Khắc họa khủng hoảng: Trải nghiệm và Lý thuyết
- Minh Đào
- 7 giờ trước
- 62 phút đọc
Như các bạn đã biết, Viện C.G. Jung trong nhiều năm qua đã tổ chức các khóa học chuyên sâu mùa hè này nhằm làm sáng tỏ mối liên hệ giữa lý thuyết phân tâm học trường phái Jung với đời sống tôn giáo. Tuần này, các bạn đang tham gia vào một trải nghiệm rất sâu sắc về chủ đề đó. Hôm qua hầu hết các bạn đã được giới thiệu làm quen với nhau, vì vậy tôi nghĩ chúng ta không cần thêm phần giới thiệu nữa.
Tôi xin gửi tới các bạn bản tài liệu phát tay này, hãy lấy một bản và chuyền tiếp cho người bên cạnh. Đây là sơ đồ về một nguyên mẫu. Hôm nay, cùng với nhiều nội dung khác, chúng ta sẽ bàn về một góc nhìn nguyên mẫu. Sơ đồ này được trích từ một bản in trong cuốn sách sắp xuất bản do Murray Stein và tôi đồng biên tập, mang tên Jung's Challenge to Contemporary Religion (Thách thức của Jung đối với tôn giáo đương đại), đúc kết từ hội nghị diễn ra vào mùa thu năm ngoái về chủ đề này. Cuốn sách sẽ ra mắt vào mùa thu năm nay, chứa đựng rất nhiều nội dung phong phú mà các bạn có thể xem mục lục ở một trong những tập tài liệu tại bàn tiếp tân.
Khi chúng ta bàn về những câu chuyện của tâm hồn, đặc biệt là khi bàn về việc chăm sóc linh hồn và về khủng hoảng, việc sở hữu nhiều khung quy chiếu khác nhau là vô cùng quan trọng. Cần có nhiều lăng kính đa dạng để chúng ta cùng suy ngẫm: lăng kính nguyên mẫu là một trong số đó; lăng kính tiến trình nghi lễ là một lăng kính khác mà chúng ta sẽ thảo luận hôm nay; cùng với đó là các góc nhìn phát triển tâm lý. Sáng nay, tôi muốn chúng ta giải quyết những phần lý thuyết nền tảng, gai góc nhất trong lúc đầu óc các bạn còn tươi mới, tỉnh táo; rồi đến chiều, chúng ta có thể đi vòng quanh đào sâu và bước vào những trải nghiệm thực tế hơn.A
Tôi xin chia sẻ đôi nét về mối quan tâm và công việc của bản thân: Tôi là giáo sư tâm lý học và tôn giáo tại Chủng viện Thần học Chicago. Từ lâu, tôi đã nghiên cứu sâu về điểm giao thoa giữa tâm lý học và tôn giáo, giữa tâm lý học và thần học, giữa lý thuyết phân tâm và đời sống tâm linh. Trong những năm gần đây, tôi đào sâu hơn về mối quan hệ giữa tiến trình nghi lễ với tất cả các lĩnh vực này. Ngoài công tác giảng dạy, tôi còn là một nhà phân tâm học thực hành tư nhân tại Hyde Park và Evanston. Tôi tiếp cận tài liệu này với cả sự say mê học thuật lẫn trải nghiệm cá nhân sâu sắc, bởi nó nằm ngay tâm điểm của những mối quan tâm chuyên môn và tâm linh của chính tôi.
Tuy nhiên, trước khi đi sâu vào những thứ mà Fritz Perls từng gọi vui là những "đòn thao dượt lý thuyết nặng nề", tôi muốn dành ra một chút thời gian để các bạn chia sẻ những mường tượng hay hình dung về điều mình mong muốn nhận được sau ngày hôm nay. Tất cả chúng ta đều mang theo những kỳ vọng – chúng ta vốn mang tính nguyên mẫu nan y trong mọi mong đợi của mình. Vậy nên hãy cùng mở lòng chia sẻ xem bạn muốn khám phá điều gì về mặt trí tuệ và cá nhân trong chủ đề ngày hôm nay. Cứ mạnh dạn bước vào, đừng e ngại, hãy can đảm đón nhận sự bất toàn; đó chỉ là những hình dung ban đầu, chưa cần phải thật hoàn chỉnh.
Chẳng hạn, nếu có ai đó vừa hoàn thành các khóa học về Thánh Gioan Thánh Giá, Thánh Teresa xứ Avila, rồi băn khoăn về sự giằng xé và "đêm tối của linh hồn" – điều đó vô cùng thú vị. Hôm nay chúng ta sẽ dành nhiều thời gian bàn về cái mà Charles Winquist gọi là "nhận thức luận của bóng tối".
Hoặc nếu ta hình dung khủng hoảng giống như một hình tam giác lộn ngược, có thể nghiêng ngả sang hướng phát triển hoặc ngược lại, thì đó chính là tính chất hai mặt đối nghịch tựa như khuôn mặt thần Janus của mọi cuộc khủng hoảng. Chúng ta sẽ phải đối diện và giải thiêng sự lãng mạn hóa đang tồn tại quanh khái niệm khủng hoảng hiện nay; bởi thực tế, bất chấp tâm lý học Jung có thi vị hóa ra sao, khủng hoảng chưa bao giờ là điều dễ chịu.
Thế còn khái niệm tội lỗi trong Kitô giáo và trải nghiệm tội lỗi song hành với phần bóng tối (shadow) thì sao? Trong giảng dạy về bệnh học tâm thần dưới góc nhìn thần học, tôi suy ngẫm rất nhiều về bản chất và động lực của cái ác trong mối liên hệ với bóng tối: điều gì thuộc về bóng tối là cái ác, và điều gì thì không? Đó là một sự tinh tế mà chúng ta có thể chạm tới hôm nay. Trong các cuộc khủng hoảng, phần bóng tối thường tung cú đấm xông thẳng vào để phá vỡ những điều dối trá đang tồn tại trong cuộc đời một con người. Đây là một vấn đề thần học lớn. Nếu bạn nhìn nhận khủng hoảng nghiêm túc theo quan điểm của Jung, theo tiến trình nghi lễ của Victor Turner, hay theo thần học tiến trình của Whitehead, bạn sẽ có một góc nhìn rất khác về Thượng Đế – không phải là Thượng Đế của lòng mộ đạo bình dân. Khi một người đột nhiên vướng vào một mối quan hệ ngoài luồng, đó chắc chắn là bóng tối đang trỗi dậy mạnh mẽ; và ý nghĩa tâm lý học, tâm lý xã hội học cũng như tâm linh của cuộc khủng hoảng như vậy là vô cùng phức tạp mà chúng ta sẽ cùng mổ xẻ.
Vậy làm thế nào để ta trải nghiệm những khủng hoảng này mà không rơi vào đè nén, làm sao sống trọn vẹn qua nó mà vẫn duy trì được chức năng trong đời sống thường nhật? Câu trả lời nằm ở toàn bộ vấn đề về "sức chứa" hay "sự dung chứa" (containment). Trên sơ đồ này, tôi muốn chúng ta dành nhiều thời gian nói về sự dung chứa. Khoảng không gian ở chính giữa đây là không gian thiêng. Nếu vẽ chuẩn xác, ta không thể vẽ hai chiều được mà nó phải có hình dạng như một quả trứng hay một bình chưng cất giả kim – một không gian thiêng được bao bọc kín đáo. Đó là một môi trường nâng đỡ, một bình chứa.
Hãy suy ngẫm về cách mà con người qua bao thế kỷ đã nỗ lực tìm kiếm sự dung chứa giữa muôn vàn hỗn loạn điên rồ của cuộc đời: các tôn giáo từ xưa đến nay chính là những chiếc bình chứa nguyên sơ giúp con người đối phó với thực tại này. Chúng ta sẽ xem xét cơ chế đó vận hành ra sao và thất bại thế nào; cần phải hiểu sâu sắc về động lực của sự dung chứa, về mối quan hệ giữa sự dung chứa và sự chuyển hóa, và liệu bạn có thể sống sót bước qua hay không. Điều gì bên trong bạn sẽ sống sót, điều gì bạn muốn giữ lại, và điều gì bạn muốn nó phải chết đi?
Lại có sự phân biệt giữa tiến trình phát triển tự nhiên (như tuổi dậy thì hay khủng hoảng tuổi trung niên) với những khủng hoảng tai ương bất ngờ (như việc người bạn đời bị xe tải cán phải); thậm chí có cả loại khủng hoảng thứ ba là khủng hoảng do tự thân khởi phát – ví dụ như người đồng tính đột ngột quyết định công khai bản ngã. Cụm từ "do tự thân khởi phát" rất đáng lưu tâm: ta có thể chơi chữ với từ "bản thể" viết thường và "Bản Thể" viết hoa. Rất có thể mọi cuộc khủng hoảng rốt cuộc đều do Bản Thể (với chữ B viết hoa) tự khởi phát. Chúng ta cần thấu hiểu cách Bản Thể có thể khơi mào một cuộc khủng hoảng mà ý thức bản thể không hề hay biết chuyện gì đang diễn ra, và ta sẽ suy ngẫm về các câu chuyện thần thoại xoay quanh điều này.
Có thể bạn thắc mắc liệu sơ đồ về nguyên mẫu nhập môn này có phải là nền tảng của cuốn sách tôi viết cùng Murray Stein không. Thực ra nó chỉ là một khía cạnh. Trong hội nghị đó, chúng tôi xem xét ý nghĩa của lý thuyết phân tâm học Jung đối với đời sống tôn giáo toàn cầu ngày nay; và sơ đồ này nằm trong chương tôi viết về những thách thức mà nhận thức mới về nghi lễ hóa mang lại. Ta không thể hiểu được tầm quan trọng của sự nghi lễ hóa nếu không nắm được cách nó cắm rễ sâu trong nguyên mẫu – nghi lễ có gốc rễ nguyên mẫu, mang tính sinh học và bản năng.
Trước đây có rất ít công trình từ góc nhìn của Jung chỉ ra được sự liên kết toàn diện này. Nhưng giờ đây mọi thứ đang thay đổi, bởi giới học thuật nhận ra thái độ của trường phái Jung cổ điển – khi gom hết mọi thứ vào bên trong nội tâm cái đầu – là chưa thỏa đáng; mọi thứ luôn tồn tại trong một ma trận xã hội. Các nhà lý thuyết Jung đương đại nhạy bén và có ý thức về mặt xã hội học hơn nhiều so với các nhà tư tưởng Jung cổ điển vốn có xu hướng quy chụp bất cứ thứ gì thuộc về xã hội đều là tính tập thể tiêu cực. Nhờ nhân học văn hóa, ta hiểu rằng chủ nghĩa nguyên tử cô lập đó chỉ là một ảo tưởng ấu trĩ không có thực.
Thế còn bài toán của một người làm công tác tư vấn khủng hoảng, khi phải liên tục đối mặt với những thân chủ đang chìm trong đau đớn đến mức bản thân cảm thấy bị tê liệt cảm xúc? Đó chính là mối nguy hiểm khi sắm vai một kẻ dẫn dắt linh hồn (psychopomp). Khi một người làm tư vấn khủng hoảng và đóng vai trò như một chiếc bình chứa, câu hỏi muôn thuở đặt ra cho cả các nhà trị liệu lẫn các vị lãnh đạo tôn giáo là: Cái gì sẽ dung chứa chính chiếc bình chứa đó? Hội chứng kiệt sức nghề nghiệp (burnout) thực chất bắt nguồn từ việc bạn đang phải sống trọn một vai diễn nguyên mẫu – bạn đang dẫn dắt một vở kịch vĩ đại mang bản chất nguyên mẫu chứ không phải mang tính cá nhân. Nó sẽ thiêu rụi toàn bộ hệ thống mạch cảm xúc của bạn, trừ phi bạn tìm ra cách bước ra khỏi vai diễn đó và nhận thức rõ ràng rằng bạn không phải là Chúa Jesus.
Đối với những người thực hành tôn giáo, đặc biệt là các tín hữu Kitô giáo, đây chính là lời giải thích vì sao các bạn phải cầu nguyện nhiều đến thế. Có những lý do động lực học tâm lý sâu xa cho việc đó: nếu không cầu nguyện nhiều, bạn sẽ dễ rơi vào trầm cảm trong quá trình làm việc. Tôi thường nói với các học viên cao học rằng: Chừng nào bạn chưa xem trọng vai trò lãnh đạo tôn giáo, chừng nào bạn chưa dám nhìn thẳng vào mắt con quái vật rồng, thì bạn chưa cần phải bận tâm đến đời sống tâm linh – bạn có thể coi tâm linh chỉ như một môn học ở chủng viện. Nhưng một khi đã thực sự dấn thân và nhìn thẳng vào mắt con quái thú hung tàn Grendel, bạn buộc phải nghiêm túc với đời sống tâm linh của mình, hoặc bạn sẽ rơi vào một thứ "tâm linh bóng tối" gắn liền với nghiện ngập thuốc men hay các hành vi cưỡng bức nhằm chống chọi lại. Khi ở trong khủng hoảng và xử lý khủng hoảng, bạn không thể giả vờ như không có con quái vật đang nuốt chửng con người ngoài kia, bởi bạn liên tục đụng độ với nó – như người tráng sĩ Beowulf trong lâu đài đêm tối khi Grendel xông vào cắn xé muôn người. Trừ phi bạn hoàn toàn phân liệt cảm xúc để chẳng còn cảm thấy gì, nếu không đây là một thách thức vô cùng khốc liệt cho bất kỳ ai làm nghề trợ giúp.
