CHƯƠNG BỐN: Đi tìm ý nghĩa
- Minh Đào
- 3 giờ trước
- 46 phút đọc
Cảnh ngộ của mỗi con người là lời giải bằng chữ tượng hình cho chính những vấn nạn mà người ấy trăn trở đặt ra. Người ta sống cảnh ngộ ấy như một cuộc đời trước khi thấu triệt nó như một chân lý.
RALPH WALDO EMERSON
1. CHỨC NĂNG CỦA BIỂU TƯỢNG
Một trong những triệu chứng tha hóa của thời hiện đại là cảm giác trống rỗng về ý nghĩa đang lan rộng khắp nơi. Nhiều người tìm đến liệu pháp tâm lý không phải vì một chứng rối loạn bệnh lý rõ ràng nào, mà bởi họ cảm thấy cuộc đời mình hoàn toàn vô nghĩa. Một nhà trị liệu tâm lý có chiều sâu khó lòng tránh khỏi nhận định rằng: những con người này không chỉ đang chịu đựng hậu quả đổ vỡ từ những trải nghiệm tuổi thơ không như ý, mà còn đang trải qua cơn chấn động bắt nguồn từ một cuộc chuyển giao văn hóa vĩ đại. Chúng ta dường như đang đi qua một cuộc tái định hướng tâm lý tập thể với quy mô tương đương với thời kỳ Kitô giáo trỗi dậy từ đống tro tàn của Đế chế La Mã. Song hành cùng sự suy tàn của tôn giáo truyền thống là những dấu hiệu ngày một rõ nét về sự mất phương hướng tâm linh trên diện rộng. Chúng ta đã mất đi điểm tựa định vị. Mối tương quan giữa ta với cuộc đời trở nên mơ hồ, bất định. Hệ thống biểu tượng vĩ đại của Kitô giáo có tổ chức dường như không còn đủ sức đòi hỏi sự dấn thân trọn vẹn của con người hay đáp ứng những nhu cầu rốt ráo nhất của họ. Kết quả là một cảm giác trống rỗng, vô nghĩa và sự tha hóa khỏi dòng chảy sự sống bao trùm lên tất cả. Liệu một biểu tượng tôn giáo tập thể mới có xuất hiện hay không, điều đó còn phải chờ thời gian trả lời. Còn trong hiện tại, những ai thức nhận được vấn đề này đều buộc phải tự mình bước vào hành trình riêng tư nhằm tìm kiếm một cuộc đời ý nghĩa. Tiến trình cá nhân hóa trở thành lẽ sống của họ.
Tôi dùng từ “ý nghĩa” ở đây theo một hàm nghĩa đặc thù. Nhìn chung, ta có thể phân biệt hai cách dùng từ này. Phổ biến nhất, từ này chỉ tri thức trừu tượng, khách quan được truyền tải qua một dấu hiệu hoặc một hình thức biểu diễn. Chẳng hạn, từ “con ngựa” có nghĩa là một loài động vật bốn chân cụ thể; hay “đèn giao thông màu đỏ” có nghĩa là dừng lại. Đó là những ý nghĩa trừu tượng, mang tính khách quan được chuyển tải qua các dấu hiệu. Tuy nhiên, còn có một dạng ý nghĩa khác: ý nghĩa chủ quan và sống động. Nó không quy chiếu về tri thức trừu tượng, mà là một trạng thái tâm lý có khả năng khẳng định và tiếp thêm sinh lực cho sự sống. Chính theo nghĩa này mà chúng ta dùng từ khi mô tả một trải nghiệm làm rung động tâm can là “đầy ý nghĩa”. Một trải nghiệm như vậy không truyền đạt ý nghĩa trừu tượng – ít nhất là không phải trước hết – mà truyền tải một ý nghĩa sống động, thấm đẫm cảm xúc, gắn kết chúng ta một cách hữu cơ với toàn thể sự sống. Những giấc mơ, thần thoại và các tác phẩm nghệ thuật có thể truyền đạt cảm thức về ý nghĩa chủ quan, sống động này – điều hoàn toàn khác biệt với ý nghĩa khách quan, trừu tượng. Chính vì không phân biệt được hai cách dùng này mà người ta thường buông ra câu hỏi không lời giải: “Ý nghĩa của cuộc đời là gì?”. Câu hỏi không thể có lời đáp dưới hình thức ấy vì nó đã đánh đồng ý nghĩa khách quan, trừu tượng với ý nghĩa chủ quan, sống động. Nếu ta diễn đạt lại câu hỏi theo hướng chủ quan hơn: “Ý nghĩa của cuộc đời tôi là gì?”, thì cánh cửa mở ra câu trả lời mới bắt đầu xuất hiện.
Vấn đề ý nghĩa cuộc sống gắn liền mật thiết với ý thức về căn tính cá nhân. Câu hỏi “Ý nghĩa cuộc đời tôi là gì?” gần như đồng nhất với câu hỏi “Tôi là ai?”. Rõ ràng, đây là một câu hỏi mang tính chủ quan sâu sắc. Một câu trả lời thỏa đáng chỉ có thể cất lên từ nội tâm. Do đó ta có thể khẳng định: Ý nghĩa được tìm thấy trong tính chủ quan. Nhưng ai là người coi trọng tính chủ quan? Khi dùng từ “chủ quan”, chúng ta thường nói hoặc ngầm hiểu là “chỉ là chủ quan thôi”, như thể yếu tố chủ quan chẳng có chút giá trị hay hệ quả nào. Kể từ khi tôn giáo suy tàn, chúng ta không còn một sự thừa nhận tập thể đầy đủ nào dành cho đời sống nội tâm, hướng nội và mang tính chủ quan. Mọi xu hướng đều đang chảy theo chiều ngược lại. Đủ loại áp lực của xã hội phương Tây đều ngấm ngầm thúc ép cá nhân phải tìm kiếm ý nghĩa cuộc đời ở những điều ngoại tại và mang tính khách quan. Cho dù cứu cánh là nhà nước, tập đoàn doanh nghiệp, đời sống vật chất tiện nghi, hay việc tích lũy tri thức khoa học khách quan, thì trong mọi trường hợp, ý nghĩa nhân sinh đều đang bị truy tìm ở nơi nó vốn không hề tồn tại – ở thế giới bên ngoài, ở tính khách quan. Chiều sâu chủ quan độc nhất vô nhị, không thể sao chép của cá nhân – vốn là cội nguồn đích thực của mọi ý nghĩa nhân sinh và hoàn toàn không thể tiếp cận bằng phương pháp thống kê, khách quan – lại chính là “hòn đá bị những kẻ thợ xây” của thế giới quan đương đại khinh rẻ và vứt bỏ.
Ngay cả phần lớn các bác sĩ tâm thần – những người lẽ ra phải hiểu rõ hơn ai hết – cũng góp phần củng cố thái độ phổ biến coi nhẹ tính chủ quan này. Cách đây vài năm, tôi có trình bày một bài tham luận về chức năng của các biểu tượng trước một hội đồng các nhà tâm thần học. Sau đó, người phản biện đã đưa ra nhận xét chỉ trích. Một trong những phản bác chính của ông ta là tôi đã mô tả biểu tượng như thể nó là một thực thể có thật, gần như đang sống – điều mà quả thực tôi đã làm. Lời chỉ trích này phản ánh thái độ chung đối với tâm thức và tính chủ quan: người ta cho rằng tâm thức không có thực tại tự thân. Các hình ảnh và biểu tượng chủ quan bị coi chẳng qua chỉ là sự phản chiếu của môi trường sống và các mối quan hệ liên cá nhân, hoặc chỉ là sự thỏa mãn ước muốn mang tính bản năng. Harry Stack Sullivan thậm chí còn đưa ra một tuyên bố cực đoan rằng ý niệm về một nhân cách cá nhân độc nhất chỉ là một ảo tưởng! Một nhà tâm thần học nổi tiếng như vậy đã vô tình trở thành một người cổ xúy cho tâm lý học tập thể mang tính bầy đàn.
Nhu cầu cấp bách nhất của con người hiện đại là khám phá ra thực tại và giá trị của thế giới nội tâm chủ quan, khám phá lại đời sống biểu tượng. Đúng như Carl Jung từng chia sẻ:
Con người đang khao khát một đời sống mang tính biểu tượng... Nhưng chúng ta lại chẳng có đời sống biểu tượng nào cả... Liệu bạn có một góc nhỏ nào trong nhà để thực hành các nghi lễ thiêng liêng như người ta thường thấy ở Ấn Độ không? Ngay cả những ngôi nhà đơn sơ nhất ở đó ít ra cũng có một góc rèm che, nơi các thành viên có thể sống một đời sống biểu tượng, nơi họ nguyện ước hay tĩnh tâm thiền định. Chúng ta thì không có... Ta không có thời gian, không có không gian... Chỉ có đời sống biểu tượng mới diễn đạt được nhu cầu của tâm hồn – nhu cầu thường nhật của tâm hồn, hãy nhớ lấy! Và chính vì con người không có điều đó, họ không bao giờ thoát ra khỏi chiếc cối xay này – một cuộc đời nghiệt ngã, tầm thường, nghiền nát con người, nơi họ bị quy giản thành “chẳng qua chỉ là”.¹
Con người cần một thế giới của các biểu tượng cũng như cần một thế giới của các dấu hiệu. Cả dấu hiệu lẫn biểu tượng đều cần thiết, nhưng tuyệt đối không được đánh đồng chúng với nhau. Dấu hiệu là một ký hiệu mang ý nghĩa đại diện cho một thực thể đã biết. Theo định nghĩa này, ngôn ngữ là một hệ thống các dấu hiệu chứ không phải biểu tượng. Ngược lại, biểu tượng là một hình ảnh hoặc sự biểu trưng trỏ tới một điều gì đó về căn bản là chưa biết – một điều huyền nhiệm. Dấu hiệu truyền đạt ý nghĩa trừu tượng, khách quan; còn biểu tượng truyền tải ý nghĩa sống động, chủ quan. Biểu tượng sở hữu một động lực chủ quan có sức hút và sự mê hoặc mãnh liệt lên cá nhân. Nó là một thực thể sống động, hữu cơ, đóng vai trò giải phóng và chuyển hóa năng lượng tâm thần. Do đó, ta có thể nói: dấu hiệu thì chết, nhưng biểu tượng thì sống.
