top of page

Sống thử hay không sống thử?

Tác giả: Judith S. Wallerstein, Sandra Blakeslee

Sách: The Good Marriage: How and Why Love Lasts



CHƯƠNG 14: Beth McNeil


Hơn một tháng trời ròng rã trôi qua, Beth mới có thể thu xếp được một khoảng trống trong lịch trình dày đặc của mình cho cuộc phỏng vấn của chúng tôi. Thật chẳng dễ dàng gì để cô ấy có thể dành ra ba tiếng đồng hồ, khi mà vừa phải cáng đáng hai công việc, chăm sóc hai con, quán xuyến nhà cửa, lại vừa phải chu toàn các hoạt động tình nguyện cho dự án bệnh nhân AIDS ở địa phương. Cô ấy còn kiêm cả vai trò cố vấn cho vài chương trình y tế công cộng khác nữa. Thế nhưng, qua điện thoại, giọng Beth nghe vẫn vô cùng niềm nở và hào hứng về dự án nghiên cứu của tôi. Có vẻ như Kit đã kể cho cô ấy nghe rằng cuộc trò chuyện giữa anh và tôi trước đó đã diễn ra vô cùng thú vị.


Tôi đến nhà họ sớm hơn vài phút so với giờ hẹn. Ngồi trong xe, tôi tranh thủ lướt qua tờ phiếu khảo sát mà Beth đã điền trước cuộc phỏng vấn. Câu trả lời của cô cho câu hỏi “Tại sao anh chị lại kết hôn?” thật ngắn gọn: “Vì chúng tôi tin chắc mối quan hệ này sẽ bền vững.” Còn với câu “Nếu phải chọn một điều trong cuộc đời khiến cô tự hào nhất, đó sẽ là gì?”, Beth đã đưa ra hai câu trả lời: “Gia đình của tôi. Sự nghiệp của tôi.”


Chỉ một lát sau, cô ra mở cửa với nụ cười rạng rỡ và niềm nở mời tôi vào phòng làm việc riêng của mình. Đó là một không gian nhỏ nhắn, ấm cúng với những chiếc ghế bành êm ái, mấy chiếc bàn mây và những chậu cây xanh mướt. Sự hiếu khách của Beth khiến tôi có cảm giác cô ấy sẵn sàng dành cả ngày để dốc bầu tâm sự, dù tôi thừa biết cô bận rộn đến nhường nào. Beth sở hữu một làn da khỏe khoắn, đôi mắt màu hạt dẻ thông minh và mái tóc nâu được cắt tỉa gọn gàng, năng động. Trông cô có vẻ là kiểu người có thể bật dậy khỏi giường, sửa soạn quần áo chỉnh tề và sẵn sàng bước ra khỏi nhà trong vòng chưa đầy mười phút.


Cô bắt đầu câu chuyện một cách rất thẳng thắn: “Để tôi kể cho bác nghe điều gì đã làm nên sự thành công trong cuộc hôn nhân của chúng tôi. Trước hết, chúng tôi mến nhau. Chúng tôi luôn dành cho nhau một sự tôn trọng mực thước. Và chúng tôi tin tưởng nhau. Niềm tin chính là cái cốt lõi tối thượng. Tất nhiên, tình yêu là điều không thể thiếu, nhưng tình yêu đôi khi... nói thế nào nhỉ, đôi khi người ta vẫn có thể yêu nhau mà thiếu đi những nền tảng cơ bản kia, và đó là lúc tình yêu trở thành một cái bẫy. Tôi cũng không biết nữa, có lẽ mỗi người lại có một định nghĩa khác nhau về tình yêu. Nhưng thứ tạo nên sự vững chãi cho một mái ấm chính là lòng tin tuyệt đối, là việc bạn luôn biết rõ người kia đang đứng ở đâu, và tin rằng bất cứ điều gì họ làm cũng đều vì lợi ích của bạn cũng như của chính họ.”


Cô dừng lại một chút: “Và các hệ giá trị nữa, việc có chung những giá trị sống là điều cực kỳ thiết yếu. Một trong những điểm mạnh của chúng tôi là có chung thế giới quan. Nhiều khi lúc mới đến với nhau, người ta thường xem nhẹ chuyện này. Nhưng đối với chúng tôi, đó là kim chỉ nam, và nó cũng là sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong công việc của cả hai đứa.”


Tôi nhận ra rằng quan điểm của Beth về hôn nhân rất khác so với Sara hay Helen. Cô đang mô tả một kiểu gắn kết hoàn toàn khác, nơi một người đàn ông và một người phụ nữ được ràng buộc với nhau trước hết bằng các giá trị sống, sự cam kết và một thế giới quan chung – rồi sau đó mới đến tình yêu. Sự tôn trọng và lòng tin tưởng lẫn nhau đã thế chỗ cho tình yêu lãng mạn thuần túy. Không cần tôi phải gợi chuyện, Beth đã tự bộc bạch về con đường dẫn cô đến thế giới quan này. Cô cũng xác nhận phỏng đoán của tôi rằng những mối tình đổ vỡ trước đó chính là quá trình mài giũa cần thiết để cô trưởng thành.


“Khi tôi và Kit đến với nhau, cả hai đều đã ở tâm thế sẵn sàng. Chúng tôi đều từng trải qua các mối quan hệ khác và đều đã nếm trải đủ loại sai lầm. Chúng tôi học được từ chính những vấp ngã đó, và nhờ vậy mà có được sự chín chắn.”


“Những sai lầm kiểu như thế nào hả cô?”


“Tôi từng lún sâu vào hai mối tình kéo dài nhưng đầy sóng gió,” Beth nở một nụ cười tự giễu. “Tôi đã phạm phải mọi sai lầm có thể vì lúc đó tôi chưa đủ bản lĩnh để sống độc lập. Tôi cứ lao vào những mối quan hệ độc hại, những cuộc tình quá cuồng nhiệt nhưng lại mang tính hủy hoại.”


“Cô có thể chia sẻ thêm về những cuộc tình cuồng nhiệt và độc hại đó được không?”


“Dễ thôi mà bác,” cô cười xòa. “Ngày xưa tôi toàn bị hấp dẫn bởi những gã đàn ông kiểu nghệ sĩ lãng tử. Cô biết đấy, kiểu như một gã đóng sách người Thụy Điển nghèo khổ đang chật vật tìm chỗ đứng ở Mỹ, một thiên tài lập dị, u uất, hay một gã du mục lãng mạn. Tôi cứ phải lao vào những mối quan hệ như thế mới chịu được. Cứ cái gì dằn vặt, đau khổ là tôi lao vào.” Cô nhún vai mỉm cười, nhưng ánh mắt lại rất nghiêm túc.


“Điều gì đã thôi thúc cô tìm kiếm sự dằn vặt đó?”


Nụ cười trên môi cô vụt tắt: “Tôi nghĩ mình tìm kiếm nó vì sức ảnh hưởng từ cách tôi được nuôi dạy từ nhỏ. Những ký ức tuổi thơ sớm nhất của tôi đều gắn liền với việc phải chuyển nhà hết lần này đến lần khác. Gia đình tôi cứ lúc giàu, lúc nghèo đan xen. Bố tôi là thuyền phó trên một tàu viễn dương và thường xuyên vắng nhà biền biệt sáu tháng trời. Mẹ tôi thì không lúc nào thôi than thân trách phận. Còn bố tôi thì không ngừng dằn vặt bản thân vì đã bỏ rơi vợ con và là nguyên nhân gây ra những giọt nước mắt của bà. Dù vậy, họ vẫn yêu nhau.”