Nhìn rộng ra bình diện toàn cầu, văn hóa của chúng ta ngày nay – dù là trước hiểm họa chiến tranh hạt nhân hay cảm giác bất lực vì mọi thứ quá đỗi khổng lồ – khiến rất nhiều người chọn cách không muốn cảm nhận bất cứ điều gì, không muốn bước vào khủng hoảng. Vậy làm sao ta có thể sống giữa tâm bão khủng hoảng mà không để nó chạm tới mình, trong khi những người khác lại đang quằn quại giữa cơn đau đớn? Ta không thể ép buộc người khác phải bước vào khủng hoảng. Vấn đề đạo đức khi chỉ cho ai đó thấy những gì đang thực sự hiện diện trong căn phòng là vô cùng tế nhị.
Có một bức biếm họa vẽ một cặp vợ chồng ngồi trong phòng khách trò chuyện với vị khách mục sư, trong khi ngay sau ghế sofa là một con rồng khổng lồ đang đứng sừng sững; họ thản nhiên bảo vị mục sư: "Chúng tôi đối phó với nó bằng cách nói chuyện về nó." Lại có một bức vẽ khác miêu tả một chiến binh tí hon đứng trước một con rồng khổng lồ đang chực nuốt chửng, với dòng chú thích: "Không có gan thì không có vinh quang."
Điều này dẫn ta tới động lực của sự chối bỏ (denial). Chối bỏ là một cơ chế phòng vệ phổ biến và tuyệt vời: nó đóng sập mọi cánh cửa để bạn không còn nhận thấy bất cứ điều gì. Nhưng khủng hoảng thường bùng nổ khi cơ chế phòng vệ chối bỏ bị quá tải và bắt đầu trượt bánh, không còn tác dụng nữa. Sự chối bỏ toàn diện giống như một trạng thái bị bỏ bùa mê: mọi thứ đông cứng lại khiến người ta không thấy và không cảm nhận được gì. Con người tự chọn điều đó. Và câu hỏi đặt ra cho nhà hướng dẫn tâm linh hay nhà trị liệu là: Con người có thể chịu đựng được bao nhiêu sự thật? Dưới góc nhìn của Jung, Bản Thể trong tâm trí sẽ tự điều tiết mức độ mà một cá nhân có thể đương đầu, nếu chúng ta đủ nhạy cảm để nhận biết.
Có những người trải qua nhiều năm bế tắc trước bài toán thiện - ác và tính hai mặt phân cực của Thượng Đế, cảm thấy muốn từ bỏ giáo hội vì chứng kiến những bi kịch tàn khốc: trong một cộng đồng nhỏ nơi mọi người đều biết nhau, ba vụ tự tử liên tiếp xảy ra ở giáo xứ với chính những người họ từng đồng hành, cầu nguyện và dốc hết niềm hy vọng; để rồi chính họ cũng rơi vào mùa đông đen tối của sự bất lực tột cùng và từng nghĩ đến việc kết liễu đời mình. Đó chính là giai đoạn hai – giai đoạn bóng tối mà chúng ta sắp phân tích.
Để bắt đầu, chúng ta cần xử lý những ảo tưởng nguyên mẫu làm nền tảng cho chủ đề này, mà trước hết là ảo tưởng về sự an bình và an ninh tuyệt đối – hay còn gọi là nguyên mẫu thiên đường, ảo tưởng Vườn Địa Đàng (Edenic fantasy). Càng làm việc sâu với tâm lý con người và chính mình, tôi càng kinh ngạc trước mức độ chúng ta cố gắng sống theo những ảo tưởng nguyên mẫu. Những câu chuyện về phóng chiếu hay chiếm hữu của Anima và Animus không chỉ đơn thuần là chuyện giữa nam và nữ. Điều gì phá hủy các mối quan hệ? Đó là khi bạn kỳ vọng đối phương phải là một nguyên mẫu hoàn hảo chứ không phải là một con người bằng xương bằng thịt. Khi họ không đáp ứng được hình ảnh hoàn hảo đó, chúng ta bị tổn thương – một vết thương ái kỷ sâu sắc, và ngay bên dưới vết thương ái kỷ ấy chính là nỗi kinh hoàng.
Nỗi kinh hoàng đó là gì? Đó là nỗi sợ bị phân mảnh, cảm thức về sự hư vô và sự tiêu biến hoàn toàn. Nó kéo ta ngược về giai đoạn phát triển sớm nhất theo Erik Erikson: Niềm tin đối nghịch Sự ngờ vực. Hầu như tất cả chúng ta đều từng có những trải nghiệm tiêu cực đầu đời với người mẹ để rồi hình thành nên cái mà trường phái Freud gọi là "đối tượng xấu nội tâm" – một cấu trúc trừng phạt, chối bỏ và bỏ rơi, tương đương với thuật ngữ "phức cảm người mẹ tiêu cực" hay "phức cảm người cha tiêu cực" trong tâm lý học Jung. Những cấu trúc này kéo chúng ta chạm thẳng vào nỗi kinh hoàng nguyên sơ.
Sự lo âu ta cảm nhận khi ngừng các hành vi tự xoa dịu chính là "tin đồn về sự hủy diệt" luôn rình rập từ thuở lọt lòng. Như Ernest Becker đã phân tích trong cuốn The Denial of Death (Sự chối bỏ cái chết) và cuốn Escape from Evil, phần lớn các hoạt động cá nhân và văn hóa của con người thực chất là để tự ru ngủ mình bằng một lời dối trá gây nghiện: lời dối trá rằng không hề có sự tan rã, không có sự phân mảnh và không có cái chết.
Nhưng nguyên mẫu nhập môn chính là nguyên mẫu của sự chết đi và tái sinh. Con người vì quá sợ hãi nên luôn mong muốn một sự liên tục tuyệt đối: không có biến động xấu, cơ thể không già đi mà chỉ khỏe hơn nhờ tập thể dục. Các cơ chế phòng vệ – mà tôi gọi là cơ chế tấn công – luôn tìm cách che chắn nỗi kinh hoàng đó lại. Như Alice Miller chỉ ra: tuổi thơ vốn đầy rẫy những điều kinh khủng đến mức đứa trẻ phải huy động mọi cơ chế tâm lý để nói dối về thực tại nhằm không bị nỗi khiếp sợ bóp nghẹt; tất cả sự thật bị đè nén đó sẽ dồn vào cơ thể và phát tác thành các triệu chứng tâm thể hay tai nạn – đó là cách tâm trí cố gắng nói lên một phần sự thật.
Để hình dung rõ hơn, hãy bắt đầu với Mircea Eliade. Khó có ai quan trọng hơn Eliade trong việc thấu hiểu đời sống tâm linh và bản chất của khủng hoảng. Nghiên cứu của Eliade về các tộc người sơ khai là biểu tượng cho những gì thuộc về bản chất nguyên mẫu của con người. Những người tiền hiện đại nhận thức và thừa nhận rất rõ sự mong manh của thế giới: họ thấy thế giới sẽ tàn lụi, màn đêm sẽ buông xuống, và họ đưa nó vào nghi lễ để trực tiếp đối diện với nỗi kinh hoàng của lịch sử. Eliade chỉ ra rằng con người luôn khao khát tìm kiếm một tâm điểm để từ đó kiến tạo nên một vũ trụ có trật tự (cosmos) nhằm ngăn chặn các thế lực hỗn loạn và bóng tối. Con người cần định vị không gian thiêng, bước vào đó để được tái tạo bởi nguồn năng lượng thần thánh nguyên sơ, rồi trở lại không gian trần tục với một bản thể được đổi mới.
Tính vững chắc của trải nghiệm con người thực ra chỉ là một ảo tưởng nguyên mẫu. Đây chính là điểm phân tách trường phái Jung với các lý thuyết phân tâm khác. Phân tâm học Freud quá nhấn mạnh vào việc bản thể bám víu vào một thực tại có cấu trúc; nếu bản thể của ai đó sụp đổ ở tuổi 40, người theo thuyết Freud sẽ cho rằng họ đã có những khiếm khuyết phát triển từ thời thơ ấu. Ảo tưởng đằng sau lý thuyết của Freud là: nếu bạn có một người mẹ "đủ tốt", vũ trụ của bạn sẽ luôn vững vàng, bạn sẽ sống một cuộc đời êm đềm, kiểm soát tốt xung năng, không hành động bộc phát và không bao giờ phải rơi vào trạng thái ngưỡng cửa (liminal space) – đó là ảo tưởng về một "con người luôn ổn thỏa".
Nói như vậy không phải là để bào chữa cho các bà mẹ; tất cả chúng ta đều có thể mang những tổn thương bản thể sâu sắc từ mẹ mình, nhưng điểm cốt lõi là lăng kính lý thuyết bạn chọn sẽ quyết định thái độ của bạn trước khủng hoảng. Quan điểm của Jung khẳng định rằng cấu trúc bản thể mà bạn xây dựng trong cuộc đời chỉ mang tính tạm thời, và bắt buộc phải mang tính tạm thời. Đời sống không phải là một đường thẳng bất biến mà là một cuộc hành hương qua chuỗi các cuộc nhập môn; và nói một cách trần trụi hơn, đời sống là một chuỗi của những cái chết. Không thể có Chủ Nhật Phục Sinh nếu không trải qua Ngày Thứ Sáu Tuần Thánh; đó là một cái chết thực sự.
Khi bạn bắt đầu rạn nứt và sụp đổ ở những giai đoạn khác nhau trong đời, đừng vội mặc định đó hoàn toàn là do vết thương thời thơ ấu; đó là cấu trúc nguyên mẫu tất yếu của đời người. Thật ngây thơ khi nghĩ rằng sau năm năm phân tích tâm lý theo trường phái Jung, ta sẽ đạt tới trạng thái cá nhân hóa hoàn hảo và không bao giờ gặp khủng hoảng nữa. Cũng đừng ảo tưởng rằng sau trị liệu ta sẽ "xử lý khủng hoảng một cách êm đẹp". Hãy nghĩ xem: nếu bạn xử lý một cuộc khủng hoảng quá êm đẹp, thì đó đâu còn là khủng hoảng thực sự nữa! Rất nhiều người được tán dương là "vượt qua khủng hoảng giỏi giang" thực chất chỉ là những người phân liệt cảm xúc (schizoid) – họ trơ lì đến mức chẳng còn cảm nhận được nỗi đau nào đang diễn ra.
Con người tiền hiện đại thành thực hơn chúng ta rất nhiều trước tính chất triệt để của khủng hoảng. Kể từ thời kỳ Khai sáng thế kỷ 18, con người hiện đại bắt đầu tìm cách "lau dọn", bọc đường mọi thứ để né tránh những thực tại nguyên sơ – đó cũng là lúc ngành dịch vụ mai táng hiện đại ra đời. Nếu thời Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã có công nghệ mai táng che đậy sự thối rữa của tử thi, có lẽ chúng ta đã không có được một bậc Giác ngộ. Huyền thoại và truyện dân gian có sức mạnh to lớn bởi vì chúng dám nói lên sự thật trần trụi về trải nghiệm con người và tấn công trực diện vào các cơ chế phòng vệ của chúng ta.
Trong tác phẩm The Hero with a Thousand Faces (Người hùng muôn mặt), Joseph Campbell đã mô tả xuất sắc hành trình nguyên mẫu này: sự dấn thân vào bụng cá voi/quái vật, đối mặt với các thử thách cam go, đón nhận báu vật khai sáng và trở về tái hòa nhập cộng đồng.
Nhưng phải đến công trình Rites of Passage (Các nghi lễ chuyển tiếp) của Arnold van Gennep vào đầu thế kỷ 20, bản chất nghi lễ của hiện tượng này mới được vạch rõ qua cấu trúc ba giai đoạn: Tách rời (Separation) -> Ngưỡng giới (Liminality / Transition) -> Tái hòa nhập (Incorporation), với điểm nhấn là hai ngưỡng cửa chuyển tiếp. Mọi cuộc khủng hoảng trong đời bạn đều có thể khớp vào sơ đồ này.