Biểu tượng là sản phẩm tự phát sinh từ tâm thức nguyên mẫu. Người ta không thể tự chế tạo ra biểu tượng, người ta chỉ có thể khám phá ra nó. Biểu tượng là những vật mang chở năng lượng tâm thần. Đó là lý do vì sao coi chúng là những thực thể sống động là hoàn toàn xác đáng. Dù ở tầng mức ý thức hay vô thức, chúng truyền sang Bản ngã nguồn năng lượng sống giúp nâng đỡ, dẫn dắt và thúc đẩy cá nhân. Tâm thức nguyên mẫu liên tục tạo ra một dòng chảy hình ảnh biểu tượng sống động. Thông thường, dòng chảy này không được ý thức nhận biết, ngoại trừ qua những giấc mơ hoặc những mộng tưởng ban ngày khi sự tập trung của ý thức giảm sút. Tuy nhiên, có cơ sở để tin rằng ngay cả trong trạng thái tỉnh thức hoàn toàn, dòng chảy biểu tượng chan chứa năng lượng hiệu nghiệm này vẫn tiếp tục tuôn trào bên ngoài tầm chú ý của Bản ngã. Các biểu tượng ngấm vào Bản ngã, khiến Bản ngã đồng hóa với chúng và hành động bộc phát theo chúng trong vô thức; hoặc chúng tràn ra môi trường bên ngoài thông qua cơ chế phóng chiếu, khiến cá nhân trở nên mê đắm và dính mắc vào các đối tượng, hoạt động ngoại giới.
2. NGỤY BIỆN CỤ THỂ HÓA VÀ NGỤY BIỆN QUY GIẢN
Mối tương quan giữa Bản ngã và biểu tượng là một yếu tố vô cùng trọng yếu. Nhìn chung, có ba mô thức tương quan khả dĩ giữa Bản ngã và biểu tượng – hay nói cách khác, giữa Bản ngã và tâm thức nguyên mẫu:
Bản ngã đồng hóa với biểu tượng: Trong trường hợp này, hình ảnh biểu tượng sẽ được sống một cách cụ thể hóa ngoài đời thực. Bản ngã và tâm thức nguyên mẫu nhập làm một.
Bản ngã tha hóa khỏi biểu tượng: Dù đời sống biểu tượng không thể bị tiêu diệt, nhưng trong trường hợp này, nó sẽ vận hành theo một phương thức thoái hóa bên ngoài ý thức. Biểu tượng bị giáng cấp xuống thành một dấu hiệu tầm thường. Những thôi thúc huyền nhiệm của nó chỉ được hiểu qua những yếu tố trừu tượng, sơ đẳng.
Mô thức thứ ba – trạng thái đáng khao khát nhất: Bản ngã tách bạch rõ ràng khỏi tâm thức nguyên mẫu, nhưng đồng thời luôn rộng mở và tiếp nhận tác động từ các hình ảnh biểu tượng. Một cuộc đối thoại có ý thức giữa Bản ngã và các biểu tượng mới trỗi dậy trở nên khả thi. Khi ấy, biểu tượng có thể thực hiện trọn vẹn chức năng giải phóng và chuyển hóa năng lượng tâm thần với sự thấu hiểu trọn vẹn của ý thức.
Những mối quan hệ khác nhau này dẫn tới hai dạng sai lầm mà tôi gọi là ngụy biện cụ thể hóa và ngụy biện quy giản.
Ở ngụy biện cụ thể hóa – dạng thức nguyên thủy hơn trong cả hai – cá nhân không có khả năng phân biệt giữa các biểu tượng của tâm thức nguyên mẫu với thực tại vật chất bên ngoài. Những hình ảnh biểu tượng nội tâm được trải nghiệm như thể chúng là những sự thật vật lý ngoài đời. Ví dụ điển hình cho ngụy biện này là niềm tin vạn vật hữu linh của người nguyên thủy, ảo giác và hoang tưởng của người loạn thần, cùng đủ mọi hình thức mê tín dị đoan. Sự hòa lẫn nhập nhằng giữa thực tại tâm thần và thực tại vật lý như thuật giả kim, chiêm tinh học, và vô số các giáo phái chữa lành thời nay đều thuộc về danh mục này. Sai lầm tương tự cũng xuất hiện ở những tín đồ tôn giáo ngộ nhận các hình ảnh biểu tượng tôn giáo là những sự kiện vật chất có thực, và lầm tưởng niềm tin mang tính giáo điều, cục bộ của mình là chân lý tuyệt đối của vũ trụ. Chúng ta luôn có nguy cơ sa vào ngụy biện cụ thể hóa mỗi khi toan tính áp dụng một hình ảnh biểu tượng lên các sự kiện vật lý bên ngoài nhằm thao túng chúng phục vụ cho lợi ích vị kỷ của mình. Biểu tượng chỉ có tác dụng chân chính và hợp thức khi chúng biến đổi trạng thái tâm thức hoặc thái độ ý thức của ta. Tác động của chúng sẽ trở nên phi pháp và nguy hiểm khi bị đem ra áp dụng một cách ma thuật lên thực tại vật chất.
Ngụy biện quy giản lại phạm phải sai lầm ngược lại. Ở đây, ý nghĩa sâu xa của biểu tượng bị bỏ lỡ do ngộ nhận nó chỉ là một dấu hiệu tầm thường đại diện cho một nội dung đã biết nào đó. Ngụy biện quy giản bắt nguồn từ thái độ duy lý mù quáng – vốn tự cho rằng mình có thể nhìn thấu đằng sau các biểu tượng để thấy được ý nghĩa “thực sự” của chúng. Cách tiếp cận này quy giản toàn bộ hình ảnh biểu tượng về các yếu tố sơ đẳng, đã biết. Nó hoạt động dựa trên giả định rằng chẳng có điều huyền nhiệm thực sự nào tồn tại, không có bất kỳ điều chưa biết cốt lõi nào vượt quá khả năng thấu triệt của Bản ngã. Do đó, dưới cái nhìn này, không hề có biểu tượng đích thực, mà chỉ có các dấu hiệu. Đối với những người theo khuynh hướng này, biểu tượng tôn giáo chẳng qua là bằng chứng của sự ngu dốt và mê tín thời nguyên thủy. Ngụy biện quy giản cũng là căn bệnh chung của các nhà lý thuyết tâm lý học coi biểu tượng chẳng qua là sự vận hành tiền-logic, thô sơ của một Bản ngã cổ xưa. Chúng ta rơi vào sai lầm này bất cứ khi nào ta đối xử với các phản ứng và hình ảnh chủ quan nội tâm bằng phương pháp trừu tượng, thống kê vốn chỉ phù hợp với khoa học tự nhiên và thực tại vật chất. Sai lầm này đảo ngược lại sai lầm trước đó: ở sai lầm trước, hình ảnh biểu tượng chủ quan bị dùng để thao túng các sự kiện vật lý, gây bạo lực lên giới vật chất; còn ở đây, thái độ khách quan, trừu tượng dùng để hiểu thế giới bên ngoài lại bị áp đặt lên tâm thức vô thức nhằm thao túng nó. Thái độ này gây bạo lực và chà đạp lên thực tại tự chủ của tâm thức.
Sự xung đột giữa ngụy biện cụ thể hóa và ngụy biện quy giản chính là tâm điểm của sự giằng co đương đại giữa cái nhìn tôn giáo truyền thống về con người và cái gọi là thế giới quan khoa học hiện đại. Và vì đây là một vấn đề mang tính tập thể, tất cả chúng ta đều mang một phần xung đột đó bên trong mình. Bàn về vấn đề này, Jung từng viết:
Bất cứ ai nói về những chủ đề như thế này (như biểu tượng tôn giáo) chắc chắn phải đối mặt với nguy cơ bị xé xác bởi hai phe đang xung đột sống còn với nhau. Cuộc xung đột này bắt nguồn từ một giả định kỳ quặc cho rằng một điều chỉ đúng khi nó hiển hiện như một sự thật vật lý. Do đó, một số người tin rằng việc Chúa Kitô sinh ra từ một người nữ đồng trinh là một sự thật vật lý, trong khi những người khác lại phủ nhận điều đó vì nó bất khả thi về mặt vật lý. Ai cũng có thể thấy rằng cuộc xung đột này không có giải pháp logic nào, và tốt hơn hết là đừng dây vào những tranh cãi vô bổ như vậy. Cả hai bên đều đúng mà cũng đều sai. Họ hoàn toàn có thể dễ dàng đạt được sự đồng thuận nếu chỉ cần từ bỏ chữ vật lý. Vật lý không phải là tiêu chuẩn duy nhất của chân lý: còn có những chân lý tâm thức mà người ta không thể giải thích, chứng minh hay bác bỏ bằng bất kỳ phương thức vật lý nào. Chẳng hạn, nếu có một niềm tin phổ biến rằng dòng sông Rhine từng có thời chảy ngược từ cửa biển về đầu nguồn, thì bản thân niềm tin đó đã là một sự thật tâm thức hiển nhiên, cho dù một khẳng định như vậy, nếu hiểu theo nghĩa vật lý, nghe thật phi lý tột cùng. Những niềm tin thuộc loại này là các sự kiện tâm thức không thể bàn cãi và không cần chứng minh.
