Thực hành Sự Hiện diện của “Cái Khác” Bên trong – Phát triển Trục Bản Ngã - Tự Tính Nguyên Mẫu
- Minh Đào
- 4 giờ trước
- 78 phút đọc
Như tôi đã chia sẻ trong bài giảng tối qua—đối với những ai đã có mặt—tôi là một trong số ít những người theo trường phái Jung có nét tính cách hướng ngoại. Phần lớn các nhà tâm lý học trường phái Jung đều là người hướng nội. Bạn tôi, John Giannini, một nhà phân tích kỳ cựu của Viện, và tôi đều là những người hướng ngoại. Tối qua tôi có nói rằng: người hướng nội thường làm sáng tỏ rành mạch tư duy trong tâm trí trước khi bộc lộ ra ngoài, còn người hướng ngoại lại có xu hướng nhận biết và định hình suy nghĩ của mình thông qua quá trình đối thoại với người khác.
Chính vì vậy, tôi rất biết ơn tất cả những người trong cộng đồng Jung đã đến và đối thoại cùng tôi như những gì chúng ta sẽ làm ngày hôm nay. Sự phát triển tư tưởng của tôi trong suốt nhiều năm qua thực sự mang món nợ ân tình lớn với cộng đồng này và với sự sẵn lòng cùng tôi suy ngẫm về các chủ đề đó. Toàn bộ những cuốn sách, các bài giảng ghi âm này là thành quả hợp tác chung giữa những người tham dự, cùng đối thoại, và nỗ lực của tôi trong việc tiếp thu những gì chúng ta thảo luận để hệ thống hóa lại, đưa ra phục vụ công chúng. Buổi gặp gỡ hôm nay chính là sự tiếp nối của tiến trình đó.
Đối với những ai chưa biết nhiều về tôi, tôi xin phép giới thiệu đôi điều. Có một trang web mà tôi mong quý vị biết đến và chia sẻ với bạn bè: đó là robertmoorephd.com (hoặc robertmoore.com). Các sự kiện tôi tổ chức tại Chicago hay trên thế giới, cùng rất nhiều băng ghi âm bài giảng và sách vở hiện có đều được cập nhật tại đó.
Tôi là một nhà phân tâm học trường phái Jung. Tôi thường nói rằng: Tôi theo trường phái Jung không phải vì tôi không biết các lý thuyết khác. Trong nhiều năm, tôi đã giảng dạy về các lý thuyết phân tâm và trị liệu tâm lý so sánh, tâm linh so sánh, tôn giáo so sánh và thần thoại so sánh. Tôi nhận mình là người đại diện cho truyền thống của Jung bởi tôi thực sự tin rằng đây là nền tâm lý học thỏa đáng nhất để thấu hiểu bản thể kỳ diệu, kinh ngạc nhưng cũng đầy đáng sợ của con người. Quý vị sẽ cảm nhận được phần nào điều này trong ngày hôm nay.
Hiện tại, tôi là Giáo sư chuyên ngành Phân tâm học, Văn hóa và Tâm linh tại Trung tâm Tiến sĩ thuộc Chủng viện Thần học Chicago (Chicago Theological Seminary). Ngoài ra, tôi còn có phòng thực hành tư nhân về trị liệu tâm lý phân tâm, phân tích tâm lý và khai vấn lãnh đạo cấp cao (executive coaching) tại khu vực Hyde Park. Lịch trình của tôi khá bận rộn; bản tính tôi hơi nghiện việc một chút, nhưng tôi thực sự yêu công việc của mình. Vì vậy, tôi rất vui mừng được có mặt cùng quý vị hôm nay.
Kế hoạch của tôi là dành buổi sáng để lướt nhanh qua tài liệu phát tay ở phía trên; mỗi người nên lấy một bản nếu chưa có. Chúng ta sẽ bao quát một phạm vi kiến thức rất rộng. Mục tiêu là xây dựng bản đồ lý thuyết và khái niệm dựa trên nền tảng của Jung, đồng thời cập nhật thêm các công trình nghiên cứu gần đây của tôi. Chúng ta sẽ đối thoại về khung lý thuyết của Jung và lý do vì sao nó vẫn mang tính thích ứng cốt lõi với những vấn đề chúng ta đang đối mặt với tư cách cá nhân, gia đình và toàn xã hội. Đến buổi chiều, chúng ta sẽ quay trở lại và thực sự đi sâu vào việc thảo luận những trải nghiệm thực tế của chính quý vị, hoặc quý vị có thể đưa ra một trường hợp giả định: "Một người đang trải qua tình trạng như thế này thế kia, thì điều đó có thể có ý nghĩa gì?" Chúng ta sẽ cùng nhau tương tác về những khía cạnh đó, bởi tôi muốn chuyển dịch từ bình diện lý thuyết và sơ đồ hóa—nhằm định hình một bức tranh địa lý về mặt trí thức và khái niệm về những gì đang thực sự diễn ra—để sau đó tiến hành chia sẻ, chiêm nghiệm mang tính trải nghiệm, cùng nỗ lực thực hành nhằm cảm nhận và áp dụng góc nhìn này một cách thực tế vào đời sống cá nhân, cũng như trong công việc khi quý vị làm việc với người khác, dù đó là thanh thiếu niên, các thân chủ, sinh viên đại học hay các nữ tu.
Những thách thức mà chúng ta cùng chia sẻ thực sự gắn kết tất cả chúng ta; chúng ta đều đang ngồi chung trên một con thuyền trước những biến động đang diễn ra. Khung thời gian trong tập tài liệu quảng bá có đề cập đến nội dung tôi muốn trình bày, dù nó có đôi chút khác biệt so với bản tôi đã nộp ban đầu.
Quý vị cần biết rằng buổi làm việc hôm nay là một phần trong chuỗi các buổi hội thảo liên tục. Dù chúng ta có thể xem nó như một buổi độc lập, nhưng nó nằm trong tổng thể mạng lưới công trình mà tôi đã thực hiện suốt nhiều năm qua. Toàn bộ đều có sẵn qua các bài giảng ghi âm và sách của tôi.
Trong thời gian qua, tôi đã nỗ lực thực hiện hai việc:
Thứ nhất là cập nhật nền phân tâm học tích hợp khoa học của Jung, bởi tôi thực sự tin rằng dưới góc độ khoa học phân tâm, đây là hệ hình mang lại cơ hội tốt nhất để chúng ta có được một bộ môn khoa học nhân văn thỏa đáng về tâm trí—mang tính liên ngành và nhạy bén về mặt liên ngành.
Điều thứ hai tôi đã thực hiện qua nhiều năm làm việc là đi đến một nhận thức sâu sắc mà tôi đã trình bày trong nhiều cuốn sách của mình: đó là khi con người quyết định rằng họ không cần phải thực hành sự tham gia vào trí tưởng tượng mang tính thần thoại của chính mình, và khi họ mang tư tưởng cho rằng mình vượt trội hơn về mặt trí tuệ hoặc ưu việt hơn với tư cách một con người nếu không tham gia vào bất kỳ kỷ luật tâm linh hay thực hành nghi lễ nào trong lịch sử nhân loại. Sáng nay, chúng ta sẽ cùng nhau tìm hiểu chuyện gì đã xảy ra. Có những nguồn lực vĩ đại ẩn chứa bên trong tâm trí con người.
Do đó, chúng ta sẽ bàn luận về điều mà tôi gọi là "Cuộc cách mạng Copernicus của Jung trong Tâm lý học".
Các quan điểm về tâm trí trước thời Jung trong tâm lý học hiện đại thường có xu hướng dựa trên thế giới quan Khai sáng về con người. Họ đã hạ thấp mọi hình thức diễn ngôn mang tính thần thoại, biểu tượng và các thực hành nghi lễ, coi tất cả chỉ là sự mê tín dị đoan. Khi tôi còn là một học giả và nhà trị liệu trẻ tuổi, người ta đã dạy chúng tôi rằng mọi thực hành tôn giáo đều gây ra sự điên rồ, và rằng mọi thực hành nghi lễ đều mang tính chất ám ảnh cưỡng chế. Tức là, đã từng tồn tại một hệ hình phân tâm kiểu Freud diễn giải tất cả các tiến trình này dựa trên quan điểm Khai sáng về tâm trí. Theo đó, vô thức chỉ đơn thuần bị coi là tàn tích cổ sơ. Những lý thuyết đủ tinh vi để nhìn nhận về vô thức thì cũng chỉ coi nó là cổ sơ thuần túy và gắn liền với những thứ mê tín thời tiền hiện đại. Do đó, người ta đã cố gắng lý giải tâm trí con người như một cỗ máy. Mô hình cơ giới hóa tâm trí bắt đầu xuất hiện.
Có một cuốn sách cũ kể lại câu chuyện này—cuốn sách có thể không còn tái bản nhưng vẫn có thể tìm được trên Amazon—của tác giả Floyd Mattson mang tên The Broken Image (Hình ảnh Rạn vỡ). Cuốn sách thuật lại xu hướng ngày càng tăng trong việc nhìn nhận con người như những cỗ máy: nếu hoạt động bình thường, họ là cỗ máy được bôi trơn tốt; còn nếu có rối loạn chức năng, họ bị xem như những cỗ máy hỏng hóc. Xu hướng này ngày càng phát triển và bùng phát như một dịch bệnh ngày nay—tôi muốn nói đến xu hướng xem con người đơn thuần là những cỗ máy hóa sinh, không hơn không kém. Bất kỳ ai có cảm thức về ý nghĩa siêu việt hay về giá trị của ý thức đều bị coi là kẻ mù mờ, lạc hậu và tương đồng với những người mê tín trước thế kỷ 18.
Những ai am hiểu lịch sử đều nắm rõ điều này, nhưng với những ai chưa có cơ hội nghiên cứu lịch sử sâu sắc, có thể quý vị chưa nhận thức hết về những biến cố lịch sử to lớn dẫn đến sự suy giảm trong việc trân trọng chiều kích tâm linh của đời sống con người, cũng như giá trị của chính ý thức, ý chí, tính chủ đích và cảm thức về ý nghĩa của con người. Nếu muốn hiểu điều gì đã xảy ra trong tôn giáo phương Tây, có một cuốn sách cũ của James Livingston mang tên Christian Theology from the Enlightenment to Vatican II (Thần học Kitô giáo từ thời Khai sáng đến Công đồng Vatican II). Sách phân tích tác động ngày càng sâu rộng của tiến trình thế tục hóa đối với đời sống và thực hành tôn giáo trong đạo Tin Lành và Công giáo Rôma. Tóm lại, đây là một làn sóng chuyển dịch rất lớn.
Trong một số công trình ban đầu, tôi đã chỉ ra sự suy giảm của tri thức nghi lễ và sự mai một trong nhận thức về lý do tại sao nghi lễ lại cần thiết thực sự bắt đầu bùng phát mạnh mẽ từ thời kỳ Cải cách Kháng nghị (Reformation). Dù trước đó đã có những mầm mống nuôi dưỡng xu hướng này, nhưng chính vào thời kỳ Cải cách, phong trào bài trừ biểu tượng (iconoclasm)—tức sự bài xích hình ảnh và biểu tượng—đã trở nên vô cùng gay gắt. Đã có một cuộc công kích dữ dội nhắm vào mọi quy trình nghi lễ.
Tôi thấy rất thú vị khi nhận ra rằng: sự gia tăng các vấn nạn đương đại như nghiện ngập, cưỡng chế, trầm cảm, cùng mức độ lo âu ngày càng tăng ở mọi tầng lớp xã hội—thậm chí nghiên cứu hiện nay còn cho thấy mức độ lo âu ở phôi thai cũng đang chạm đỉnh và gia tăng—thực chất là một tiến trình bắt đầu tăng tốc từ thời Cải cách và kéo dài liên tục cho đến tận ngày nay. Cùng với đó là sự thống trị ngày càng lớn của công nghệ và điều mà triết gia vĩ đại Paul Tillich gọi là "sự đồ vật hóa con người" (the thingification of the human). Đó không phải là một từ ngữ thanh nhã cho lắm, nhưng đó chính xác là cụm từ ông đã lựa chọn. Tillich đã viết về điều đó từ những năm 1950 và thậm chí sớm hơn. Thật kinh ngạc trước mức độ tiên tri chuẩn xác của ông, và thực tế hiện nay thậm chí còn tồi tệ hơn.
Đây chính là bối cảnh văn hóa và nền tảng tâm lý học mà nhiều quý vị đã từng học ở bậc đại học, thậm chí trong các trường công tác xã hội hay tâm lý học lâm sàng: những lý thuyết tâm lý mang tính giản lược (reductionistic). Trong số đó, một số thuyết thậm chí không có lý thuyết về bản thể (self), nhiều thuyết không có định nghĩa rõ ràng về tâm trí ý thức chứ chưa nói đến tâm trí vô thức. Chúng chỉ là thứ tâm lý học nghiên cứu trên chuột hay bồ câu.
Quý vị cần nắm rõ bối cảnh này. Có một cuốn sách truy nguyên lịch sử phát triển của phong trào phân tâm học—vốn theo một nghĩa nào đó là nỗ lực quay trở lại phục hồi các chiều kích cổ sơ, sâu thẳm hơn của con người. Đó là tác phẩm The Discovery of the Unconscious (Khám phá Vô thức) của Henri Ellenberger. Đây là một cuốn sách tuyệt vời, phác họa toàn bộ lịch sử từ Freud, Adler, Jung đến các nhà phân tích hiện sinh.
Hầu hết những lý thuyết khác đều là thứ mà Ken Wilber ngày nay gọi là các lý thuyết tâm trí "xứ phẳng" (flatland theories)—những lý thuyết hoàn toàn thiếu vắng cảm thức về chiều sâu, cũng như không có ý niệm nào về sự siêu việt khỏi bản ngã (ego), bất cứ điều gì vượt lên trên cái tôi bản ngã. Vì thế, phần lớn các trường phái tâm lý này đơn thuần chỉ là tâm lý học hành vi.
Kể cả khi phân tâm học khởi phát với Freud, đó vẫn là thứ tâm lý học về một vô thức cổ sơ mà ở đó hầu như không chứa đựng yếu tố tích cực nào—những thứ vô thức mà bạn buộc phải học cách sống chung cùng nó. Đó là các trường phái "tâm lý học bản ngã" (ego psychologies). Nhiều người làm trị liệu ngày nay vốn được đào tạo theo trường phái này; nghĩa là, họ xem trung tâm của tâm trí nằm ở ý thức bản ngã (ego consciousness), và nhiệm vụ trọng tâm trong tâm lý học chỉ là phát triển Ego.
Tất nhiên, đó là một nhiệm vụ quan trọng, điều đó không có gì phải bàn cãi và chúng ta sẽ nói thêm về nó lát nữa. Nhưng khi Jung xuất hiện, đã có một sự chuyển dịch hệ hình mang tính bước ngoặt. Jung bắt đầu lập luận rằng tâm trí con người chứa đựng nhiều điều hơn là chỉ có ý thức và vô thức cá nhân. Vô thức cá nhân là những gì quý vị tiếp nhận từ gia đình gốc, qua các chấn thương thời thơ ấu, từ thứ tự sinh trong gia đình, hay từ những đặc điểm thể chất cụ thể của bản thân. Đó là những động lực vô thức cá nhân và chắc chắn chúng rất quan trọng.
Nhưng Jung bắt đầu hiểu rằng có một tầng sâu hơn trong tâm trí con người được thừa kế di truyền, một tầng vô thức mang tính toàn giống loài. Trong tầng vô thức mà sau này gọi là "vô thức tập thể" (collective unconscious) hay "tâm trí khách quan" (objective psyche) đó, chứa đựng một lượng khổng lồ thông tin được mã hóa, một khối lượng đồ sộ về khuôn mẫu nguyên mẫu (archetypal template) cho các tiềm năng của con người.
Và vì vậy, dù vẫn giữ quan điểm của Freud rằng vô thức có những yếu tố cá nhân vô cùng quan trọng, và giữ nguyên nhận thức của Freud rằng vô thức thường bộc lộ dưới những hình thức rất cổ sơ hay những dạng thức thoái lui (regressive forms), Jung tin rằng có những nguồn lực to lớn tiềm ẩn trong vô thức. Và đặc biệt quan trọng đối với những ai chưa từng học Jung: thực chất có hai trung tâm trong nhân cách con người.
