Phân tích tâm lý như một nghi lễ nhập môn
- Minh Đào
- 23 thg 7
- 54 phút đọc
CHƯƠNG 5: PHÂN TÍCH NHƯ MỘT TIẾN TRÌNH NHẬP MÔN
Bài giảng, Mùa thu năm 1985
Để bắt đầu xem xét việc phân tích tâm lý như sự nhập môn hay như một tiến trình nhập môn, trước hết chúng ta nên suy ngẫm về trị liệu tâm lý nói chung như một tiến trình nghi lễ. Tôi đã quan tâm đến chủ đề này từ khá lâu. Tuy nhiên, khi mới bắt đầu nghiên cứu về tâm lý học nhập môn—tức là các góc nhìn tâm lý học về sự nhập môn và nghi lễ—tôi chưa nhìn nhận nó theo cách mà tôi đang đề cập hiện nay. Ban đầu, tôi nghiên cứu tâm lý học nhập môn vì tôi có một số thân chủ khá thú vị trong quá trình trị liệu, họ đến từ nhiều nhóm huyền thuật và các giáo phái khác nhau. Việc đào sâu vào tâm lý học huyền thuật đã dẫn dắt tôi đến chủ đề rộng lớn hơn là các tôn giáo thay thế, và tôi đã đồng tác giả một cuốn sách về trải nghiệm giáo phái với Gordon Melton (1982). Dù vậy, tôi vẫn muốn viết một cuốn sách về tính đa dạng của trải nghiệm huyền thuật cũng như tâm lý học huyền thuật.
Khoảng mười năm trước (vào những năm 1970), tôi đã thực hiện nghiên cứu thực địa về huyền học, trò chuyện với các thuật sĩ và quan sát các thực hành huyền thuật ở nhiều nơi trên đất nước. Tôi sớm nhận ra rằng nhiều hình thức thực hành phép thuật trong các nhóm huyền học này đều gắn liền với sự nhập môn. Biểu tượng gốc của sự nhập môn là trung tâm của mọi hoạt động mà các thuật sĩ thực hiện. Họ quy chiếu mọi thứ theo khái niệm nhập môn. Họ liên tục bàn về các giai đoạn khác nhau trên con đường nhập môn, về dấu ấn và hoa trái của sự nhập môn, cùng những điều tương tự. Điều này khiến tôi hứng thú với các động lực xã hội và tâm lý liên quan, từ đó dẫn tôi đến việc nghiên cứu nhà nhân học văn hóa Victor Turner.
Tôi nhanh chóng nhận ra nghiên cứu này không chỉ dừng lại ở tâm lý học về sự nhập môn trong huyền học. Bản thân trị liệu tâm lý chính là một tiến trình nghi lễ nhập môn. Tiến trình trong mọi phương pháp trị liệu tâm lý đều tuân theo cùng ba giai đoạn mà Campbell và Turner đã mô tả về nghi lễ nhập môn, đồng thời vận dụng cùng ba yếu tố nghi lễ: phục tùng, chứa đựng, và diễn hoạt—những yếu tố mà các trưởng lão nghi lễ thời cổ đại từng áp dụng. Cuốn sách Cuộc vượt ngưỡng nhập môn (1967) của Joseph Henderson cũng đã chỉ ra cùng ý tưởng này thông qua các góc nhìn và nguồn tư liệu hơi khác một chút.
Yếu tố đầu tiên là sự phục tùng.
Để bước vào bất kỳ hình thức trị liệu chính thức nào, dù là trị liệu cá nhân hay trị liệu nhóm, bạn đều phải phục tùng một tiến trình có cấu trúc nào đó. Bạn phải từ bỏ một số khía cạnh thuộc quyền tự chủ của mình. Bạn phải chấp nhận một sự sắp đặt nhất định về thời gian, và phải hy sinh, tiêu tốn các nguồn lực của mình cho tiến trình trị liệu. Về bản chất, điều đó hoàn toàn giống với việc bước qua ngưỡng cửa nhập môn đầu tiên. Bước qua ngưỡng cửa này chính là một sự phục tùng. Trong các nghi lễ cổ sơ, việc người ta chịu nhiều sự nhục nhã mang tính nghi lễ khi bước qua ngưỡng cửa đầu tiên là nhằm nhấn mạnh tầm quan trọng của sự phục tùng. Nói cách khác, bạn không thể giữ cái cổ cứng đờ, bướng bỉnh mà dấn thân vào sự nhập môn được. Điều tương tự cũng đúng trong bất kỳ phương pháp trị liệu nào. Bạn phải phục tùng tiến trình, nếu không bạn sẽ không thể thành công.
Yếu tố tiếp theo là sự chứa đựng.
Trong bất kỳ hình thức trị liệu nào, luôn có một sự quy chuẩn hóa các hiện tượng cảm xúc và hành vi. Tôi nghĩ bạn có thể thấy điều này rõ nhất trong trị liệu nhóm, bởi vì nhóm phải có những quy tắc—cả bộc lộ lẫn ngầm hiểu—để quy chuẩn hóa những loại hành vi nào là quan trọng và phù hợp, nhằm "chứa đựng" sự điên rồ trong nhóm. Bạn chỉ có thể thực hiện một số hành vi nhất định trong phạm vi nhóm. Nhóm mang lại cảm giác an toàn, là một bình chứa cho những cảm xúc mãnh liệt. Đây chính là vấn đề cốt lõi trong bất kỳ nhóm Trị liệu Toàn diện (Gestalt) nào hoặc bất kỳ liệu pháp nào thuộc phong trào tiềm năng con người hay nhân văn. Khi bạn trải qua những cảm xúc cực kỳ mãnh liệt trong không gian trị liệu nhóm, nhóm phải bao bọc lấy người đó và cho họ cảm giác được ôm ấp về mặt cảm xúc, để họ không rơi vào trạng thái loạn thần. Có thể bạn đã nghe nói về Liệu pháp Tiếng thét Nguyên sơ (Primal Scream) và các liệu pháp rất dữ dội khác cũng hoạt động theo cùng nguyên lý này. Khi được thực hiện đúng cách, nhóm sẽ cung cấp sự chứa đựng đó.
Trong trị liệu một-đối-một, mối quan hệ giữa nhà trị liệu và thân chủ phải cung cấp phần lớn sự chứa đựng. Điều này thậm chí còn được thảo luận dưới dạng "các vấn đề khung trị liệu". Các nhà trị liệu thường nói về tầm quan trọng của việc quy chuẩn hóa giờ giấc mà thân chủ đến. Người đó thường được kỳ vọng sẽ đến vào một giờ cố định, trả một khoản phí nhất định và đồng ý với các quy tắc nhất định mà theo đó việc trị liệu được tiến hành. Điều này không phải là tùy tiện hay chỉ vì sự tiện lợi của nhà trị liệu. Bối cảnh trị liệu phải tạo ra một cảm giác an toàn, nếu không các chất liệu từ vô thức sẽ không thể bộc lộ một cách tự do. Tại sao? Bởi vì nếu bạn muốn chạm vào sự điên rồ của chính mình, bạn cần sự đảm bảo rằng người đang lắng nghe sẽ không hoàn toàn hoảng sợ. Bạn vốn đã có đủ rắc rối khi phải đối mặt với các vấn đề của riêng mình, và bạn không muốn lại phải đi chăm sóc cho một nhà trị liệu đang hoang mang.
