quốc lại là hiện tượng tâm lý tương đối phổ biến: mẹ - con trai cộng sinh, cha - con trai cộng sinh, vợ - chồng cộng sinh, v.v., vô cùng thường gặp. Chẳng hạn như một nghệ sĩ dương cầm nổi tiếng nọ và người cha của anh ta: ở trong mối quan hệ như vậy, cái tôi của người cha đã ký sinh lên người đứa con. Phổ biến hơn cả là việc bà mẹ chồng cứ nhất quyết phải đến sống ở nhà con trai, thực chất là muốn cộng sinh cùng một chỗ với con trai mình. Đại gia đình theo chủ nghĩa tập thể ở Trung Quốc có thể được hiểu như thế này: tức là mọi người cùng cộng sinh trong một hệ thống, một tập thể, từ đó xây dựng nên một thể cộng đồng tâm lý, cùng chia sẻ chung một cái tôi tập thể — ở trong đó không có “tôi”, mà chỉ có “chúng ta”.
Tôi đã nói đi nói lại rằng mức độ phát triển tâm lý tập thể của người dân nước mình đang ở trình độ trẻ sơ sinh dưới 6 tháng tuổi; thế nhưng Carl Jung, trong cuốn Bí chỉ dưỡng sinh Kim Hoa và Tâm lý học phân tích (bình luận về cuốn điển tịch Đạo gia do nhà Hán học Richard Wilhelm dịch), lại nói rằng mức độ phát triển tâm linh của người phương Đông vượt xa phương Tây.
Đối với nhận định này, cách hiểu của tôi là: cảnh giới thấp nhất và cảnh giới cao nhất nhìn bề ngoài thường rất giống nhau. Trạng thái ban đầu của trẻ sơ sinh là chưa phân hóa, không có ranh giới, không có sự phân biệt giữa bạn và tôi, cảm thấy mọi thứ đều hợp nhất làm một. Người đạt đạo khai ngộ nghe nói cũng ở cảnh giới như vậy: cảm thấy bạn chính là tôi, tôi chính là bạn, tôi chính là vạn vật, vạn vật đều là tôi, tâm tôi chính là thế giới, thế giới chính là tâm tôi. Đây là điều rất tốt đẹp, nhưng nếu bạn đang ở trong trạng thái hỗn độn vô minh mà lại có cảm giác tương tự, thì điều đó vô cùng đáng sợ, sẽ gây ra những vấn đề khổng lồ cho bản thân và những người xung quanh.
Người khai ngộ sẽ có lòng thấu cảm sâu sắc đối với người khác và thế giới, đồng thời tôn trọng mọi sự tồn tại; họ đã thoát khỏi sự ấu trĩ của việc coi mình là trung tâm một cách triệt để. Trong khi đó, những cự anh cũng cảm thấy bạn chính là tôi, tôi chính là bạn, nhưng theo kiểu: “Một khi chúng ta đã là một thể thống nhất, vậy thì tôi chẳng cần phải cân nhắc đến bạn, cũng chẳng cần phải cảm nhận bạn làm gì”. Hơn nữa, một khi chúng ta đã thuộc về cùng một thể cộng đồng, thì tôi có thể tùy tiện đưa ra quyết định thay cho các vai trò thân thuộc ở bên cạnh mình. Đây sẽ là thói coi mình là trung tâm vô cùng đáng sợ; cho nên mới nói, bên trong chủ nghĩa tập thể thường đi kèm với sự ích kỷ và coi mình là trung tâm cực đoan nhất, và những xã hội đề cao chủ nghĩa tập thể nhìn chung đều có mức độ đạo đức tổng thể không cao. Ngược lại, nếu mức độ phát triển tâm lý của toàn xã hội vượt qua khỏi trình độ trẻ sơ sinh, người ta sẽ chú trọng hơn đến ranh giới, tôn trọng việc mỗi người đều là một cá thể độc lập. Tôi không cần phải chịu trách nhiệm cho cảm xúc của bạn, cũng không cần phải chịu trách nhiệm cho vận mệnh của bạn. Điều này sẽ làm nảy sinh một cái gọi là “tâm phân biệt” rất lớn; thứ tâm phân biệt này xét đối với sự khai ngộ thì trông giống như một chướng ngại vật, nhưng con người cần phải trải qua sự đối lập nhị nguyên đó, rồi từ sự đối lập nhị nguyên mới quay trở về với cảnh giới vạn vật hợp nhất.
Chứng tâm thần phân liệt thực chất chính là đang nằm ở một trạng thái ấu trĩ, hỗn độn, không phân biệt bạn và tôi; vẫn chưa phân hóa ra sự khác biệt giữa tôi và bạn, cũng chưa phân hóa ra sự khác biệt giữa tưởng tượng và hiện thực.
Tâm thần phân liệt trong mắt đại đa số mọi người là rất đáng sợ, nhưng trong mắt một số nhà tư tưởng lại mang ý nghĩa tích cực về mặt mỹ học và triết học. Chẳng hạn, Carl Jung cho rằng ở trạng thái tâm thần phân liệt, những mảnh vỡ nhân cách nguyên thủy và các nguyên mẫu (archetypes) sẽ trào dâng lên, phô diễn những kịch bản thần thoại nguyên thủy, từ đó có thể nảy sinh những khả năng nghệ thuật. Nhà triết học người Pháp Gilles Deleuze lại cho rằng khái niệm tâm thần phân liệt có thể đối kháng lại sự thống trị của chủ nghĩa tư bản.
Tôi không thích cách nói mang tính chính trị hóa này của Deleuze, tôi thích phân tâm học hơn. Phân tâm học cho rằng chứng tâm thần phân liệt là việc người trưởng thành dừng lại ở một trạng thái sơ sinh giai đoạn sớm. Theo phân tâm học, trẻ sơ sinh dưới 3 tháng tuổi đều nằm ở trạng thái bệnh tâm thần phân liệt hoang tưởng (thiên chấp phân liệt). “Phân liệt” tức là thế giới này bị tách làm đôi, cái tốt và cái xấu không thể cùng tồn tại. “Hoang tưởng/Thiên chấp” tức là thế giới này chỉ có sự tồn tại của cái tốt hoặc chỉ có cái xấu, và bản thân tôi là tốt. Thế giới của trẻ sơ sinh dưới 3 tháng tuổi đều như vậy cả. Cái gọi là người bình thường chính là người đã bước ra khỏi trạng thái này, còn bệnh nhân tâm thần phân liệt thì bị ứ đọng lại ở trong trạng thái đó.
Lý thuyết của Jung rất huyền bí, dễ khiến người ta say mê. Tuy nhiên, Erich Fromm lại cho rằng Jung cũng giống như Hitler, đều mắc chứng ái tử thi (necrophilia); Jung có sự mê đắm đối với cái chết, xây dựng sự sùng bái cá nhân, và các thủ lĩnh trường phái Jung ở khắp nơi trên thế giới có rất nhiều trường hợp phát sinh quan hệ tình dục với đệ tử và thân chủ. Phân tâm học coi đây là điều cấm kỵ không được phép chạm vào, nhưng trường phái Jung lại cho rằng không cần nghiêm ngặt đến thế; điều này theo cách nhìn của tôi cũng là một biểu hiện của việc không phân biệt bạn và tôi, không có ranh giới rõ ràng. Phân tâm học của Freud không có nhiều ảo giác đến thế, nếu đặt lên bàn cân so sánh thì lại bình thường đến mức hơi nhàm chán.
Tôi chia giới trị liệu tâm lý thành ba phái: phái Học viện, phái Giang hồ và phái Thần tiên. Phái Học viện đáng tin cậy nhưng tương đối tẻ nhạt, trong khi đủ các lưu phái huyền bí thuộc phái Thần tiên lại rất thịnh hành. Tôi cũng từng có một thời gian rất say mê phái Thần tiên, và hiện tại vẫn cảm thấy phái Thần tiên có ý nghĩa và giá trị tồn tại rất sâu sắc; nhưng cùng với việc được chứng kiến ngày càng nhiều câu chuyện, tôi lại càng có tâm lý cảnh giác hơn. Bởi vì việc tu tập tâm linh (linh tu) rất dễ rơi vào trạng thái cự anh. Một số bậc thầy tâm linh mà tôi từng gặp tự xưng là đã khai ngộ, nhưng thực chất lại mắc chứng tâm thần phân liệt. Tuy nhiên, có một điều rất thú vị là ở trên người các bệnh nhân tâm thần phân liệt cũng tồn tại những thứ vô cùng mạnh mẽ, sự tự luyến toàn năng của họ quả thực có thể tạo ra một số kỳ tích. Cho nên mới nói, tôi không có ý bôi đen hay ác quỷ hóa việc tu tập tâm linh; các bậc thầy tâm linh nằm ở một trạng thái đặc biệt, có thể chạm tới những thứ mà người thường không thể chạm tới. Nhưng nếu đồng thời họ cũng bị tâm thần phân liệt, thì việc mê tín họ sẽ vô cùng đáng sợ.
Albert Einstein nói rằng, cái tôi là một nhà tù, cắt đứt bản thân khỏi những sự tồn tại khác của thế giới. Cái tôi quả thực vô cùng thú vị: nó giống như một lớp vỏ bọc, đại đa số mọi người cần lớp vỏ bọc này để tự bảo vệ mình, nhưng lớp vỏ ấy cũng khiến con người trở nên kém nhạy cảm hơn trước thế giới. Ở bệnh nhân tâm thần phân liệt và một số người có chức năng tâm lý đặc biệt thấp, lớp vỏ cái tôi của họ bị nứt vỡ; điều này khiến họ rất đau khổ, nhưng đồng thời ở một số phương diện nào đó, họ lại trở nên nhạy cảm phi thường.
Bản thân Carl Jung từng mắc chứng tâm thần phân liệt, cho nên ông có sự nhạy cảm siêu phàm; còn Freud là một người có thần kinh bình thường và nhân cách kiện toàn, lý thuyết của ông cũng vì thế mà hơi tẻ nhạt khi so với Jung. Mặc dù vậy, khi sự hiểu biết của tôi về phân tâm học ngày càng sâu sắc và làm công tác tham vấn ngày càng nhiều, tôi phát hiện ra phân tâm học vẫn có sức thuyết phục rất lớn.
Phân tâm học có ba giai đoạn phát triển: Phân tâm học kinh điển của Freud; Tâm lý học quan hệ đối tượng (Object relations theory); và Tâm lý học bản ngã (Self psychology). Tâm lý học quan hệ đối tượng quả thực có sức thuyết phục hơn hẳn Freud. Bởi vì hạt nhân của phân tâm học kinh điển là mặc cảm Oedipus — chủ yếu xoay quanh mối quan hệ với người cha; nhưng người Trung Quốc tuy có mặc cảm Oedipus, song vấn đề chủ yếu lại nằm ở việc xử lý mối quan hệ với người mẹ.
Về điều này, tôi có một nhận định mang tính tuyệt đối: Tuyệt đại đa số người Trung Quốc đều là trẻ sơ sinh, và tất cả đều đang đi tìm mẹ. Cho nên năng lực giải thích và năng lực trị liệu của tâm lý học quan hệ đối tượng khi áp dụng cho người dân nước mình đều vượt xa phân tâm học kinh điển. Tất cả đều là trẻ sơ sinh, đều muốn cộng sinh cùng một chỗ với mẹ, cho nên ở trong gia đình Trung Quốc, tất cả mọi người đều lo lắng bao đồng cho tất cả mọi người: chuyện của bạn chính là chuyện của tôi, chuyện của tôi cũng là chuyện của bạn; tôi chịu trách nhiệm thái quá cho bạn, thì bạn cũng phải chịu trách nhiệm thái quá cho tôi, bằng không bạn chính là đồ khốn nạn, bằng không tôi sẽ tràn ngập cảm giác tội lỗi. Hơn nữa, mọi người không được phép chia tách, không được phép phản bội; đối với người Trung Quốc mà nói, cá nhân hóa chính là sự phản bội đối với đại gia đình.
Bởi vì chúng ta đều đang sống trong thể cộng đồng mẹ - con; đây là chủ nghĩa tập thể nguyên thủy nhất, và nó đã phái sinh ra đủ loại chủ nghĩa tập thể về sau này, chẳng hạn như đại gia đình.
Hơn nữa, điều này giống như một sự kế thừa mang tính lịch sử.
Theo cách nhìn của tôi, triết học cổ đại Trung Quốc và triết học Hy Lạp cổ đại mang lại cho người ta ấn tượng hoàn toàn khác biệt: chế độ thành bang của Hy Lạp cổ đại mang lại cảm giác vô cùng trưởng thành, trong khi Trung Quốc có lãnh thổ rộng lớn mênh mông đến thế nhưng lại luôn khao khát sự thống nhất — điều này giống hệt như một đứa trẻ sơ sinh đang khao khát cả vũ trụ đều phải cộng sinh cùng với chính mình vậy.
Không chỉ riêng Nho gia mới nhấn mạnh sự thống nhất; theo cách nói của Tôn Long Cơ trong cuốn Cấu trúc tầng sâu của văn hóa Trung Quốc, Bách gia chư tử đều bàn về sự thống nhất.
Ngoài ra, phương thức biểu hiện cái đẹp của Hy Lạp cổ đại vô cùng trực diện, còn phương thức biểu đạt cái đẹp kiểu Trung Quốc lại luôn vòng vo, dồn nén và thê lương ai oán. Rất nhiều văn tự cổ đại đều đang truyền tải thông điệp: tôi chính là bạn, bạn chính là tôi. Tình yêu thời cổ đại Trung Quốc cũng rất hiếm khi được viên mãn, mà đa phần là bi kịch. Bởi vì tình yêu là sự tự hiện thực hóa bản thân của một cá thể trưởng thành, hơn nữa tình yêu tất yếu đồng nghĩa với sự phản bội đối với gia đình và người mẹ — điều này sẽ xé rách thể cộng đồng mẹ - con, cho nên tình yêu của rất nhiều người thời cổ đại đều do chính tay người mẹ hủy hoại.
Trong tiểu thuyết của Kim Dung, ta có thể bắt gặp đủ loại tâm thái kiểu Trung Quốc điển hình: các nhân vật nam chính đa phần đều là những đứa trẻ sơ sinh. Có những đứa trẻ sơ sinh ngoan ngoãn (hảo anh nhi), chẳng hạn như Quách Tĩnh, Hư Trúc, Trương Vô Kỵ; ở trên người họ có những nét vô cùng thuần khiết, chân thành: bạn hỏi gì anh ta liền nói nấy, hoàn toàn không có sự cảnh giác hay đề phòng, không có lớp vỏ bọc của cái tôi, không có sự tự bảo vệ bản thân. Kim Dung đã miêu tả những con người này rất đẹp đẽ và rất có đạo đức. Đây chính là mẫu đàn ông Trung Quốc điển hình. Đàn ông Trung Quốc không được phép nói dối mẹ, vợ và các thế lực uy quyền; một khi nói dối thì đồng nghĩa với việc phá hoại mối quan hệ cộng sinh, còn nếu bạn có ý thức tự bảo vệ bản thân thì đồng nghĩa với sự thiếu tin tưởng đối với người mẹ.
Có một điều rất thú vị là văn hóa Trung Quốc xưa nay vẫn luôn bị dán nhãn nam quyền, nhưng tôi lại cảm thấy nó mang đậm nét văn hóa mẫu hệ hơn. Rất nhiều thứ đều là để bảo vệ người mẹ; cốt lõi của đạo hiếu chính là bảo vệ người mẹ. Trong Nhị thập tứ hiếu, điều được nhấn mạnh là lòng hiếu thảo đối với mẹ, còn lòng hiếu thảo đối với cha không phải là dòng chính. Đối với cha là chữ Trung, còn đối với mẹ thì phải có đủ cả Trung lẫn Hiếu. Nền văn hóa của chúng ta đều xoay quanh việc làm thế nào để trở thành một đứa trẻ sơ sinh ngoan ngoãn, và đi tìm một bà mẹ tốt.
Nguyên nhân là bởi người đầu tiên mà đứa trẻ sơ sinh yêu thương luôn là người mẹ, cho nên người mẹ có sức ảnh hưởng chí mạng đối với đứa trẻ. Kim Dung chủ yếu khắc họa những đứa trẻ sơ sinh ngoan, nhưng kẻ thực sự thành công ở phút cuối lại là kiểu lưu manh, vô赖 (vô lại), khốn nạn giống như Chu Nguyên Chương — mà kinh điển nhất chính là Vi Tiểu Bảo.
Nếu đem so sánh các câu chuyện ngụ ngôn cùng phim ảnh của Trung Quốc và Mỹ, bạn sẽ phát hiện ra rằng: trong phim ảnh Mỹ, người cha là nhân vật chính tuyệt đối; còn trong phim ảnh và truyện ngụ ngôn Trung Quốc, người mẹ mới là nhân vật chính tuyệt đối. Ví dụ như Nòng nọc nhỏ tìm mẹ, Trên đời chỉ có mẹ là tốt nhất, Mẹ ơi hãy yêu con thêm lần nữa, tất cả đều kể về chủ đề này. Trong câu chuyện về cuộc đời của Khổng Tử, Mạnh Tử, Tuân Tử, Chu Tử, bạn cũng sẽ chỉ nhìn thấy bóng dáng của người mẹ mà thôi.
Câu chuyện phóng đại nhất là về Nhạc Phi: cha của ông là Nhạc Hòa vốn giàu có, lương thiện, được hàng xóm láng giềng yêu kính; ông đã mời nhiều thầy giáo về dạy thư pháp và văn hóa cho Nhạc Phi, mời Chu Đồng dạy võ nghệ cho Nhạc Phi; khi quân Kim xâm lược, ông lại khích lệ Nhạc Phi đánh đuổi giặc thù báo đền ơn nước, và chỉ qua đời sau khi Nhạc Phi đã trưởng thành. Một người cha lý tưởng đến nhường ấy vậy mà lại bị xóa sổ hoàn toàn trong các truyền thuyết dân gian. Hồi nhỏ, ở nhà tôi có một cuốn Thuyết Nhạc toàn truyện; Nhạc Phi ở trong cuốn sách đó vừa chào đời được ba ngày đã gặp phải nạn lũ lụt, người cha tử nạn, một mình người mẹ nuôi nấng ông khôn lớn thành người. Hơn nữa, mẹ của Nhạc Phi đã khắc bốn chữ “Tận trung báo quốc” (Tinh trung báo quốc) lên lưng ông; chi tiết này đã trở thành một hình tượng mang tính vật tổ (totem), gần như che lấp hoàn toàn mọi hào quang của người cha Nhạc Phi. Cuốn Thuyết Nhạc toàn truyện tôi đã đọc không dưới một trăm lần, vậy mà lại chẳng hề hay biết Nhạc Phi vốn được cha mình nuôi dưỡng thành người; khi đem chuyện này ra thảo luận trên Weibo, tôi phát hiện ra tuyệt đại đa số mọi người đều không hề biết Nhạc Phi có cha.
Đây là một vụ án chưa có lời giải, mà cũng giống như một âm mưu của vô thức tập thể: Nhạc Hòa, với tư cách là một người cha lý tưởng, đã bị “mưu sát” ở trong lịch sử.
Bức tranh tương tự cũng được phô diễn trong câu chuyện về chú lợn Mạch Đâu (McDull): Mạch Đâu cũng chỉ có một người mẹ lý tưởng ngậm đắng nuốt cay, mãi mãi lạc quan. Thực ra Mạch Đâu có cha; ở tập cuối cùng của bộ truyện có xuất hiện một nhân vật gọi là “Ông cậu họ lớn” có ngoại hình giống hệt Mạch Đâu và là một người đàn ông siêu tự kỷ — tôi nghĩ đó hẳn chính là cha của Mạch Đâu.
Hoặc là làm kẻ lưu manh, hoặc là làm đứa trẻ sơ sinh ngoan ngoãn, còn những bậc nam nhi đại trượng phu đầu đội trời chân đạp đất thì đa phần đều không có kết cục tốt đẹp. Chẳng hạn như Kiều Phong, chàng là một trong những nam chính có khí phách hào hùng nhất đồng thời lại lương thiện nhất dưới ngòi bút của Kim Dung; chàng là bậc nam nhi đích thực, bậc anh hùng đích thực, nhưng chàng đã chết một cách bi thảm, hơn nữa lại bị hại chết theo cách thức vô cùng đáng sợ bởi Mã phu nhân — một vị Đại Mẫu Thần nuốt chửng tất cả.
Hai người em kết nghĩa của chàng là Hư Trúc và Đoàn Dự đều giống như những đứa trẻ sơ sinh, phụ nữ bảo họ làm gì thì họ làm nấy, cho nên đã sống sót. Trong Tiếu ngạo giang hồ, Lệnh Hồ Xung cũng là một đấng nam nhi tốt, nhưng chàng vẫn đặt người phụ nữ ở vị trí số một tuyệt đối; để đổi lấy một nụ cười của người phụ nữ, chàng có thể chẳng màng đến cả mạng sống của mình.
Có thể nói, tiểu thuyết của Kim Dung đã phô diễn một cách trọn vẹn và có cấu trúc diện mạo của đủ kiểu người Trung Quốc điển hình; ông đã chạm tới vô thức tập thể và đủ loại mặc cảm (tình kết) điển hình của toàn thể người dân Trung Quốc. Cho nên, việc ông nổi tiếng đến như vậy là hoàn toàn có lý do.
Trong xã hội Trung Quốc, rốt cuộc ai là người nắm quyền? Trong hệ thống quyền lực xã hội thì đàn ông nắm quyền, kinh điển nhất là hoàng đế; còn trong hệ thống quyền lực gia tộc thì thường là Đại Mẫu Thần nắm quyền, và vị đại gia trưởng nam giới với tư cách là đại diện của quyền lực cũng vẫn phải nghe lời mẹ mình. Cho nên mới nói, tuy Trung Quốc từ cổ chí kim vẫn trọng nam khinh nữ, nhưng ở trong gia đình thì thực chất người mẹ mới là người quyết định tất cả. Tình trạng hiện nay cũng vẫn như vậy, hiện tượng bà nội, bà ngoại nắm quyền nhiều vô kể. Ở bình diện xã hội, chúng ta là xã hội nam quyền; còn ở bình diện gia đình thì lại là xã hội mẫu hệ, Hoàng thái hậu là người có tiếng nói quyết định.
Cách nói này của tôi luôn bị những người theo chủ nghĩa nữ quyền phê phán; bản thân tôi cũng không ngờ rằng cuối cùng mình lại hình thành nên một nhận thức như vậy, nhưng nó quả thực đã được hình thành đúng như thế.
Chẳng hạn, Bát Trụ Quốc thời Bắc Chu và Tây Ngụy đã đạt được một sự đồng thuận: bất kể là con gái nhà ai, đợi đến khi làm phi tần và sinh được con trai thì đều phải bị xử tử; Hán Vũ Đế Lưu Triệt trước lúc lâm chung cũng đã giết chết mẹ ruột của vị thái tử nối ngôi — tàn nhẫn vô nhân tính đến thế nhưng lại tự vỗ ngực cho là anh minh. Tất cả những việc này đều là nhằm cắt đứt sợi dây liên kết tự nhiên của mối quan hệ mẹ - con sơ sinh. Ai là người chăm sóc thái tử từ thuở nhỏ thì người đó sẽ có sức ảnh hưởng chí mạng đối với thái tử; nếu do người mẹ ruột chăm sóc, sức ảnh hưởng ấy sẽ khó lòng đối kháng lại nổi, cho nên phải giết bỏ.
Người mẹ bị giết đi rồi thì tự nhiên người bà nội sẽ chăm sóc thái tử, kết quả là xuất hiện hiện tượng bà nội nắm quyền. Thế là người ta lại nghĩ cách ngăn chặn bà nội nắm quyền, để rồi về sau biến thành nhũ mẫu (bà vú) nắm quyền.
Carl Jung đã tìm thấy nguyên mẫu của Đại Mẫu Thần từ châu Phi; vị Đại Mẫu Thần này vô cùng đáng sợ và mang tính nuốt chửng. Trong thần thoại, bà ta sẽ hóa thân thành một con rồng, và người thanh niên bắt buộc phải chém chết con rồng đó thì mới có thể bước lên con đường của bậc anh hùng — tức là con đường phát triển hướng tới sự trưởng thành của cá thể. Điều này cũng tương ứng với một nhận định của phân tâm học — mỗi đứa trẻ đều phải hoàn thành việc “giết mẹ” về mặt tâm lý trước tiên, thì mới có thể bước ra khỏi mối quan hệ cộng sinh.
Hình tượng Đại Mẫu Thần của châu Phi chẳng đẹp đẽ chút nào; tôi thích các truyền thuyết thần thoại của Hy Lạp cổ đại hơn. Gaia là Đất Mẹ nguyên thủy nhất, bà mang tính nuốt chửng và hiện diện ở khắp mọi nơi; bà có sức ảnh hưởng tuyệt đối đối với những đứa con của mình, trong khi người chồng của bà lại không có được điều đó. Đây chính là cảm giác cộng sinh nguyên thủy.
Đến giai đoạn của thần Zeus và nữ thần Hera, Hera không còn là Đại Mẫu Thần, không có uy quyền tuyệt đối; bản thân thần Zeus cũng không có uy quyền tuyệt đối, người vợ có thể làm trái ý chí của ông, và mọi người có thể cùng tồn tại. Thần Zeus với tư cách là kẻ thống trị vũ trụ, khi đấu vật với con trai mình là Heracles (Héc-quyn), lại bị chính Heracles quật ngã; nữ thần Hera khi ra trận giao chiến cũng bị Heracles bắn trúng. Heracles quả thực có thể coi là hình tượng anh hùng số một trong thần thoại Hy Lạp cổ đại, nhưng nếu ở Trung Quốc thì chàng chính là đứa con nghịch tử: quật ngã cha ruột, lại bắn bị thương mẹ cả — đây là chuyện kinh khủng biết bao, tuyệt đối không đời nào người ta dùng ngôn từ ca ngợi để miêu tả một chuyện như vậy, mà chắc chắn sẽ bôi đen, hoặc thẳng tay sửa đổi lịch sử.
Đại Mẫu Thần là hình tượng người mẹ nguyên thủy nhất; rất nhiều thân chủ của tôi từng kể về nỗi sợ hãi đối với Đại Mẫu Thần: khi đối diện với một người mẹ khổng lồ đang bành trướng quyền lực ra khắp mọi ngóc ngách trong nhà, họ vô cùng sợ hãi việc mình sẽ bị nuốt chửng.
Đàn ông Trung Quốc thường bị gọi là “con cưng của mẹ” (Mommy's boy / Mụ bảo nam), nhưng xét một cách tương đối, tôi cảm thấy phụ nữ Trung Quốc còn ấu trĩ hơn đàn ông Trung Quốc một chút, bởi vì tư tưởng trọng nam khinh nữ đã gây ra tổn thương tâm lý tập thể cho nữ giới. Hơn nữa, đừng ngốc nghếch đi làm một người mẹ tốt khớp với những gì văn hóa truyền thống vẫn miêu tả. Trên mặt dư luận, tất cả chúng ta đều đang tìm kiếm một người mẹ giống như Lưu Tuệ Phương (nhân vật nữ chính trong bộ phim truyền hình nổi tiếng Khát vọng - 渴望): tận tâm tận lực, chịu thương chịu khó không lời oán thán — một người phụ nữ Trung Quốc siêu tốt; thế nhưng ở trong đời thực, kiểu phụ nữ chúng ta bắt gặp nhiều hơn cả lại là những người phụ nữ mang tâm lý trẻ sơ sinh, giống như nhân vật Tiểu Yến Tử vậy. Trong các bộ phim truyền hình và tác phẩm văn học, thông thường những nhân vật như thế mới có thể thúc đẩy cốt truyện phát triển, lại vừa nhận được sự sủng ái của đàn ông. Theo những câu chuyện mà tôi từng được nghe, họ đa phần đều có cuộc sống tốt hơn Lưu Tuệ Phương.
Chẳng hạn như trong Ỷ Thiên Đồ Long Ký, mẹ của Trương Vô Kỵ là Ân Tố Tố chính là một đứa trẻ sơ sinh kiêm một “yêu nữ”: cô ta không có sự phân định thiện ác, hoàn toàn lấy bản thân làm trung tâm — làm cho tôi vui thì bạn là người tốt, làm cho tôi không vui thì bạn đi chết đi; đó là một đứa trẻ sơ sinh điển hình, một yêu nữ vẫn chưa được nhân tính hóa. Chỉ sau khi tìm được một người đàn ông tốt kiểu Trung Quốc như Trương Thúy Sơn, cô ta mới có thể biến thành một con người thực thụ.
Nói một cách phóng đại hơn một chút, những nhân vật nữ giới Trung Quốc này đều vẫn chưa tu luyện thành hình người; trên người họ đa phần là “yêu tính” — thứ sức mạnh hồng hoang nguyên thủy — chứ không phải là “nhân tính”. Liêu Trai Chí Dị và Bạch Xà Truyện là những tác phẩm điển hình phản ánh hình tượng này. Mặc dù rất nhiều người ghét sự nhu nhược của Hứa Tiên, nhưng đối với một yêu nữ như Bạch Nương Tử — đối với một đứa trẻ sơ sinh mà ngay cả cái tôi cũng chưa được xây dựng nên — thì bắt buộc phải đi tìm một người đàn ông như vậy: người đàn ông đó chưa bao giờ làm trái ý nàng, chưa bao giờ chủ động tấn công nàng; có như thế yêu nữ mới có thể ở bên trong chiếc bình chứa do người đàn ông vô hại ấy dựng nên mà tu luyện thành người.
Cho nên, Đường Tăng mới được các yêu nữ yêu thích đến vậy; thịt Đường Tăng chính là đại diện cho sự vô hại tuyệt đối. Trong Tây Du Ký, Đường Tăng dù cho sắp bị ăn thịt đến nơi rồi thì cũng tuyệt đối không nổi nóng đỏ mặt tía tai với yêu nữ, không thốt ra lấy một lời tục tĩu — quả là một sự tồn tại thuần khiết biết bao.
Đối với các yêu nữ, tồn tại một tình huống như thế này: chỉ cần ý tứ của đối phương không đồng nhất với mình là người phụ nữ ấy sẽ lập tức sụp đổ. Cho nên, họ bắt buộc phải tìm kiếm những người đàn ông thụ động, biết nghe lời, luôn xoay quanh ý muốn của mình. Họ thường đóng vai một người mẹ tự luyến, coi mình là trung tâm, rồi biến người chồng thành một đứa trẻ sơ sinh. Nhìn bề ngoài thì có vẻ là tôi đang chăm sóc bạn, nhưng thực chất về mặt tinh thần và tình cảm lại là lấy bản thân mình làm trung tâm, đồng thời tạo ra sự áp chế cực lớn đối với đối phương.
Những người phụ nữ tốt kiểu Trung Quốc đánh mất cái tôi giống như Lưu Tuệ Phương cũng không phải là ít, nhưng đông đảo hơn cả trong số phụ nữ Trung Quốc lại thuộc cấp độ yêu nữ. Yêu nữ khi ở độ tuổi đôi mươi trông vẫn còn khá đáng yêu, nhưng một khi bước sang tuổi bốn mươi, năm mươi thì sẽ trở nên vô cùng đáng sợ: họ thông thường sẽ cho rằng mọi nỗi bất hạnh trong đời mình đều là do đàn ông gây ra, hơn nữa lại nảy sinh dục vọng kiểm soát khủng khiếp đối với cả gia tộc; khi ở mức độ nghiêm trọng, họ thực sự mang lại cho người ta cảm giác nuốt chửng tất cả. Cho nên Đại Mẫu Thần chính là một bức tranh Trung Quốc mang tính tầng sâu.
Tôi hy vọng có thể thực hiện một sự hệ thống hóa đối với hình mẫu người Trung Quốc điển hình, nhưng không phải là để đập bỏ tình trạng này, mà chỉ là để nhìn thấy mối liên hệ chằng chịt như tơ vò giữa đủ loại hiện tượng với nhau. Thời kỳ đầu, tôi từng có một sự thôi thúc muốn phá hủy cái gọi là đạo hiếu. Về sau, tôi ý thức được rằng việc mình nên làm không phải là phá hủy, mà là giải cấu trúc (deconstruct), vạch trần xem logic ở bên trong đó đang vận hành như thế nào.
Tôi thậm chí còn chưa từng nghĩ đến việc phải trị liệu cho người Trung Quốc — suy nghĩ đó quá đỗi tự luyến; chỉ cần có thể nhận thức rõ ràng và biểu đạt được nó ra ngoài thôi là đã tốt lắm rồi.