Nếu một người bị kẹt lại vĩnh viễn ở giai đoạn lấp lửng ở giữa (giai đoạn trong bụng cá voi), toàn bộ tiến trình phát triển con người sẽ bị đình trệ. Tái hòa nhập chính là sự trở lại với thế giới trong một vị thế mới, với một cấu trúc bản thể đã được tái lập. Victor Turner sau đó đã phát triển phát kiến của Van Gennep thành một lý thuyết tổng quát trong cuốn The Ritual Process: Structure and Anti-Structure. Giai đoạn ngưỡng giới ở giữa này chính là không gian thiêng mang tính chuyển hóa, nhưng nó tuyệt đối không phải là một nơi dễ chịu: nó là địa ngục, là luyện ngục, là căn phòng tra tấn với sự chóng mặt và muôn vàn kinh hoàng.
Tại sao một nơi kinh hãi như thế lại được gọi là "thiêng"? Đối với con người thời cổ xưa, "thiêng" (sacred) trước khi bị lãng mạn hóa chưa bao giờ đồng nghĩa với "dễ chịu" hay "tốt lành". Cái thiêng đơn giản là những gì không thuộc về thế giới phàm tục của con người, là một thực tại khác đột nhập vào đời sống tựa như một trận cuồng phong hay động đất. Những hình ảnh về Thiên Chúa trong Cựu Ước phản ánh rất chính xác trải nghiệm nguyên sơ này: cái thiêng không hề mang tính luân lý đơn thuần, mà nó vừa đầy quyền năng, vừa mê hoặc nhưng cũng vừa khủng khiếp tột cùng – đúng như Rudolf Otto mô tả về Mysterium tremendum et fascinans trong cuốn The Idea of the Holy.
Nó cũng gắn liền với khái niệm thời gian thiêng (Sacred Time) – thời khắc Kairos tròn đầy, mang tính bước ngoặt, đối lập với dòng thời gian trần tục tuyến tính Chronos. Thời khắc tròn đầy đồng nghĩa với việc một điều gì đó sắp sửa được sinh ra. Nhưng chúng ta hãy nhìn vào thực tế nguyên mẫu: khi một Đấng Cứu Thế chuẩn bị giáng sinh, đó luôn là thời điểm tồi tệ và kinh hoàng nhất trong lịch sử. Hãy nghĩ về lễ Giáng Sinh và bóng ma của bạo chúa Herod: bất cứ khi nào một cuộc khủng hoảng xảy ra, nguyên mẫu Đứa Trẻ Thần Thánh xuất hiện nơi máng cỏ thì lập tức cũng có những đạo quân tàn bạo của Herod kéo đến lùng sục để tiêu diệt.
Khi các đạo quân bóng tối kéo tới bao vây, điều đó không có nghĩa là tiến trình cứu rỗi bị dập tắt, mà trái lại, nó báo hiệu sự chuyển hóa đang thực sự diễn ra. Trong phân tâm học trường phái quan hệ đối tượng của Freud, người ta gọi đây là "bản thể chống-dục năng" (antilibidinal ego) – phần nhân cách luôn tìm cách tấn công, triệt hạ bạn mỗi khi bạn có bước tiến quan trọng hướng tới tình yêu, sự gắn kết và sự sống. Bất cứ khi nào tạo ra một bước chuyển hóa ý nghĩa, bạn chắc chắn sẽ phải hứng chịu một đòn phản công dữ dội từ bóng tối nội tâm.
Ảo tưởng về lễ Giáng Sinh an lành thực chất chỉ nắm bắt được một nửa của nguyên mẫu. Toàn bộ hình ảnh cây thông và quà tặng là sự khẳng định về nguyên lý sáng tạo phồn thực, về sự phong phú vô tận của sự sống; nhưng đồng thời, đó cũng là thời điểm con người dễ rơi vào trầm cảm nhất. Ngay sau ngày lễ Giáng Sinh an bình trên lịch phụng vụ chính là ngày tưởng niệm các thánh tử đạo và cuộc thảm sát các hài nhi vô tội. Hai mặt đối lập luôn gắn liền với nhau. Nếu ý thức của ta chỉ khăng khăng bám lấy một đầu của thực tại nguyên mẫu, đầu kia sẽ tung một cú đấm thấu thận vào ta từ trong vô thức.
Mục tiêu phát triển của chúng ta là phải có khả năng chịu đựng được sức căng của các mặt đối lập (tension of opposites), giữ vững cả hai đầu của thực tại mà không để một bên nào chìm vào bóng tối vô thức. Toàn bộ câu chuyện Giáng Sinh hay cuộc Xuất Hành (Exodus) đều là những biểu tượng vĩ đại về cuộc khủng hoảng và sự tái sinh của bản thể theo cấu trúc nguyên mẫu này.
Ta có thể tự hỏi: Vậy đâu là ảo tưởng của trường phái Jung về lý do tại sao con người lại bị mắc kẹt ở cột giữa của sơ đồ kia? Nếu như ảo tưởng của trường phái Freud là do bạn không có được sự chăm sóc đủ tốt từ người mẹ, thì trường phái Jung sẽ giải thích điều này ra sao?
Trường phái Jung có rất nhiều điều để nói về chuyện này. Một trong số đó là: chúng ta chưa dành đủ sự chú tâm thỏa đáng cho thực tại của Bản Thể (Self với chữ B viết hoa). Chính trong không gian này, Bản Thể mới hiển lộ rõ ràng nhất. Nếu bạn chưa làm việc lâu với những tài liệu này, lần đầu tiên tiếp cận, bạn có thể ngây thơ nghĩ rằng việc có những giấc mơ về Bản Thể mang tính nguyên mẫu là một điều gì đó thật tuyệt vời. Thực tế không nhất thiết phải như vậy; bởi vì thời điểm bạn nhạy cảm nhất với Bản Thể chính là khi bạn đang ở dưới địa ngục. Và đó là lúc bạn thực sự cần phải chạm tới sự kết nối này.
Nó giống như việc bạn đang đứng trước một vực thẳm. Chừng nào bạn còn đứng trên một vũ trụ trật tự (cosmos) ổn định của mình – khi bạn chưa ly hôn, chưa phải chứng kiến cái chết của người mình yêu thương, hoặc khi giấc mơ định hình cả cuộc đời bạn vẫn còn nguyên vẹn (như giấc mơ trở thành một luật sư thành đạt, trở thành một nhân vật xuất chúng, hay sinh ra những đứa con hoàn hảo không bao giờ gặp bất kỳ rắc rối nào) – thì chừng đó thế giới của bạn vẫn tạo cảm giác vô cùng vững chắc. Nhưng sự vững chắc ấy thực chất chỉ là một ảo tưởng: thế giới đó đang nằm trên lưng một con rùa, và con rùa ấy thì đang ngủ say. Đó là ý nghĩa sâu xa của tất cả những câu chuyện thần thoại về con rùa khổng lồ hay con rắn vĩ đại đang say ngủ dưới đáy thế giới. Chừng nào thế giới của bạn còn nguyên vẹn và vận hành trơn tru theo ý bạn muốn, mọi thứ vẫn ổn thỏa.
Nhưng một khi con quái thú ấy thức giấc và mặt đất bắt đầu rung chuyển, bạn sẽ nhận ra mình không thể tiếp tục ở lại đó được nữa. Bạn chắc chắn sẽ rơi vào không gian chuyển tiếp này. Bạn có thể bước vào và rơi tự do – giống như những cơn ác mộng rơi vào hố sâu vô tận không đáy khiến bạn khiếp đảm; hoặc bạn có thể nắm lấy một sợi dây và đóng vai Tarzan, móc vào một điểm tựa để đu mình băng qua miệng vực.
Đó chính là hình ảnh ẩn dụ về cách Bản Thể vận hành: Bản Thể là một trung tâm mang tính định hướng. Hãy nghĩ về các cuộc hành hương thực tế đến các thánh địa – như cuộc hành hương về thánh địa Mecca hay các cuộc hành hương trong Kitô giáo: Bản Thể chính là trung tâm ở ngoài kia. Chừng nào thế giới của bạn còn yên ổn, bạn có thể nghĩ về Chúa Christ, về Thượng Đế và các thực tại thiêng liêng như những khái niệm trừu tượng chứ không phải một tình huống khẩn cấp. Nhưng trong giai đoạn khủng hoảng này, trung tâm ở ngoài kia đóng vai trò gì? Nó chính là ngôi sao Bắc Đẩu, là điểm tựa giúp bạn tìm lại một trật tự tổ chức và chống lại cảm giác bị phân mảnh, tiêu biến hoàn toàn. Đó là phương tiện giúp bạn đu mình băng qua bờ bên kia.
Dưới góc nhìn của Jung, mỗi khi bạn rơi vào một cuộc khủng hoảng như vậy, việc bạn ở trong trạng thái đó hoàn toàn không phải là điều bất bình thường. Bạn có thể cảm thấy mình điên loạn như một kẻ mất trí, và theo tiêu chuẩn chẩn đoán của một số người thì đúng là bạn điên thật; nhưng dưới lăng kính của Jung, bạn không hề điên. Trừ phi bạn khăng khăng muốn mình phát điên – nếu bạn cần một chẩn đoán theo sổ tay DSM-III, chúng tôi có thể gán cho bạn hai hoặc ba danh mục chẩn đoán ngay lập tức. Nhưng mấu chốt là: việc rơi vào không gian này không hề bất thường, nó thuộc về bản chất con người. Trên thực tế, chúng ta dành nhiều thời gian ở trong đó hơn bất kỳ nơi nào khác.
Điều cốt tử bạn phải làm được là kết nối với trung tâm ở ngoài kia. Đó chính là điều các nhà phân tâm học trường phái Jung gọi là "trục bản ngã - Bản Thể" (ego-Self axis). Nhưng hãy nhớ: ta có một bản ngã cũ ở bờ bên này và một bản ngã mới ở bờ bên kia; và chính sự kết nối với Bản Thể tối thượng sẽ giúp bạn vượt qua giai đoạn tan rã của bản ngã cũ. Đây là sự hòa tan. Trong thuật giả kim, đây là nơi mọi thứ bị nung chảy và tan biến hoàn toàn – một trải nghiệm kinh hoàng tột độ. Trường phái Freud hiểu rất rõ về nỗi kinh hoàng của sự phân mảnh – toàn bộ trường phái tâm lý học bản thể của Kohut tại Chicago ngày nay cũng tập trung vào nỗi khiếp sợ phân mảnh này. Không gian ở giữa này chính là sự phân mảnh, là nghi thức phanh thây xẻ thịt nguyên thủy của các pháp sư shaman thuở xưa.
Khi bạn bị mắc kẹt ở đây, bạn đã hoàn toàn đánh mất cảm thức rằng bên trong nhân cách của mình có một Bản Thể tối thượng. Dưới góc nhìn thần học Kitô giáo, điều này tương đương với việc bạn đã đánh mất đức tin, bạn không còn cảm thấy Thiên Chúa đang ở cùng mình nữa. Bạn không còn thốt lên được lời "Emmanuel" (Thiên Chúa ở cùng chúng ta). Nếu bạn vẫn có thể nói "Emmanuel", nỗi đau có thể không biến mất ngay, nhưng bạn không bị rơi vào cảm giác lạc lối vĩnh viễn. Hình ảnh bị đày ải vào chốn tối tăm bên ngoài, nơi chỉ có khóc lóc và nghiến răng, chính là biểu tượng nguyên mẫu cho việc rơi vào không gian này mà mất hoàn toàn liên lạc với Bản Thể.
Đó là lý do vì sao khái niệm "đêm tối của linh hồn" lại gây nhiều bối rối. Chừng nào một người còn có thể cầu nguyện – dù chỉ là thốt lên: "Lạy Chúa, con đang đơn độc nơi đây" – thì chừng đó bạn vẫn chưa bị hủy diệt hoàn toàn. Ngay cả Chúa Jesus trên thập giá, khi ngài cảm thấy bị bỏ rơi hoàn toàn và đối mặt với vực thẳm đó, ngài vẫn đang cất lời cầu nguyện. Bạn chỉ thực sự lâm nguy khi chạm đến bờ vực mà bạn không còn có thể cầu nguyện được nữa. Đó mới là sự lạc lối thực sự: hoàn toàn bất lực trong việc duy trì nhận thức về một trung tâm ở ngoài kia.
Đôi khi trong đời, nếu các bạn giống tôi, ta sẽ nói chuyện rất thẳng thắn, trần trụi với Thượng Đế: "Con hy vọng là Ngài biết Ngài đang làm cái quái gì, bởi vì con thì chịu chết rồi đấy!" Dù vậy, việc vẫn còn khả năng cất lên lời than trách đó khác xa một trời một vực với việc hoàn toàn không còn cảm nhận được bất kỳ trung tâm siêu cá nhân nào.