Hãy suy ngẫm điều này theo góc độ phát triển. Điều này rất thường xảy ra với trẻ nhỏ khi chúng có tất cả những cảm xúc dữ dội đó. Một người làm cha mẹ "đủ tốt" có thể xoa dịu và xử lý cảm xúc dữ dội của đứa trẻ mà không bị cuốn vào sự tức giận của chính mình. Nhưng khi cha mẹ để cảm xúc dữ dội của con kéo mình vào cơn giận dữ của bản thân, thì không còn không gian chứa đựng nào dành cho đứa trẻ nữa. Ngày nay chúng ta hiểu biết về điều này nhiều hơn trước đây. Trên thực tế, đứa trẻ thường quan sát thấy bố mẹ đang bừng bừng tức giận đến mức chẳng có lý do gì để trông mong họ giúp chứa đựng cảm xúc của mình. Đứa trẻ lại phải giúp cha mẹ chứa đựng cơn giận của chính họ! Chúng ta gọi đây là "xu hướng đứa trẻ cố gắng chữa lành cho cha mẹ".
Các nghiên cứu tâm phân học gần đây đã hiểu rõ hơn về điều này. Trẻ em luôn cố gắng chữa lành cho cha mẹ chúng, nhưng đáng lẽ chúng không phải làm việc đó. Bởi vì khi đứa trẻ phải làm cha làm mẹ cho chính cha mẹ mình, thì đứa trẻ đó sẽ không nhận được sự chăm sóc đúng đắn của người làm cha làm mẹ. Đối với bất kỳ tình huống trị liệu nào, mục tiêu là phải có sự chứa đựng. Điều này đúng bất kể sử dụng hình thức trị liệu nào, bất kể phương châm lý thuyết ra sao. Việc quyết định có làm việc với một nhà trị liệu cụ thể hay không đồng nghĩa với việc quyết định xem nhà trị liệu đó có thực sự có thể tạo ra một bình chứa cho tất cả sự điên rồ mà bạn đang có hay không. Liệu nhà trị liệu có hoảng sợ nếu tôi nói ra sự thật sâu sắc, tăm tối và bẩn thỉu về bản thân mình? Bạn cần một cảm giác sâu sắc rằng nhà trị liệu có thể xử lý bất cứ điều gì bạn nói, bất kể bạn thể hiện niềm đau, sự giận dữ hay bất cứ điều gì của mình như thế nào.
Dĩ nhiên, bạn không thể trông chờ nhà phân tích giữ được bình tĩnh nếu bạn rút một chiếc dao phay ra và đe dọa họ, hay điều tương tự như thế, giống như một thân chủ từng làm với một người bạn thuộc phái Rogers của tôi. Bạn biết đấy, một nhà trị liệu phái Rogers được cho là sẽ phản hồi lại cho thân chủ mọi điều thân chủ nói. Chà, nhà trị liệu này hỏi thân chủ: "Anh đang cảm thấy thế nào?" Thân chủ đáp: "À, tôi cảm thấy muốn đi tiểu vào người ông." Nhà trị liệu đã phản hồi đúng theo những gì mình được học: "Ồ, anh cảm thấy muốn đi tiểu vào người tôi sao?" Bạn thấy đấy, ông ấy đã rất cố gắng để làm một nhà trị liệu phái Rogers tốt, nhưng ông ấy lại không tạo ra được nhiều sự chứa đựng. Người kia bắt đầu leo lên bàn làm việc và kéo khóa quần xuống. Đến lúc này thì nhà trị liệu quên sạch quá trình đào tạo phái Rogers của mình và lập tức chuyển hướng cuộc trò chuyện một cách quyết liệt!
Năng lực chứa đựng của người tư vấn là yếu tố cốt lõi dẫn đến thành công của trị liệu. Bạn phải cảm thấy như thể nhà phân tích có thể kiểm soát tình hình theo một cách nào đó, ít nhất là ở mức độ bạn cần sự kiểm soát cho bối cảnh cụ thể đó. Các chất liệu bạn phải xử lý càng gây xáo trộn bao nhiêu, bạn càng cần người tư vấn phải vững vàng bấy nhiêu để bạn có thể phơi bày chúng. Đôi khi phải mất một thời gian dài bạn mới có thể thổ lộ với nhà trị liệu những điều cần nói, bởi vì bạn không chắc liệu nhà trị liệu có gánh vác nổi hay không.
Trên thực tế, chúng ta càng nghiên cứu kỹ các động lực này, chúng ta càng nhận ra rằng việc mọi người chậm trễ trong việc đi sâu vào các vấn đề của họ chính là hệ quả trực tiếp từ việc chúng ta (với tư cách là nhà phân tích) đã vô thức truyền đạt cho họ rằng mình không thể gánh vác nổi. Ngày nay chúng ta biết nhiều hơn về điều này so với trước đây. Trước đây, chúng ta thường đổ mọi lỗi lầm cho người đang trị liệu. Sự thiếu tiến bộ là do lỗi của người được phân tích đang kháng cự. Họ chỉ đang chống lại sự giúp đỡ của chúng ta. Giờ đây chúng ta nhận ra rằng một người được phân tích có thái độ kháng cự có thể xuất phát từ một nhà trị liệu mang tâm lý kháng cự, và đó là tình trạng của hầu hết chúng ta.
Nói một cách chính xác hơn, sự điên rồ cá nhân của một nhà phân tích cụ thể có thể ngăn cản thân chủ đối mặt với các vấn đề và xung đột quan trọng. Đây là vấn đề chuyển dịch ngược. Các nhà phân tích từng nghĩ rằng vấn đề chỉ đơn thuần là sự chuyển di, rằng việc thân chủ không giải quyết được các vấn đề của mình là do bản thân thân chủ. Đó không thể là vấn đề của tôi với tư cách là nhà phân tích chỉ vì tôi không thể trở thành người mà bạn cần trong giờ trị liệu cụ thể này. Nói cách khác, nếu tôi với tư cách là nhà phân tích của bạn gặp khó khăn trong việc trở thành "người mẹ đủ tốt" cho bạn vào giờ này, tôi có thể chỉ cần gọi đó là sự chuyển di và đổ lỗi cho bạn.
Sau sự chứa đựng, yếu tố thứ ba là sự diễn hoạt.