Nghe qua thì việc tôi suy ngẫm lại về văn hóa truyền thống Trung Quốc rất giống với sự phê phán truyền thống phong kiến vào thời kỳ Ngũ Tứ. Nhưng phong trào Ngũ Tứ tràn ngập màu sắc cách mạng, còn tôi thì không. Phong trào Ngũ Tứ, một phần là vì sự du nhập của những sự vật mới mẻ, một phần là vì nỗi tự ti rất sâu sắc, nên đã bắt đầu phủ định sạch trơn nền văn hóa của chính mình. Tôi không muốn phủ định sạch trơn, mà chỉ muốn dùng phân tâm học để giải cấu trúc. Nếu chỉ cứng nhắc đi phá hủy, tấn công một sự vật nào đó, thì ngược lại bản thân mình cũng rất dễ bị phá hủy.
Góc nhìn đến từ “tha nhân” (người khác / kẻ ngoại cuộc) là vô cùng quan trọng, chẳng hạn như phân tâm học ban đầu chính là do người phương Tây khai sáng. Thế nhưng cái cốt lõi của phân tâm học — nhận thức bản tính con người đúng như nó vốn có — lại mang tính phổ quát toàn cầu. Nhờ mượn góc nhìn của tha nhân này, ta có thể nhảy ra khỏi bối cảnh nơi mình đang thuộc về, từ đó quan sát bản thân và tập thể của mình một cách tốt hơn.
Vốn dĩ tôi là một kẻ say mê thơ Đường từ Tống, nhưng một ngày nọ tôi phát hiện ra tất cả bọn họ đều chẳng nhảy thoát ra khỏi cái hố sâu của chữ Trung và chữ Hiếu, thế là tôi vô cùng thất vọng. Tôi cảm thấy trong số họ chẳng có lấy một ai đạt được trí tuệ như nhà thơ Rumi, hoặc thực sự kế thừa được trí tuệ của Lão Tử; có quá nhiều người mang đậm cái mùi vị “oán phụ” (người đàn bà oán trách) kiểu Khuất Nguyên. Giờ ngẫm lại, đó có lẽ chính là bởi vì họ thiếu đi góc nhìn của một tha nhân, nên đã không thể giúp bản thân thoát ra khỏi “núi Lư” của chính mình (ý từ câu thơ của Tô Đông Pha: Không nhận ra diện mạo thật của núi Lư, chỉ vì thân mình đang ở ngay trong núi ấy).
Thế nhưng điều quan trọng hơn cả vẫn là giống như lời Socrates đã nói: Hãy nhận thức chính mình. Đối với tôi mà nói, việc quan trọng nhất chính là nhận thức bản thân tôi; tôi là một người đàn ông Trung Quốc điển hình, nếu làm rõ được chính mình rồi thì cũng sẽ làm rõ được rất nhiều chuyện khác. Sự nhận thức về bản thân càng sâu sắc bao nhiêu, thì sự nhận thức về tâm thức tập thể của Trung Quốc cũng sẽ càng sâu sắc bấy nhiêu.
(Chú thích: Phóng viên Lý Đan của tờ The Paper [Bành Phái Tân Văn] cũng có đóng góp cho bài viết này.)
Khuôn Mẫu Tình Cảm Của Người Trung Quốc Đều Là Đang Tìm Mẹ
Khi yêu, chúng ta đang tìm kiếm điều gì?
Ít nhất, khuôn mẫu tình cảm của người Trung Quốc đều là đang tìm mẹ.
Thứ đàn ông tìm kiếm là “tân nương” (新娘 - tân nương), tức là một người mẹ mới (娘 - nương nghĩa là mẹ). Phụ nữ cũng tương tự như vậy: bất kể là các cô gái trẻ ngây thơ (Loli) đi tìm những người đàn ông đứng tuổi (đại thúc), hay mẫu đàn ông chất phác, thật thà, đáng tin cậy vốn khiến phụ nữ Trung Quốc yên tâm nhất, thì tất cả đều là “người mẹ”, đều là những người đàn ông đã bị thiến đi tính hùng dũng và mang trong mình tính mẫu tử.
Tại sao tất cả lại đều phải tìm mẹ? Bởi vì ở giai đoạn sơ sinh, chất lượng tình mẫu tử mà chúng ta nhận được nhìn chung chẳng ra sao; điều này dẫn đến việc trong nội tâm mỗi chúng ta đều có một đứa trẻ sơ sinh thiếu thốn, luôn khao khát có thêm một cơ hội nữa để tìm thấy tình mẫu tử tốt đẹp nhằm chữa lành nỗi đau từ thuở sơ khai nhất của sinh mệnh.
Chúng ta thích nói rằng tất cả đều là vì con cái, nhưng trên thực tế, chúng ta lại là những người dễ bỏ bê con cái nhất. Các bậc cha mẹ Trung Quốc rất dễ cho rằng trước khi đứa trẻ lên 3 tuổi thì đối xử thế nào cũng được, đằng nào trẻ cũng chẳng nhớ nổi. Nhưng sự thật lại là, đứa trẻ càng nhỏ thì càng cần được nâng niu và chăm sóc; đặc biệt là trong 6 tháng đầu đời, nếu trẻ sơ sinh thiếu hụt tình yêu thương trầm trọng thì sẽ dẫn đến những vấn đề tâm lý nghiêm trọng nhất.
Có thể nói, đối với một đứa trẻ sơ sinh dưới 1 tuổi, yêu thương trẻ nhiều đến mấy cũng không bao giờ là quá phận.
Là một trường phái phân tâm học mới, lý thuyết quan hệ đối tượng cho rằng ảnh hưởng của người mẹ đối với cái tôi của đứa trẻ mang tính quyết định. Trước 3 tuổi, ảnh hưởng trực tiếp của người cha đối với đứa trẻ tương đối nhỏ, vai trò chủ yếu của anh ta là nâng đỡ và hỗ trợ người vợ.
Chúng ta cũng có những câu nói tương tự, chẳng hạn như “Bố kém cỏi thì chỉ kém một người; mẹ kém cỏi thì kém cả một ổ” (Ba ba hùng, hùng nhất cá; ma ma hùng, hùng nhất oa), hay “Một người mẹ tốt làm lợi cho ba đời; một người mẹ tồi làm hại cả ba đời”, v.v.
Thế nhưng, kỳ nghỉ thai sản của chúng ta chỉ đủ cho người mẹ một khoảng thời gian để hồi phục cơ thể, còn người già ở Trung Quốc lại có thói quen giằng lấy đứa trẻ ra khỏi vòng tay người mẹ; xã hội và gia đình đã cùng nhau tạo ra sự chia cắt giữa người mẹ và đứa trẻ sơ sinh.
Tôi đã nghe quá nhiều câu chuyện như thế này: trong đầu các bà mẹ đều biết rõ rằng trước khi con lên 3 tuổi thì không nên có sự chia tách kéo dài với con, nhưng họ cứ luôn vì đủ mọi lý do thực tế mà không ngừng chia tách với con mình — chẳng hạn như gửi con về quê, hơn nữa còn chia tách hết lần này đến lần khác. Nhìn bề ngoài thì đây có vẻ là vì lý do thực tế, nhưng nếu đi tìm hiểu lịch sử trưởng thành của những bà mẹ này, ta sẽ phát hiện ra hồi nhỏ chính họ cũng từng bị chia tách khỏi mẹ của mình. Cho nên, rất nhiều khi sẽ có một luồng sức mạnh vô thức thúc đẩy người mẹ hoặc người cha, dẫn đến việc con cái của họ cũng phải đi trải qua nỗi đau tổn thương chia cắt mà chính họ từng nếm trải.
Hơn nữa, có một điểm đặc biệt tồi tệ là chúng ta nhìn chung không đủ thiện chí với các bà mẹ; đằng sau cuộc đại chiến mẹ chồng - nàng dâu khét tiếng ẩn chứa biết bao máu và nước mắt của những người mới làm mẹ. Ở những khu vực tư tưởng trọng nam khinh nữ càng nặng nề thì điều này lại càng nghiêm trọng.
Chẳng hạn như ở vùng Triều Sán thuộc tỉnh Quảng Đông, người mẹ với tư cách là kẻ ngoại lai bước vào một gia đình sẽ hoàn toàn cô lập và không nơi nương tựa; người bố đặt cha mẹ ruột của mình ở vị trí số một, con cái ở vị trí số hai, họ hàng thân thích và công việc xếp tiếp theo, còn người vợ thì mãi mãi đứng ở vị trí cuối cùng. Đặc biệt, khi nổ ra đại chiến mẹ chồng - nàng dâu, những người đàn ông hầu như đều sẽ đứng về phía mẹ ruột của mình. Dưới tình cảnh như vậy mà vẫn đòi hỏi những người mới làm mẹ phải làm một người mẹ tốt, chăm sóc thật tốt cho con cái của mình, thì thực sự là quá làm khó con người ta.
Hơn nữa, điều không thể tin nổi là các cuộc đại chiến mẹ chồng - nàng dâu đa số lại bắt đầu xoay quanh chính đứa trẻ mới chào đời — trong khi lúc này người mẹ trẻ đang ở trạng thái bất lực nhất và cần được nâng đỡ nhất; điều đó quả thực chẳng khác nào đang đòi mạng của người mẹ mới sinh.
Một khi người chồng đã không thể trông cậy, nhà chồng cũng chẳng có tình thương, thì đợi đến khi có con — đặc biệt là con trai — các bà mẹ liền chuyển dịch sự chú ý sang người con trai, đồng thời đặt để một số tình cảm và kỳ vọng vốn dành cho chồng lên người đứa con trai ấy, dẫn đến việc người con trai ngay từ nhỏ đã phải trải nghiệm cảm giác bị nuốt chửng. Sự nuôi dưỡng bình thường là người mẹ xoay quanh nhu cầu của đứa trẻ, còn các bé trai trong những gia đình này thì ngay từ khi sinh mệnh mới bắt đầu đã phải học cách xoay quanh cảm xúc của người mẹ.
Kết quả là những bé trai này trong giai đoạn sơ sinh đã không được trải nghiệm cảm giác được một “người mẹ tốt” chăm sóc. Hoàn cảnh của các bé gái lại càng bi thảm hơn: các em rất dễ trở thành đối tượng phóng chiếu của “bé gái nội tâm bị ghét bỏ” bên trong người mẹ.
Tình yêu là sự hiệu chỉnh lại những trải nghiệm thời thơ ấu giai đoạn sớm. Những tổn thương và khao khát từ thuở ấu thơ đều sẽ hiện diện rõ nét ở trong tình yêu. Một khi ở giai đoạn sơ sinh đã không có được một người mẹ tốt, điều này sẽ dẫn đến việc khi bước vào tình yêu, tất cả mọi người đều sẽ đi tìm mẹ. Hơn nữa, càng thiếu thốn bao nhiêu thì dục vọng tìm mẹ lại càng mãnh liệt bấy nhiêu; cho nên những người phụ nữ vốn tương đối thiếu thốn hơn, dù về mặt cảm giác có bị thu hút bởi những người đàn ông nam tính mạnh mẽ, nhưng khi thực sự đứng trước ngưỡng cửa phải đưa ra lựa chọn, họ vẫn sẽ chọn người đàn ông mang nhiều tính mẫu tử hơn.
Vì thế, chuyện các cô gái trẻ tìm đến những ông chú đứng tuổi ở phương Tây chỉ thỉnh thoảng mới xuất hiện, nhưng ở phương Đông lại trở thành hiện tượng phổ biến.
Các cô gái kiểu Loli lúc nào cũng chu môi — đó là biểu hiện của việc đang đòi bú sữa. Họ khao khát được bao dung, muốn có cảm giác an toàn, trong khi những chàng trai đồng trang lứa chỉ có sự nhiệt tình, mà sự nhiệt tình ấy cũng thường ở mức độ của những cự anh, cho nên họ phải đi tìm các ông chú. Các ông chú không chỉ đơn thuần là chín chắn, thậm chí hoàn toàn chẳng phải là chín chắn, mà thực chất là những người đàn ông mang tính mẫu tử — những “bà mẹ” không có bầu vú.
Hơn nữa, các ông chú này vốn đã bị thiến đi tính hùng dũng; khi đối diện với những người phụ nữ trưởng thành, họ sẽ cảm thấy tự ti, còn những cô gái Loli giống như đứa trẻ nhỏ lại mang đến cho các ông chú cảm giác mình là người có giá trị và được cần đến.
Chiểu theo sự phát triển tâm lý bình thường, nếu một cô gái nhận được đầy đủ tình yêu thương trong gia đình gốc của mình, thì đến độ tuổi tốt nghiệp đại học, cô ấy sẽ đi tìm kiếm niềm đam mê và sự độc lập. Nếu vào lúc này có một người đàn ông nói với cô ấy rằng: Em không cần phải đi làm, mỗi tháng anh đưa cho em từng này tiền, để anh chăm sóc cho em — một cô gái bình thường nhìn chung sẽ từ chối, bởi vì cô ấy không muốn bị ràng buộc. Thế nhưng một cô nàng Loli lại rất dễ nhận lời, bởi vì cô ấy chỉ mới trưởng thành về mặt tuổi tác sinh học, còn tuổi tâm lý thì vẫn là một đứa trẻ sơ sinh nhỏ bé, vẫn khao khát được một người mẹ nuôi nấng và chăm bẵm.
Phụ nữ Trung Quốc ở bất kỳ thời đại nào cũng đều có mặc cảm mê đắm các ông chú (đại thúc tình kết). Xã hội Trung Quốc xét trên tổng thể là xã hội nam quyền, phụ nữ thiếu hụt cảm giác an toàn. Một thân chủ từng kể với tôi rằng, ở vùng Triều Sán, một số nữ sinh cấp ba cặp kè với các ông chú hoàn toàn không phải vì vòi tiền của họ, mà chỉ hy vọng nhận được từ những ông chú này một chút sự quan tâm và tình yêu thương.
Những cô gái như vậy thường là đứa trẻ bị bỏ bê nhất trong các gia đình đông con; và ở trong mối quan hệ với ông chú, họ sẽ lại lặp lại khuôn mẫu quan hệ bị ngó lơ trước đây của mình — người đàn ông kia đã có gia đình riêng, sẽ không bao giờ dồn toàn bộ sự quan tâm nghiêng hẳn về một mình cô ấy.
Hãy bàn tiếp về các ông chú. Rất nhiều ông chú khi còn nhỏ vốn là những đứa trẻ ngoan ngoãn, hiểu chuyện, không để cha mẹ phải bận tâm; họ già trước tuổi, bản tính tự nhiên của trẻ thơ đã bị đánh mất từ quá sớm. Khi ở bên cạnh các cô gái Loli, vừa trong lúc “cho bú sữa”, họ cũng vừa thỏa mãn được một phần ảo ảnh quay trở về tuổi thơ — đó là một sự bù đắp cho chính bản thân họ.
Người Trung Quốc có đến bảy, tám phần mười các cuộc hôn nhân được xây dựng trên nền tảng cảm giác an toàn; tất cả đều là những đứa trẻ sơ sinh đang đi tìm mẹ. Hai người sống với nhau thành ra người thân ruột thịt, có lẽ sẽ vô cùng thân mật, nhưng rất dễ cảm nhận thấy sự phát triển của cả hai dường như đã bị giới hạn lại; hơn nữa tuy rất thân mật, nhưng chẳng thể nói là đặc sắc. Bởi vì sự đặc sắc thuộc về phần cá nhân hóa.
Tôi đã chứng kiến rất nhiều mối tình nhìn bề ngoài có vẻ lý tưởng: ban đầu ai nấy đều kinh ngạc trước sự lãng mạn và gắn bó của đôi nam nữ, quả thực là dốc trọn tâm can không chút oán trách hối tiếc; nhưng chẳng hiểu vì sao, hai người càng sống với nhau lại càng khổ sở, rất nhiều chuyện bi thảm liên tiếp xảy ra, hơn nữa sự phát triển cá tính của cả hai dường như cũng bị đình trệ lại, để rồi cuối cùng giống hệt như những gì Vương Tiểu Ba từng miêu tả — chẳng khác nào hai con chuột nhắt đang yêu nhau.
Về tình trạng này, có một người phụ nữ đã đưa ra cách hình dung vô cùng đắt giá; cô ấy nói rằng cô cảm thấy mối quan hệ giữa mình và chồng cũ giống hệt như hai cái cây cổ vẹo xoắn chặt lấy nhau.
Trong mối quan hệ như vậy, cả hai người đều đang thay phiên nhau đóng vai cự anh và bà mẹ toàn năng: lúc thì bạn là cự anh còn tôi là bà mẹ toàn năng, lúc thì tôi là cự anh còn bạn là bà mẹ toàn năng; cả hai đều toàn tâm toàn ý nghĩ cho đối phương, nhưng đồng thời đều cảm thấy đối phương thật nặng nề và mong manh, còn sự phát triển của bản thân mình thì bị trói chặt lại.
Sau khi chứng kiến rất nhiều mối quan hệ yêu đương như thế, tôi đã hiểu ra rằng: có lẽ họ đang dốc hết sức lực để thiết lập mối quan hệ cộng sinh. Tôi chỉ có mình bạn, bạn chỉ có mình tôi, thế giới của chúng ta trùng khớp hoàn toàn lên nhau, tư tưởng thống nhất làm một... Cuối cùng sự khác biệt dường như biến mất, mà sự phát triển cũng biến mất theo.
Hơn nữa, có một điều rất thú vị là đa số những mối quan hệ kiểu này mà tôi từng gặp đều không có con, bởi vì nếu có con thì sẽ phá vỡ mất cảm giác cộng sinh giữa hai người.
Việc nuôi dạy con cái có ba giai đoạn:
6 tháng đầu đời là giai đoạn cộng sinh; tôi gọi đó là giai đoạn một người, đứa trẻ cảm thấy mình và mẹ là một thể thống nhất.
Từ 6 tháng đến 3 tuổi là giai đoạn chia tách và cá nhân hóa — giai đoạn hai người: tôi là tôi, bạn là bạn, chúng ta ở bên nhau.
Sau 3 tuổi là giai đoạn Oedipus — giai đoạn ba người: tôi là tôi, bạn là bạn, ở giữa chúng ta còn có một người khác mà chúng ta cùng nhau sở hữu.
Sự phát triển của tình yêu có lẽ cũng cần trải qua ba giai đoạn này. Quả thực có một thuyết ba giai đoạn tình yêu rất kinh điển: Giai đoạn thứ nhất, 1 + 1 = 1, chúng ta là một người; giai đoạn thứ hai, 1 + 1 = 0, mọi nỗi đau khổ và bất hạnh của tôi đều là tại bạn; giai đoạn thứ ba, 1 + 1 = 2, tôi là tôi, bạn là bạn, chúng ta ở bên nhau.
Sự oán ghét ở giai đoạn thứ hai là vô cùng quan trọng; phải đi qua giai đoạn này mà vẫn sống sót được thì mới bước vào giai đoạn thứ ba — nơi hai tâm hồn độc lập trao nhau tình yêu thương.
Cuối cùng, hãy nói thêm về cảm giác an toàn. Về cảm giác an toàn, người dân nước mình rất dễ có sự định nghĩa đơn điệu và vật chất hóa, chẳng hạn như nhà cửa, xe cộ. Không có nhà thì không thể kết hôn, cho nên mới có câu nói rằng — các bà mẹ vợ đã đẩy giá nhà ở Trung Quốc tăng cao. Hơn nữa, người dân nước mình cũng luôn khuyên nhủ những người không có tình yêu trong hôn nhân rằng: đừng tham lam quá, không thể nào có được tất cả mọi thứ đâu. Thế nhưng, có một sự thật căn bản là: thứ duy nhất thực sự có thể tạo ra cảm giác an toàn chỉ có tình yêu mà thôi.
“Con Trai Cưng Của Mẹ” Được Hình Thành Như Thế Nào?
“Con trai cưng của mẹ” (妈宝男 - mụ bảo nam), đúng như tên gọi, là người cái gì cũng nghe theo mẹ, cái gì cũng cho rằng mẹ đúng, cái gì cũng lấy mẹ làm trung tâm.
— Định nghĩa về “con trai cưng của mẹ” trên Baidu Baike
Tại Trung Quốc, “con trai cưng của mẹ” là một sự tồn tại vô cùng phổ biến.
Nhìn bề ngoài, kiểu đàn ông này rất nghe lời mẹ, đối xử rất tốt với mẹ; nhưng thực chất, đó chỉ là lớp biểu hiện bên ngoài, ở tận sâu thẳm nội tâm, họ có những mảng tối không ai hay biết.
Dùng thuật ngữ tâm lý học, họ có một sự phân liệt nghiêm trọng — chia tách hình tượng người mẹ thành “người mẹ tốt” và “người mẹ xấu”; đem người mẹ tốt phóng chiếu lên người mẹ có thật ngoài đời, nhưng lại rất dễ đem người mẹ xấu phóng chiếu lên người vợ.
Chính vì cơ chế tâm lý này, họ không thể bộc lộ cảm xúc tiêu cực với người mẹ có thật, nhưng lại có thể trút cảm xúc tiêu cực ấy lên người vợ. Họ tuyệt đối không thể xa cách mẹ, nhưng lại có thể xa cách vợ một cách tưởng chừng như vô cớ.
Do đó, phụ nữ khi chọn người yêu tuyệt đối không nên dùng logic cứng nhắc — một người đối xử tốt với mẹ thì cũng sẽ đối xử tốt với vợ. Nếu sự tốt đẹp ấy mang tính lưu động và tự do thì mới là thật; còn nếu sự tốt đẹp ấy giống như một thứ giáo điều, mang nét gượng gạo cứng nhắc, thì người đàn ông này càng đối tốt với mẹ bao nhiêu, sẽ càng đối xử tệ với vợ bấy nhiêu.
Về nguyên nhân hình thành nên kiểu đàn ông cưng mẹ, chúng ta thường có một ngộ nhận phổ biến.
Mọi người rất dễ cho rằng, sở dĩ con trai cưng bám mẹ đến thế là vì người mẹ đối xử rất tốt với con trai.
Thực ra, sự hình thành của “con trai cưng của mẹ” xuất phát từ hai nguyên nhân chẳng mấy tốt đẹp:
1. Trong giai đoạn sơ sinh và ấu nhi bị thiếu thốn tình mẫu tử nghiêm trọng, mà khát khao tình mẫu tử lại là khao khát hàng đầu của tất cả mọi người, vì thế họ sẽ mãi chấp niệm với tình mẫu tử;
2. Khi lớn hơn một chút phát hiện ra rằng, có thể thông qua việc răm rắp nghe lời mẹ để nhận được sự quan tâm của mẹ, từ đó hình thành sự phục tùng tuyệt đối đối với mẹ; nhưng khi làm vậy, chắc chắn họ phải đè nén sự bất mãn và tính tấn công đối với người mẹ.
Thông thường, mức độ bất mãn và tính tấn công của họ đối với người mẹ nghiêm trọng đến mức khiến chính bản thân họ cũng phải khiếp sợ. Điều này khiến họ sợ hãi và cảm thấy tội lỗi; để phòng vệ trước nỗi sợ hãi và cảm giác tội lỗi đó, họ càng không thể để lộ điều này ra ngoài.
Tuy nhiên, đối với người vợ, họ rất có thể sẽ không còn đè nén nữa; thế nên họ dễ dàng trút những cơn thịnh nộ vô cớ lên vợ, đồng thời duy trì một mối quan hệ cách biệt, xa cách với vợ. Những kẻ cưng mẹ hơi cường thế một chút thậm chí còn có thể vô cùng coi thường vợ.
Có thể hiểu thế này: Họ khinh thường, xa cách, phẫn nộ với vợ hoặc những người phụ nữ khác bao nhiêu, thì đối với mẹ ruột của mình cũng khinh thường, xa cách, phẫn nộ bấy nhiêu.
Vì mối quan hệ với mẹ quá mức thân mật, con trai cưng của mẹ sẽ bị khơi dậy cảm giác xấu hổ về tính dục, dẫn đến việc đời sống tình dục của họ gặp vấn đề.
Thế nhưng, đừng tưởng rằng họ không có năng lực tình dục. Họ thường không thể có đời sống tình dục tốt đẹp với vợ, nhưng trong các hoạt động tình dục khác lại có thể thể hiện năng lực rất tốt. Nguyên nhân là vì trong tình dục, người vợ giống như người mẹ, sẽ gợi lên trong họ cảm giác xấu hổ về mặt tính dục.
Ngoài ra, họ càng gần gũi với mẹ bao nhiêu, thì động lực khao khát phản bội mẹ lại càng mạnh mẽ bấy nhiêu. Do đó, đôi khi họ có xung động mãnh liệt khó hiểu muốn phản bội vợ. Phản bội không đơn thuần chỉ là phản bội, mà là để tìm kiếm một cảm giác — tôi có thể rời xa mẹ, tôi khát khao sự tự do ấy.
Vì vậy, nếu vướng phải một người đàn ông cưng mẹ, người phụ nữ rốt cuộc sẽ cảm thấy như rơi vào một cơn ác mộng.
Thế nhưng, phụ nữ Trung Quốc tuy hễ nhắc đến trai cưng của mẹ là nghiến răng căm ghét, thề thốt không bao giờ dây dưa với kiểu đàn ông này, song kiểu đàn ông này ban đầu lại có một ưu điểm mang sức hút chí mạng đối với những người phụ nữ Trung Quốc thiếu cảm giác an toàn — dễ kiểm soát. Khi yêu, họ sẽ dùng lại đúng chiêu thức từng dùng với mẹ — răm rắp nghe lời, mọi thứ đều xoay quanh cảm nhận của người yêu; điều này khiến những người phụ nữ thiếu thốn tình thương cảm thấy rất đỗi ngọt ngào. Dù họ rất khó để thực sự ngưỡng mộ một kẻ bám mẹ, nhưng sự phục tùng thái quá ấy lại khiến họ không nỡ buông tay.
Hơn nữa, chẳng phải kiểu đàn ông bám mẹ ấy lại do chính phụ nữ Trung Quốc tạo ra hay sao? Cho nên, điều quan trọng hơn việc tránh xa trai cưng của mẹ là đừng tạo ra những đứa con trai như thế.
[Phụ lục: Một số mô tả trên mạng về “con trai cưng của mẹ”]
1. Đương nhiên, bạn không thể cứ thế cho rằng trai cưng của mẹ là một đứa trẻ ngoan ngoãn hay một người đàn ông hiếu thảo. Tôi từng nghe có gã bắt cá hai tay lấy hình tượng “cưng mẹ” làm lá chắn, lần nào cũng nói: “Xin lỗi em, mẹ anh bắt anh ở nhà với mẹ”. Tên hiển thị người gọi đến của tất cả các mối quan hệ ngoài luồng đều lưu là “Mẹ”, bạn tưởng hai mẹ con họ tình cảm khăng khít, nhưng thật ra bạn cũng chỉ là một người mẹ khác của anh ta mà thôi. Cho nên các chị em à, tuyệt đối đừng nhầm lẫn “bám mẹ” với “hiếu thảo”.
2. Trai cưng của mẹ thường tạo ấn tượng là thiếu chủ kiến, không tự tin.
3. Mấy biểu hiện của trai cưng của mẹ:
⚬ Khi ở cùng bố mẹ vẫn hoàn toàn như một đứa trẻ, nũng nịu làm duyên, đặc biệt là trước mặt mẹ.
⚬ Cách xưng hô và hành vi đối với mẹ vô cùng thân mật, thơm má qua lại với mẹ.
⚬ Ngoài 30 tuổi vẫn nằm ngủ chung giường với mẹ.
4. Nhận biết trai cưng của mẹ như thế nào?
⚬ Rất nghe lời bố mẹ. Nếu trong cuộc trò chuyện của hai người liên tục chêm vào vô số câu “mẹ anh”, “mẹ anh bảo”, thì bạn phải cẩn thận đấy, hãy chuẩn bị tinh thần rút lui bất cứ lúc nào.
⚬ Khi ở cùng bố mẹ vẫn làm nũng hệt như một đứa trẻ, đặc biệt là trước mặt mẹ.
⚬ Yêu cầu cao với phụ nữ: Mong muốn họ dịu dàng hiền thục, lên được phòng khách xuống được nhà bếp, không chỉ quán xuyến việc bên ngoài mà còn lo toan việc trong nhà; như thế thì anh ta không phải tìm vợ, mà có lẽ đang tìm một bà mẹ kiêm người giúp việc.
⚬ Cho rằng sự nghiệp không quan trọng: Đàn ông kiểu này nếu không phải vì đã quen hưởng thụ sự chăm sóc của bố mẹ nên không có chí tiến thủ, thì cũng là đang tìm cớ cho sự bất tài của bản thân.
Bổ sung một câu: Tránh xa trai cưng của mẹ là rất quan trọng, nhưng quan trọng hơn là: Tại sao bạn lại chọn một người đàn ông biết nghe lời? Trừ khi làm sáng tỏ được tâm lý này, bằng không trai cưng của mẹ sẽ mãi là “chân ái” của đời bạn.
Đối với đàn ông, nếu nhận ra mình là con trai cưng của mẹ, nhất định phải ý thức được rằng đây là một vấn đề lớn; và từ một đứa con ngoan của mẹ trở thành một người đàn ông đích thực, cần phải đi một chặng đường rất dài. Điều này là tất yếu, nếu không cuộc đời bạn sẽ tràn ngập cảm giác trống rỗng tột cùng, và bạn sẽ luôn thấy trong lòng mình có một hố đen khổng lồ.
Hai Điểm Mấu Chốt Để Nhận Thức Về “Con Trai Cưng Của Mẹ”
1. Mẹ dễ công nhận con trai cưng, còn vợ thì không
Con trai cưng của mẹ, tức bảo bối vĩnh viễn trong lòng mẹ; mẹ nhìn con trai như thế, con trai cũng tự coi mình là thế, kết quả là mối quan hệ này cứ kéo dài mãi.
Tôn Long Cơ trong tác phẩm Văn hóa giết mẹ của nước Mỹ đã đưa ra khái niệm chủ nghĩa “Đại Mami” (Momism / Big Mommy). Trai cưng của mẹ chính là tín đồ của chủ nghĩa Đại Mami: “Mẹ luôn luôn đúng”, “Đây là mẹ anh nói”, “Gia mẫu bảo vậy”, “Gia mẫu cho rằng”... “Mẹ anh bảo” đã trở thành câu cửa miệng của anh ta, lời của mẹ chính là thánh chỉ.
Cho nên, mối quan hệ như vậy thực chất là mất cân bằng: mẹ tựa nữ hoàng, còn anh ta vừa làm bảo bối nhỏ vừa bắt buộc phải nghe lời. Đây là dạng thức thường thấy của trai cưng của mẹ.
Một khi mẹ chồng và nàng dâu bắt đầu tranh giành trai cưng của mẹ, sẽ có một điểm đặc biệt then chốt: Trai cưng của mẹ ở trước mặt mẹ rất dễ được công nhận, nhưng ở trước mặt vợ thì không.
Có một lần, tôi cùng bạn gái cũ thảo luận về trai cưng của mẹ, cô ấy nhớ đến thú cưng ở nhà chúng tôi — lúc nuôi nhiều nhất từng có 7 con mèo Ba Tư lông ngắn (Garfield) và 3 con vẹt. Khi nuôi thú cưng sẽ có cảm giác này: mèo hay vẹt làm được bất cứ trò gì mới lạ, chúng tôi đều thấy bất ngờ thích thú: “Oa! Đáng yêu quá!”, “Oa! Tuyệt quá! Giỏi thật đấy!”
Chẳng hạn như khi vẹt lần đầu tiên học được cách tự mở lồng, chúng tôi vừa thấy lo lắng, vừa tấm tắc khen: “Oa, sao có thể như thế được! Sao nó lại tài tình thế!”
Từ câu chuyện này, chúng tôi nhận ra: Người mẹ nhìn con cái cũng chính là như vậy, đứa con làm bất cứ điều gì cũng đều đáng kinh ngạc. Con biết nói rồi, biết đi rồi, biết tự ăn cơm rồi, biết lăn lộn rồi, biết làm trò này trò nọ rồi, đều khiến cha mẹ tràn ngập sự ngạc nhiên thích thú.
Thế nhưng thái độ của người vợ đối với chồng lại hoàn toàn khác. Người vợ cần một người đàn ông trưởng thành, có trách nhiệm; anh ta phải có bản lĩnh, có thể che chở và hỗ trợ cô ấy cùng con cái, chí ít cũng phải ngang hàng bình đẳng. Nếu chồng là con trai cưng của mẹ, người vợ tự nhiên sẽ rất dễ nảy sinh đủ thứ bất mãn.
Chính vì sự đối lập này, nếu mẹ chồng sống cùng đôi vợ chồng trẻ, vấn đề sẽ lập tức phát sinh: Trong mắt mẹ, con trai cưng thật tuyệt vời; nhưng trong mắt vợ, anh ta lại là kẻ khiến người ta thất vọng.
2. “Con trai cưng của mẹ” tất yếu mắc chứng “ghét sợ phụ nữ” (Misogyny)
Thế giới này luôn vận hành theo hướng tương phản: Nếu bạn nhìn thấy A, điều đó tất nhiên đồng nghĩa với việc bạn nhìn thấy -A.