Beth thở dài: “Nhiệm vụ của tôi khi còn là một đứa trẻ là phải chăm sóc mẹ mỗi khi bố vắng nhà. Bà có chuyện gì cũng lôi tôi ra trút bầu tâm sự. Giữa hai mẹ con gần như không có một ranh giới riêng tư nào cả. Tôi lớn lên mà không có một hình mẫu người phụ nữ biết tự giải quyết vấn đề để nhìn vào, trong khi bản thân lại phải gánh vác quá nhiều trách nhiệm. Hệ quả là, việc vừa phải đóng vai người mẹ bảo bọc vừa ôm lòng oán hận chuyện đó đã biến thành một lối mòn tâm lý trong tôi. Tôi luôn bị thu hút bởi những gã đàn ông có cuộc đời rắc rối, bất ổn, những kẻ cứ thích đến rồi đi trong đời mình.”


“Vậy mọi chuyện đã thay đổi như thế nào?”


“Tôi và Annie, người bạn thân nhất của tôi, đã cùng nhau nương tựa suốt những năm đại học. Từ cửa miệng của hai đứa hồi đó là 'bi kịch hóa' (melodrama) — ý chỉ cái xu hướng cứ thích tự biến các mối quan hệ thành phim tình cảm sướt mướt, cứ phải chọn những kẻ đang chịu đau khổ mới chịu. Rồi đến một ngày, tôi với Annie buộc phải thẳng thắn nhìn nhận lại xem mình thực sự muốn gì. Hai đứa bảo nhau phải chấm dứt cái trò bi kịch hóa này lại, vì thành thực mà nói, chúng tôi đã chịu đựng quá đủ rồi.


Chúng tôi quyết định làm một chuyến phượt kéo dài sáu tháng qua châu Âu và Ấn Độ, dựng lều ngủ trong các nhà trọ thanh niên và dành phần lớn thời gian vật vờ trên các chuyến tàu hỏa, xe khách. Chúng tôi có những khoảng thời gian rảnh rỗi mênh mông khi phải ngồi chờ tàu, và hai đứa chỉ biết nói, nói và nói. Chúng tôi mang từng mối tình mình từng trải qua ra mổ xẻ, chất vấn nhau bằng những câu hỏi cân não kiểu như: ‘Mày nhận được gì từ mối quan hệ đó?’, ‘Nó mang lại lợi ích gì cho mày?’, ‘Tại sao mày lại làm như thế?’”


Phần đầu câu chuyện của Beth rất quen thuộc với tôi. Tôi đã gặp quá nhiều bạn trẻ lao vào những cuộc tình cuồng nhiệt, dằn vặt rồi cuối cùng khi kết hôn lại dẫn đến một kết cục ly hôn đau lòng. Đó thường là những mối quan hệ "cứu rỗi" thất bại, nơi người đứng ra cứu rỗi lại là người nhận về nhiều tổn thương nhất. Nếu may mắn hoặc được tư vấn tâm lý tốt, nhiều người trong số họ cuối cùng sẽ nhận ra rằng họ chưa bao giờ thực sự thoát khỏi những bi kịch gia đình vốn là nguồn cơn đẩy họ đến những lựa chọn sai lầm ngay từ đầu. Họ nhận ra mình chỉ đang tự kéo dài chuỗi ngày dằn vặt và tội lỗi của chính mình. Điều thú vị trong câu chuyện của Beth là cách cô và người bạn thân đã cùng nhau tự hóa giải "lời nguyền" bi kịch hóa đó.


“Vậy Kit xuất hiện vào lúc nào?” Tôi hỏi.


“Chuyện đó diễn ra rất tự nhiên. Sau khi về nước, tôi bắt đầu gặp gỡ Kit. Người yêu cũ muốn quay lại, nhưng tôi biết mọi chuyện đã chấm dứt. Điều quan trọng nhất là tôi không còn cảm thấy mình là kẻ cứ phải nhảy từ mối tình này sang mối tình khác nữa. Tôi đã trải qua một năm độc thân hoàn toàn và thấy mọi chuyện vẫn ổn. Tôi khao khát một mối quan hệ thực sự nghiêm túc và vững chãi, chứ không muốn dính vào những trò bi kịch hóa của tâm lý bất ổn nữa. Tôi muốn cai nghiện cái thói quen cứ thích lao vào những mối tình đầy đau khổ, nhưng lúc đầu tôi cũng băn khoăn không biết liệu Kit có đủ sức cuốn hút tôi không. Anh ấy luôn là người mà tôi có thể ngồi lại và trò chuyện hàng giờ. Anh là một người đàn ông điềm đạm, hiểu tính cách của tôi.”


Cô đang mô tả một bước ngoặt quan trọng trong quá trình trưởng thành của mình. Để đưa ra một lựa chọn chín chắn trong một mối quan hệ nghiêm túc, một người trước hết phải có bản lĩnh sống độc lập – cả về mặt tâm lý lẫn tình cảm. Nhận thức được điều này một cách trực giác, Beth đã tạm dừng việc hẹn hò để nhìn nhận lại động cơ và mong muốn của chính mình. Sau đó, khi tìm được một người đàn ông điềm đạm, cô lại phải đối mặt với một câu hỏi lớn thứ hai: liệu một mối quan hệ “bình lặng và lý trí” như vậy có đủ sức hấp dẫn cô không? Vì trước đây cô luôn đánh đồng sự kích thích tình dục với cảm giác nguy hiểm, phiêu lưu, trong khi Kit lại là một người quá an toàn, liệu cô có thể bằng lòng với anh không?


Như để trả lời cho những suy nghĩ của tôi, Beth mô tả điều gì đã gắn kết cô với Kit và cách cô chấp nhận lựa chọn của mình.


“Chúng tôi có rất nhiều điểm tương đồng trong lối sống. Và cứ thế, tình cảm giữa hai đứa lớn dần. Tôi nghĩ điều tuyệt vời nhất là mối quan hệ này không hút cạn toàn bộ năng lượng sống của tôi — điều mà tất cả các mối tình trước đây đều làm. Tôi có nhiều thời gian dành cho bạn bè hơn và cuộc sống vui vẻ hơn. Chúng tôi vui vẻ bên nhau mà không có những nỗi niềm u uất, bi kịch. Đó là một mối quan hệ không có chỗ cho những sự ám ảnh độc hại.” Cô mỉm cười. “Tất nhiên hai đứa cũng có những cách riêng để thử thách xem liệu có hợp nhau không. Chúng tôi đã sống thử với nhau bốn năm trước khi chính thức kết hôn.”


Tôi có cảm giác rằng sau những năm tháng lênh đênh trên biển lớn đầy sóng gió, Beth cuối cùng đã tìm thấy một bến đỗ bình yên. Cô đã tìm thấy một mối quan hệ không làm cô dằn vặt hay kiệt quệ, một nơi an toàn, ngập tràn tình yêu và sự tin tưởng. Tuy nhiên, tôi vẫn băn khoăn về mức độ hòa hợp tình dục trong một mối quan hệ bình lặng như vậy. Sự thẳng thắn của cô khiến tôi dễ dàng mở lời: “Cô có cảm thấy bị cuốn hút về mặt thể xác với Kit không?”