Theo Jung, Ego (Bản ngã) là trung tâm của ý thức, của tâm trí có ý thức, và điều này chắc chắn là rất quan trọng để có một Ego có thể tự định tâm và vận hành ổn định. Tuy nhiên, ông cũng chỉ ra rằng còn có một trung tâm của toàn bộ nhân cách nằm trong vô thức tập thể. Vô thức tập thể chứa đựng rất nhiều nguyên mẫu, nhưng ở vị trí trung tâm nhất chính là cái mà ông gọi là "Bản thể nguyên mẫu" (Archetypal Self — viết hoa chữ B, như tôi đã trình bày ở đây).
Quý vị có tâm trí ý thức, như thấy trên sơ đồ, chúng ta có thể hình dung nó như luồng ánh sáng đèn pha của ý thức, là những gì quý vị có thể nhận biết một cách liên tục hoặc có thể chủ động tập trung vào tùy ý. Jung đã bàn về Ego trong mối tương quan với Bản thể nguyên mẫu này.
Bản thể nguyên mẫu, theo ông, được biểu hiện qua rất nhiều dạng hình tượng khác nhau. Nếu nghiên cứu Jung và các tác giả cùng trường phái, quý vị sẽ thấy tính đa dạng trong các biểu tượng của Bản thể (Self). Self xuất hiện dưới muôn vàn hình dạng, mượn cách nói từ Joseph Campbell: nếu có "muôn mặt của Thượng đế" (Masks of God) thì cũng có muôn vàn chiếc mặt nạ mà Bản thể nguyên mẫu khoác lên mình. Chiều nay, chúng ta sẽ cùng suy ngẫm xem Bản thể nguyên mẫu đã đeo chiếc mặt nạ nào khi cố gắng thu hút sự chú ý của quý vị.
Bất cứ điều gì tượng trưng cho một Trung tâm Vĩ đại đối với con người đều mang sự phóng chiếu của Self. Tôi xin đưa ra một ví dụ điển hình: Biểu tượng Ngọn núi Thiêng (The Sacred Mountain). Biểu tượng Ngọn núi Thiêng hiện diện khắp nơi trên thế giới. Đây là dạng hình tượng nguyên sơ khởi nguồn cho mọi lý thuyết về đường xoắn ốc (spiral), hay những hình dung về kim tự tháp vươn lên tận trời cao. Tất cả những điều đó đều là sự biểu hiện của trung tâm nguyên mẫu này.
Nếu quý vị từng xem hình ảnh về cuộc hành hương Hồi giáo đến Mecca, thấy cảnh đám đông đi vòng quanh đền Kaaba trong quy trình nghi lễ quanh tảng đá đen khổng lồ, quý vị đang chứng kiến một biểu hiện diễn xuất dưới hình thức phóng chiếu của bản thể nguyên mẫu. Không có gì uy lực hơn việc xem thước phim đó và nhận ra sự vĩ đại của nguồn năng lượng nguyên mẫu đang quy tụ ngay tại Kaaba—nơi đang mang sự phóng chiếu của Self.
Những ai từng tham gia các cuộc hành hương tâm linh hay các cuộc tìm kiếm thị kiến (vision quests) đều hiểu rằng: khi đi hành hương, quý vị đang thực sự hiện thực hóa một hành trình đi về Trung tâm, nỗ lực hiện thân cho hành trình hướng tới "Trung tâm ở Ngoài kia" (The Center Out There). Quý vị có thể tham khảo công trình của Victor Turner về hành hương, ông có các bài viết mang tên The Center Out There và sách về hình tượng trong các cuộc hành hương Kitô giáo.
Ngày nay, người ta cũng bàn tán rất nhiều về mê cung Labyrinth. Quý vị nên trải nghiệm đi bộ trong mê cung Labyrinth để trực tiếp cảm nhận điều này. Khi bước đi trong Labyrinth, đó chính là sự đại diện biểu tượng ngoại tại của Bản thể nguyên mẫu, và là nỗ lực của con người trong việc thiết lập mối quan hệ với nó một cách có ý thức và đầy tính chiêm nghiệm.
Về Labyrinth, nếu quý vị lên mạng và tìm kiếm từ khóa này, quý vị sẽ tìm thấy vô số tài liệu phong phú. Rất nhiều người hiện đang sử dụng biểu tượng Labyrinth và thực hành đi bộ trong đó để đưa trải nghiệm này thẩm thấu vào cơ thể, nhằm khôi phục lại quy trình nghi lễ trong việc kết nối với bản thể nguyên mẫu. Thậm chí người ta còn làm những tấm bảng gỗ nhỏ để bán; quý vị có thể dùng ngón tay di chuyển men theo đường mê cung và thiền định trong suốt quá trình đó. Con người rất sáng tạo và khéo léo trong những phương pháp này.
Nhưng nếu nghiên cứu văn hóa so sánh, quý vị sẽ thấy điều này hiện diện khắp nơi trong văn hóa tiền hiện đại. Người tiền hiện đại đã thấu hiểu sâu sắc rằng có một Trung tâm ngự trị ở ngoài kia, và con người cần phải kết nối với nó một cách đầy tôn kính. Trước hết, quý vị cần học cách tôn kính nó, và sau đó, như chúng ta sẽ thấy lát nữa, học cách hiệp thông với nó.
Trong các buổi hội thảo trước đây, tôi đã đặt nền móng giải thích cơ chế này—tôi từng tổ chức các buổi về công trình của Edward Edinger, về không gian thiêng và quy trình nghi lễ. Tất cả đều đề cập đến vấn đề này. Điều cốt lõi để hiểu Cuộc cách mạng Copernicus của Jung là: quý vị có thể hình dung nó tương tự như sự chuyển dịch từ thuyết địa tâm của Ptolemy sang thuyết nhật tâm của Copernicus. Chừng nào quý vị còn cho rằng Ego của con người là trung tâm của tâm trí, thì theo quan điểm của trường phái Jung, quý vị vẫn đang vận hành dựa trên một nhận thức đã lỗi thời về thế giới nội tâm.
Quan điểm Ptolemy về Trái đất và mối tương quan với Mặt trời cùng các hành tinh vẫn có những giá trị ứng dụng thực tế nhất định—người ta vẫn có thể dùng nó để định vị và lái tàu thuyền. Nhưng những gì làm được với mô hình Ptolemy là có hạn, và sự tiến bộ của khoa học cuối cùng buộc phải thừa nhận những khám phá của Copernicus. Theo quan điểm của cá nhân tôi, điều tương tự tất yếu phải diễn ra trong tâm lý học, bởi có vô số bằng chứng cho thấy Ego không phải là trung tâm như nó huyễn tưởng. Và Jung chính là người đã phục hồi lại trực giác cổ xưa rằng có một Trung tâm ngự trị ở đó.
Gần đây tôi có tổ chức một số hội thảo, và xin giải thích sự liên hệ của chúng với chủ đề hôm nay. Tôi từng giảng về Edinger để cung cấp cơ chế nền tảng mà sáng nay chúng ta sẽ lướt qua nhanh. Sau đó, tôi có bài giảng mang tên Transforming Fire (Ngọn lửa Chuyển hóa), thảo luận về nguồn sức mạnh to lớn trong bản thể nguyên mẫu—nội dung tôi sẽ nhắc lại chiều nay; quý vị có thể tham khảo bài giảng này về việc tối ưu hóa khả năng tiếp cận và điều hòa các nguồn năng lượng nguyên mẫu.
Tiếp đó, tôi tổ chức hội thảo về Nguyên mẫu Hiến tế (Archetype of Sacrifice)—bài giảng này sẽ sớm được phát hành. Trong đó, tôi chỉ ra rằng ở thế giới cổ đại, gần như khắp nơi trên thế giới, con người đều hiểu tầm quan trọng của sự hiến tế. Cơ chế hoạt động như sau: Bất kể bộ tộc nào, họ đều hiểu rằng:
Thứ nhất: Tồn tại một "Kẻ Khác Nguyên sơ" (Primal Other — viết hoa chữ O).
Thứ hai: Kẻ Khác ấy đòi hỏi điều gì đó từ cá nhân tôi và từ chúng ta với tư cách một bộ tộc.
Thứ ba: Họ mặc định rằng nếu muốn có một cuộc sống tương đối ổn thỏa, thì tôi phải tìm cách dâng cho Kẻ Khác ấy một phần những gì nó muốn.
Trên khắp thế giới, các nền văn hóa có những mường tượng khác nhau về việc đó là gì và đòi hỏi những gì—đó là nguồn gốc của tục hiến tế người, hiến tế động vật (mà ngày nay vẫn còn diễn ra trong các tín ngưỡng như Santería, v.v.). Nhưng nếu đi sâu vào bản chất của nguyên mẫu hiến tế trong tâm trí và ý nghĩa thực sự của nó—chủ đề tôi đã phân tích ở phần cuối hội thảo trước—thì hội thảo về nguyên mẫu hiến tế chính là bước đệm dẫn đến buổi học hôm nay. Sau khi mô tả các thực hành hiến tế, tôi đã đi đến kết luận rằng tất cả những thực hành cổ xưa đó đều bắt nguồn từ trực giác về một Sự Hiện Diện Vĩ Đại (Great Presence).
Do đó, khi tôi nói "Thực hành Sự Hiện Diện: bản thể nguyên mẫu trong đời sống đồng điệu (synchronistic life)", tôi đang nói đến phát hiện tâm lý học của Jung rằng có một Sự Hiện Diện Vĩ Đại ngự trị bên trong tâm trí. Nó không nằm ở thế giới bên ngoài mà nằm ngay trong tâm trí. Và một Ego không nhận biết được điều này chắc chắn sẽ gặp rắc rối nghiêm trọng. Chúng ta sẽ phân tích điều này ngay sau đây.
Trong các nghi lễ hiến tế cổ xưa, họ biết có một Sự Hiện Diện Vĩ Đại, biết nó muốn điều gì đó, và biết họ phải dâng nộp cho nó nếu không muốn cuộc sống rơi vào hỗn loạn hoàn toàn. Dựa trên các công trình và thấu thị của Jung, tôi cho rằng đó chính là trực giác cổ xưa về một thực tại tâm lý mà Jung, thông qua Cuộc cách mạng Copernicus của mình, đã đưa vào địa hạt lý thuyết.
Nếu quý vị tự hỏi liệu cuộc cách mạng này có nhận được sự hậu thuẫn từ khoa học nói chung hay không, câu trả lời chắc chắn là có. Dù không thể đi quá sâu vì còn nhiều nội dung cần bao quát, nhưng tôi tin rằng khoa học đương đại hiện có rất nhiều bước phát triển mà chúng ta cần suy ngẫm và đối thoại để thúc đẩy tâm lý học tiến lên. Nhiều thành tựu bắt nguồn từ các nghiên cứu não bộ gần đây. Tối qua trong bài giảng, tôi đã nói về những gì cần làm để đưa tâm lý học Jung tiến vào thế kỷ này, liên quan đến việc tận dụng các nguồn lực khoa học và những tương đồng đẳng cấu (isomorphic parallels) nhằm khơi gợi tư duy.
Điểm mấu chốt là nhận thức ngày càng tăng trong giới lý thuyết gia—từ các nhà lý thuyết hệ thống gia đình Bowen cho đến một chuyên gia tôi hết sức ngưỡng mộ là Daniel Siegel tại UCLA. Ông là một bác sĩ tâm thần lỗi lạc, người đã tổng hợp toàn bộ các nghiên cứu liên ngành về não bộ, về những gì chúng ta được thừa hưởng trong cấu trúc não bẩm sinh, cũng như những gì cộng đồng và mỗi chúng ta cần làm để đảm bảo não bộ của trẻ em phát triển đầy đủ. Thậm chí ngay cả ở độ tuổi của tôi, chúng ta vẫn phải chủ động giúp não bộ phát triển, bởi não vẫn không ngừng hình thành các liên kết mới. Phần lớn những gì chúng ta cần làm là chủ động giúp não bộ kiến tạo các kết nối mới một cách có ý thức. Nghiên cứu chỉ ra rằng điều này không chỉ khả thi mà còn là tất yếu nếu quý vị muốn duy trì sự năng động, tràn đầy sức sống và tối ưu hóa nhân cách của mình.
Một điều rất rõ ràng từ các nghiên cứu tâm thần học tiến hóa gần đây là: có rất nhiều chương trình bản năng mạnh mẽ—quý vị thậm chí không cần gọi là "nguyên mẫu" nếu không muốn—nằm trong di sản sinh học của quý vị đang chực chờ giải phóng. Một số sẽ phát tác theo những cách mất cân bằng; một số khác lại ngủ say như con rắn Kundalini vĩ đại cho đến khi được đánh thức.
Nói cách khác, đây là bức tranh tâm trí mà chúng ta cần khẳng định: Bên trong quý vị chứa đựng muôn vàn tiềm năng tuyệt vời, là những mã lệnh cho các năng lực khác nhau của một con người. Trong quá trình phát triển đầu đời ở gia đình, một số tiềm năng đã bị kích thích quá mức vì những lý do chúng ta sẽ thảo luận sau, dẫn đến việc chúng hoạt động quá tải và khiến quý vị có phần bất ổn. Trong khi đó, những tiềm năng khác vẫn còn ngủ yên, chưa từng được khơi dậy, nuôi dưỡng và chúc phúc đúng mực.
Hôm nay, tôi mời quý vị cùng suy ngẫm xem những tiềm năng nguyên mẫu nào đang vận hành quá mức (running hot) trong tâm trí quý vị, và tiềm năng nguyên mẫu nào vẫn đang ngủ say mà có thể quý vị còn không nghĩ rằng mình sở hữu chúng. Điều này cực kỳ quan trọng vì những lý do chúng ta sắp phân tích. Bên trong Sự Hiện Diện Vĩ Đại trong tâm trí quý vị chứa đựng vô vàn tiềm năng. Trên thực tế, tiềm năng sáng tạo rạng rỡ nhất, tiềm năng tính dục/xúc cảm (erotic) sáng tạo nhất, năng lực hành động hiệu quả rực rỡ nhất, và sự minh triết trong tầm nhìn cùng tính chủ đích—những thứ nếu thiếu vắng, quý vị sẽ không thể có đủ sinh lực—tất cả đều nằm trong bản thể nguyên mẫu.
Vậy Ego (Bản ngã) của quý vị sở hữu bao nhiêu phần trong nguồn sức mạnh, năng lượng và tiềm năng đó? Hoàn toàn là con số không. Mọi người thường ngạc nhiên tại sao mình lại kiệt quệ, mệt mỏi, nhạt nhòa, đơn điệu, mất cảm hứng, buông xuôi, hư vô và hoài nghi đến vậy. Đó là vì họ đang kỳ vọng Ego tự tạo ra những điều đó. Nhưng theo góc nhìn của Jung, Ego không thể tự tạo ra chúng. Bất kể gia đình quý vị tốt đẹp đến đâu, xuất thân giàu có, đặc quyền thế nào, hay bản thân quý vị bẩm sinh tài năng ra sao—những phẩm chất đó không tự động kích hoạt. Chúng thuộc về bình diện nguyên mẫu.
Bây giờ tôi muốn điểm qua nhanh một vài thuật ngữ khác trước khi trả lời một số câu hỏi và nghỉ giải lao.
Tôi có bổ sung ở đây một vài phát triển mở rộng của riêng mình từ tư tưởng của Jung. Jung chủ yếu bàn về Ego và bản thể nguyên mẫu, cùng các phức cảm (complexes). Để tương thích với những bước tiến gần đây của phân phân tâm học, tôi chỉ ra rằng bên cạnh ý thức bản ngã (ego consciousness), mỗi chúng ta đều phải nỗ lực phát triển cái mà tôi—dựa theo Harry Stack Sullivan, Heinz Kohut và những người khác—gọi là "Hệ thống bản ngã" (system self — viết chữ s thường).
Đây là điều Heinz Kohut gọi là "Bản ngã hạt nhân" (nuclear self) hay khả năng hình thành một "Bản ngã gắn kết" (cohesive self) bên trong quý vị—một bản ngã viết chữ thường (self). Nó không phải là bản thể nguyên mẫu (Archetypal Self). Một số người hay nhầm lẫn giữa hai khái niệm này.
Một cách hình dung đơn giản như sau: Trong bản thể nguyên mẫu—như trong sơ đồ giải mã mà chúng ta sẽ xem xét lát nữa—tồn tại một bản thiết kế, một dạng "DNA tâm lý", một tấm bản đồ về các khả năng và tiềm năng trong bản thể vĩ đại đó. Nhưng đó mới chỉ là tiềm năng. Còn Hệ thống bản ngã (system self) thực tế phải được xây dựng từng bước như xây kim tự tháp. Quý vị phải đặt từng khối đá một xuống, giống như xây một ngôi nhà. Hệ thống bản ngã thực tế của quý vị được nhìn nhận dưới góc độ lý thuyết hệ thống, đó là lý do tôi gọi nó là "Hệ thống bản ngã".