Các phát ngôn tôn giáo (hay biểu tượng) đều thuộc dạng thức này. Chúng quy chiếu không ngoại lệ về những điều không thể xác lập như các dữ kiện vật lý... Nếu coi chúng quy chiếu về bất cứ điều gì thuộc vật chất, chúng sẽ hoàn toàn vô nghĩa... Việc các phát ngôn tôn giáo (hay biểu tượng) thường xuyên mâu thuẫn với các hiện tượng vật lý quan sát được chính là minh chứng cho thấy: trái ngược với nhận thức vật lý, tinh thần (biểu tượng) mang tính tự chủ, và trải nghiệm tâm thần ở một mức độ nào đó độc lập với các dữ liệu vật lý. Tâm thức là một nhân tố tự trị, và các phát biểu tôn giáo (hay biểu tượng) là những lời tự bạch của tâm thức, mà xét cho cùng đều bắt nguồn từ các tiến trình... vô thức. Những tiến trình này không thể tiếp cận bằng giác quan vật lý nhưng tự chứng minh sự tồn tại của mình qua những lời tự bạch của tâm thức... Bất cứ khi nào bàn về các nội dung tôn giáo (hay biểu tượng), chúng ta đang bước đi trong một thế giới của những hình ảnh trỏ tới một điều khôn tả. Ta không biết những hình ảnh, ẩn dụ và khái niệm này rõ ràng hay mờ nhạt đến đâu so với đối tượng siêu nghiệm của chúng... (Tuy nhiên) chắc chắn có một điều gì đó ẩn sau những hình ảnh này, vượt lên trên ý thức và vận hành theo cách khiến các phát ngôn không biến đổi một cách vô hạn hay hỗn loạn, mà rõ ràng đều quy về một vài nguyên lý căn bản hay các nguyên mẫu. Những nguyên mẫu này, cũng như chính tâm thức hay vật chất, tự thân chúng là bất khả tri.²
Cũng như mọi vấn đề liên quan đến nhân cách, ngụy biện cụ thể hóa và ngụy biện quy giản không thể được hóa giải chỉ bằng những lời khuyên răn duy lý. Thực chất, chúng có thể được xem là hai giai đoạn phát triển kế tiếp nhau của nhân cách. Trạng thái đồng hóa giữa Bản ngã và các biểu tượng vô thức sinh ra ngụy biện cụ thể hóa. Trạng thái này là đặc trưng của giai đoạn phát triển sơ khai của Bản ngã, chẳng hạn như ở người nguyên thủy hay trẻ nhỏ. Ngụy biện quy giản lại bắt nguồn từ trạng thái tha hóa, cắt đứt giữa Bản ngã và hệ thống biểu tượng của vô thức. Đây dường như là một giai đoạn phát triển muộn hơn, có lẽ là một phản ứng cần thiết để chống lại trạng thái đồng nhất trước đó giữa Bản ngã và vô thức. Tại thời điểm này, sự phát triển của Bản ngã có thể đòi hỏi việc hạ thấp giá trị của vô thức và quyền năng từ các hình ảnh biểu tượng của nó. Tuy nhiên, điều này để lại một vết rạn nứt, sự phân ly giữa Bản ngã và vô thức mà sớm muộn gì cũng phải được bắc cầu hàn gắn nếu con người muốn trở nên trọn vẹn.
Mục đích tối hậu của liệu pháp tâm lý trường phái Jung là đưa tiến trình biểu tượng ra ngoài ánh sáng ý thức. Để ý thức được các biểu tượng, trước hết ta cần biết một biểu tượng vận hành như thế nào khi nó nằm trong bóng tối vô thức. Toàn bộ những tập tục dã man trong các nghi lễ nguyên thủy man rợ cũng như các triệu chứng loạn thần kinh và lệch lạc tình dục đều có thể được thấu suốt nếu ta nhận ra cách thức một biểu tượng vận hành trong vô thức. Mệnh đề căn bản là: Một biểu tượng vô thức được sống qua hành vi chứ không được nhận thức qua tâm trí. Động lực của biểu tượng vô thức chỉ được trải nghiệm như một ước muốn hay một thôi thúc hướng về một hành động ngoại cảnh nào đó. Hình ảnh ẩn sau thôi thúc ấy hoàn toàn không được nhìn thấy. Không một ý nghĩa tâm lý thuần túy nào được nhận ra đằng sau động lực của hình ảnh biểu tượng đang khống chế con người. Bản ngã, do đồng hóa với hình ảnh biểu tượng, trở thành nạn nhân của nó, bị kết án phải đem ý nghĩa của biểu tượng ra sống một cách thô thiển ngoài đời thực thay vì thấu hiểu nó bằng ý thức. Chừng nào Bản ngã còn đồng hóa với tâm thức nguyên mẫu, động lực của biểu tượng sẽ chỉ được nhìn nhận và trải nghiệm như một cơn thèm khát dục vọng hay quyền lực.
Điều này lý giải sự khác biệt giữa tâm lý học chiều sâu của Jung và tất cả các lý thuyết tâm lý khác. Cho đến nay, chỉ có Jung và trường phái của ông là có khả năng nhận diện biểu tượng – và do đó là tâm thức nguyên mẫu mà biểu tượng là hiện thân – khi nó vận hành mà không bị Bản ngã đồng hóa. Chẳng hạn, trong tâm lý học Freud, nơi Jung nhìn thấy tâm thức nguyên mẫu siêu cá nhân, thì Freud chỉ nhìn thấy cái Ấy (Id). Cái Ấy chỉ là một bức biếm họa về linh hồn con người. Tâm thức nguyên mẫu và các biểu tượng của nó chỉ được nhìn qua cách chúng biểu hiện khi bị Bản ngã đồng hóa. Cái Ấy là vô thức chỉ được nhìn nhận dưới lăng kính bản năng thuần túy mà không đếm xỉa gì đến những hình ảnh ẩn sau các bản năng đó. Chừng nào các hình ảnh còn được đụng chạm tới, chúng lại bị diễn giải quy giản ngược về bản năng. Bản thân hình ảnh biểu tượng không được thừa nhận bất kỳ thực tại tự thân nào. Thái độ này của Freud đối với vô thức là điều cốt yếu cần phải hiểu, bởi nó được chia sẻ dưới hình thức này hay hình thức khác bởi hầu hết các trường phái trị liệu tâm lý hiện đại. Không một bác sĩ tâm thần nào phủ nhận rằng những thôi thúc bản năng là sống động và đầy uy lực, nhưng gần như tất cả họ đều đồng thanh phủ nhận sự sống và thực tại tự thân của các hình ảnh biểu tượng.
Thái độ lan rộng này của tâm lý học hiện đại – coi tâm thức vô thức chỉ được thúc đẩy bởi bản năng – về căn bản là phản tinh thần, phản văn hóa và hủy diệt đời sống biểu tượng. Chừng nào thái độ này còn ngự trị, việc vun bồi một đời sống nội tâm ý nghĩa là điều bất khả. Dĩ nhiên, những thôi thúc mang tính bản năng luôn tồn tại – và tồn tại vô cùng dồi dào. Nhưng chính hình ảnh biểu tượng, với vai trò là kẻ giải phóng và chuyển hóa năng lượng tâm thần, đã thôi thúc bản năng lên một tầng mức ý nghĩa khác, giúp nhân tính hóa, tinh thần hóa và văn hóa hóa nguồn năng lượng động vật thô sơ ấy. Bản năng chứa đựng ý nghĩa ẩn giấu của riêng nó, và ý nghĩa này chỉ hiển lộ khi ta nhìn ra hình ảnh đang nằm sâu bên trong bản năng.
Một cách để khám phá hình ảnh ẩn giấu là thông qua tiến trình tương liên suy ngẫm (phương pháp loại suy). Như Jung từng nói: “Việc tạo ra... các mối liên tưởng sẽ giải phóng bản năng và toàn bộ bình diện sinh học khỏi áp lực của các nội dung vô thức. Sự vắng bóng của tính biểu tượng, ngược lại, sẽ làm quá tải bình diện bản năng.”³
Để minh họa cho phương pháp tương liên này, tôi nhớ lại một bệnh nhân từng bị khống chế trong vô thức bởi một hình ảnh biểu tượng mãnh liệt – hình ảnh ép buộc anh ta phải sống nó ra ngoài đời như một triệu chứng bệnh lý cho đến khi anh có thể hiểu được nó bằng ý thức. Vì nhìn những vật to lớn bao giờ cũng dễ hơn vật nhỏ bé, tôi xin chọn một ví dụ được phóng đại qua một triệu chứng bệnh lý tâm thần: chứng thích mặc trang phục của người khác giới (transvestism) ở một chàng trai trẻ luôn có thôi thúc mãnh liệt muốn mặc quần áo phụ nữ. Khi khoác lên mình một món đồ của nữ giới, thái độ của anh ta đối với bản thân thay đổi hoàn toàn. Bình thường, anh cảm thấy nhút nhát, tự ti và bất lực. Nhưng khi mặc một món đồ nữ được giấu kín dưới lớp áo ngoài, anh cảm thấy tự tin, đắc lực và tràn trề sinh lực tính dục.
Vậy một triệu chứng như thế có ý nghĩa gì? Bệnh nhân này đang sống thay cho một hình ảnh biểu tượng vô thức. Vì những hình ảnh triệu chứng này có cùng nguồn gốc với giấc mơ, chúng ta có thể tiếp cận chúng như cách tiếp cận một giấc mơ – bằng phương pháp khuếch đại biểu tượng. Chúng ta tự hỏi: việc mặc trang phục phụ nữ có ý nghĩa gì? Chúng ta có thể tìm thấy những nét tương đồng nào trong thần thoại và văn hóa nhân loại?