Đây là một trong những câu nói tôi tâm đắc nhất; khi áp dụng vào người đàn ông bám mẹ, nó có nghĩa là: Trai cưng sùng bái mẹ bao nhiêu, thì chán ghét căm hận mẹ bấy nhiêu. Những trường hợp bám mẹ nghiêm trọng, nội tâm chắc chắn mang chứng ghét phụ nữ nặng nề, và mối ác cảm này bắt nguồn từ chính sự oán ghét đối với người mẹ, chỉ là rất khó nhận thức ra được.
Thời tôi còn làm việc tại báo Quảng Châu Nhật Báo, có một thân chủ vừa đến đã bảo: “Thầy Vũ ơi, em có thể sẽ lên trang nhất báo của thầy đấy, vì em muốn giết vợ em.” Tôi hỏi anh ta: “Còn lúc nào khác anh từng nghĩ đến chuyện giết vợ không?” Anh ta nói có. Thế là chúng tôi liệt kê tất cả những khoảng thời gian đó ra để tìm điểm tương đồng mấu chốt. Kết quả tôi phát hiện, lần nào cũng là sau khi mẹ anh ta từ quê lên sống cùng anh ta khoảng nửa năm, anh ta liền nổi sát tâm với vợ.
Sau khi nhìn thấy chân tướng này, tôi hỏi anh ta: “Rốt cuộc anh muốn giết ai?” Anh ta đáp: “Mẹ tôi.”
Trước đó, anh ta chưa từng bộc lộ sự oán hận mẹ với bất kỳ ai; ngược lại, anh ta luôn ca ngợi mẹ, thậm chí còn muốn thuê người viết tiểu sử cho mẹ để khắc họa sự vĩ đại của bà.
Khi bệnh tình nghiêm trọng, con trai cưng thậm chí không tự ý thức được sự chán ghét đối với mẹ; anh ta coi mẹ là “người phụ nữ tốt” đáng được tôn sùng, rồi phóng chiếu hình tượng “người phụ nữ xấu” lên vợ, từ đó chán ghét và xa lánh cô ấy. Cho nên làm vợ của một kẻ bám mẹ là chuyện vô cùng đau đớn.
Muốn trị liệu cho kiểu đàn ông này, tôi nhất định sẽ đặt ra một giả thiết — triệu chứng bám mẹ càng nặng, sự kiểm soát của người mẹ đối với anh ta càng sâu, thì sự oán hận của anh ta đối với mẹ càng lớn, đến nay chưa từng có ngoại lệ.
Nặng nề đến mức nào? Nghiêm trọng đến mức từng nghĩ đến chuyện giết chết mẹ mình.
Thực ra, đứa trẻ từ trạng thái cộng sinh với mẹ bước tới độc lập, tất yếu phải hoàn thành việc “giết mẹ” về mặt tâm lý. Cho dù mẹ có vĩ đại đến đâu, mẹ có đau khổ đến đâu, mẹ cần nó đến nhường nào, nó vẫn phải rời xa mẹ để tiến vào thế giới rộng lớn hơn; nếu mẹ muốn chết, thì cứ việc chết đi. Phải có được cái quyết tâm dứt khoát ấy.
Đương nhiên, việc cứ thế lạnh lùng bứt ra thực tế rất khó xảy ra. Trừ phi người mẹ thực sự quá tồi tệ, khiến đứa con từ sớm đã xem bà là người mẹ xấu, để có thể đường hoàng trốn chạy. Trong hoàn cảnh bình thường, đứa con muốn rời khỏi vòng tay mẹ thì cần có sự can thiệp của người cha.
⚬ Thứ nhất, người cha giống như một kẻ thù, xua đuổi con ra khỏi vòng tay mẹ và tuyên bố với nó rằng: “Đây là vợ của tao!” Điều này vừa kích thích con trai, nhưng đồng thời con trai có thể phóng chiếu cái xấu lên cha, có thể căm hận cha, nhờ đó giảm bớt sự thù hận đối với mẹ.
⚬ Thứ hai, người cha cần phải nâng đỡ người vợ, xây dựng mối quan hệ tốt đẹp với vợ; như vậy dù người vợ có mất đi sự gắn bó thân mật với con trai, vẫn còn có một người thân mật khác ở bên. Nhờ đó, cuộc chia tách này không đến mức quá khó khăn.
Nhưng dù thế nào đi nữa, người đàn ông bám mẹ đều cần phải nhận thức được rằng: Anh ta sùng bái mẹ bao nhiêu thì oán hận mẹ bấy nhiêu. Một điểm vô cùng then chốt là, những đứa con trai cưng của mẹ nhìn chung đều mang một nỗi mặc cảm tội lỗi sâu tận xương tủy, khôn xiết diễn tả thành lời đối với mẹ. Họ sẽ nói rằng đó là vì mẹ rất đau khổ, rất đáng thương. Thế nhưng sự thật là, sở dĩ họ cảm thấy tội lỗi với mẹ như vậy là bởi trong tiềm thức họ oán hận mẹ ngút trời; sự oán hận mãnh liệt này tương đương với việc đã tấn công mẹ, nên họ mới thấy tội lỗi với mẹ. Thậm chí, họ còn từng muốn giết mẹ, nên lẽ dĩ nhiên lại càng thấy tội lỗi khôn cùng.
Hận thù là một phần cực kỳ quan trọng trong một mối quan hệ; có thể nói, nếu không thể hận thì sẽ không có tình yêu, nếu không thể cự tuyệt thì sẽ không có sự thân mật thực sự.
Cho nên, trai cưng của mẹ dường như chỉ dành cho mẹ tình yêu và sự thân mật, thực chất đó là giả dối. Sự căm hận và thái độ cự tuyệt của anh ta sẽ được bộc lộ trọn vẹn lên người vợ. Với tư cách là vợ, cô ấy sẽ thường xuyên cảm nhận được rằng: Ở bên cạnh một người đàn ông bám mẹ là một nỗi cô độc chí mạng.
Con trai cưng của mẹ cũng cần nhận thức được rằng sự oán ghét của mình là hoàn toàn có lý, bởi mỗi người đều phải tự chịu trách nhiệm cho sinh mệnh của chính mình, chứ không cần phải chịu trách nhiệm thay cho cuộc đời người mẹ. Hơn nữa, anh ta cần phải chia tách khỏi mẹ để bước tới khoảng trời bao la rộng lớn hơn.
Tuyệt Chiêu Của Điền Phác Quân — Biến Những Nhân Vật Xuất Chúng Thành Đứa Trẻ
Tháng 11 năm 2012, chuyện tình cảm giữa Vương Thạch và Điền Phác Quân bị phanh phui, vô số người không hiểu nổi tại sao Vương Thạch lại chấp nhận Điền Phác Quân, thậm chí có thuyết âm mưu còn cho rằng Vương Thạch muốn lợi dụng Điền Phác Quân để ly hôn giả với vợ nhằm qua mặt các cơ quan ban ngành liên quan rồi tẩu tán tài sản ra ngoài. Lối suy nghĩ như vậy thật quá đỗi phức tạp.
Kỳ thực, chân tướng và chân lý thường chẳng phức tạp đến thế, thậm chí còn đơn giản đến bất ngờ.
Thời điểm đó, tôi đã đọc rất nhiều tư liệu về Vương Thạch và Điền Phác Quân trên mạng. Sau khi xem xong và ngẫm lại, trong đầu tôi có hai điểm để lại ấn tượng sâu sắc nhất.
Thứ nhất, là món “thịt kho tàu hiệu Vụng Về” trông hình thức hết sức bình thường mà Vương Thạch đã nấu cho “Havana-na” (tên tài khoản Weibo của Điền Phác Quân).
Thứ hai, là những bức ảnh chụp chung của Điền Phác Quân với các nhân vật nổi tiếng thuộc đủ mọi giới.
Trước hết xem xét vô vàn tư liệu, sau đó tĩnh tâm lại để xem những dữ liệu nào sẽ nổi lên từ trong tâm trí, rồi nắm bắt lấy những dữ liệu đó để tiến hành phân tích — đó chính là phương pháp làm phân tích tâm lý của tôi. Phương pháp này lẽ đương nhiên có thể mang theo sự phản chiếu nội tâm của riêng tôi, nhưng phần lớn thời gian, nó thực sự rất có lý, đặc biệt là khi nội tâm bạn đủ tĩnh lặng.
Ở điểm thứ hai, chẳng hạn như chuyện Điền Phác Quân áp sát ngực vào Lương Triều Vỹ, cưỡng hôn Roberto Baggio, hay vô số cảnh nóng trên giường... Khi những hình ảnh này liên tục hiện lên trong đầu, tôi bất giác tự hỏi: Vương Thạch — một con người hành xử kín kẽ không một kẽ hở — làm sao lại không hiểu rõ những lợi hại trong chuyện này, cớ sao lại đi tìm một người phụ nữ đòi hỏi vô độ đến như vậy?
Lời phán xét đạo đức như vậy thực chất chính là sự phóng chiếu từ nội tâm tôi.
Vì thế, gác lại sự phóng chiếu này, tôi thử xem lòng mình lại liên tưởng đến điều gì.
Trong khoảnh khắc ấy, tôi nhớ tới Wendi Deng (Đặng Văn Địch) và Rupert Murdoch.
Nghĩ đến đây, tôi cảm thấy dường như mình đã nắm bắt được một điểm then chốt của sự việc.
Không chỉ riêng Murdoch với Đặng Văn Địch, Vương Thạch với Điền Phác Quân, mà ngay cả trong giới tâm lý học và giới tu tập tâm linh mà tôi được biết, chuyện một bậc thầy đi đôi với một người phụ nữ đòi hỏi vô độ là sự kết hợp quá đỗi thường gặp. Chẳng hạn như người sáng lập phương pháp Sắp đặt Gia đình (Family Constellations) — bậc thầy trị liệu gia đình người Đức Bert Hellinger, người vợ mới cưới khi về già của ông cũng là một người phụ nữ có dục vọng vô cùng mãnh liệt.
Tại sao lại như vậy? Trước đây tôi cũng không ngừng suy ngẫm, nhưng luôn cảm thấy chưa nắm được cốt lõi. Mãi đến giây phút này, khi xâu chuỗi tất cả lại với nhau, tôi mới hiểu ra, thế là lập tức đăng một đoạn lên Sina Weibo:
Trong mối quan hệ sâu sắc nhất, bạn hy vọng đối phương tôn kính bạn, coi bạn là một bậc vĩ nhân cao cao tại thượng, hay hy vọng đối phương biến bạn thành một đứa trẻ? Câu trả lời chắc chắn là vế sau. Mối quan hệ giữa Vương Thạch và Điền Phác Quân có lẽ then chốt nằm ở điểm này: kiểu phụ nữ có dã tâm quá lớn sở hữu một năng lực — biến những nhân vật xuất chúng thành đứa trẻ. Ít nhất giữa Đặng Văn Địch và Murdoch mấu chốt là ở điểm này; nghe nói Đặng Văn Địch mắng Murdoch hệt như mắng một đứa con nít.
Thử tưởng tượng xem, khi gặp Murdoch, Vương Thạch, hoặc những bậc thầy trong giới tâm lý học và tâm linh, bạn sẽ đối xử với họ thế nào?
Tôi nghĩ phần lớn mọi người sẽ cung kính khép nép.
Thế nhưng, cung kính khép nép chính là một khoảng cách. Xây dựng mối quan hệ với những nhân vật sừng sỏ bằng thái độ đó, họ sẽ thấy mình nhận được thứ quen thuộc như thường lệ, nhưng đồng thời lại cảm thấy cô độc, thậm chí gượng gạo không tự nhiên. Cả hai bên đều khoác lên mình một lớp vỏ bọc khi giao tiếp.
Nhưng với những người phụ nữ như Điền Phác Quân hay Đặng Văn Địch, họ tuy cũng coi đối phương là kẻ mạnh, nhưng họ có thể tiếp cận một cách vô cùng trực diện, làm nũng, lấy lòng, đòi hỏi đủ thứ mà chẳng gặp chút trở ngại nào.
Không có một chút trở ngại nào, đồng thời cũng có nghĩa là chẳng có lấy một chút khoảng cách. Nhờ vậy, những nhân vật xuất chúng hiếm hoi phát hiện ra rằng: trong mối quan hệ nhìn có vẻ đầy vấn đề này, họ đã không còn cô độc đến thế nữa.
Kẻ thù lớn nhất của các mối quan hệ thân mật chính là sự cô độc. Vì vậy, những người như Điền Phác Quân chính là “sát thủ bẩm sinh” của những kẻ sừng sỏ.
Hơn nữa, có một điểm rất thú vị là trong mối quan hệ như vậy, người đàn ông cuối cùng sẽ biến thành một đứa trẻ, còn người phụ nữ lại dễ biến thành con cọp cái hung dữ — đối xử với đối phương một cách hung dữ, nhưng cũng hung dữ bảo vệ lợi ích của đối phương. Mối quan hệ giữa Đặng Văn Địch và Murdoch chính là như vậy, và một số bậc thầy cùng vợ của họ mà tôi được biết cũng như thế.
Không rõ mối quan hệ giữa Vương Thạch và Điền Phác Quân liệu có tiến triển tới mức độ này hay không, nhưng món “thịt kho tàu hiệu Vụng Về” kia đã nói lên rằng: Vương Thạch ít nhất đã biến thành một cậu bé mang tên ở nhà là “Vụng Về”.
Bên cạnh đó, dục vọng vốn là một nguồn sinh mệnh lực tràn trề, có lẽ chính điều này cũng đã thu hút Vương Thạch.
Nay mấy năm trôi qua, những bức ảnh chụp chung của Vương Thạch và Điền Phác Quân trên mạng ngày một nhiều, quả thực có thể thấy rõ rằng sau khi ở bên Điền Phác Quân, Vương Thạch đã trở nên thư thái hơn rất nhiều. Trước đây cách ăn mặc của ông luôn rất chỉnh tề, khuôn mặt cũng luôn nghiêm nghị, nhưng giờ đây ông thường khoác lên mình bộ đồ hết sức thoải mái tùy ý để cùng Điền Phác Quân ra ngoài. Có lẽ đây chính là món quà quý giá mà mối tình này đã mang lại cho ông.
Chăm Sóc Như Em Bé, Sùng Bái Như Nữ Thần
Chăm sóc cô ấy chu đáo đến từng chân tơ kẽ tóc như một đứa trẻ; sùng bái cô ấy như một nữ thần, tuyệt đối không bao giờ thốt ra một chữ “không”. Vô số mẩu chuyện tiếu lâm hay châm ngôn trên mạng về việc phụ nữ (thực ra là phụ nữ Trung Quốc) nên tìm mẫu đàn ông như thế nào, tinh thần cốt lõi có thể đúc kết lại bằng một câu như vậy. Đây chính là triết lý trong các mối quan hệ hai giới kiểu Trung Quốc.
Qua công tác tham vấn và trong đời sống thực tế, tôi cũng nhận thấy thứ triết lý quan hệ hai giới này quả thực xuyên suốt trong vô vàn mối tình và gia đình kiểu Trung Quốc.
Nhưng nếu bạn mang khao khát này, chí ít bạn nên biết rằng: đây chính là khao khát nguyên thủy của một đứa trẻ sơ sinh.
Trẻ sơ sinh ở giai đoạn sớm đều có sự tự luyến toàn năng — tức là cảm thấy bản thân không gì không làm được, vừa dấy lên một ý niệm là thế giới lập tức phải vận hành theo ý muốn của mình.
Đương nhiên cách miêu tả này vẫn chưa hoàn toàn chuẩn xác, bởi vì trẻ sơ sinh và thế giới chưa hề phân hóa; đứa trẻ cảm thấy mình và thế giới là một thể hòa hợp nguyên vẹn, cái gọi là thế giới chính là một phần của bản thân nó, thế nên thế giới vận hành theo ý muốn của nó là điều hiển nhiên.
Điều này cũng đồng nghĩa với việc: nếu một người theo đuổi sự tự luyến toàn năng trong một mối quan hệ, thì trong mối quan hệ đó chỉ có anh ta (hoặc cô ta) tồn tại với tư cách là một cự anh, còn đối phương hoàn toàn không tồn tại. Cụ thể là họ chỉ bận tâm đến ý chí, nhu cầu, cảm xúc và suy nghĩ của mình, còn ý chí, nhu cầu, cảm xúc và suy nghĩ của đối phương thì như không hề có. Tình trạng này một phần là vấn đề năng lực — nếu là trẻ sơ sinh thực sự thì hoàn toàn là do năng lực. Nhưng đối với cự anh, nhiều khi đây lại là vấn đề của sự lựa chọn: bản thân quá muốn được chăm sóc, quá muốn mình là người quyết định tất cả, nên đã phớt lờ tiếng nói của đối phương.
Ví dụ, một phụ nữ nọ, khi người mẹ gặp chút chuyện bất trắc cần cô chăm sóc một chút, cô liền tỏ ra vô cùng thiếu kiên nhẫn. Khi nhận thức rõ cảm xúc này, cô mới phát hiện ra rằng cô mong muốn mối quan hệ với mẹ chỉ có thể là bản thân mình được chăm sóc, và hễ khi nào mẹ không thể chăm sóc cô, cô liền cảm thấy vô cùng thất vọng.
Tự luyến toàn năng có thể chia thành tự luyến ý chí và tự luyến hoàn hảo.
Tự luyến ý chí tức là: ý muốn của tôi bắt buộc phải được thực thi, không được phép bị cản trở, đặc biệt là bạn — với tư cách bạn đời hoặc người thân — tuyệt đối không được cản trở.
Tự luyến hoàn hảo tức là: cảm thấy một cách rõ ràng hoặc mơ hồ rằng bản thân mình là hoàn hảo. Tự luyến hoàn hảo rõ ràng thường là sự tự luyến đối với hình ảnh cá nhân; còn tự luyến hoàn hảo mơ hồ thường là sự tự luyến về mặt đạo đức và năng lực. Tự luyến hoàn hảo thường đồng nghĩa với tư duy: bởi vì tôi là hoàn hảo, nên mọi vấn đề trong mối quan hệ đều là do đối phương.
Tự luyến ý chí có sức sát thương vô cùng trực tiếp đối với các mối quan hệ, bởi vì đối phương bắt buộc phải phục tùng ý chí của tôi và giúp tôi hiện thực hóa mong muốn; nếu không thì sẽ nổi cơn thịnh nộ. Do đó, tự luyến ý chí sẽ dẫn đến sự kiểm soát mạnh mẽ và cảm xúc bạo liệt dữ dội.
Trước cảm xúc bạo liệt sinh ra khi sự tự luyến toàn năng bị tổn hại, có người trực tiếp biến nó thành hành động, tạo thành tính tấn công mạnh mẽ trong thực tế. Có người lại biết rằng điều này sẽ gây tổn hại khổng lồ cho mối quan hệ, hoặc bản thân họ cũng khiếp sợ trước mức độ dữ dội của cảm xúc ấy — nó thường đạt đến mức độ chỉ hận không thể khiến đối phương đi chết đi — nên đã kìm nén nó, để rồi quay ngược lại thành sự tự tấn công dữ dội nhắm vào chính bản thân mình.
Bởi vì logic của sự tự luyến toàn năng là: hoặc bạn giống hệt như những gì tôi tưởng tượng, lúc này bạn và tôi là một thể thống nhất, bạn là người của tôi, bạn là tốt; hoặc bạn làm trái ý muốn của tôi, thì lập tức phân liệt thành hai thế giới riêng biệt với tôi, biến thành “phi tôi” (không phải tôi), lúc này bạn chính là kẻ thù của tôi, bạn đang cự tuyệt tôi và đang tấn công tôi.
Dưới sự thúc đẩy của tâm lý này, phản ứng đầu tiên của một người là không ý thức được đối phương là một con người độc lập khác. Nếu nhận thức được mình là cự anh và muốn thay đổi, bạn có thể không ngừng tự nhắc nhở bản thân: Đối phương cũng là một con người.
Đối với trẻ sơ sinh giai đoạn đầu hoặc những cự anh, thế giới không được chia thành “tôi” và “bạn”, mà là “tôi” và “phi tôi”. “Phi tôi” đồng nghĩa với thù địch và tăm tối. Câu cổ ngữ Trung Quốc “Không phải chủng tộc của ta, ắt mang dã tâm khác” (Phi ngã tộc loại, kỳ tâm tất dị) đã thể hiện một cách điển hình tâm lý cự anh ở tầng mức dân tộc này. Cũng dưới sự thúc đẩy của tâm lý đó, chúng ta từng gọi các dân tộc ngoài tộc Hán là “man”, “di” hay “quỷ tử” (quỷ sứ), tức coi họ là “phi nhân” (không phải con người).
Mấu chốt cho sự trưởng thành của một đứa trẻ là dùng trái tim để cảm nhận được rằng: thế giới không lấy ý muốn của bản thân làm trục quay để phân chia thành “tôi” và “phi tôi”; thay vào đó, khắp thế giới đều là những sự tồn tại giống như mình, các sự tồn tại khác đều là “bạn”. Nhưng để đạt được điều này, quả thực cần có ai đó đón lấy ý muốn của đứa trẻ, thấu hiểu tâm tư của nó. Nhờ có sự thấu hiểu và đón nhận sống động ấy, giữa người đó và đứa trẻ mới bắc nên một cây cầu; đứa trẻ cảm nhận được rằng phía bên kia cầu không phải là kẻ thù, mà là một con người thiện ý. Lúc này, thế giới không còn chia thành “tôi” và “phi tôi” nữa, mà chuyển thành “tôi” và “bạn”.
Trái tim của trẻ sơ sinh rộng mở và trực tiếp, việc thiết lập kết nối với trẻ dễ dàng hơn rất nhiều. Trái tim của cự anh thì lại đầy phòng vệ và phức tạp; họ sẽ đòi hỏi vô độ, điều này tạo nên tính bóc lột mãnh liệt trong mối quan hệ. Theo lý thuyết phân tâm học kinh điển, những mối quan hệ được xây dựng ở giai đoạn môi miệng (tức trước 1 tuổi) đều mang tính bóc lột. Nhưng đồng thời, vì những nỗi thất vọng thuở ấu thơ, họ lại tự cảnh báo mình không được tin đó là sự thật. Kết quả là, trái tim họ tựa như một chiếc hố không đáy, bất kể vơ vét chiếm đoạt ra sao cũng đều không thấy thỏa mãn.
Vì vậy, đối với cự anh, sự nhận thức (tự giác tri) trở nên vô cùng quan trọng.
Hơn nữa, dựa theo kinh nghiệm tham vấn của tôi, trừ những trường hợp cực kỳ nghiêm trọng như bệnh nhân tâm thần phân liệt, tuyệt đại đa số cự anh thực chất đều có một mặt của người trưởng thành: họ có lý trí và năng lực tư duy. Mặc dù mang trong mình khao khát mãnh liệt muốn làm cự anh, nhưng họ vẫn có thể nhận thức một cách duy lý, điều này giúp cho việc thức tỉnh và thay đổi trở nên khả thi, chứ không nhất thiết phải được đáp ứng trọn vẹn như một đứa trẻ sơ sinh thì mới được.
Sự đòi hỏi của cự anh còn mang lại hai tác dụng phụ:
Thứ nhất là do chủ nghĩa hoàn hảo gây ra. Bởi tính cầu toàn, đối phương bắt buộc phải đáp ứng gần như 100% tâm ý của họ thì họ mới thấy hài lòng. Điều này rất dễ dẫn đến một vòng luẩn quẩn độc hại: bất luận đối phương hy sinh bao nhiêu, họ đều cảm thấy chưa đủ, lại còn soi mói xét nét — “Anh/Cô làm tệ quá!”. Sự soi mói của họ đồng nghĩa với việc phủ nhận nỗ lực của đối phương, từ đó khiến đối phương bùng lên cơn phẫn nộ tột cùng. Thế nhưng cự anh vẫn khao khát đòi hỏi; đối phương dưới áp lực và quán tính đành tiếp tục cho đi, nhưng càng ngày càng miễn cưỡng. Bất kỳ sự miễn cưỡng nào cũng sẽ khiến cự anh nổi giận lôi đình, và từ đó gạt phăng mọi công sức của đối phương về con số không.
Tác dụng phụ thứ hai là: họ luôn cố ép bẻ cong ý chí của đối phương; đối phương tức giận, thực chất trong thâm tâm họ biết rõ. Cho nên sau mỗi lần cưỡng cầu được thỏa mãn, họ lại thấy bất an. Nỗi bất an này một phần nhỏ là cảm giác tội lỗi, phần lớn là sự sợ hãi — tức là họ xem sự giận dữ của đối phương như một mối đe dọa muốn làm hại mình. Thêm vào đó, vì cự anh không có ý thức ranh giới, hay nói đúng hơn là không có một “lớp da tâm lý” hoàn chỉnh, nên cơn giận của đối phương — đặc biệt là của những người thân quan trọng — rất dễ chuyển hóa thành hành vi tự làm tổn thương chính mình của cự anh.
Lấy một ví dụ: Một cô gái muốn người yêu làm cho mình một việc, ban đầu người yêu không chịu, cô van nài trăm phương ngàn kế, cuối cùng cũng bẻ gãy được ý chí của đối phương. Vào khoảnh khắc đối phương gật đầu đồng ý, cô đột nhiên thấy bất an rồi lập tức ngã nhào. Cú ngã này biểu thị rằng cô thực chất biết rõ sự phật ý của người yêu; nỗi bất mãn đó được cô cảm nhận như sự thù địch, và cú ngã chẳng khác nào việc cô bị đối phương đánh gục.
Cho nên, khao khát được chăm sóc và yêu chiều theo kiểu cự anh không chỉ làm tổn thương mối quan hệ, mà còn làm tổn thương chính bản thân mình.
Nếu nhận ra mình là một cự anh, đừng tự trách cứ bản thân; hãy từ từ nhận diện chính mình và từng bước trưởng thành.
Hơn nữa, cự anh cũng có nét đáng yêu giống như trẻ sơ sinh: trong lúc đòi hỏi, trái tim của họ ở một mức độ nào đó vẫn đang mở ra. Mở ra đồng nghĩa với khả năng có thể kết nối. Ngược lại, nửa kia của cự anh thường là những người kìm nén khao khát của bản thân một cách nặng nề; trái tim của họ đóng kín hơn, ở mức nghiêm trọng thì gần như chẳng thể nào kết nối được.
Về điều này, một thân chủ của tôi từng chia sẻ rằng cô không có bất kỳ tình cảm nào với người mẹ "siêu tốt bụng" của mình, bởi vì trái tim của người mẹ đóng chặt 360 độ; trong khi đối với người cha bạo ngược, cô lại có rất nhiều cảm xúc, bởi vì trái tim người cha ở một mức độ lớn vẫn mở ra, dẫu cô biết rõ rằng sự cởi mở đó chỉ nhằm mục đích đòi hỏi mà thôi.
Rất nhiều gia đình Mỹ được Tôn Long Cơ liệt kê trong cuốn sách Văn hóa sát mẫu của nước Mỹ có cấu trúc rất giống với đa số gia đình Trung Quốc: một người mẹ cảm tính, mang tính bóc lột; một người cha kiểu người tốt nhưng xem như không tồn tại; và những đứa con mang đủ loại vấn đề. Ban đầu, sự thù địch của con cái đều nhắm vào người mẹ và cảm thấy người cha có đủ mọi điểm tốt; nhưng sau khi người mẹ qua đời, họ mới phát hiện giữa mình và người cha hoàn toàn không có chút tình cảm nào, lúc ấy mới sực hiểu ra rằng người mẹ đầy rẫy vấn đề kia mới chính là sợi dây liên kết của cả gia đình.
Do đó, nếu nhận ra mình là một cự anh, đừng tự tấn công chính mình. Còn nếu nửa kia của bạn là một cự anh, bạn có thể tự suy ngẫm ít nhất một điều: Tại sao bạn lại chọn một cự anh? Rất có thể trong sâu thẳm lòng bạn cũng đang ẩn chứa một cự anh.
Nếu bạn đời hoặc người thân quan trọng là một cự anh, điều đó thực sự là một thách thức lớn. Vậy thì nên làm thế nào?
⚬ Thỏa mãn ở mức độ thích hợp — những lúc bạn muốn đáp ứng, hãy cố gắng hết sức để trao đi sự phản hồi chất lượng cao: sự thấu hiểu và tiếp nhận sâu sắc, đi cùng với sự nhiệt thành.
⚬ Đồng thời, giữ vững ranh giới của chính mình, đừng biến bản thân thành nô bộc của đối phương. Cự anh thực sự sẽ khao khát bạn đời trở thành người nô bộc trung thành của mình; tôi đã nghe rất nhiều người nói như vậy, chẳng hạn một cách nói kinh điển là: “Tôi có một anh bạn trai/người chồng chuẩn ‘nhị thập tứ hiếu’”.
Và sau cùng, dù trong bất kỳ hoàn cảnh nào, hãy học cách sống chân thật, lấy cảm xúc của chính mình làm trung tâm để phát triển “cái tôi chân thực” (true self); đừng quá chịu đựng tủi hờn trong mối quan hệ này, bằng không cuối cùng bạn sẽ nhận ra đó là điều vô giá trị nhất.
Đàn Ông Trung Quốc Là Mảnh Ghép Hoàn Hảo Của Phụ Nữ Trung Quốc
Tôi coi chàng là sinh mệnh, vì chàng mà sống, và tôi cũng đòi hỏi chàng phải đối đãi với tôi như cách tôi đối đãi với chàng.
— Sophia Andreyevna (phu nhân của Lev Tolstoy)
Hơn mười năm trước, hồi tôi còn làm việc ở Quảng Châu Nhật Báo, một buổi trưa nọ có hứng đi mua quần áo, thế là tôi cùng một nam đồng nghiệp cũng đang muốn mua đồ rủ nhau ra phố Thượng Hạ Cửu gần đó dạo phố.
Lúc đi chọn đồ, gu thẩm mỹ của anh ta khiến tôi thực sự bị sốc. Mọi bộ đồ anh ta ưng mắt, tôi đều thấy xấu tệ hại; còn những bộ tôi tự thấy tương đối đẹp mắt một chút, anh ta lại chẳng thèm đoái hoài ướm thử, cứ như thể trên mấy bộ quần áo đó cắm đầy gai nhọn vậy.
Rốt cuộc, tôi không khỏi nảy sinh một nỗi cảm thán: Thảo nào ngoài thị trường lại có nhiều loại quần áo xấu xí muôn hình vạn trạng đến thế, quả thực là có đất sống.
Đem so ra thì tôi ổn hơn nhiều. Hồi đó, với chiều cao 1m77 và nặng chừng 67-68 kg, tôi khá chuộng một thương hiệu thời trang: phom dáng ôm vừa vặn, chất liệu vải đũi mộc mạc, mặc vào rất dễ chịu, tôi từng mua khá nhiều chiếc. Không ít đồng nghiệp nữ từng khen: "Anh ăn mặc khá có gu đấy chứ."
Về sau, tôi tăng lên khoảng 75 kg, thương hiệu đó không còn mặc vừa nữa; vả lại phong cách của nó cũng dần trở nên cường điệu, ngày càng "ẻo lả", nên dẫu tôi không tăng cân thì cũng chẳng chọn nó nữa.
Miêu tả như thế nghe cứ như tôi thuộc tuýp đàn ông có gu ăn mặc vậy. Nhưng dưới mắt nhìn của cô bạn gái cũ xinh đẹp và cực kỳ sành sỏi ăn diện của tôi, tôi cũng chẳng khác gì anh bạn đồng nghiệp kia: đều là kiểu đàn ông chuyên đời đi rước những bộ quần áo xấu xí về nhà.
Chẳng hạn, tôi từng mua không ít đồ của hiệu CAMEL (thương hiệu Lạc Đà), nhưng cô ấy chê rằng phom người như tôi mặc vào trông chẳng ra làm sao cả. Cô ấy khuyên tôi nên theo đuổi phong cách thanh lịch kiểu Anh, mua cho tôi khá nhiều đồ kiểu đó; nhưng khi khoác lên người, tôi cũng y hệt như cậu đồng nghiệp nọ, cảm thấy bứt rứt ngột ngạt khắp cả người, đâm ra vô cùng bài xích.
Cô ấy còn phát hiện ra rằng, quần áo tôi mua ngoài hai màu đen trắng thì đa phần đều là các tông màu đất xỉn tối. Cô ấy tha thiết khuyên tôi nên mua đồ có gam màu rực rỡ, sắc nét hơn, nhưng mãi đến khi chia tay cô ấy, tôi mới bắt đầu chủ động sắm sửa những trang phục có tông màu tươi sáng như vậy, và quả thực cảm thấy tốt hơn hẳn.