Hầu như mọi liệu pháp đều cho thân chủ cơ hội tập luyện các hành vi của Giai đoạn Ba trước khi họ phải tự mình thử sức. Trong một số liệu pháp, bạn thực sự diễn xuất nó ra trong kịch kịch tâm lý (psychodrama). Khi một người nói: "Tôi đơn giản là không thể nói chuyện với bố tôi về điều đó," nhóm sẽ đáp lại: "Vậy thì hãy để John làm bố bạn và hãy nói chuyện với anh ấy." Do đó, trong sự an toàn, sự chứa đựng của nhóm kịch tâm lý đó, người đó lần đầu tiên có thể bắt đầu bộc lộ với bố về sự giận dữ của mình, và thực sự diễn hoạt trong bối cảnh nghi lễ đó những gì cần phải nói và làm ở đời thực ngoài kia. Việc thực sự nói và làm những điều này trước mặt người bố đời thực sẽ đưa người đó vào giai đoạn diễn hoạt của tiến trình nhập môn.
Xét về mặt phân tích cá nhân, hay trị liệu cá nhân, những người theo phái Jung thường sử dụng một hình thức diễn hoạt gọi là "tưởng tượng chủ động". Giả sử bạn có một giấc mơ, trong đó bạn có một cuộc chạm trán kinh hoàng với một con gấu xám, nó làm bạn khiếp sợ và tỉnh dậy trong trạng thái mồ hôi đầm đìa. Bạn biết rằng con gấu xám này là một cái gì đó bên trong bạn mà bạn phải đối mặt, nếu không nó sẽ tóm lấy bạn. Vì vậy, sau đó, khi đã bình tĩnh lại, bạn bước vào trạng thái tưởng tượng chủ động với con gấu xám này. Bạn quay trở lại giấc mơ của mình, và như Jung nói, bạn mơ tiếp giấc mơ đó, nhưng lần này thay vì bỏ chạy, bạn cố gắng diễn hoạt một hình thức tương quan nào đó với con gấu xám. Bạn cố gắng tìm hiểu xem con gấu muốn gì ở bạn. Tại sao nó lại đuổi theo bạn? Rốt cuộc cái thứ này là gì? Bạn diễn hoạt tất cả những điều này trong sự tưởng tượng chủ động, và trong nhật ký của bạn.
Tôi không biết có bao nhiêu người trong số các bạn giữ thói quen viết nhật ký, nhưng những gì nhật ký phơi bày thật kinh ngạc. Nhiều người nghĩ rằng viết nhật ký chỉ là tự bịa ra mọi thứ từ cái tôi (ego) của mình, nhưng điều đó chỉ chứng tỏ họ vẫn chưa từng thử làm. Khi bạn thực sự giữ nhật ký về những điều này, bạn sẽ khó mà nghĩ rằng mình đang tự bịa ra tất cả, bởi vì bạn không hề biết con gấu xám sẽ trả lời câu hỏi của bạn như thế nào, và hóa ra nó lại nói một số điều bạn cần nghe—những điều làm bạn rất ngạc nhiên và vô cùng hữu ích.
Có nhiều hình thức diễn hoạt khác. Ví dụ, một số hình thức trị liệu hướng đến hành vi nhiều hơn như liệu pháp phái Adler, sẽ nhận một thanh niên rất nhút nhát, người mắc chứng sợ hãi và xấu hổ khi đi trên đường phố trung tâm, và nói: "Được rồi, hôm nay tôi muốn anh cầm quả bóng rổ này và đập bóng đi dạo dọc Đại lộ Michigan trong ba mươi phút, sau đó đập bóng ngược trở lại Phố State, rồi quay lại và đập bóng lên văn phòng của tôi một lần nữa." Đó là một sự diễn hoạt. Việc đập bóng rổ đi dọc Đại lộ Michigan sẽ xử lý nỗi sợ bị người khác dòm ngó bằng cách trực tiếp đối diện với nó. Khi quay trở lại văn phòng, họ nhận ra tất cả những điều này và biết mình đã sống sót qua nó. Đó là một dạng kỹ thuật giải nhạy cảm, nhưng đó chính là sự diễn hoạt. Hầu như toàn bộ trị liệu đều có hình thức diễn hoạt mà bạn thường thấy trong các nghi lễ.
Ba yếu tố nghi lễ này—phục tùng, chứa đựng, và diễn hoạt—đều có mặt trong mọi hình thức trị liệu. Vậy còn khía cạnh nhập môn thì sao?
Mọi hình thức trị liệu thuộc về tâm lý học chiều sâu theo bất kỳ nghĩa nào đều chứa đựng khía cạnh chịu đựng mà chúng ta đã thảo luận. Trong chừng mực mà một liệu pháp có bất kỳ sự định hướng nào về sự thấu suốt hay chiều sâu, nó đều phơi bày những chất liệu mà cá nhân đó coi là đáng xấu hổ ở một góc độ nào đó. Nó cho thân chủ một không gian an toàn để họ có thể giải bày. Khi phát hiện ra môi trường chấp nhận và không phán xét này, họ có thể nói về ngày càng nhiều chất liệu mang tính đe dọa, ngày càng nhiều chất liệu mà lẽ ra họ sẽ thấy xấu hổ trong bất kỳ bối cảnh nào khác, thực hiện điều mà phái Jung gọi là "làm việc với Phần Bóng (shadow work)". Đó luôn là một công việc đau đớn đòi hỏi nhiều sự chịu đựng trong chừng mực mà thân chủ có thể dấn thân vào đó.
Tuy nhiên, khía cạnh ý nghĩa nhất của trải nghiệm nhập môn trong mọi hình thức trị liệu tâm lý lại là vấn đề chứa đựng. Hai nhà tâm phân học phái Freud hiện đại quan trọng, D. W. Winnicott và Robert Langs, nhấn mạnh vào khía cạnh chứa đựng của sự phân tích nhiều hơn hẳn so với phái Freud truyền thống. Đối với các nhà phân tích phái Freud cổ điển, sự chuyển dịch chỉ đơn thuần là lặp lại một mối quan hệ cũ ngay tại văn phòng của nhà phân tích. Nói cách khác, bạn sẽ đối xử với nhà phân tích của mình giống như cha hoặc mẹ của chính bạn, lặp lại các mối quan hệ đối tượng cũ với họ, và nhà phân tích sẽ quan sát hành vi của bạn để tìm manh mốt về cách bạn nhìn nhận và tương tác với cha mẹ mình. Ngược lại, Winnicott và Langs mô tả mối quan hệ giữa nhà phân tích và người được phân tích như một bình chứa.