Trong Quyển V của sử thi Odyssey, hành trình của Odysseus từ đảo Calypso đến xứ sở người Phaeacia được mô tả chi tiết.⁴ Trong chuyến hải trình này, Poseidon đã khuấy đảo một cơn bão kinh hoàng suýt nhấn chìm Odysseus nếu như không có Ino, một nữ thần biển, đến cứu giúp. Nàng bảo ông cởi bỏ quần áo và bơi đi, rồi dặn thêm: “Hãy cầm lấy tấm khăn trùm của ta và quấn quanh ngực; nó mang phép màu và chàng sẽ không bị tổn hại chừng nào còn đeo nó. Ngay khi chạm đất liền, hãy tháo nó ra và ném trả lại thật xa xuống biển.” Tấm khăn trùm của Ino chính là hình ảnh nguyên mẫu ẩn sau triệu chứng mặc đồ nữ. Tấm khăn tượng trưng cho sự nâng đỡ và chở che mà nguyên mẫu Người Mẹ có thể ban tặng cho Bản ngã trong lúc vô thức bị kích hoạt dữ dội đầy nguy hiểm. Việc mượn sự chở che này trong cơn khủng hoảng, như Odysseus đã làm, là hoàn toàn chính đáng; nhưng tấm khăn phải được hoàn trả cho nữ thần ngay khi cơn khủng hoảng qua đi.
Một hình ảnh tương đồng khác là các tư tế của Nữ thần Mẹ Vĩ đại (Magna Mater) ở La Mã cổ đại và Tiểu Á. Sau lễ thánh hiến, các tư tế này sẽ mặc y phục phụ nữ và để tóc dài để biểu thị sự tận hiến của họ cho sự phục vụ Mẹ Vĩ đại. Một tàn tích của tập tục mặc trang phục mang tính thánh chức này vẫn còn tồn tại đến ngày nay qua những chiếc áo chùng dài của hàng giáo phẩm Công giáo – những người phụng sự Mẹ Hội Thánh. Những sự tương đồng này cho thấy rằng thôi thúc của người mặc đồ nữ bắt nguồn từ nhu cầu vô thức muốn có một điểm tựa kết nối nâng đỡ với một thần tính nữ – nguyên mẫu Người Mẹ. Đó chính là cách thấu hiểu một triệu chứng theo lăng kính biểu tượng. Dĩ nhiên, bất cứ khi nào nói về hình ảnh của một vị thần, chúng ta đang sử dụng một biểu tượng, bởi vì một thần tính hay một quyền năng siêu cá nhân không bao giờ có thể được định nghĩa chính xác. Đó không phải là dấu hiệu cho một điều đã biết và được hiểu bằng lý trí, mà là một biểu tượng diễn đạt một điều huyền nhiệm. Cách diễn giải này, nếu thành công, có thể dẫn dắt bệnh nhân bước vào đời sống biểu tượng. Một triệu chứng gây tê liệt và đầy mặc cảm tội lỗi có thể được thay thế bằng một biểu tượng giàu ý nghĩa, làm phong phú cuộc sống, được trải nghiệm một cách có ý thức thay vì bị đem ra sống như một hành vi xung động, vô thức và bệnh hoạn.
Trường hợp này là một ví dụ về việc làm thế nào một triệu chứng có thể được chuyển hóa thành một biểu tượng thông qua việc nhận thức nền tảng nguyên mẫu của nó. Mọi triệu chứng đều bắt nguồn từ hình ảnh của một tình huống nguyên mẫu nào đó. Chẳng hạn, nhiều triệu chứng lo âu có bối cảnh nguyên mẫu là trận chiến của người anh hùng với rồng lửa, hoặc các nghi thức điểm đạo nhập môn. Nhiều triệu chứng ức chế hay phẫn uất là sự tái hiện cuộc chạm trán mang tính nguyên mẫu giữa ông Job và Thiên Chúa. Khả năng nhận diện nguyên mẫu, nhìn thấy hình ảnh biểu tượng ẩn sau triệu chứng, sẽ lập tức biến đổi trải nghiệm đó. Nỗi đau có thể vẫn vẹn nguyên, nhưng giờ đây nó đã có ý nghĩa. Thay vì cô lập kẻ chịu khổ khỏi đồng loại, nó hợp nhất người đó với nhân loại trong một mối đồng cảm sâu sắc hơn. Giờ đây, người đó cảm thấy mình là một bạn đồng hành cùng tham gia vào công cuộc vĩ đại của toàn thể nhân loại – tiến trình tiến hóa đầy đau đớn của ý thức con người – vốn khởi đầu từ bóng tối của đầm lầy nguyên thủy và sẽ kết thúc ở đâu ta chưa thể biết.
Những tâm trạng và trạng thái cảm xúc mãnh liệt cũng sẽ hé lộ ý nghĩa của chúng nếu ta tìm ra hình ảnh biểu tượng tương ứng. Chẳng hạn, một người đàn ông rơi vào cơn giận dữ tột cùng. Mọi chuyện không diễn ra như ý muốn nhưng ông không thể bộc phát cơn giận ra ngoài mà cũng chẳng thể kìm nén nó vào trong. Cuối cùng, ông cầu nguyện xin được thấu hiểu ý nghĩa của cơn giận này. Ngay lập tức, hình ảnh ba người đàn ông trong lò lửa hừng hực như được mô tả trong Sách Đa-ni-ên hiện lên trong tâm trí ông. Ông mở đoạn Kinh Thánh đó ra đọc, và khi suy ngẫm về nó, tâm trạng giận dữ tan biến. Chương ba của Sách Đa-ni-ên kể về chiếu chỉ của Vua Nê-bu-cát-nê-xa: khi nghe hiệu lệnh, mọi người phải sấp mình thờ lạy pho tượng vàng của vua. Sa-đơ-rác, Mê-sác và A-bết-Nê-gô đã từ chối, và vua Nê-bu-cát-nê-xa nổi cơn lôi đình ném họ vào lò lửa đang cháy đỏ rực. Nhưng họ không hề bị tổn hại, và người ta nhìn thấy một nhân vật thứ tư cùng bước đi với họ giữa ngọn lửa, “trông giống như một con trai của các thần”.
Hình ảnh này đã hóa giải tâm trạng tức giận bởi nó diễn đạt ý nghĩa của tâm trạng đó một cách biểu tượng. Vua Nê-bu-cát-nê-xa đại diện cho một nhân vật độc đoán, bạo chúa, bị thúc đẩy bởi quyền lực, kẻ muốn tiếm đoạt đặc quyền của Thượng Đế và nổi cơn thịnh nộ khi không được tôn sùng như thần thánh. Ông ta chính là Bản ngã bị đồng hóa với Bản thể (Self). Cơn thịnh nộ của ông ta đồng nghĩa với lò lửa rực cháy. Sa-đơ-rác, Mê-sác và A-bết-Nê-gô, bằng việc từ chối gán giá trị siêu cá nhân cho một động cơ vị kỷ cá nhân, đã tự nguyện đối mặt với ngọn lửa phẫn uất của Nê-bu-cát-nê-xa. Điều này tương ứng với khả năng của bệnh nhân: tránh đồng hóa với cơn xúc cảm, kiên nhẫn chịu đựng nó và cuối cùng tìm kiếm ý nghĩa của nó thông qua trí tưởng tượng chủ động (active imagination). Nhân vật thứ tư xuất hiện trong lò lửa “giống như con trai của các thần” đại diện cho thành tố nguyên mẫu, siêu cá nhân được hiện thực hóa trong trải nghiệm. Nhân vật này mang lại ý nghĩa, sự giải thoát và sự toàn vẹn (với tư cách là yếu tố thứ tư).
Ví dụ này minh họa cho một nhận định của Jung. Khi kể về cuộc đối đầu của mình với vô thức, ông viết:
Tôi đã sống trong một trạng thái căng thẳng triền miên... Chừng nào tôi còn có thể chuyển hóa các xúc cảm thành hình ảnh – nghĩa là tìm ra những hình ảnh ẩn giấu bên trong các cảm xúc ấy – thì nội tâm tôi mới được lắng dịu và an lòng.⁵
Chừng nào con người còn chưa ý thức được chiều kích biểu tượng của sự tồn tại, họ sẽ trải nghiệm những thăng trầm của cuộc đời như những triệu chứng bệnh lý. Triệu chứng là những trạng thái tâm trí nhiễu loạn mà ta không thể kiểm soát và về căn bản là vô nghĩa – tức là không chứa đựng giá trị hay tầm quan trọng nào. Thực chất, triệu chứng là những biểu tượng bị giáng cấp, bị làm cho thoái hóa bởi ngụy biện quy giản của Bản ngã. Triệu chứng trở nên không thể chịu đựng nổi chính là vì chúng vô nghĩa. Hầu như bất kỳ nghịch cảnh nào cũng có thể chịu đựng được nếu ta nhận ra ý nghĩa của nó. Sự vô nghĩa mới chính là mối đe dọa lớn nhất đối với nhân loại.