Từ góc độ phân tâm học, ta không đưa ra bất kỳ tuyên bố mang tính bản thể luận hay siêu hình học nào; ta chỉ đơn thuần coi đây là một thực tại tâm lý học trong nhân cách, một hiện tượng hoàn toàn có thể quan sát được. Bạn có thể là một người vô thần tuyệt đối, không cam kết với bất kỳ niềm tin tôn giáo nào, nhưng bạn vẫn có thể quan sát thấy sự xuất hiện của cấu trúc trung tâm ngoài kia trong giấc mơ của các thân chủ. Bạn có thể là một nhà nhân học vô thần nghiên cứu đoàn người hành hương Hajj tại Mecca: nhìn hàng vạn người đi vòng quanh cấu trúc khối hộp Kaaba để hôn lên tảng đá thiên thạch, nhìn những thước phim ghi lại cảnh tượng ấy giống như một khối sinh vật vĩ đại đang chuyển động – một tiến trình tâm lý sinh học xã hội mang đậm tính nguyên mẫu và phi cá nhân. Về mặt khoa học hành vi hữu hạn, ta có thể mổ xẻ hiện tượng này hoàn toàn thuần túy dưới lăng kính tâm lý học mà không cần viện dẫn đến thần học. Nhưng nếu chúng ta thành thực hơn – thừa nhận rằng mọi lý thuyết đều dẫn đến những hàm ý siêu hình – ta sẽ phải đối diện với câu hỏi: Về mặt siêu hình, trung tâm ở ngoài kia thực chất là gì? Và đó là lúc chúng ta chạm vào thần học và triết học.
Nếu bạn đánh mất cảm thức "Thiên Chúa ở cùng", bạn sẽ hoàn toàn mất phương hướng – giống như một người tiền sử bị quên mất các kỹ thuật bói toán để định vị cái cây vũ trụ (World Tree). Hãy hình dung bạn là một thành viên của bộ lạc nguyên thủy, bạn biết thế giới sắp tận thế, bạn có phương pháp bói toán thả con dê đi rông cho đến khi nó dừng lại để xác định tâm điểm, nhưng rồi bạn quên bặt mất cách làm. Mircea Eliade bảo rằng đó chính là bi kịch của con người hiện đại. Nhưng thực tế không tệ đến mức như Eliade nghĩ: chúng ta vẫn biết cách tìm, bởi vì ta được cấu trúc bẩm sinh cho điều đó, nó là nguyên mẫu đã được cài đặt sẵn trong hệ thống tâm thần. Giống như Moses lang thang trong sa mạc, ông không hề đi lạc vô định vì ông luôn có sự dẫn đường của trung tâm ngoài kia qua cột lửa ban đêm và cột mây ban ngày.
Ở đây, ta có thể đặt một câu hỏi đảo ngược: Liệu tội lỗi (sin) có phải là khi ta đánh mất cảm thức về Bản Thể ở ngoài kia, nhưng lại tự huyễn hoặc rằng chính ta là Bản Thể? Tức là không còn khoảng cách phân biệt nữa, mà ta tự coi mình là tất cả?
Đó chính là một dạng tội lỗi – sự thờ ngẫu tượng (idolatry). Nhưng không chỉ là ngẫu tượng dưới dạng hình ảnh thị giác, mà là một trải nghiệm cảm xúc: "Thượng Đế không tồn tại, chỉ còn lại mỗi mình ta, tất cả phụ thuộc vào ta." Trong truyền thống Do Thái - Kitô giáo, đây là định nghĩa cốt lõi của tội lỗi: một sự chia cắt mênh mông khiến bạn nghĩ mình là thứ duy nhất còn lại, và điều đó vừa là sự suy sụp (deflation) vừa là sự thổi phồng bản thể (inflation) diễn ra cùng một lúc – đúng kiểu những nhân vật của Woody Allen!
Luôn có một sự thổi phồng bản thể ngấm ngầm ẩn giấu ngay trong sự sụp đổ tan rã. Tất cả các trường phái – từ Freud, Adler cho đến Jung – đều đồng thuận rằng trong mọi trạng thái suy sụp tận đáy, luôn có một sự tự phụ ngấm ngầm trỗi dậy. Nếu không có nhận thức về Bản Thể trong cơn khủng hoảng, làm sao bạn thoát ra được? Bạn sẽ không có ngôi sao Bắc Đẩu, không có trung tâm để tái thiết lại chiếc tổ của mình một khi chiếc tổ cũ đã bị phá nát hoàn toàn.
Đôi khi, khi một tia sáng le lói xuất hiện, bạn lại thấy nó có vẻ phi đạo đức và không muốn dính dáng tới. Điều này rất phổ biến vì chúng ta thường duy trì một cái nhìn quá lãng mạn về Thượng Đế. Khi bắt đầu nhìn sâu vào thế giới và những bi kịch xảy đến với con người, vấn đề biện thần (theodicy) – tức việc giải thích sự công chính của Thượng Đế trước nỗi đau của con người – trở nên không hề đơn giản. Sau thảm họa diệt chủng Auschwitz, nhiều nhà thần học hiện sinh Do Thái như Richard Rubenstein đã không còn cố gắng biện minh cho Thượng Đế nữa. Đó cũng là nguồn cơn của trào lưu thần học "Thượng Đế đã chết" vào thập niên 1960. Những thực tại quá khó dung nạp này thường bị dồn nén, nhưng trong thẳm sâu, khi thành thật nhất, tất cả chúng ta đều trăn trở về nó.
Việc chúng ta phán xét Thượng Đế kém đạo đức hơn chính mình là một sự phóng chiếu bóng tối rất tinh vi. Ta có thể thấy Thượng Đế có vẻ phi luân, nhưng việc ảo tưởng mình là kẻ đạo đức thuần khiết lại là một hiện tượng phân tách (splitting). Trong phân tâm học, cơ chế phân tách này cho thấy: khi bạn tự nhận mình hoàn toàn tốt đẹp, nhân cách của bạn đã bị chia cắt sâu sắc theo chiều dọc hoặc chiều ngang. Ảo tưởng mình là người hoàn toàn tốt lành thực chất chỉ là biểu hiện của một mức độ phát triển tâm lý rất thấp kém.
Thế còn trường hợp khi cả điểm tựa bên trong lẫn bên ngoài đều biến mất – khi những phương cách tâm linh từng nâng đỡ bạn trước đây bỗng sụp đổ và không còn dùng được nữa?
Đó chính là sự sụp đổ của cấu trúc thích ứng cũ. Trong loạt phim tài liệu The Way of the Dream của Marie-Louise von Franz, bà đã nói về ý nghĩa nguyên mẫu của một Ngôi Sao. Hãy nghĩ về ngôi sao như một hình ảnh của trung tâm ở ngoài kia: nó không giống như chùm chìa khóa nằm gọn trong túi quần bạn. Khi ta tưởng mình đã nắm giữ chìa khóa trong túi, ta vẫn đang ở trong cấu trúc bản thể cũ.
Đôi khi một người bước vào "nồi áp suất" khủng hoảng với một bản thể rất vững mạnh, nhưng chính hình ảnh về Bản Thể / hình ảnh về Thượng Đế của họ lại bị nổ tung tan tành. Nỗi kinh hoàng là hoàn toàn tương tự: toàn bộ sự phóng chiếu về nguyên mẫu Bản Thể bị phá hủy. Trong truyền thống Do Thái - Kitô giáo, Thượng Đế liên tục phá vỡ các hình ảnh; các ngẫu tượng liên tục phát nổ ngay trước mắt con người.
Khi sự kết nối với Bản Thể tan biến, đó là sự giải thể của cấu trúc cũ. Ngôi sao ở rất xa xôi, bạn không thể làm chủ hay thao túng nó, bạn không thể bỏ nó vào túi như chùm chìa khóa để đếm từng chiếc và tự hào mình là một nhà thần học bậc thầy. Khi ở trong không gian ngưỡng giới (liminality) của Victor Turner, bạn không làm chủ được bất cứ thứ gì. Đó là lý do vì sao trong Hồi giáo, cốt lõi là sự "quy phục" (Islam). Mọi ảo tưởng về việc làm chủ đều là sự chối bỏ và hoang tưởng. Bản Thể liên tục phá vỡ những phóng chiếu mà chúng ta áp đặt lên nó; nó là một thực tại động chứ không tĩnh. Như Edward Edinger đã viết trong Ego and Archetype, ta luôn đối mặt với hai hiểm họa: hoặc mất kết nối hoàn toàn với Bản Thể đến mức rơi vào chóng mặt hư vô không thấy nổi một vì sao, hoặc đồng nhất hóa bản thể với Bản Thể rồi tự huyễn hoặc mình chính là Thượng Đế.
Liệu Bản Thể có vẫy gọi tiến trình này tiến lên không? Và trong khi văn hóa hiện đại thường thụ động chờ đợi một cuộc khủng hoảng thảm khốc ập đến mới cuống cuồng xử lý, thì liệu các nghi lễ được thực hành đều đặn, có chủ đích có thể giúp nâng đỡ cuộc hành hương này và làm giảm bớt sự kinh hoàng của khủng hoảng hay không?
Nghi lễ hoàn toàn có thể làm được điều đó, và đây lại là câu hỏi về "sức chứa" (containment). Nếu một người ý thức được rằng có một thực tại đang cố gắng dẫn dắt mình thoát ra, nhận thức được rằng việc cố bám víu lấy vị trí cũ là sự thoái lui thụt lùi, và có ai đó đồng hành bảo rằng bước tiếp là an toàn, thì nỗi sợ hãi sẽ giảm đi rất nhiều. Nhưng như Joseph Campbell đã miêu tả: con người luôn có xu hướng thoái lui không muốn bước đi, luôn muốn nói: "Xin vui lòng cho tôi ở lại đây."
Nhìn vào các nghi lễ nhập môn trong các nền văn hóa truyền thống – hay nghi thức Thêm sức trong các giáo hội Luther trước đây – ta có thể băn khoăn: liệu việc thúc ép thanh thiếu niên bước vào nghi lễ nhập môn có thực sự hiệu quả? Thực tế ở các nền văn hóa tiền hiện đại không hề lãng mạn như chúng ta tưởng tượng. Nếu bạn là một cậu bé trong các bộ lạc cổ xưa, bạn bị biến thành một người đàn ông đúng theo lịch trình; và nếu bạn không chịu nhập môn để trở thành đàn ông, bạn sẽ bị giết chết. Những xã hội nguyên thủy không hề phóng khoáng và tự do như các ảo tưởng hiện đại chỉ trích chủ nghĩa tư bản vẫn nghĩ; ở đó không có chỗ cho sự lệch chuẩn và cái giá phải trả là cái chết.
Ngày nay chúng ta không dùng đến án tử hình, nhưng câu hỏi về việc có thể thúc đẩy nhập môn đến đâu và phải chờ đợi bao nhiêu là một bài toán rất phức tạp. Thực tế là: nếu không có một vị "trưởng lão nghi lễ" (ritual elder) am tường, con người sẽ bị mắc kẹt ở giai đoạn lấp lửng quá lâu. Sự vận hành của Bản Thể có chiều kích xã hội: khi ở trong trạng thái chuyển tiếp, bạn rất cần một ai đó để phóng chiếu Bản Thể lên họ nhằm cảm nhận được tính hiện thực của nó. Nói chữ "Bản Thể" thì dễ, nhưng để có một trải nghiệm chạm đến tận tâm can thì lại rất khó. Khi ở trong khủng hoảng, theo thuật ngữ của Freud, ta cần có khả năng lý tưởng hóa một ai đó để họ sắm vai Bản Thể nâng đỡ ta. Nếu bạn không thể lý tưởng hóa ai đó trong cơn khủng hoảng, bạn sẽ bị tê liệt; chính lúc đó bạn cần phải tin vào một người dẫn dắt – dù là linh mục, mục sư hay nhà phân tích tâm lý. Bạn phải tạm gác lại những khiếm khuyết tầm thường, sự vụng về hay những điểm yếu của họ, bởi nếu chỉ chăm chăm nhìn vào sự bất toàn của họ, bạn sẽ không còn nơi nào để neo đậu sự phóng chiếu nguyên mẫu của Bản Thể nhằm đánh thức Bản Thể bên trong chính bạn.
Nhân học văn hóa đang giúp hiệu đính lại lý thuyết của Jung: trước đây người ta từng lầm tưởng việc chạm vào Bản Thể là một hiện tượng hoàn toàn mang tính cá nhân khép kín trong nội tâm, nhưng phần lớn các trường hợp, bạn chỉ trải nghiệm được Bản Thể thông qua mối tương quan với một con người cụ thể.
Để chữa lành trong trạng thái chuyển tiếp, bạn cần hai điều: khả năng lý tưởng hóa một điểm tựa định hướng, và trải nghiệm bản thân được "nhìn thấy". Khi bạn cảm thấy mình tan vỡ và phân mảnh nhất, bạn cần một Ánh Mắt (viết hoa) – một Ánh Mắt thiêng liêng, có khả năng kiến tạo và ban phước – nhìn thấu bạn. Một trong những rào cản lớn nhất của sự chữa lành là liệu bạn có dám cho phép người khác sắm vai trò nâng đỡ thiêng liêng đó cho mình hay không.