Điều này đặc biệt thú vị vì Jung, ngay từ những ngày đầu, đã nói rằng sự chuyển dịch giữa nhà phân tích và người được phân tích giống như một bình chứa luyện kim, một bình thủy tinh trong đó vật chất nguyên sơ (prima materia) được đun nấu. Một số người phái Freud đã chế nhạo Jung vì đã nói về sự chuyển dịch như một bình chứa, về mối quan hệ giữa nhà phân tích và người được phân tích như một chiếc lò luyện của sự chuyển hóa. Ngày nay, một số người phái Freud đã bắt đầu quay sang ủng hộ quan niệm của Jung về mối quan hệ giữa nhà phân tích và người được phân tích.
Bản thân mối quan hệ chuyển dịch, dưới góc nhìn của phái Jung, là một không gian linh thiêng, một không gian chuyển hóa. Nó tạo ra một không gian linh thiêng trong phòng tư vấn khi nó hoạt động đúng cách. Dĩ nhiên, một điều về không gian linh thiêng là bạn không bao giờ có thể chắc chắn khi nào nó được thiết lập đúng đắn hay được coi sóc đúng cách. Ngay cả những trưởng lão nghi lễ giỏi nhất cũng không thể đảm bảo nó sẽ luôn ở đó vào bất kỳ thời điểm nào. Tất cả các thuật sĩ nghi lễ thời xưa đều biết điều đó, và những người từng dẫn dắt các nghi lễ Ấn Độ Giáo cũng biết điều đó. Một trong những lý do khiến các bộ tộc xưa vô cùng cẩn trọng về nghi lễ không phải vì họ nghĩ mình có thể làm chủ được nó, mà vì họ biết nó rất mong manh và dễ bị biến thành vô hiệu. Điều tương tự cũng đúng đối với không gian chuyển hóa trong phân tích. Nó là một thứ mong manh. Bạn phải dành sự chăm sóc rất lớn cho nó.
Các lý thuyết của phái Jung về Mặt Nạ (persona), Cái Tôi (ego), và Bản Thể (Self) vận hành ở đây như thế nào? Luôn có một sự tổ chức Mặt Nạ / Cái Tôi đặc trưng cho bất kỳ cấu trúc nào của bất kỳ thế giới đời sống bình thường nào, bất kỳ sự tồn tại nào. Nói cách khác, bất cứ khi nào bạn có thể tự thu xếp bản thân một cách tương đối ổn thỏa, bạn không bao giờ thiếu đi một Mặt Nạ. Bạn đã cấu thành một Mặt Nạ có vẻ phù hợp với vị trí xã hội cụ thể mà bạn đang chiếm giữ. Những người theo phái Jung không coi Mặt Nạ là một điều xấu, trái ngược với một số góc nhìn đơn giản hóa. Tôi lặp lại, có một Mặt Nạ không phải là điều xấu. Nếu bạn không có một Mặt Nạ vận hành tốt, bạn sẽ gặp một vấn đề lớn. Mặt khác, khi bạn đồng nhất quá mức với một Mặt Nạ và nghĩ rằng mình "chính là" Mặt Nạ đó, thì bạn lại gặp một vấn đề lớn khác.
Do đó, có một Cấu trúc Mặt Nạ - Cái Tôi Một (a Persona-Ego Organization One), một giai đoạn giải-cấu-trúc (hy vọng là mang tính sáng tạo), và sau đó là Cấu trúc Mặt Nạ - Cái Tôi Hai (Persona-Ego Organization Two). Giờ đây, khi cấu trúc trước bắt đầu có nhu cầu phải chết đi, bạn sẽ bước vào tiến trình trị liệu (hy vọng là như vậy), hoặc một mối quan hệ phân tích nếu bạn có khả năng tiếp cận, trong đó Bản Thể được hội tụ nhiều hơn. Thông thường trong cấu trúc cũ, có một sự chia rẽ lớn hơn giữa Phần Bóng và Mặt Nạ trong Cái Tôi của một người. Phần lớn thời gian, những gì xảy ra là một sự bùng phát, một sự trỗi dậy của Phần Bóng đóng vai trò như "tiếng gọi". Tiếng gọi thực sự đến khi Phần Bóng đập tan rào cản vốn đã dồn nén nó khỏi ý thức. Đột nhiên người đó làm một điều gì đó, hoặc cảm thấy một điều gì đó, hoặc suy nghĩ một điều gì đó mà chỉ biết thốt lên: "Đây không phải là tôi. Ôi Chúa ơi. Chắc tôi sắp điên mất. Chắc tôi đang bị suy nhược thần kinh."
Nói một cách tích cực thì sau đó người đó sẽ bước qua ngưỡng cửa đầu tiên để vào bình chứa chuyển hóa. Ở đây chúng ta thực sự thấy việc phân tích như một tiến trình nhập môn, bởi vì bối cảnh phân tích đóng vai trò như một bình chứa, một bình cất cho toàn bộ tiến trình. Bản Thể được hội tụ ở đó, và theo một nghĩa nào đó thì không còn lại nhiều chức năng của Cái Tôi. Tại thời điểm này, mục đích của nhà phân tích là hỗ trợ cho Cái Tôi đang chuyển hóa của người đó. Phân tích phái Jung coi đây là một tiến trình phát triển nhằm hình thành một trục Cái Tôi - Bản Thể phù hợp hơn, diễn ra liên tục, nơi Bản Thể tương quan với Cái Tôi đang chuyển hóa, từ đó cung cấp một sự hướng dẫn bên trong hướng tới việc cân bằng các mặt đối lập một cách thỏa đáng hơn. Cuốn sách Cái Tôi và Biểu Tượng Gốc (1972) của Edward Edinger có thảo luận về tiến trình này.
Vì vậy, phái Jung nhận ra rằng Phần Bóng thường là tác nhân của Bản Thể. Nói cách khác, Bản Thể đang có ý định gì? Bản Thể đang cố gắng mang lại sự tích hợp và cân bằng nhiều hơn trong nhân cách. Nếu Phần Bóng bị chia rẽ nặng nề khỏi cuộc sống của người này, và họ đang sống một cuộc đời chia rẽ, thì Bản Thể sẽ đứng đằng sau sự trỗi dậy của Phần Bóng vào trong ý thức, và dĩ nhiên nó sẽ xé rách ý thức của người đó. Người đó sẽ nói: "Ôi Chúa ơi, tôi không hề giống như tôi từng nghĩ," và sau đó tiến trình vỡ mộng mang tính sáng tạo sẽ bắt đầu.