Cô trả lời một cách chậm rãi, cân nhắc từng từ: “À, thực ra chuyện đó rất khác biệt, bởi vì anh ấy vốn luôn là một người bạn thân thiết của tôi, rồi đùng một cái hai đứa bắt đầu gắn kết theo một cách thân mật hơn nhiều. Nó giống như việc bạn khám phá ra một khía cạnh hoàn toàn mới ở một con người vậy. Bỗng nhiên trong đầu tôi lóe lên suy nghĩ: ‘Ừ, chuyện này hoàn toàn hợp lý.’


Ngày xưa, tôi toàn bấm bụng dựa vào cái gọi là 'sức hút ban đầu', để rồi khi bước vào mối quan hệ, tôi lại ngỡ ngàng phát hiện ra hai đứa chẳng có điểm chung nào cả. Lần này thì ngược lại. Kit là một người bạn tốt, và rồi từ tình bạn đó, tôi tìm thấy sự cuốn hút và ngọn lửa đam mê tình dục. Đời sống gối chăn của chúng tôi khá ổn, thực ra là rất tốt. Lần nào tôi cũng đạt được cực khoái. Thú thật là tôi muốn chuyện ấy thường xuyên hơn, độ ba lần một tuần, nhưng thực tế không được như vậy. Chúng tôi thường ân ái một đến hai lần một tuần vì nhu cầu của anh ấy chỉ dừng lại ở đó.”


“Ngày xưa người ta cứ nghĩ đàn ông mới là phái có nhu cầu cao hơn.”


Beth bật cười trước câu nói của tôi: “Tôi nghĩ chính mình đã giúp anh ấy cởi mở hơn trong chuyện chăn gối vì tôi là người ít bị định kiến trói buộc hơn. Tôi muốn nhu cầu của mình được đáp ứng, chứ không chỉ riêng anh ấy.” Beth trầm ngâm: “Tôi nghĩ đối với tình dục, bạn cần có thời gian, thời gian để hai cơ thể hòa chung một nhịp, thời gian để thấu hiểu bạn đời, thời gian để biết người kia thích gì và ghét gì. Chuyện chăn gối là vậy đó. Ở bên người này bạn có thể thấy hoàn toàn tự do phóng khoáng, nhưng ở bên người khác bạn lại thấy mình bị co rụt lại, e dè. Thứ đưa chúng tôi đến sự hòa hợp ngày hôm nay liên quan mật thiết đến các khía cạnh khác trong mối quan hệ, đến mức độ thân mật, sự thành thật, cởi mở, và cả sự quan tâm, lo lắng dành cho nhau.” Cô kết luận một cách sâu sắc: “Đời sống tình dục trong hôn nhân được nâng tầm nhờ chính những gì diễn ra trong cuộc sống thường nhật của hai vợ chồng.”


“Làm thế nào cô có thể giúp Kit cởi mở hơn mà không làm tổn thương lòng tự trọng của anh ấy?”


“Ngày xưa tôi hay thủ thỉ trò chuyện với anh ấy. Tôi sẽ chủ động dẫn dắt và chỉ cho anh thấy tôi muốn gì. Tôi tham gia một cách chủ động hơn. Tôi nghĩ đây là điều anh chưa từng trải qua trước đây. Và điều đó cho phép anh ấy yên tâm đón nhận những gì tôi trao cho, rũ bỏ hoàn toàn cái gọi là áp lực phải 'thể hiện bản lĩnh đàn ông'. Tôi vốn đã quen với một đời sống tình dục chất lượng. Tôi không đời nào chấp nhận một sự hời hợt. Tôi nghĩ mình đã cho anh ấy cái quyền được cảm nhận, được sống trọn vẹn trong từng khoảnh khắc, được khám phá và được phép bộc lộ sự yếu mềm trước mặt tôi, được thả lỏng bản thân để hòa làm một với vợ.”


“Đời sống tình dục hiện tại so với thời kỳ bi kịch hóa ngày xưa thì thế nào?”


“Khi quyết định từ bỏ những mối tình giông bão, tôi thừa hiểu tình dục trong hôn nhân sẽ bớt đi sự cuồng nhiệt, dữ dội; đó không phải là vấn đề kỹ thuật, mà là vì sự an toàn của hôn nhân tự khắc sẽ làm cho tình dục bớt đi tính kích thích. Nhưng có một sự thật là, những trải nghiệm ân ái tuyệt vời nhất tôi từng có lại là với Kit. Nói chung, khi bạn đã thấu hiểu một con người quá sâu sắc, cái yếu tố ảo tưởng, bí ẩn ban đầu sẽ không còn nữa, nó khác hoàn toàn với sự phấn khích cuồng nhiệt thuở ban đầu.”


“Cô khám phá ra tất cả những điều này sau khi cưới hay trong bốn năm hai người sống thử trước đó?” Tôi hỏi.


“Học cách tin tưởng anh ấy đối với tôi không phải là chuyện dễ dàng. Chặng đường đó chỉ thực sự bắt đầu khi hai đứa dọn về sống chung. Chúng tôi đã cần đến một khúc dạo đầu kéo dài tới bốn năm.”


Giới trẻ ngày nay thường trải qua rất nhiều "giai đoạn thực hành" trước khi chính thức chọn một người bạn đời. Họ thực hành việc lựa chọn và thay đổi quyết định suốt từ thời trung học cho đến khi trưởng thành, ở trường đại học và cả những năm tháng sau đó. Dù có thể phải nếm trải nhiều đau đớn, nhưng không có cách nào tốt hơn để một người tự khám phá bản thân và học cách đưa ra những lựa chọn sáng suốt. Chính trong quá trình xây dựng rồi lại đổ vỡ các mối quan hệ, chúng ta học được cách đánh giá bản thân và nhìn nhận người khác. Quan trọng hơn cả, chúng ta biết điều gì cuốn hút mình, điều gì khiến mình ghê tởm, điều gì mang lại sự phấn khích và điều gì ẩn chứa hiểm họa.


Nếu thành công, chúng ta sẽ học được cách đối diện với những khuyết điểm của chính mình và biết lắng nghe những tiếng chuông cảnh báo nội tâm trước mỗi hiểm họa phía trước. Chúng ta học được cách phân biệt rạch ròi giữa tình yêu, dục vọng, tình bạn và sự say nắng nhất thời, phân biệt được đâu là chân chân thực thực, đâu là giả dối sáo rỗng. Chúng ta hiểu thấu nỗi kinh hoàng của sự cô đơn và cảm giác đau đớn của một trái tim tan vỡ. Và nếu chưa từng được học trước đó, chúng ta sẽ khám phá ra rằng mọi hành vi đều có cái giá của nó, rằng các mối quan hệ có sức mạnh chữa lành vô biên nhưng cũng có thể gây ra những tổn thương chí mạng, rằng tình yêu và các mối quan hệ nhân sinh là những câu chuyện vô cùng nghiêm túc và đòi hỏi trách nhiệm lâu dài.