Nhân cách của quý vị vận hành như một hệ thống. Nếu quý vị gặp nhiều vấn đề cá nhân trong việc điều hòa nhân cách dưới bất kỳ hình thức nào, điều đó có nghĩa là Hệ thống bản ngã của quý vị chưa đạt được sự tổ chức sáng tạo thỏa đáng. Mọi thứ trong tự nhiên đều được cấu thành từ các hệ thống tự nhiên: cơ thể quý vị gồm nhiều hệ thống tự nhiên hợp tác với nhau; đời sống tâm lý của quý vị cũng vận hành theo các hệ thống tự nhiên nhờ sự phối hợp của các hệ thống hóa sinh trong cơ thể. Bản thân quý vị là một thực thể tuyệt vời. Quý vị là một cộng đồng hợp tác kỳ diệu của các hệ thống tự nhiên được tinh chỉnh một cách thanh lịch, ngay cả khi quý vị đang cảm thấy mình rối bời. Dù quý vị đang bế tắc, việc quý vị vẫn tồn tại đã là một biểu hiện tuyệt vời của sự tổ chức sáng tạo mà Paul Tillich gọi là phép màu.
Não bộ phát triển là nền tảng: quý vị không thể có một Hệ thống bản ngã nếu não bộ không được tổ chức tốt. Trên thực tế, có nhiều người mang một hệ thống mong manh đến mức phải chật vật để tự duy trì như một hệ thống, chứ chưa nói đến việc tinh chỉnh. Hãy nghĩ đến chứng Rối loạn nhân cách ranh giới (Borderline Personality Disorder): họ không thực sự có một Hệ thống bản ngã tích hợp đủ tốt. Bất kỳ ai tỉnh thức, dù chỉ ở mức độ nhỏ, đều có ý thức bản ngã (ego consciousness). Nhưng không phải ai cũng có một Hệ thống bản ngã vận hành chức năng tốt. Hệ thống đó có hoạt động, nhưng nếu có quá nhiều rối loạn trong nhân cách và trong các mối quan hệ, nó đang phải trải qua sự giằng xé dữ dội.
Vậy mục tiêu là gì? Đây là điều tôi luôn dạy các nhà trị liệu tâm lý, và áp dụng cho cả quý vị lẫn tôi: Đừng chỉ nhìn vào các triệu chứng bên ngoài. Triệu chứng chỉ giống như những ánh đèn nhấp nháy trên bảng điều khiển. Hãy tự hỏi: Điều gì đang xảy ra với Hệ thống bản ngã này? Nó đang vận hành tốt đến mức nào? Bao nhiêu bức tường đã được dựng lên, bao nhiêu thanh xà gỗ bị bỏ sót? Hoặc nếu như xây kim tự tháp, có bao nhiêu khối đá chưa được đặt đúng vị trí khiến cấu trúc mất vững chắc? Đó chính là Hệ thống bản ngã.
Hệ thống bản ngã cần phải được xây dựng dựa trên mô hình của bản thể nguyên mẫu, dựa trên bản đồ, bản vẽ kiến trúc của bản thể nguyên mẫu. Ego cần được hỗ trợ để vận hành tối ưu và nâng cao mức độ nhận thức. Việc ý thức bản ngã có thể nâng cấp chính là một phần mục tiêu hôm nay: tôi muốn giúp ý thức bản ngã của quý vị nhạy bén hơn trong việc nhận biết tình trạng của Hệ thống bản ngã, và xem xét sự thỏa đáng của Hệ thống bản ngã liên hệ như thế nào với mối quan hệ giữa quý vị và bản thể nguyên mẫu.
Tôi xin chia sẻ một điều cuối cùng trước khi nghỉ giải lao: Nếu quý vị gặp nhiều vấn đề trong Hệ thống bản ngã, hoặc bất kỳ ai quý vị đang làm việc cùng—dù là thanh thiếu niên, thân chủ, học sinh hay đồng nghiệp—đang bộc lộ nhiều sự hỗn loạn, thì Hệ thống bản ngã của họ thực sự đang trải qua trạng thái lo âu phân mảnh (fragmentation anxiety). Hãy tin chắc điều này: nếu họ đang trải qua nhiều lo âu phân mảnh, tôi khẳng định không một chút nghi ngờ rằng mối quan hệ của họ với bản thể nguyên mẫu chính là yếu tố then chốt. Khi Hệ thống bản ngã vận hành kém, đó là vì mối quan hệ với bản thể nguyên mẫu chưa có sự ý thức, thiếu sự tôn kính và chưa được điều hòa.
Do đó, khi tôi nói về "Thực hành Sự Hiện Diện: bản thể nguyên mẫu trong đời sống đồng điệu", tôi chỉ đơn giản là đang tiếp nối tầm nhìn của Jung về cách quý vị tìm kiếm sự lành mạnh tâm trí tối ưu (optimal sanity). Trước hết là sự lành mạnh tâm trí đủ tốt (good enough sanity), hướng tới sự lành mạnh tối ưu, và sau đó tiến tới một trạng thái rạng rỡ hơn thế nữa. Đó là điều chúng ta cùng suy ngẫm.
Khi tôi nói "thực hành sự hiện diện", tôi nhấn mạnh tầm quan trọng của việc nhận thức rằng: người mà tôi đang trò chuyện trực tiếp ở đây—ý thức bản ngã—quý vị không phải là bản thể nguyên mẫu. Nhưng bản thể nguyên mẫu đang nhìn tôi qua đôi mắt của quý vị; nó cũng ngự trị ở bên trong. Nếu quý vị nhận biết được điều này, quý vị đã đi trước một bước. Nếu chưa, đó chính là điều chúng ta phải rèn luyện. Và khi đi đến phần "Nhận diện sự hiện diện của Rồng" (discerning the dragon's presence), chúng ta sẽ bàn về các dấu hiệu nhận biết những gì bản thể nguyên mẫu đang tác động bên trong và đối với quý vị, để quý vị có thể bắt đầu trở thành một người bạn tốt hơn của bản thể nguyên mẫu.
Để giải thích rõ hơn câu hỏi về sự phân mảnh (fragmentation): Trong phân tâm học đương đại—không chỉ riêng trường phái Jung—ngày càng có sự đồng thuận rằng khi Hệ thống bản ngã bắt đầu dao động quá mức do chưa được tích hợp một cách sáng tạo, con người sẽ trải qua cảm giác lo âu tột độ. Khi đó, các cơ chế phòng vệ (nếu còn vận hành tốt) sẽ kích hoạt để đối phó. Hãy quan sát phản ứng của bản thân và người khác khi lo âu: quý vị làm gì để đương đầu?
Quý vị cần nhận biết rằng khi bắt đầu lo âu—và điều này tinh vi hơn thế, chiều nay chúng ta sẽ phân tích kỹ hơn—khi quý vị bắt đầu cảm thấy phi nhân hóa/tách rời thực tại (depersonalization), hoặc khi tâm trí trôi dạt (zoning out), ngáp ngủ một cách cưỡng chế trong các cuộc họp... Quý vị có thể chỉ đơn thuần là mệt mỏi, nhưng cũng có thể quý vị đang bị quá tải kích thích bởi một điều gì đó và Hệ thống bản ngã chưa sẵn sàng xử lý mức độ mãnh liệt ấy. Do đó, các cơ chế phòng vệ sẽ khiến quý vị mất tập trung, đóng kín cảm xúc, tách rời, để tâm trí rời khỏi cuộc họp và chỉ để lại một "người máy" vô hồn ngồi đó. Đó chính là sự phân mảnh hay tan rã—thuật ngữ gọi là "lo âu phân mảnh" (fragmentation anxiety) hoặc "lo âu tan rã" (disintegration anxiety). Khi một cơn lo âu ập đến, Hệ thống bản ngã của quý vị đang phải chật vật chống đỡ. Nó khiến một đứa trẻ có hành vi bộc phát tiêu cực (acting out). Trên thực tế, nếu Ego chưa phát triển đầy đủ và tính toàn vẹn của hệ thống bản ngã chưa vững vàng thì hiện tượng này sẽ càng trầm trọng.
Bây giờ, chúng ta hãy tiếp tục đi sâu vào các sơ đồ để thấy rõ mối liên hệ của chúng với những gì vừa thảo luận.
Sơ đồ đầu tiên: Nguyên mẫu Khởi xướng (Archetype of Initiation). Có hai sơ đồ trích từ cuốn sách The Archetype of Initiation của tôi. Cả hai sơ đồ đều mô tả hệ thống nguyên mẫu được kích hoạt (constellated) bất cứ khi nào quý vị trải qua một tiến trình chuyển hóa. Xét theo một nghĩa nào đó, toàn bộ cuộc hành hương đời người là một tiến trình chuyển hóa. Nhưng điều quan trọng cần nhận ra là ở một số thời điểm, cường độ dữ dội (như dòng nước xiết) của sự chuyển hóa từ trạng thái này sang trạng thái khác trở nên rõ nét và nguy hiểm hơn rất nhiều.
Bất cứ khi nào quý vị gặp khủng hoảng trong cuộc sống—dù là khủng hoảng có thể dự đoán trước như tuổi dậy thì, khủng hoảng tuổi trung niên, nghỉ hưu, con cái trưởng thành rời tổ ấm, hay bất kỳ cuộc khủng hoảng chu kỳ đời sống cá nhân và gia đình nào—nguyên mẫu này đều sẽ được kích hoạt. Gần như cơ thể quý vị tự khắc biết rằng điều này là cần thiết. Và khi nó được kích hoạt, quý vị sẽ bắt đầu tìm kiếm một "không gian thiêng" (sacred space): đó có thể là bờ biển, ngọn núi, một nhóm 12 Bước (12-step group), một tiến trình trị liệu/phân tích tâm lý, hay một cộng đồng tâm linh. Quý vị tìm kiếm không gian thiêng để làm nơi chứa đựng và dung dưỡng (containment) cho quá trình "lột xác", rũ bỏ lớp da cũ và chuẩn bị cho một đời sống mới. Đây là một tiến trình rất gian nan nhưng hoàn toàn bình thường, và nó lặp đi lặp lại trong suốt cuộc đời.
Điều này cũng xảy ra khi có những sang chấn bất ngờ: bạo bệnh, mất người thân, ly hôn, mất công việc yêu thích, tan vỡ một ước mơ lớn trong tương lai, hay sự đổ vỡ của một mối quan hệ mà quý vị từng đặt rất nhiều kỳ vọng nhưng rốt cuộc nhận ra nó không đi đến đâu. Quý vị bước vào tiến trình đau buồn (grief process). Toàn bộ tiến trình đau buồn, mọi tiến trình chuyển hóa và mọi hình thức trị liệu đều có thể được ánh xạ lên biểu đồ này.
Hiểu được điều này là tối quan trọng, bởi khi nguyên mẫu này trỗi dậy trong tâm trí, nếu không hiểu biết, quý vị có thể tự gán bệnh lý (pathologize) cho bản thân một cách nặng nề. Quý vị sẽ hoảng sợ nghĩ: "Lạy Chúa, mình đang phát điên rồi." Cảm giác đúng là như phát điên, nhưng thực chất quý vị chỉ đang "lột xác"—chuyển từ giai đoạn sâu bướm này sang giai đoạn sâu bướm khác. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là nó an toàn; đây là một giai đoạn vô cùng nguy hiểm.
Đó là lý do quý vị không chỉ tìm kiếm không gian thiêng mà còn tìm kiếm sự bao bọc/chứa đựng (containment). Và một sự bao bọc thỏa đáng thường đòi hỏi một "trưởng lão nghi lễ" (ritual elder), một "pháp sư" (magus), một hình mẫu Nhà ảo thuật (magician figure). Đó có thể là một người bảo trợ trong nhóm 12 Bước (như AA), một mục sư, một vị linh hướng tâm linh, một người bạn già thông thái, một nhà trị liệu tâm lý, chuyên gia tư vấn, hoặc thậm chí là một người kỳ dị nào đó quý vị tình cờ gặp ở một nơi chốn khác thường. Tức là, đây là một tiến trình nguyên mẫu, và tùy thuộc vào khả năng biểu đạt tính kịch của một người, đôi khi những nhân vật rất khó ngờ lại có thể đứng ra tiếp nhận và gánh vác sự phóng chiếu đó. Đó là lý do vì sao có nhiều sự chuyển hóa sâu sắc từng xảy ra từ những cuộc hội ngộ với những kẻ có phần "điên rồ". Dĩ nhiên tôi không khuyến khích điều đó, nhưng quý vị cần hiểu rằng khi tiến trình đó khởi động, một phần trong quý vị sẽ có xu hướng lý tưởng hóa một ai đó trong vai trò của hình mẫu Nhà ảo thuật / Pháp sư. Đó là vì quý vị cần một người giữ vững tâm điểm phóng chiếu trong khi quý vị đang trải qua những xáo trộn hỗn loạn giữa "tử cung của nấm mồ" và "nấm mồ của tử cung" (the womb of the tomb and the tomb of the womb).
Nếu lật sang biểu đồ tiếp theo về chu trình thần thoại: "Cõi của Nhà ảo thuật: Không gian Chuyển hóa" (Realm of the Magician as Transformative Space)—được tôi phóng tác từ tác phẩm The Hero with a Thousand Faces (Người hùng mang ngàn gương mặt) của Joseph Campbell (cuốn sách quý vị nên đọc lại trong bối cảnh bài giảng hôm nay). Đó là nơi xuất hiện ý niệm về "tiếng gọi" (the call).
Bất cứ khi nào bản thể nguyên mẫu cảm thấy chán ngán với trạng thái cố chấp, mắc kẹt của quý vị, nó sẽ thúc đẩy một biến cố xảy ra. Tùy thuộc vào mức độ bướng bỉnh của quý vị, biến cố đó có thể diễn ra dữ dội, nguy hiểm hay đối nghịch ở mức độ nhiều hay ít. Nghĩa là, nếu quý vị đủ nhạy cảm để nhận biết sự hiện diện của một Kẻ Khác Vĩ Đại, thì không cần quá nhiều tác động để thu hút sự chú ý của quý vị. Còn nếu quý vị thực sự cứng đầu, những biến cố vô cùng khó chịu sẽ buộc phải xảy ra để kéo lấy sự chú ý của quý vị.
"Tiếng gọi phiêu lưu" (call to adventure) thực chất chỉ là một cách nói uyển chuyển. Đó là khi một biến cố ập đến, cắt ngang thế giới bình thường mà quý vị vốn coi là hiển nhiên. Nó giống như cú "chạm đáy" (hitting bottom): có điều gì đó can thiệp và giáng một đòn mạnh vào quý vị, đẩy quý vị vượt qua ngưỡng cửa bước vào không gian trung tâm, không gian thiêng. Và tất nhiên, đó là lý do quý vị cần một Nhà ảo thuật/Pháp sư giúp đỡ để không rơi vào khủng hoảng tột độ hay lạc lối trong giai đoạn đó. Quý vị cần một "Gandalf" của riêng mình, hoặc một hình tượng nữ tương đương với Gandalf trong giai đoạn đó.
Một câu hỏi đặt ra là: Liệu người mang hình mẫu Nhà ảo thuật, vị trưởng lão nghi lễ hay pháp sư đó có nhất thiết phải nhận thức được tiến trình này đang diễn ra hay không?
Hãy nhìn nhận vấn đề như thế này: Sẽ tốt hơn rất nhiều nếu họ có nhận thức và là những con người có nguyên tắc, trưởng thành về mặt đạo đức. Con người chúng ta rất giỏi trong việc "chiêu mộ" (recruiting): chúng ta sẽ tự động chiêu mộ ai đó để đóng vai trò mà chúng ta cần họ đảm nhận. Quý vị sẽ thấy rõ điều này ở trẻ em: nếu quý vị cởi mở và sẵn sàng về mặt cảm xúc, những đứa trẻ có khả năng phục hồi sẽ chiêu mộ quý vị đóng vai trò cần thiết cho sự phát triển của chúng. Nếu nhạy cảm, quý vị có thể nhận biết được cơ thể nhỏ bé đó đang yêu cầu điều gì. Bản chất của các hiện tượng chuyển di (transferences) chính là như vậy: Chuyển di là những nỗ lực chiêu mộ quý vị tham gia vào một "vũ điệu nguyên mẫu" mà Hệ thống bản ngã đang cần để nâng lên một tầm mức cao hơn.