Ở bên cô ấy vài năm, suốt quãng thời gian đó, nếu hai đứa cùng rảo bước trên phố, sự tương phản về hình ảnh bề ngoài giữa chúng tôi hoàn toàn ứng nghiệm với một luận điệu rộ lên thời gian gần đây: "Đàn ông Trung Quốc không xứng với phụ nữ Trung Quốc."
Tôi phản đối luận điệu này. Sự thật hoàn toàn ngược lại: Đàn ông Trung Quốc thực chất chính là mảnh ghép trời sinh hoàn hảo của phụ nữ Trung Quốc.
Luận điệu "Đàn ông Trung Quốc không xứng với phụ nữ Trung Quốc" từng gây xôn xao dư luận một thời, chủ yếu xoay quanh mấy phương diện:
1. Không xứng về cách ăn mặc: Phụ nữ Trung Quốc biết cách trau chuốt bản thân thật tinh tế, xinh đẹp; còn đàn ông Trung Quốc thì quá đỗi xuề xòa, lại còn nhếch nhác, khó coi.
2. Không xứng về khí chất: Phụ nữ Trung Quốc rất ra dáng mỹ nhân, chí ít cũng mang đậm vẻ nữ tính; còn đàn ông Trung Quốc lại thiếu hụt trầm trọng nét nam tính oai phong, dũng mãnh, đa phần đều giống như những gã đàn ông trong tranh của Nhạc Mẫn Quân: ai nấy đều ủ rũ, mềm oặt, dường như chẳng có lấy chút dương khí nam tính nào để chống đỡ cơ thể mình.
3. Không xứng về vệ sinh cá nhân: Phụ nữ chăm chút, tút tát bản thân từng ly từng tí, trong khi đàn ông Trung Quốc lại giữ vệ sinh kém cỏi, trên người thường tỏa ra mùi khó chịu, đầu tóc chẳng buồn chải chuốt, răng cỏ ố bẩn cứ như thể cả tuần không đánh răng...
4. Thiếu phong độ quý ông: Điều này thể hiện chủ yếu ở việc không đủ tôn trọng phái nữ, không được như các quý ông Âu Mỹ luôn giữ đúng các chuẩn mực lễ nghi tôn trọng phụ nữ.
Lại còn các khía cạnh khác nữa, chẳng hạn như lười tập thể dục thể thao, v.v.
Thoạt nhìn, quả đúng là như vậy thật; nhưng nếu tìm hiểu sâu hơn, ta sẽ thấy đàn ông Trung Quốc và phụ nữ Trung Quốc ăn khớp với nhau từng li từng tí, đúng chuẩn một cặp trời sinh đến nhường nào.
Trước hết hãy bàn về sự "xứng đôi vừa lứa" trên phương diện ngoại hình.
Điều hết sức thú vị là, với tư cách một nhà tham vấn tâm lý, tôi từng nghe rất nhiều phụ nữ xinh đẹp nói rằng: "Tôi chẳng quan tâm đến ngoại hình của đàn ông." Đặc biệt hơn, không ít mỹ nhân dường như có xu hướng "chăm sóc" cho bạn trai hoặc chồng mình ngày càng xấu xí đi. Khi nhắc đến cái sự "xấu" của bạn đời, họ nói một cách đầy hào hứng, say sưa.
Tương ứng như vậy, tôi từng gặp một số người đàn ông Trung Quốc rất điển trai, người yêu họ tìm kiếm đa phần lại có nhan sắc thua kém họ rất xa.
Dường như ở Trung Quốc, cảnh tượng "hoa nhài cắm bãi phân trâu" diễn ra rất đỗi phổ biến; còn sự kết hợp giữa trai tài gái sắc ngoài đời thực lại hiếm hoi hơn trong phim ảnh rất nhiều.
Điều này bắt nguồn từ một cơ chế tâm lý hết sức đơn giản: sự tự luyến về nhan sắc. Tức là, nếu một người có ngoại hình xuất chúng, và vẻ đẹp ấy trở thành phần tối quan trọng, thậm chí là cốt lõi trong cảm giác về giá trị bản thân của họ, thì họ sẽ không muốn người bên cạnh mình cũng có nhan sắc lộng lẫy, mà phải là người có dung mạo thua kém mình nhiều; có như thế, vẻ đẹp của họ mới được tôn lên một cách nổi bật nhất.
Thậm chí, nếu một người quá tự luyến về nhan sắc của mình, họ sẽ cực kỳ căm ghét những ai cũng có tính tự luyến ngoại hình tương tự. Hễ chạm mặt kiểu người này, họ chỉ muốn nhào tới đấm cho đối phương một trận.
Trong tình yêu, động lực theo đuổi sự viên mãn của bản ngã vượt xa cái gọi là "môn đăng hộ đối", thậm chí vượt trên cả hạnh phúc ngập tràn. Cho nên, những nam thanh nữ tú mang sự tự luyến về nhan sắc lại không hề cố chấp với vẻ ngoài của người yêu; thứ họ muốn là phần thiếu hụt trên chính cơ thể và tâm hồn mình.
Phụ nữ Trung Quốc thiếu thốn điều gì nhất? Câu trả lời là: Cảm giác an toàn!
Một người phụ nữ Trung Quốc điển hình, dẫu vẻ ngoài trông ra sao, cũng khó lòng tránh khỏi sự thiếu hụt cảm giác an toàn từ tận bên trong. Mọi biểu hiện kinh điển của đàn ông Trung Quốc thực chất đều được thiết kế xoay quanh cảm giác an toàn của người phụ nữ.
Đây chính là điểm mấu chốt khiến tôi khẳng định đàn ông Trung Quốc và phụ nữ Trung Quốc là mảnh ghép hoàn hảo của nhau.
Rất nhiều phụ nữ từng giãi bày với tôi rằng, sở dĩ họ chọn một người đàn ông làm bạn trai hay làm chồng — đặc biệt là đối tượng để kết hôn — là vì người đàn ông ấy mang lại cho họ cảm giác an toàn.
Hơn nữa, không ít người từng dùng đúng một câu này để diễn tả cảm xúc của mình: Cuộc đời của họ, liếc mắt một cái là nhìn thấu tận cùng.
Nếu quả thực là vậy thì có thể nói: Đó hẳn là một người đàn ông tẻ nhạt biết chừng nào! Thế nhưng cớ sao điều này lại trở thành lý do then chốt để những người phụ nữ ấy chọn họ làm bạn đời?
Bởi lẽ, những kẻ thiếu thốn cảm giác an toàn sẽ luôn khát khao kiểm soát mọi thứ xung quanh, đặc biệt là cuộc sống của chính mình. Nếu chọn một người đàn ông sống rực rỡ, phiêu lưu, bạn sẽ chẳng thể nào lường trước được điều gì sẽ xảy ra tiếp theo; và sự khôn lường ấy — dẫu nhìn có tốt đẹp, đặc sắc đến mấy — cũng đều là một đòn thách thức trực diện giáng vào cảm giác kiểm soát của bạn.
Chẳng hạn, một phụ nữ có điều kiện vô cùng xuất sắc đã chọn một người đàn ông giản đơn, dễ bề kiểm soát để lấy làm chồng. Sau khi ly hôn, cô yêu một người đàn ông sống rất đặc sắc, lôi cuốn. Mối tình ấy vô cùng sâu đậm, tràn ngập ân tình cùng những kích thích phong phú. Nhưng rốt cuộc, cô vẫn kiên quyết dứt áo ra đi. Cô bảo: "Em luôn có cảm giác mình hoàn toàn không thể biết trước ngày mai sẽ xảy ra chuyện gì." Đó có thể không phải là tất cả nguyên nhân, nhưng chắc chắn là một lý do mang tính then chốt.
Cảm giác an toàn chính là nền tảng cho tinh thần khám phá. Quan sát trẻ nhỏ, bạn sẽ nhận ra chúng rất dễ xuất hiện một khuôn mẫu hành vi thế này: Khi mẹ ở bên cạnh, đứa trẻ sẽ tràn trề hứng khởi tung tăng khám phá khắp chốn; nhưng hễ mẹ vừa khuất bóng, nó sẽ lập tức òa khóc nức nở rồi cuống cuồng đi tìm mẹ.
Do truyền thống trọng nam khinh nữ thâm căn cố đế từ bao đời nay, phụ nữ Trung Quốc bị thiếu hụt cảm giác an toàn một cách trầm trọng. Thế nên việc đảm bảo luôn có một "bà mẹ" túc trực bên mình trong thời gian dài thường trở thành thỉnh cầu số một trong cuộc đời họ.
Tôi có một bài viết nhan đề Khuôn mẫu tình cảm của người Trung Quốc chính là tìm mẹ được lan truyền rất rộng rãi trên mạng; một người phụ nữ Trung Quốc điển hình khó lòng thoát khỏi khuôn mẫu này.
Từ đó suy ra, đối với một người đàn ông Trung Quốc điển hình, tính nam dũng mãnh không phải là điều kiện tiên quyết, mà tính mẫu tử trong anh ta mới quan trọng hơn; việc có thể mang lại tình yêu lãng mạn hay không chẳng đáng kể, năng lực mang lại cảm giác an toàn mới được đặt lên hàng đầu.
Cho nên, chúng ta mới hay dùng những mỹ từ này để hình dung về ưu điểm của một người đàn ông Trung Quốc: Điềm đạm, thật thà, đáng tin cậy...
Bản thân tôi chính là một người đàn ông như thế, gương mặt cứ như thể được khắc sẵn bốn chữ "điềm đạm đáng tin". Mỗi lần bước vào một cuộc tình, hễ gặp gỡ người thân, bạn bè của bạn gái, họ đều tấm tắc khen ngợi tôi hết lời, ai nấy đều tấm tắc rằng cô gái này đã tìm được một chỗ dựa vững chắc để phó thác cả cuộc đời.
Thế nhưng tôi phải thành thật thú nhận rằng, đây lại là nét mà tôi vô cùng căm ghét ở chính mình. Tôi khao khát được sống một cuộc đời rực rỡ, để rồi cuối cùng cái "mùi vị" nhạt nhòa ấy trên khuôn mặt tôi có thể tan biến đi.
Khi đã thấu suốt rằng thứ phụ nữ Trung Quốc cần nhất là cảm giác an toàn, bạn sẽ vỡ lẽ ra tại sao mọi biểu hiện của đàn ông Trung Quốc đa phần đều được nhào nặn xoay quanh điểm cốt lõi này:
⚬ Trước hết, tính nết của anh ta phải đáng tin cậy; nét tính cách hiền hòa mang đậm tính mẫu tử còn quan trọng hơn cả sự xốc vác, cầu tiến của bản lĩnh đàn ông.
⚬ Kế đó, năng lực gây dựng địa vị kinh tế - xã hội cũng như sự sẵn lòng chi tiền vì phụ nữ có giá trị hơn nhiều so với việc trau chuốt bản thân sao cho gợi cảm, quyến rũ.
Nữ triết gia người Pháp Simone de Beauvoir từng viết kiệt tác Giới tính thứ hai. Đúng như tên gọi, cuốn sách chỉ ra rằng: đàn ông là giới tính thứ nhất, còn phụ nữ là giới tính thứ hai; đàn ông dù không có phụ nữ thì vẫn có thể tự suy ngẫm và định nghĩa chính mình, trong khi sự tồn tại của phụ nữ lại hoàn toàn phụ thuộc vào việc đàn ông định nghĩa họ ra sao.
Diễn giải bằng tiếng Anh, đàn ông là The One (chủ thể), còn phụ nữ là The Other (tha nhân / kẻ khác).
"Tha nhân chính là địa ngục." — Jean-Paul Sartre, người tình trọn đời của Beauvoir, từng nói như vậy. Ý của ông là: Nếu một người không làm chủ thể cho chính mình, mà lại biến thành một "tha nhân" chỉ biết xoay quanh người khác, thì kẻ đó đích thị đang chôn vùi trong địa ngục.
Xã hội Âu Mỹ có lẽ mang cục diện như thế này: Đàn ông là The One, phụ nữ là The Other. Nhưng trong xã hội Trung Quốc, theo quan sát của tôi, cả đàn ông lẫn phụ nữ đều là The Other. Chẳng ai được làm chính bản thân mình; tất cả đều bị thiết kế để trở thành những "tha nhân" chỉ biết quay cuồng quanh kẻ khác.
Trên không gian mạng Trung Quốc lan truyền đủ thứ chuyện tiếu lâm bàn về cách phụ nữ chọn chồng; những chuyện tiếu lâm ấy có thể đúc kết trọn vẹn trong trí tưởng tượng của một nữ thân chủ của tôi. Bản thân cô gái này vô cùng tài năng, xuất chúng, nhưng lại chọn một gã đàn ông Trung Quốc kinh điển cực kỳ tẻ nhạt, lầm lì để lấy làm chồng. Bạn thấy đấy, lại thêm một cặp trời sinh hoàn hảo!
Thế nhưng mộng tưởng của cô ấy là tìm được một người đàn ông tựa hoàng tử: có địa vị, lắm tiền, đậm chất đàn ông, lại sẵn lòng làm mọi thứ vì cô — từ nấu cơm cho đến quét nhà. Ngặt nỗi, nếu bắt cô phải lựa chọn từng tiêu chí một, cô lại nhận ra rằng: chuyện nấu cơm quét nhà còn quan trọng hơn gấp bội so với việc anh ta có "đậm chất đàn ông" hay không. Rốt cuộc, người cô tìm kiếm chẳng phải một The One đầy nam tính, mà chỉ là một The Other rỗng tuếch, hoàn toàn thiếu vắng cái tôi của chính mình.
Khi một người phụ nữ đinh ninh rằng hạnh phúc của đời mình hoàn toàn phụ thuộc vào việc tìm được một người đàn ông ra sao, điều đó đồng nghĩa với việc chính cô ta đã là một "tha nhân", và cô ta ắt hẳn đang ngụp lặn trong địa ngục. Đồng thời, cô ta cũng không tránh khỏi việc muốn biến người bạn đời thành một "tha nhân" chỉ biết quay cuồng quanh mình, kéo tuột luôn cả đối phương xuống chốn địa ngục trần gian.
Đàn ông Trung Quốc là mảnh ghép hoàn hảo cho phụ nữ Trung Quốc — đây thực chất là một sự thật vô cùng bi ai. Nguyện chúc cho mỗi chúng ta, bất kể là nam hay nữ, đều có thể sống trọn vẹn là chính mình.
Mộng Hoàng Đế, Mộng Đặc Quyền Đều Là Giấc Mộng Cự Anh
Mối quan hệ giữa người với người kiểu Trung Quốc có những nét độc đáo riêng.
Chẳng hạn, rất nhiều câu miêu tả về các mối quan hệ nhân sinh của phương Tây đều chạm đến một điểm: tôn trọng ranh giới. Thế nhưng ở người dân nước mình, hễ tôn trọng ranh giới là giữa hai người dường như lập tức cắt đứt quan hệ.
Khi suy xét về các mối quan hệ kiểu Trung Quốc, điểm cốt lõi nhất là phải hiểu rằng ai nấy đều là những cự anh (đứa trẻ sơ sinh khổng lồ), mà điểm mấu chốt nhất của cự anh chính là cần được chăm sóc.
Trong bài viết Chăm sóc như em bé, sùng bái như nữ thần trước đó, tôi từng bàn về triết lý trong quan hệ hai giới kiểu Trung Quốc; thực chất đây cũng chính là bí quyết trong quan hệ giữa người với người kiểu Trung Quốc: chăm sóc như đứa trẻ sơ sinh, sùng bái như thần thánh.
Câu chuyện giữa cựu Bộ trưởng Bộ Đường sắt Lưu Chí Quân và người đàn bà được mệnh danh là “Nhất tỷ đường sắt cao tốc” Đinh Thư Miêu mang đầy dư vị đáng suy ngẫm. Đinh Thư Miêu nhờ nhúng tay vào các dự án đường sắt cao tốc lên tới 180 tỷ nhân dân tệ mà thu lợi khổng lồ hàng tỷ tệ. Thế nhưng, vốn là một bà thím không biết chữ, Đinh Thư Miêu đã "hạ gục" Lưu Chí Quân bằng cách nào? Đa phần các bài viết đều cho rằng Lưu Chí Quân mê nhất mỹ nhân, nên Đinh Thư Miêu đánh trúng sở thích, liên tục dâng người đẹp cho họ Lưu.
Thế nhưng, dâng mỹ nhân cho Lưu Chí Quân thì chiêu này ai mà chẳng biết làm; cớ sao Đinh Thư Miêu lại chiếm được thế tiên cơ, để rồi cuối cùng chẳng khác nào thâu tóm trọn gói các dự án đường sắt cao tốc?
Tôi đã đọc rất nhiều bài báo và đúc kết lại rằng: tuyệt chiêu của Đinh Thư Miêu chính là chăm sóc đối phương như một đứa trẻ sơ sinh, sùng bái như thiên thần, đồng thời lại tỏ ra chẳng chút tâm cơ toan tính nào. Nói cách khác, bà ta vừa là một người mẹ chăm bẵm cự anh chu đáo đến từng chân tơ kẽ tóc, vừa là kẻ mang “đầu óc bã đậu” như lời Lưu Chí Quân thường gọi; điều đó mang lại cho Lưu Chí Quân một cảm giác rằng: bộ não vĩ đại của ông ta có thể hoàn toàn yên tâm thao túng, kiểm soát Đinh Thư Miêu.
Phong cách hành sự của Đinh Thư Miêu ngay từ thuở ban đầu đã có thể thấy được phần nào. Hũ vàng đầu tiên của bà ta đến từ ngành vận tải đường sắt. Những năm đầu, để xin được các toa hàng tàu hỏa ở quê nhà Sơn Tây, Đinh Thư Miêu vốn không có quan hệ quen biết đã tìm đến ngành đường sắt để móc nối, nhưng người ta thấy bà ta xuất thân nông thôn nên chẳng thèm đoái hoài. Đinh Thư Miêu không chịu từ bỏ, dứt khoát ngồi xổm canh trước cửa nhà vị lãnh đạo; hễ khi nào cửa không khóa, bà ta liền lẻn vào mang tất chân, ga trải giường, quần lót, áo sơ mi, áo khoác ngoài của lãnh đạo đem đi giặt giũ, cuối cùng nhờ thế mà làm vị lãnh đạo cảm động, cấp cho các toa hàng.
Cách thức này cũng chỉ áp dụng hiệu quả với những cự anh; nếu đối phương là người có ý thức ranh giới rõ ràng, lối hành xử theo kiểu bảo mẫu này của bà ta chắc chắn sẽ gây phản cảm.
Cho nên mới nói, sùng bái cộng với chăm sóc chính là tuyệt chiêu để khuất phục cự anh. Sự chăm sóc bù đắp cho những thiếu hụt thuở sơ khai của sinh mệnh cự anh; còn sự sùng bái thì thỏa mãn sự tự luyến toàn năng của họ — trẻ sơ sinh giai đoạn sớm đều mang trong mình thứ tự luyến vô biên vô bờ, ngỡ mình là kẻ vạn năng.
Đây cũng chính là tuyệt chiêu giúp Ngụy Trung Hiền từng một thời khuynh đảo triều chính. Thứ ông ta dựa vào tuyệt đối chẳng phải mưu sâu kế độc siêu phàm gì, mà chính là chiêu thức này của Đinh Thư Miêu: đầu óc bã đậu + chăm sóc chu đáo khôn cùng + sùng bái như thiên thần.
Thực ra, đa số người dân nước mình chẳng phải đều muốn như vậy hay sao? Đi tìm mẹ để đòi được chăm sóc, nhưng đồng thời lại hạ thấp người mẹ ấy thành kẻ hầu người hạ; hy vọng đối phương sùng bái mình, trong mắt chỉ có một mình mình, còn bản thân thì tha hồ hất hàm sai khiến.
Thậm chí tiếp tục suy rộng ra, người Trung Quốc phần nhiều mang giấc mộng làm hoàng đế, mà cái gọi là giấc mộng hoàng đế, có thể nói, chính là nhằm tạo ra điều kiện để thỏa mãn giấc mộng cự anh của bản thân — nhận được sự chăm sóc tuyệt vời nhất và sự sùng bái ở cấp bậc tối cao nhất.
Nhà sử học Trương Hoành Kiệt trong tác phẩm Năm vận mệnh của hoàng đế Trung Quốc đã thuật lại một cách tỉ mỉ việc các hoàng đế Trung Quốc được chăm sóc chu đáo ra sao:
Từ xưa đến nay, không có sự tồn tại nào to lớn hơn, cao cả hơn và hiển hách hơn hoàng đế Trung Quốc. Giống động vật này thân mình cũng chẳng qua cao hơn thước, nặng trên dưới trăm cân, nhưng sức nặng của nó lại vượt qua tổng số của hàng triệu sinh linh khác cộng lại. Nó khẽ động đậy ngón tay một cái, cả nửa bán cầu liền rung chuyển ngả nghiêng.
Nơi trung tâm đế quốc Trung Hoa, người ta dốc kiệt của cải vật lực, dựng nên một tòa cung điện gồm chín ngàn chín trăm chín mươi chín gian phòng để phục vụ cho sự cư ngụ của nó.
Hàng ngàn trinh nữ kiều diễm nhất được tuyển lựa gắt gao, bị giam cầm nơi hoàng thành đế vương, chỉ để một mình nó mặc sức hưởng thụ.
Hàng vạn người đàn ông khỏe mạnh bị thiến sạch bộ phận sinh dục, biến thành những quái vật nửa nam nửa nữ, cốt để hầu hạ chuyện ăn uống, ngủ nghỉ, đại tiểu tiện cho nó.
Của cải mà nó nuốt chửng tương đương với sản lượng của nửa cái đế quốc. Từ Nhật Bản đến cao nguyên Pamir, từ Đông Nam Á tới Đông Bắc Á, quốc vương của hàng chục nước hằng năm cung kính triều cống những sản vật quý giá nhất của nước mình cho nó. Bên trong đế quốc, hàng trăm công xưởng được thiết lập, hàng chục vạn con người chỉ chuyên tâm phục vụ cho một gia đình nó để sản xuất đồ sứ, bồn cầu và ống nhổ. Cứ thử nghĩ mà xem: chủ nhân của Đại Quan Viên xa hoa tột bực trong Hồng Lâu Mộng chẳng qua cũng chỉ là một tên gia nô của hoàng đế, là giám công được hoàng đế biệt phái tới một xưởng dệt vải hoàng gia; bấy nhiêu thôi cũng đủ để chúng ta mường tượng được mức độ hưởng thụ sinh hoạt thường nhật của hoàng đế rồi.
Từng chi tiết trong thiết kế thể chế hoàng đế Trung Quốc đều quán triệt một lý niệm cốt lõi: đẩy mọi sự hưởng thụ lên mức cùng cực, vắt kiệt mọi trí tưởng tượng để trở nên rườm rà, khoa trương và lãng phí, cho đến khi đạt tới độ không thể thêm bớt, hoàn toàn vô bổ và khiến người ta phải phát ngấy.
Lấy chuyện ăn uống làm ví dụ. Ai cũng biết hoàng đế chỉ có một cái dạ dày, và thông thường cũng chẳng to hơn người thường là bao. Thế nhưng mỗi bữa cơm của một mình hoàng đế phải có tới vài chục đến hàng trăm món, bày la liệt trên sáu chiếc bàn. Thời nhà Thanh vốn được coi là triều đại thanh đạm, tiết kiệm nhất trong lịch sử Trung Quốc, vậy mà quy định trong cung định mức nguyên liệu thực phẩm tiêu hao cho một mình hoàng đế mỗi ngày lên tới sáu trăm cân: thịt đĩa hai mươi hai cân, thịt nấu canh năm cân, thịt lợn mười cân, hai con cừu, năm con gà (trong đó có ba con gà giò trong năm), ba con vịt; rau củ như bắp cải, rau chân vịt, cần tây, hẹ mười chín cân; sáu mươi củ cải các loại; sáu cân hành lá; bốn lạng rượu Ngọc Tuyền, ba cân tương thanh, hai cân giấm; cùng gạo, bột mì, dầu mè, rượu sữa, bơ sữa, mật ong, đường trắng, mè, nhân óc chó, táo đen... với số lượng nhiều ít khác nhau. Ngoài ra, mỗi ngày còn phải cung cấp riêng cho một mình hoàng đế một trăm hai mươi cân sữa tươi, mười lăm cân trà...
Để dệt vải may y phục cho hoàng gia, triều Thanh lập riêng các xưởng dệt quy mô khổng lồ tại ba thành phố lớn. Để cất giữ quần áo của hoàng đế, người ta dựng riêng mấy gian điện vũ làm kho ngự y; để cai quản đống trang phục này, họ lập hẳn một Thượng Y Giám với hàng chục nhân viên túc trực. Vị hoàng đế cuối cùng Phổ Nghi khi hồi tưởng lại cuộc sống đế vương vốn thực chất đã suy tàn trầm trọng của mình từng nói: “Quần áo may ra hàng đống mà chẳng mặc”, “suốt từ đầu năm đến cuối năm đều may quần áo, may những thứ gì tôi cũng chẳng hay, tóm lại lúc nào cũng mặc đồ mới” (Nửa đời đã qua của tôi). Theo lời ông sau này lục tìm hồ sơ, mới phát hiện chỉ vỏn vẹn trong một tháng, Nội Vụ Phủ đã may cho ông bốn mươi chín bộ y phục; số trang phục này đương nhiên tuyệt đại đa số đều vĩnh viễn nằm mốc meo trong kho tàng, chưa từng có cơ hội được khoác lên mình hoàng đế.
Bàn sang chuyện đi lại, một khi hoàng đế muốn tuần thị bờ cõi, cả giang sơn xã tắc đều phải vì thế mà long trời lở đất: Chuyến du ngoạn Giang Nam xa hoa của Tùy Dạng Đế chưa hẳn là thông lệ của các đấng quân vương, vậy thì chúng ta hãy cứ lấy các bậc đế vương triều Thanh vốn nổi tiếng cần kiệm làm ví dụ. Dù thời xưa giao thông cực kỳ lạc hậu, thứ dân bách tính đi lại vô cùng gian nan, nhưng mỗi khi đầu ngón tay của các vị hoàng đế chỉ vào một điểm đến mới trên bản đồ, thì trong khoảng thời gian ngắn nhất, trên bờ cõi đế quốc sẽ lập tức mọc lên một con đường thênh thang mới toanh dài hàng trăm, thậm chí hàng ngàn cây số. Con đường này rộng tới mười mét, nắn thẳng hết mức có thể, được san phẳng và đầm chặt “nhẵn thín như sân đập lúa”. Con đường này chỉ dành riêng cho một mình hoàng đế đi lại, “tuyệt đối không cho phép bất kỳ ai qua lại”. Khi hoàng đế xuất hành, trên đường rưới nước sạch, không vướng một hạt bụi trần.
Trong một chuyến tuần du của Càn Long Đế, quan viên Nội Vụ Phủ ghi chép lại rằng: để cung ứng ẩm thực cho hoàng đế trên đường đi, họ đã chuẩn bị đưa lên xe từ trước một ngàn con cừu tuyển chọn, ba trăm con bò chọn lọc đặc biệt, cùng bảy mươi lăm con bò sữa chuyên dụng, rải dọc đường để hoàng đế ngự dùng. Suốt dọc đường tuần du hàng ngàn dặm, hoàng đế chỉ uống nước múc từ bốn mạch suối: suối Ngọc Tuyền Sơn ở Bắc Kinh, suối Trân Châu ở Tế Nam, suối Kim Sơn ở Trấn Giang, và suối Hổ Bào ở Hàng Châu. Để vận chuyển nước suối cho hoàng đế, người ta phải thành lập hẳn một đoàn xe vận tải đồ sộ. Vào mùa hè oi bức, hàng chục vạn cân băng đá được vận chuyển từ Bắc Kinh đi trước dọc hành trình, để phòng khi hoàng đế khát nước có thể thưởng thức dưa hấu ướp lạnh...
Để tránh cho hoàng đế trên đường về cảm thấy chán ngán vì phong cảnh lặp lại, “đường về còn bắt buộc phải mở thêm một con đường khác”...
Thiết kế của thể chế hoàng đế này, theo cách nhìn của tôi, chẳng qua chỉ là sự phô diễn cảm giác tự luyến toàn năng của trẻ sơ sinh thuở sớm: Ta tức là thế giới, thế giới tức là ta, cả thế giới này sinh ra là để cho ta tùy ý hưởng dụng...
Giấc mộng hoàng đế là biểu hiện tột cùng của giấc mộng cự anh, còn đặc quyền kiểu Trung Quốc lại là biểu hiện ở cấp độ nhẹ hơn của giấc mộng cự anh đó.
Theo tin tức đưa lại, một vị lãnh đạo thành phố Ân Thi, tỉnh Hồ Bắc từng tự phê bình rằng: đi công tác về cơ bản toàn ngồi máy bay, hiếm khi đi tàu hỏa hay xe khách; vào bệnh viện khám bệnh chưa bao giờ phải xếp hàng, nằm viện cũng là phòng VIP có người túc trực chăm sóc riêng; ở nhà bóng đèn hỏng, ống nước tắc là gọi thẳng cho Cục Sự vụ Cơ quan bảo người đến sửa.
Một bí thư huyện ủy ở Hà Bắc thì cảm khái: dẫu từng ngồi máy bay vô số lần, nhưng sau khi bãi bỏ phòng chờ VIP, bản thân còn lóng ngơ ngác ngơ hơn cả nông dân mới lên tỉnh — từ đặt vé, lấy vé, đổi thẻ lên máy bay, v.v., không hỏi thì chẳng biết đường nào mà lần. Ông còn cho hay, ngoài việc không biết làm thủ tục lên máy bay, một số cán bộ đến bệnh viện không biết đăng ký lấy số khám ra sao, đi xe buýt không biết bỏ tiền xu hay quẹt thẻ thế nào, đi tập huấn còn đi nhầm cả phòng học...
Nhìn như vậy mới thấy, đặc quyền của những vị lãnh đạo này thực chất chính là cái tư cách được làm một đứa trẻ sơ sinh để được người mẹ chăm sóc chu đáo đến tận răng.
Tâm lý tương tự cũng rất dễ bắt gặp ở người bình thường.
Thời tôi còn làm ở Quảng Châu Nhật Báo, tôi không biết dùng máy in, máy tính trục trặc là gọi ngay phòng kỹ thuật tới giải quyết, đã vậy còn hùng hồn coi đó là lẽ đương nhiên, cho rằng mình làm phóng viên, biên tập viên thì chỉ cần làm tốt chuyên môn là đủ rồi, mấy chuyện vụn vặt này chẳng việc gì phải bận tâm.
Thế nhưng bạn không bận tâm đến việc vụn vặt thì ai sẽ lo toan thay bạn? Nhìn bề ngoài thì là đủ thứ hạng người khác nhau, nhưng thực chất đó đều là đứa trẻ sơ sinh đang đi tìm mẹ. Chuyện ăn, uống, ngủ, nghỉ, bài tiết của đứa trẻ đều cần có người mẹ chăm bẵm.
Tôi thảo luận về đặc quyền kiểu Trung Quốc trên Weibo, nhận được phản hồi của rất nhiều cư dân mạng; trong đó có một cư dân mạng viết:
“Chồng em ở nhà chỉ cần có chút đồ đạc gì hỏng là phải gọi bố mẹ sang sửa. Quần áo cũng mang tuốt sang nhà bố mẹ giặt. Cũng ngót nghét bốn mươi tuổi đầu rồi mà trông trẻ trung lạ thường, giờ ngẫm lại đúng chuẩn là cự anh rồi.”
Đúng vậy, bất kể là mộng hoàng đế, mộng đặc quyền, hay việc tìm bảo mẫu trong đời sống thường nhật... rốt cuộc cũng chỉ là muôn hình vạn trạng các dạng biến thể của việc đứa trẻ sơ sinh đi tìm mẹ mà thôi.
Mặt Khác Của Giấc Mộng Cự Anh — Trút Bỏ Sự Bất Lực
Trong giấc mộng hoàng đế, hoàng đế không chỉ được chăm bẵm như một cự anh mà còn nhận được sự sùng bái tột cùng. Trong các cuộc tranh giành quyền lực, những đại thần có tài thường không đấu lại đám thái giám; nguyên nhân rất quan trọng là trước mặt đám thái giám thất học lại bị thiến này, hoàng đế có được cảm giác ưu việt tuyệt đối.
Đây là một phần cấu thành trọng yếu của giấc mộng hoàng đế và giấc mộng đặc quyền. Chẳng hạn như Đinh Thư Miêu đối với Lưu Chí Quân: vừa chăm sóc chu đáo khôn cùng, vừa sùng bái Lưu tột độ; đồng thời, Đinh Thư Miêu còn tỏ ra rất ngốc nghếch, luôn bị Lưu Chí Quân mắng là "đầu óc bã đậu".
Đó chính là uy lực của đặc quyền: những cự anh nắm giữ đặc quyền nghiền ép cấp dưới trên mọi phương diện.