Một trong những cách "thực hành" phổ biến nhất của giới trẻ chính là sống thử trước khi cam kết hôn nhân. Đối với nhiều cặp đôi trong nghiên cứu này, đó là một chiến lược thành công. Tuy nhiên, các nghiên cứu gần đây đã chỉ ra rằng sống thử không phải là một chiếc vé bảo chứng cho một cuộc hôn nhân hạnh phúc. Thậm chí, vài nghiên cứu lớn còn đưa ra con số giật mình: tỷ lệ ly hôn ở những cặp đôi từng sống thử trước khi cưới thực tế lại cao hơn những cặp không sống thử. Đây là một phát hiện gây tranh cãi, bởi vì lập luận lớn nhất của những người ủng hộ việc sống thử là nó sẽ giúp giảm thiểu tỷ lệ ly hôn. Người ta cứ nghĩ sống chung dưới một mái nhà sẽ giúp cả hai đưa ra quyết định kết hôn sáng suốt hơn.


Thế nhưng, tôi đã chứng kiến biết bao cặp đôi có một khoảng thời gian yêu đương sống thử vô cùng mặn nồng nhưng khi bước vào hôn nhân lại biến thành một bi kịch và kết thúc bằng một vụ ly hôn cay đắng. Lý do là vì, như một quy luật tất yếu, hôn nhân sẽ làm nảy sinh những kỳ vọng hoàn toàn mới. Những gì bạn có thể dễ dàng tặc lưỡi bỏ qua ở một người tình thì không đời nào bạn chấp nhận được ở một người chồng hay người vợ. Như một người đàn ông từng bộc bạch: “Một cô nhân tình nóng bỏng thỉnh thoảng đến muộn thì thật ly kỳ, cuốn hút. Nhưng một người vợ không bao giờ biết đúng giờ thì đúng là một nỗi tai họa.” Góc nhìn về đối phương, về bản thân, về thời gian và rất nhiều khía cạnh khác của cuộc sống sẽ thay đổi một cách chóng mặt khi hai con người từng sống thử quyết định ký vào tờ giấy kết hôn. Họ bắt đầu hành xử theo những khuôn mẫu kỳ vọng truyền thống. Bóng ma từ hai bên gia đình lớn không còn bị ngăn cách bởi trò chơi mang tên “Chúng ta đâu có ràng buộc gì mãi mãi” nữa. Hơn nữa, tình dục trong một cuộc tình vụng trộm hay sống thử luôn có sự kích thích cao độ, còn tình dục trong hôn nhân lại mang tính ổn định và dễ đoán hơn.


Năm 1947, khi tôi kết hôn, việc sống thử là một điều hoàn toàn không thể chấp nhận được ngoài xã hội. Dù chuyện quan hệ tình dục trước hôn nhân không phải là hiếm, nhưng chắc chắn chẳng ai dám mang ra bàn tán công khai. Trong số những người vợ tham gia nghiên cứu kết hôn vào những năm 1950, tất cả đều là trinh nữ khi bước vào lễ đường, ngoại trừ hai người, và họ kết hôn vì đã lỡ mang bầu. Không một ai từng sống thử với đàn ông trước khi cưới. Đàn ông thời đó thì có nhiều kinh nghiệm tình trường hơn, nhưng phần lớn cũng chỉ là những mối tình thoảng qua với cô bạn gái thời trung học, hoặc như Matt, là những chuyến ghé thăm nhà thổ theo lời rủ rê của đám bạn cùng hội nam sinh, hoặc một cuộc tình ngắn ngủi với một người phụ nữ đã có chồng.


Quan niệm về tình dục của xã hội Mỹ bắt đầu chuyển dịch từ những năm 1960, và đến những năm 1970, 1980 thì việc sống thử đã trở thành chuyện thường tình. Tất cả các cặp đôi thuộc thế hệ đó tham gia nghiên cứu này đều đã sống thử từ một đến chín năm trước khi cưới. Không một ngoại lệ nào, mỗi cá nhân đều bước vào hôn nhân với một bề dày kinh nghiệm tình dục nhất định. Thực tế, phần lớn họ đều từng có những mối quan hệ sâu sắc với nhiều hơn một người tình. Sống thử đã trở thành một bước đệm được chấp nhận rộng rãi trước khi kết hôn trong nhiều tầng lớp xã hội Mỹ, và là chuyện hiển nhiên ở các trường đại học, dù trong một số vòng tròn bảo thủ chuyện đó vẫn bị định kiến.


Xu hướng này phản ánh một sự đảo ngược hoàn toàn trong tư duy của người dân. Ở các thế hệ trước, một cô gái trẻ sẽ không bao giờ dám dọn về sống chung với bạn trai vì người ta lập luận rằng: nếu gã đàn ông đã dễ dàng có được tình dục thỏa thích, gã sẽ chẳng còn lý do gì để cưới cô nữa. Cô sẽ bị coi là "món hàng đã mất giá". Nỗi sợ mang thai ngoài ý muốn còn là một rào cản tâm lý khủng khiếp hơn. Cái giá để có được thể xác của một cô gái gia giáo ngày ấy chính là một đám cưới danh chính ngôn thuận. Khi các biện pháp tránh thai đáng tin cậy ra đời vào những năm 1960, nỗi sợ mang thai biến mất, và những rào cản xã hội đối với việc sống thử lập tức sụp đổ chỉ sau một đêm.


Giờ đây, trong nền văn hóa ly hôn của chúng ta, nỗi sợ hãi lại trải qua một sự đảo chiều kỳ lạ. Ngoại trừ mối lo ngại về căn bệnh AIDS, chuyện tình dục trước hôn nhân và sống thử được coi là an toàn. Ngược lại, chính hôn nhân mới là thứ nguy hiểm! Suy cho cùng, tỷ lệ thất bại của hôn nhân lên tới 50% và nó gieo rắc sự khốn khổ cho những ai dám dấn thân vào. Logic của giới trẻ bây giờ là: nếu không kết hôn, bạn sẽ không bao giờ phải ly hôn. Giống như Kit, nhiều bạn trẻ tự hỏi, kết hôn để làm gì? Họ sợ hôn nhân vì đã chứng kiến quá nhiều vụ ly hôn kinh hoàng xung quanh. Họ nghĩ rằng bằng cách tránh né hôn nhân, họ sẽ có cơ hội tốt hơn để gìn giữ sự tươi mới, lãng mạn của tình yêu; nhiều người thẳng thắn nói với tôi rằng chính hôn nhân là nấm mồ chôn vùi tình yêu.


Người ta thường hy vọng rằng chỉ bằng cách sống thử, họ sẽ tránh được việc đưa ra một quyết định sai lầm. Họ tự đặt ra những quy tắc nghiêm ngặt để đảm bảo mình không chọn nhầm người. Tôi biết một cô gái trẻ từng ra điều kiện với người yêu rằng hai đứa phải sống thử với nhau ít nhất hai năm trước khi tính đến chuyện cưới xin; chỉ khi vượt qua thử thách đó, cô mới coi là cả hai đã đạt yêu cầu.


Thế nhưng, cuộc đời vốn phức tạp hơn những công thức định sẵn kia nhiều. Lập luận cho rằng sống thử giúp các cặp đôi mài giũa và xóa bỏ các vết rạn trong mối quan hệ, hay giúp hôn nhân sau này bền vững hơn, cho đến nay vẫn chưa được chứng minh là đúng; sống thử chưa bao giờ là liều thuốc tiên ngăn ngừa ly hôn.