Trên thế giới có nhiều người sở hữu trực giác và trí tuệ nguyên sơ rất sâu sắc dù ít học. Cấu trúc nội tâm của họ giúp họ tự động bước vào vị trí đó theo trực giác. Trong văn hóa so sánh, quý vị thấy những mẫu người này ở mọi nền văn hóa: họ là những thầy pháp (shaman), những thầy lang chữa lành (medicine people). Đó là một hiện tượng mang tính nguyên mẫu. Họ có thể không viết nổi một bài luận, thậm chí mù chữ.
Tuy nhiên, mục tiêu chúng ta hướng tới trong tương lai—như tôi đã viết trong lời tựa cuốn sách về Rồng (Facing the Dragon)—là thế giới cần một thế hệ pháp sư/nhà thông thái mới. Họ vừa phải thông thạo minh triết cổ xưa, vừa phải được trang bị những tinh hoa khoa học đương đại tốt nhất để vận hành tối ưu. Chúng ta không bao giờ hoàn hảo; không có nhà phân tích hay nhà trị liệu nào đủ nhạy cảm, mạnh mẽ hay trưởng thành để luôn luôn tối ưu trong mọi tình huống. Ai nghĩ mình làm được điều đó chỉ là kẻ tự cao tự đại (grandiose) và khả năng tự điều hòa kém.
Điểm mấu chốt là quý vị hy vọng người mà mình chiêu mộ trong giai đoạn này có đủ trí tuệ và sự trưởng thành đạo đức để quý vị không bị lợi dụng trong lúc đang ở trạng thái dễ bị tổn thương nhất. Đây luôn là một vấn đề nhức nhối trong những năm gần đây ở các nhà trị liệu cũng như giới giáo sĩ thuộc nhiều truyền thống khác nhau—từ Phật giáo cho đến các tôn giáo khác. Những người bị nguyên mẫu Nhà ảo thuật chiếm hữu (possessed) rồi bắt đầu hành xử bộc phát theo cái bóng của người tình (lover shadow) đối với thân chủ của mình—đó hoàn toàn là sự bộc phát bệnh lý (acting out). Đó tuyệt đối không phải là dấu hiệu của một Nhà ảo thuật chân chính, mà là dấu hiệu của một kẻ bị phồng rộp bản ngã (inflated) trong hình ảnh nguyên mẫu đó.
Tóm lại, hãy xem lại cuốn sách tuyệt vời của Campbell, cùng cuốn The Archetype of Initiation và các tài liệu tôi đã đề cập để thấu hiểu bức tranh địa lý của đời sống chúng ta: một vùng địa lý thông thường, ổn định trong một khoảng thời gian, rồi biến cố sẽ ập đến, và chúng ta lại cần phải tìm về với không gian thiêng một lần nữa.
Hy vọng rằng chúng ta sẽ đạt tới thời điểm luôn nhận biết được tọa độ của Trung tâm nội tại, không để bản thân trôi dạt quá xa và duy trì việc thực hành kết nối này một cách thường nhật.
Bây giờ, khi chuyển sang các sơ đồ của Edward Edinger—gồm sơ đồ vòng tròn lớn và sơ đồ các vòng tròn nhỏ hợp nhất—nguyên lý vận hành được thể hiện rất rõ ràng: Bất cứ khi nào Bản Thể nguyên mẫu (archetypal self) cạn kiệt sự kiên nhẫn trước thái độ ngạo mạn của bản ngã (ego), nó sẽ chủ động tạo ra các biến cố nhằm đẩy bản ngã vượt qua ngưỡng cửa đầu tiên. Tương tự như hình tượng Thiên Chúa trong Cựu Ước, thực thể này tuyệt đối đòi hỏi sự chú ý; thái độ của bản ngã càng thiếu tôn kính bao nhiêu thì các biến cố giáng xuống để cưỡng bách bản ngã vượt ngưỡng lại càng khốc liệt bấy nhiêu. Mọi bằng chứng tâm lý học đều chỉ ra rằng, một khi đã vượt qua ngưỡng cửa đó vào không gian thiêng liêng, xu hướng tự nhiên của con người là bắt đầu có cảm thức sâu sắc hơn về một Kẻ Khác mang tính siêu cá nhân (transpersonal other).
Khi làm việc với những người thực hành trưởng thành trong các chương trình 12 Bước (12-step programs), họ sẽ dẫn dắt thành viên học cách xây dựng sự khiêm nhường mới và kết nối với Quyền năng Tối cao (Higher Power). Đối với những người thực sự hiểu việc mình làm, khái niệm Quyền năng Tối cao đó cần được hiểu chính là cảm thức về Kẻ Khác Nguyên Sơ (primal other), một Sự Hiện Diện Nguyên Sơ hoàn toàn không đồng nhất với bản ngã. Những cá nhân mắc chứng nghiện ngập là một ví dụ điển hình mang tính nguyên sơ, và thực tế mỗi chúng ta đều có những thôi thúc cưỡng chế của riêng mình. Trong chuỗi bài giảng về nguyên mẫu của sự cưỡng chế và sự chữa lành, có thể thấy hành vi cưỡng chế phổ biến hơn rất nhiều so với những gì chúng ta sẵn sàng thừa nhận. Những ai đang bị các thôi thúc cưỡng chế hủy hoại thực chất đang sống quá gần ngọn lửa năng lượng của Con Rồng (dragon energy) mà không hề hay biết. Họ lầm tưởng chính mình là nguồn năng lượng đó, và ngọn lửa ấy bắt đầu nuốt chửng họ; thực thể này tuyệt đối không chấp nhận việc bị phớt lờ. Kỳ vọng đặt ra là trong giai đoạn quá cảnh này, một cảm thức về Sự Hiện Diện Vĩ Đại sẽ được bồi đắp và vun bồi. Mọi nền văn hóa đều thể hiện điều này: trong trạng thái quá cảnh chuyển biến, nhận thức rằng bản ngã không phải là trung tâm sẽ được gia tăng rõ rệt.
Sau giai đoạn quá cảnh, khi việc tiếp thu bài học mới đã hoàn tất, dưới sự nâng đỡ của một vị Pháp sư (magus) trưởng thành, cá nhân sẽ bước vào giai đoạn tiếp theo là sự thích ứng sáng tạo. Vấn đề cốt lõi là phải thực sự học được bài học sâu sắc từ những trải nghiệm này; bởi nếu không, chỉ trong một thời gian ngắn, "chuyến tàu" định mệnh sẽ lại ập tới và cán qua ta thêm một lần nữa. Có những người gặp khó khăn nghiêm trọng trong việc nhận diện quy luật hành vi lặp lại, và họ cứ liên tục rơi vào đúng bi kịch cũ. Điều này vừa đáng buồn vừa đáng thương; khi quan sát những gì con người tự gây ra cho bản thân trong sự vô minh—đúng như lời than thở "Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm"—trách nhiệm của chúng ta là giúp mọi người thức tỉnh để nhận diện được các quy luật lặp lại đó ngõ hầu không tiếp tục bị quật ngã.
Nhiều nhà trị liệu tâm lý hiện đại theo lối tư duy "xứ phẳng" (flatlanders) do thiếu hiểu biết nên thường quy chụp mọi xung đột vào bình diện tâm trí cá nhân, chức năng bản ngã hoặc mối quan hệ liên chủ thể với người mẹ thời thơ ấu. Dù những yếu tố đó thực sự quan trọng và được tôi nghiên cứu sâu sắc, nhưng việc đổ hết trách nhiệm lên người mẹ là một sai lầm. Vấn đề gốc rễ là cá nhân ngay từ đầu đã không phân biệt được người mẹ trần thế với Con Rồng nguyên mẫu; chừng nào còn vướng mắc với gia đình gốc, điều đó có nghĩa là người đó vẫn chưa học được cách phân định ranh giới giữa cha mẹ ruột và Bản Thể nguyên mẫu.
Đây là lý do cần phải nghiên cứu sâu các tác phẩm của Edward Edinger. Sách của Edinger thực sự là một bữa tiệc tri thức thịnh soạn có thể đọc đi đọc lại nhiều lần. Ông giống như một vị giáo đồ thông thái (rabbi), không hẳn là một nhà lý thuyết thuần túy như tôi và không chú trọng việc thuyết giảng lý thuyết của mình quá nhiều. Cuốn sách nhỏ khoảng một trăm trang mang tên The Science of the Soul do Daryl Sharp và Gary Hartman biên tập và xuất bản di cảo chính là tác phẩm mang tính lý thuyết rõ nét hơn cả. Các công trình của Edinger là những tuyển tập bình giải văn bản xuất sắc, trong đó cuốn sách tôi tâm đắc nhất là Ego and Archetype (Bản ngã và Nguyên mẫu)—một tác phẩm xứng đáng trở thành người bạn đồng hành không thể thiếu. Hai sơ đồ đang bàn luận đều được trích từ cuốn sách này, thể hiện hình dung của Edinger về toàn bộ tiến trình trưởng thành tâm lý.
Trong tiến trình phát triển hướng tới sự trưởng thành, ở giai đoạn ấu thơ, đứa trẻ nằm trong trạng thái hợp nhất (fusion state) hoàn toàn với Bản Thể vĩ đại. Đúng như Malidoma Somé—một thầy lang thực hành y thuật truyền thống Tây Phi—từng nhận định, đứa trẻ sơ sinh vẫn đang lưu giữ ký ức về thế giới của tổ tiên và hòa mình trong ý thức vũ trụ bao la; lúc này hệ thống bản ngã (system self) của đứa trẻ chưa được khơi gợi, chúc phúc, nuôi dưỡng và kích hoạt. Khi các tiềm năng nguyên mẫu của đứa trẻ nhận được sự đón nhận, khơi dậy, chúc phúc và chăm sóc thỏa đáng—tiến trình từng bước nhỏ mà thuật ngữ phân tâm học gọi là "vi cấu trúc hóa" (microstructuralization)—dưới sự giám sát cẩn trọng của những người lớn đầy tình thương và nâng đỡ có chừng mực, cái tôi nhỏ bé bắt đầu bước ra và phân hóa dần khỏi Con Rồng nội tại.
Tiến trình trưởng thành này là một sự tiếp diễn liên tục, không phải là một đường thẳng tắp mà là một quỹ đạo dao động. Nếu có đủ nguồn lực nâng đỡ từ các mối quan hệ liên cá nhân, cộng đồng và văn hóa trong suốt quá trình phát triển từ ấu thơ đến trưởng thành, con người sẽ tiến tới một cảm thức rõ rệt hơn về điều mà Murray Bowen gọi là "sự phân hóa" (differentiation) của cá nhân khỏi hệ thống gia đình. Lý thuyết của Murray Bowen về hệ thống gia đình và tổ chức vận hành hoàn toàn tương đồng với cách tiếp cận nội tâm này: các khái niệm về sự hợp nhất và sự phân hóa của Bowen song hành chặt chẽ với những gì chúng ta đang bàn luận. Khi ở trạng thái hợp nhất với ma trận nguyên mẫu, cá nhân cũng thường rơi vào trạng thái hợp nhất với hệ thống gia đình gốc; lúc này các thành viên trong gia đình đang gánh vác những phóng chiếu nguyên mẫu, khiến bản thân không thể nhận biết họ thực sự là ai dưới tư cách những con người cụ thể mà vẫn chỉ nhìn nhận họ như những nguyên mẫu trừu tượng.
Nhận định rằng Bowen chỉ nhìn vào thế giới bên ngoài còn tôi nhìn vào thế giới bên trong là chưa hoàn toàn thỏa đáng với Bowen, bởi ông cũng có quan niệm sâu sắc về bản thể. Ý niệm của Bowen về "bản thể giả tạo" (pseudo-self) hình thành trong trạng thái hợp nhất tương đương với khái niệm "bản ngã giả" (false self) trong phân tâm học—đó là một nhân cách đồng nhất quá mức với một chiếc mặt nạ (persona) dày đặc nhằm làm hài lòng người khác, ngụy tạo tư cách con người thay vì thực sự phân hóa và cá nhân hóa. Nếu đối chiếu thang đo phân hóa của Bowen với tiến trình dịch chuyển từ trạng thái hợp nhất với ma trận nguyên mẫu sang một trục Bản ngã - Bản Thể phân hóa, chúng ta đang thực chất nói về cùng một tiến trình. Bản thân Murray Bowen là một người rất mực trung thực khi luôn tự nhận mình chưa đạt mức độ phân hóa cao và sẵn sàng tự xếp mình vào những nấc thang thấp hơn vào những giai đoạn bất ổn.
Edinger cùng với Erich Neumann (tác giả cuốn sách kinh điển The Origins and History of Consciousness) đều đề cập đến trục Bản ngã - Bản Thể (ego-Self axis) hay trục Bản ngã - Bản Thể nguyên mẫu. Giữa hai cực có sự phân hóa rõ ràng, nhưng đồng thời có một đường kết nối biểu thị mối quan hệ tương tác. Khái niệm này khi diễn đạt thuần túy về mặt học thuật có vẻ hơi khô khan, nhưng về bản chất thực tế, đó là một tiến trình phát triển quan hệ gồm các nấc thang: khởi đầu từ sự sợ hãi (fear), tiến tới sự tôn kính (respect), tiếp đến là tình bạn giữa các thực thể bất bình đẳng (friendship of unequals), và đỉnh cao dành cho những ai muốn vươn tới giới hạn tột cùng của tiềm năng tâm linh là sự hiệp thông (communion). Sự hiệp thông liên tục và sống động giữa tâm trí ý thức và Bản Thể vĩ đại (Con Rồng) là một khả năng hoàn toàn có thật.
Lịch sử nhân loại ghi nhận vô số minh chứng xác thực cho điều này: dù xét theo tỷ lệ phần trăm dân số thì con số này rất nhỏ, nhưng số lượng những tấm gương sống trong sự hiệp thông với Sự Hiện Diện Vĩ Đại là đủ nhiều để khẳng định đây là một tiềm năng hiện hữu của loài người. Nghiên cứu đương đại cho thấy tiềm năng này đã được mã hóa trong cấu trúc giống loài từ rất lâu, nhưng các cấu trúc văn hóa và tâm linh am tường nhằm nâng đỡ và khơi dậy nó đã bị suy thoái nghiêm trọng trong những thế kỷ gần đây. Nhận thức được rằng trạng thái kết nối có ý thức này là một khả năng hoàn toàn mở ra cho chúng ta chính là nền tảng của việc thực hành sự hiện diện của Bản Thể nguyên mẫu trong đời sống đồng hiện. Tôi không nhìn nhận vấn đề theo hướng lãng mạn hóa ngây thơ; tôi hiểu rõ sự đáng sợ và những nghịch cảnh ngáng đường trong tiến trình này, nhưng đó không phải là lý do để chối từ việc dấn thân. Trong chuỗi bài giảng The Courage to Be Transformed (Dũng khí để chuyển hóa), tôi đã nhấn mạnh rằng cần rất nhiều lòng can đảm để kiên trì trên hành trình này.
Mô hình vòng lặp của Edinger trong cuốn Ego and Archetype (cần phân biệt với cuốn Ego and Instinct của Daniel Yankelovich và William Barrett viết về tâm lý học bản ngã dẫn tới công trình của Erik Erikson) mô tả chu trình diễn ra liên tục bên trong chúng ta: Thuở ấu thơ, đứa trẻ ở trong trạng thái hòa nhập hoàn toàn với Con Rồng và Bản Thể vĩ đại; đứa trẻ vốn dĩ ở trong trạng thái phồng rộp (inflated) một cách tự nhiên—đó là bản chất và nhiệm vụ của tuổi thơ. Sau đó, đứa trẻ cần được nâng đỡ hạ xuống khỏi chiếc ghế cao một cách từ từ và nhẹ nhàng, bởi việc hạ bệ quá đột ngột sẽ phá hủy tiến trình trưởng thành. Ở người trưởng thành, mô hình này cho thấy mỗi khi chạm vào nguồn năng lượng Rồng bên trong, bản ngã sẽ lập tức cảm thấy bị phồng rộp, tràn ngập cảm giác tuyệt vời, thông minh, xinh đẹp, đáng yêu và đầy quyền năng. Khi được năng lượng nguyên mẫu thắp sáng, cá nhân cảm thấy tràn trề sinh lực. Tuy nhiên, nếu luồng năng lượng này thắp sáng vượt quá một ngưỡng nhất định, các cơ chế phòng vệ nội tâm hoặc thế giới ngoại tại sẽ lập tức can thiệp và kéo cá nhân xuống. Đúng như Robert Bly từng nhận xét: khi phô bày quá nhiều vàng bạc nội tâm trước những kẻ đố kỵ xung quanh, họ sẽ tìm cách tấn công sau lưng để hạ bệ chúng ta; và ngay sau đó, cá nhân rơi thẳng vào trạng thái cạn kiệt và trầm cảm. Ta bắt đầu cảm thấy xa lánh hoàn toàn sự tuyệt vời trước đó, tự trách mình là kẻ ngu ngốc, kẻ thất bại thảm hại và ước gì mình chưa từng sinh ra. Đó chính là chu trình hưng-trầm cảm (manic-depressive cycle).