Thế nhưng trong đời sống thường nhật, một khi đã diễn trò chơi giữa "bà mẹ toàn năng" và "cự anh", thì khó lòng có được chuyện bà mẹ toàn năng đi sùng bái cự anh. Trái lại, bà mẹ toàn năng không tránh khỏi việc khinh khi cự anh. Kết quả là, một mặt các cự anh được hưởng cái lợi của việc được cung phụng, nhưng mặt khác lại phải hứng chịu sự khinh bỉ phóng chiếu sang từ bà mẹ toàn năng — nói chính xác hơn, đó là sự bất lực.
Vốn dĩ, trẻ sơ sinh là kẻ bất lực, nó bắt buộc phải cậy nhờ vào sự chăm sóc của mẹ; nhưng nếu thuở sơ sinh không được chăm sóc tốt, đứa trẻ sẽ chôn giấu rất nhiều cảm giác bất lực trầm trọng — điểm này các chương sau sẽ bàn luận chi tiết.
Bà mẹ toàn năng trong gia đình vừa thông qua việc chăm sóc người khác để phô diễn sự vạn năng của mình, vừa trốn tránh cảm giác bất lực của đứa trẻ sơ sinh bên trong chính họ; đồng thời trong lúc chăm sóc người khác, họ sẽ phóng chiếu thông điệp "ngươi chỉ là một đứa trẻ ranh chẳng biết gì, chẳng làm nổi trò trống gì" lên người đối phương.
Chẳng hạn, lý tưởng của một người chăm sóc siêu cấp là: người chồng ngoan ngoãn nằm bẹp trên giường, đón nhận tất cả những gì cô ta đưa tới, không được xét nét, cũng chẳng thể chạy trốn. Như vậy, cô ta đã đặt người chồng vào một trạng thái siêu bất lực đến mức không nhúc nhích nổi một li.
Nhưng có thể tưởng tượng được rằng: khi bị đẩy vào trạng thái này, cự anh sẽ không hề biết ơn, mà tất yếu sẽ vùng lên nổi loạn.
Năm 2016, trên mạng rộ lên một mẩu tin tức kể về một phụ nữ phải sống đời thực vật, còn người chồng thì tận tụy nhẫn nại chăm sóc cô suốt một thời gian dài. Nào ngờ, vừa khi tỉnh lại và hồi phục ý thức, cô lập tức đâm đơn kiện chồng ra tòa, bởi lẽ nguyên nhân khiến cô ra nông nỗi ấy chính là do bị người chồng bạo hành dã man.
Sau khi đánh vợ thành người thực vật, người chồng lại thể hiện sự chịu thương chịu khó đến thế, điều này không chỉ đơn thuần là cảm giác tội lỗi, mà rất có thể là người chồng mê đắm cái cảm giác này — một người vợ bất động như xác sống, cô ấy sẽ không bao giờ bỏ rơi anh ta, cũng không bao giờ xét nét anh ta, mà ngoan ngoãn đón nhận sự chăm sóc của anh ta; nhờ thế mà trông anh ta chẳng khác nào một "thánh mẫu" siêu phàm.
Cư dân mạng "Tĩnh Vô 2801" từng để lại bình luận trên Weibo của tôi rằng, cô ấy quen một học giả nổi tiếng tầm cỡ viện sĩ tương lai; vợ ông ta vốn dĩ rất bình thường, nhưng chẳng mấy chốc đã bị vị học giả này "nuôi dưỡng" cho thành bệnh nhân tâm thần. Mười mấy năm trời như một ngày, ông ta túc trực chăm bẵm vợ, nuôi dạy con cái, không một lời oán thán.
Những câu chuyện như thế thoạt nhìn có vẻ rất cực đoan, nhưng những màn kịch "mẹ chăm bẵm con thơ" ở cấp độ nhẹ hơn thì lại vô cùng phổ biến. Có một lần, tôi bị ốm vài ngày, chẳng đặng đừng đành nhờ một cô bạn qua chăm sóc giúp nửa ngày. Ai ngờ cô ấy bảo rằng không thể tiếp tục chăm sóc tôi như thế này được nữa, bởi vì cô ấy quá đỗi thích cảm giác này, chỉ sợ chăm sóc thêm nữa sẽ đâm ra yêu "đứa bé bất lực là tôi" mất thôi.
Bà mẹ toàn năng = Sự kiểm soát hiện diện khắp nơi
Rất nhiều người là những "đứa bé bất lực" ẩn mình. Xưa nay tôi vẫn tự cho rằng mình là người sâu sắc, giàu tình cảm, chỉ hơi tiêu cực thụ động một chút; sau này mới vỡ lẽ ra rằng, tiêu cực thụ động rất có thể đồng nghĩa với việc: tôi chính là một cự anh.
Tại sao lại nói người đàn ông tiêu cực thụ động có thể là cự anh? Bởi lẽ, thái độ không chịu hành động của anh ta thường đi liền với một khát khao khó lòng tự nhận biết: Tốt nhất là có một bà mẹ toàn năng đứng ra gánh vác mọi chuyện thay mình. Một thân chủ từng kể: Anh ta thường mường tượng có một bàn tay khổng lồ vô hình ra tay giải quyết hết mọi vấn đề giúp anh, hơn nữa, chỉ cần anh khởi một ý niệm là bàn tay khổng lồ kia sẽ làm đúng y như anh mong muốn.
Đây chẳng phải chính là Doraemon sao?
Hình tượng bàn tay khổng lồ rất thú vị: nó vừa hàm chứa ý nghĩa giải quyết mọi rắc rối cho bạn, vừa mang ý nghĩa kiểm soát bạn. Cũng giống như: Doraemon + mẹ Nobita, đó mới là hai mặt thống nhất trong tâm lý của Nobita; Doraemon là người chăm sóc toàn năng không gì không làm được, còn người mẹ ngoài đời thực lại áp đặt đủ thứ kiểm soát lên cậu.
Một anh chàng trạch nam nọ đi hẹn hò, vừa thấy bóng dáng bạn gái liền dâng trào niềm hoan hỉ, toan chạy ùa về phía cô ấy, nhưng trong tích tắc bỗng chốc cứng đờ không thể nhúc nhích nổi, như thể bị đông cứng lại. Hóa ra, chính ngay khoảnh khắc ấy, trong tâm trí anh ta hiện lên một hình ảnh: một bàn tay khổng lồ túm chặt lấy mắt cá chân anh, kéo tuột anh vào một nấm mồ tử khí nặng nề.
Bàn tay khổng lồ đó chính là bàn tay của mẹ anh ta. Mẹ anh ta chăm sóc anh cực kỳ chu đáo, nhưng đồng thời kiểm soát cũng vô cùng gắt gao; bà từng bảo với anh rằng cuộc đời bà chỉ có duy nhất đứa con trai này, điều đó tạo nên một sự trói buộc khổng lồ đối với anh. Việc anh chạy về phía bạn gái đồng nghĩa với việc anh muốn thoát ly khỏi mẹ để vươn tới sự độc lập; kết quả là điều đó làm dấy lên trong anh nỗi tội lỗi cùng sự sợ hãi tột cùng, thế là trong tiềm thức, bàn tay của bà mẹ toàn năng chìa ra, kéo ghì anh trở lại thế giới chật hẹp bên mẹ.
Hơn nữa, bà mẹ toàn năng và cự anh luôn xuất hiện theo từng cặp. Thoạt nhìn, bà mẹ toàn năng dường như không gì không thể làm, còn cự anh thì ỷ lại thành tính, nên cứ ngỡ cự anh ỷ lại vào mẹ toàn năng, còn mẹ toàn năng thì dường như có thể sống độc lập. Nhưng trên thực tế, cũng giống như đứa trẻ dưới 6 tháng tuổi phải sống cộng sinh với mẹ, cự anh và mẹ toàn năng luôn luôn cộng sinh cùng một chỗ.
Bà mẹ toàn năng không hề độc lập thực sự; họ thường cắt đứt mối liên hệ với đứa trẻ nội tâm bên trong mình, tỏ ra vô cùng tháo vát bản lĩnh. Bởi vì đã cắt đứt mối liên hệ với đứa trẻ sơ sinh của chính mình — trong khi đứa trẻ nội tâm ấy lại đại diện cho dục vọng, khao khát, lòng nhiệt huyết và sức sống — nên nếu chỉ có một mình bà mẹ toàn năng, cuộc sống của họ sẽ trở nên vô cùng tẻ nhạt. Vì thế, họ cũng cần tìm kiếm một cự anh: một mặt để chăm sóc cự anh, mặt khác lại mượn cự anh để sống thay một phần sức sống.
Kỳ thực, rất nhiều bức tranh kiểu Trung Quốc đều mang hàm ý thế này: một bà mẹ toàn năng không oán không hối, vô dục vô cầu, đang chăm bẵm một cự anh tràn ngập dục vọng.
Quân sư và đế vương kiểu Trung Quốc chính là như vậy. Lịch sử Trung Quốc, theo cách nhìn của tôi, đều do một gã cự anh kiểu đại lưu manh làm càn làm bậy kết hợp với một quân sư vô dục, chung tay tạo nên. Kinh điển nhất như Lưu Bang và Trương Lương, Chu Nguyên Chương và Lưu Bá Ôn, v.v.
Hiền thê lương mẫu cùng người chồng bá đạo cũng vậy; trong mối quan hệ giữa thư ký hoàn hảo và sếp lãnh đạo, ta cũng có thể bắt gặp điều tương tự.
Đàn ông cự anh rất nhiều, mà phụ nữ cự anh cũng chẳng hề kém cạnh. Hơn nữa, những người phụ nữ hay đàn ông mang tâm lý bảo mẫu, thực chất sâu trong thâm tâm cũng đang ẩn giấu một cự anh.
Rất nhiều người giống như thánh mẫu; cả đời họ luôn chìm trong việc cứu vớt nỗi khổ đau của người khác, và cũng thường gặp phải những kẻ tệ bạc, vong ân bội nghĩa. Nguyên nhân tầng sâu là: trong lòng thánh mẫu đang giấu một cự anh bị ruồng bỏ; còn nguyên nhân hết sức trực tiếp là: chỉ có những kẻ đang ngụp lặn trong thống khổ mới cần đến thánh mẫu đến mức ấy, một đốm lửa le lói của họ dường như có thể cứu mạng cả một con người — cảm giác ấy quả thật quá đỗi tuyệt vời. Thánh mẫu và cự anh chính là một cặp bài trùng ăn ý.
Ẩn dụ đứa trẻ sơ sinh bất lực đi tìm mẹ xuất hiện nhan nhản khắp nơi trong nền văn hóa của chúng ta. Chẳng hạn, lũ thảo dân hễ một tí là quỳ lạy van xin, ai nấy đều ngóng trông một vị quan phụ mẫu bao công thanh thiên tuyệt đối vô tư, không màng tư dục.
Trong câu chuyện Nhũ cô bất đãi (Cho mẹ chồng bú không trễ nải) thuộc Nhị thập tứ hiếu, người con dâu dùng chính dòng sữa của mình để phụng dưỡng mẹ chồng, mãi không lơi lỏng cho đến khi mẹ chồng qua đời; câu chuyện này cũng có thể xem như: người con dâu đã biến thành mẹ, đang cho bà mẹ chồng cự anh bú mớm.
Tôi gọi câu chuyện này là "nghịch đảo luân thường đạo lý". Theo lời bậc thầy trị liệu gia đình người Đức Bert Hellinger: trong gia đình, tốt nhất là lớn ra lớn, nhỏ ra nhỏ. Thế nhưng trong văn hóa của chúng ta, việc con cái "mớm ngược lại cho cha mẹ" lại được tôn sùng là mỹ đức, và những câu chuyện tương tự được truyền tụng rộng rãi. Ẩn sau thứ đức hạnh ấy, thực chất chính là: bậc phụ huynh cũng giống hệt con trẻ, đều là những cự anh đang há mồm chờ được đút ăn.
Một khi trong một nền văn hóa mà đa số mọi người đều là cự anh, ta sẽ nhận ra ngay: coi một người như đứa trẻ sơ sinh để chăm bẵm chính là tuyệt chiêu thành công trong các mối quan hệ nhân sinh. Từ tình yêu cho đến công việc, từ đối đãi với người nhà cho tới đối nhân xử thế với lãnh đạo, chiêu này đều phát huy tác dụng.
Vì Sao Người Dân Nước Mình Vứt Rác Bừa Bãi?
Cội nguồn của vấn đề nằm ở nhân cách “vô tư” theo kiểu mặc quần thủng đũng của người Trung Quốc.
— Học giả Đài Loan Tôn Long Cơ
Một ngày cuối tháng Chín, Quảng Châu trời xanh mây trắng, gió hòa nắng ấm, tôi đi dạo trong khu chung cư của mình.
Khu chung cư nơi tôi sinh sống được ca ngợi là "khu chung cư đẹp nhất Quảng Châu", có ba hồ sáu núi, cảnh sắc vô cùng thanh nhã, dễ chịu. Thế nhưng, cũng giống như khi đi du lịch tại các danh lam thắng cảnh trong nước, dẫu có đẹp đẽ đến đâu thì ta vẫn luôn bắt gặp những thứ chướng mắt — rác rưởi vứt bừa bãi khắp chốn.
Chẳng hạn, bước lên những bậc thang trong khu, bắt gặp một vỏ hộp sữa giấy; đi qua hồ nước đẹp nhất, thấy mép nước ven bờ ngập ngụa vỏ bao thuốc lá, chai coca và túi nilon...
Cần phải nói rõ rằng, thùng rác trong khu này được bố trí rất hợp lý; cách những bãi rác không xa, ta đều có thể tìm thấy những chiếc thùng rác rất đẹp.
Hơn nữa, ban quản lý của khu chung cư làm việc rất tốt, những người qua lại tản bộ đều là cư dân; thế nhưng, họ lại không hề biết nâng niu trân trọng môi trường quanh mình như thế. Mỗi lần nghĩ đến đây, trong lòng tôi lại dấy lên sự phẫn nộ cùng nỗi bất lực.
Đi tiếp về phía trước, đến dưới một hàng cây dừa cao lớn và tuyệt đẹp, một người phụ nữ trẻ trung sành điệu dắt theo một bé trai chừng 3 tuổi tới gốc dừa, tụt quần cậu bé xuống rồi bảo cậu tè ngay tại đó.
Kỳ thực, chỉ cần đi thêm vài chục mét nữa là có một nhà vệ sinh công cộng sạch sẽ.
Trong thoáng chốc, nỗi phẫn nộ và bất lực lại tăng thêm một bậc. Khung cảnh người phụ nữ sành điệu dắt bé trai đi tiểu tiện dưới gốc dừa xinh đẹp, hòa cùng hình ảnh rác rưởi vương vãi khắp các ngóc ngách trong khu chung cư trước đó, cùng hội tụ lại trong tâm trí tôi; một câu nói cuộn trào trong lồng ngực: Như nhau cả thôi, tất cả đều cùng một giuộc.
Nói cách khác, hai bức tranh này thực chất là một. Hơn nữa, khung cảnh kiểu Trung Quốc khi người phụ nữ sành điệu dắt bé trai đi tè dưới gốc dừa, chính là nguyên nhân sâu xa của bức tranh vứt rác bừa bãi kia.
Tiến thêm một bước nữa, khung cảnh kiểu Trung Quốc này cũng chính là căn nguyên của đủ mọi hiện tượng phi văn minh của người dân nước mình khi đi du lịch trong và ngoài nước vào các kỳ nghỉ lễ dài ngày.
Người dân nước mình thiếu ý thức công cộng (công đức), điều này dường như đã thành một định luật; những hiện tượng thiếu văn minh trong du lịch cũng chỉ là một phương diện phô bày của điều đó mà thôi.
Hành vi du lịch thiếu văn minh được người dân nước mình biết đến nhiều nhất chính là do Tôn Ngộ Không làm. Hầu vương đánh cược với Như Lai Phật Tổ rằng mình có thể dễ dàng nhảy ra khỏi lòng bàn tay của ngài, rồi tung một cú lộn nhào tới tận chân trời, thấy có năm cây cột; để chứng minh mình từng tới tận chân trời, chú khỉ liền đái một bãi vào cây cột, lại còn khắc lên mấy chữ "Tề Thiên Đại Thánh đến đây du ngoạn" (Tề Thiên Đại Thánh đáo thử nhất du).
Ai ai cũng biết Tôn Ngộ Không đã thua cược, điều này không cần phải nói thêm.
Mặc dù mọi người rất mực kính ngưỡng Như Lai Phật Tổ, nhưng Tôn Ngộ Không mới chính là tấm gương đích thực của chúng ta. Thế là, vô số danh lam thắng cảnh và di tích cổ tích trong và ngoài nước đều bị lưu lại những dòng chữ Hán: "Đến đây du ngoạn".
Một tiểu thuyết gia bậc nhất đều có thể khắc họa một cách kinh điển tâm thức vô thức tập thể của dân tộc mình. Cảnh tượng Tôn Ngộ Không tè bậy vào cây cột nơi chân trời mà Ngô Thừa Ân miêu tả, với cảnh người phụ nữ sành điệu dắt đứa bé tè dưới gốc dừa cao lớn mà tôi tận mắt chứng kiến, sao mà giống nhau đến thế!
Học giả Đài Loan Tôn Long Cơ thì trực tiếp cho rằng, phương thức huấn luyện đại tiểu tiện của quốc nhân ta chính là cội rễ dẫn tới vô vàn hiện tượng phi văn minh.
Trong cuốn sách Cấu trúc tầng sâu của văn hóa Trung Quốc, ông luận giải rằng:
Một số hiện tượng tồn tại phổ biến ở đại lục, mà ở Hồng Kông và Đài Loan vẫn có thể bắt gặp — khạc nhổ đờm dãi bừa bãi, hỉ mũi, ngoáy mũi chốn đông người, kỳ ghét trên người, đánh rắm giữa đám đông, ăn cơm nhả xương ra mặt bàn (ở nhà ăn công cộng thì nhả toẹt xuống đất), xem nơi công cộng như chốn có thể tùy tiện xả rác và đổ nước thải, không giữ giờ giấc, không tuân thủ quy tắc, không có thói quen xếp hàng, mất kiểm soát đối với các cử động của thân thể (va quệt vào người khác khắp nơi, rung đùi), v.v. — tất cả đều là kết quả của việc không được huấn luyện kỹ càng từ thời thơ ấu.
Trong các giai đoạn phát triển nhân cách, sau thời kỳ môi miệng chính là thời kỳ hậu môn, tức là chuyển sự chú ý của đứa trẻ sang việc huấn luyện bài tiết. So với người phương Tây, các bậc cha mẹ Trung Quốc huấn luyện bài tiết cho con trẻ rất tùy tiện. Vào thời kỳ truyền thống, thường để con mặc "quần xẻ đũng" (khai đương khố), có thể đại tiểu tiện bất cứ lúc nào, bất cứ nơi đâu, hoàn toàn không giống như người phương Tây huấn luyện đứa trẻ tự kiểm soát bản thân, đi vệ sinh đúng giờ đúng chỗ, tạo thành thói quen bài tiết có quy luật.
Tôn Long Cơ đã mượn lý thuyết phân tâm học của Freud. Freud cho rằng, đứa trẻ trước 1 tuổi nằm ở thời kỳ khoang miệng (còn gọi là giai đoạn môi miệng), trẻ từ 1 đến 3 tuổi nằm ở thời kỳ hậu môn (còn gọi là giai đoạn hậu môn). Đứa trẻ ở giai đoạn môi miệng, nguồn gốc khoái cảm đều nằm ở miệng, chẳng hạn như bú sữa; đứa trẻ ở giai đoạn hậu môn, nguồn gốc khoái cảm tập trung quanh vùng hậu môn. Trong giai đoạn hậu môn, việc huấn luyện đại tiểu tiện trở thành chuyện vô cùng hệ trọng; cha mẹ huấn luyện con cái như thế nào sẽ quyết định nhiều đặc điểm hành vi của đứa trẻ sau này.
Tôn Long Cơ cho rằng, người phương Tây trong việc huấn luyện đại tiểu tiện có hai điểm khác biệt: thứ nhất là tương đối nghiêm khắc, đòi hỏi đứa trẻ bài tiết đúng giờ đúng chỗ chứ không được phóng uế bừa bãi; thứ hai là việc này chủ yếu do đứa trẻ tự làm chủ (đây cũng là sự thật). Ngược lại, chúng ta tương đối tùy tiện, cho trẻ mặc quần xẻ đũng; điều này đồng nghĩa với việc chúng ta cho rằng trẻ nhỏ không có năng lực tự kiểm soát chất thải của mình một cách có quy luật, vả lại, việc bài tiết đại tiểu tiện không nằm trong tay đứa trẻ mà do người lớn kiểm soát.
Thuở nhỏ, cách đối đãi với chất thải bài tiết ra sao sẽ quyết định đến khi trưởng thành đối đãi với đủ loại rác thải sinh hoạt như thế ấy. Phương thức nuôi dạy của chúng ta dẫn đến hai thái độ như sau:
1. Tôi có thể vứt rác khắp mọi nơi, hệt như thuở ấu thơ có thể phóng uế khắp chốn;
2. Rác rưởi do tôi tạo ra thì tôi không gánh vác nổi, phải do người khác chịu trách nhiệm.
Vì thế, điều này rốt cuộc dẫn đến cảnh tượng rác rưởi vương vãi khắp nơi ở "khu chung cư đẹp nhất Quảng Châu" nơi tôi ở, và cũng khiến quốc nhân ta trong những kỳ nghỉ lễ dài ngày đi du lịch đã vứt bừa bãi rác rưởi — tức "chất bài tiết của người lớn" — ra khắp mọi nơi.
Triết lý thứ hai của chuyện đại tiểu tiện — sự chi phối và kiểm soát từ bên ngoài (tha luật tha chế) — còn dẫn đến một tác dụng phụ khác: ngay cả chuyện nghỉ lễ nghỉ Tết cũng không thể do các công ty tự đứng ra sắp xếp, mà bắt buộc phải do chính phủ điều hành sắp xếp. Về điểm này, Tôn Long Cơ còn luận thuật rằng:
Xã hội kiểu Trung Quốc là một thực thể bất lực trong việc tự tổ chức, mà bắt buộc phải do quốc gia đứng ra tổ chức.
Hai điều này kết hợp lại, cấu thành nên một cặp mâu thuẫn kỳ quặc. Khi Tôn Ngộ Không còn là Tề Thiên Đại Thánh, ngỗ ngược vô pháp vô thiên, muốn làm gì thì làm, tự do tự tại, không có bất kỳ quy tắc nào có thể ràng buộc được hầu vương. Nhưng rốt cuộc chú khỉ vẫn bị Như Lai Phật Tổ thu phục, và phục tùng sứ mệnh do Phật Tổ trao cho, chứ chẳng hề tự mình đi tìm kiếm sứ mệnh. Con khỉ này tuy là biểu tượng của sự tự do, nhưng đến cuối cùng vẫn phải chấp nhận quy luật của sự chi phối và kiểm soát từ bên ngoài.
Chiếu lên người dân nước mình, bức tranh vứt rác bừa bãi khắp nơi mang ý nghĩa rằng: Quốc nhân luôn mải miết theo đuổi thứ tự do muốn làm gì thì làm (vi sở dục vi), bởi thế mới bất đắc dĩ phải chấp nhận sự chế ước của một chính phủ lớn đầy quyền năng pháp lực vô biên.
Từ đó có thể nói rằng, việc dạy con trẻ bài tiết đúng nơi đúng chỗ, và để đứa trẻ chủ yếu tự kiểm soát lấy việc này, mang một ý nghĩa vô cùng to lớn.
Chủ Nghĩa Tập Thể Chính Là Cộng Sinh
Cộng sinh chính là ngọn nguồn của chủ nghĩa tập thể.
Chủ nghĩa tập thể không chỉ đơn thuần là một lý niệm, mà còn là một cách sống. Hơn nữa, thường là thế này: nếu bạn là một cự anh, bạn chỉ có thể sống trong một tập thể mang tính cộng sinh chứ không thể đơn thương độc mã đối diện với thế giới bên ngoài; bạn chỉ có thể chọn cách sống của chủ nghĩa tập thể, chứ không thể lựa chọn chủ nghĩa cá nhân.
Chẳng hạn, Tôn Long Cơ từng quan sát thấy rằng du học sinh người Hoa khi sang Âu Mỹ rất dễ bị người ta hiểu lầm là đồng tính luyến ái, bởi vì con trai với con trai, con gái với con gái cứ khoác vai bá cổ nhau. Hai người trước sau luôn thân mật đến mức ấy, ở Âu Mỹ đồng nghĩa với đồng tính luyến ái, nhưng đối với người Hoa mà nói, họ thực chất chỉ là đang tìm một người bạn đồng hành mà thôi.
Tại sao cứ nhất thiết phải tìm bạn đồng hành? Bởi vì cự anh vốn vẫn còn nằm trong tâm lý cộng sinh thì không thể sống một mình được.
Đứa trẻ sơ sinh không thể sống một mình, bởi nó không có năng lực tự giải quyết những nhu cầu cơ bản. Người trưởng thành với tư cách là cự anh về mặt vật lý thì có thể sống một mình, nhưng về mặt tâm lý thì không; họ vẫn phải giống như đứa trẻ sơ sinh, tìm kiếm một người ở bên cạnh mình, bằng không sẽ phải trực tiếp đối diện với cái tôi vụn vỡ.
Tôi từng đưa ra một khái niệm là “cương giới của cái tôi”, tức là cái tôi của bạn vươn dài tới đâu, bạn đã thu nạp ai, thu nạp sự vật nào vào bên trong cái tôi của mình.
Bắt buộc phải cộng sinh cùng một người, đây vẫn chưa phải là điều tồi tệ nhất. Tồi tệ nhất chính là: bên trong cái tôi của bạn hoàn toàn không có người khác.
Trong thế giới của “tôi” chỉ có chính mình
Một người bạn của tôi có ông nội là một siêu trạch nam, nói chính xác hơn thì hẳn là mắc chứng tự kỷ: đến bốn, năm tuổi mới bắt đầu tập nói, lại luôn tỏ ra như không mấy hứng thú với con người, trông vô cùng ích kỷ. Thực ra đây không gọi là ích kỷ, mà là ông cụ căn bản không hề dung nạp người khác vào trong cái tôi của mình, nên cũng hoàn toàn không thể nghĩ cho ai khác.
Sinh hoạt mỗi ngày của ông cụ cực kỳ có quy củ, bạn thực sự có thể nhìn vào giờ giấc sinh hoạt của ông mà chỉnh lại đồng hồ. Ông nhất định thức dậy, nấu cơm, xuống phố đi dạo đúng vào một khung giờ cố định. Chỉ số thông minh của ông cực cao, là cao thủ cờ tướng, ngày nào cũng vậy sấm sét không lay chuyển, cứ đến đúng giờ là ra trung tâm hoạt động người cao tuổi để đấu cờ. Trình độ của ông quá cao, người khác chỉ có nước thua, nên rất ít người chịu chơi cờ với ông. Người nhà khuyên ông rằng: “Hay là ông chấp người ta hai quân đi, ví dụ chấp một Mã một Pháo chẳng hạn”, nhưng ông dứt khoát không chịu. Điểm này cho thấy ông về cơ bản hoàn toàn không có tính linh hoạt.
Hồi học cấp ba và đại học, tôi cũng được coi là một tay cờ tướng cừ khôi, thế nhưng lần đầu tiên giáp chiến với ông cụ này, chơi hơn ba mươi ván mà tôi chỉ thắng nổi đúng một ván, khi đó ông cụ vừa tròn 80 tuổi.
Đến năm ông cụ tầm tám mươi hai, tám mươi ba tuổi, cô con gái út giàu có nhất đón bố mẹ từ Đường Sơn lên Thiên Tân để tỏ lòng hiếu thảo. Nào ngờ, mới đến được vài hôm, cụ già liền bị tai biến mạch máu não, ngay sau đó bị liệt nửa người, lại trở nên lú lẫn chẳng khác nào mắc chứng sa sút trí tuệ tuổi già, cả thể xác lẫn tinh thần đều sụp đổ hoàn toàn. Chữa trị ròng rã mấy tháng trời mà chẳng thấy chuyển biến gì.
Về sau, bà cụ không muốn ở nhà con gái út nữa, đòi về quê cũ ở Đường Sơn. Hai ông bà vừa về quê được một tuần, kỳ tích đã xảy ra: ông cụ bỗng nhiên không chữa mà tự khỏi, thân thể lẫn tinh thần đều hồi phục lại phong độ như trước khi đổ bệnh.
Chuyện gì đã xảy ra vậy?
Đối với chuyện này, cách hiểu của tôi là: với tư cách một cụ già cận tự kỷ có hành vi hết sức rập khuôn máy móc, cái tôi của ông vốn đã gắn kết chặt chẽ với ngôi nhà của mình, không gian xung quanh cùng chế độ sinh hoạt thường nhật. Ngôi nhà, không gian quen thuộc và thời gian biểu mỗi ngày giống như chiếc vỏ ốc sên bao bọc lấy cái tôi mong manh của ông. Chuyển đến nhà con gái út, nhìn bề ngoài tưởng điều kiện tốt hơn, nhưng thực chất chẳng khác nào bóc phăng chiếc vỏ ốc sên ra khỏi thân ốc, khiến con ốc sên lập tức bị tê liệt hoàn toàn. Còn khi quay về ngôi nhà thân thuộc, điều đó đồng nghĩa với việc chú ốc sên lại được cõng chiếc vỏ của chính mình, nhờ vậy mới có thể khôi phục lại trạng thái bình thường.
Cụ già này, trong cái tôi của ông chỉ có chính bản thân ông, không gian cứng nhắc và chế độ sinh hoạt, ngoài ra không còn gì khác. Chẳng hạn, ngày con gái đi lấy chồng, ông vẫn nhất quyết đòi đi đánh cờ, cuối cùng cả nhà đều bày tỏ sự bất mãn gay gắt mới ngăn nổi ông lại.
Ngay cả việc cộng sinh với một ai đó ông cũng không làm nổi. Trẻ sơ sinh hay cự anh mang tâm lý cộng sinh thì trình độ phát triển tâm lý đã khá hơn một bậc, và đó cũng là một bậc chí mạng nhất: có thể mở rộng cương giới của cái tôi sang một người khác.
Then chốt của xã hội người quen: Trở thành “chúng ta”
Vốn dĩ trong thế giới của tôi chỉ có “tôi”, nay cuối cùng đã có thêm một người khác là “bạn”, hai chúng ta cấu thành nên “chúng ta”. Như thế, bạn là người của tôi, tôi phải bảo vệ bạn, đối tốt với bạn.
Trung Quốc được mệnh danh là xã hội người quen. Chúng ta trước khi làm việc gì, tốt nhất là phải tìm người, phải móc nối quan hệ. Chẳng hạn, nếu bạn đến bệnh viện khám bệnh, tốt nhất là bắt mối được một mối quan hệ nào đó để “làm quen” với bác sĩ trong viện. Việc móc nối quan hệ kiểu này thực chất chính là thông qua người quen để kéo bạn vào bên trong cái tôi của vị bác sĩ. Trước khi làm được điều này, bác sĩ có thể đối xử với bạn một cách lạnh nhạt; nhưng sau khi đã làm được rồi, thái độ của ông ta đối với bạn sẽ tốt hơn rất nhiều. Đó là một sự chuyển biến hết sức tự nhiên, đồng nghĩa với việc bạn từ một kẻ xa lạ bước chân vào mối quan hệ cộng sinh của “chúng ta”.
Không chỉ bác sĩ như vậy, công chức như vậy, mà ngành dịch vụ cũng thế. Tôi nhận thấy chính bản thân mình cũng như vậy: khi đột nhiên có ai gọi điện đến, thái độ tự nhiên ban đầu của tôi rất dễ là lạnh lùng, thiếu thân thiện; nhưng khi đối phương nói rằng là do người này người kia cho số điện thoại, thì thái độ của tôi lập tức chuyển biến rõ rệt. Đương nhiên, nếu không phải là cuộc gọi bất thình lình mà nằm trong kế hoạch công việc của tôi, thì tôi sẽ ổn hơn nhiều, khi đó có sự chuẩn bị từ trước nên sẽ tự động bước vào trạng thái chuyên nghiệp; còn những cuộc gọi đường đột không báo trước sẽ bóc trần đặc điểm này của tôi với tư cách là một cự anh.
Bạn sẽ bất giác phân chia: bên trong cương giới cái tôi là tốt đẹp, thiện ý; bên ngoài cương giới cái tôi là xấu xa, thù địch. Đối với người tự kỷ, thế giới của họ tuyệt đối không được phép thay đổi, bất kỳ sự thay đổi nào cũng khiến họ sụp đổ, bởi điều đó làm họ cảm thấy sự thù địch. Còn đối với những cự anh khá hơn một chút, thì là: bạn hoặc là thuộc về “chúng ta” — lúc này bạn nằm trong cương giới cái tôi, tôi thấy bạn tốt đẹp, thiện ý; bằng không tôi sẽ đề phòng bạn, tự giác hay bất giác đều sẽ xếp bạn về phía xấu xa, thù địch.