Cuộc sống tỉnh thức của chúng ta được tạo nên từ một chuỗi các tâm trạng, cảm xúc, ý nghĩ và những thôi thúc. Những trạng thái tâm lý nối tiếp nhau mà chúng ta trải qua giống như những hạt chuỗi được xâu trên một sợi chỉ. Tùy thuộc vào thái độ ý thức của mình, chúng ta sẽ trải nghiệm tràng hạt cuộc đời này như một chuỗi các triệu chứng vô nghĩa, hoặc thông qua nhận thức biểu tượng, như một chuỗi các cuộc hạnh ngộ thiêng liêng giữa Bản ngã và tâm thức siêu cá nhân. Những niềm vui cũng như nỗi đau của chúng ta đều chỉ là triệu chứng nếu chúng không mang một hàm nghĩa biểu tượng nào. Các bậc hiền triết Ấn Độ đã nhận ra điều này trong giáo lý về Maya (Ảo ảnh). Theo cái nhìn này, nỗi đau và niềm vui – vốn là những triệu chứng của cõi trần – gắn kết với nhau không thể tách rời. Để giải thoát khỏi những triệu chứng đau khổ, người ta cũng phải buông bỏ cả những triệu chứng khoái lạc. Dưới góc độ tâm lý học phân tích, nỗ lực của người Ấn Độ nhằm giải thoát khỏi sự thôi thúc của đau khổ và khoái lạc tương đương với việc đi tìm đời sống biểu tượng. Niết bàn không phải là sự trốn chạy thực tại cuộc đời. Đúng hơn, đó là sự khám phá ra đời sống biểu tượng giúp giải thoát con người khỏi “cuộc đời nghiệt ngã, tầm thường, nghiền nát con người” vốn chỉ là một chuỗi các triệu chứng vô nghĩa tiếp nối nhau.
3. ĐỜI SỐNG BIỂU TƯỢNG
Đời sống biểu tượng dưới một hình thức nào đó là điều kiện tiên quyết cho sức khỏe tâm thần. Không có nó, Bản ngã sẽ bị tha hóa khỏi cội nguồn siêu cá nhân của mình và trở thành nạn nhân của một nỗi âu lo mang tầm vũ trụ. Những giấc mơ thường cố gắng chữa lành cho Bản ngã tha hóa bằng cách truyền tải cho nó nhận thức về cội nguồn nguyên thủy. Dưới đây là ví dụ về một giấc mơ như vậy. Người nằm mơ đang vật lộn với vấn đề tha hóa giữa Bản ngã và Bản ngã (ego-Self alienation). Cô là con mồi của những cảm giác trầm cảm sâu sắc, mặc cảm vô giá trị, và cảm thức về sự vô nghĩa của cuộc đời cũng như năng lực của bản thân. Rồi cô mơ thấy:
Một ông lão vừa là linh mục vừa là giáo sĩ Do Thái đang trò chuyện với tôi. Khi lắng nghe lời ông, tôi vô cùng xúc động và cảm thấy mình đang được chữa lành. Dường như Thượng Đế đang cất lời qua ông. Tôi cảm thấy câu hỏi muôn thuở luôn day dứt trong lòng mình tự nó được giải tỏa. Trong giây lát, tôi đã hiểu được lý do vì sao. Khi ông nói, ông đã đưa tôi kết nối lại với một điều gì đó tôi từng biết từ rất lâu rồi – từ trước khi tôi được sinh ra.
Giấc mơ này đã tác động mạnh mẽ lên người phụ nữ. Cô trải nghiệm nó như một điều gì đó mang tính chữa lành nhiệm mầu. Câu hỏi muôn thuở về ý nghĩa cuộc đời cô đã có lời đáp. Nhưng câu trả lời là gì? Lúc mới tỉnh dậy, cô không thể nhớ ông lão đã nói những gì. Rồi đột nhiên, cô nhớ lại một truyền thuyết Do Thái cổ xưa mà cô từng đọc trong một cuốn sách, và cô nhận ra rằng chính tinh túy của truyền thuyết này là điều vị linh mục - giáo sĩ Do Thái đã kể cho cô nghe. Câu chuyện truyền thuyết đó như sau:
Trước khi một đứa trẻ chào đời, Thượng Đế gọi mầm sống của con người tương lai đến trước mặt Ngài và định đoạt xem linh hồn ấy sẽ trở thành gì: đàn ông hay đàn bà, hiền triết hay kẻ khờ, giàu có hay bần hàn. Duy chỉ có một điều Ngài để ngỏ chưa định đoạt, đó là người ấy sẽ trở nên công chính hay bất chính, bởi vì như lời đã chép: “Mọi sự đều nằm trong tay Chúa, ngoại trừ lòng kính sợ Chúa.” Linh hồn bèn tha thiết van xin Thượng Đế đừng đưa nó rời khỏi cõi sống bên kia thế giới này. Nhưng Thượng Đế phán: “Thế giới mà Ta gửi ngươi tới còn tốt đẹp hơn thế giới ngươi đang ở; và khi tạo dựng ngươi, Ta đã tạo dựng ngươi cho số phận nơi trần thế này.”
Sau đó, Thượng Đế truyền lệnh cho vị thiên thần cai quản các linh hồn ở Cõi Bên Kia khai tâm cho linh hồn này thấu triệt mọi huyền nhiệm của thế giới ấy, dẫn nó đi qua Thiên Đàng và Địa Ngục. Bằng cách đó, linh hồn trải nghiệm tất cả những bí mật của Cõi Vĩnh Hằng. Tuy nhiên, vào khoảnh khắc giáng sinh, khi linh hồn bước xuống cõi trần, thiên thần sẽ thổi tắt ngọn đèn tri thức đang cháy sáng trên đầu nó, và linh hồn, được bọc kín trong lớp vỏ trần thế, bước vào cõi đời này, quên hết sự thông tuệ cao cả của mình, nhưng sẽ luôn luôn tìm cách để lấy lại nó.⁶
Giấc mơ gợi lại truyền thuyết tuyệt đẹp này là một ví dụ xuất sắc về sự vận hành của trục Bản ngã - Bản thể (ego-Self axis) – trục mang nhận thức về nguồn gốc và ý nghĩa của Bản ngã vào trong ý thức, đồng thời đánh thức đời sống biểu tượng. Hình ảnh ông lão, vị giáo sĩ - linh mục, là hiện thân của điều mà Jung gọi là nguyên mẫu Ông Lão Thông Thái. Ông là một người dẫn đường tâm linh, người mang lại sự thông tuệ và chữa lành. Tôi coi ông là sự nhân hóa của trục Bản ngã - Bản thể. Trong sự kết hợp giữa linh mục và giáo sĩ Do Thái, ông đã hợp nhất hai truyền thống tôn giáo và biểu tượng riêng biệt, cho dù câu chuyện ông kể không thuộc về một hệ thống tôn giáo riêng rẽ nào.
Chủ đề về nguồn gốc tiền sinh của Bản ngã là một hình ảnh nguyên mẫu mà ta có thể tìm thấy rất nhiều ví dụ. Chẳng hạn, thuyết về các ý niệm tiền sinh của Plato được trình bày kỹ lưỡng trong tập đối thoại Phaedo. Theo huyền thoại này, mọi sự học hỏi thực chất chỉ là sự hồi tưởng lại tri thức tiền sinh vốn bẩm sinh nhưng đã bị lãng quên (anamnesis). Theo thuật ngữ tâm lý học, điều này có nghĩa là các mô thức nguyên mẫu của trải nghiệm nhân sinh đã tồn tại từ trước (tiên nghiệm); chúng chỉ chờ đợi được nhập thể trong lịch sử cuộc đời của một cá nhân cụ thể. Thuyết hồi ức này của Plato đôi khi được diễn đạt một cách minh bạch trong các giấc mơ. Một người có thể mơ thấy mình đang tham gia vào một sự kiện trọng đại mà trong mơ người đó lờ mờ nhận ra rằng điều này đã từng xảy ra trước đây và đang tuân theo một kế hoạch đã định sẵn. Như một người nằm mơ từng diễn tả:
Cứ như thể tôi đang trải nghiệm giấc mơ trên hai bình diện cùng một lúc. Một mặt, nó hoàn toàn độc nhất, tự phát và chưa từng được tập dượt. Mặt khác, tôi dường như cũng đang đóng một vai diễn và tái hiện lại một câu chuyện tôi từng biết nhưng đã quên mất. Hai bình diện ấy gắn kết chặt chẽ không thể tách rời. Tôi diễn vai đó một cách hoàn hảo chính là vì tôi đang thực sự sống nó vào đúng thời điểm ấy. Tôi tự nghĩ ra lời thoại khi diễn tiến trôi đi, nhưng tôi dường như được nâng đỡ bởi việc mình đã từng biết câu chuyện từ trước. Khi mỗi tình huống ập đến, nó chạm vào một cung đàn ký ức nào đó và trợ lực cho tôi.
Một hình ảnh tương đồng khác là một câu chuyện cổ của phái Gnostic (Ngộ đạo thuyết) mang nhiều nét giống với truyền thuyết Do Thái kể trên, nhưng tiến thêm một bước khi cho thấy linh hồn thức tỉnh và nhớ lại nguồn gốc thiên thượng của mình như thế nào. Các dịch giả hiện đại đặt tựa cho văn bản này là “Khúc thánh ca về Viên Ngọc Trai” (The Hymn of the Pearl). Tôi xin trích dẫn bản rút gọn từ sách của Hans Jonas:
Khi ta còn là một đứa trẻ thơ ngụ trong vương quốc nơi nhà Cha ta và tận hưởng sự giàu sang cùng vinh quang của những bậc sinh thành, cha mẹ đã sai ta lên đường từ Phương Đông, quê hương của chúng ta, với hành trang đầy đủ cho chuyến đi... Họ cởi bỏ khỏi ta chiếc áo choàng vinh hiển mà bằng tình yêu thương họ đã dệt riêng cho ta, cùng chiếc cẩm bào màu tím được may vừa vặn với vóc dáng ta. Họ lập giao ước với ta và khắc ghi vào trái tim ta để ta không thể nào quên: “Khi con xuống Ai Cập và mang về Viên Ngọc Trai Độc Nhất nằm giữa biển khơi, nơi bị con rắn rồng thở phì phò vây quanh, con sẽ lại được khoác lên chiếc áo choàng vinh hiển cùng chiếc cẩm bào bên ngoài, và cùng với người anh của con – người kế vị ngai vàng – trở thành người thừa kế vương quốc của chúng ta.”