Sống thử là một con đường do mỗi cặp đôi tự định nghĩa. Nó có thể chỉ đơn thuần là việc kéo dài chuỗi ngày sống chung, hoặc nó có thể giúp giảm bớt nỗi sợ hãi về sự cam kết để dẫn đến một cuộc hôn nhân hạnh phúc, hoặc cũng có thể dẫn thẳng đến bi kịch. Kết cục ra sao phụ thuộc hoàn toàn vào động cơ đưa hai người đến với nhau và việc liệu họ có biết dùng khoảng thời gian sống chung đó để xây dựng một nền tảng vững chắc cho hôn nhân sau này hay không. Nếu nó bắt đầu như một cuộc dạo chơi, liệu nó có mãi là một cuộc dạo chơi hay sẽ trở nên nghiêm túc? Nó có giúp họ hiểu thêm về bản thân, về những gì mình thực sự muốn và ghét ở bạn đời không?


Một số cặp đôi dọn về sống chung chỉ vì thấy tiện lợi hoặc vui vẻ. Họ coi cuộc sống chung như một sự kéo dài của thời kỳ trì hoãn trách nhiệm thời tuổi trẻ, chứ không phải là khúc dạo đầu cho bất cứ điều gì nghiêm túc. Họ tận hưởng tình dục, vui vẻ với sự đồng hành của nhau và chẳng mảy may lo nghĩ về tương lai. Đây là thực trạng phổ biến khi người ta ở độ tuổi đôi mươi, cái tuổi luôn nghĩ mình có dư dả thời gian. Họ không cần phải bận tâm về gia đình lớn, về sự cam kết hay những sợi dây ràng buộc. Nhưng gọi đây là một cuộc "hôn nhân thử" thì hoàn toàn không chính xác, bởi vì nó đang né tránh chính những nhiệm vụ cốt lõi làm nên một cuộc hôn nhân. Đối với những người này, sống thử bắt đầu như một cuộc chơi và kết thúc cũng chỉ như một cuộc chơi.


“Ngày xưa tôi cứ gặp ai đó, yêu điên cuồng, và chỉ sau một ngày là hai đứa đã lao lên giường và chính thức hẹn hò,” một người phụ nữ trẻ thú nhận. “Tôi yêu đến chết đi sống lại, để rồi chín tháng sau tôi lại thốt lên: ‘Eo ơi! Mình đang làm cái quái gì với gã này thế này? Biến đi cho rảnh nợ!’”


Ngược lại, các cặp đôi trẻ trong nghiên cứu này lại coi sống thử là một khúc dạo đầu nghiêm túc cho hôn nhân. Họ có thể đã dùng các mối tình trước đó để trải nghiệm, nhưng cuộc sống chung lần này chính là khởi đầu của một sự cam kết sâu sắc. Đối với nhiều người, bao gồm cả Kit và Beth, quyết định kết hôn đại diện cho một bước ngoặt lớn về mặt cảm xúc, một tuyên ngôn công khai rằng mối quan hệ của họ với đối phương và với thế giới ngoài kia đã bước sang một trang hoàn toàn mới.


Tôi từng hỏi một người vợ trẻ: “Tại sao cô lại muốn kết hôn?”


“Bởi vì chúng tôi là một cặp đôi nghiêm túc. Tôi muốn cả thế giới biết và công nhận chúng tôi là một cặp đôi danh chính ngôn thuận,” cô khẳng định một cách đầy tự hào.


Họ đã sống thử với nhau bao lâu?


Sáu năm, cô trả lời. Tuy nhiên, cô đã bị tổn thương sâu sắc khi hai vợ chồng đến thăm mẹ chồng ngay tối hôm sau ngày họ quyết định làm đám cưới. Với một sự vô tâm đến cứa lòng, bà mẹ chồng thốt lên: “Ủa, sao tự nhiên lại vẽ chuyện cưới xin làm gì? Chẳng phải tụi con đã sống thử với nhau ngần ấy năm trời rồi sao?”


Một số cặp đôi quyết định kết hôn khi cả hai đồng lòng rằng đã đến lúc cần có một đứa con. Vài cặp đôi khác vốn đã lên kế hoạch cưới xin nhưng quyết định đẩy ngày vui lên sớm hơn khi một người cha hoặc người mẹ đang lâm bạo bệnh hoặc cận kề cái chết. Trong mọi trường hợp, hôn nhân luôn đại diện cho một sự cam kết được cân nhắc vô cùng chín chắn, sau một khoảng thời gian sống thử và cả hai cùng hạ quyết tâm sẽ gắn bó bên nhau suốt phần đời còn lại.


Cái lợi của việc sống thử là nó cho phép người đàn ông và người phụ nữ được "thực hành" một mối quan hệ gần gũi, điều này sẽ vô cùng giá trị nếu họ biết rút ra bài học từ trải nghiệm đó. Họ có thể thấu hiểu hơn về những gì mình tìm kiếm ở một người bạn đời và hiểu rõ hơn về chính bản thân mình. Nhưng tự thân việc sống chung không mang lại điều đó. Khả năng học hỏi và thực hành một cách hiệu quả đòi hỏi mỗi cá nhân phải thực sự chiêm nghiệm sau trải nghiệm để có được một tư duy chín chắn hơn về những gì làm nên một mối quan hệ. Sống thử với tâm thế là khúc dạo đầu cho hôn nhân cũng đòi hỏi nhiều trách nhiệm và mang lại nhiều niềm vui không kém gì những năm đầu của cuộc sống vợ chồng chính thức. Giới trẻ ngày nay cũng có thể giúp đỡ nhau trong nhiệm vụ đầu tiên và vô cùng gian nan của hôn nhân: tách rời tâm lý khỏi gia đình thuở nhỏ. Theo nghĩa này, sống thử có thể là một công cụ hữu hiệu giúp họ hoàn thành quá trình trưởng thành – một giải pháp vốn không hề dễ dàng đối với các thế hệ trước.


Khi mô tả về những gì mình học được sau ba năm sống thử với một người đàn ông mà cuối cùng cô quyết định không cưới, một người phụ nữ trẻ chia sẻ: “Tôi học được rằng bạn không bao giờ có thể kỳ vọng một người đáp ứng toàn bộ nhu cầu cuộc đời mình. Tôi học được rằng bản thân mình đôi khi cực kỳ khó tính và có thể khiến người khác phát điên. Tôi biết cách dừng lại đúng lúc mỗi khi mình đang quá quắt, và biết cách nhận biết khi nào người kia đang căng thẳng để thấu hiểu điều gì đã kích động tâm trạng của họ. Tôi học được rất nhiều về tình dục, và quan trọng hơn cả, tôi nhận ra người đàn ông mình đang sống cùng không phải là mảnh ghép dành cho tôi. Tôi cần một người có độ tuổi gần với mình hơn, và tôi muốn một người chưa từng kết hôn trước đó.”


Kit cũng từng tâm sự về những gì anh học được từ mối quan hệ trước đây: “Ngày xưa tôi gặp vấn đề lớn trong việc bộc lộ sự tức giận, tôi toàn nén nhịn. Một trong những điều xương máu tôi học được từ mối tình cũ là nếu bạn đang bực mình, bạn bắt buộc phải nói ra, vì việc cứ giữ khay khay trong lòng và giả vờ mọi chuyện vẫn ổn là một sai lầm chết người.”