Những người mang tâm lý cộng sinh bắt buộc phải không ngừng phân chia “chúng ta” và “bọn họ”. Chúng ta tức là tốt, bọn họ tức là xấu, là đối tượng cần phải đề phòng. Mọi phương thức tồn tại của chúng ta như tập quán, thói quen đều là tốt, còn mọi sự tồn tại của bọn họ đều là dị đoan. Cứ như thế, dẫu cương giới của cái tôi có vươn rộng đến đâu, thì rốt cuộc vẫn là đang theo đuổi sự cộng sinh.
Nhưng giả sử một người vượt thoát khỏi tâm lý cộng sinh, khi ấy thế giới sẽ biến thành “chúng tôi” và “các bạn”. Sự tồn tại của chúng tôi là hợp lý, mà sự tồn tại của các bạn cũng là hợp lý.
Tôi và phi tôi
Dùng ngôn từ chuẩn xác hơn một chút để nói: đối với trẻ sơ sinh và cự anh, cộng sinh còn đồng nghĩa với việc thế giới không phải là “tôi” và “bạn”, mà bị phân liệt thành “tôi” và “phi tôi” (không phải tôi).
Phân hóa thế giới thành “tôi” và “bạn” có nghĩa là tôi xem bạn như một sự tồn tại bình đẳng giống như mình. Mặc dù bạn không thuộc về tôi, không cùng nằm trong một thể cộng đồng với tôi, nhưng tôi cũng hiểu rằng bạn và tôi đều là con người, đều là những sinh mệnh có da thịt, có cảm xúc như nhau. Cho nên, tôi cũng không thể tùy tiện làm tổn thương bạn.
Nhưng nếu đem thế giới phân liệt thành “tôi” và “phi tôi”, thì mọi chuyện lại hoàn toàn khác. Hoặc là bạn thuộc về “tôi”, chúng ta ở trong cùng một thể cộng đồng; bằng không bạn chính là “phi tôi”, là “phi nhân” (không phải con người). Tôi hoàn toàn không cảm nhận được bạn và tôi là cùng một giống loài sinh linh. Ngược lại, tôi cảm thấy bạn là kẻ thù của tôi, hơn nữa vì bạn là “phi nhân”, nên khi tấn công bạn, tôi chẳng hề có chút rào cản tâm lý nào.
Tuy nhiên, giả sử tôi có một cái đầu bình thường, thì tôi cũng biết xu lợi tị hại (hướng tới điều có lợi, tránh điều có hại); khi làm hại bạn, tôi sẽ tính toán xem liệu việc này có bị trừng phạt hay không. Nhưng việc tôi không làm hại bạn chỉ thuần túy là kết quả của sự toan tính thiệt hơn, chứ tuyệt nhiên không phải vì lý do tôi coi bạn là một con người bình đẳng giống như tôi.
Điều này cũng có các cấp độ phát triển khác nhau.
Bạn có thể có một thể cộng đồng với phạm vi rất rộng lớn, chẳng hạn: chúng ta đều là người Trung Quốc, đều là con cháu Viêm Hoàng; cũng có thể có một thể cộng đồng phạm vi nhỏ hẹp, ví như: chúng ta là người trong nhà, chúng ta là bạn học. Còn một số người mắc bệnh tâm thần nghiêm trọng, như chứng rối loạn nhân cách chống đối xã hội, họ có thể hoàn toàn không xây dựng nổi bất kỳ một thể cộng đồng nào từ hai người trở lên, mà chỉ có một sự phân chia hết sức giản đơn: bạn nghe lời tôi, thì là người của tôi, tôi sẽ đối tốt với bạn một chút; bạn không nghe lời tôi, thì chính là “phi tôi”, là “phi nhân”, là kẻ thù, tôi tiêu diệt bạn mà chẳng hề có lấy một chút cắn rứt lương tâm.
Những gã đàn ông giết sạch cả nhà mình gây nên những thảm án diệt môn, mức độ phát triển tâm lý của họ chính là thuộc loại này: khi ngươi thuận theo ý ta, ngươi là một phần của “ta”; khi không thuận theo ý ta, ngươi liền biến thành “phi ta” rồi.
Năm 2013, người đàn ông 61 tuổi ở Hạ Môn tên Trần Thủy Tổng đã gây ra vụ phóng hỏa xe buýt tại địa phương, thiêu chết 47 người, làm bị thương nặng hàng chục người. Do có thông tin cho rằng Trần Thủy Tổng từng nhiều lần tìm đến các ban ngành hữu quan nhưng gặp trở ngại, thế là trên mạng rộ lên cả một làn sóng đồng tình, thậm chí còn coi hắn như một vị anh hùng. Thật quá đỗi kinh hoàng! Hắn phóng hỏa trên xe buýt, các nạn nhân toàn là thường dân vô tội, cớ sao hắn lại nhận được sự đồng cảm và sùng bái?
Có lẽ quá nhiều người cảm thấy bản thân mình cũng là nạn nhân của hệ thống quyền lực xã hội, nên mới nảy sinh thứ tình thương kỳ quặc dành cho Trần Thủy Tổng.
Thế nhưng, tâm lý của Trần Thủy Tổng thật khiến người ta phải khó hiểu: nếu hắn bất mãn với các cơ quan quyền lực, cớ sao không chĩa mũi nhọn phẫn nộ vào họ, mà lại nhắm vào công chúng?
Tổng hợp các tin bài báo chí có thể thấy: hắn không chỉ bới lông tìm vết với cơ quan quyền lực, mà còn gây sự với những người xung quanh; hắn hầu như không thể hòa nhập nổi với bất kỳ ai bên cạnh. Rất có khả năng mắc chứng rối loạn nhân cách chống đối xã hội, hắn là một ca điển hình: hắn chưa có năng lực phân định thiện và ác, hắn chỉ phân biệt “tôi” và “phi tôi”, hắn xem toàn bộ thế giới bên ngoài nằm ngoài “phi tôi” là kẻ thù, nên chỉ hận không thể hủy diệt cả thế giới.
Nói cách khác, trong mắt hắn, hành khách đi trên xe buýt cũng chẳng khác gì những kẻ ở các cơ quan ban ngành từng làm khó hắn, tất cả đều là “phi tôi”.
Kỳ thực Trần Thủy Tổng đến cả lý do để thù hận các cơ quan ban ngành cũng không có. Hắn từng nhiều lần nhận trợ cấp bảo đảm sinh hoạt tối thiểu, cuộc sống không phải lo nghĩ; cái cớ gây chuyện chỉ là vì cơ quan hữu quan từ chối sửa đổi độ tuổi trên chứng minh nhân dân của hắn, mà sở dĩ hắn làm vậy là để hưởng một khoản bảo hiểm dưỡng lão có thể nhận được sau đó một năm.
Kẻ ngây thơ tưởng rằng hệ thống quyền lực đã bức hại hắn, nhưng thực chất Trần Thủy Tổng căm thù toàn bộ thế giới bên ngoài, bao gồm cả chính bạn trong đó.
Đây là một bệnh lý thuần túy thuộc về nội tại; thế giới bên ngoài dẫu có tốt đẹp đến mấy — ví như có chế độ phúc lợi cực kỳ phát triển — cũng không thể nào ngăn chặn nổi hành vi phá hoại của Trần Thủy Tổng. Bởi vì thứ hắn muốn nào đâu chỉ là tiền trợ cấp hay lương hưu, mà là muốn thế giới phải vận hành theo đúng ý chí của hắn.
Hàng xóm của Trần Thủy Tổng kể rằng hắn đi khắp nơi gây sự, bới móc. Điều này phản ánh sự thù địch của hắn đối với thế giới bên ngoài, đồng thời hắn cũng đinh ninh rằng thế giới bên ngoài luôn mang ác ý với mình. Hắn cực kỳ nhạy cảm, luôn diễn giải đa số các kích thích theo hướng thù địch, chẳng hạn như coi việc nhân viên cửa hàng bật nhạc là đang mồi chài, dụ dỗ con gái hắn.
Sự thù địch bủa vây khắp mọi ngóc ngách trong cuộc đời hắn, cho nên hắn không thể nào chung sống yên ổn với người khác; cuối cùng, cuộc đời hắn thất bại toàn diện. Đây trước hết là sự sụp đổ của thế giới bên trong. Đi ban phát lòng thương hại bừa bãi cho hắn rồi đổ lỗi cho người khác, ấy là do không hiểu nổi thế giới của hắn.
Uy tín của hệ thống quyền lực xã hội đang có vấn đề rất lớn, bất kỳ lời giải thích nào của chính quyền cũng khiến người ta sinh nghi. Thế nhưng hệ thống tưởng tượng xã hội trong dân gian cũng mang vấn đề trầm trọng không kém: luôn thường trực cảm giác bị bức hại dữ dội; hễ có bất kỳ bi kịch nào xảy ra, lời giải thích dễ được chấp nhận nhất chính là: đây là do bọn quyền quý làm. Tức là, một hệ thống bức hại thâu tóm tất cả đã tạo ra mọi vấn đề này, còn các nạn nhân thì ai nấy đều đáng thương và đúng đắn. Sau khi xảy ra sự kiện như của Trần Thủy Tổng, chỉ cần bạn giữ cách giải thích này trên mạng là sẽ rất dễ giành được muôn lời hưởng ứng tán thành. Thứ vô thức tập thể này cũng đáng sợ không kém.
Có thể nói, hiện nay đối với quá nhiều người, họ đã theo bản năng coi hệ thống quyền lực xã hội là “bọn họ”, và xem bất kỳ kẻ nào dám thách thức hệ thống quyền lực là “chúng ta”, để rồi bất phân trắng đen mà ban phát lòng đồng cảm cho “chúng ta”.
Trần Thủy Tổng mang nhân cách chống đối xã hội, còn Trương Hiến Trung, Lý Tự Thành cũng vậy. Theo góc nhìn của tôi, việc tô hồng cho một cuộc đại đồ sát bất phân trắng đen như vụ phóng hỏa xe buýt rốt cuộc sẽ dẫn tới sự ủng hộ đối với những cuộc thảm sát của Trương Hiến Trung và Lý Tự Thành. Dân tộc chúng ta rất dễ sùng bái những tên đồ tể siêu cấp; điều đó có thể là do khi phản đối một hệ thống quyền lực, ai nấy đều muốn đổ máu giết người, nhưng người bình thường vẫn luôn có lương tri chừng mực nên chần chừ do dự, và những kẻ giết người giỏi nhất liền trở thành lưỡi đao đồ tể gánh tội thay cho cả tập thể.
Mọi sự bất như ý của tôi đều là do có một cơ quan quyền uy nào đó (thường gặp như Cục An ninh Quốc gia, KGB, CIA, FBI hay cấp trên của bạn, v.v.) đã dựng lên một hệ thống để bức hại tôi một cách có bài bản. Nếu một người hình thành nên tâm lý này, thì đó chính là chứng hoang tưởng bị hại, một triệu chứng điển hình của bệnh tâm thần phân liệt.
Nếu một tập thể xét trên bình diện chung đều ở trình độ tâm lý này, điều đó đồng nghĩa với việc toàn bộ tập thể ấy đã mắc phải chứng hoang tưởng bị hại.
Điểm này hiện nay đã đỡ hơn: trước đây sau khi xảy ra những sự việc tương tự như Trần Thủy Tổng, thoạt tiên đều là một làn sóng đồng tình thậm chí sùng bái, nhưng giờ đây ngay từ đầu đã có thể thấy được rất nhiều tiếng nói tỉnh táo.
Đừng dại dột phản bội “chúng ta”
Dưới sự thúc đẩy của tâm lý cộng sinh, khi xảy ra biến cố khẩn cấp, chúng ta thường phớt lờ sự thật khách quan mà đi phân định ranh giới “chúng ta” và “bọn họ” trước tiên — tức là phân biệt bên trong thể cộng đồng và bên ngoài thể cộng đồng, giống như những khái niệm kinh điển “mâu thuẫn nội bộ” và “mâu thuẫn bên ngoài”. Dẫu trên thực tế bạn sai rành rành, nhưng bạn là người của “chúng ta” thì sẽ ủng hộ bạn; còn nếu bạn là người của “bọn họ” thì sẽ tấn công bạn.
Ví như Vương Trị Trí, vì để bảo vệ lợi ích của bản thân mà có lúc đã “phản bội” Hiệp hội Bóng rổ Trung Quốc. Xét trên phương diện sự thật, Vương Trị Trí chẳng có gì sai, còn Hiệp hội Bóng rổ thì quá bóc lột và hà khắc; thế nhưng một khi làm vậy, anh ta không còn là người của “chúng ta” nữa, thế là dư luận trên mạng liên tục công kích hành vi “phản bội” của anh ta.
Đừng tự tuyệt đường sống với “chúng ta”, đây chính là đạo sinh tồn kiểu Trung Quốc. Dẫu sự việc có cấp bách đến đâu, nếu không muốn đắc tội với thể cộng đồng, tốt nhất đừng vội vã thiết lập quan hệ với “bọn họ”, chớ dại đi cầu cứu “bọn họ”.
Là người Trung Quốc, chúng ta thấu hiểu sâu sắc triết lý này. Cho nên khi xảy ra các biến cố tập thể, những người hiểu luật chơi đều cố gắng hết sức tránh tiếp xúc với truyền thông nước ngoài.
Đó là sự toan tính có ý thức, nhưng còn có rất nhiều điều diễn ra trong vô thức.
Tháng 6 năm 2016, tại Thâm Quyến xảy ra một chuyện dở khóc dở cười nhưng thực chất lại vô cùng thường gặp: một cặp vợ chồng say rượu cãi vã, gã đàn ông bắt đầu thượng cẳng chân hạ cẳng tay với người phụ nữ; cảnh sát đến can thiệp, định bắt giữ gã đàn ông, kết quả là người phụ nữ lại quay sang cào cấu, tấn công cảnh sát dữ dội.
Lúc này, điều người phụ nữ này cân nhắc theo bản năng chính là “chúng ta” và “bọn họ”. Cô ta phải đứng về phía “chúng ta” trước, còn viên cảnh sát đến giúp đỡ cô ta lại bị coi là kẻ ngoài.
Người vợ này nếu có một cái tôi độc lập, cô ấy sẽ hiểu rằng điều tối quan trọng trước hết phải là tôn nghiêm và an toàn thân thể của “tôi”, từ đó đánh trả lại hành vi bạo lực của người chồng và sẵn sàng đón nhận sự bảo vệ của người khác.
Những chuyện tương tự nhiều vô kể. Sau khi biến cố xảy ra, lẽ ra phải giải quyết vấn đề trước, nhưng quốc nhân rất dễ phân định “địch - ta” trước tiên.
Một nam thân chủ quê ở Sơn Đông kể với tôi rằng: năm anh mười mấy tuổi, cha qua đời; sau đó, thím của anh muốn mai mối giới thiệu đối tượng cho mẹ anh, kết quả là làm dấy lên cơn thịnh nộ của gia đình nhà ngoại. Với tư cách đại diện nhà ngoại, người cậu ruột đặc biệt gọi em gái mình về nhà mẹ đẻ, chẳng khác nào mở một cuộc đại hội đấu tố mà rằng: “Sao em lại đi bàn bạc với người ngoài trước? Em phải bàn với anh trước chứ!”
Điều khiến thân chủ này nhớ như in là người bà ngoại vốn ngày thường đối xử với anh cũng khá tốt, nay cũng sa sầm nét mặt, rốt cuộc đến một bữa cơm cũng chẳng thèm cho con gái và cháu ngoại ăn.
Chuyện này khiến mẹ của thân chủ đau lòng tột độ: chồng mình vừa mới qua đời, anh trai và mẹ ruột không hề đoái hoài đến nỗi đau của bà, mà việc đầu tiên là dựng lên một đại hội đấu tố.
Đây chính là thứ chính trị kiểu Trung Quốc đáng sợ: người hiểu được điều này, khi gặp chuyện khẩn cấp sẽ đi phân định địch - ta trước, rồi sau đó mới giải quyết công việc. Bằng không, bạn sẽ nhận ra một khi đã đắc tội với thể cộng đồng nơi mình thuộc về, thì cả thể cộng đồng đó đều có thể quay sang đối xử thù địch với bạn.
Một nữ thân chủ có bố mẹ ly hôn, cô theo mẹ. Vốn dĩ đây là thỏa thuận giữa bố và mẹ, nhưng theo thời gian trôi qua, người bố ngày càng bất mãn trước việc cô thiên vị mẹ, cuối cùng ép cô phải chọn phe: hoặc là về phe bố và vạch rõ ranh giới với mẹ, hoặc là tiếp tục đứng về phía mẹ thì bố sẽ đoạn tuyệt quan hệ với cô.
Cuối cùng, giữa nỗi hoang mang, phẫn nộ và đau đớn, cô vẫn lựa chọn ở bên mẹ, mặc dù người mẹ hoàn toàn chẳng hề ép uổng cô.
Kết quả là người bố đoạn tuyệt quan hệ với cô thật. Chưa hết, người bố còn liên kết với toàn bộ gia đình bên nội, gần như tất cả đều cắt đứt quan hệ với cô.
Thứ chính trị gia đình mà các cự anh bày ra chính là cách chơi như vậy: thấp kém, phức tạp, cực đoan và đáng sợ.
Chỉ có “chúng ta”, không thể có “tôi”
Chủ nghĩa tập thể, tóm gọn trong một câu, tức là: chỉ có “chúng ta”, không có “tôi”, cũng chẳng có “bạn”. Khi suy xét mọi việc đều phải lấy “chúng ta” làm đơn vị, chứ không phải lấy “tôi” hay “bạn” làm đơn vị. Mặt đối lập của chủ nghĩa tập thể đương nhiên là chủ nghĩa cá nhân; bất kỳ sự nhấn mạnh nào vào cái “tôi” đều là chống lại “chúng ta”.
Có thể nói, chủ nghĩa tập thể sẽ tạo nên một ý thức đạo đức thâm căn cố đế như thế này: nỗ lực vì tập thể mới là đúng đắn, đi ngược lại tập thể là sai trái, đặc biệt kẻ nào muốn phô trương chủ nghĩa cá nhân thì lại càng là đại sai đại nghịch.
Đối đãi với ý thức đạo đức tập thể này ra sao? Rất nhiều người thật lòng tiếp nhận nó để trở thành những tấm gương đạo đức mẫu mực của dân tộc ta, thế nhưng dường như hiếm ai trong số họ có được một kết cục tốt đẹp.
Cực đoan như Nhạc Phi, ông thực sự xứng đáng là tấm gương đạo đức mẫu mực: vừa là anh hùng dân tộc xoay chuyển càn khôn, lại thương lính như con, nghiêm khắc ước thúc quân đội không xâm hại bách tính; bản thân ông chẳng hề tham ô hủ bại, nếu người thân vi phạm quân kỷ thì cũng thẳng tay trừng trị không nương nhẹ; vậy mà kết cục cuối cùng lại vô cùng thê thảm.
Lại ví như Vương Mãng, một nhân vật đầy tranh cãi: rốt cuộc ông ta là tên đạo tặc trộm nước đội lốt thánh nhân, hay thực lòng muốn xây dựng một đất nước lý tưởng? Cá nhân tôi cho rằng ông ta vừa là kẻ trộm nước, lại vừa thực tâm muốn lập nên một đất nước lý tưởng; nhưng vì thiếu sự thấu hiểu về tính ích kỷ của bản thân lẫn cục diện tổng thể, nên đầu óc hỗn loạn, rốt cuộc cũng trị vì đất nước trở nên hỗn loạn theo.
Nhưng bất kể là ai, dưới nền văn hóa này của chúng ta, nếu còn giữ được lý trí thì chớ có dại dột phô bày trực tiếp tư dục và sự coi mình là trung tâm. Chẳng hạn như Tào Tháo, bậc đại trí tuệ và cũng là kẻ chân tiểu nhân, nhưng chỉ vì câu nói “Thà để ta phụ người trong thiên hạ, chứ không để người trong thiên hạ phụ ta” mà vĩnh viễn bị đóng đinh với cái mác gian thần.
Trong một cộng đồng theo chủ nghĩa tập thể, bạn bắt buộc phải khiêm nhường kín tiếng. Trừ phi bạn chọn một cách phô trương duy nhất: làm người tốt — tức mọi việc bạn làm đều là vì người khác và vì tập thể. Chỉ có thứ phô trương xả thân quên mình này mới được phép tồn tại; còn những kiểu phô trương mang dấu ấn cá nhân hóa khác đều sẽ bị căm ghét và vùi dập. Bởi lẽ chủ nghĩa tập thể chỉ cho phép cái tôi mang tính tập thể được tồn tại, cái tôi cá tính đồng nghĩa với sự thách thức và phản bội đối với cái tôi tập thể. Vì vậy, Trần Quang Tiêu có thể thoải mái phô diễn sự cho đi và cống hiến, còn Vương Trị Trí thì lại thành kẻ đại nghịch bất đạo.
Chúng ta đã phát triển nên những hành vi vô cùng phức tạp; những nhu cầu về quyền lực, danh vọng, thành tựu và vật chất có thể dâng cao tới mức tột bực, nhưng chúng thường chỉ là một cơ chế phòng vệ, được chuyển hóa từ hai nguyện vọng đơn sơ nguyên thủy nhất chưa từng được đáp ứng: một là “ôm lấy tôi”, hai là “nhìn tôi đi”. Nguyện vọng nguyên thủy của Tiêu ca thực chất chẳng qua chỉ là: “Nhìn tôi đi”. Bản thân ông ta luôn nói với phóng viên: “Tôi tự tin sẽ lên trang nhất”.
Những câu chuyện trên đây thoạt nhìn có vẻ không phải chuyện của người bình thường. Nhưng trong câu chuyện của những con người bình thường, thứ logic này cũng xuất hiện nhan nhản khắp nơi.
Ví như, chúng ta thích nói “tất cả đều là vì con cái”. Nghe qua cứ như thể các bậc cha mẹ ở nước ta tha thiết hy sinh vì con cái lắm; thế nhưng nền văn hóa dòng chính thực sự của chúng ta lại là hiếu thuận — là con cái bắt buộc phải nghe lời cha mẹ; sự ngược đãi con cái ở nước ta tàn khốc hơn các quốc gia Âu Mỹ rất nhiều.
Lại ví như trong các cuộc đại chiến ly hôn, kẻ sợ ly hôn thường thích nói rằng “con cái không muốn bố mẹ ly hôn”, “người già hai bên không muốn ly hôn”, thậm chí “ly hôn thì không tốt cho đối phương”, chứ tuyệt đối không chịu nói một câu giản đơn rằng: “Tôi sợ ly hôn”.
Dưới môi trường chủ nghĩa tập thể, thân xác của cá nhân bắt buộc phải hiến dâng cho người khác hoặc cho tập thể, như thế mới gọi là Nhân, mới được xã hội thừa nhận. Nếu có tư tâm, bạn phải lén lút kín tiếng, ngấm ngầm trục lợi trong bóng tối.
Nhưng tư tâm thì ai mà chẳng có? Rốt cuộc là trên bề mặt ai nấy đều rao giảng chữ Nhân, nhưng tư dục bên trong lại tràn lan thành họa.
Biện pháp giải quyết vấn đề này không phải là tiếp tục tâng bốc nâng cao Nhân - Nghĩa - Lễ - Trí - Tín, mà là thừa nhận giá trị của từng cá thể. Không phải là sự tôn trọng tiểu ngã, mà là nhận thức: “Mỗi một con người đều là trung tâm của vũ trụ”.
Cốt lõi của chủ nghĩa cá nhân chính là sự tôn trọng đối với mỗi cá thể, đặc biệt là không được nhân danh bất kỳ điều gì để xâm phạm lợi ích của cá nhân. Ngược lại, dưới bóng chủ nghĩa tập thể, bên có quyền thế có thể dễ dàng nhân danh tập thể để xâm hại lợi ích của cá thể. Chẳng hạn, các cơ quan ban ngành có thể nói rằng vì mỹ quan đô thị mà dẹp bỏ người bán hàng rong, vì xây dựng đô thị mà cưỡng chế giải tỏa.
Dưới mắt nhìn của tôi, giá trị cốt lõi của chủ nghĩa cá nhân nằm ở chỗ: con người bắt buộc phải xuất phát từ chính bản thân mình, xuất phát từ cảm nhận của chính mình; căn cứ vào cảm nhận của bản thân để đưa ra đủ loại lựa chọn, căn cứ vào cảm nhận của bản thân để sống trọn vẹn sinh mệnh của mình. Hơn nữa, trong quá trình đó, dần dần thể nghiệm và chứng thực được rằng: người khác và chính mình đều là con người, người khác và chính mình đều xứng đáng được tôn trọng và yêu thương.
Cách diễn đạt hay hơn chính là “hành trình anh hùng” mà tôi đã nhiều lần nhắc tới.
Diễn đạt một cách hình tượng hơn: con người với tư cách là một thể năng lượng, bắt buộc và cũng chỉ có thể xuất phát từ chính mình trước tiên, vươn mở năng lượng của bản thân; khi ở trong mối quan hệ mà cảm nhận được sự đón nhận, luồng năng lượng ấy nhận được sự chúc phúc sẽ chuyển hóa thành năng lượng của sự sống; bằng không nó sẽ biến thành năng lượng màu đen của cái chết, tràn ngập dục vọng phá hoại.
Cứ nhấn mạnh cá thể phải phục vụ cho tập thể, thậm chí nhân danh tập thể để hy sinh cá thể, làm như vậy cùng lắm chỉ khiến cá thể ấy trên bề nổi trở thành một người tốt, nhưng với tư cách một thể năng lượng, anh ta sẽ biến thành một màu đen kịt.
Cho nên chúng ta mới có nghịch lý này: luôn nhấn mạnh lấy đạo đức trị quốc, nhưng xã hội chúng ta xét trên tổng thể xưa nay vẫn luôn bị coi là một “xã hội tương tàn hại lẫn nhau”, một xã hội đạo đức đích thực chưa từng thực sự xuất hiện.
Tất cả đều là của “tôi”
Theo cách nhìn của tôi, xã hội theo chủ nghĩa tập thể thực chất chính là kết quả phóng chiếu thế giới của trẻ sơ sinh thuở sớm. Đứa trẻ sơ sinh chưa hình thành ý thức phân hóa, không phân biệt nổi sự khác nhau giữa tôi và người khác, giữa tôi và thế giới, mà đinh ninh rằng: tôi chính là bạn, bạn chính là tôi, tôi chính là mẹ, mẹ chính là tôi, tôi chính là vạn vật, vạn vật đều là tôi...
Chí mạng hơn là đứa trẻ sơ sinh có cảm giác toàn năng như thần thánh: một khi tôi và vũ trụ hợp làm một, thì vũ trụ lẽ dĩ nhiên phải vận hành theo đúng ý muốn của tôi.
Nói độc miệng một chút, có thể bảo rằng: xã hội chủ nghĩa tập thể thực chất chỉ thỏa mãn sự tự luyến toàn năng kiểu cự anh của một mình vị đại gia trưởng mà thôi. Đại gia trưởng đối với tập thể nơi mình thuộc về có quyền chi phối và quyền định đoạt vô hạn; ông ta có thể tùy tiện mượn danh nghĩa tập thể để mưu cầu tư lợi cho bản thân. Đương nhiên, khi đã ngồi lên ngai vàng hoàng đế thì chẳng cần đến cái thói tự dối mình dối người ấy nữa: một khi ông ta là thiên tử, tức là hóa thân của tập thể, có thể tùy ý phát hiệu lệnh, và cả đất nước đều bắt buộc phải cung phụng, phối hợp với ông ta. Thế nhưng những vị hoàng đế thực sự sống trọn vẹn trong sự tự luyến toàn năng như thế nhìn chung đều chẳng có kết cục tốt đẹp gì. Tốt hơn hết họ vẫn nên giả tạo một chút, học cách sử dụng những câu từ theo kiểu chủ nghĩa tập thể: “Trẫm tất cả đều là vì muôn dân, vì giang sơn xã tắc, trẫm chưa từng màng tới bản thân mình bao giờ”.
Trong tâm lý cộng sinh, một biểu đạt trên bề mặt là “tôi chính là bạn, bạn chính là tôi”, cho nên “của tôi là của bạn, của bạn cũng là của tôi”, “tất cả đều là của chúng ta”. Nhưng ai là người chi phối các tài nguyên của “chúng ta”? Lẽ tự nhiên là vị đại gia trưởng, hoặc kẻ tương đối có quyền lực hơn. Chẳng hạn, bên trong các gia tộc Trung Quốc, thường thấy những chuyện thế này: cha mẹ cảm thấy mình có quyền điều phối tài nguyên của cả dòng họ, nên can thiệp vào đủ thứ chuyện lớn nhỏ trong nhà, nhưng thực chất lại vô cùng bất công — luôn có xu hướng bòn rút tài nguyên của con gái để bù đắp cho con trai, điều chuyển tài nguyên của đứa con không được yêu thương để cung phụng cho đứa con cưng.
Tâm lý này nếu cứ thế phát triển tiếp, có thể trở nên vô cùng thiếu ý thức và chẳng còn biết liêm sỉ là gì. Vào dịp Tết năm 2016, tôi nghe được một chuyện quái đản thế này: một người đàn ông nọ có hai cậu con trai, đều tống vào nhà máy của người chị gái làm việc; trước mặt bàn dân thiên hạ, gã đường hoàng tuyên bố với hai đứa con: “Cái xưởng này sớm muộn gì cũng là của hai đứa bay, cô ruột của bay tuyệt tự không có người nối dõi”. Thế nhưng trên thực tế, người chị của gã có con gái, hơn nữa người ta hoàn toàn chẳng hề có chút ý định nào muốn đem tài sản cốt lõi của mình sang tên cho cậu em trai cả.
Sau khi tôi kể chuyện này trên Weibo, không ngờ những chuyện quái đản như vậy lại chẳng hề hiếm gặp.
Của bạn là của tôi, của tôi là của bạn, tất cả đều là của chúng ta. Lối tư duy lý tưởng hóa về việc cào bằng san sẻ của cải này, khi diễn tiến trong đời thực, rốt cuộc sẽ luôn biến tướng thành: của bạn là của tôi, của tôi vẫn là của tôi, và tất cả những gì thuộc về chúng ta... đều là của một mình tôi.
Đại Gia Đình Kiểu Trung Quốc Và Chuyện Về Quê Ăn Tết
Đại gia đình kiểu Trung Quốc liều mạng dính chặt lấy nhau, một mặt là để co cụm thành bầy đàn ngõ hầu sinh tồn ở một đất nước không có quy tắc thực sự, một mặt là để mưu cầu thứ thân mật giả tạo. Ngoài hai giá trị thực dụng này ra, thực chất trạng thái liều mạng cộng sinh cùng nhau ấy chỉ có duy nhất một người cảm thấy sướng, đó là vị đại gia trưởng; những người còn lại đều ngột ngạt, đều muốn tháo chạy, chỉ là hiếm có kẻ nào dám vùng lên tạo phản.
Trong một đại gia đình chuyên chế nhất, điều đáng sợ nhất không phải là vị đại gia trưởng, mà là những kẻ tòng phạm. Có những đại gia đình, gần như tất cả mọi người đều biến thành kẻ tòng phạm tiếp tay chèn ép một cá nhân nào đó.
Một trường hợp tôi từng nghe kể: cậu con trai gây ra chút họa nhỏ, trước tiên bị cha mẹ, ông bà, cô chú... cả nhà hơn chục con người thay nhau xỉ vả thóa mạ; tiếp đó bị lột sạch quần áo, trói treo lên cây, lấy thắt lưng da quất dã man, mà lại là cánh đàn ông trong nhà thay phiên nhau quất; lúc đang quất đòn, đám đàn bà con gái đứng bên cạnh sụt sùi khóc lóc: “Con ơi, tất cả đều là vì muốn tốt cho con đấy thôi.”
Đánh xong, hạ từ trên cây xuống, người cha cùng đám đàn ông vừa ra tay hành hung cũng khóc, vừa khóc vừa bảo: “Con ơi, con có hận bố không? Con tuyệt đối không được hận đấy nhé, hận là đồ bất lương vô lương tâm, chúng ta đều vì muốn tốt cho con cả.” Mẹ kiếp, bị cưỡng bức chà đạp nặng nề đến thế, lại còn bị tẩy não, bắt bản thân phải chối bỏ cảm giác đau đớn tột cùng của chính mình, rồi thốt lên: “Các người cưỡng bức hay lắm.”
Trong những đại gia đình như vậy, đại gia trưởng nắm giữ uy quyền tuyệt đối, những kẻ khác theo quán tính làm tòng phạm; cứ hễ xuất hiện một kẻ phản kháng, cả bầy lại ùa vào như ong vỡ tổ để dạy dỗ, điều này đã trở thành một khuôn mẫu bất di bất dịch.