Ta rời Phương Đông và đi xuống, cùng đi có hai sứ giả hoàng gia, bởi con đường đầy hiểm nguy gian khó và ta còn quá trẻ cho một chuyến đi như thế... Ta đi xuống Ai Cập, và những người bạn đồng hành chia tay ta. Ta đi thẳng tới chỗ con rắn và định cư gần quán trọ của nó, chờ cho đến khi nó thiu thiu ngủ để ta có thể đoạt lấy Viên Ngọc Trai từ tay nó... Ta là kẻ xa lạ đối với những người cùng trọ trong quán... Ta mặc trang phục của họ để họ không nghi ngờ ta là kẻ từ phương xa đến cướp Ngọc Trai mà đánh thức con rắn chống lại ta. Nhưng vì lẽ gì đó họ nhận ra ta không phải là đồng bào của họ; họ dùng mưu mô tiếp cận ta, pha rượu cho ta uống và cho ta nếm thịt của họ; và ta đã quên mất mình là con trai của Vua mà quay sang phục dịch vua của họ. Ta quên bẵng Viên Ngọc Trai mà cha mẹ đã sai ta đi tìm. Vì thức ăn nặng nề của họ, ta chìm vào một giấc ngủ mê man.
Mọi nỗi gian truân xảy đến với ta, cha mẹ ta đều thấu suốt, và họ vô cùng đau lòng vì ta... Họ bèn viết một phong thư gửi cho ta, và mỗi bậc vĩ nhân đều ký tên mình vào đó:
“Từ cha con – Vua của các Vua, và từ mẹ con – Nữ chủ của Phương Đông, cùng anh trai con – người kế vị ngai vàng, gửi tới con – người con trai của chúng ta tại Ai Cập, lời chào thân ái. Hãy tỉnh giấc và trỗi dậy khỏi cơn mê, hãy lắng nghe những lời trong bức thư này. Hãy nhớ lại con là hoàng tử của một vị vua: hãy nhìn xem con đang làm nô lệ phục dịch cho ai! Hãy ghi nhớ Viên Ngọc Trai – lý do con rời bước tới Ai Cập. Hãy nhớ lại chiếc áo choàng vinh hiển, hồi tưởng lại chiếc cẩm bào tráng lệ của con, để con có thể khoác chúng lên mình, điểm trang bằng vẻ đẹp của chúng, để tên con được ghi vào sách các bậc anh hùng, và cùng anh trai con trở thành người thừa kế vương quốc của chúng ta.”
Bức thư như một sứ giả... Nó bay lên dưới hình hài một con chim đại bàng – chúa tể của muôn loài chim có cánh – bay mãi cho đến khi đáp xuống cạnh ta và hóa thành tiếng nói trọn vẹn. Nghe tiếng nói và âm thanh của nó, ta bừng tỉnh và ngồi dậy khỏi giấc ngủ say, đón lấy bức thư, hôn lên nó, bẻ niêm phong và đọc. Những lời trong thư đọc lên hệt như những gì đã khắc sâu trong tim ta. Ta nhớ lại mình là con vua, và tâm hồn tự do của ta khao khát được trở về với đồng loại. Ta nhớ lại Viên Ngọc Trai mà vì nó ta đã được sai xuống Ai Cập, và ta bắt đầu dùng bùa chú mê hoặc con rắn khủng khiếp đang thở phì phò. Ta ru nó ngủ bằng cách xướng lên danh Cha ta, danh người anh kế vị và danh Mẹ ta – Nữ hoàng Phương Đông. Ta đoạt lấy Viên Ngọc Trai, quay gót trở về nhà Cha ta. Tấm áo nhơ nhớp và uế tạp của họ, ta cởi bỏ và vứt lại trên đất của họ, rồi cất bước hướng về ánh sáng quê hương Phương Đông.
Bức thư đã đánh thức ta, ta lại thấy nó dẫn lối phía trước trên đường về; và như nó đã từng dùng tiếng nói đánh thức ta, giờ đây nó dẫn đường cho ta bằng ánh sáng rực rỡ soi chiếu phía trước, dùng âm thanh nâng đỡ nỗi sợ hãi của ta, và bằng tình yêu thương kéo ta tiến bước... (Rồi khi chàng đến gần quê hương, cha mẹ gửi chiếc áo choàng vinh hiển và chiếc cẩm bào ra đón chàng.) Ta vươn tay đón lấy và mặc nó vào, điểm trang bằng vẻ đẹp muôn màu của nó. Ta khoác chiếc cẩm bào hoàng gia lên toàn thân mình. Trong trang phục ấy, ta bước lên cổng chào và cung kính bái lạy. Ta cúi đầu chiêm bái sự rực rỡ của Cha ta – Đấng đã gửi áo cho ta, Đấng mà ta đã hoàn thành mọi mệnh lệnh cũng như Ngài đã thực hiện trọn vẹn lời hứa... Ngài hoan hỷ đón nhận ta, và ta ở bên Ngài trong vương quốc của Ngài...⁷
Câu chuyện đầy thi vị này là một biểu đạt mang tính biểu tượng tuyệt mỹ về lý thuyết của tâm lý học phân tích liên quan đến nguồn gốc và sự phát triển của Bản ngã ý thức. Bản ngã khởi đầu như một đứa trẻ trong gia đình hoàng gia thiên thượng. Điều này tương ứng với trạng thái đồng nhất nguyên thủy của nó với Bản thể hay tâm thức nguyên mẫu. Nó được phái rời khỏi chốn thiên đường nguyên thủy này để thực thi một sứ mệnh. Điều này quy chiếu về tiến trình phát triển ý thức tất yếu nhằm tách Bản ngã ra khỏi chiếc nôi vô thức nguyên sơ. Khi đến xứ người, nó quên mất sứ mệnh của mình và chìm vào giấc ngủ mê mệt. Tình cảnh này tương ứng với sự tha hóa Bản ngã - Bản thể và trạng thái vô nghĩa của cuộc đời. Bức thư từ cha mẹ đánh thức kẻ đang ngủ say và nhắc nhở chàng về sứ mệnh. Ý nghĩa đã quay trở lại với cuộc đời chàng. Sợi dây kết nối giữa Bản ngã và cội nguồn siêu cá nhân đã được tái lập. Tôi coi biến cố này tương đương với sự thức tỉnh của nhận thức biểu tượng.
Có một sự tương đồng đặc biệt thú vị giữa câu chuyện này và giấc mơ về vị linh mục - giáo sĩ Do Thái. Trong giấc mơ, sau khi lắng nghe lời ông lão thông thái, người nằm mơ nhận xét: “Khi ông nói, ông đã đưa tôi kết nối lại với một điều gì đó tôi từng biết từ rất lâu rồi – từ trước khi tôi được sinh ra.” Tương tự, trong “Khúc thánh ca về Viên Ngọc Trai”, sau khi người anh hùng đọc bức thư, chàng nói: “Những lời trong thư đọc lên hệt như những gì đã khắc sâu trong tim ta.” Trong cả hai trường hợp, cá nhân đều được gợi nhớ lại một điều mình từng biết nhưng đã lãng quên – bản tính nguyên thủy của chính mình.
Trong “Khúc thánh ca về Viên Ngọc Trai”, sự thức tỉnh được mang lại nhờ phương tiện là một bức thư. Bản chất thiên biến vạn hóa của bức thư này cho thấy nó là một biểu tượng đích thực mà toàn bộ ý nghĩa của nó không thể gói gọn trong một hình ảnh duy nhất nào. Nó là một bức thư, nhưng cũng là một con chim đại bàng. Hơn thế nữa, nó là một tiếng nói hóa thành lời trọn vẹn. Đến khi lên đường trở về, bức thư lại biến chuyển một lần nữa để trở thành ngọn đèn dẫn lối. Bất cứ khi nào trong giấc mơ ta bắt gặp một hình ảnh trải qua nhiều lần biến hình như vậy, ta có thể chắc chắn rằng mình đang đối diện với một biểu tượng đặc biệt uy lực và tràn đầy động năng. Hình ảnh thư - đại bàng - tiếng nói - ánh sáng trong câu chuyện này chính là một biểu tượng như thế.
Bức thư là phương tiện truyền đạt thông điệp từ phương xa. Đại bàng, được văn bản xưng tụng là vua của muôn loài chim, gợi nhớ đến việc loài chim từ xưa đến nay luôn được coi là sứ giả của Thượng Đế. Tôi từng điều trị cho một bệnh nhân loạn thần, anh ta kể rằng mình nhận được các thông điệp từ Thượng Đế. Khi tôi hỏi anh nhận thông điệp bằng cách nào, anh bảo rằng những cánh chim đã mang chúng đến. Chim chóc cũng gợi nhớ đến hình ảnh chim bồ câu của Chúa Thánh Thần – chiếc cầu nối gắn kết giữa Thượng Đế và con người (Hình 30 và 31). Tiếng nói gợi nhắc đến “tiếng gọi” hay ơn gọi (vocation, theo nguyên nghĩa đen là sự gọi mời). Chủ đề này luôn biểu đạt một trải nghiệm thức tỉnh giúp dẫn dắt cá nhân bước ra khỏi những bận tâm vụn vặt cá nhân để bước vào một định mệnh lớn lao hơn. Bức thư trong vai trò ánh sáng dẫn đường tương đồng với ngôi sao Bethlehem dẫn đường cho các nhà chiêm tinh đến nơi Chúa Kitô giáng sinh – sự hiển lộ của thần tính.
Tất cả những sự khuếch đại này cho thấy rằng bức thư trong các phương diện biến ảo của nó tượng trưng cho trục Bản ngã - Bản thể, đường dây liên lạc giữa Bản ngã và tâm thức nguyên mẫu. Ý thức về trục này mang lại một tác động thức tỉnh và biến đổi nhân cách. Một chiều kích ý nghĩa mới được khám phá, đem lại giá trị đích thực cho tính chủ quan.