Thông điệp của Edinger là tất cả chúng ta đều có nét khí chất chu kỳ (cyclothymic), đều có phần hưng-trầm cảm ở các mức độ khác nhau; những người mắc chứng hưng-trầm cảm chỉ là những cá nhân có cấu trúc nhân cách lỏng lẻo hơn khiến biên độ dao động thể hiện rõ rệt hơn mà thôi. Mục tiêu của tiến trình cá nhân hóa (individuation) là thực hiện sự tinh chỉnh (tuning): tối ưu hóa dải băng tần và biên độ của các làn sóng dao động tâm lý. Khi di chuyển ra xa khỏi "Mặt trời nội tâm", ta không trôi dạt quá xa tới tận cõi băng giá của Diêm Vương Tinh để rồi tự huyễn hoặc rằng mặt trời không tồn tại; và khi bay ngược trở lại gần mặt trời theo kiểu Icarus, ta biết cách giữ khoảng cách an toàn để không bị thiêu đốt. Việc xác định xem bản thân thường bay ở quỹ đạo nào—ở cõi Diêm Vương Tinh lạnh lẽo, ở quỹ đạo Hỏa Tinh rực lửa, luôn ở trạng thái vận hành quá nhiệt hay dao động liên tục—chính là cách nhận diện quỹ đạo tương quan giữa ý thức thường nhật và Trung tâm vĩ đại của Bản Thể.
Việc tôi mượn hình tượng thần thoại cổ xưa về Con Rồng bắt nguồn từ chính tính chất của Trung tâm vĩ đại này. Khi cuốn sách Facing the Dragon (Đối diện với Con Rồng) của tôi vừa xuất bản, một sự kiện đồng hiện (synchronicity) thú vị đã diễn ra: trang khoa học của tờ The New York Times vào tháng Tư năm đó đã đăng tải một bài phóng sự toàn diện về sự phổ quát kỳ lạ của hình tượng Rồng trong tâm thức nhân loại, ngay cả ở những vùng địa lý không hề có cơ sở thực tế nào về loài rồng. Giới khoa học khi ấy thừa nhận rằng dường như tồn tại một hình tượng Rồng mang tính kế thừa di truyền nằm trong vô thức tập thể, gợi nhắc trực tiếp đến tư tưởng của Carl Jung. Dù bài báo ngạc nhiên trước phát hiện này nhưng họ chưa hiểu hết ý nghĩa của nó: Con Rồng chính là gương mặt biểu đạt của Bản Thể nguyên mẫu. Sử dụng hình tượng này là cần thiết vì nó truyền tải một chân lý thực tế: Hãy cẩn trọng và đừng bao giờ tự mãn. Đây không phải là hình tượng Chúa Jesus hiền từ, nhu mì trong các văn bản sùng đạo; đây không phải là một sự nhân cách hóa (anthropomorphism) mang tính con người, mà là một thực thể khổng lồ, uy quyền và phun ra lửa. Nhân loại từ xưa luôn nhận thức được điều này qua hai thái cực: truyền thống phương Tây (như sử thi Beowulf) coi Rồng là hiện thân của hỗn loạn cần tiêu diệt; ngược lại, truyền thống phương Đông lại duy trì thái độ tôn kính, sùng kính và liên tục tôn vinh nguồn năng lượng của Rồng trong các lễ hội.
Khi xem xét tác phẩm Answer to Job (Trả lời Gióp) của Jung và những phân tích của ông về hình tượng Thiên Chúa, có một điều rất rõ ràng: nếu bản ngã giữ thái độ kiêu ngạo—hoặc chối bỏ sự tồn tại của thực thể này để sống như thể nó không hiện hữu—nó sẽ lập tức mang diện mạo của một Yahweh đầy thịnh nộ, giáng xuống những hậu quả tất yếu cho thái độ bất kính đối với thực tại vĩ đại trong tâm trí. Tôi không đồng tình với quan điểm phái Jung cổ điển cho rằng thực thể này sẽ tự biến đổi bản chất khi bản ngã thay đổi thái độ; thực thể này luôn là chính nó, bất biến. Vấn đề nằm ở chỗ khi ý thức bản ngã rơi vào trạng thái chối bỏ hoặc đối xử bất kính—hoặc phủ nhận nó, hoặc đồng nhất hóa ngông cuồng với nó như những người nghiện ngập trong giai đoạn hưng cảm tự mãn cho rằng mình có thể uống cạn mọi chai rượu Jack Daniel's, trở thành kẻ quyến rũ nhất mà không phải chịu bất kỳ hậu quả nào—thì tai họa sẽ giáng xuống.
Sau khoảnh khắc chạm đáy được mô tả trong vòng tròn của Edinger (Ego and Archetype), hy vọng một khoảnh khắc tỉnh thức sẽ xuất hiện: cá nhân nhận ra sự ngạo mạn (hubris) của mình, ăn năn về sự kiêu căng đó và xác lập một thái độ hiến tế (sacred sacrificial attitude). Edinger phân tích rất sâu sắc về sự hiến tế nhưng lại diễn đạt khá ẩn ý; điều ẩn chứa giữa các dòng chữ của ông là: thực thể này thực sự đòi hỏi một điều gì đó từ chúng ta. Thái độ hiến tế không đơn thuần là một trạng thái tâm lý trừu tượng, mà đòi hỏi việc thực sự trao dâng cho Bản Thể vĩ đại những giá trị cụ thể: sự tôn kính, sự thừa nhận và các lễ vật mang tính biểu tượng (symbolic offerings).
Chẳng hạn, khi một thân chủ có một giấc mơ mang tính chuyển hóa sâu sắc—như giấc mơ về con rắn xanh biểu trưng cho nguồn sống mới—tôi thường gợi ý họ tìm kiếm một biểu tượng tương ứng đặt ở nơi trang trọng, và trong sự chiêm nghiệm đối thoại với Bản Thể nguyên mẫu, hãy nói lời tri ân trước món quà biểu tượng này. Đó chính là bản chất những gì người cổ xưa từng làm: thể hiện sự thừa nhận đầy tôn kính thông qua những lễ vật được chuẩn bị chu đáo. Lễ vật đó đôi khi chỉ đơn giản là hành động có ý thức mua một tờ báo ủng hộ người vô gia cư (StreetWise) và thầm xác nhận đây là sự hồi đáp trước những gì Bản Thể đã chỉ dẫn. Sự khiêm nhường đó giúp hàn gắn vết rạn nứt xa lánh với Bản Thể vĩ đại, tương tự như tiến trình phục hồi (restoration) trong tâm lý học bản thể khi xuất hiện sự đổ vỡ quan hệ. Trong đời sống tâm linh thực tế, chuỗi biến động giữa xa cách và hòa giải với Sự Hiện Diện sẽ diễn ra liên tục; điều quan trọng là cá nhân phải chủ động thể hiện thái độ cần thiết để hòa giải. Dù sơ đồ của Edinger mô tả vòng lặp quay trở lại sự phồng rộp ban đầu, nhưng việc sống một cuộc đời đồng hiện đòi hỏi chúng ta phải rút ra bài học kinh nghiệm để không còn "bị điếc" trước các chỉ dấu, biết chú ý đọc các tín hiệu đồng hiện mà người bạn vĩ đại nội tâm đang truyền đạt.
Sơ đồ tiếp theo của Edinger—về sự sụp đổ của sự phóng chiếu tôn giáo và trạng thái ổn định của cộng đồng tín đồ—mô tả cách thức các cộng đồng tôn giáo truyền thống mang giữ sự phóng chiếu của Bản Thể, giúp các thành viên dễ dàng tiếp cận nguồn năng lượng nguyên mẫu mà không bị nó áp đảo. Nguồn năng lượng nguyên thủy này được dung chứa qua hình tượng Chúa Kitô, Đức Mẹ Maria, Bí tích Thánh Thể trong Công giáo, hoặc Nữ thần Saraswati trong Ấn Độ giáo. Tôi từng làm việc với những thân chủ—dù phải chịu đựng những sang chấn tâm lý tuổi thơ nghiêm trọng lẽ ra đã hủy hoại hoàn toàn cuộc đời họ—vẫn duy trì được sự lành mạnh và hiệu quả xã hội nhờ lòng sùng kính bền bỉ với Nữ thần Saraswati từ thời niên thiếu cho đến nay. Khi bước vào thời kỳ hiện đại, việc mất đi các thực hành nghi lễ và sự sụp đổ của "chiếc vòm thiêng" (The Sacred Canopy theo cách gọi của Peter Berger) khiến toàn bộ nguồn năng lượng nguyên mẫu trút thẳng xuống nhân cách con người, dẫn tới tình trạng hoặc suy sụp trầm cảm, hoặc bộc phát những hành vi lệch lạc.
Trong một truyền thống cổ xưa khép kín, cá nhân ít khi bị năng lượng nguyên mẫu áp đảo bởi vì chính bộ tộc đã gánh vác sự phóng chiếu đó. Khi ấy, bộ tộc có thể thực hiện những hành vi vĩ cuồng, tàn bạo, nhưng bản thân cá nhân và hệ thống bản thể của họ vẫn vận hành ổn thỏa. Chủ nghĩa bộ tộc chính là một phương thức kinh điển mà nhân loại từng dùng để quản lý năng lượng vĩ cuồng khi chưa có ý thức tỉnh thức. Phân tâm học Jung mở ra một tiềm năng mới giúp chúng ta thấu hiểu cơ chế vận hành này; tuy nhiên, không giống như sự lạc quan có phần ngây thơ của Jung và Edinger cho rằng con người tiến bộ có thể quản lý nguồn năng lượng này mà không cần đến các cấu trúc thần thoại và biểu tượng, một thế giới quan Hậu Hiện đại chân chính đòi hỏi chúng ta phải vượt qua sự đóng khung giáo điều cuồng tín của bất kỳ truyền thống nào, đồng thời tiếp tục sử dụng các bình chứa biểu tượng một cách có ý thức. Các truyền thống minh triết cung cấp những ngữ pháp biểu tượng khác nhau để chúng ta đối thoại với Con Rồng. Mọi ngôn ngữ tôn giáo của con người về bản chất đều mang tính ngẫu tượng hóa (idolatrous) vì cố gắng diễn tả một thực tại bất khả ngôn; nhưng con người bắt buộc phải biểu đạt và cần duy trì sự khiêm nhường để thừa nhận rằng thực tại luôn vượt xa mọi ngôn ngữ tâm linh. Đó là tinh thần cốt lõi của các truyền thống tiên tri vĩ đại: không một ai, dù có bao nhiêu bằng tiến sĩ thần học hay tước vị giáo hội, có thể làm chủ được thực tại này. Thay vì chỉ dừng lại ở lựa chọn tiền hiện đại hay hiện đại, chúng ta cần một lựa chọn Hậu Hiện đại thực thụ: dấn thân vào trí tưởng tượng thần thoại nhưng luôn ý thức rõ rằng đó là biểu tượng được nhìn qua một tấm kính mờ ảo.
Mỗi khi ở trong giai đoạn quá cảnh, chúng ta sẽ ở gần hơn với các nguồn năng lượng Rồng, và đây là cơ hội để điều chỉnh nhằm thiết lập mối tương quan có ý thức hơn với các nguồn lực này. Tiến trình phát triển ý thức đối với thực tại này bao gồm các bước: nhận thức được thực tại đó, đối diện với tầm vóc khổng lồ của nó, hiểu rằng việc học cách hiệp thông đòi hỏi nhiều thời gian, và trước hết là học cách sống có ý thức với thực tại tâm trí này qua việc quan sát các triệu chứng cưỡng chế trong đời sống thường nhật.
Điều nhân loại cần hiện nay là sự liên minh chặt chẽ giữa khoa học và một nền thực hành tâm linh tỉnh thức: dùng phương pháp nghiên cứu khoa học để giữ sự khiêm nhường về mặt tri thức, và dùng sự khiêm nhường tỉnh thức trong thực hành tâm linh để tránh căn bệnh tự huyễn hoặc về sự ưu việt của tôn giáo mình. Tai họa của nhân loại chính là chủ nghĩa bộ tộc ác tính dưới mọi hình thức—từ các phong trào tôn giáo cực đoan đe dọa chiến tranh hạt nhân cho đến các ý thức hệ thế tục như chủ nghĩa Phát xít hay chủ nghĩa tư bản cực đoan vốn bị khoác lên năng lượng nguyên mẫu như những ngẫu tượng giả tạo. Thách thức đặt ra là phải phục hồi tinh thần của các truyền thống tiên tri cổ xưa: bản ngã không bao giờ có thể làm chủ được Bản Thể. Ngay cả bản đồ cấu trúc bản thể mà tôi truyền đạt cũng chỉ là tấm bản đồ chứ không phải vùng lãnh thổ thực tế. Phong trào bài trừ biểu tượng xưa kia có một động cơ chính đáng là sự nhạy cảm trước ngẫu tượng, nhưng lại thiếu sự thấu cảm với bản tính con người—loài sinh vật bắt buộc phải sáng tạo biểu tượng để tồn tại. Chúng ta cần duy trì sự tỉnh táo và khiếu hài hước trước những giới hạn này.
Có quan điểm cho rằng việc phổ biến tri thức về Sự Hiện Diện này là liều lĩnh vì có thể làm mất ổn định nhân cách của nhiều người; tuy nhiên, tôi tin rằng con người bắt buộc phải biết về nó. Mức độ bất ổn hay loạn trí mà con người gánh chịu bắt nguồn từ chính việc họ không nhận biết được thực thể này để có thể điều chỉnh và chuộc lỗi vì đã hợp nhất một cách bất kính. Biết trước là chuẩn bị trước: nếu không cẩn trọng trước một thực tại nội tâm quá đỗi hùng mạnh, cá nhân có thể bị đẩy vào trạng thái loạn thần (psychosis). Trên lâm sàng, số người cận kề ngưỡng loạn thần thực tế nhiều hơn so với nhận định thông thường của giới trị liệu. Xu hướng mãn tính tự thu mình, làm phẳng đời sống, trầm cảm, tách rời hay tìm đến rượu chè thực chất là sự vận hành khôn ngoan của các cơ chế phòng vệ vô thức nhằm ngăn tâm trí không bị quá tải trước một nguồn lực mà bản ngã chưa sẵn sàng thừa nhận.
Ở phương diện nền tảng, tôi nhận thấy mình gần gũi với Sigmund Freud hơn những gì từng nghĩ: thực sự tồn tại một Id (das Es - Cái Ấy), và Cái Ấy chính là Con Rồng. Khái niệm Siêu Bản ngã (Über-Ich) mà Freud mô tả thực chất cũng thuộc về cùng một cấu trúc hệ thống này; sự khác biệt phụ thuộc vào vị thế của bản ngã trước cấu trúc đó. Nếu bản ngã đồng nhất hóa với Id, nó sẽ bộc phát hành vi ngông cuồng trong trạng thái hưng cảm. Ngược lại, nếu bản ngã chối bỏ và xa lánh nó, thực thể này sẽ trở nên đối kháng và biểu hiện thành Siêu Bản ngã trừng phạt (punitive superego). Tiếng nói tự chỉ trích nội tâm cay nghiệt (scathing inner critic) hay các huyễn tưởng tự sát không phải do bản ngã tạo ra, mà chính là Con Rồng trong trạng thái đối kháng trừng phạt giáng xuống.
Tri thức nguyên sơ tối quan trọng cần khẳng định là: Có một Sự Hiện Diện bên trong tâm trí hoàn toàn không phải là bản ngã của chúng ta. Sự tự mãn ái kỷ thường khiến con người lầm tưởng Bản Thể nguyên mẫu chính là mình, và sự ngộ nhận này sinh ra bệnh lý tâm thần. Không ai trong chúng ta miễn nhiễm với nguy cơ loạn thần nếu Con Rồng phô bày quá nhiều sự hiện diện của nó—hãy nhớ lại câu chuyện Yahweh che chắn cho Moses trên núi Sinai khỏi tác động hủy diệt từ sự hiện diện trực tiếp. Việc tiêu tốn sinh lực (libido) vào các triệu chứng kỳ quặc, hành vi cưỡng chế, sự trì hoãn hay rối loạn chức năng thực chất là cơ chế tự vệ khôn ngoan giúp chúng ta không bị thiêu rụi trong năng lượng nguyên mẫu trước khi kịp thức tỉnh.