Với những người có lòng tự trọng và chính trực cao như Kit, ranh giới giữa việc sống thử lâu năm và hôn nhân chính thức thường rất mờ nhạt. Nhiều cặp đôi sống thử cũng đòi hỏi sự cam kết và chung thủy tuyệt đối từ đối phương. “Tôi chẳng thấy có gì khác biệt cả,” anh nói. “Khi bạn đã ở trong một mối quan hệ sống chung, các quy tắc đạo đức cũng chẳng khác gì hôn nhân.”


Nhưng sống thử, cũng giống như hôn nhân, hoàn toàn có thể thất bại, và nỗi đau nó để lại thì vô cùng tận. Ý nghĩ cho rằng sống thử giống như một quá trình lựa chọn, kiểu như thử một bộ quần áo mới, là một tư duy vô cùng nguy hiểm. Mối quan hệ giữa con người với con người không phải là một xấp vải, nơi bạn thấy ống tay quá dài hay gấu quần quá ngắn là có thể cắt bớt. Điểm tựa mật ngọt của việc sống thử là nó mang lại cảm giác của một mối quan hệ tự do, không ràng buộc, một nơi bạn thích thì đến, chán thì đi một cách dễ dàng. Nhưng thực tế, những sợi dây vô hình lại trói buộc bạn vô cùng chặt khẽ.


Hơn nữa, vì sống thử không đòi hỏi trách nhiệm pháp lý và đạo đức ngang nhau từ cả hai phía, nó rất dễ trở thành mảnh đất màu mỡ gieo rắc những ảo tưởng cứu rỗi phi thực tế và sự phụ thuộc mù quáng. Bắt đầu sống thử thì thật dễ dàng — không ràng buộc gia đình, không lời hứa hẹn — nhưng điều đó không có nghĩa là lúc kết thúc sẽ êm đẹp. Sự đổ vỡ của một mối quan hệ sống thử lâu năm cũng để lại những tổn thương và hệ lụy kinh hoàng không kém gì một vụ ly hôn thực sự.


Cho đến lúc này, Beth vẫn chưa hề nhắc đến việc muốn có con, vốn là một trong những lý do lớn nhất khiến nhiều cặp đôi sống thử quyết định tiến tới hôn nhân chính thức. Tôi hỏi: “Anh chị có lên kế hoạch sinh cả hai cháu không?”


Cô cúi mặt nhìn xuống sàn nhà: “Đó từng là một vấn đề cực kỳ căng thẳng giữa hai vợ chồng trong một thời gian dài. Bác biết đấy, ban đầu tôi không chắc mình có muốn làm mẹ hay không. Tôi cảm thấy mình chưa sẵn sàng và chẳng có chút hứng thú nào, trong khi Kit lại khát khao có con ngay lập tức. Tôi đã phải mất ba năm rưỡi mới có thể thay đổi tư duy để đi theo mong muốn của anh ấy. Và xin nhớ cho, lúc chúng tôi cưới nhau tôi đã ba mươi hai tuổi rồi. Suốt một thời gian dài, hai vợ chồng thậm chí không thể ngồi lại thảo luận chuyện này một cách bình tĩnh được.”


Mặt cô hơi ửng hồng: “Chúng tôi không cãi vã, không phải vì chúng tôi né tránh tranh luận về các vấn đề nghiêm túc. Chỉ là quyết định đó đối với tôi quá khó khăn. Tôi sợ việc có con. Tôi không biết mình có thể làm một người mẹ tốt không, và tôi không tự tin mình có thể bảo vệ đứa trẻ khỏi mọi hiểm họa ngoài xã hội. Tôi sợ đứa trẻ sẽ phá vỡ thế giới ngọt ngào mà tôi và Kit đang có. Và tôi sợ bị trói chặt vào một mối quan hệ mà mình không thể thoát ra được. Bạn có thể bỏ một người đàn ông, chứ không bao giờ có thể bỏ một đứa con. Tôi cũng sợ đứa trẻ sau này sẽ gần gũi với bố hơn vì Kit là người hào hứng hơn, còn tôi thì cứ ôm nỗi dằn vặt nội tâm. Trong đầu tôi lúc nào cũng vẽ ra những viễn cảnh khủng khiếp về mối quan hệ tay ba.”


Một lần nữa, tôi lại kinh ngạc trước việc hầu như không có điều gì được coi là hiển nhiên trong một cuộc hôn nhân bạn đồng hành. Thiên chức làm mẹ được nhìn nhận như một quyền lựa chọn cần phải được cân nhắc kỹ lưỡng, một lựa chọn có những hệ lụy sâu sắc cần phải xem xét, dù quyết định cuối cùng có ra sao.


“Tôi đã phải đi trị liệu tâm lý trong ba tháng, chỉ để tập trung giải quyết câu hỏi có nên sinh con hay không,” Beth tâm sự. “Tôi không thể tự đưa ra quyết định. Khi vị chuyên gia tâm lý gợi ý rằng bố mẹ tôi có lẽ rất muốn có cháu bế, tôi bỗng giật mình nhận ra một sự thật hoàn toàn ngược lại. Mẹ tôi không hề muốn tôi có em bé. Bà chỉ muốn tôi luôn có sẵn thời gian để cung phụng và lo cho bà.”


“Vậy làm thế nào cô quyết định sinh con?”


“À, tôi nhận ra có một phần trong tôi thực sự khát khao có một đứa trẻ, và tôi đã mang thai. Nhưng rồi tôi bị sảy thai. Chứng kiến Kit đau khổ, suy sụp nhường nào khi mất đứa bé, tôi mới hiểu thấu đứa con có ý nghĩa thiêng liêng với anh đến thế nào. Và tôi quyết định sẽ thử lại lần nữa, vừa vì phần muốn làm mẹ bên trong tôi, vừa vì tình yêu tôi dành cho anh.”


Tò mò muốn biết nỗi băn khoăn nội tâm về việc có con đã ảnh hưởng đến cô như thế nào, tôi hỏi về quá trình mang thai và sinh nở.


“Kit là một người chăm vợ tuyệt vời,” cô nói. “Anh cùng tôi tham gia các lớp học tiền sản và vô cùng chu đáo. Ở bên anh, tôi không còn cảm thấy sợ hãi nữa. Nhưng ca sinh nở thực sự là một trải nghiệm kinh hoàng. Tôi ví nó như cuộc hành trình băng qua sa mạc Úc và phải vượt qua một chuỗi các thử thách khắc nghiệt. Tôi mất ngủ ba ngày ròng và kiệt quệ hoàn toàn. Sau khi sinh, tôi ở nhà chăm con một năm và thấy mọi chuyện khá ổn. Nhưng khi đi làm trở lại toàn thời gian, việc phải vừa cáng đáng công việc vừa lo cho gia đình khiến tôi kiệt sức.


Cuối cùng tôi cũng hiểu ra đây chính là thực tế phũ phàng của cuộc sống. Công việc và gia đình là những áp lực bất biến. Khi đã vượt qua được những rào cản tâm lý, chúng tôi tự tin sinh tiếp cháu thứ hai. Tôi thường xuyên bực bội vì tụi trẻ không phát triển theo tiến độ mà người lớn mong muốn. Tôi từng nghi ngờ không biết mình có tố chất của một người mẹ bỉm sữa không. Tôi muốn chăm lo cho các con, nhưng đồng thời tôi cũng muốn giữ nguyên mọi thứ khác trong cuộc sống của mình — một 'Nữ siêu nhân'.” Cô cười lớn. “Tôi và tất cả các cô bạn của mình đều ước ao như vậy.”