Phân tâm học Freud quy kết rằng nếu bạn không có trải nghiệm ấu thơ tốt đẹp với cha mẹ, bạn sẽ không thể tiếp nhận sự nâng đỡ. Nhưng trường phái Jung thì khác: chúng tôi không quy giản mọi thứ về việc đổ lỗi cho người mẹ. Chúng tôi thừa nhận môi trường gia đình vô cùng quan trọng, nhưng chúng tôi tin rằng mỗi con người đều có sẵn các nguồn tài nguyên nguyên mẫu bên trong. Bạn được lập trình sẵn để có thể trải nghiệm Bản Thể. Ngay cả khi cha mẹ trần thế của bạn hoàn toàn tệ hại, bạn vẫn sở hữu bên trong mình khả năng trải nghiệm Người Mẹ (với chữ M viết hoa).
Khi làm việc với các thân chủ từng chịu tổn thương kinh hoàng từ cha mẹ, thật kỳ diệu khi thấy trong giấc mơ của họ xuất hiện hình tượng Nữ thần Mẹ – như Demeter trong thần thoại Hy Lạp. Khoảnh khắc họ cảm nhận được sự chăm sóc từ Người Mẹ Nguyên Mẫu vĩ đại đó, đột nhiên họ có thể mở lòng nhìn lại người mẹ trần thế bằng xương bằng thịt của mình đúng như bản chất thực sự của bà. Họ làm được điều đó là nhờ bản năng tâm thần đã được cài đặt sẵn để đón nhận những gì con người cần. Nhiệm vụ của nhà trị liệu hay người làm mục vụ là bấm đúng chiếc nút kích hoạt, đánh thức nguồn tài nguyên nguyên mẫu bên trong – cái mà ta vẫn gọi là Chúa Christ bên trong hay Thượng Đế nội tại.
Vấn đề xã hội lớn hiện nay trong các phong trào biến chuyển văn hóa - chính trị là các cá nhân rất khó tiến bước vì thiếu vắng những hình mẫu sống thực tế: không có những bậc trưởng lão trần thế nào nêu gương về một con người mới. Nhìn vào văn hóa đại chúng – từ tạp chí People cho đến Rolling Stone – ta thấy sự tan rã hoàn toàn của những nhân vật đáng tin cậy để thế hệ trẻ lý tưởng hóa. Giới trẻ ngày nay gặp muôn vàn khó khăn trong việc lý tưởng hóa một cách lành mạnh. Văn hóa đại chúng không còn cắm rễ vào thực tại nguyên mẫu mà chỉ toàn là những hành vi giải tỏa bộc phát (acting out) mất kiểm soát – một cuộc khủng hoảng văn hóa thực sự khiến việc làm một người vị thành niên ngày nay trở nên khắc nghiệt hơn bao giờ hết.
Nếu chúng ta vốn được cấu trúc bẩm sinh hướng tới sự toàn vẹn, và các giai đoạn khủng hoảng này là nhịp điệu tự nhiên của đời sống, thì liệu ta có nhất thiết phải cần đến các nhà phân tích Jung không? Hay những người chưa từng nghe đến phân tâm học thì có tuyệt vọng không?
Hoàn toàn không. Cá nhân hóa là một thực tại nguyên mẫu; Jung không hề phát minh ra các nguyên mẫu. Mircea Eliade đã chứng minh những tiến trình này hiện diện khắp nơi trong văn hóa nhân loại từ thuở sơ khai. Tuy nhiên, điều bạn tuyệt đối không thể bỏ qua chính là nhu cầu về một "chiếc bình chứa" (container). Bạn có thể gạt bỏ Jung và các lý thuyết của ông, nhưng bạn không thể gạt bỏ các mệnh lệnh nguyên mẫu: khi rơi vào khủng hoảng, bạn bắt buộc phải có một chiếc bình chứa, nếu không năng lượng tâm thần sẽ rò rỉ khắp nơi và dẫn đến một sự sảy thai tâm linh (psycho-spiritual abortion), một ca thai chết lưu, hoặc sinh ra một con quái vật dị dạng thay vì một tạo vật mới.
Chúng ta phải thành thật đối diện với thực tế rằng có rất nhiều người không thể vượt qua được khủng hoảng, ngay cả trong những điều kiện tốt nhất và bên cạnh những mục sư hay nhà trị liệu hết lòng yêu thương họ. Điều này đưa ta trở lại với khái niệm tội lỗi, hay theo thuật ngữ tâm lý học là "bản thể chống-dục năng" (antilibidinal ego). Chúng ta phải can đảm nhìn thẳng vào sự thật rằng có một phần bóng tối bên trong chúng ta cực kỳ đen tối, gớm ghiếc, hung bạo và không thể chuyển hóa: nó muốn bạn phải chết, và nó sẽ luôn muốn bạn phải chết! Nếu không dám đối mặt với điều này, bạn sẽ không thể hiểu nổi tại sao nhiều người lại tự hủy hoại đời mình dù xung quanh có vô số bạn bè, gia đình và chuyên gia yêu thương nâng đỡ.
Chính quan sát này đã thôi thúc Freud xây dựng lý thuyết về bản năng chết (Thanatos). Dù không cần đến lý thuyết bản năng chết, ta vẫn phải thừa nhận thực tại của bản thể chống-dục năng này – phần bóng tối nguyên mẫu không thể tích hợp, không thể chuyển hóa mà chỉ có thể nhận diện. Tôi thường khuyên thân chủ hãy nói thẳng với nó: "Ta thấy ngươi rồi. Ta biết ngươi có những lý do rất thực tế để muốn ta chết; ta thấu hiểu điều đó, nhưng chúng ta tuyệt đối sẽ không làm theo ý ngươi!" Đến cuối cùng, giữa đống đổ nát hỗn loạn, bạn buộc phải tự mình đưa ra lựa chọn: bạn phải chọn sự sống. Ngay cả khi bạn có được người trưởng lão nghi lễ vĩ đại nhất trần gian, khoảnh khắc quyết định vẫn là khi bạn tự mình chọn lấy sự sống.
Thế còn những tổn thương do di truyền sinh hóa bẩm sinh thì sao? Đây là điểm mà các nhà lãnh đạo tôn giáo và chăm sóc mục vụ thành thực và bớt ngạo mạn hơn các nhà tâm lý trị liệu thế tục. Giáo hội luôn nhấn mạnh rằng phần lớn công việc mục vụ không phải là mục vụ chữa lành, mà là mục vụ nâng đỡ, duy trì (sustaining ministry). Bởi có rất nhiều điều trong đời sống con người sẽ không bao giờ được chữa lành hoàn toàn. Một người có thể mang cơ địa sinh hóa bẩm sinh dễ rơi vào trầm cảm; nhưng điều đó không có nghĩa là họ không thể bước vào tiến trình cá nhân hóa, và cũng không có nghĩa là ta chỉ việc vứt cho họ một nắm thuốc an thần.
Sự toàn vẹn thực sự trong trường hợp đó có ý nghĩa gì? Và bước tiến tới sự tái hòa nhập (incorporation) sẽ ra sao?
Đó chính là sức mạnh của thần học: chữa lành là một khái niệm nguyên mẫu vô cùng tinh tế. Càng đi sâu vào phân tích tâm lý, ảo tưởng về việc được chữa lành một cách hoàn hảo như một tạo vật Adam nguyên sơ sẽ biến mất. Bạn nhận ra mình sẽ không bao giờ trở thành con người nguyên mẫu không tì vết. Tâm lý học thế tục thường bị giới hạn trong chân trời hữu hạn của nó, trong khi con người thì vĩ đại hơn nhiều so với bất kỳ lý thuyết tâm lý nào.
Tiến trình này diễn ra như sau: Ở giai đoạn tách rời ban đầu, bạn tự nhủ: "Tôi mạnh mẽ, tôi toàn vẹn, tôi không có vết thương nào." Rồi bạn bị quẳng vào giữa không gian hỗn loạn và bàng hoàng nhận ra: "Trời ơi, tôi mang đầy thương tích trên mình!" – một số do tự gây ra, một số do hoàn cảnh dội vào, một số có thể chữa lành được; và bước sang giai đoạn tái hòa nhập chính là chữa lành những gì có thể, đồng thời học cách chấp nhận rằng sẽ có những vết thương tiếp tục mưng mủ như "chiếc dằm đâm vào thịt" suốt cuộc đời.
Điều này hoàn toàn tương thích với lời của Thánh Phaolô trong Kinh Thánh: khi ngài nhận ra sức mạnh được biểu lộ trọn vẹn trong chính sự yếu đuối – "vì khi tôi yếu, chính là lúc tôi mạnh." Sự trưởng thành đích thực là khi cảm thức về sức khỏe tâm thần của bạn không còn dựa trên sự chối bỏ và sự thổi phồng bản thể. Một con người trưởng thành thực sự sẽ không hề phán xét người khác; họ cương nghị, nuôi dưỡng, yêu thương nhưng không bao giờ tàn nhẫn hay gay gắt.
Xét dưới ẩn dụ của người Do Thái: khi nói với một người rằng "Bên trong bạn có cả dân tộc Israel", đó là việc kích hoạt nguyên mẫu của một cộng đồng đã kiên cường vượt qua muôn vàn gian nan lịch sử. Bạn mang theo vết thương nơi khớp háng do cuộc vật lộn với thiên thần – bạn sẽ phải bước đi khập khiễng như Jacob – nhưng bạn biết mình sẽ sống sót vì toàn thể dân tộc vẫn luôn trường tồn. Đây là điểm tựa vững chắc không đặt trên một cá nhân lý tưởng hóa đơn độc, mà đặt trên nguyên mẫu của một Cộng Đồng Dân Tộc.
Khả năng ca hát và nhảy múa ngay trước sự kinh hoàng của người Do Thái – như trong các câu chuyện Hasidic về việc tìm thấy niềm vui giữa chốn ngục tù – là minh chứng cho việc cắm rễ vào các nguồn sức mạnh cội nguồn để giữ trọn tính người.
Và hãy nhìn nhận sự trầm cảm trong bối cảnh này, phân biệt rõ nó với nỗi buồn (sadness). Khi bạn buồn, bạn vẫn không mất đi giá trị; bạn buồn bởi vì bạn trân trọng, bởi vì bạn còn cảm nhận và còn biết quan tâm – trải nghiệm nỗi buồn là một phẩm tính nhân bản nguyên mẫu sâu sắc. Nhưng khi bạn rơi vào trầm cảm thực sự, đó là một con quái vật hoàn toàn khác: bạn đánh mất cảm thức về những gì có giá trị, bạn mất đi khả năng cảm nhận, khả năng quan tâm và khả năng yêu thương. Sự phân mảnh giết chết tâm hồn chính là đáy sâu của trầm cảm – nơi bạn hoàn toàn bất lực trong việc cảm nhận bất cứ điều gì có ý nghĩa.
Tính liên đới (relatedness) và linh hồn thế giới (Anima Mundi) của James Hillman chính là liều thuốc giải độc cho mối nguy hiểm của một thứ tâm linh quá cá nhân và vị kỷ. Tại không gian chuyển tiếp này, những biến đổi triệt để trong tính liên đới sẽ diễn ra: nếu bạn thiết lập được sự kết nối, bạn có cơ hội tái sinh; nếu không, bi kịch sẽ giáng xuống.
Tương tự như trải nghiệm của người da màu trong thời kỳ nô lệ: tiếng hát của họ vẫn vang lên giữa xiềng xích nô lệ bởi họ cảm nhận được sự tồn tại của một bờ bến khác phía bên kia, dựa trên hình tượng Xuất Hành (Exodus) trong Kinh Thánh Do Thái. Bản thân chế độ nô lệ và cái ác tàn bạo mang tính ma quỷ trong lịch sử loài người là một hiện thực nguyên mẫu.
Như Ernest Becker đã chỉ ra trong The Denial of Death: chừng nào con người còn cố bọc đường thực tại và tìm cách giải thích vì sao thế giới không hoàn hảo như Vườn Địa Đàng, chừng đó họ sẽ tiếp tục tìm kiếm những "con dê tế thần" (scapegoat) – đổ lỗi cho người Do Thái, người da màu hay bất kỳ nhóm người nào khác. Xu hướng phân tách ý thức thành những cặp nhị nguyên đối lập đơn giản để trút bỏ bóng tối là một thuộc tính bẩm sinh của tâm trí con người mà không một phe phái chính trị nào có thể tự nhận mình đứng ngoài cuộc.
Có một thắc mắc rất xác đáng rằng: Phải chăng một trong những nghi lễ quan trọng mà văn hóa hiện đại chúng ta đang thiếu vắng chính là một nghi lễ "con dê tế thần" (scapegoat) được âm nhạc hóa và biểu đạt công khai?