Nhà phân tích đóng vai trò gì tại thời điểm này? Trong sự chuyển dịch, bạn chiếu Bản Thể lên con người của nhà phân tích. Bạn trải nghiệm nhà phân tích một cách tạm thời như thể nhà phân tích chính là Bản Thể. Nghĩa là, nhà phân tích sẽ trở thành trục vũ trụ (axis mundi) trong một thời gian vào giai đoạn đầu của sự chuyển dịch. Đôi khi bạn nghe mọi người nói: "Tôi không muốn bị phụ thuộc vào nhà trị liệu." Chà, điều đó có thể hiểu được. Nhưng nếu bạn không sẵn lòng phụ thuộc vào nhà trị liệu, bạn sẽ không tiến được xa. Chừng nào bạn vẫn còn nắm quyền kiểm soát, bạn vẫn chưa phục tùng tiến trình trị liệu, và bạn không thể thả lỏng để đi cùng tiến trình chuyển hóa. Nếu bạn không nới lỏng sự kiểm soát của mình, không "xõa ra", theo một cách nói thông thường, thì các vấn đề sâu sắc của bạn sẽ không thể trỗi dậy một cách nguyên sơ như chúng cần thiết cho một sự chuyển hóa hoàn toàn hiệu quả. Điều đó không kéo dài mãi mãi, nhưng ban đầu bạn phải có khả năng gán cho nhà trị liệu của mình một ý nghĩa thiêng liêng nào đó và đặt niềm tin của bạn vào mối quan hệ chữa lành.
Ở thế giới cổ đại, điều rất rõ ràng là bạn có một vị đạo sư và thầy nắm quyền quản lý một đệ tử, hay một vị trưởng lão nghi lễ và một tín đồ. Con người hiện đại chúng ta thường nghi ngờ sự phục tùng kiểu đó, và điều đó hoàn toàn có lý, nhưng thực tế là khi bạn bước vào một mối quan hệ phân tích, và bạn đang cố gắng để những chất liệu sâu sắc này trỗi dậy, một sự chuyển dịch mang tính biểu tượng gốc sẽ xảy ra, trong đó bạn định vị và trải nghiệm nhà phân tích như trung tâm tổ chức của mình. Bạn sẽ không còn là trung tâm tổ chức trong một thời gian nữa, bởi vì bạn cảm thấy như mình thậm chí không thể tự thu xếp nổi cuộc sống của mình. Giờ đây chúng ta biết từ tâm phân học rằng điều đó hoàn toàn ổn. Không chỉ ổn, mà có lẽ còn là điều cần thiết trong một thời gian. Đó là lý do tại sao bạn cần tìm một nhà phân tích có trách nhiệm, bởi vì khi bạn ở vào vị thế này, bạn cần có sự tin tưởng vào bất kỳ ai mà bạn có mối quan hệ đó. Bạn bắt đầu cần đến họ.
Những vấn đề này thậm chí còn quan trọng hơn trong phân tích phái Freud và tân phái Freud so với trong phân tích phái Jung. Hầu hết các nhà phân tích phái Jung không đẩy sự thoái lùi liên cá nhân đi xa như phái Freud làm. Trong phân tích phái Freud chính thống, bạn có thể đến gặp nhà phân tích bốn hoặc năm lần một tuần và dành phần lớn thời gian nằm trên ghế dài, nơi bạn không thể nhìn thấy nhà phân tích. Nhà phân tích ngồi phía sau bạn. Bạn bắt đầu có đủ loại tưởng tượng về nhà phân tích, bởi vì bạn không có thực tại thể chất của nhà phân tích ngồi ngay trước mặt để kiểm chứng tưởng tượng của mình. Bạn bắt đầu có đủ loại tưởng tượng về việc nhà phân tích đang nghĩ gì, cảm thấy gì và làm gì. Dĩ nhiên, nhà phân tích ngồi ở phía sau ghi chép về cảm xúc của bạn dành cho họ, bởi vì điều đó cung cấp cho nhà phân tích các manh mốt về cảm xúc của bạn đối với cha mẹ mình.
Ngay cả phân tích phái Jung gặp gỡ một, hai hoặc ba lần một tuần vẫn đầu tư rất nhiều vào sự chuyển dịch mang tính biểu tượng gốc. Phân tích phái Jung làm rõ hơn rằng giai đoạn ngưỡng (liminal phase) này sẽ gọi mời các quyền năng thiêng liêng. Nhà phân tích phái Jung nhận thức được sự hiện diện của "người chơi" thứ ba trong phòng, đó là Bản Thể (Self) viết hoa, cái Siêu Tôi, quyền năng siêu cá nhân đang hiện diện. Điều này tương đồng trực tiếp với các quyền năng thiêng liêng mà Eliade đã nói là có mặt trong một tiến trình nhập môn.
Việc khép lại quá trình phân tích thường là sự quay trở lại với sự tồn tại ít nhiều "bình thường". Dĩ nhiên nó sẽ khác, ở chỗ bạn hy vọng rằng mình đã phát triển một kiểu mối quan hệ mới với Bản Thể, nhưng việc hoàn thành phân tích không mang tính ngưỡng như chính tiến trình phân tích. Trong khi bạn đang phân tích, bạn có thể nói về toàn bộ thời gian phân tích như một tiến trình ngưỡng. Vì vậy, bạn có thể nghĩ về các buổi làm việc riêng lẻ như một không gian linh thiêng ở cấp độ vi mô, và bạn có thể nghĩ về toàn bộ thời gian khi bạn đang phân tích sâu ở cấp độ vĩ mô như một giai đoạn ngưỡng.
Còn việc kết thúc phân tích thì sao? Còn các vấn đề chấm dứt trị liệu thì sao? Những người phái Freud có một tưởng tượng rằng bạn thực sự có thể hoàn thành việc phân tích, mặc dù nhiều người trong số họ không bao giờ làm được. Bạn đã nghe nói về Woody Allen và hai mươi lăm năm phân tích phái Freud của ông ấy. Tôi nghĩ hiện giờ ông ấy đang gặp một nhà phân tích phái Jung! Nhưng phái Jung thường không có những quan điểm cứng nhắc như vậy về việc kết thúc. Chúng tôi tin rằng bạn phát triển sự cởi mở hơn đối với những sự thôi thúc của Bản Thể trong việc phát triển trục Cái Tôi - Bản Thể đó, và hy vọng rằng bạn sẽ nhạy bén hơn với các manh mốt mới xuất hiện khi bạn cần bắt đầu một tiến trình chuyển hóa sâu sắc khác, rằng bạn sẽ cảm thấy tự do gọi lại cho nhà phân tích và nói: "Tôi cần gặp ông vài buổi," hoặc "Tôi cần quay lại và xem xét giấc mơ này với ông." Một số nhà phân tích kỳ cựu vĩ đại như Joe Wheelwright và Joseph Henderson, những người đã ở độ tuổi tám mươi, vẫn đến gặp nhà phân tích của họ khi họ cảm thấy có nhu cầu. Điều đó thực tế hơn nhiều. Nó cũng nhất quán hơn nhiều với các phương pháp chữa lành mang tính shaman giáo vốn đặc trưng cho phần lớn lịch sử của loài người chúng ta.