Thực thể này có thể được định danh dưới nhiều góc độ: năng lượng bản năng (instinctual energy), các khuôn mẫu sinh học mang năng lượng (biograms), Id, năng lượng Kundalini, hay ở trạng thái tiêu cực khi bị chối bỏ là phức cảm Lucifer (Lucifer complex) mang tính đối kháng như Siêu Bản ngã trừng phạt của Freud. Trong các trước tác về thuật giả kim của Jung, thực thể này chính là Mercurius—luôn ẩn mình cho đến khi con người sẵn sàng, nhưng không ngừng phát đi những dấu hiệu báo trước.
Khái niệm này tương đồng với việc thực hành sự hiện diện của Thiên Chúa của Tu sĩ Lawrence (Brother Lawrence), thực hành sự hiện diện của Phật tính hay "Chân nhân vô vị" trong Phật giáo, hoặc Atman trong Ấn Độ giáo. Có nhiều cách biểu đạt, nhưng tri thức cốt lõi là: Tồn tại một Kẻ Khác Nguyên Sơ bên trong chúng ta. Câu hỏi đặt ra không phải là liệu nó có hiện diện hay không, mà là nó đang biểu hiện như thế nào trong đời sống. Việc phát triển tình bạn với Con Rồng không đồng nghĩa với thái độ suồng sã, thân mật tự mãn kiểu một số tín đồ sùng đạo nông cạn, mà là sự chấp nhận một thực tại tâm linh đòi hỏi mối tương quan nghiêm cẩn suốt đời—mối quan hệ quan trọng nhất quyết định chất lượng của mọi mối quan hệ ngoại tại với con người (như tư tưởng của Thánh Augustine).
Sau khi đối diện và từ bỏ cái nhìn lãng mạn hóa ngây thơ về Con Rồng, giai đoạn "chung sống với Con Rồng" đòi hỏi việc thiết lập các kỷ luật tâm linh nền tảng tương tự như nguyên lý của các chương trình 12 Bước. Bản chất đằng sau các rối loạn tâm lý nghiêm trọng—từ nghiện ngập, hưng-trầm cảm đến rối loạn nhân cách ranh giới—chính là sự xáo trộn trong các hệ thống tự nhiên của nhân cách khiến tâm trí không thể tạo ra một chiếc bình chứa vững chắc để nguồn năng lượng này có thể tuôn chảy và quay trở về đúng cội nguồn của nó.
Trong chuyên đề về nguyên mẫu hiến tế, tôi đã trình bày về tiến trình xây dựng hệ thống bản ngã (system self). Khi xem xét sơ đồ cuối cùng—được in ở phần sau cuốn Facing the Dragon cùng với các sơ đồ khác—đây chính là cấu trúc địa lý thực tế về mã lệnh của "thân kim cương" (diamond body). Carl Jung từng tin rằng Bản Thể nguyên mẫu sở hữu cấu trúc mạng tinh thể và trong một số công trình, ông đã thử nghiệm với mô hình khối bát diện. Qua quá trình nghiên cứu, tôi đã nỗ lực hệ thống hóa mã cấu trúc này thành bốn cổng cơ bản, bốn hình tượng nguyên mẫu then chốt ở cả nam và nữ, đóng vai trò là những trục phát triển cốt lõi của nhân cách.
Nếu xem tâm lý học Jung là một tôn giáo, việc phân tích chi tiết cấu trúc này có thể bị coi là phạm thánh; nhưng vì nhìn nhận đây là một bộ môn khoa học, tôi xem việc làm sáng tỏ cấu trúc của Bản Thể là bổn phận chuyên môn. Khi nhìn vào hình tượng bản thể ở vị trí trung tâm: hãy hình dung ta đang nhìn từ trên cao xuống đỉnh kim tự tháp Chichen Itza của người Maya, nơi có ngôi đền tọa lạc trên đỉnh chóp. Điểm đỉnh đó chính là hình ảnh biểu trưng cho sự tích hợp trong bản thể con người, tương ứng với hệ thống bản thể (system self — viết chữ s thường). Đó là một thành tựu kiến tạo mà ta nỗ lực đạt tới bằng cách vận dụng mã cấu trúc của toàn bộ kim tự tháp.
Kim tự tháp—cũng như hình tượng Con Rồng—là sự phóng chiếu ngoại tại hóa cảm thức về một nhân cách sống động của Bản Thể vĩ đại dưới tư cách một sinh thể sống; tương tự như điều mà truyền thống Kinh Thánh gọi là "Thiên Chúa hằng sống", một thực thể tối thượng không thể bị thao túng hay kiểm soát. Các kim tự tháp Maya là biểu tượng đại diện cho mã lệnh của tiến trình cá nhân hóa (individuation), tiến trình tích hợp và định tâm. Cấu trúc này đòi hỏi phải tiếp nhận bốn biểu hiện khác nhau của năng lượng nguyên mẫu và đưa chúng vào một thế căng thẳng sáng tạo (creative tension). Bốn nguồn năng lượng này không thể bị hòa lẫn hay tích hợp theo lối giản đơn, mà bắt buộc phải được duy trì trong một thế cân bằng động.
Tương tự như việc rèn luyện thể hình đòi hỏi phát triển hệ thống cơ bắp để duy trì sức chịu tải, năng lực xây dựng một hệ thống bản thể có đủ tính toàn vẹn cấu trúc nhằm duy trì chức năng vận hành đòi hỏi khả năng chịu đựng cường độ căng thẳng nội tâm cao độ. Ta phải có khả năng chịu đựng trạng thái chưa được giải quyết dứt điểm: phải giữ vững thế căng thẳng trên trục thứ nhất giữa tính gây hấn/xâm kích (aggression) và năng lực dục cảm/kết nối (eros); đồng thời trên trục thứ hai, phải giữ vững thế căng thẳng giữa các chức năng nhận thức, phê phán (vốn đòi hỏi sự tách rời và chiêm nghiệm) với các chức năng Vương quyền mang tính quyết định ("Tôi quyết định, tôi mong muốn, tôi định hình tầm nhìn, tôi khẳng định bản thân và tôi sẽ thực thi").
Khi một người bị năng lượng nguyên mẫu từ góc phần tư Vương quyền (King/Queen) xâm lấn—dù là nam hay nữ—họ sẽ phát triển nét nhân cách áp chế cực đoan, gặp khó khăn lớn trong việc thấu cảm hay phục tùng đúng mực, luôn áp đặt một cách cưỡng chế và trở nên bất an, phẫn nộ tột độ khi người khác không phục tùng.
Một người bị ngập tràn năng lượng nguyên mẫu của Con Rồng qua cổng Pháp sư (Magician) thường mang thiên hướng giải cấu trúc: họ nhìn thấu mọi sự với thái độ giễu cợt, xem nhẹ mọi giá trị, hoài nghi cay độc và có xu hướng tách rời khỏi mọi sự can dự thực tế; các dạng bệnh lý phân ly và tách rời trong tâm thần học chính là dấu hiệu của sự ngập tràn năng lượng qua cánh cổng này.
Những ai gặp khó khăn trong việc điều hòa tính gây hấn đang trải qua sự ngập tràn hoặc thiếu kiểm soát năng lượng qua cổng Chiến binh (Warrior). Thói quen uy hiếp, bạo hành bằng lời nói đối với bạn đời, bạn bè, con cái hoặc đồng nghiệp phản ánh trạng thái hợp nhất vô thức với biểu hiện Chiến binh của năng lượng Rồng—cá nhân hành xử như thể mình là một vị chiến thần quyền uy chứ không phải một con người trần thế.
Nếu bị ngập tràn năng lượng qua cổng Người tình (Lover), cá nhân sẽ bị ám ảnh bởi cảm xúc, nỗi đau và các vết thương nội tâm, chối bỏ trách nhiệm và trao quyền lực của mình cho người khác thông qua việc lý tưởng hóa đối phương. Họ mang thói quen mãn tính luôn nói "đồng ý" khi lẽ ra phải nói "không", luôn định giá quá cao người khác và hạ thấp giá trị của chính mình.
Các dạng thức xâm lấn và hợp nhất này được phân tích chi tiết trong các bài giảng của tôi về Vô thức tập thể và Bệnh lý tâm thần cũng như chuyên đề Nguyên mẫu, Cưỡng chế và Chữa lành. Điểm mấu chốt cần tự vấn là: Bản thân thường hợp nhất và đánh mất ranh giới với Con Rồng theo phương thức nào? Việc ngộ nhận mình chính là Con Rồng là biểu hiện của sự bất kính tột độ—dù đó là ảo tưởng mình là một Pháp sư vĩ đại, một Người tình tuyệt đỉnh phải thỏa mãn tính dục với tất cả mọi người, hay một bậc Quân vương tối cao phải thống trị tất cả mà không bao giờ chịu lắng nghe. Tất cả đều là những "chỉ dấu của Rồng" (dragon signs) đòi hỏi ta phải nhận diện chuẩn xác.
Trước câu hỏi liệu khi bị ngập tràn năng lượng bệnh lý ở một góc phần tư thì sự tập trung có ý thức có nên dồn sang góc đối diện hay không: để thiết lập mối quan hệ hợp tác và sáng tạo với nguồn năng lượng này, bước đầu tiên là phải nhận diện xem bản thân đang bị ngập tràn năng lượng Rồng ở hình thái nào để biết mình đã mất ranh giới ở đâu. Việc dồn năng lượng sang góc đối diện là một mục tiêu hướng tới, nhưng không phải lúc nào cũng có thể thực hiện ngay lập tức. Chẳng hạn, một người bị ngập tràn năng lượng Người tình thường biểu hiện ra ngoài là một kẻ trì trệ, lười biếng; nếu nhà trị liệu ép họ lập tức chuyển sang các hoạt động tổ chức kỷ luật cao theo kiểu 7 thói quen của người thành đạt, họ sẽ bỏ cuộc ngay vì cảm thấy quá tải và xem nhà trị liệu là điên rồ.
Do đó, dù mục tiêu tối hậu là đánh thức thành tố bóng tối (shadow) đang bị ngó lơ, nhưng trên thực tế, người đó thường phải kích hoạt và vận hành tốt hơn góc phần tư Pháp sư (năng lực nhận thức, phân tích) trước khi có thể thực hiện bất kỳ thay đổi hành vi nào. Nhiều người chưa thể tiếp nhận các hướng dẫn hành động thực tế ngay lập tức vì họ cảm thấy hoàn toàn bị ngợp.
Tiến trình cá nhân hóa có hai mục tiêu cốt lõi: Thứ nhất, xác định xem yếu tố nào trong bốn yếu tố chưa được tích hợp đầy đủ. Từ đó, cần thiết lập một kế hoạch trị liệu tâm lý và tâm linh cụ thể để phụng sự từng "bàn thờ" nguyên mẫu. Người cổ xưa hiểu rất rõ rằng mỗi vị thần linh đều có một bàn thờ riêng biệt và tất cả đều đòi hỏi sự hiến tế tương xứng. Trong thực hành lâm sàng, tôi luôn bắt đầu bằng việc chẩn đoán cấu trúc (structural diagnosis) nhằm xác định những điểm mất cân bằng nổi cộm nhất để lên kế hoạch can thiệp.
Tiến trình chuyển hóa này diễn ra tương tự như mô hình giả kim thuật bốn giai đoạn:
Giai đoạn hỗn mang (massa confusa): Khi chưa nhận biết được sự hiện diện của các yếu tố nguyên mẫu.
Nhận diện và phân định rạch ròi bốn yếu tố nguyên mẫu.
Cân bằng các yếu tố: Khi các yếu tố được cân bằng, một "ngôi đền nội tâm"—tức hệ thống bản thể (system self)—sẽ hình thành, đóng vai trò như một chiếc bình chứa nội tâm giúp tiếp nhận và dẫn truyền năng lượng nguyên mẫu một cách có ý thức.
Thực hiện công việc hiến tế trong ngôi đền nội tâm: Người thực hành phải chủ động chuyển hồi phần năng lượng nguyên mẫu dư thừa vượt ngưỡng trở về cho Bản Thể vĩ đại.
Lời cầu nguyện "Xin ban cho chúng con hôm nay lương thực hằng ngày" của Chúa Jesus mang hàm nghĩa tâm lý sâu sắc: "Xin chỉ ban cho con lượng năng lượng nguyên mẫu mà con có thể điều hòa và sử dụng một cách sáng tạo; nếu nhiều hơn thế, con xin thành kính dâng hồi lại cho Ngài trong tiến trình tâm linh nội tâm."
Khi hệ thống bản thể vận hành ổn định và các yếu tố được cân bằng, bình chứa nội tâm có thể dung chứa nhiều "tiên dược" (elixir) sinh lực hơn mà không bị phân mảnh, giúp cá nhân thoát khỏi trạng thái trầm cảm. Tuy nhiên, Bản Thể nguyên mẫu là một nguồn trao ban không ngừng nghỉ. Khi chiếc cốc tâm lý đã đầy, năng lượng vẫn tiếp tục tuôn đổ. Các liệu pháp phân tâm học Freud và tâm lý học bản ngã thất bại chính vì lầm tưởng rằng khi lấp đầy chiếc cốc là trị liệu đã hoàn tất. Khi năng lượng tràn cốc mà cá nhân không biết cách chuyển hồi có ý thức, trạng thái phồng rộp và thoái lui sẽ tái phát, kéo theo các triệu chứng bệnh lý.
Khi tối ưu hóa được lượng năng lượng dung chứa và tôn kính Con Rồng (luôn nhớ rằng mình không phải là Rồng), cá nhân sẽ trở nên rạng rỡ, mang sức hút lôi cuốn (charisma), đẩy lùi trầm cảm và cưỡng chế. Nhưng nếu phạm sai lầm chiếm giữ phần năng lượng dư thừa làm của riêng—như bi kịch của nhiều nghệ sĩ tự huyễn hoặc về sự vĩ đại cá nhân khi sáng tác (điển hình như sự suy tàn của danh họa Jackson Pollock trong bộ phim Pollock)—đó sẽ là khởi đầu của sự hủy diệt.
Về câu hỏi liên quan đến sự biến đổi của nguồn năng lượng này từ thời cổ đại đến nay: Bản thân Bản Thể nguyên mẫu và cấu trúc sinh học thần kinh của loài người không hề thay đổi. Điều thay đổi chính là cấu trúc chứa đựng văn hóa. Trước Thời đại Trục (Axial Age—thời kỳ của Đức Phật và Tiên tri Isaiah), con người sống trong các nhóm nhỏ và phát triển những bình chứa thần thoại, nghi lễ tinh vi để dung chứa nguồn năng lượng này thông qua sự phóng chiếu; họ sống trong sự phóng chiếu và duy trì lòng kính sợ sâu sắc trước các đấng thiêng liêng.
Tuy nhiên, khi bước vào Thời đại Trục với sự xuất hiện của sản xuất nông nghiệp và các thành bang đòi hỏi chuyên môn hóa, xã hội bắt đầu phân hóa vai trò: năng lượng Chiến binh bị khoán trắng cho quân đội, năng lượng Vương quyền giao cho nhà vua, năng lượng Người tình cho giới nghệ sĩ, và năng lượng Pháp sư cho giới học giả. Sự phân chia vai trò ngoại tại này chính là khởi đầu của sự chia tách tâm lý (psychological splitting), bởi mỗi cá nhân không thể "thuê ngoài" các nguồn năng lượng nguyên mẫu mà bắt buộc phải tự tích hợp chúng bên trong chính mình. Cùng với tiến trình thế tục hóa liên tục loại bỏ tri thức nghi lễ cổ xưa, nhân cách nội tâm không đổi nhưng nền văn hóa ngày càng trở nên mù mờ trước các phương tiện biểu tượng để điều hòa năng lượng.
Dù vậy, không nên lãng mạn hóa các nền văn hóa tiền hiện đại: do thiếu tri thức phân tâm học để hiểu rằng đây là một tấn bi kịch nội tâm, họ thường bộc phát nghi lễ ra bên ngoài qua các tập tục tìm "con dê tế thần" (scapegoating) và biến các bộ tộc khác thành nạn nhân hiến tế—điều mà René Girard gọi là "bạo lực thiêng" (sacred violence trong tác phẩm Violence and the Sacred). Lần đầu tiên trong lịch sử, chúng ta có đủ hiểu biết tâm lý học để thu hồi các phóng chiếu này về nội tâm, nhằm chấm dứt việc biến chiến tranh thành các cuộc hiến tế người đẫm máu. Việc lãng mạn hóa để quay về lối sống bản địa cổ xưa là bất khả thi; giải pháp duy nhất là học cách chung sống với các bộ tộc khác trong sự tôn kính và đưa toàn bộ tiến trình hiến tế này vào bên trong tâm thức có ý thức. Các nhà trị liệu gia đình thấy rất rõ điều này: các gia đình rối loạn thường chọn ra một nạn nhân hiến tế—"bệnh nhân được chỉ định" (identified patient)—để gánh chịu mọi điều tiêu cực cho toàn bộ hệ thống gia đình.