Hầu hết các nền văn hóa truyền thống đều sở hữu những nghi thức như vậy, nhưng chúng ta lại luôn tìm cách chối bỏ sự thật rằng đây là một phần trong động lực vận hành tâm lý của mình. Thuở xưa, trước khi bước vào Mùa Chay, người ta thường tạo ra một hình nộm gọi là Pharaoh Polly hay nhiều tên gọi khác để lăng mạ, ngược đãi và thiêu rụi – nó mang hình ảnh của một kẻ chịu tội thay thế cho Chúa Jesus, bởi bạn không thể tự nhận mình đang biến Chúa Jesus thành con dê tế thần; hoặc như lễ hội đốt hình nộm khổng lồ Zozobra (Old Man Gloom) ở Santa Fe. Văn hóa của chúng ta dường như mắc phải một vết đen khi ảo tưởng rằng mình đã đạt đến đỉnh cao văn minh đến mức không còn cần đến những nghi lễ tế thần như thế nữa. Và hậu quả tất yếu là: thay vì đưa vào nghi lễ, chúng ta lại hành động giải tỏa (act out) nó một cách vô thức trong đời thực.
Sự giải tỏa vô thức này thường diễn ra ngay trong gia đình. Động lực học gia đình vốn dĩ mang đậm tính nghi lễ. "Bệnh nhân được chỉ định" (identified patient) trong một gia đình rối loạn chức năng thường lại là nhân vật mang tính tôn giáo sâu sắc nhất, bởi chính họ là người gánh chịu toàn bộ phần bóng tối của cả gia đình và giải tỏa nó ra ngoài theo cách tự hủy hoại bản thân. Một tiến trình nghi lễ thực thụ đang diễn ra ở đó, chỉ có điều nó là một sự giải tỏa vô thức – gần tương đương với nghi thức hiến tế người sống thuở man hoang. Khi bạn chứng kiến một đứa trẻ vị thành niên tự hủy hoại mình trong một gia đình, đó chính là một hiện tượng nghi lễ vô thức.
Dưới góc nhìn của Jung, toàn bộ vấn đề này quy về cách chúng ta đối diện với phần bóng tối (shadow). Phần lớn những gì đang diễn ra ở đây thuộc về bóng tối cá nhân chứ không phải bóng tối nguyên mẫu; đó là sự chối bỏ những tổn thương mà người khác đã gây ra cho chúng ta. Alice Miller hoàn toàn có lý khi chỉ ra rằng: chúng ta ngập tràn lòng căm hận – một sự căm hận hoàn toàn có lý do chính đáng – nhưng để thừa nhận điều đó đòi hỏi quá nhiều dũng khí, nên nó bị đè nén vào vô thức.
Hiện nay, chúng ta đang vận hành một cơ chế đại nghi lễ khác trên quy mô toàn cầu: đó chính là cuộc chạy đua vũ trang. Chạy đua vũ trang là một hiện tượng đại nghi lễ, và các kho vũ khí hạt nhân thực chất không là gì khác ngoài sự tích tụ của cơn thịnh nộ thuần túy của con người. Có một sự cám dỗ thực sự hướng về cái mà Robert Gillette gọi là "Nghi thức Cuối cùng" (The Last Rite) – tức là một cuộc chiến tranh hạt nhân hủy diệt. Mọi nỗ lực phân tích cuộc chạy đua vũ trang chỉ thuần túy dưới lăng kính thế tục phi nghi lễ đều trở nên vô vọng, bởi họ không nhìn ra được ý nghĩa biểu tượng ẩn giấu bên trong những kho dự trữ hạt nhân khổng lồ đó.
Sự ảo tưởng rằng vũ khí hạt nhân sẽ đảm bảo hòa bình nghe có vẻ khó tin, nhưng trong một chừng mực nào đó, nó tạm thời "hiệu quả" vì nhờ nó mà bạn không cần phải thừa nhận mình căm ghét mẹ mình, cha mình, vợ/chồng mình hay anh chị em mình đến mức nào. Bạn không cần phải thừa nhận mình đang thù ghét bất kỳ ai; bạn chỉ việc chế tạo thêm thật nhiều bom nguyên tử. Con người từ xưa đến nay vẫn luôn hành xử như vậy, chỉ có điều ngày xưa mọi thứ có cấu trúc chặt chẽ hơn và người ta không phải tàn sát quá nhiều người; họ chỉ giết một số lượng hạn chế. Ta hoàn toàn có thể phân tích các cuộc chiến tranh cục bộ như ở Afghanistan dưới góc độ này: đó là những hiện tượng mang tính nghi thức được thực hiện để thay thế cho một đại nghi lễ quy mô lớn hơn.
Khi nhìn nhận tâm trí con người qua lăng kính phân tâm học, mọi sự sẽ hiện ra rất khác. Bạn bắt đầu nhận ra những chất liệu cực kỳ mạnh mẽ bên trong phần bóng tối. Trong các cuộc khủng hoảng và trạng thái chuyển tiếp, những gì bị dồn nén sẽ trỗi dậy; như Jung từng nói, đó là lúc toàn bộ phần bóng tối – tức "phần đời chưa từng được sống" (unlived life) – sẽ cuộn trào lên bề mặt.
Một thành tố vô cùng quan trọng của phần đời chưa từng được sống chính là cơn thịnh nộ: cơn thịnh nộ không được ý thức chấp nhận, buộc phải tích tụ lại hoặc bộc phát ra ngoài. Khi bị tích tụ lại, nó phát tác thành vết loét dạ dày, các chứng bệnh tâm thể, và nhiều người cho rằng thậm chí là cả ung thư. Trong những giai đoạn bình thường khi mọi thứ ngăn nắp, có trật tự, phần bóng tối này bị kìm hãm; nhưng khi khủng hoảng ập đến, nó sẽ biểu lộ theo những cách hoàn toàn khác biệt.
Liệu ở các cấp lãnh đạo cao nhất của chính phủ Mỹ hay Liên Xô có tồn tại sự phản tư phân tâm học nào để nhận diện và thấu suốt cơn thịnh nộ này nhằm tránh chiến tranh hay không? Vào thời Thế chiến II, các cơ quan tình báo chiến lược như OSS và các hội đồng chính phủ cấp cao đã sử dụng rất nhiều sự phản tư phân tâm học để nghiên cứu các động lực tâm thần tinh vi tác động đến việc ra quyết định. Tôi từng tìm cách liên hệ qua nhiều kênh để tìm hiểu xem liệu CIA hay Hội đồng An ninh Quốc gia ngày nay có sử dụng tri thức phân tâm học để nhận diện những khuôn mẫu vô thức nguy hiểm đang cám dỗ họ hành động bộc phát hay không. Dù đã thảo luận với một số vị tướng lĩnh nhưng tôi vẫn chưa có câu trả lời chắc chắn.
Thế còn hiểm họa khủng bố đương đại – nơi một cá nhân đơn lẻ có thể bắt cóc cả một chiếc máy bay hay uy hiếp cả một thành phố thì sao? Đó là một vấn nạn khổng lồ và kinh hoàng, nhưng nó không thể đóng vai trò như một đại nghi lễ mang tính toàn cầu. Về mặt quyền lực để thực hiện một cuộc "thanh tẩy toàn diện" (complete cleansing) thế giới, hiện vẫn chỉ có một số ít quyền lực hạt nhân nắm giữ khả năng đó.
Hình ảnh "thanh tẩy toàn diện" gắn liền với những mộng tưởng nguyên mẫu về ngày tận thế và sự chuyển giao thiên niên kỷ. Sự cuồng loạn về ngày tận thế từng xảy ra vào thời điểm bước sang thiên niên kỷ thứ nhất, và nó sẽ bùng phát dữ dội hơn nữa khi chúng ta tiến gần đến năm 2000. Những người theo chủ nghĩa chính thống tôn giáo đang chìm đắm trong ảo tưởng về ngày Chúa tái lâm; sự ủng hộ của họ dành cho Israel không hẳn vì họ yêu mến Israel, mà vì đó là một mắt xích trong kế hoạch để đưa toàn bộ thế giới này đến hồi kết thúc và được "lau dọn sạch sẽ". Khi tiến gần tới mốc năm 2000, áp lực vô thức đòi hỏi thực hiện "Nghi thức Cuối cùng" sẽ ngày càng đè nặng trên quy mô toàn cầu.
Bây giờ, chúng ta hãy bước sâu vào chủ đề trung tâm của buổi chiều nay: bản chất của "chiếc bình chứa" (container) hay sự dung chứa (containment).
Những người từng thấu hiểu sâu sắc nhất các động lực của sự dung chứa chính là những người thực hành ma thuật nghi lễ cổ xưa (ritual magic). Họ nhận thức rất rõ rằng khi làm việc với vô thức hoặc với bất kỳ hoàn cảnh nào mà vô thức hiển lộ, người ta cần một sự cách ly, bảo vệ vô cùng cẩn trọng. Toàn bộ các biểu tượng như ngôi sao năm cánh ma thuật (pentagram) hay các vòng tròn ma thuật phổ biến trên thế giới đều bắt nguồn từ sự thấu hiểu về tầm quan trọng của việc dung chứa khi tiếp xúc với cái thiêng – hay nói theo ngôn ngữ hiện đại là tiếp xúc với vô thức. Khi Jung phân tích Thánh lễ Kitô giáo dưới góc độ tâm lý học, ta thấy được cái nhìn sâu sắc về động lực nghi lễ và sự dung chứa; hay sự tinh tế trong việc dẫn dắt nghi lễ của Ấn Độ giáo cũng vậy.
Sự dung chứa tâm lý tương đương với việc ngăn chặn rò rỉ trong năng lượng hạt nhân. Các chất liệu nguyên thủy của vô thức trỗi dậy trong khủng hoảng có tính chất tương tự như chất phóng xạ: trong mỗi con người, các chất liệu này được cất giữ cẩn mật trong những khoang kín kiên cố; chừng nào mọi thứ còn êm đẹp, chúng sẽ không trồi lên – trừ phi bạn mắc chứng nhân cách ranh giới hoặc nặng hơn.
Tuy nhiên, khủng hoảng luôn dẫn đến sự thoái lui tâm động học (psychodynamic regression) – một quy luật tất yếu. Khi rơi vào khủng hoảng, các cơ chế phòng vệ thông thường của bạn bị quá nhiệt, các cầu dao ngắt mạch bắt đầu nổ tung, và bạn buộc phải dựa vào các hệ thống phòng vệ ngày càng nguyên thủy hơn. Nếu là một người loạn thần kinh chức năng tương đối khỏe mạnh, bạn sẽ dùng các cơ chế phòng vệ bậc cao như sự hợp lý hóa (những lời tự dối mình tinh vi). Nhưng khi áp lực tăng vọt hoặc cấu trúc nội tâm yếu ớt, bạn sẽ trượt rất nhanh xuống các nấc thang phòng vệ thấp kém.
Sự lo âu sẽ bùng nổ theo hai hướng: một phần là lo âu tín hiệu trước tình huống khách quan bên ngoài (như nỗi sợ thực tế khi có người thân qua đời); nhưng phần lớn sự lo âu lại đến từ những chất liệu nội tâm đang đe dọa xâm nhập vào ý thức do tiến trình thoái lui. Mọi nỗi sợ bị bỏ rơi nguyên thủy từ thời thơ ấu bị đè nén bấy lâu nay bỗng trỗi dậy mạnh mẽ. Nỗi kinh hoàng đó xa lạ và độc hại đối với ý thức bản thể của người trưởng thành chẳng khác nào bức xạ hạt nhân. Một cơn suy sụp thần kinh hay một đợt loạn thần thực chất xảy ra khi các chất liệu cảm xúc hỗn loạn này tiến quá sát hoặc tràn thẳng vào ý thức, làm mất ổn định hoàn toàn cấu trúc nhân cách.
Một bệnh viện tâm thần hay một khu điều trị nội trú vận hành y hệt như lớp vỏ bọc bảo vệ bên ngoài của một lò phản ứng hạt nhân: khi tuyến phòng thủ đầu tiên bị vỡ, chiếc bình chứa lớn hơn này sẽ giữ lại các chất liệu độc hại cho đến khi tiến trình dọn dẹp, phục hồi có thể diễn ra.
Vậy đâu là những chất liệu mà một con người liên tục phải tìm cách dung chứa? Đó là cơn thịnh nộ – thứ xuất hiện sớm nhất và buộc phải được kiềm tỏa nếu bạn muốn duy trì chức năng sống; đó là sự cưỡng bức tình dục, nỗi sợ hãi, sự khiếp đảm, các vết thương ái kỷ, lòng thù hận và nỗi đau buồn. Tất cả những từ ngữ cảm xúc này tạo nên một vùng "địa lý cảm xúc" cực kỳ nóng bỏng mà con người luôn phải tìm cách thích ứng.
Hơn thế nữa, chiếc bình chứa còn là nơi nâng đỡ cảm thức về giá trị và danh tính của một con người. Khái niệm "danh tính" (identity) thực chất luôn được con người đặt vào các bình chứa cụ thể: Nghề nghiệp chính là một chiếc bình chứa danh tính. Nếu mất đi nghề nghiệp, nhiều người rơi vào cảnh hoàn toàn trống rỗng trong mắt chính mình. Công việc mang lại cho họ cảm thức về sự quan trọng – tức tính ái kỷ sơ cấp chính đáng: "Tôi là ai? Tôi là một người có giá trị vì tôi cống hiến cuộc đời cho công việc này." Đối với tầng lớp trung lưu và thượng lưu, vai trò nghề nghiệp gánh vác phần lớn cảm thức về bản ngã; nếu gặp trục trặc trong sự nghiệp, nhân cách của họ sẽ lập tức rơi vào sự phân mảnh dữ dội.