Ý tưởng rằng bạn có thể hoàn thành việc phân tích của mình cũng giống như ý tưởng rằng bạn có thể hoàn thành sự nhập môn của mình. Không có thứ gì gọi là hoàn thành các sự nhập môn của bạn. Một khi bạn vượt qua sự nhập môn mà bạn đang trải qua lúc này, bạn tái lập bản thân, và bạn đạt đến bình nguyên tiếp theo trong cuộc đời, thì sự nhập môn tiếp theo lại tìm đến. Điều tương tự cũng đúng dưới góc nhìn của phái Jung về việc kết thúc phân tích. Mục tiêu là giúp con người vượt qua một vị trí cụ thể trong cuộc đời họ, một phần cụ thể trong hành trình của họ. Bạn giúp họ học cách lắng nghe tốt hơn, trở thành người lắng nghe tốt hơn đối với sự tác động của Bản Thể vào mọi lúc để họ có thể nhạy bén với những gì họ được kêu gọi làm vào bất kỳ thời điểm cụ thể nào trong đời. Bạn không bao giờ nói với họ: "Bây giờ bạn đã phân tích được ba năm, bạn sẽ không bao giờ cần sự chứa đựng nữa." Hoặc: "Bây giờ công việc phân tích của bạn đã hoàn thành."
Hãy suy nghĩ một phút về sự tự phóng đại liên quan đến ý tưởng chữa lành trị liệu, tưởng tượng về một sự chữa lành trị liệu, khi xét đến mô hình tư duy này về cuộc sống con người. Điều đó giống như nói rằng bạn có thể đạt đến một điểm mà bạn đã hoàn thành tất cả sự nhập môn. Tôi không bao giờ cần phải thực hiện bất kỳ sự thay đổi lớn nào nữa. Giống như nói: "Bây giờ tôi đã trải qua khủng hoảng giữa đời rồi, nên khi tôi 65 tuổi và trải qua khủng hoảng nghỉ hưu, tôi sẽ chẳng cảm thấy gì cả." Điều đó thật nực cười, dĩ nhiên rồi. Khi nhìn vào phân tích và trị liệu tâm lý ngày nay, chúng ta phải nhận ra đó là một tiến trình nhập môn liên tục. Không có sự thích nghi nào tồn tại mãi mãi. Vì vậy, hầu hết những người theo phái Jung am hiểu đều có thể coi phân tích như một tiến trình nhập môn. Bạn vượt qua vị trí này, một khía cạnh cụ thể trong hành trình cuộc đời mình, và bạn cố gắng trở nên nhạy bén hơn với Bản Thể vì một lý do rất thực tế. Vậy lý do thực tế đó là gì? Nếu bạn trở nên nhạy bén hơn với Bản Thể, bạn sẽ tránh được điều gì?
Khán giả: Bạn giảm bớt sự lo âu của mình?
Moore: Tôi nghĩ bạn giảm bớt sự lo âu của mình, nhưng tại sao điều này lại giảm bớt sự lo âu của bạn? Tôi nghĩ bạn nói đúng. Bạn không loại bỏ được nó, nhưng tôi nghĩ có một số cách thực sự quan trọng mà theo đó, ở một góc độ nào đó, bạn làm giảm mức độ lo âu của mình. Bạn suy nghĩ về nguyên nhân gây ra sự lo âu của mình, nhưng việc có một chút nhận thức về cấu trúc của tiến trình cũng mang lại sự an tâm.
Khán giả: Nhưng mối quan hệ ở đây là gì? Giảm bớt sự lo âu vẫn không giống như việc xử lý các thực tại đã gây ra nó ngay từ đầu.
Moore: Mối quan hệ ở đây là gì nếu không cố gắng đè nén cái chất liệu Phần Bóng này xuống và gây ra nhiều sự lo âu hơn? Một trong những điều phái Freud đã dạy chúng ta là khi bạn cố gắng giữ cho mọi thứ bị dồn nén, và gặp khó khăn khi làm vậy, đó là lúc bạn thực sự cảm thấy lo âu. Cảm thấy thực sự lo âu có nghĩa là một cái gì đó đang cố gắng ngoi lên. Nếu bạn nhận thức được và đã vun đắp nhận thức rằng Bản Thể luôn cố gắng đưa những điều quan trọng lên để đối mặt, bạn sẽ không nghĩ đó là Satan đang chui ra. Bạn sẽ nghĩ rằng Chúa cũng có thể đứng sau một số hiện tượng kỳ lạ này. Phái Freud có xu hướng sợ vô thức hơn phái Jung—họ gán cho nó tính bệnh lý nhiều hơn.
Bây giờ đừng hiểu lầm tôi. Vô thức có thể nguy hiểm. Nhưng phái Jung tin rằng Bản Thể là một Trung Tâm Tổ Chức vượt lên trên Cái Tôi, liên tục cố gắng truyền đạt cho bạn những điều bạn cần nghe. Vì vậy, khi sự lo âu bắt đầu, nếu bạn đã vun đắp trục Cái Tôi - Bản Thể này, thì bạn bắt đầu tự hỏi Bản Thể đang cố gắng làm cho bạn thấy điều gì. Đối với một tín đồ Kitô giáo, Bản Thể từ góc độ tâm lý tương đồng với sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần hoặc sự tác động của Chúa trong cuộc đời bạn. Về mặt hiện tượng học, chúng rất giống nhau. Trong tâm phân học phái Jung, chúng ta nói về cách chúng ta quan sát Bản Thể vận hành, và chúng ta thấy rằng sự lo âu có ý nghĩa. Chúng ta không nói: "Tôi sắp bị suy nhược thần kinh mất rồi," mà đúng hơn là: "Tôi tự hỏi thông điệp này từ vô thức là gì mà tôi cần phải đối mặt khi tôi có đủ dũng khí."
Một điều tôi nhận thấy ở các nhà phân tích phái Jung là họ không tin vào việc hối thúc tiến trình này. Tôi càng gặp nhiều người trong số họ, tôi càng thuyết phục rằng đây là đặc trưng của các nhà phân tích phái Jung. Họ có thái độ rằng khi tâm trí (psyche) đã sẵn sàng, thì người đó sẽ quay lại và hỏi Bản Thể xem nó muốn gì, và họ không nên bị ép buộc làm vậy cho đến khi họ sẵn sàng. Nói cách khác, họ có thể quay lại quá sớm và bị nuốt chửng trong đó.