Một cô gái kháng cự chuyện cưới xin vì hôn nhân do người cha sắp đặt, cô không ưng. Kết quả là toàn bộ người thân thay nhau ra trận: khóc lóc, chửi mắng, khuyên răn hết lời cạn lẽ, ai nấy đều ép cô phải thuận theo đi. Thay nhau ra trận là đòn đánh mà kẻ phản kháng khiếp sợ nhất; lúc này, chỉ cần có lấy một người đứng ra ủng hộ, dũng khí của cô sẽ tăng lên gấp trăm lần, ngặt nỗi chẳng có lấy một ai.
Những câu chuyện kinh hoàng nhường này, tôi cứ ngỡ chỉ thời của cha mẹ tôi mới phải nếm trải, nào ngờ qua công tác tham vấn mới vỡ lẽ ra rằng: hiện nay, trên đất nước chúng ta, những bi kịch đáng sợ như vậy vẫn tồn tại tràn lan. Mong rằng chúng ta nhận thức sâu sắc về sự phổ biến và mức độ nghiêm trọng của những câu chuyện này, kiên quyết đừng biến mình thành kẻ tòng phạm vô hình.
Bức tranh gia đình và bức tranh ngoài xã hội là đồng nhất. Giữa chúng có một sợi dây liên kết vô cùng sâu rễ bền gốc. Ngoài xã hội, chỉ cho phép một người đàn ông duy nhất được tồn tại — đó là hoàng đế, thế nên lòng tự luyến của mọi gã đàn ông khác đều bị đập nát. Nhưng người đàn ông ấy lại có thể tìm kiếm sự thỏa mãn lòng tự luyến ở trong ngôi nhà của mình. Hơn nữa, vì anh ta đã hợp lý hóa bức tranh xã hội kia, nên sẽ tự động đem bức tranh ấy áp đặt vào trong gia đình.
Thế là, ra ngoài đời, anh ta làm một tên nô tài; về tới nhà, anh ta bắt người khác phải làm nô tài cho mình.
Trong các đại gia đình kiểu Trung Quốc, nữ gia trưởng cũng chẳng hề hiếm gặp; mức độ áp chế của nữ gia trưởng đối với hậu bối, về mặt bạo lực ngược đãi thể xác có thể không bằng, nhưng về sự chặt chẽ, ngột ngạt thì thường vượt xa nam gia trưởng. Rốt cuộc, những đại gia đình có nữ gia trưởng lại càng khiến người ta nghẹt thở hơn.
Trong giới tham vấn có một cách nói rằng phân tâm học ở Trung Quốc thiếu mảnh đất màu mỡ, bởi tiền đề của phân tâm học đòi hỏi một người phải có cái tôi cá thể, trong khi người Trung Quốc lại mang cái tôi bầy đàn.
Cái tôi bầy đàn là một phương thức tích tụ sức mạnh để sinh tồn nơi rừng rú hoang dã, giống như cào cào châu chấu và đàn kiến, phải tụ họp lại một chỗ mới có được sức mạnh khổng lồ. Xã hội phương Tây đã dựng nên những quy tắc thực sự, hễ nảy sinh xung đột về cơ bản có thể tin cậy vào hệ thống xã hội, không còn là thế giới rừng rú ăn thịt lẫn nhau nữa, nhờ vậy cái tôi cá thể mới có đầy đủ không gian để phát triển.
Về phân tâm học, theo kinh nghiệm tham vấn của tôi, nó ở Trung Quốc vẫn vô cùng hiệu nghiệm. Nói sâu hơn nữa, ngay cả ở một Trung Quốc chốn rừng rậm hoang dã, việc định hình nên một cái tôi cá thể rõ ràng vẫn hàm chứa giá trị sâu sắc. Hơn thế, có được một cái tôi cá thể sáng rõ, bạn mới có thể sinh tồn tốt hơn tại mảnh đất này. Dù sao thì ở Trung Quốc đâu chỉ rặt những thái giám, nô tài và xác sống; những cá thể có sự thức tỉnh vẫn hoàn toàn có thể sống rất tốt.
Then chốt để định hình cái tôi cá thể chính là nuôi dưỡng cảm nhận của bản thân. Nỗi đáng sợ của đại gia đình không nằm ở sự ngược đãi, mà nằm ở chỗ cảm nhận của bạn bị phủ nhận sạch trơn. Sau khi bị ngược đãi dã man, tất cả những người khác trong đại gia đình đều xúm vào bảo bạn rằng: đó không phải là ngược đãi, đó là yêu thương; đứa vô lương tâm nhà mày, sao có thể căm hận đại gia trưởng cơ chứ?! Mọi thứ ông bà ấy làm đều xuất phát từ tình yêu. Trong bộ phim điện ảnh Anh hùng, gã thích khách mỉm cười đón nhận cái chết, chính là chết trong thứ chất độc tư tưởng này. Chiểu theo lý thuyết kinh điển của Freud, thích khách nam không thể giết cha, và đã đem mặc cảm tội lỗi của việc giết cha chuyển hóa thành tự sát; nhưng ở Trung Quốc, chuyện này hẳn là còn phức tạp hơn thế nhiều.
Chỉ duy nhất đại gia trưởng mới có uy nghiêm. Chẳng hạn như trong phim về Tể tướng Lưu gù, hoàng đế mãi mãi là bậc “vĩ quang chính” (vĩ đại, quang vinh, đúng đắn), một bộ dạng bề trên đầy tôn nghiêm của bậc làm ông lớn; viên quan mang đầy chính khí như Lưu gù bắt buộc phải còng lưng khúm núm, phải giở đủ trò mánh khóe mua vui; còn Hòa Thân thì muôn đời nở nụ cười xun xoe nịnh bợ.
Người Mỹ phát minh ra khái niệm “EQ” (chỉ số thông minh cảm xúc); EQ của họ lấy phẩm giá làm nền tảng. Thế nhưng thứ gọi là EQ kiểu Trung Quốc, chính là khuôn mặt Hòa Thân do Vương Cương thủ vai, chính là gương mặt ngỡ như cười lớn mà thực chất là cười gượng đau đớn trong tranh của Nhạc Mẫn Quân. Vô số những gương mặt thể diện giả tạo như vậy đã cấu thành nên một đất nước Trung Quốc nhìn bề ngoài thì đòi hỏi thái bình hòa hợp, nhưng bên dưới thì mãi mãi cuộn trào sóng ngầm.
Cho nên, đường phố của chúng ta có thể giăng đầy những khẩu hiệu “vĩ quang chính”, nhưng lại chẳng sạch sẽ bằng một con ngõ nhỏ ở trời Âu.
Lại nhìn vào lịch sử Trung Quốc, dẫu là những bậc văn nhân xuất chúng lỗi lạc nhất, cũng đều thiếu vắng cái tôi cá thể; những ẩn sĩ lánh đời vào chốn thâm sơn cùng cốc vẫn cứ mộng tưởng có ngày được hoàng đế — vị đại gia trưởng ấy — vời ra bái tướng phong hầu, giao cho trọng trách. Bởi vậy trước đây tôi từng viết đọc thơ Đường từ Tống thấy rất thất vọng, chính là vì khắp nơi đều nồng nặc cái mùi vị này.
Văn nhân chấp bút miêu tả lịch sử Trung Quốc, nhưng đám lưu manh mới là kẻ kiến tạo nên lịch sử Trung Quốc. Lưu Bang với Trương Lương, Chu Nguyên Chương với Lưu Bá Ôn — sự kết hợp kiểu này xuyên suốt trong hầu khắp các triều đại. Dẫu là bậc văn nhân kiệt xuất nhất thấu suốt huyền cơ trời đất, cũng chỉ có thể sắm vai kép phụ trong dòng lịch sử Trung Hoa. Có lẽ nguyên do là vì đám lưu manh trúng độc văn hóa ít hơn, vẫn còn giữ được cái tôi; trong khi bậc văn nhân Trung Quốc đỉnh cao nhất lại đánh mất đi bản ngã của chính mình.
Văn hóa Cơ Đốc giáo có một vị đại gia trưởng mang thần tính — Thượng đế. Thế nên trong gia đình không còn chỗ cho một vị đại gia trưởng nửa người nửa thần nữa, thậm chí những vị quốc vương quyền uy tột bực cũng chẳng thể trở thành một vị đại gia trưởng danh chính ngôn thuận, ăn to nói lớn được.
“Xuân vận” (cuộc đại di chuyển về quê ăn Tết) — bức tranh Trung Quốc điển hình này — chính là sự hiển hiện của vô thức tập thể về đại gia đình Trung Quốc. Những con người bất chấp tất cả để lao về nhà kia, bạn là đang tìm về với vòng tay ấm áp của gia đình, hay là trở về để quy phục quyền thế của một vị đại gia trưởng? Bạn đang thực sự tận hưởng sự thân mật của mái ấm, hay chỉ cốt để làm tròn một ảo ảnh đoàn viên nơi bề nổi? Mong rằng là vế trước. Thế nhưng, một khi đã là vế trước, thì cái cảnh tượng hoành tráng đầy tính cưỡng chế ám ảnh của mùa “Xuân vận” kia sẽ chẳng còn lý do để tồn tại nữa.
Một câu sau cùng: Hãy tôn trọng cảm giác của bạn, hãy nuôi dưỡng cảm nhận của bạn, và hãy trở thành chính mình.
Dùng Sự Trọn Vẹn Bề Nổi Để Trốn Chạy Tâm Hồn Vụn Vỡ — Logic Tầng Sâu Của Việc Ép Cưới
Tại sao cha mẹ Trung Quốc lại thích giục cưới?
Thực ra, không chỉ cha mẹ thích thế, mà cả cái gọi là “bảy cô tám dì” họ hàng hang hốc cũng vậy. Hơn nữa, ngay cả bản thân chúng ta cũng rất có thể sẽ như thế.
Nhớ hồi tôi học thạc sĩ, có quen một cô gái rất cuốn hút, mới 25 tuổi đầu đã bắt đầu lo ngay ngáy sau này không gả đi được thì biết tính sao. Về sau cô ấy vội vã lấy chồng, rồi lại ly hôn, rồi lại tái giá một cách hạnh phúc, hiện tại vẫn cuốn hút vô cùng. Giờ đây, thế giới của cô ấy rộng mở đến thế, nhưng nỗi lo âu hồi ấy vẫn còn có thể cảm nhận lại được; cô ấy thực sự không tài nào hiểu nổi hồi đó cớ sao mình lại phải phát sốt phát rét một cách mù quáng vì chuyện ấy.
Họa chăng có thể nói, đây là một chủ đề khiến cả xã hội đều lo âu — Sao mày vẫn chưa kết hôn sinh con, lập gia đình hả? Mày bị làm sao thế? Mày không bình thường à?
Buổi chiều, tôi trò chuyện với một nhà tham vấn tâm lý, vốn dĩ nói về những vấn đề mà một tâm hồn vụn vỡ có thể gây ra, chẳng liên quan gì đến đề tài này. Nhưng tôi bỗng nhiên bị đánh động: Đây hẳn chính là nguyên nhân của những chuyện như ép cưới, giục cưới, vội vã kết hôn cùng những vấn đề tương tự.
Kết hôn sinh con, dựng nên một gia đình trọn vẹn, như thế nhìn bề ngoài dường như sống giống một người bình thường, một con người vuông vức tròn vẹn đủ đầy. Cứ như thế, sự khiếm khuyết bất toàn bên trong, tâm hồn vụn vỡ bên trong, liền có thể trốn tránh được rồi.
So với lòng đố kỵ, sự ganh đua và tâm lý so bì, so với chữ hiếu, có lẽ đây mới là một nguyên nhân mang tầng bậc sâu sắc hơn.
Cho nên, từ nông thôn cho đến thành thị, hễ có chuyện xảy ra là muốn “xung hỷ” (cưới để giải hạn, cầu may), đem lại cho những đứa trẻ khiếm khuyết về tâm lý, khiếm khuyết về mặt xã hội, thậm chí khiếm khuyết cả về sinh lý một cái vẻ ngoài tươm tất trọn vẹn bằng cách xung hỷ, để lừa người đời, lừa đứa trẻ, và cũng là tự lừa dối chính mình.
Chính là dùng cái sự thật bề nổi về một gia đình tròn vẹn, để trốn chạy cái sự thật tầng sâu về sự vỡ vụn.
Một câu chuyện nọ: cậu con trai mắc bệnh tâm thần phân liệt, giải pháp mà cha mẹ nghĩ ra lại là xây cho nó một căn nhà, cưới cho nó một cô vợ. Thứ logic đáng sợ này chính là dùng cái sự trọn vẹn bề nổi “con tôi vẫn có thể lập gia đình” để che đậy sự thật trần trụi rằng tinh thần đứa con trai vốn đã vỡ nát hoàn toàn.
Đây tuyệt nhiên không phải hiện tượng chỉ ở nông thôn mới có. Một cư dân mạng trên Weibo từng kể một câu chuyện:
Đồng nghiệp cũ của tôi trong lúc không hề hay biết đã bị gả cho một người đàn ông bệnh tật sắp chết, nghe đâu nhà chồng cưới vợ cũng là để xung hỷ. Đồng nghiệp tôi sau khi kết hôn mới hay chồng mang trọng bệnh, chẳng bao lâu sau người đàn ông đó qua đời. Người đồng nghiệp này từ đó đến nay vẫn không chịu lấy chồng, chẳng phải không muốn lấy, mà là bóng ma tâm lý quá nặng nề, tính tình đâm ra cổ quái khác thường. Cái gọi là xung hỷ rốt cuộc cũng là hại chết đời một con người khác, những bi kịch như thế ở Trung Quốc không hề ít. Cũng may là chưa kịp có con, chưa kéo dài bi kịch này sang đời sau.
Câu chuyện châm biếm sâu cay nhất mà tôi từng nghe là: vào đầu những năm 90 của thế kỷ 20, một gia đình giàu có ở Triều Sán đã chi bạc triệu tệ tổ chức một đám cưới linh đình hoành tráng, nhưng nhân vật chính của hôn lễ lại là cô con gái mắc bệnh tâm thần phân liệt của gia đình này. Người mẹ nhìn bề ngoài tưởng như vạn năng quyền biến đã kén cho cô một chàng rể ở rể có điều kiện cũng tàm tạm. Một đám cưới rình rang lộng lẫy, hãy thử mường tượng khung cảnh ấy mà xem: đứng ở vị trí trung tâm lại là một cô dâu tâm thần phân liệt.
Bà mẹ này vẫn còn có con trai, bà chẳng phải khốn cùng đến mức bắt buộc phải kén rể ở rể, bà chỉ là cốt để hả một cơn giận — “Chúng mày coi thường tao vì tao có đứa con gái như thế này chứ gì, tao làm hẳn một đám cưới rình rang cho chúng mày tức chết, tao còn kén được cho con gái một thằng rể tốt đây này!”
Điều bi thảm hơn nữa là cô con gái này về sau sinh được một bé trai, mà cậu bé từ sớm đã bị chẩn đoán mắc chứng tâm thần phân liệt ở trẻ em.
Bất kể con cái có ra cái dạng gì, dựng vợ gả chồng được là đồng nghĩa với việc chúng đã là người bình thường. Ngoan nào, mau mau cưới đi thôi!
Nhưng đó chỉ là ảo tưởng; chân tướng là: tâm hồn vụn vỡ dẫn đến gia đình đổ vỡ, gia đình đổ vỡ lại nuôi dạy nên những đứa trẻ mang tâm hồn vụn vỡ, cứ thế luân hồi từ thế hệ này sang thế hệ khác mà thôi.
Những câu chuyện này nghe qua có vẻ hơi cực đoan; tôi kể ra là bởi vì chúng lột tả vấn đề rõ nét nhất.
Thế nhưng những câu chuyện đời thường thì xung quanh ta cũng nhan nhản khắp nơi.
Chẳng hạn tôi nghe rất nhiều bạn bè đã ly hôn tâm sự rằng, dịp Tết không muốn về quê, cũng chẳng muốn gặp gỡ bạn bè; tại sao vậy? Bởi vì họ lo sợ bị những người xung quanh coi như “kẻ không bình thường”.
Lại có rất nhiều người, ly hôn rồi cũng chẳng dám hé răng với ai quanh mình, sợ miệng đời đàm tiếu xì xào.
Nhưng điều này mang tính hai chiều. Một mặt, người dân nước mình quả thực rất thích buôn chuyện thị phi, thích phán xét đúng sai. Mặt khác, bản thân họ cũng tự nghĩ như vậy — không dựng xây nổi một mái ấm trọn vẹn ở đúng độ tuổi, thì cứ như thể không bình thường. Hơn nữa, những lúc lủi thủi đón Tết một mình, quả thực rất có thể chạm tới tâm hồn vụn vỡ của chính mình, lúc ấy cũng thực sự cảm thấy bản thân mình chẳng trọn vẹn. Cảm giác không trọn vẹn này là có thật.
Học giả Đài Loan Tôn Long Cơ trong tác phẩm Cấu trúc tầng sâu của văn hóa Trung Quốc từng viết rằng: trong nền văn hóa chủ nghĩa tập thể ở Trung Quốc, một cá nhân là không trọn vẹn, anh ta thậm chí còn không đủ tư cách cấu thành một đơn vị tồn tại; những kẻ độc thân chưa từng lập gia đình, những kẻ điên khùng, v.v., họ sẽ bị gạt ra bên ngoài hệ thống gia tộc, hoặc bị ngó lơ ghẻ lạnh thậm tệ; bắt buộc phải kết hôn sinh con, dựng nên một gia đình trọn vẹn, thì mới tạo thành một đơn vị độc lập được tôn trọng.
Dùng sự trọn vẹn nơi bề nổi để trốn chạy sự vụn vỡ bên trong, điểm này người dân nước mình thể hiện quá đà. Nhưng sự vụn vỡ nội tâm khiến con người ta bức bối khó chịu, ở điểm này, nhân loại hẳn là có sự tương thông.
Trong một bộ phim của đạo diễn người Ba Lan Kieślowski, kể về một người đàn ông đã có gia đình, vào đêm Giáng sinh được cô bạn gái cũ hẹn ra ngoài nhờ tìm giúp người bạn đời mất tích. Người đàn ông đoán được chân tướng: bạn gái cũ chỉ là quá cô đơn cần người bầu bạn, nhưng anh không vạch trần, cứ lẳng lặng đồng hành cùng cô tìm kiếm suốt một đêm. Cuối cùng, cô bạn gái cũ mới thú nhận rằng cô đã trải qua mấy mùa Giáng sinh thui thủi một mình rồi, nếu cứ tiếp tục lẻ loi như vậy nữa, cô sẽ tự sát. Đây mới đích thực là một người đàn ông ấm áp.
Đoạn kết của bộ phim cũng rất ấm lòng: người đàn ông trở về nhà, người vợ vẫn nằm trên ghế sô pha đợi anh, nhưng đã ngủ thiếp đi. Anh tiến lại ôm lấy vợ, người vợ bừng tỉnh, không một lời trách móc oán than, mà ôm chặt lấy người đàn ông này, cứ như thể chính anh mới là người đang cần được an ủi vậy.
Sự vụn vỡ hiện diện khắp nơi, nỗi thống khổ cũng hiện diện khắp chốn. Sự sum họp ngày Tết, tình yêu, việc dựng xây gia đình, tất cả đều là những tâm hồn cô độc đang kiếm tìm sự kết nối. Nhưng hy vọng chúng ta có thể thực sự sưởi ấm và vỗ về lấy nhau, chứ không chỉ mải miết chạy theo sự trọn vẹn nơi hình thức.
Vì Sao Chúng Ta Lại Rơi Vào Một Xã Hội Tương Tàn Hại Lẫn Nhau?
Tháng 4 năm 2013, nghiên cứu sinh học thẳng tiến sĩ của Đại học Phục Đán là Hoàng Dương bị trúng độc tử vong, hung thủ chính là người bạn cùng phòng Lâm Sâm Hạo.
Hơn mười năm trước, Chu Lệnh của Đại học Thanh Hoa cũng bị đầu độc bằng thallium (tali); chính quyền đến nay vẫn chưa xác định được nghi phạm, nhưng vô số tiếng nói trên mạng chĩa mũi dùi vào những người bạn cùng phòng của Chu Lệnh, tức rất có thể là vài người đã cùng nhau mưu tính hạ độc.
Vì vụ việc của Chu Lệnh, tali trở thành thứ độc chất mà người Trung Quốc biết đến rộng rãi; thế nhưng vừa mới có tin truyền ra rằng, một nhà máy axit sunfuric ở miền tây Quảng Đông đã xả nước thải chứa tali ra sông, nông dân địa phương dùng nước sông tưới tiêu đồng ruộng, dẫn đến hàm lượng tali vượt chuẩn nghiêm trọng. Sự ô nhiễm tali đối với đất đai vô cùng đáng sợ, nông dân ở Lạm Mộc Xưởng, huyện Hưng Nhân, tỉnh Quý Châu vì thế mà xuất hiện hiện tượng “quỷ cạo đầu” (chứng rụng tóc từng mảng).
Tali (chữ Hán: 铊), phát âm đồng âm với chữ “Nó” (它 - tha). Trung Quốc hiện đại sở dĩ rơi vào một xã hội tương tàn hại lẫn nhau, mấu chốt nằm ở chỗ chúng ta xem những con người và sự vật khác là “Nó”, chứ không phải là những sự tồn tại bình đẳng với chính mình. Bởi vì xem các sự vật khác đều là “Nó”, người ta có thể đối xử với đối phương một cách ngang ngược không kiêng dè gì, mà chẳng cần phải có chút cắn rứt ăn năn nào.
“Nhân giả nhân dã, thân thân vi đại” (Lòng nhân chính là con người, yêu thương người thân là việc lớn nhất). Câu nói này của Khổng Tử đã định nghĩa về việc làm thế nào quốc nhân mới có thể trở thành một con người: đó là phải đối xử tốt với người thân của mình, đó mới là nhân, như thế mới là một con người.
Khổng Tử nói, giả sử một người đối xử tốt với cha mẹ mình, là một đứa con hiếu thảo, thì người ấy có thể đối xử tốt với những người khác. Đây là một quan điểm, chứ không phải một sự chứng minh; nếu muốn chứng minh, có quá nhiều khía cạnh có thể bác bỏ luận điểm ấy.
Thế nhưng, dưới mắt nhìn của học giả Đài Loan Tôn Long Cơ, câu nói này lại quả thực là một sự định nghĩa về “cái tôi” của quốc nhân. Ông nói, người Trung Quốc khi ở một mình thì không có cái tôi; cái tôi của họ chí ít phải được xác lập trong mối quan hệ “hai” người. Hơn nữa, bắt buộc phải là “tôi” đối xử tốt với người khác, khi ấy, “cái tôi” mới được định hình bên trong mối quan hệ hai người đó.
Đây không phải là một quan điểm, mà là một thực tế. Người Trung Quốc khi sang các nước khác bắt buộc phải co cụm thành bầy đàn, bởi vì giả như không co cụm, lúc chỉ có một mình, thì không đơn thuần là nỗi cô đơn, mà là “cái tôi” cũng không còn tồn tại nữa, chẳng khác nào bản thân đang trần trụi và yếu ớt phơi bày trước một thế giới xa lạ. Co cụm bầy đàn không chỉ vì lợi ích thực tế, mà còn là để định hình nên một “cái tôi” ở trong đoàn thể.
Các nhà phân tâm học khắt khe cho rằng, việc trị liệu phân tâm học tiêu chuẩn ở Trung Quốc gần như là bất khả thi, bởi tiền đề của phân tâm học là thân chủ phải có một cái tôi cá tính hóa, nhưng người Trung Quốc lại chỉ có cái tôi mang tính tập thể. Cái tôi tập thể thoạt tiên được xây dựng trong gia đình, rồi sau đó có thể mở rộng ra xã hội cho đến quốc gia và dân tộc. Những người theo chủ nghĩa tập thể sẽ bảo: điều này tốt biết bao, một người bắt buộc phải cống hiến cho tập thể. Thế nhưng đây lại chính là nền tảng của một xã hội tương hại.
Vì sao Trung Quốc hiện đại lại trở thành một xã hội tương tàn hại lẫn nhau? Điều này phụ thuộc vào việc cái tôi tập thể của người Trung Quốc có thể khuếch tán ra phạm vi rộng lớn đến mức nào. Thời kỳ đầu khi thành lập nước Trung Hoa mới, hàng trăm triệu người muôn người như một, mấy trăm triệu người Trung Quốc cùng chia sẻ chung một cái tôi tập thể — nước Trung Hoa mới của “chúng ta”, trình độ đạo đức có thể đạt tới trạng thái lý tưởng. Nhưng hiện nay, mọi cái tôi tập thể quy mô lớn đều đã vỡ vụn, cái tôi của mỗi người đều quay trở về với chính bản thân mình hoặc tập thể nhỏ nơi mình thuộc về; hơn nữa ngay trong tập thể nhỏ ấy, cũng chỉ có bản thân mình chứ chẳng có ai khác. Đây là điểm then chốt thứ nhất.
Then chốt thứ hai là: chỉ có cái tôi cá thể mới có thể nuôi dưỡng nên lương tri chân thực, còn những kẻ chìm đắm trong cái tôi tập thể sẽ thiếu hụt năng lực thấu cảm, tức thiếu vắng lòng trắc ẩn thực sự. Đối với những người nằm trong phạm vi cái tôi tập thể thuộc về mình, bản thân phải làm người tốt. Nhưng đối với những kẻ “phi ngã tộc loại” (không cùng giống loài với ta), thì lại thấy “kỳ tâm tất dị” (bụng dạ ắt khác), thế là dùng những từ ngữ như man di mọi rợ để hình dung, xem họ như phi nhân (không phải con người), cảm thấy đối xử với họ thế nào cũng không quá đáng. Chẳng hạn, khi xếp hàng, đối với người quen thì vô cùng nhường nhịn, nhưng nếu là người lạ, dẫu chỉ có hai người cũng phải tranh giành chen lấn. Bởi vì người quen cùng với bản thân cấu thành nên một cái tôi tập thể quy mô nhỏ, hoặc hai người cùng trực thuộc một cái tôi tập thể chung, còn người lạ thì không phải.
Trước đây tôi vẫn luôn không hiểu nổi tại sao khi lên xe buýt, ra vào thang máy, cứ nhất định phải chen lấn xô đẩy. Sau khi đọc cuốn Cấu trúc tầng sâu của văn hóa Trung Quốc mới vỡ lẽ ra rằng: trong tình cảnh ấy, chúng ta đều xem nhau là “phi ngã”, lại do thiếu sự thấu cảm, nên “phi ngã” lập tức bị hạ xuống thành “phi nhân”, có thể hoàn toàn phớt lờ cảm nhận của đối phương.
Phớt lờ cảm nhận của người khác cũng là vì bản thân mình không có trái tim, thậm chí đối với cảm nhận của chính mình cũng thiếu sự nhận thức và tôn trọng. Vì không có trái tim, người Trung Quốc phần nhiều giống như những “người cao su” (vô cảm vô hồn), bắt buộc phải tìm một tâm thức tập thể để quy tụ thống nhất họ lại, khiến họ đều thuộc về một cái tôi tập thể, có như vậy mới làm cho xã hội ổn định được.
Cho nên, triết lý đại nhất thống ở Trung Quốc có điểm hợp lý của nó.
Thế nhưng mâu thuẫn của nó nằm ở chỗ: sự tồn tại của tâm thức tập thể phải đánh đổi bằng cái giá là trấn áp, dập tắt tâm thức cá nhân. Nó dẫu giúp xã hội duy trì sự ổn định tương đối, nhưng đối với tiếng nói của tâm thức cá nhân, nó luôn luôn áp đặt sự giới hạn và chèn ép, thậm chí là tiêu diệt. Cá tính trong lịch sử Trung Quốc hiếm khi được coi là ưu điểm, nguyên nhân chính là nằm ở chỗ đó.
Kết quả là, do bầu không khí như vậy, những cá thể sở hữu cái tôi mang tính cá nhân cực kỳ hiếm khi xuất hiện; những bậc văn nhân dẫu có trí tuệ và lương tri đến đâu, khi cất tiếng nói cũng luôn tự coi mình là một phần tử của xã hội. Dẫu có quy ẩn nơi điền viên chốn núi rừng, trong lòng cũng luôn mơ tưởng hoàng đế — đại diện của cái tôi tập thể — có thể ban cho mình một cơ hội an thân lập mệnh, để bản thân được quay về chiếc tổ của cái tôi tập thể.
Hơn nữa, kẻ phát minh ra tâm thức tập thể bản thân cũng có tư tâm; rốt cuộc biến thành: tâm thức tập thể được dùng để thống nhất tầng lớp dân chúng trung và hạ tầng, còn tầng lớp thượng tầng thì thừa biết đó là một trò ngu dân. Nhưng dẫu ở tầng lớp thượng tầng, thuở ban đầu cũng phải tạo thành một cái tôi tập thể, bằng không sẽ chẳng có sức chiến đấu. Nước Trung Hoa mới sở dĩ có thể được thành lập, chính là vì thế hệ lãnh đạo thuở ấy đã phát hiện ra tầm quan trọng của mặt trận thống nhất, và đã không tiếc công sức làm việc đó, quả thực đã cơ bản thống nhất được lòng dạ của thiên hạ lại làm một. Sự thống nhất này có thành phần của sách lược, nhưng cũng thực sự mang màu sắc của chủ nghĩa lý tưởng; cho nên rất nhiều người thuộc thế hệ đi trước vô cùng lưu luyến cái cảm giác muôn người như một ấy.
Vòng luân hồi của lịch sử Trung Quốc chính là sự không ngừng kiến tạo rồi lại vỡ vụn của cái tôi tập thể. Khi cái tôi tập thể được kiến tạo, nó sẽ bùng phát nguồn năng lượng mạnh mẽ, ai nấy đều cảm thấy “chúng ta” là một khối, chung một lòng. Khi cái tôi tập thể vỡ vụn hoàn toàn, cái tôi cá nhân mang bộ mặt ác quỷ sẽ hiển hiện, mức độ tương tàn hại lẫn nhau sẽ đạt tới đỉnh điểm. Lúc ấy, mỗi người chỉ lo cho cái tôi nhỏ nhen của chính mình, còn đối với kẻ khác thì hoàn toàn cạn tình tàn nhẫn. Chỉ có “tôi”, còn mọi thứ khác đều là “phi tôi”, đều chẳng đáng để đồng cảm và tôn trọng.
Biện pháp cũ để giải quyết vấn đề này là duy trì sự ổn định, là tiếp tục dựng lên một tâm thức tập thể để trấn áp tâm thức cá nhân; thế nhưng làm như vậy chỉ tạo ra một vòng luân hồi mới mà thôi. Huống hồ, đại thế đã hình thành, dẫu có nỗ lực đến đâu cũng không thể tránh khỏi việc tâm thức tập thể cũ kỹ kia đã vỡ vụn.
Thứ thực sự có thể giải quyết vấn đề trước mắt và chặt đứt vòng luân hồi đáng sợ trong lịch sử Trung Quốc chính là pháp trị và tự do. Pháp trị mang lại quy tắc thực sự, còn tự do cho phép cái tôi cá tính được trỗi dậy. Pháp trị, chứ không phải quyền lực, mới là vũ khí hiệu quả duy nhất để đối phó với một xã hội tương hại lẫn nhau; và điều quan trọng hơn cả là: lương tri chỉ có thể xuất phát từ trái tim của từng cá nhân.
Dư Luận Công Chúng Không Đồng Nghĩa Với Chính Nghĩa
Nhà tâm lý học người Anh Ronald Laing đã sáng tạo ra thuật ngữ “hệ thống tưởng tượng xã hội” (social phantasy system), cũng chính là thứ mà tôi gọi là “tâm thức tập thể”.
Laing nói, người phù hợp với hệ thống tưởng tượng xã hội chính là người được xã hội coi là “bình thường”; kẻ nào đi chệch khỏi hệ thống này sẽ bị xã hội xem như kẻ điên, kẻ mắc bệnh tâm thần.
Sau ngày thành lập nước Trung Hoa mới, hệ thống tưởng tượng xã hội phiên bản chính thống đã phát huy tác dụng thành công, đại chúng quy phục hệ thống này. Thế nhưng hệ thống tưởng tượng ấy lại mang tính phân liệt tinh thần; vì vậy trong thời “Đại cách mạng Văn hóa”, toàn thể dân chúng xét trên tổng thể đã biến thành những kẻ điên, nhưng họ lại coi người bình thường là bệnh nhân tâm thần. Kết quả là, những kẻ được gọi là bình thường trong quần chúng đại chúng lại tạo nên những việc làm phi nhân tính, trong khi Ngộ La Khắc và Trương Chí Tân lại bị coi là những kẻ bệnh hoạn thần kinh.