Tôn giáo truyền thống cũng từng là chiếc bình chứa vĩ đại cho cảm thức về bản thể. Một buổi lễ Phúc Âm sôi nổi của cộng đồng người yếu thế bên lề xã hội tại khu Near North Side ở Chicago có thể truyền cho những con người nghèo khổ ấy một nguồn tiếp tế ái kỷ và một cảm thức về bản thể vững chắc mà không cần đến địa vị bác sĩ hay luật sư. Nhưng sự suy tàn của văn hóa truyền thống và sự suy giảm khả năng dung chứa của tôn giáo ngày nay đã khiến các bình chứa ý nghĩa bị thu hẹp nghiêm trọng – như Viktor Frankl từng nhấn mạnh trong liệu pháp ý nghĩa (logotherapy): nếu không thể chạm tới ý nghĩa trong cơn khủng hoảng, con người sẽ chết dần mòn.
Trong xã hội đương đại – như Robert Bellah và các tác giả cuốn Habits of the Heart đã chỉ ra – nghề nghiệp không còn gắn liền với vai trò cống hiến trong cộng đồng mà đã biến thành những "nấc thang thăng tiến" đơn thuần, biến thành sự nghiệp cá nhân thiếu tính ổn định. Giới bác sĩ hay luật sư trẻ ngày nay đối diện với chủ nghĩa hư vô sâu sắc; họ cảm thấy bị phản bội bởi chính ngành nghề từng hứa hẹn mang lại một bình chứa ý nghĩa.
Sự suy thoái của các bình chứa văn hóa cũng giải thích vì sao hình tượng chiến binh như Rambo lại có sức hút mãnh liệt đến vậy: khi thực tại nguyên mẫu của Chiến Binh (Warrior archetype) – vốn là cội nguồn của sự kỷ luật, tập trung và dấn thân trong thời kỳ đầu của tính chuyên nghiệp – bị tách rời khỏi ý thức xã hội, nó sẽ biến tướng và trỗi dậy dưới những dạng thức man dại, nguyên thủy nhất.
Trong sơ đồ ba giai đoạn của nghi lễ chuyển tiếp, con người thể hiện tính tôn giáo sâu sắc nhất chính là ở giai đoạn giữa (ngưỡng giới). Các nhà tâm lý học tôn giáo thời kỳ đầu như William James đã bỏ lỡ mối liên hệ giữa các trải nghiệm tôn giáo mãnh liệt, các trải nghiệm hoán cải huyền bí với các trạng thái chuyển tiếp khủng hoảng. Hoán cải luôn diễn ra trong khủng hoảng, bởi đó là lúc con người tuyệt vọng tìm kiếm ý nghĩa để có thể sinh tồn.
Trong phân tâm học, mối quan hệ chuyển di (transference) giữa nhà phân tích và thân chủ chính là một chiếc bình chứa, một bình chưng cất giả kim thiêng liêng để sự chuyển hóa diễn ra – như các công trình của D.W. Winnicott, Robert Langs hay Harold Searles đã chứng minh. Nếu mối quan hệ trị liệu không tạo ra được sự dung chứa đó, trị liệu sẽ chỉ dừng lại ở mức duy trì bề mặt.
Vô thức của thân chủ luôn có khả năng cảm nhận xem liệu nhà trị liệu có đủ sức chịu đựng sự điên loạn của họ hay không. Nếu vô thức nhận thấy nhà trị liệu sẽ sụp đổ nếu nhìn thấy sự điên rồ của mình, tâm trí thân chủ sẽ tự động giấu kín phần chất liệu đó đi; và thân chủ sẽ mãi dậm chân tại chỗ dù vẫn trả tiền và tham gia các buổi trị liệu đều đặn. Harold Searles chỉ ra rằng: những thất bại trong tâm lý trị liệu hầu như luôn bắt nguồn từ việc nhà trị liệu chưa dám đối diện với sự hỗn loạn của chính bản thân mình.
Vậy một người muốn trở thành trưởng lão nghi lễ hay người dẫn dắt qua khủng hoảng cần phải được tôi luyện như thế nào?
Yêu cầu đầu tiên là họ phải dám đối diện với sự điên loạn và phần bóng tối của chính mình. Đây là một đòi hỏi vô cùng khắc nghiệt, bởi khoảnh khắc nhìn thẳng vào bóng tối nội tâm cũng là lúc bạn không còn cảm thấy mình giống như một vị thầy chữa lành nguyên mẫu vĩ đại nữa.
Thứ hai, họ phải học cách sống thoải mái với sự mơ hồ (ambiguity). Những người đang trong cơn khủng hoảng và thoái lui tâm lý luôn khao khát những câu trả lời cụ thể, đơn giản và giáo điều. Khi một người đang trên bờ vực phân mảnh, các mạch tư duy bậc cao dùng cho thần học phức tạp đều bị sập nguồn; họ không cần những bài thuyết giảng cao siêu ở tầng bình lưu, mà họ cần một chiếc bình chứa để giữ họ không bị tan vỡ.
Một nhà lãnh đạo tâm linh giỏi phải có khả năng vận hành ở nhiều "độ cao" khác nhau cùng một lúc: vừa có thể bay lượn ở tầng bình lưu của tư duy, vừa có thể sà xuống sát mặt đất để mang lại cấu trúc dung chứa nâng đỡ những tâm hồn đang quằn quại trong đau đớn.
Thứ ba, người trưởng lão nghi lễ phải là người đã từng đích thân trải qua các nghi lễ chuyển hóa. Đó không phải là một tiến trình tri thức sách vở mà là một sự biến đổi chạm tới tận xương tủy. Khái niệm "tư cách" hay "phẩm tính" (character) và biểu tượng "người chữa lành bị thương" (wounded healer) của Henri Nouwen là cốt lõi: việc chịu đựng vết thương không phải điều đáng mừng, nhưng việc sống sót bước qua và nhận ra khả năng tái sinh sẽ biến những vết sẹo của bạn thành công cụ nâng đỡ tha nhân. Như khi Nouwen ở Nam Mỹ, ngài từng trải qua cảm giác hoàn toàn bất lực và mất phương hướng khi không thể đưa ra câu trả lời cho những con người nơi đây; chính ngài cũng cần một sự dung chứa từ văn hóa và Kinh Thánh.
Một trưởng lão nghi lễ cần khả năng sống chung với những mâu thuẫn và sự giằng xé của các mặt đối lập. Trong các chủng viện đào tạo, áp lực phải luôn tỏ ra hoàn hảo (con đường hoàn hảo) thường bóp nghẹt sự cứu rỗi của tính bất toàn, khiến người ta che giấu câu chuyện thực của đời mình để được thụ phong. Sự hoàn hảo chỉ là một hình ảnh nguyên mẫu trừu tượng; con người không bao giờ có thể trở thành một nguyên mẫu hoàn hảo.
Về sự khác biệt của khủng hoảng ở các giai đoạn cuộc đời: Cuốn The Seasons of a Man's Life của Daniel Levinson đã vạch rõ những quy luật này. Cấu trúc nguyên mẫu của khủng hoảng ở tuổi dậy thì hay tuổi nghỉ hưu là như nhau, nhưng nội dung thì hoàn toàn khác biệt. Trong nửa đầu cuộc đời, khủng hoảng xoay quanh việc thích ứng và khẳng định vị thế; nhưng trong nửa sau cuộc đời, các nhiệm vụ nhập môn buộc con người phải đối diện và thỏa hiệp với cái chết và sự hữu hạn. Nhiều người bước vào trị liệu ở nửa sau cuộc đời nhưng vẫn ảo tưởng tìm kiếm các giải pháp của nửa đầu cuộc đời – mong muốn trẻ trung, sung mãn trở lại. Ngay cả những người nói về cái chết như một sự giải thoát hay chữa lành (như một phụ nữ có chồng mắc bệnh Parkinson nhưng bản thân lại nghiện rượu và ngập tràn giận dữ) cũng thường chỉ là đang dùng ngôn từ để trốn tránh thực tại của cái chết thông qua cơ chế phòng vệ chối bỏ nguyên thủy.
Bây giờ, tại sao phần bóng tối lại luôn bộc lộ rõ rệt nhất trong các giai đoạn khủng hoảng?
Bóng tối cá nhân (personal shadow) bao gồm tất cả những phần thuộc về bản thân mà ý thức bản thể của bạn hoàn toàn không thể dung thứ – những điều bạn được dạy từ thời thơ ấu trong gia đình rằng đó là xấu xa, cấm kỵ.
Sự phân tách bóng tối có thể diễn ra theo hai cách:
Phân tách theo chiều dọc (Vertical Split): Bóng tối thỉnh thoảng trồi lên ý thức và được giải tỏa trực tiếp thành hành vi. Ví dụ điển hình là kẻ bạo hành gia đình: anh ta ý thức được mình đánh vợ, bản thể không hề tự hào về điều đó, anh ta thề sẽ không bao giờ tái phạm; nhưng khi có chuyện xảy ra, tâm thức lại lật sang phía bóng tối và hành vi bạo lực bộc phát. Ở đây, bóng tối đôi khi có mặt trong ý thức nhưng không chiếm ưu thế liên tục.
Phân tách theo chiều ngang (Horizontal Split): Đây là dạng tổ chức nhân cách được coi là "bậc cao hơn", nơi toàn bộ chất liệu bóng tối bị đè nén hoàn toàn xuống dưới rào cản vô thức. Bạn không hề nhìn thấy các hành vi bộc phát tiêu cực của mình dù bạn bè, người phối ngẫu và mọi người xung quanh đều thấy rõ bạn đang chống đối xã hội; bạn luôn có những lời giải thích hợp lý hóa rằng mình không hề có ý đó. Thay vì đánh vợ, bạn "vô tình" quên đón cô ấy, bạn hờn dỗi, không khen ngợi hoặc dùng những đòn hung tính thụ động tinh vi.
Chừng nào bạn ít chịu áp lực, bạn càng kiểm soát tốt phần bóng tối dưới lớp mặt nạ (persona). Nhưng khi khủng hoảng ập đến, sự thoái lui tâm lý diễn ra, các chốt chặn bị phá vỡ và các chất liệu bóng tối bị dồn nén bấy lâu sẽ bùng phát dữ dội. Đó là lý do tại sao giữa cơn khủng hoảng hay bệnh tật nặng nề, người ta thường bàng hoàng thốt lên: "Tôi không hiểu chuyện gì đã xảy ra với anh ấy/cô ấy, họ hoàn toàn không còn là chính mình nữa!" Thực ra, họ chỉ không còn là cái "mặt nạ bản thể" thường ngày; những phần bóng tối sâu kín nhất bên trong họ – vốn bị kiểm soát nghiêm ngặt – nay đã hoàn toàn phá rào bước ra ánh sáng.
Điều đó hoàn toàn không liên quan đến tổn thương thực thể ở não bộ, mà chính là phần bóng tối đang hiển lộ dưới lớp vỏ bọc bệnh tật. Ở đây ta cần phân biệt rõ: tôi không nói về bóng tối mang tính nguyên mẫu, mà chỉ là thứ bóng tối cá nhân đời thường. Liệu có sự phân biệt giữa chúng không? Chắc chắn là có sự phân biệt. Nhưng phần lớn những gì bạn phải đối mặt trong cơn khủng hoảng là chất liệu bóng tối cá nhân thông thường – thứ mà nếu đương sự không rơi vào khủng hoảng thì bạn sẽ không bao giờ phải chạm trán một cách trực diện đến thế. Ở trạng thái bình thường, nó biểu hiện rất vi tế: họ có thể dùng sự hung tính thụ động trong các cuộc họp hoặc làm những điều vụn vặt gây khó chịu. Nhưng khi khủng hoảng ập đến, bạn sẽ phải hứng trọn toàn bộ sức công phá của nó; cả gia đình sẽ phải hứng trọn và mọi ma quỷ, yêu quái bên trong đều túa ra ngoài.
Các bộ tộc nguyên thủy hiểu rất rõ điều này thông qua khái niệm điều cấm kỵ (taboo). Trong nhiều bộ lạc, khi một điều tồi tệ xảy đến với bạn, bạn lập tức trở thành đối tượng taboo và mọi người sẽ lánh xa bạn. Tại sao lại như vậy? Bởi vì họ hiểu rằng khi tai ương ập xuống, con người sẽ trở nên kỳ lạ, mọi thứ dồn nén sẽ bùng phát và họ như bị chiếm hữu bởi "linh hồn cá sấu" hay những thứ tương tự. Đó thực chất chính là sự hiển lộ của bóng tối trong giai đoạn khủng hoảng.