Một ví dụ khác về chủ đề nguyên mẫu của cội nguồn tiền sinh của linh hồn được tìm thấy trong bài thơ tụng của Wordsworth: “Những lời gợi về sự bất tử” (Intimations of Immortality):
Sự sinh ra của ta chỉ là một giấc ngủ và sự lãng quên:
Linh hồn cùng ta trỗi dậy, Ngôi sao của đời ta,
Từng có nơi lặn xuống ở một phương trời khác,
Và đến từ cõi rất xa xăm.
Không phải trong sự lãng quên hoàn toàn,
Cũng chẳng phải trong sự trần trụi tuyệt đối,
Mà mang theo những dải mây vinh hiển, ta đến
Từ Thượng Đế, Đấng là quê nhà của chúng ta:
Thiên Đàng vây quanh ta thuở ấu thơ!
Bóng tối chốn ngục tù bắt đầu khép lại
Quanh bước chân đứa trẻ đang lớn dần.
Nhưng cậu bé vẫn nhìn thấy ánh sáng, và nơi ánh sáng tuôn trào,
Cậu hân hoan chiêm ngưỡng nó;
Người thiếu niên, kẻ mỗi ngày một rời xa Phương Đông,
Vẫn là vị Tư tế của Tự Nhiên,
Và được đồng hành trên đường
Bởi thị kiến huy hoàng tráng lệ;
Cho đến khi thành Người Lớn, chàng thấy ánh sáng ấy lụi tàn,
Và nhạt nhòa tan biến vào ánh sáng của một ngày trần tục tầm thường.
Tại thời điểm này, người anh hùng của Wordsworth đã tới Ai Cập, quên mất sứ mệnh của mình và chìm vào giấc ngủ mê. Chàng chưa bao giờ nhận được một bức thư đánh thức dứt khoát, nhưng chàng luôn có những linh cảm mơ hồ về nó:
(Hình 30. THIÊN THẦN GABRIEL TRAO BỨC THƯ CHO ĐỨC MẸ MARIA. Tranh Truyền Tin của Dürer.)
(Hình 31. CHIM BỒ CÂU TRUYỀN TIẾNG NÓI THẦN THÁNH CHO THÁNH GREGORIO CẢ, Phù điêu ngà voi, Thế kỷ 9-10.)
...và trong một mùa trời êm bể lặng
Dẫu ta đang ở sâu tít chốn đất liền,
Tâm hồn ta vẫn trông thấy biển khơi bất tử
Đã mang ta tới cõi này,
Trong khoảnh khắc có thể bay về chốn ấy,
Nhìn bầy trẻ nhỏ vui đùa trên bãi cát,
Và lắng nghe sóng nước vĩ đại cuộn trào muôn thuở...
Đội ơn trái tim con người nhờ đó ta sống,
Đội ơn sự dịu dàng, những niềm vui và nỗi sợ của nó,
Với ta, bông hoa nhỏ bé nhất đang nở rộ nơi bờ cỏ
Cũng có thể gợi lên những ý nghĩ lắng sâu quá đỗi, vượt ngoài tầm của những giọt nước mắt.
Ở hai câu thơ cuối cùng, có một sự ám chỉ rõ nét đến đời sống biểu tượng.
Giấc mơ là những biểu đạt của trục Bản ngã - Bản thể. Mỗi giấc mơ đều có thể được coi là một bức thư gửi đến Ai Cập để đánh thức chúng ta. Có thể ta chưa đọc hiểu được bức thư, nhưng ít nhất ta nên mở nó ra và nỗ lực tìm hiểu. Tôi biết một người đàn ông hoàn toàn bài xích việc phân tích và giải mã giấc mơ. Ông ta từng tự nghiên cứu các giấc mơ của mình và đi đến kết luận chắc nịch rằng giấc mơ hoàn toàn chẳng có ý nghĩa gì. Chúng chỉ bị gây ra bởi những cảm giác thể xác khi nằm trên giường – chân bị vướng vào chăn, nằm đè lên cánh tay, đại loại như vậy. Thật thú vị khi xem xét người đàn ông có thái độ ý thức như vậy thường mơ thấy những gì: ông liên tục gặp phải những cơn ác mộng lặp đi lặp lại. Ông mơ thấy mình lội trong một bãi lầy ngập đến đầu gối, chìm ngày càng sâu mà không thể nhúc nhích; lần khác ông mơ thấy mình bị mù, và đôi khi mơ thấy mình bị tàn phế bại liệt.
Đôi khi các hình ảnh trong giấc mơ quy chiếu trực tiếp đến sự vận hành của trục Bản ngã - Bản thể. Điều này đúng với giấc mơ về vị linh mục - giáo sĩ Do Thái kể trên. Tôi đã bắt gặp nhiều giấc mơ sử dụng hình ảnh một hòn đảo cần có hệ thống liên lạc với đất liền. Dưới đây là một ví dụ:
Một người đàn ông mơ thấy mình đang ở trên một hòn đảo cách đất liền vài dặm. Một bó cáp điện thoại khổng lồ trồi lên trên bãi biển. Nó được kết nối với đất liền và người nằm mơ cảm thấy mình đã cứu nó khỏi bị phá hủy nhờ nhận ra nó là gì. Đó là một bước tiến quan trọng trong việc liên lạc. Những người hàng xóm của anh cho rằng nó xấu xí và muốn vứt nó ngược lại xuống biển, nhưng người nằm mơ đã thuyết phục được họ về giá trị của nó.
Chi tiết những người hàng xóm phản đối vì sự xấu xí của sợi cáp điện thoại mang ý nghĩa rất lớn. Người nằm mơ là người có khiếu thẩm mỹ phát triển rất cao; quả thực, các phán đoán giá trị chính của anh đều dựa trên những cân nhắc thẩm mỹ. Để chấp nhận con đường liên lạc mới với đất liền – tức tâm thức nguyên mẫu – người nằm mơ phải truất ngôi sự thống trị độc đoán của chủ nghĩa duy mỹ vốn không chịu thừa nhận bất kỳ giá trị nào khác ngoài giá trị của chính nó. Đây là một minh họa cho thấy trục Bản ngã - Bản thể và đời sống biểu tượng thường được tiếp cận thông qua chức năng hạ đẳng (inferior function) – phần yếu đuối nhất trong nhân cách của chúng ta. Chỉ bằng cách nhận thức và chấp nhận sự yếu đuối của mình, ta mới ý thức được về một điều gì đó vượt ngoài Bản ngã đang nâng đỡ chúng ta.
Dưới đây là một giấc mơ khác – một ví dụ tuyệt đẹp về trục Bản ngã - Bản thể và tác động thiêng liêng đầy uy lực mà nó có thể mang lại. Bệnh nhân có giấc mơ này khoảng một năm trước khi bắt đầu bước vào phân tích tâm lý, trong một giai đoạn vô cùng đau khổ. Dù quá trình trị liệu của anh kéo dài và gian nan, giấc mơ này đã báo trước sự thành công rốt ráo:
Tôi đang ở trên mái của một căn phòng bốn bề hoàn toàn bị nước bao quanh, thì bỗng nghe thấy một khúc nhạc tuyệt diệu vang vọng qua mặt nước. Khúc nhạc được mang tới bởi bốn “nhà thông thái” đứng trên những chiếc thuyền nhỏ, mỗi người đi tới từ một trong bốn phương hướng. Họ khoác những tấm áo choàng lộng lẫy, và khi họ tiến qua mặt nước trong ánh bình minh xám xanh, tôi nhận ra khúc nhạc mỗi người mang theo đều mang đặc trưng của “phương hướng” mà người ấy xuất phát. Bốn âm sắc âm nhạc này hòa quyện và hợp nhất thành một thanh âm tác động mãnh liệt lên tôi – ngay cả khi viết lại điều này ba năm sau đó, cảm xúc ấy vẫn vẹn nguyên như lúc nó xảy ra trong giấc mơ.
Bốn “nhà thông thái” bước lên những bậc thang ở mỗi góc phòng. Tôi ngập tràn cảm giác tôn kính và phấn khích vô bờ, và khi họ bước lên mái nhà thì trời đã sáng hơn. Sự hiện diện gần gũi của họ khiến tôi choáng ngợp. Tôi nhận ra họ đến để chuẩn bị cho tôi thực hiện một công việc nào đó. Sau đó tôi phải đi xuống cầu thang và hoàn thành một nhiệm vụ đòi hỏi sự kiên trì và tập trung cao độ trong thời gian dài. Khi tôi quay trở lại, tôi thấy bốn “nhà thông thái” đang chèo thuyền quay trở lại qua mặt nước. Dù có một thoáng hụt hẫng, khúc nhạc dường như còn huy hoàng hơn trước, thậm chí vang dội khúc khải hoàn. Rõ ràng có một cảm giác rằng mình đã thành công hoặc đã vượt qua được thử thách.
Rồi tôi thấy ở vị trí nơi mỗi “nhà thông thái” từng đứng, giờ đây có một bức tượng đá – bức tượng tuy trừu tượng nhưng không chỉ đại diện cho chính “nhà thông thái” ấy, mà thực sự đại diện cho tất cả những gì thuộc về văn hóa và tập tục của phương hướng mà người đó đã đến. Tôi dâng trào lòng biết ơn vì mình sẽ có thể chứng minh được rằng họ đã từng hiện diện ở nơi đây.