Về sự khác biệt giới tính trong việc biểu hiện các nguyên mẫu: Về mặt thống kê, ở nửa đầu cuộc đời, phụ nữ thường bị ngập tràn năng lượng nguyên mẫu Người tình, trong khi nam giới thường bị ngập tràn năng lượng xâm kích/Chiến binh—trong giai đoạn này quan điểm "đàn ông sao Hỏa, đàn bà sao Kim" của John Gray là chính xác. Tuy nhiên, sau tuổi trung niên, quy luật này đảo chiều hoàn toàn: phụ nữ chuyển sang tính chất "sao Hỏa" (mạnh mẽ, quyết đoán hơn) còn nam giới chuyển sang "sao Kim" (mềm mỏng, cảm xúc hơn). Sự giao thoa ngược chiều như hai con tàu lướt qua nhau trong đêm này chính là nguyên nhân dẫn đến làn sóng ly hôn rầm rộ ở tuổi trung niên khi hai bên bước vào những thôi thúc nguyên mẫu đối nghịch. Dù vậy, trong công tác lâm sàng với từng cá nhân cụ thể, nhà trị liệu phải gác lại các quy luật thống kê chung để tập trung quan sát trực tiếp: Thân chủ đang bị ngập tràn ở góc phần tư nào và đang phân ly, chối bỏ nhận thức về nguồn năng lượng nào?
Các "chỉ dấu của Rồng" biểu hiện đa dạng qua nhiều kênh:
Các rối loạn nhân cách: Những khuôn mẫu hành vi lặp lại làm suy giảm khả năng vận hành toàn diện.
Các triệu chứng bệnh lý: Rối loạn khí sắc chu kỳ, rối loạn lo âu (mọi rối loạn lo âu đều là chỉ dấu cho thấy cá nhân đang điều hòa năng lượng Rồng kém) và các dạng thức ám ảnh cưỡng chế.
Giấc mơ: Giấc mơ chứa đựng rất nhiều thông điệp từ Con Rồng và không đơn thuần chỉ phản ánh vô thức cá nhân; nếu thể hiện sự lắng nghe chân thành, Kẻ Khác Vĩ Đại sẽ đối thoại trực tiếp qua giấc mơ.
Trải nghiệm đồng hiện (synchronicity): Hiện tượng này báo hiệu cá nhân đang ở rất gần Bản Thể nguyên mẫu về mặt tâm lý và cần lập tức chú ý giải mã ý nghĩa của biến cố.
Về hiện tượng chao đảo hay "bắn súng cao su" (slingshot) qua lại giữa các góc phần tư—chẳng hạn chuyển đột ngột từ Vương quyền sang Người tình: điều này xuất hiện khi hệ thống bản thể chưa được củng cố vững chắc. Một chứng rối loạn nhân cách cố định (như kiểu nhân cách phụ thuộc) thậm chí còn là một bước tiến vì ít nhất hệ thống bản thể đã có cấu trúc ổn định thay vì chao đảo vô định. Ngược lại, ở chứng Rối loạn Nhân cách Ranh giới (Borderline), cá nhân liên tục biến đổi khôn lường: vừa phút trước chìm đắm trong nhu cầu phụ thuộc (Người tình), phút sau đã dùng hỏa lực tấn công mọi người (Chiến binh), tiếp đó ảo tưởng mình vừa đạt được một sự khai mở tâm linh (Pháp sư), rồi ngay lập tức quay sang kiểm soát, áp chế mọi người xung quanh (Vương quyền). Sự chao đảo này là dấu hiệu cho thấy hệ thống bản thể đang khủng hoảng nghiêm trọng và đòi hỏi chiếc bình chứa nâng đỡ từ bên ngoài.
Về khái niệm Siêu Bản ngã trừng phạt (punitive superego): Freud đã không thấu suốt cấu trúc tâm lý thực sự bên dưới hiện tượng mà ông quan sát được. Ông cho rằng Siêu Bản ngã trừng phạt hình thành từ sự nội tâm hóa các quy chuẩn đạo đức của cha mẹ hay nền văn minh. Dù văn hóa và cha mẹ có đóng vai trò nhất định trong việc thiết lập sự kiểm soát nội tâm, nhưng đó không phải là nguồn gốc của một Siêu Bản ngã bệnh lý mang tính hủy diệt—thứ Siêu Bản ngã không hề có chức năng điều hòa mà chỉ muốn tấn công, băm vằn và tiêu diệt cá nhân. Khi bản ngã đối xử bất kính hoặc khép kín nhận thức trước Bản Thể vĩ đại, thực thể này sẽ lập tức biểu hiện thành nguồn năng lượng đối kháng tàn khốc mà bản ngã trải nghiệm như một kẻ thù không đội trời chung.
Trong phần thực hành thảo luận nhóm đôi, điều quan trọng là duy trì ranh giới và sự phân hóa phù hợp, không chia sẻ những điều riêng tư gây hối tiếc sau này, mà tập trung rà soát trải nghiệm để nhận diện các "chỉ dấu của Rồng" trong đời sống. Hệ thống lưu trữ, hiệu sách và thư viện băng đĩa của Viện cung cấp toàn bộ các công trình nghiên cứu hoàn chỉnh của tôi. Bức tranh địa lý tâm trí hoàn toàn không phải là một đống hỗn độn (massa confusa), mà là một hệ thống có cấu trúc rõ ràng và có bản đồ định hướng chính xác.
Đối với quỹ thời gian còn lại trong sự nghiệp, tôi dành tâm huyết để đào tạo các nhà trị liệu có định hướng tâm linh—những người hiểu rằng thực hành tâm linh phải nằm trong mối quan hệ đối tác năng động, sáng tạo với trị liệu tâm lý tích hợp. Các chuỗi hội thảo chuyên sâu về Phân tâm học Cấu trúc (Structural Psychoanalysis) và Trị liệu Tâm lý Tích hợp (Integrative Psychotherapy) đang được tôi triển khai; thông tin chi tiết có sẵn trên trang web và tài liệu phát tay của Viện.
Về các tình huống xảy ra chuỗi tai nạn liên tiếp (như ngã thang, bầm dập, quên chìa khóa xe trước giờ họp quan trọng): Đây là những hiện tượng mang tính đồng hiện. Khi mọi việc đang diễn ra quá suôn sẻ, bản ngã có xu hướng bị lấp đầy bởi năng lượng nguyên mẫu; nếu chưa thành thạo trong việc thực hành sự hiện diện, đây chính là thời điểm rất dễ xảy ra tai nạn hoặc những "lỗi lỡ lời/hành vi kiểu Jung" (Jungian slip). Một chuỗi tai nạn bất thường không có liên hệ nhân quả ngoại tại là lời cảnh báo thức tỉnh: Ta đang nằm trong hình tượng nguyên mẫu nào (như cách trường phái James Hillman thường đặt câu hỏi)? Ta có đang ngủ gật sau tay lái hay không? Tai nạn liên tiếp xảy ra là dấu hiệu cho thấy tâm trí đang trôi dạt (zoning out) và mất kết nối.
Bản thân tôi từng trải qua hơn 40 năm bị nguyên mẫu Pháp sư chiếm hữu (possessed by the magician archetype), liên tục dung nạp năng lượng Pháp sư quá mức. Tôi đã phải trải qua một tiến trình phân tích tâm lý kéo dài và làm việc trong các nhóm đối thoại trung thực, trực diện để học cách trở thành một con người thực thụ. Đóng vai một nguyên mẫu luôn dễ dàng hơn rất nhiều so với việc làm một con người trần thế có giới hạn; việc làm người đòi hỏi phải chủ động kiến tạo một không gian nhân tính.
Khi một người quá bận rộn và nghiện việc, nguyên mẫu Chiến binh đang chiếm lĩnh họ, khiến cơ thể vật lý và nguyên mẫu Người tình bị đẩy vào vùng bóng tối (shadow). Họ không nhận ra cơ thể đã kiệt sức vì Người tình vốn đòi hỏi sự hiện diện trọn vẹn trong giây phút hiện tại (bạn bè tôi vẫn thường đùa rằng tôi chỉ thực sự cá nhân hóa thành công khi biết cách ngồi thảnh thơi trò chuyện với bạn bè).
Đối với chứng Rối loạn Nhân cách Ám ảnh Cưỡng chế (Compulsive Personality Disorder), cấu trúc nhân cách thường là sự kết hợp: bản ngã có ý thức nằm ở góc Người tình (luôn muốn làm hài lòng người khác, trao quyền lực cho đối phương), nhưng đồng thời cài đặt năng lượng Chiến binh ở chế độ tự động để làm việc không ngừng nghỉ nhằm chiều lòng mọi người. Đây chính là mẫu nhân cách kết hợp "kẻ làm hài lòng" và "kẻ kiểm soát" theo tâm lý học Adler. Ngược lại, một người thuần túy bị thống trị bởi năng lượng Người tình sẽ không hề bận rộn mà biểu hiện ra ngoài là sự lười biếng, hoàn toàn bất lực trước hành động thực tế (doing—vốn thuộc thẩm quyền của Chiến binh); đó là lý do những thân chủ rối loạn chức năng nặng nề thường không thể thực hiện các bài tập hành vi mang tính xây dựng.
Khi một góc phần tư bị ngập tràn và gây ảnh hưởng mất cân đối, toàn bộ các góc phần tư khác đều bị biến dạng theo quy luật tương hỗ. Người mắc chứng nhân cách ám ảnh cưỡng chế thực chất rất sợ hãi tính tự chủ (autonomy) và sợ việc làm chủ năng lượng xâm kích của chính mình. Họ dùng năng lượng hành động để phục vụ người khác nhưng không dám xác lập quyền làm chủ cho bản thân.
Để hồi phục, họ bắt buộc phải truyền năng lượng vào góc Vương quyền ("Tôi muốn gì?", thay vì "Người khác muốn gì?"). Chuyên gia bệnh lý học tâm thần thực chứng Theodore Millon phân loại kiểu nhân cách ám ảnh cưỡng chế là mẫu "thụ động - lưỡng lự" (passive-ambivalent): họ không dám khẳng định tính tự chủ và bản thể riêng, từ đó tích tụ một khối thịnh nộ vô thức (unconscious rage) khổng lồ. Cách duy nhất để giải tỏa cơn thịnh nộ vô thức này là phải chủ động hành động vì chính mình.
Trong tiến trình dịch chuyển sang một góc phần tư chưa phát triển, việc quỷ ám hóa góc phần tư đang vận hành tốt là hoàn toàn sai lầm. Thay vào đó, phương pháp hiệu quả là "lùi dần vào" (backing into) góc phần tư xa lạ mà không làm bản ngã hoảng loạn. Khi trực tiếp xông vào một góc phần tư chưa quen thuộc, năng lượng nguyên mẫu ở đó sẽ tạo cảm giác hoàn toàn xa lạ với bản ngã (ego-alien).
Chẳng hạn, một phụ nữ muốn viết sách nhưng lớn lên trong nền văn hóa áp đặt sự im lặng có thể "lùi dần vào" góc Chiến binh/Vương quyền bằng cách viết từng bài báo ngắn trước khi viết một cuốn sách hoàn chỉnh. Tương tự, một người đàn ông đang bị chi phối bởi năng lượng Người tình không nên chối bỏ nguồn năng lượng cảm xúc của mình, mà cần xây dựng trên nền tảng đó để tiến từng bước nhỏ (baby steps—như nguyên lý của chương trình 12 Bước) lùi dần vào năng lượng Chiến binh.
Quan điểm về việc "lùi dần vào" góc phần tư xa lạ chứa đựng một nguyên lý then chốt trong thực hành trị liệu cũng như tự chuyển hóa: chúng ta cần phi bệnh lý hóa (depathologize) toàn bộ các biểu hiện tâm lý. Thay vì vội vã phân loại và dán nhãn bệnh lý theo khuôn mẫu giáo điều của các trường phái tâm lý học quy chuẩn, điều cần làm là thấu hiểu nguồn năng lượng đang ngập tràn đó thực chất mang mục đích gì.
Khi làm việc với một người đang vật lộn với chứng nghiện ngập nặng nề, tôi thường ghi nhận và chúc mừng họ vì nguồn năng lượng Người tình (Lover energy) dồi dào mà họ sở hữu. Đó là nguồn năng lượng cảm xúc mãnh liệt mà bản thân tôi cũng ao ước có được để bồi đắp cho nhân cách của mình. Từ sự thừa nhận đó, người này cần tìm kiếm và ngưỡng mộ những tấm gương Chiến binh (Warrior) kỷ luật, rồi từng bước nhỏ tiếp cận năng lượng đó. Thuật ngữ phân tâm học gọi đây là vi cấu trúc hóa (microstructuralization)—tức là tiến trình kiến tạo từng bước nhỏ vững chắc. Mọi sự cấu trúc hóa thực chất đều là vi cấu trúc hóa; những ảo tưởng về sự thay đổi thần tốc mang tính đột phá chỉ là ảo ảnh đánh lừa thị giác.
Nghiên cứu khoa học thần kinh hiện đại chứng minh rằng chúng ta đang thực hiện việc tái cấu trúc các liên kết não bộ (rewiring the brain). Não bộ không thể tái cấu trúc nhanh chóng, mà chỉ có thể thay đổi thông qua việc kiên trì lặp đi lặp lại những khuôn mẫu thói quen mới có ý thức. Cách tiếp cận "lùi dần vào" thể hiện sự khiêm nhường sâu sắc: nhận thức rõ giới hạn thực tế rằng bản thân không thể lập tức trở thành một vận động viên cự phách chỉ sau một tuần, nhưng hoàn toàn có thể thiết lập kỷ luật dành 30 phút trên máy chạy bộ để tiêu hao bớt lượng calo tích tụ do nguồn năng lượng Người tình đam mê ăn uống tạo ra. Mỗi hành vi thực hành có ý thức nhằm tôn vinh nguồn năng lượng từng bị phân ly—dù nhỏ đến đâu—đều trực tiếp kiến tạo các liên kết thần kinh mới trong não bộ, tương tự như việc cài đè một đoạn mã tối ưu lên đoạn mã lỗi thời để hệ thống vận hành hiệu quả hơn.
Cơ chế biểu hiện của năng lượng Rồng qua các cổng nguyên mẫu
Đối với hiện tượng ám ảnh cưỡng chế mang tính dục cảm (erotic obsession): Sự ngập tràn năng lượng dục cảm trong góc Người tình chính là một cánh cổng nguyên sơ để năng lượng Rồng tràn vào tâm trí. Điều này tương đồng với trăn trở của triết gia Paul Tillich về cách thức con người tiếp cận "sức mạnh của hiện hữu" (power of being) để tìm kiếm sinh lực sống (juice). Nguồn sinh lực này không phân bổ rải rác mà luôn đi qua những cánh cổng cụ thể: có người tìm thấy qua các mối quan hệ liên cá nhân, qua huyễn tưởng tình dục hay việc xem nội dung khiêu dâm trên mạng; có người lại hấp thụ qua các bài tập thể lực cường độ cao (thuộc cổng Chiến binh); và có những người đón nhận nguồn năng lượng thiêng liêng (numinous) thông qua việc thưởng lãm nghệ thuật. Khi tiếp nhận năng lượng qua nghệ thuật, đó chính là năng lượng Rồng đang đi qua cánh cổng mang tính biểu tượng này. Tình trạng ám ảnh với hình ảnh tình dục phản ánh sự ngập tràn năng lượng nguyên mẫu qua cổng Người tình; cá nhân cần được hỗ trợ kích hoạt các góc phần tư khác để tái lập cân bằng, bởi sự quá tải năng lượng dục cảm sẽ đẩy cấu trúc nhân cách vào trạng thái hỗn loạn (như cấu trúc nhân cách ranh giới thường bị ngập tràn năng lượng tình dục).