Thế còn trường hợp có những người xử lý giai đoạn cấp tính của khủng hoảng rất giỏi – họ đối diện với cái chết hay bệnh tật một cách hoàn hảo, không hề rơi một giọt nước mắt và vẫn cáng đáng mọi việc chu toàn – nhưng mãi về sau cơn khủng hoảng thực sự mới phát tác thì sao? Tôi từng biết một người bạn bị tấn công và cưỡng bức; cô ấy gọi 911 nhưng phải mất hai mươi phút cảnh sát mới đến dù đồn cảnh sát chỉ cách đó ba phút chạy xe. Cơn thịnh nộ của cô bùng nổ khi các viên cảnh sát liên tục bảo rằng nghe giọng cô qua điện thoại không có vẻ gì là hoảng loạn hay quá đau khổ cả.
Đó chính là động lực học của trạng thái sốc (shock). Khi ở trong trạng thái sốc, chiếc mặt nạ (persona) của bạn trông vẫn có vẻ nguyên vẹn, các nguồn lực được huy động tức thời để sinh tồn, và đó cũng là một sự che chở nhân từ tạm thời của tâm trí trước khi mọi thứ vỡ vụn sau này. Các cơ quan cứu trợ thường chỉ can thiệp vào khoảnh khắc khủng hoảng trước mắt; nhưng bi kịch là năm tháng sau, khi bạn thực sự phải đối diện với sự mất mát toàn diện, cơn khủng hoảng mới thực sự bùng nổ. Điều này gắn liền với tiến trình tang chế (mourning) và nỗi đau buồn kéo dài: rất nhiều biểu hiện tưởng như bệnh lý tâm thần thực chất lại là những phản ứng đau buồn chưa được giải tỏa và chuyển hóa trọn vẹn.
Nghĩ về những đứa trẻ trong các gia đình quân nhân đồn trú ở châu Âu: chúng luôn bị ám ảnh bởi cảm giác mình sẽ không có tương lai và sẽ sớm chết đi trong một thế giới ngập tràn những mộng tưởng tận thế. Nhưng điều này không làm thay đổi điều mà Jung hay các nhà phân tâm học trường phái Jung khẳng định: nhiệm vụ của người trẻ trong nửa đầu cuộc đời là phải khẳng định sự sống trước nghịch cảnh đó – một nhiệm vụ vô cùng cam go.
Đó là lý do tại sao nhạc punk rock ra đời và văn hóa đại chúng của giới trẻ lại tràn ngập những hình ảnh như vậy. Hãy xem bộ phim của Prince: đó là sự trốn chạy khỏi việc phải đối mặt với thực tại nghiệt ngã của đời sống vị thành niên để lao vào một thế giới ảo tưởng hoàn toàn. Tại vùng North Shore ở Chicago, tỷ lệ tự tử ở thanh thiếu niên và người trẻ liên tục gia tăng.
Tại sao những bộ phim gây sốt hiện nay không chỉ dừng lại ở nhạc rock dữ dội mà còn tràn ngập bạo lực, quái vật và kinh dị kỳ ảo? Bởi vì giới trẻ không hề mù quáng trước thời cuộc; chúng đọc vị tình thế thế giới cực kỳ chuẩn xác. Khi làm việc với những thiếu niên trầm cảm muốn tự tử, tôi vô cùng kinh ngạc trước sự nhạy bén của chúng. Người lớn cứ cố bảo rằng mọi chuyện không tệ như thế đâu, nhưng đứa trẻ biết thừa sự thật là như thế nào. Một đứa trẻ vị thành niên sẽ thấy được nâng đỡ hơn rất nhiều trước một người lớn dám thẳng thắn thừa nhận: "Cháu nói đúng, thực tế đúng là như vậy", thay vì những lời xoa dịu giả dối; điều chúng cần là sự trung thực và một hình mẫu kiên cường dám sống "bất chấp tất cả".
Đối với người trưởng thành, chiếc bình chứa thông thường là công việc và sự nghiệp; còn đối với trẻ em và thanh thiếu niên, chiếc bình chứa đó chính là gia đình. Nhưng khi gia đình không còn đóng vai trò là chiếc bình chứa vững chắc, khi gia đình chịu khủng hoảng và thiếu đi sự nâng đỡ từ bên ngoài, xu hướng phân mảnh sẽ diễn ra dữ dội.
Đứa trẻ vị thành niên nhìn thấu mọi sự giả tạo, mọi lớp mặt nạ không chân thực của từng thành viên trong gia đình, đặc biệt là của cha mẹ. Trong những gia đình chắp vá với con chung con riêng, nơi đứa trẻ bị đẩy qua đẩy lại giữa các mái nhà, chính đứa trẻ lại cố gồng mình trở thành chiếc bình chứa cho cả gia đình – cố ngăn chặn cơn khủng hoảng của người mẹ hoặc người cha. Khi phải gánh tải trọng tâm lý quá khổng lồ đó, chúng rơi vào khủng hoảng thực sự: mất ngủ triền miên và bắt đầu sa vào các hình thức nghiện ngập tự xoa dịu.
Liệu tâm lý trị liệu và phân tâm học có phải là câu trả lời toàn diện để giải quyết tất cả những vấn đề này không? Thành thực mà nói, không phải. Trị liệu chỉ đóng vai trò như sự sàng lọc y tế (triage). Về mặt hậu cần, chúng ta không bao giờ đào tạo đủ nhà tâm lý trị liệu cho toàn xã hội; trị liệu tâm lý chỉ cung cấp sự dẫn dắt nghi lễ cho một bộ phận dân cư rất hạn chế thuộc tầng lớp kinh tế - xã hội hẹp.
Lời hứa của chính phủ vào thập niên 1960 về việc xây dựng đủ các trung tâm sức khỏe tâm thần để cung cấp trị liệu chất lượng cao với chi phí hợp lý cho mọi người đã hoàn toàn phá sản; hãy lái xe quanh Chicago hôm nay để thấy những bệnh nhân tâm thần bị đẩy ra vỉa hè như thế nào. Vì thế, các thiết chế tôn giáo – nhà thờ và các giáo đường Do Thái – buộc phải đứng nơi tiền tuyến để cung cấp sự dung chứa, chữa lành, nâng đỡ, dẫn dắt và hòa giải cho cộng đồng. Trách nhiệm cuối cùng phần lớn vẫn đổ dồn lên vai những người làm công tác tôn giáo, và các biểu tượng, huyền thoại cũng như nghi thức tôn giáo vẫn là những chiếc bình chứa mạnh mẽ nhất mà con người sở hữu trước nghịch cảnh.
Liệu quần chúng có e ngại và né tránh giới giáo sĩ vì định kiến luân lý cứng nhắc và sự phán xét từ thứ "tôn giáo mặt nạ" (persona religion) đang được truyền thông phản ánh hay không? Chắc chắn rào cản đó có tồn tại. Nhưng xét về mạng lưới cung ứng thực tế, ở hầu hết mọi nơi, bạn rất khó tìm được một nhà phân tích Jung hay Freud, thậm chí một thạc sĩ tâm lý cũng là hiếm hoi, và bảo hiểm y tế thì ngày càng cắt giảm chi trả cho các tiến trình trị liệu chuyển hóa chiều sâu.
Chúng ta đang ở trong tình thế "sàng lọc mục vụ" (pastoral triage) như trên chiến trường: với nguồn lực hạn chế, ta buộc phải tối ưu hóa mọi công cụ sẵn có. Việc đến gặp nhà trị liệu trong nhiều môi trường vẫn bị gắn mác là "điên loạn", trong khi các nhóm tự lực (self-help groups) – nơi những con người cùng cảnh ngộ mở lòng nâng đỡ nhau – đang ngày càng phát triển. Con người vốn có trực giác tự nhiên về nhu cầu cần được dung chứa khi khủng hoảng; họ sẽ dùng radar nội tâm để tìm kiếm một nơi tôn nghiêm (sanctuary) – một không gian thiêng của sự chữa lành và chuyển hóa.
Vậy xã hội sẽ nhìn nhận thế nào về vai trò dung chứa của giáo hội trước hàng loạt vụ bê bối gần đây về giáo sĩ nghiện rượu, ấu dâm hay các bê bối tài chính mờ ám?
Ở đây ta phải làm rõ khái niệm tôn giáo mặt nạ (persona religion). Chừng nào một tôn giáo chỉ là tôn giáo của chiếc mặt nạ, chừng đó nó hoàn toàn chết rũ và chỉ đơn thuần là công cụ duy trì nguyên trạng. Như Victor Turner đã phân biệt: nghi lễ hình thức (ceremonial) chỉ nhằm bảo vệ hiện trạng, còn nghi thức đích thực (ritual) mới mang tính chuyển hóa. Người ta bám vào tôn giáo mặt nạ như một chiếc vung đậy chặt nồi áp suất để đè nén phần bóng tối kinh hoàng của chính mình.
Nhưng một tôn giáo chuyển hóa căn bản luôn có nhận thức sâu sắc về phần bóng tối – của chính nó và của tha nhân. Trong các nền văn hóa nguyên thủy, điều này từng được thể chế hóa rất rõ ràng: bên cạnh sự trang nghiêm và thanh tẩy của vị pháp sư shaman, luôn có bóng dáng của nhân vật Kẻ Chơi Khăm (Trickster) chạy vụt qua và đánh rắm ngay giữa buổi lễ nhằm phơi bày hai mặt đối lập ra ánh sáng.
Việc giáo hội hay giáo sĩ có phần bóng tối không có gì là mới lạ; nhận ra điều đó là một bước tiến của nhận thức chứ không hề giết chết các thiết chế tôn giáo. Nó giống như năng lực của Chúa Jesus: khả năng ôm giữ, dung chứa và yêu thương con người cùng với toàn bộ phần bóng tối của họ. Người dẫn dắt khủng hoảng không được phép mắc kẹt trong tôn giáo mặt nạ. Ta cũng cần thoát khỏi cái bẫy phân tách nhị nguyên: chê bai các thiết chế tôn giáo nhưng lại lý tưởng hóa mù quáng các nhà tâm lý học thế tục.
Trong cơn khủng hoảng, nhiều hành vi bộc phát về tính dục hay nổi loạn thực chất là những chuyển động vô thức của con người hướng về sự thánh thiện nhằm tái chiếm lĩnh những phần bản thể vốn bị chia cắt và đè nén bấy lâu.
Để làm rõ hơn về mối liên hệ giữa sự dung chứa và ẩn dụ chất phóng xạ: các chất liệu trong vô thức cực kỳ nguy hiểm nếu bị rò rỉ bừa bãi, nhưng chúng sẽ trở nên hữu ích nếu được khai mở đúng thời điểm và với tốc độ mà bản thể có thể chuyển hóa được. Tâm trí con người chỉ có thể xử lý một lượng chất liệu nhất định tại một thời điểm; nếu tất cả cùng ùa ra một lúc, chúng ta sẽ hoàn toàn sụp đổ cấu trúc tâm thần.
Khi một thân chủ hỏi tại sao tuần này họ không nằm mơ, câu trả lời là vì vô thức nhận thấy có quá nhiều chất liệu chưa được "tiêu hóa" hết từ trước đó. Nhà trị liệu hay người dẫn dắt tâm linh có nhiệm vụ tạo lập và điều phối không gian dung chứa đó.
Khi một người đang chìm trong khủng hoảng, họ không cần bạn tỏ ra là một "kẻ bình thường không có câu trả lời". Nếu bạn không có câu trả lời, hãy giữ im lặng và thể hiện sự thông thái, bởi lúc đó họ không cần một người bạn tầm thường mà họ cần một "Đại Mục Sư", một bậc Swami, một hiện thân của nguyên mẫu Vị Thầy Chữa Lành vững như bàn thạch để họ có thể lý tưởng hóa và neo đậu niềm tin. Bạn không còn là bản thể cá nhân thường ngày nữa, mà bạn đang gánh vác một vai diễn nguyên mẫu. Có quá nhiều giáo sĩ ngày nay vội vã muốn giáo dân thấy mình tầm thường như thế nào; nhưng trong thời khắc khủng hoảng, sự tầm thường đó không phải là thứ người ta tìm kiếm.
Như Jung từng chỉ ra: trong những bước ngoặt khủng hoảng của đời người, những con đường bạn chưa từng đi – tức phần đời chưa từng được sống – sẽ quay trở lại đòi được cất tiếng. Nếu ở tuổi năm mươi, bạn bàng hoàng nhận ra mình từng bị lạm dụng tình dục thời thơ ấu và điều đó đã hủy hoại biết bao cơ hội trong quá khứ, bạn không thể quay ngược thời gian để sống lại phần đời đã mất, nhưng bạn buộc phải đối diện và giải phóng phần đời chưa từng được sống đó ngay trong hiện tại.
Nhiệm vụ của người trợ giúp là mở ra một lời mời gọi tha thiết để họ can đảm dấn thân sống trọn vẹn – như lời Chúa Jesus: "Ta đến để cho chiên được sống và sống dồi dào" – dù giữa muôn vàn giằng xé của khủng hoảng, con người vẫn luôn ngập ngừng và chưa dám chắc liệu mình có muốn thử bước tiếp hay không.
Bình luận