Sau đó tôi hướng sự chú ý về bốn “nhà thông thái” đang trở về phương hướng của riêng họ trên những chiếc thuyền nhỏ, và âm nhạc thậm chí còn trở nên vĩ đại hơn. Một lần nữa tôi lại nghe thấy với sự trong trẻo khác thường cá tính đặc thù của mỗi phương trong bốn hướng hòa quyện một cách huyền nhiệm thành một thứ âm thanh “siêu âm nhạc”, và ngày càng rực sáng cho đến khi một sắc xanh lam rực điện bao bọc lấy tôi, và một cảm giác an lạc, viên mãn mãnh liệt nhất mà tôi từng biết tràn ngập tâm hồn tôi khi giấc mơ khép lại.
(Hình 32. ĐẠI THÁP ZIGGURAT XỨ UR, Bản phục dựng.)
(Hình 33. KIM TỰ THÁP MAYA. Trên đỉnh là Ngôi đền của Thần linh.)
Tôi không muốn bàn về giấc mơ này ở các khía cạnh cá nhân của người bệnh, mà chỉ muốn phân tích ở mức độ nó minh họa cho chức năng của trục Bản ngã - Bản thể. Vở kịch tâm lý của giấc mơ diễn ra trên mái của một căn phòng – một dạng nền đài nhô lên trên mặt nước với các bậc thang ở mỗi góc trong bốn góc. Chi tiết này gợi nhớ đến quan niệm cổ xưa của Ai Cập về Thần Atum: Ngài được biểu thị như một gò đất nguyên thủy nhô lên từ đại dương sơ khai. Theo Clark, biểu tượng gò đất nguyên thủy này “đã sớm được định hình thành một cấu trúc nhô cao với các mặt dốc thoai thoải hoặc một bệ đài được bao quanh bởi các bậc thang ở mỗi phía... Đó có lẽ chính là điều mà các kim tự tháp bậc thang biểu thị.”⁸
Một hình ảnh tương đồng khác là tháp Ziggurat của người Babylon – cũng là một gò đất thánh có các bậc thang ở bốn phía dẫn lên bệ đài trên đỉnh, nơi đặt đền thờ thần Marduk (Hình 32). Đỉnh của gò đất thánh được coi là “rốn của vũ trụ” (axis mundi), điểm nơi quyền năng sáng tạo thiêng liêng hiển lộ, và là nơi gặp gỡ giữa thần linh và con người. Những ý niệm tương tự cũng gắn liền với các kim tự tháp của người Maya (Hình 33).
Hình ảnh các nhà thông thái mang lễ vật đến gợi cho ta nhớ đến câu chuyện Chúa Giáng Sinh và ba nhà thông thái phương Đông. Chủ đề mang lễ vật đến cho hài nhi mới sinh là một phần của huyền thoại về sự ra đời của người anh hùng – mà ta có thể nói thêm, cũng chính là huyền thoại về sự ra đời của Bản ngã.⁹ Nhưng ý nghĩa của con số bốn nhà thông thái thay vì ba là gì? Có một truyền thuyết kể rằng khi Chúa Giêsu giáng sinh, không phải ba mà là bốn nhà thông thái được cho là đã tìm đến Ngài từ bốn phương trời, nhưng người thứ tư bị trễ hẹn nên đã không đến kịp. Việc có bốn nhà thông thái đến từ bốn phương hướng ám chỉ biểu tượng Mạn-đà-la (mandala) và chỉ ra rằng các nhà thông thái là một chức năng của Tự ngã – tính toàn thể của tâm thức. Bốn nhà thông thái đại diện cho một trục Bản ngã - Tự ngã bốn chiều. Họ là những sứ giả và những người mang quà tặng từ vùng đất bên kia biển cả đến để thiết lập sự giao tiếp với Bản ngã. Chúng ta lại được gợi nhớ về giấc mơ vị linh mục - giáo sĩ Do Thái trước đó, nơi một ông lão thông thái cũng đóng vai trò kết nối người nằm mơ với cội nguồn siêu cá nhân của cô.
Tôi muốn bạn chú ý đến biểu tượng ánh sáng trong giấc mơ này. Giấc mơ bắt đầu lúc bình minh. Trời sáng dần khi các nhà thông thái bước lên mái nhà và trở nên rực rỡ nhất tại cao trào của giấc mơ. Ánh sáng đại diện cho ý thức. Mọi dân tộc đều có những huyền thoại sáng thế mô tả sự sáng tạo như sự tạo tác ra ánh sáng. Những huyền thoại này quy chiếu về sự tạo thành của Bản ngã – vốn là ánh sáng của ý thức được sinh ra từ bóng tối của vô thức. Tương tự, bình minh là sự ra đời mỗi ngày của ánh sáng mặt trời và là một hình ảnh thích hợp để đại diện cho ý thức đang trỗi dậy. Vì thế, chúng ta có thể hiểu giấc mơ này quy chiếu về sự phát triển hay gia tăng ý thức nơi người nằm mơ. Cách giải thích này cũng tương ứng với ý nghĩa của các nhà thông thái – những người mang phẩm tính của sự thông tuệ. Sự thông tuệ chính là ánh sáng theo nghĩa tâm lý học. Các nhà thông thái là những người mang lại ánh sáng của ý thức.
Một đặc điểm khác của giấc mơ là mỗi nhà thông thái để lại một bức tượng hay hình ảnh của chính mình – hình ảnh đúc kết phương hướng mà người đó đến và cung cấp bằng chứng hữu hình về thực tại của chuyến viếng thăm. Chi tiết này vô cùng thú vị: tôi hiểu nó như một biểu hiện của chính tiến trình biểu tượng. Các lực lượng nguyên mẫu, được đại diện bởi các nhà thông thái, mang các hình ảnh của chính họ như những món quà trao cho Bản ngã – những biểu tượng nhắc nhở cá nhân về các kết nối siêu cá nhân của mình. Những hình ảnh này tương ứng về mặt chức năng với bức thư, chim đại bàng và ánh sáng dẫn đường trong “Khúc thánh ca về Viên Ngọc Trai”. Chúng là những mắt xích kết nối giữa Bản ngã và tâm thức nguyên mẫu, truyền tải ý nghĩa biểu tượng sống động.
Từ “biểu tượng” (symbol) bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp symbolon¹⁰ – kết hợp từ hai gốc từ: sym (nghĩa là cùng nhau hoặc với) và bolon (nghĩa là thứ được ném ra). Ý nghĩa căn bản của nó là “thứ được ghép lại với nhau”. Trong cách dùng nguyên thủy của người Hy Lạp, biểu tượng dùng để chỉ hai nửa của một vật thể như một thanh gỗ hay một đồng xu mà hai bên bẻ đôi làm tín vật giao ước, nhằm chứng minh danh tính của người giữ nửa này với người giữ nửa kia sau này. Thuật ngữ này tương ứng với từ “thẻ làm bằng” (tally) mà Từ điển Toàn thư Webster định nghĩa: “Theo thông lệ của giới thương nhân xưa kia, sau khi khắc các khía trên một chiếc gậy để ghi số lượng hàng hóa đã giao, người ta sẽ chẻ dọc chiếc gậy qua các vết khía đó để hai phần khớp khít với nhau; người bán giữ một nửa, người mua giữ nửa còn lại.”
Như vậy, một biểu tượng ban đầu là một mảnh ghép làm bằng chỉ về phần còn thiếu của một vật thể, mà khi được gắn lại với nhau, hay ném lại cùng nhau với nửa kia của nó, sẽ tái tạo lại vật thể nguyên vẹn ban đầu. Điều này hoàn toàn tương ứng với sự thấu hiểu của chúng ta về chức năng tâm lý của biểu tượng: Biểu tượng dẫn dắt chúng ta tìm về phần còn thiếu để tạo nên con người toàn vẹn. Nó kết nối chúng ta với tính toàn thể nguyên thủy của chính mình. Nó chữa lành sự phân ly, sự tha hóa của chúng ta khỏi dòng chảy cuộc đời. Và vì con người toàn vẹn lớn lao hơn Bản ngã rất nhiều, biểu tượng kết nối chúng ta với các nguồn lực siêu cá nhân – cội nguồn của sự hiện hữu và ý nghĩa của chúng ta. Đó chính là lý do sâu xa để tôn vinh tính chủ quan và vun bồi đời sống biểu tượng.
CHÚ THÍCH
¹ Jung, C. G., “The Symbolic Life,” Bản ghi chép bài thuyết trình năm 1939 từ ghi chép tốc ký của Derek Kitchin, London, Guild of Pastoral Psychology, Bài giảng số 80, Tháng 4 năm 1954.
² Jung, C. G., “Answer to Job” trong Psychology and Religion: West and East, C.W., tập 11, 1958, đoạn 553-555.
³ Jung, C. G., The Practice of Psychotherapy, C.W., tập 16, đoạn 250.
⁴ Tôi xin tri ân Storr vì đã chỉ ra mối tương liên khuếch đại này. (Storr, A., “The Psychopathology of Fetishism and Transvestism,” Journal of Analytical Psychology, Tập 2, Số 2, Tháng 7 năm 1957, tr. 161.)
⁵ Jung, C. G., Memories, Dreams, Reflections, New York, Pantheon Books, 1963, tr. 177.
⁶ Dẫn theo Gerhard Adler, Studies in Analytical Psychology, New York, C. G. Jung Foundation, 1967, tr. 120tt.
⁷ Jonas, H., The Gnostic Religion, Boston, Beacon Press, 1958, tr. 113tt.
⁸ Clark, R. T. R., Myth and Symbol in Ancient Egypt, New York, Grove Press, 1960, tr. 38.
⁹ Chính xác hơn, người anh hùng đại diện cho thôi thúc hướng tới quá trình cá nhân hóa mà Bản ngã cộng tác cùng.
¹⁰ Xem L. Stein, “What is a Symbol Supposed to be?” Journal of Analytical Psychology, Tập II, Số 1, Tháng 1 năm 1957, tr. 73.
Bình luận