Ở Trung Quốc đương đại, lại xuất hiện hai phiên bản của hệ thống tưởng tượng xã hội.
Phiên bản chính thống, dưới mắt nhìn của Lý Thừa Bằng, được cấu thành từ ba thế hệ già - trung niên - trẻ như Thân Kỷ Lan, Nghê Bình và thiếu niên năm vạch (cán bộ Đội Thiếu niên Tiền phong), đương nhiên là còn có cả Lôi Phong.
Phiên bản hệ thống tưởng tượng xã hội của dân gian, lại là hình ảnh hệ thống quan tham lưu manh hóa đang vơ vét và bòn rút tài nguyên của toàn xã hội một cách đáng sợ. Hệ thống tưởng tượng này đã chiếm lĩnh dòng chính; hễ xảy ra chuyện gì, dân chúng luôn phản ứng ngay lập tức cho rằng: đây là do hệ thống quyền lực xã hội gây ra.
Sự phân liệt của hai phiên bản này đồng nghĩa với sự phân liệt của các thế lực xã hội; phân liệt càng trầm trọng bao nhiêu thì xã hội lại càng đáng lo ngại bấy nhiêu.
Sự phân liệt này là có thật. Một nữ tiểu thương ở Quảng Châu bị nhân viên trật tự đô thị (thành quản) bóp cổ, trong khi đứa con hơn 1 tuổi của cô đứng gào khóc bên cạnh. Cảnh tượng ấy được ghi hình lại, gây chấn động khắp cõi mạng, và tiếng nói cất lên trên không gian mạng chính là sự giãi bày của hệ thống tưởng tượng phiên bản dân gian. Dư luận một mực cho rằng trật tự đô thị đã tấn công bất chính người nữ tiểu thương. Nhưng đợi đến khi những bức ảnh và video chi tiết hơn được công bố, người ta mới thấy người nữ tiểu thương đến từ Tân Cương cùng chồng của cô mới là bên tấn công trật tự đô thị trước, còn viên trật tự bóp cổ cô lúc ấy đang rơi vào trạng thái cảm xúc mất kiểm soát.
Một câu chuyện khác: tại Trường Sa, một “cô Uông” vì muốn giúp một bà cụ bị thương về nhà nên đã ba lần chặn xe cảnh sát; cảnh đó cũng bị chụp lại, những bức ảnh cho thấy cô bị cảnh sát đánh đập và còng tay. Việc này cũng thổi bùng lên làn sóng chỉ trích áp đảo nhắm vào cảnh sát, và sự ủng hộ tuyệt đối dành cho cô gái. Đây cũng là tiếng nói của hệ thống tưởng tượng xã hội phiên bản dân gian, song các bản tin chi tiết hơn lại chỉ ra rằng tâm lý của cô gái này rõ ràng có vấn đề: Thứ nhất, chứng minh nhân dân của cô hiển thị họ Lý, nhưng cô lại tự xưng mình có tới sáu thân phận; thứ hai, cô có thói quen hễ gặp vấn đề gì là lại đi cầu cứu cảnh sát; thứ ba, chính cô là người đã tấn công viên cảnh sát trước.
Hai câu chuyện này cho thấy hệ thống tưởng tượng xã hội phiên bản dân gian đã gặp vấn đề. Vấn đề của nó là: dân chúng cảm thấy mình ngày càng biến thành “phi nhân” (không phải con người) trước hệ thống quyền lực, thế là họ cũng ác quỷ hóa tất cả những gì được hệ thống quyền lực che chắn, bọc lót; hễ chạm trán những câu chuyện có sự hiện diện của “kẻ mạnh và kẻ yếu”, họ liền nghiêng hẳn về một phía mà miêu tả “kẻ mạnh” thành ác quỷ, từ đó rất dễ phớt lờ sự thật khách quan.
Điển hình như Dược Gia Hâm và Lý Thiên Nhất, hệ thống tưởng tượng xã hội phiên bản dân gian chỉ có thể chấp nhận họ là quỷ dữ, chứ không thể chấp nhận việc coi họ là con người. Kẻ nào nếu dám dùng góc nhìn nhân tính hóa để thấu hiểu họ, hệ thống tưởng tượng dân gian sẽ lập tức xếp kẻ đó vào hàng ngũ kẻ thù. Ví như Giáo sư Lý Mai Cẩn — chuyên gia tâm lý học tội phạm am tường vụ án Dược Gia Hâm — khi đưa ra những phân tích khách quan về Dược Gia Hâm thì đã bị cư dân mạng chửi rủa tơi bời.
Đặc biệt là Lý Thiên Nhất, chuyện anh ta cưỡng dâm tập thể chính cô giáo dạy kèm của mình không thể nào là thật; tin đồn này thoạt đầu do cái mồm bép xép của Tống Tổ Đức tung ra, thế mà sau đó hễ ai nhắc tới chuyện này cũng đều nói như thể đó là sự thật rành rành.
Hệ thống tưởng tượng xã hội phiên bản dân gian phát triển quá mức cũng là do phiên bản chính thống đã đánh mất uy tín công chúng. Những vị chuyên gia lên tiếng nói đỡ cho hệ thống tưởng tượng xã hội chính thống liền bị gọi là “chuyên gia gạch đá” (chuyên gia ném gạch), như Khổng Khánh Đông tướng mạo cũng trở nên quái dị.
Những chuyên gia cất lời cho hệ thống tưởng tượng xã hội phiên bản dân gian thì biến thành “công tri” (trí thức công chúng), kẻ đắc lực nhất thì hóa thành “anh hùng”, chẳng hạn như Lý Thừa Bằng.
Đây là một sự phân liệt nghiêm trọng. Thời kỳ đầu lập quốc, muôn người như một, chỉ có duy nhất một “chúng ta”, mà cái “chúng ta” ấy do chính quyền đại diện và được đại chúng công nhận. Giờ đây, “chúng ta” chí ít đã phân liệt thành hai phần: hệ thống tưởng tượng xã hội chính thống nắm quyền lực, và hệ thống tưởng tượng xã hội dân gian nắm quyền phát ngôn.
Sự phân liệt kiểu Trung Quốc vô cùng đáng sợ, bởi vì hễ xuất hiện hai tiếng nói là sẽ đấu đá nhau một mất một còn. Trong lịch sử chúng ta chưa từng phô diễn tinh thần thỏa hiệp như nước Anh: người Anh có thể xử trảm một vị vua, rồi sau đó rước con rể của vị vua ấy về làm tân vương — điều này dưới mắt chúng ta dường như là chuyện không thể nào tưởng tượng nổi.
Thế nhưng, để tránh khỏi vòng luân hồi lịch sử, chúng ta bắt buộc phải học cách thỏa hiệp. Vì điều đó, chúng ta cần những nhà tư tưởng độc lập và điềm tĩnh, ngặt nỗi ai dám làm vậy thì chẳng khác nào đang bước đi trên lưỡi dao sắc lẹm mà hai bên đều là vực thẳm. Hơn nữa, trước khi bị chính quyền cấm đoán, họ rất có thể đã bị dân chúng phẫn nộ xé xác trước rồi.
Xã hội càng phân liệt, một khi nổ ra xung đột sẽ càng dễ tàn khốc. Lúc ấy, kẻ nào càng thiên chấp cố chấp thì lại càng dễ thành công. Hệ thống tưởng tượng xã hội phiên bản dân gian tuyệt nhiên không đồng nghĩa với công bằng và chính nghĩa; bởi tính chất đậm đặc “không đen thì trắng” của nó, một khi trở thành phiên bản chính thống, nó cũng sẽ tàn khốc và đáng sợ y như vậy.
Đứng trước hệ thống tưởng tượng xã hội dân gian đang dần thành hình ở thời điểm hiện tại, chúng ta cũng cần phải giữ được sự tỉnh táo. Nó đặc biệt được “lòng dân”, cho nên sở hữu sức hấp dẫn mạnh mẽ lôi kéo chúng ta cùng dệt nên hệ thống tưởng tượng ấy.
Xin hãy nhận thức rõ tâm thức tập thể của xứ sở cự anh chúng ta. Đập vỡ được tâm thức tập thể này thì xã hội, văn hóa và đất nước chúng ta mới có thể trở nên trưởng thành hơn. Đặc biệt, đừng nhảy múa phụ họa theo tâm thức tập thể ấy. Không xu nịnh chính quyền là điều rất tốt, nhưng không a dua mị dân cũng quan trọng không kém.
Tỉnh thức với chính trái tim mình, nhìn nhận mọi sự bằng góc độ nhân tính hóa thay vì khoét sâu thêm tính phân liệt bên trong đó — điều này đặc biệt hệ trọng. Bằng không, chúng ta rất có thể sẽ một lần nữa chứng kiến một vòng luân hồi kinh điển của xã hội Trung Quốc.
Nữ quỷ, nữ yêu và đàn ông vô dục
Ai có thể nói cho tôi biết, vì sao khi chuyển thể Họa bì thành phim điện ảnh, người ta lại phải đổi quỷ thành yêu? Vì sao đem Nhiếp Tiểu Thiến dựng thành Thiến nữ u hồn, cũng phải đổi quỷ thành yêu? Vì sao yêu có thể xuất hiện trên màn bạc đại lục, còn quỷ thì không? Vấn đề này đã khiến tôi băn khoăn suốt mấy năm trời.
Một blogger trên Weibo từng đưa ra câu hỏi như vậy.
Cô bạn phóng viên Hứa Đại Manh của tôi đã đưa ra đáp án chính thức: Quả thực có quy định không được phép xuất hiện quỷ. Lời giải thích từ phía chính quyền tôi cũng biết, đó là bởi ở rất nhiều vùng núi xa xôi còn lạc hậu, khép kín, người dân xem xong tác phẩm điện ảnh – truyền hình sẽ ngỡ rằng thực sự có quỷ tồn tại. (Giải thích chính thức là như thế, xin đừng nhắm vào tôi mà ném đá.)
Đáp án này đúng là sự thật, nhưng tôi cảm thấy đó chỉ là bề nổi, còn sự thật sâu xa hơn lại mang tính “vô ly đầu” kiểu Châu Tinh Trì. Tôi đồ rằng, chính những quan chức đặt ra quy định ấy cũng chẳng rõ vì sao mình lại làm vậy, có thể chỉ là một ý nghĩ tùy tiện nảy ra mà thôi. Thế nhưng ý nghĩ ấy lại biến thành một chiếc gông cùm, trói buộc sức sáng tạo của giới điện ảnh – truyền hình đại lục.
Bàn về chủ đề này, một cư dân mạng đã đặt ra một câu hỏi rất thú vị:
Trong Liêu Trai có đủ loại nữ quỷ xinh đẹp, lương thiện, si tình, nhưng duy chỉ không có nữ quỷ ấm áp, rốt cuộc là vì sao? Nhiều hình tượng yêu trong các tác phẩm điện ảnh – truyền hình lại ấm áp, bốc lửa, kiều diễm, so với “con người” trong đó còn tràn trề sức sống hơn, điều này lại là vì đâu?
Về vấn đề này, tôi từng có những suy ngẫm. Trong các ca tham vấn và tại workshop của mình, thông qua việc giải mộng cùng bài tập thực hành “tự ngã gương soi”, tôi đã thu thập được một lượng lớn ý tượng về quỷ, yêu và ma, đồng thời cũng đào sâu suy nghĩ về chúng.
Quỷ, yêu và ma đều sở hữu một số năng lực mà con người không có được, chẳng hạn như thông linh, thần thông; thế nhưng giữa chúng lại có những khác biệt rất vi diệu.
Đặc chất cốt lõi của quỷ là oán khí và sự báo thù. Dù nữ quỷ trong Liêu Trai chí dị hoặc xinh đẹp, hoặc lương thiện, hoặc si tình, hay thậm chí hội tụ cả ba điều đó, nhưng một khi bị phụ bạc, phần lớn họ đều bốc lên oán khí ngút trời. Cuốn theo dòng xoáy oán khí ấy, họ sẽ thực hiện những hành vi mang tính trả thù, hoặc sẽ có những thế lực khác ra tay giúp họ báo thù.
Chẳng hạn như một người bạn của tôi, cô ấy từng nhiều lần trải qua cảnh ngộ thế này: Mở một công ty, sau khi gây dựng chu toàn đâu vào đấy thì giao lại cho người bạn đời nam giới; thế nhưng người đàn ông kia sau khi chiếm được món hời lớn như vậy lại nhất tề đều ngoại tình. Lúc ấy, cô liền phát ra lời nguyền rủa cay độc nhắm vào họ, và điều đáng sợ là, hai lần liên tiếp, cô hễ buông lời nguyền rủa là người đàn ông đó lập tức gặp tai nạn qua đời.
Chuyện này dọa cô ấy sợ khiếp vía. Cô đi tìm mấy thầy đạo sĩ, thầy bói toán này nọ để tìm lời giải, kết quả là họ đều đồng thanh nói rằng: Cô có hai vị hộ pháp theo sát che chở, hễ cô phát ra lời nguyền rủa, họ sẽ giúp cô hoàn thành lời nguyền ấy. Lời giải thích này thực sự dọa cô sợ chết khiếp. Từ đó về sau, dẫu cô vẫn tiếp tục chơi cái trò mở công ty rồi tặng cho đàn ông, và đàn ông cũng vẫn phụ bạc cô như cũ, nhưng cô buộc phải liều mạng kìm nén nỗi oán hận của mình, chỉ sợ lại tạo thêm sát nghiệp.
Bạn xem, đây quả thực là Liêu Trai thời hiện đại. Gặp phải người phụ nữ như thế, đàn ông chớ có tùy tiện chiếm tiện nghi, bằng không một khi bị cô ấy ôm mối oán hận thì chẳng phải chuyện đùa đâu.
Oán và hận là đặc chất của quỷ; vậy còn yêu là gì? Đặc chất của yêu là muốn làm gì thì làm (vi sở dục vi), còn đặc chất của nữ yêu là vì ân oán tình thù mà có thể không tiếc bất cứ giá nào, chọc thủng trời xanh cũng chẳng sợ. Ví như Bạch nương tử trong Bạch Xà truyện, nàng vốn mang đủ mọi phẩm chất tốt đẹp của người phụ nữ Trung Quốc truyền thống: ôn hòa, lương thiện, cung kính, tiết kiệm, nhún nhường; thế nhưng nàng bị Pháp Hải quy là yêu, rồi tình duyên bị ngăn trở, và đến lúc này nàng chẳng tiếc dâng nước dìm ngập Kim Sơn, bộc lộ rõ yêu tính.
Nuôi dưỡng oán hận là nữ quỷ; vì ân oán tình thù mà dám chọc thủng trời xanh là nữ yêu. Vì sao lại như vậy? Nếu xem đây là những hình tượng kinh điển của phụ nữ Trung Quốc, vậy hình tượng kinh điển của đàn ông Trung Quốc là gì?
Trong tiểu thuyết và các câu chuyện thần thoại truyền thuyết, hình tượng kinh điển của người đàn ông Trung Quốc là thư sinh yếu đuối và hòa thượng. Hòa thượng đôi khi cũng yếu đuối, như Đường Tăng; đôi khi lại là bậc thánh tăng sở hữu bản lĩnh phi phàm.
Theo sự lý giải của tôi, đàn ông cấu thành nên hệ thống quyền lực của xã hội Trung Quốc, mà thiết kế của hệ thống này lại nhằm mục đích diệt dục, vì thế gương mặt người đàn ông trở nên mờ nhạt, đánh mất đi sức sống vốn có.
Phụ nữ bị gạt ra ngoài hệ thống quyền lực, nhưng nhờ thế họ lại giữ được sức sống; song sức sống ấy lại thiếu đi tính người, thế là hóa thành yêu; còn nếu bị tổn thương, họ sinh lòng oán hận, thế là hóa thành quỷ.
Thư sinh với nữ quỷ, hòa thượng cùng yêu nữ đã tạo nên những mô-típ kinh điển trong tiểu thuyết Trung Quốc.
Yêu nữ kết đôi với đàn ông vô dục, sự phối hợp này đâu đâu cũng thấy. Như Đại thoại Tây du, Tây du hàng ma thiên của Châu Tinh Trì; như Quách Tĩnh với Hoàng Dung, Ân Tố Tố với Trương Thúy Sơn của Kim Dung; như anh em nhà Tôn Thiếu An trong Thế giới bình phàm; như Bạch nương tử với Hứa Tiên.
Đàn ông bị hệ thống quyền lực mang tính cấm đoán tuyệt đối đè nén đến mức chẳng thể cựa quậy, rốt cuộc trở nên thụ động; trong khi phụ nữ lại có thể hoàn toàn chủ động.
Thế giới bình phàm là một sự ý dâm: chàng trai nghèo hèn được con gái nhà quyền quý đem lòng cảm mến, nhưng mối tình ấy lại không thành, từ đó làm nổi bật sự trong sạch của anh em họ Tôn, đồng thời cũng cho thấy trong thâm tâm tác giả tự cảm thấy chuyện này có phần hơi ngượng ngùng. Trong tình yêu của Thiếu Bình, là Điền Hiểu Hà chủ động. Tình yêu của Thiếu An cũng là Nhuận Diệp và Tú Liên chủ động. Thiếu An không thể theo đuổi Nhuận Diệp, rõ ràng là do hệ thống quyền lực và gia tộc đã đè nén anh lại.
Hơn nữa, đàn ông đều mang tâm thức chủ nghĩa tập thể, đều phải đặt tập thể như gia tộc lên hàng đầu chứ không thể đoái hoài tới dục cầu của bản thân. Họ muốn làm thánh nhân, cho nên dục cầu của họ buộc phải mượn người phụ nữ nói ra. Dục cầu của Tôn Thiếu An chính là được thốt lên qua miệng người vợ Tú Liên, chẳng hạn như chuyện phân gia chia của, hay như việc bản thân muốn ăn nhiều hơn một chút thay vì nhường cho bà nội và em gái trước.
Nhìn nhận theo cách này, người đàn ông thánh nhân vô dục tìm đến yêu nữ sẽ được hưởng cái lợi kép: Yêu nữ có thể đứng ra đòi hỏi dục vọng, vì thế mọi cái “xấu” trong mối quan hệ đều trút hết lên đầu yêu nữ, còn người đàn ông thì có thể tiếp tục sắm vai người tốt.
Có thể nói, một người đàn ông bình thường đều đã bị hệ thống quyền lực thâu tóm; tư duy của anh ta buộc phải mang tính chủ nghĩa tập thể, trước hết phải đặt lợi ích tập thể lên vị trí tối thượng. Ít nhất là về mặt lời ăn tiếng nói, anh ta buộc phải làm như vậy.
Ngược lại, phụ nữ phần lớn tản mát ở bên ngoài hệ thống quyền lực, đặc biệt là trước khi lập gia đình, họ ở trong trạng thái vô cùng bất an, buộc phải đặt dục cầu của chính mình vào vị trí trọng yếu. Thế nhưng dưới nền văn hóa chủ nghĩa tập thể của Trung Quốc, dục vọng lại luôn gắn liền với sự tự luyến toàn năng; và người phụ nữ như thế, chính là yêu.
Những logic hồ dán của gia đình Trung Quốc
Thanh quan nan đoán gia vụ sự (Quan thanh liêm cũng khó phán xử việc nhà).
Câu ngạn ngữ này là của người Trung Quốc, và đây cũng là một thứ chân lý kiểu Trung Quốc. Nó được gắn chặt với một câu nói khác: “Nan đắc hồ đồ” (Hồ đồ mới là khó).
Triết lý hồ đồ không chỉ thịnh hành trong một xã hội Trung Quốc tàn khốc như một thuật sinh tồn, mà còn thịnh hành trong một gia đình Trung Quốc cũng tàn khốc không kém. Vì thế, gia đình Trung Quốc rất dễ giống như một nồi cháo đặc, quấy mãi cũng không thể rạch ròi.
Thế nhưng, tâm lý học có lẽ có thể mổ xẻ phân minh việc nhà của người Trung Quốc.
Hãy bàn về những “logic hồ dán” thường thấy trong các gia đình Trung Quốc. Giờ đây ta đã hiểu, chúng đa phần bắt nguồn từ tâm lý của thời kỳ sơ sinh: ta – người bất phân (tức đứa trẻ sơ sinh và người mẹ là một thể thống nhất), toàn bộ thế giới đều quyện đặc thành một khối, và “cái tôi” sơ sinh là trung tâm tuyệt đối của thế giới, vạn sự vạn vật đều phải xoay quanh tôi mà vận hành; những gì thuận theo ý nghĩ của tôi thì là thiện, còn không thuận theo thì là mang ác ý.
Logic hồ dán thứ nhất: Việc của tôi cũng là việc của bạn, việc của bạn cũng là việc của tôi; việc của tôi là việc của tất cả mọi người, và việc của tất cả mọi người đều là việc của tôi.
Giả sử trong nhà có 5 người A, B, C, D, E, và bạn là A. Chiểu theo logic này, bạn sẽ đi can thiệp vào chuyện của 4 người B, C, D, E, và ngược lại B, C, D, E cũng có quyền can thiệp vào chuyện của bạn.
Hơn nữa, bạn hiểu rất sâu sắc rằng thay đổi bản thân khó đến nhường nào, vì thế bạn rất dễ nhọc lòng đi thay đổi người khác (B, C, D, E).
Điều này rất dễ hiểu.
Logic hồ dán thứ hai: Mọi mối quan hệ đều là việc của tôi.
Giả sử trong nhà có 5 người A, B, C, D, E, và bạn là A. Lối sống có ranh giới là bạn chỉ xử lý các mối quan hệ AB, AC, AD, AE; còn mối quan hệ giữa B, C, D, E với nhau, trừ phi có trường hợp vô cùng đặc biệt, bằng không bạn sẽ không can dự. Thế nhưng logic hồ dán lại là: B, C, D, E đối đãi với nhau ra sao là chuyện của tôi, mà tôi đối đãi với ai cũng là chuyện của từng người trong số họ; cái tốt của tôi, nỗi oan khuất của tôi họ đều phải biết, và đều phải đứng ra nói đỡ cho tôi...
Logic hồ dán thứ hai này chính là mấu chốt khiến gia đình Trung Quốc luôn là một nồi cháo nhão nhoét quấy không thông, và ai càng muốn quản việc thì người đó càng mệt đến kiệt sức.
Hơn nữa, cái người ham quản chuyện nhất ấy thường lại chính là căn nguyên của mọi xung đột trong gia đình, bởi chính người đó đã khuấy đảo vào từng mối quan hệ, từ đó tạo ra hàng đống vấn đề.
Làm sáng tỏ điểm này là vô cùng quan trọng. Tôi cũng đặc biệt muốn nhắn nhủ những người yêu thích tâm lý học: Đừng đem những đạo lý mà bạn cho là đúng đắn đi can thiệp quá sâu vào người khác, đặc biệt là can thiệp vào mối quan hệ giữa những người khác với nhau.
Hãy giữ vững ranh giới.
Logic hồ dán thứ ba: Giữa tôi và bạn là trong suốt.
Nghĩa là: Bạn không cần nói tôi cũng biết tỏng bạn ra sao, và tôi không cần nói bạn cũng phải tự biết tôi thế nào.
Đây chính là khát khao của đứa trẻ sơ sinh đối với một tình mẫu tử hoàn hảo. Đứa bé chưa biết nói, người mẹ lý tưởng ắt hẳn phải là người chẳng cần đợi con mở miệng cũng biết tỏng con cần gì. Người trưởng thành nếu mang theo logic này thì vô cùng đáng sợ, nó sẽ tạo ra vô số sự hiểu lầm.
Hơn nữa, logic này luôn đi kèm với sự cố chấp, hoang tưởng: “Lẽ nào anh/cô lại không hiểu tôi nghĩ gì?! Anh/cô chính là cái hạng người như thế, tôi còn lạ gì nữa!”
Trong gia đình Trung Quốc, ranh giới sở dĩ khó thiết lập là bởi đối với những người trưởng thành mang tâm lý phát triển phổ biến ở mức trẻ sơ sinh, ranh giới và sự rõ ràng đồng nghĩa với việc cảm giác thân mật hoàn toàn biến mất.
Có một thân chủ từng nói rằng: “Ranh giới tương đương với cái chết”. Ý của cô ấy là: Xác lập ranh giới đồng nghĩa với việc bị vứt bỏ.
Dĩ nhiên, đối với rất nhiều người, việc không thể thiết lập ranh giới là do toàn bộ nền văn hóa vốn dĩ thiếu đi ý thức ranh giới. Một khi ý thức ranh giới được hình thành, họ có thể xác lập giới hạn mà không còn cảm thấy bản thân bị ruồng bỏ nữa.
Đối với những “đứa trẻ sơ sinh mang thân xác người lớn” (cự anh), ranh giới còn đồng nghĩa với: “Phi ngã tộc loại, kỳ tâm tất dị” (Không cùng giống loài ta, ắt có lòng dạ khác). Tức là: người thuộc về phe tôi là bạn, kẻ không thuộc về tôi đều là thù. Chẳng hạn như chuyện ly hôn kiểu Trung Quốc, hễ bỏ nhau là rất dễ trở thành kẻ thù. Giống như thời kỳ Bách gia tranh minh, hầu như giải pháp mà mọi học phái đưa ra đều là “đại nhất thống”, và đều nhấn mạnh vào việc thống nhất tư tưởng. Không thống nhất tư tưởng thì sẽ đấu tranh một mất một còn.
Logic hồ dán thứ tư: Các người = Bạn; Chúng tôi = Tôi.
Nghĩa là: Bất kỳ ai trong gia đình/gia tộc của bạn làm tôi phật ý, tôi đều sẽ tìm bạn để gây chuyện; bạn làm tôi bực bội, tôi sẽ tìm cả nhà/cả họ nhà bạn để gây sự. Và ngược lại cũng vậy.
Ví dụ: Xung đột với mẹ chồng, bạn trút giận lên chồng; mâu thuẫn với chồng, bạn kiếm chuyện với cả nhà chồng; bất hòa với em gái chồng, bạn lại đè đầu chồng ra tính sổ.
Cần phải nói rõ ở điểm này: Dĩ nhiên, mấu chốt của mối quan hệ mẹ chồng – nàng dâu chính là người đàn ông đó; nếu anh ta có thể đứng ra điều đình thì mọi chuyện sẽ dễ giải quyết nhất. Thế nhưng, điều đó không đồng nghĩa với việc hễ có vấn đề với bất kỳ ai trong gia tộc của anh ta, bạn cũng bắt người đàn ông này phải đứng ra gánh vác. Đó là một lối tư duy nông cạn, giản đơn.
Hơn nữa, đàn ông chính vì muôn vàn nguyên nhân tâm lý mà luôn là người dễ lùi bước, thoái lui nhất. Lúc này, với tư cách là người vợ, xử lý vấn đề một cách có trí tuệ là điều vô cùng quan trọng, chứ không phải hễ cứ nổ ra xung đột là lôi chồng ra trút, đem mọi uất ức mà gia tộc họ gây ra cho bạn dồn hết lên vai người đàn ông này.
Đây thực chất là một thứ tâm lý sơ sinh vô cùng ấu trĩ. Căn nguyên là bản thân chưa phân hóa rạch ròi giữa “tôi” và “bạn”, càng chưa phân hóa nổi sự khác biệt giữa “tôi” với “chúng tôi”, giữa “bạn” với “các bạn”.
Logic hồ dán thứ năm: Mọi chuyện đều dính kết thành một khối tổng thể, không có thực tại trước mắt (không có hiện tại).
Vô số người phát hiện ra rằng, bạn đời (đặc biệt là phụ nữ) chẳng bao giờ nhớ được cái tốt của bạn, nhưng cái xấu của bạn thì họ khắc cốt ghi tâm muôn đời. Đã vậy, họ còn nhào nặn tất cả những điểm xấu ấy thành một khối hoàn chỉnh, rồi vác cả cái khối hỗn độn đó áp đặt vào khoảnh khắc thực tại. Kết quả là, ngay tại giây phút này bạn có làm tốt đến mấy thì cũng vĩnh viễn chỉ là muối bỏ biển.
Thông thường, khối u uất thống khổ này đều quy tụ về một cảm giác duy nhất: “Anh có lỗi với tôi!”
Tâm lý này bắt nguồn từ thể cộng sinh mẹ – con (trẻ sơ sinh dưới 6 tháng tuổi), nơi người mẹ đương nhiên phải chịu toàn bộ trách nhiệm cho một sinh linh hoàn toàn bất lực nhưng lại luôn ảo tưởng bản thân là toàn năng.
Kiểu tâm lý này rất phổ biến ở phụ nữ, có thể do: Thứ nhất, vết thương tâm lý của phụ nữ Trung Quốc nhìn chung nặng nề hơn nam giới; thứ hai, văn hóa của chúng ta luôn nhấn mạnh việc đàn ông phải chịu trách nhiệm cho phụ nữ, đặc biệt là con trai phải chịu trách nhiệm đối với người mẹ.
Chính vì thứ tâm lý này mà cuộc đời của quá nhiều người phụ nữ Trung Quốc có thể đúc kết lại bằng một câu: “Bản tính cô ấy rất tốt, chỉ có điều là hận chồng.”
Phải thừa nhận rằng, năm logic hồ dán này xuất hiện nhiều hơn ở nữ giới. Đặc biệt khi người phụ nữ ấy lại đóng vai trò là gia trưởng trong nhà, điều đó sẽ tạo ra một sự va đập, xung kích rất lớn lên toàn bộ gia đình.
Đàn ông, đặc biệt là đàn ông Trung Quốc, cũng có những logic hồ dán này, đơn cử như những người đàn ông có khả năng kiểm soát cảm xúc kém.
Tuy nhiên, logic hồ dán phổ biến nhất ở đàn ông Trung Quốc khiến tôi ấn tượng sâu sắc chỉ có một câu: “Tôi chẳng có vấn đề gì cả.”
Một số cư dân mạng đã bổ sung thêm những logic hồ dán của nam giới:
1. Tôi không có vấn đề gì, chính cô mới có vấn đề.
2. Mẹ tôi không có vấn đề gì hết.
3. Cô biết cái gì? Có nói thì cô cũng chẳng hiểu nổi đâu.
4. Tiền nong tôi đưa hết cho cô rồi, cô còn muốn cái gì nữa?
5. Miễn đừng làm phiền đến tôi, cô thích làm gì thì làm.
6. Tôi chỉ muốn yên ổn/bình yên.
Những logic thường thấy này của đàn ông có thể quy về một điểm cốt lõi: Đừng làm phiền tôi; tôi trầm ổn thế này, tôi lo cho gia đình thế này, nên tôi không có vấn đề gì cả; cảm xúc của cô bùng nổ ầm ĩ thế kia, đương nhiên vấn đề nằm ở cô rồi.
Phụ nữ rất dễ sống trong cảm xúc, và phụ nữ Trung Quốc lại dễ nảy sinh suy nghĩ rằng người chồng phải chịu trách nhiệm cho cảm xúc của mình, từ đó mà sinh sôi ra những logic hồ dán vô cùng phức tạp. Trong khi đó, nam giới lại quen dùng chiêu thức “cách ly/cô lập cảm xúc” để đối phó với những luồng cảm xúc đậm đặc cùng mớ logic hồ dán bùng nổ từ phía nữ giới.
Bởi vậy, trong phim truyền hình Trung Quốc rất dễ bắt gặp cảnh tượng này: Đại chiến mẹ chồng – nàng dâu nổ ra, người con trai đương nhiên là tâm điểm hứng chịu, còn người bố chồng thì hoàn toàn vắng bóng. Nhưng rốt cuộc, nhân vật hạt nhân sâu xa của cuộc chiến mẹ chồng – nàng dâu ấy, lại chính là người bố chồng.
Bổ sung thêm một logic hồ dán: Giao tiếp vòng vo (Bắc cầu truyền ngôn). Logic này cả nam lẫn nữ đều rất hay mắc phải.
A bất mãn với B nhưng không nói thẳng với B, mà lại đi nói với C để C nói lại với B; đôi khi thậm chí còn chẳng nói thẳng với C, mà chỉ ngấm ngầm ám chỉ để C đi truyền lời cho B.
Hiện tượng này xuất phát từ nhiều nguyên nhân:
1. Độ căng thẳng (áp lực) trong mối quan hệ giữa A và B quá lớn. Với tư cách là những "đứa trẻ khổng lồ" (cự anh), A thường đặt lên B những ảo tưởng và đòi hỏi phi thực tế; đã vậy "nếu mày không nghe tao thì tao chỉ hận không thể cho mày chết đi", cho nên hễ đối thoại trực diện là rất dễ nổ ra xung đột nảy lửa.
2. Khi A phải nói chuyện trực tiếp, họ dễ nảy sinh cảm giác bất lực, vô năng.
3. Vì không phải do chính miệng mình nói thẳng ra, nên bản thân không cần phải chịu bất kỳ trách nhiệm nào.
Bình luận