Câu hỏi có nên sinh con hay không là một đề tài đặc biệt hóc búa trong các cuộc hôn nhân bạn đồng hành. Phụ nữ ngày nay có quyền thẳng thắn thừa nhận điều mà các thế hệ trước không bao giờ dám nói — rằng họ kinh hãi ý nghĩ có em bé, họ không tin mình sẽ là người mẹ tốt, và họ sợ việc có con sẽ làm nguội lạnh tình cảm vợ chồng. Họ hoàn toàn tự do đưa ra quyết định không sinh con, chấm hết. Đây là điểm rất mới. Theo truyền thống, người ta mặc định thiên chức của phụ nữ là sinh con. Và phần lớn phụ nữ vẫn muốn như vậy. Làm mẹ được coi là đỉnh cao trải nghiệm của một người phụ nữ. Đàn ông cũng được kỳ vọng là phải muốn có con để nối dõi tông đường và chứng minh bản lĩnh nam nhi. Tuy nhiên, đàn ông không phải chịu áp lực sinh học và thời gian nặng nề như phụ nữ.


Nhưng tôi tìm thấy những thái độ rất khác biệt ở các cặp vợ chồng bạn đồng hành này. Những người vợ như Beth cảm thấy hoàn toàn tự do để nói không với việc sinh con — bất chấp sự khao khát của người chồng. Họ không sợ đưa ra một quyết định có thể gây thất vọng tràn trề cho bạn đời. Những người chồng khát khao có con cũng không còn tự cho mình cái quyền được ép buộc vợ phải theo ý mình. Một số người, giống như Kit, chọn cách kiên nhẫn chờ đợi, hy vọng một ngày vợ mình sẽ thay đổi tư duy; số khác thì chủ động thuyết phục vợ cân nhắc lại. Khi chứng kiến nỗi đau đớn dằn vặt của Kit lúc cô sảy thai, Beth đã quyết định thử lại lần nữa — không hẳn vì bản thân cô, mà là vì Kit và vì chính cuộc hôn nhân này.


“Kit có san sẻ việc nuôi dạy con ngang bằng với cô không?” Tôi hỏi.


“À, bạn bè ghen tị với tôi suốt,” Beth hào hứng. “Tôi và Kit thực sự là hai cộng sự cùng nhau nuôi dạy con. Chúng tôi phân chia các đầu việc rõ ràng, từ việc lái xe đưa đón con cho đến việc thay phiên nhau hỗ trợ tại hợp tác xã trường mầm non của cháu. Tôi thì nghiêm khắc hơn trong việc rèn rũa kỷ luật. Anh ấy thì khéo léo hơn trong việc giảng giải, thủ thỉ với con. Hai vợ chồng luôn có sự đồng điệu tuyệt vời trong phương pháp giáo dục và chọn trường cho con, dù tôi thường là người chủ động lên kế hoạch trước. Tôi lo việc mua sắm quần áo, đặt lịch hẹn bác sĩ, chọn trường cho năm học tới, vân vân. Anh ấy thì kèm bé Martha tập đàn piano, và dạy cu Sam tập đi xe đạp hai bánh bỏ bánh phụ. Tôi nghĩ các con tôi đang được lớn lên trong hạnh phúc. Tôi hy vọng cuộc đời chúng sau này sẽ bình yên hơn tuổi thơ của tôi.”


Beth và Kit cân nhắc từng khía cạnh trong việc nuôi dạy con cái, họ phân chia sòng phẳng từ việc dọn dẹp cho đến những việc lặt vặt chạy ngoài đường. Beth thẳng thắn thừa nhận cô gặp khó khăn với cái gọi là "tố chất bỉm sữa" và việc cùng san sẻ vai trò giúp cô giảm bớt áp lực rất nhiều. Khía cạnh duy nhất không thể phân chia hay thương lượng chính là quá trình mang thai và cho con bú. Nhưng Kit và những người cha như anh đã tham gia vô cùng tích cực vào các lớp học tiền sản và sẵn sàng hỗ trợ hết mình trong phòng sinh. Họ có thể thuần thục thay tã, thức đêm chăm con ốm, nướng bánh, dọn dẹp bãi chiến trường màu vẽ của con, và làm hầu hết những việc mà từ trước đến nay xã hội mặc định là của người mẹ.


Nhưng việc cùng gánh vác vai trò này cũng làm nảy sinh những vấn đề mới. Vì hai vợ chồng lớn lên trong hai môi trường hoàn toàn khác nhau, chẳng có lý do gì để cam đoan rằng họ sẽ đồng thuận trong từng chi tiết nhỏ nhặt như việc cai sữa, luyện đi vệ sinh, định hướng các mối quan hệ bạn bè của con, giờ giới nghiêm, rèn luyện lễ phép, thời gian xem tivi, cách xử lý khi con hung hăng, cùng hàng tá vấn đề phát sinh khác. Khi cả hai cùng có quyền hạn ngang nhau trong việc dạy con, xung đột là điều không thể tránh khỏi. Sự cạnh tranh để giành tình cảm của đứa trẻ — “Đêm qua con gọi mẹ hay gọi bố trước?” — là một khía cạnh hoàn toàn mới trong đời sống gia đình hiện đại.


Tôi nhận thấy một điều khá thú vị: mặc dù các cặp đôi thường thảo luận rất kỹ về những vấn đề vĩ mô như định hướng tôn giáo cho con trước khi đứa trẻ chào đời, nhưng những chuyện vụn vặt thường nhật — phương pháp kỷ luật, ăn uống, nếp sinh hoạt gia đình, trách nhiệm đối với các công việc không tên và việc chăm sóc hằng ngày — thường lại không được bàn bạc trước, và chỉ được mang ra mổ xẻ khi có rắc rối phát sinh. Hệ quả là, ngay cả những cặp đôi vốn có thói quen lập kế hoạch cẩn thận cũng thấy mình rơi vào những tình huống dở khóc dở cười mà đáng lẽ ra họ đã có thể phòng tránh. Việc cùng nhau làm cha mẹ (coparenting) trong mọi kiểu gia đình vẫn là một sự sắp xếp hoàn toàn mới mẻ. Mỗi cặp đôi vẫn đang phải vừa đi vừa dò dẫm, vừa cố gắng tự vẽ nên bản đồ cho hành trình của riêng mình. Việc chuyển dịch một ý tưởng tiến bộ như "cùng nhau làm cha mẹ" thành hiện thực chăm sóc những đứa trẻ bằng xương bằng thịt quả thực là một thử thách gian nan.


Sau một tiếng trò chuyện, tôi hỏi Beth: “Liệu có điều gì có thể làm đổ vỡ cuộc hôn nhân này không?”