Một khái niệm quan trọng khác cần suy ngẫm trong bối cảnh này là "cái tôi giả tạo" (false self). Có một số người nói về động lực của cái tôi chân thật / cái tôi giả tạo (true-self / false-self). Trong phân tích phái Freud có hai nhân vật quan trọng: D. W. Winnicott và Alice Miller. Có những người khác, nhưng không nổi bật bằng. Cả hai đều mô tả các động lực cái tôi giả tạo - cái tôi chân thật. Bạn gần như có thể đọc điều đó như động lực Mặt Nạ - Phần Bóng. Không hoàn toàn là tương đương một-đối-một, và tôi sẽ giải thích lý do bên dưới. Cái tôi chân thật là cái tôi cảm xúc tự phát của cá nhân, vốn thường chịu sự tấn công của cha mẹ trong thời thơ ấu. Cuốn sách đầu tiên của Alice Miller, Bi kịch của đứa trẻ tài năng (1979), đi sâu vào điều này rất nhiều. Nhưng cái tôi giả tạo thường là một cái tôi tuân thủ. Nó thường thể hiện ra như một kẻ luôn cố làm hài lòng người khác. Tất cả chúng ta đều có một kẻ làm hài lòng bên trong mình, và nó luôn cố gắng trông tốt đẹp hơn thực tế bản chất hay cảm xúc của nó.
Lý do tôi nói "không hoàn toàn tương đương một-đối-một" là vì cái tôi giả tạo cũng có một mặt cố gắng trở nên tồi tệ hơn bản chất thực sự của người đó. Một phần của Phần Bóng cũng là cái tôi giả tạo, "cái tôi tồi tệ" giả tạo. Một ví dụ điển hình là Tìm kiếm Mr. Goodbar, tiểu thuyết của Judith Rossner mà đạo diễn kiêm biên kịch Richard Brooks đã chuyển thể thành phim vào năm 1977. Diane Keaton vào vai người phụ nữ trẻ vốn là một công dân tốt lành, có trách nhiệm, dạy trẻ em khiếm thính vào ban ngày, nhưng ban đêm cô ấy lại đến các quán bar dành cho người độc thân và tìm kiếm những gã đàn ông nguy hiểm nhất có thể tìm được để quyến rũ. Gã đàn ông nghĩ rằng mình đã quyến rũ được cô ấy, nhưng cô ấy mới là người đã quyến rũ gã. Cô ấy đưa gã về nhà và quan hệ tình dục với gã, một cuộc tình dục điên rồ, đam mê, thao túng, rồi sau đó cô ấy từ chối gã. Nhưng như bạn đã biết, cô ấy bị sát hại trong quá trình diễn hoạt một trong những hành vi nghi lễ hóa vô thức của mình.
Vở kịch này diễn ra khắp mọi nơi vào mọi lúc. Cái tôi giả tạo trong tình huống này nằm ở cả hai phía của nhân cách. Cái tôi tồi tệ được thể hiện ở một người ngọt ngào, tốt bụng, không nỡ làm tổn thương một con ruồi, vô cùng đứng đắn và đạo đức, làm hài lòng mẹ và bà nội, nhưng nó cũng phát tiết ra ở một người sử dụng tính dục của mình như một "cô gái hư". Từ góc độ này, tính dục cô gái hư cũng giả tạo chẳng kém gì phần cô gái ngoan. Vì vậy có một khía cạnh của cái tôi giả tạo đang diễn hoạt trong Phần Bóng. Đó là sự tinh vi. Nhưng bên trong Phần Bóng mà cô ấy đang diễn hoạt vào ban đêm có rất nhiều sự thật không bước vào cuộc sống ban ngày. Và sự thật là gì? Chà, có một số sự thật. Đầu tiên, cô ấy là một sinh thể có thể xác, một thực thể tính dục. Cơ thể luôn nói sự thật. Chúng luôn tìm cách chen vào và nói sự thật, cho dù đó là trong bệnh tật, hay trong việc diễn hoạt, hay bất cứ điều gì, và chúng không bao giờ nói dối. Alice Miller cũng nhấn mạnh điều này. Cơ thể biết sự thật. Nếu bạn nói dối về bản thân, cơ thể bạn nhiều khả năng sẽ mâu thuẫn với bạn, và tôi thường nghĩ về điều đó bất cứ khi nào tôi bị căng cứng ở vai. Tôi tự nghĩ: "Tôi tự hỏi mình đang trải qua sự dối trá cụ thể nào ở vai mình lúc này?" Có lẽ đó là một cái gì đó tôi đang dồn nén. Tôi đang bị căng cứng toàn bộ ở vùng vai.
Bạn cũng thấy một sự diễn hoạt của sự giận dữ. Giận dữ trong cái gì? Giận dữ trong một mối quan hệ có vẻ như thân mật nhưng thực ra không phải. Điều đó nhắc bạn nhớ đến điều gì? "Tôi sẽ diễn như thể tôi sắp yêu anh, và tôi sẽ diễn như thể anh sắp có được tôi, nhưng sau đó tôi sẽ từ chối anh!" Nghe giống cái gì? Nó nghe giống như trò chơi diễn ra liên tục giữa cha mẹ và con cái. Trên thực tế, đó là sự tái hiện lại cái mà Alice Miller gọi là "sự cưỡng ép lặp lại" (repetition compulsion) của bi kịch thời thơ ấu đó, và nó đang bộc lộ ngay tại đó, hết cuối tuần này đến cuối tuần khác. Những người đàn ông nghĩ rằng họ đang quyến rũ cô ấy chỉ là những con cờ trong một sự tái hiện kịch tính mang tính nghi lễ về việc cô ấy bị cha mẹ từ chối khi cô ấy cố gắng gần gũi, yêu thương và tiếp xúc thể chất lúc còn nhỏ, nhưng họ không thể xử lý được và đã từ chối cô ấy. Vì vậy, cô ấy đang "thực hành sự thật", như các nhà đạo đức học từng nói. Cô ấy đang thực hành sự thật trong các mối quan hệ với những người đàn ông này, nhưng bản thân cô ấy chưa biết điều đó. Hành vi này có thể hướng tới cha hoặc mẹ, hoặc cả hai.
Vì vậy, nếu chúng ta nhìn vào vấn đề cái tôi chân thật / cái tôi giả tạo, thì chúng ta nhận thấy tầm quan trọng của giai đoạn giữa này trong tiến trình nhập môn. Ở các bộ tộc cổ sơ, họ biết rằng bạn phải đối mặt với Phần Bóng. Dĩ nhiên họ không gọi nó bằng cái tên đó, nhưng họ biết rằng khi mọi thứ trở nên tồi tệ trong bộ tộc hoặc trong làng, họ phải làm một điều gì đó đối với Phần Bóng. Vì vậy, họ sẽ tham gia vào một tiến trình nghi lễ hóa để đối mặt với nó. Sẽ có một kiểu nói thật nào đó diễn ra. Con người hiện đại chúng ta cố gắng duy trì cái tôi giả tạo đó càng nhiều càng tốt, nhưng càng có nhiều cái tôi giả tạo trong sự cấu thành nhân cách của một người, thì cái tôi chân thật càng bị giam cầm nhiều bấy nhiêu. Nó nằm dưới một rào cản dồn nén. Người đó sống phần lớn từ cấu trúc của cái tôi giả tạo.