Trước thắc mắc của một kiến trúc sư về việc liệu thiên hướng nghệ thuật bẩm sinh có phải là "cánh cổng chính" duy nhất cần duy trì và điều chuyển sang các góc khác, hay cần phải mở cả bốn cánh cổng: Mục tiêu tối hậu là phải vận hành được cả bốn cổng. Lời khuyên "hãy tìm lấy huyền thoại của riêng bạn" hay việc quá câu nệ vào các loại hình nhân cách (typology) thực chất là một sai lầm vì nó tự giam hãm cá nhân vào một chiếc hộp hạn hẹp. Dù bản thân tôi có xu hướng kết nối mạnh mẽ với nguyên mẫu Pháp sư trong suốt cuộc đời, nhưng tiềm năng chuyển hóa đích thực chỉ đến khi tôi dấn thân vào những góc phần tư khó khăn hơn. Năng lực nhận thức không hề suy giảm mà trái lại còn được tối ưu hóa rõ rệt khi tích hợp được vùng bóng tối (shadow). Đời sống tâm trí không phải là một trò chơi có tổng bằng không (zero-sum game); tiềm năng tối ưu của con người lớn hơn rất nhiều so với nhận thức thông thường. Đây chính là bản chất của "đời sống xuất thần" (the ecstatic life) mà Paul Tillich mô tả: khi hệ thống bản thể được củng cố vững chắc để chịu tải cường độ trải nghiệm cao mà không rơi vào bệnh lý, năng lực thưởng lãm nghệ thuật và năng lượng sáng tạo sẽ đạt tới đỉnh cao rực rỡ nhất.
Đối với các rối loạn ăn uống (eating disorders): Đây là biểu hiện của sự xâm lấn và chiếm đóng mang tính nguyên mẫu (archetypal colonizations). Mọi hành vi mang tính cưỡng chế đều được tiếp sức từ sự xâm lấn này; việc nghiên cứu lâm sàng đòi hỏi phải phân tích kỹ lưỡng các biểu hiện để xác định chính xác hành vi đó bắt nguồn từ phân khu nguyên mẫu nào.
Đối với sự ám ảnh tri thức và học hỏi không ngừng: Đây là trạng thái chiếm hữu quá nhiệt của nguyên mẫu Pháp sư (overheated magician possession state). Ta không nên bệnh lý hóa niềm say mê tri thức, mà cần duy trì khiếu hài hước để nhận diện những gì đang bị vắng bóng một cách nổi bật trong đời sống, hoặc xem xét bản thân đang vô thức đòi hỏi bạn bè, người phối ngẫu phải gánh vác thay mình nguồn năng lượng nguyên mẫu nào mà mình đang chối bỏ.
Quy luật Hubris - Nemesis, Thái độ Biết ơn và Thực hành Lắng đọng
Hiện tượng tai họa ập đến ngay khi mọi sự đang diễn ra hết sức suôn sẻ phản ánh chu trình kinh điển giữa sự ngạo mạn (Hubris) và sự báo ứng (Nemesis). Khi mọi việc thuận lợi, bản ngã rất dễ đồng nhất hóa với nguồn năng lượng nguyên mẫu dồi dào và rơi vào trạng thái vĩ cuồng.
Phương thuốc giải trừ căn bệnh vĩ cuồng chính là sự biết ơn (gratitude); sự biết ơn và tính vĩ cuồng hoàn toàn đối nghịch nhau. Trong cuốn Grace and Gratitude phân tích thần học của John Calvin, Bernard McGinn đã chỉ ra rằng nhận thức sâu sắc về ân sủng (tương đương với năng lượng Rồng) tất yếu sẽ khai sinh lòng biết ơn. Dấu hiệu nhận biết sự vĩ cuồng là khi cá nhân không có phương án dự phòng (kế hoạch B, kế hoạch C), không có cảm giác biết ơn chân thành, hoặc coi mọi sự là hiển nhiên. Khi đón nhận những điều may mắn, việc chủ động thực hành lòng biết ơn đối với ân sủng và phước lành chính là biểu hiện sống động của thái độ hiến tế (sacred sacrificial attitude).
Đối với những người mang nhiều năng lượng Pháp sư (như giới trị liệu, phân tích gia, giáo sư hay những người tự nhận là nhà thần bí), họ thường có xu hướng thoát xác khỏi cơ thể (out-of-body), bay bổng trong các tư tưởng chiêm nghiệm. Các thực hành thiền định, ngồi tĩnh lặng giúp tâm trí hạ cánh, định tâm vững chắc trong thân thể vật lý và không còn bị cuốn theo những suy nghĩ trừu tượng. Việc tìm kiếm các phương pháp giúp bản thân lắng đọng và nối đất (grounded) là điều kiện tiên quyết để mở lòng đón nhận những thành tố đang vắng bóng.
Tiến trình Sáng tạo Nghệ thuật và Chiếc bình chứa Nhân tính
Trong tiến trình sáng tạo nghệ thuật, việc trực tiếp theo đuổi sự vĩ đại luôn dẫn tới thảm họa. Nhiều nghệ sĩ rơi vào trạng thái vĩ cuồng cực độ khi tác phẩm thành công, nhưng lại hoàn toàn sụp đổ và tuyệt vọng khi bế tắc; họ hy sinh toàn bộ đời sống gia đình, nhà cửa và các mối quan hệ thực tế cho nghệ thuật theo khuôn mẫu lệch lạc mà các trường nghệ thuật cổ súy. Nghệ thuật của họ khi đó trở thành sự bóc lột vô thức (ripping off the unconscious). Khi tác phẩm được nhìn nhận đúng đắn như một sự giao tiếp từ năng lượng Rồng chứ không phải thành tựu riêng của bản ngã, nghệ sĩ thường phản kháng vì không muốn thừa nhận sự thật này.
Đúng như Carl Jung từng nhận định về sự cân bằng bắt buộc giữa tính thẩm mỹ và sự thấu triệt nhận thức: thẩm mỹ thiếu hiểu biết chỉ là vẻ đẹp bề ngoài rỗng tuếch, còn hiểu biết thiếu tính thẩm mỹ sẽ trở nên khô cằn. Giới nghệ sĩ rất cần được hỗ trợ để tìm lại sự neo giữ trong đời sống thực tế ("có một cuộc đời thực sự"), từ đó trở thành một chiếc bình chứa tôn kính và vững chắc cho dòng chảy sáng tạo, giúp tác phẩm đạt được chiều sâu và tính bền vững đích thực.
Hiện tượng Chuyển di Lý tưởng hóa và Kỷ luật Tâm linh Thường nhật
Những người làm công tác trị liệu hoặc giữ vai trò lãnh đạo (giáo viên, mục sư, người hướng dẫn tâm linh) thường xuyên phải gánh vác các chuyển di lý tưởng hóa (idealizing transferences) từ người khác. Thân chủ hay cấp dưới thường phóng chiếu và trút các nguồn năng lượng Rồng vào người lãnh đạo để họ nắm giữ, điều này rất dễ đẩy người lãnh đạo vào trạng thái hưng phấn quá mức rồi suy sụp đột ngột (crash).
Để bảo vệ sự lành mạnh tâm trí, người làm công tác lãnh đạo và trị liệu phải có ý thức nhận biết khi nào mình đang bị quá tải bởi sự lý tưởng hóa đó, lập tức bước vào "ngôi đền nội tâm" để đối thoại với Con Rồng: "Tôi ý thức rõ đây không phải năng lượng của tôi, mà là năng lượng của Ngài, và tôi muốn thực hiện một hành động mang tính biểu tượng để tri ân Ngài." Hành động biểu tượng đó có thể là việc biến một dự định bị trì hoãn—chẳng hạn như việc đi tập thể hình—thành một nghi thức có ý thức: đến phòng tập, dồn nguồn năng lượng đó vào máy chạy bộ hoặc tạ để khẳng định tư cách con người trần thế của mình trước Con Rồng. Việc tích hợp rèn luyện thể chất thành một phần của kỷ luật tâm linh mang lại hiệu quả bảo vệ và chuyển hóa cấu trúc nhân cách rất to lớn.
Kỷ luật tâm linh tối ưu đòi hỏi việc duy trì nhận thức về Con Rồng ngay từ khoảnh khắc mở mắt thức dậy cho đến khi chìm vào giấc ngủ. Sống một cuộc đời đồng hiện đồng nghĩa với việc không bao giờ để bản ngã khép kín trong ảo tưởng cô độc và tự mãn.
Trong thực hành lâm sàng, tôi không bao giờ cho phép mình rơi vào ảo tưởng rằng chỉ có tôi và thân chủ trong phòng phân tích: Con Rồng luôn hiện diện ở đó. Nếu quên đi điều này, nhà trị liệu sẽ lập tức bị phồng rộp bản ngã, cố gắng đóng vai một chuyên gia toàn năng và triệt tiêu hiệu quả trị liệu.
Không gian làm việc cần các biểu tượng đại diện cho chiều kích siêu cá nhân (transpersonal) để nhắc nhở nhà trị liệu về giới hạn của bản thân (một căn phòng trống rỗng không hình ảnh theo lối phân tâm cổ điển thực chất tạo ra một áp lực hình thức rất nặng nề). Tôi sử dụng hình tượng Đức Mẹ Maria để kết nối với tính Nữ Vương quyền (Royal Feminine); một người nam thiếu sự kết nối nội tâm với hình tượng Nữ Thần sẽ rất dễ trút những đòi hỏi nguyên mẫu áp chế lên những người phụ nữ trần thế xung quanh. Tương tự, việc xác lập mối tương quan nội tâm với Cặp đôi Vương quyền (Royal Couple) giúp ngăn ngừa việc phóng chiếu họ lên các đối tượng ngoại tại và gây ra những xung đột nghiêm trọng.
Tâm lý học khoa học chỉ có thể giải thích cơ chế vận hành ("hệ thống đường ống"), nhưng không thể cung cấp các bình chứa biểu tượng; tâm lý học Jung không phải là một tôn giáo, mà là phương tiện để thấu hiểu mục đích và tầm quan trọng của các thực hành tôn giáo. Mỗi cá nhân bắt buộc phải tự xây dựng cho mình một kế hoạch trị liệu tâm lý và tâm linh tích hợp (integrated treatment plan) mang tính cá nhân hóa cao độ—bao gồm sự chăm sóc thân thể, rèn luyện trí tuệ, định hình tầm nhìn, tinh thần phụng sự và các hoạt động thực tiễn có ý thức.
Hiện tượng học về Sự Hiện Diện và Đối thoại Tưởng tượng Tích cực
Dưới lăng kính khoa học, việc nhận thức Sự Hiện Diện trong phòng trị liệu không phải là một tuyên bố mang tính bản thể luận hay triết học tôn giáo, mà là sự tiếp cận hiện tượng học về Thiên Chúa (phenomenology of God) hay cấu trúc hình tượng Thiên Chúa (imago Dei) trong chiều sâu tâm trí. Con người vốn được lập trình cho trí tưởng tượng thần thoại; việc phủ nhận điều này chỉ biến các ý thức hệ thế tục thành những triết thuyết giả hiệu.
Chương sách quan trọng nhất trong cuốn The Science of the Soul của Edward Edinger mang tên "Nhân cách Lớn hơn" (The Greater Personality): tồn tại một Nhân cách Lớn hơn bên trong mỗi người, thấu suốt hơn bản ngã và am tường về thân chủ hơn chính nhà trị liệu.
Trước câu hỏi liệu Con Rồng có muốn con người biến thành Rồng hay không: Con Rồng xâm lấn hay chiếm hữu bản ngã chỉ nhằm mục đích duy nhất là thu hút sự chú ý. Toàn bộ các giấc mơ kỳ lạ, tai nạn bất thường, biến cố đồng hiện hay triệu chứng cưỡng chế gia tăng đều là những nỗ lực của thực thể này nhằm đòi hỏi một mối quan hệ có ý thức—nó muốn được nhận biết.
Phương pháp đối thoại tưởng tượng tích cực (active imagination dialogues) với Nhân cách Lớn hơn mang lại hiệu quả chuyển hóa phi thường, ngay cả với những người theo chủ nghĩa vô thần cực đoan đang chật vật với nỗi lo âu về cái chết, sự trống rỗng và vô nghĩa (theo khái niệm của Paul Tillich). Khi tạo lập một không gian tôn kính để đối thoại bằng cách viết lại các thông điệp, cá nhân sẽ nhanh chóng nhận ra rằng tiếng nói phản hồi đó thực sự không phải do bản ngã tạo ra, và một mối quan hệ hợp tác sống động với "người bạn nội tâm" sẽ dần được thiết lập.
Bản thể Chân thật, Tính Hữu hạn và Sự Phân bổ Nguyên mẫu trong Gia đình
Khái niệm Bản thể Chân thật (True Self)—theo tư tưởng của Thomas Merton và các truyền thống tâm linh—không phải là một thực thể vĩ cuồng, ngạo mạn hay bị nguyên mẫu thống trị. Bản thể Chân thật chính là con người nhân bản đích thực, hữu hạn và rạng rỡ, có khả năng yêu thương sâu sắc và can đảm đối diện với tính hữu hạn của cái chết. Chừng nào chưa dám đối diện với cái chết, con người vẫn đang mắc kẹt trong ảo tưởng vĩ cuồng rằng mình sẽ sống mãi, không bao giờ đau ốm và bất khả xâm phạm. Bản ngã trở nên vĩ cuồng ngay khi nó bắt đầu coi bất kỳ điều gì là hiển nhiên.
Sự ngắn ngủi và giới hạn của kiếp người chính là yếu tố làm nên giá trị thiêng liêng của sự sống:
Bản Thể nguyên mẫu (Archetypal Self): Bản Thể Thần linh vĩ đại.
Hệ thống bản ngã (System Self): Cấu trúc nội tâm được kiến tạo để khẳng định và nâng đỡ tính người.
Bản thể Chân thật (True Self): Nhân cách nhân bản rạng rỡ xuất hiện khi hệ thống bản thể vận hành thỏa đáng và cá nhân hóa giải được sự hợp nhất vô thức với Bản Thể Thần linh.
Nghịch lý nằm ở chỗ: khi từ bỏ sự hợp nhất với Bản Thể Thần linh để trở nên "ít nguyên mẫu hơn và đậm tính người hơn", con người thực chất trở nên tuyệt vời và trọn vẹn hơn rất nhiều. Việc bị một nguyên mẫu chiếm hữu chỉ biến cá nhân thành một thực thể phẳng, phiến diện và nghèo nàn; trong khi một con người đích thực là một sự tích hợp tuyệt mỹ của những phức hợp nội tâm sâu sắc.
Sự thống trị của các nguyên mẫu cụ thể trong từng cá nhân chịu ảnh hưởng từ nhiều yếu tố:
Thể tạng sinh học ban đầu: Đúng như chuyên gia tâm thần học Theodore Millon nhận định về mối liên hệ giữa thể tạng và sự củng cố hành vi, một đứa trẻ sinh ra với thể chất mạnh mẽ thường dễ kích hoạt các nguyên mẫu mang tính chủ động, thống trị; trong khi một thể trạng yếu ớt có xu hướng kích hoạt các nguyên mẫu thoái lui, né tránh năng lượng Chiến binh hay Vương quyền.
Sự phân bổ vai trò trong hệ thống gia đình: Gia đình vô thức chia nhỏ các lãnh địa nguyên mẫu cho các con. Vị trí nguyên mẫu nào đã bị anh chị em chiếm giữ thì người khác không thể đảm nhận. Gia đình sẽ gửi đi các thông điệp định hình ("đứa này thông minh", "đứa kia xinh đẹp", "đứa này vụng về", hay "đứa này phải làm cha mẹ phụ tá để chăm sóc cả nhà") nhằm thưởng phạt và ngăn cấm những nguồn năng lượng nguyên mẫu nhất định.
Xét trên bình diện tâm linh sâu sắc hơn theo truyền thống triết học Plato: các nguyên mẫu luôn khao khát được hiện thân vào lịch sử và thời gian thông qua con người, bởi một nguyên mẫu chưa được hiện thân thì chưa thực sự trọn vẹn. Mỗi khuôn mẫu nguyên mẫu đều mang tính "bành trướng đế quốc" và tranh giành để chiếm lĩnh toàn bộ con người.
Trách nhiệm của con người là phải thiết lập ranh giới, giữ sự thấu cảm trước khao khát hiện thân của các nguyên mẫu nhưng đồng thời kiên quyết khẳng định: "Tôi chỉ là một con người hữu hạn, không phải là một nguyên mẫu thần thánh; tôi chỉ có thể nỗ lực làm hết sức mình trong tư cách một con người trần thế nhỏ bé." Đó chính là bí nhiệm tối hậu của tiến trình chuyển hóa và cá nhân hóa nhân cách.
Bình luận