Sau một vài giây suy nghĩ, cô trả lời: “Sự phản bội. Dù là anh ấy hay tôi. Ngay sau buổi hẹn hò đầu tiên, chúng tôi đã thống nhất rõ ràng rằng cả hai muốn một mối quan hệ một lòng một dạ. Điều này không có nghĩa là chúng tôi không thể có bạn khác giới, nhưng về mặt tình dục và tình cảm, hai đứa đã có một thỏa thuận thép. Cả hai đều hiểu cuộc sống luôn đầy rẫy những cám dỗ, nhưng chung thủy là một sự lựa chọn. Phản bội không phải là thứ bạn vô tình trượt chân ngã vào. Đó là một sự lựa chọn. Chung thủy là một sự rèn luyện kỷ luật,” cô khẳng định với một niềm tin đạo đức sắc đá. “Đối với chúng tôi, điều đó là tối thượng, vì nó liên quan đến lòng tin cốt lõi, thứ cho phép mỗi người được hoàn toàn là chính mình.”


“Đó từng là một sự thay đổi rất lớn đối với cô đúng không?”


Cô mỉm cười: “Đúng vậy bác ạ. Thuở ban đầu mới quen nhau, tôi hay lo lắng về các mối quan hệ phụ nữ xung quanh anh ấy. Gã người yêu cũ của tôi ngày xưa suốt ngày bỏ rơi tôi để chạy theo người khác, rồi cứ độ ba tuần anh ta lại lầm lũi quay về. Tôi nhận ra chính mình ngày xưa cũng từng làm như vậy. Tôi thường cố tình bị cảm nắng người khác như một cách để tự kết liễu một mối quan hệ. Lúc đó tôi còn quá non nớt và không chịu nổi cảm giác cô đơn. Vì vậy, khi đến với Kit, hai đứa rất rạch ròi về tầm quan trọng của lòng tin. Nếu sự phản bội xảy ra, mối quan hệ này sẽ lập tức chấm dứt. Nhưng giờ đây chúng tôi không còn sợ hãi chuyện đó nữa,” cô lắc đầu khẳng định. “Điều đó sẽ không bao giờ xảy ra.”


Nhìn nhận một cách vô cùng thực tế về những hiểm họa và cám dỗ của thế gian, Beth chọn cách dựa vào niềm tin của chính mình và của người chồng để đối mặt với hiểm nguy — chứ không bấu víu vào những giáo điều sáo rỗng, sự trốn tránh hay niềm hy vọng ngây thơ. Kit và Beth tin tưởng sắt đá rằng đối phương là người bản lĩnh trước cám dỗ và mỗi người phải tự chịu trách nhiệm cho hành vi của chính mình. Ngoại tình không bao giờ là chuyện vô tình, như Beth đã nhìn nhận rất rõ: “Đó là một sự lựa chọn. Phản bội không phải là thứ bạn vô tình trượt chân ngã vào.”


Cô mỉm cười hóm hỉnh: “Bác biết không, ngày xưa rũ bỏ những thói quen cũ khó lắm. Tôi chuyên đời có thói quen lục túi quần của anh ấy, cô biết đấy, để xem có số điện thoại hay tên của người phụ nữ nào khác không. Và tất nhiên là tôi tìm thấy đầy, vì đặc thù công việc của anh là phải làm việc với phụ nữ. Tôi từng ghen lồng ghen lộn lên mỗi khi anh đi ăn trưa với cô này cô nọ, và anh sẽ thẳng thắn bảo: ‘Ủa, chuyện hiển nhiên mà em. Chúng tôi là đồng nghiệp và là bạn bè.’ Sự nghi ngờ của tôi từng khiến anh nổi trận lôi đình. Nhưng sau đó cả hai cùng hiểu ra một điều tối quan trọng: chúng tôi không được phép biến cuộc đời của người kia thành một nhà tù, vì giá trị của mối quan hệ này nằm ở chính sự tự do. Tôi có những người bạn nam rất thân, và anh ấy cũng có những cô bạn gái tri kỷ.”


“Đã bao giờ cô bị lung lay trước cám dỗ ngoại tình chưa?”


“Đương nhiên là có chứ bác, chuyện đó rất con người. Tôi không nghĩ cuộc sống này thiếu đi những sức hút. Nhưng tôi không lo lắng về chuyện đó vì tôi biết mình sẽ không bao giờ cho phép nó tiến xa hơn. Tôi luôn chủ động đảm bảo mình không bao giờ rơi vào những tình huống quá nhạy cảm. Nếu thấy có dấu hiệu, tôi sẽ lập tức cắt đứt. Chuyện đó dễ ợt mà.”


“Tôi đoán cô chưa từng bị quấy rối tình dục hay rơi vào những tình huống vượt ra ngoài tầm kiểm soát trong công việc?”


“Vâng, tôi may mắn chưa từng phải đối mặt với chuyện đó trong sự nghiệp của mình.”


Beth đang chủ động từng ngày để bảo vệ tổ ấm của mình. Khoảnh khắc cô cảm thấy có một sự xao nhãng, cô sẽ ngầm ra tín hiệu cho người đàn ông kia và cho chính mình rằng: Tôi là người đã có gia đình, đừng có ý đồ gì. Và cô lập tức hành động để dập tắt cả ham muốn của mình lẫn ý định của đối phương. Sự thẳng thắn và bản lĩnh này của cô có lẽ sẽ khiến thế hệ bà ngoại của cô phải kinh ngạc.


“Giữa hai vợ chồng chưa từng có một giây phút hoài nghi nào cả. Thực sự là chưa bao giờ. Ý tôi là, tôi biết hai đứa sẽ còn phải cùng nhau trải qua bốn mươi năm cuộc đời với đủ thăng trầm dâu bể, nhưng việc nghĩ rằng chúng tôi không thể đi cùng nhau đến cuối đời là một điều hoàn toàn không tưởng. Và tôi biết anh ấy cũng cảm thấy như vậy. Niềm tin đó mang lại cho bạn một cảm giác an toàn và bình yên đến lạ kỳ, biết rằng mình không bao giờ phải tự dày vò bằng những câu hỏi dằn vặt nữa. Tôi không biết liệu anh ấy có diễn đạt thành lời như vậy không, nhưng tôi biết chắc chắn rằng, đó chính là cái cốt lõi làm nên cảm giác an tâm của chúng tôi — giữa một thế giới đầy rẫy những bất an này.”

 
 
 

Bài đăng gần đây

Xem tất cả
Dám Là

CHƯƠNG 1. HIỆN HỮU VÀ LÒNG DŨNG CẢM Theo đúng tôn chỉ của Quỹ Terry rằng chuỗi bài giảng này sẽ bàn về "tôn giáo dưới ánh sáng của khoa học và triết học", tôi đã chọn một khái niệm nơi các vấn đề thần

 
 
 
Dũng cảm chuyển hóa cuộc đời bạn

Phần 1 1. Lời mở đầu: Tầm vóc của Carl Jung và Paul Tillich Chào mừng tất cả các bạn. Tôi là Robert Moore, người sẽ đồng hành và cùng các bạn suy ngẫm về những chủ đề ngày hôm nay. Việc chúng ta nỗ lự

 
 
 
Những nghi thức chuyển giao tự tạo

Virginia Hine Vài năm trước khi qua đời vào năm 1982, Virginia Hine—Thạc sĩ, nhà nhân học xã hội đồng thời là tác giả của các tác phẩm People, Power, Change (1970), Lifeway Leap (1973) và Last Letter

 
 
 

Bình luận


bottom of page