Tuy nhiên, cái tôi chân thật luôn cố gắng làm cho tiếng nói của mình được lắng nghe. Bằng cách nào? Một cách là thông qua cảm xúc của chúng ta. Nhưng chúng ta cố gắng hết sức để không nghe thấy những điều đó, bởi vì chúng không chịu tuân theo trật tự. Ví dụ, cảm xúc yêu thương là không chịu tuân theo trật tự. Vì vậy, nếu bạn muốn có một cuộc sống bình yên, lặng lẽ, bạn học cách tránh các cảm xúc yêu thương. Bạn tống xuất chúng xuống tầng hầm. Như tôi đã nói trước đó, cái bị dồn nén sẽ quay trở lại trong không gian linh thiêng thực sự. Sự thật được nói ra dưới một hình thức nào đó, và cái bị dồn nén sẽ quay trở lại. Vì vậy, trong không gian linh thiêng nhập môn này, bạn nhận được sự quay trở lại của cái bị dồn nén. Bạn nhận được điều đó trong hầu như bất kỳ hình thức trị liệu tâm lý hay phân tích nào. Có một sự chuyển dịch trong cấu trúc cách thức mà nhân cách được tổ chức.
Khán giả: Khái niệm cái tôi giả tạo / cái tôi chân thật có khác với khái niệm sự chia rẽ (splitting) không?
Moore: Các nhà phân tích sử dụng khái niệm sự chia rẽ theo rất nhiều cách khác nhau. Nó có thể có nghĩa là mọi thứ từ kiểu bạn thấy trong đa nhân cách cho đến chỉ là sự chia rẽ thành tốt và xấu mà con người ta làm khi còn nhỏ, xét theo khía cạnh họ chia rẽ nhận thức của chính họ về bản thân thành "tôi tốt" và "tôi xấu". Trong bối cảnh của Tâm lý học Bản thể (Self Psychology), sự chia rẽ xảy ra vào thời thơ ấu khi cha mẹ không thể chấp nhận nhiều khía cạnh về mặt cảm xúc của đứa trẻ. Trong trường hợp này, từ "chia rẽ" có nghĩa là những gì cha mẹ không thể nhìn thấy, đón nhận và ôm ấp sẽ bị "chia rẽ" đẩy vào vô thức của đứa trẻ. Phần lớn trong số đó chính là cái tôi chân thật của đứa trẻ.
Bạn có thể nói rằng những cảm xúc chân thật của cá nhân đã bị "chia rẽ" ra khỏi phạm vi ý thức của họ. Chừng nào điều đó còn tiếp diễn, họ sống sự tồn tại của mình giống như một người máy sinh học (android). Hình ảnh người máy sinh học thể hiện rất rõ cái tôi giả tạo là như thế nào. Một con robot. Hãy đi xem bộ phim Kẻ Hủy Diệt (1984) của Arnold Schwarzenegger. Đó là bộ phim tuyệt vời nhất về cái tôi giả tạo mà bạn có thể tưởng tượng. Cái tôi giả tạo trong mỗi chúng ta giống như con robot tinh vi này, không có bất kỳ cảm xúc nào và sẽ tiêu diệt người khác tả hữu mà không có cảm xúc.
Chúng ta cần nhận thức rõ hơn về thời điểm cái tôi giả tạo đang chi phối nhân cách của mình. Với một chút nỗ lực, bạn có thể bắt đầu nhận ra cái tôi giả tạo của mình. Ví dụ, nó xảy ra trong một cuộc trò chuyện với ai đó khi bạn cảm thấy chán nản và bật chế độ tự động để duy trì cuộc trò chuyện mặc dù bạn không thực sự ở đó. Đó là cái tôi giả tạo đang vận hành. Đó chính là người máy sinh học. Một khi bạn trở nên có ý thức về điều này, bạn sẽ nhận ra rằng bạn đưa người máy sinh học đó vào cuộc sống của mình khá nhiều. Cái tôi giả tạo càng có ảnh hưởng trong nhân cách của bạn, thì phần lớn cuộc đời bạn càng được sống bởi thời lượng của người máy sinh học đó. Cảm xúc của bạn càng ít được chấp nhận khi còn nhỏ, bạn càng dành nhiều thời gian trong đời với người máy sinh học đó như một kẻ đóng thế cho nhân cách của bạn.
Vậy thì, "con người thực sự của bạn" đang ở đâu? Tùy thuộc vào thời thơ ấu của bạn như thế nào, "con người thực sự của bạn" có thể ở đủ loại nơi. Một số người có thời thơ ấu bị lạm dụng dữ dội thì cái tôi chân thật của họ bị khóa trong một căn phòng ở đỉnh lâu đài đâu đó, và họ hầu như không biết người đó có tồn tại. Ví dụ, trong nhiều trường hợp cha mẹ chưa trưởng thành, không ai thực sự "coi ngó cửa hàng" ngoại trừ đứa trẻ. Nếu không có ai ôm lấy đứa trẻ đó và nói: "Được rồi, hãy trút hết cho bố/mẹ, và hãy để bố/mẹ nghe những gì con cảm nhận," thì đứa trẻ đó sẽ không thể bộc lộ cảm xúc của mình mà không có cảm giác về sự hỗn loạn và sụp đổ đang cận kề. Vì vậy, chúng duy trì việc "làm cha mẹ cho cha mẹ".
Có bao nhiêu người, nếu họ trung thực, sẽ phải thừa nhận họ đã làm cha làm mẹ cho chính cha mẹ mình? Thật đau đớn khi nghĩ về điều đó. Bởi vì trong khi bạn đang làm cha làm mẹ cho cha mẹ mình, bạn lại không được làm con, không được chăm sóc. Nếu bạn phải làm cha làm mẹ cho cha mẹ mình, không ai nhẹ nhàng ôm lấy cái tôi chân thật của bạn, ngoại trừ chính bạn. Bây giờ bạn đã làm gì với cái tôi chân thật đó? Có khả năng cao, trong nhiều trường hợp, bạn đã đóng đóng băng nó. Theo đúng nghĩa đen. Nó nằm ở đâu đó trong tâm trí bạn trên băng giá. Đó là một quyết định thông minh vào thời điểm đó, bởi vì nếu bạn không đóng băng nó, nó sẽ còn bị vò nát, ghim bấm và hủy hoại nhiều hơn nữa.
Việc hiểu phân tích như một tiến trình nhập môn làm thay đổi toàn bộ phương trình cơ bản. Ý tưởng then chốt là bạn không còn nhìn vào các triệu chứng của mình và nói một cách phòng thủ: "Ôi Chúa ơi, tôi sắp điên mất rồi," mà đúng hơn là bạn có thể nói với một tinh thần tích cực: "Đây là tiếng gọi của tôi." Tiếng gọi từ cái gì? Tiếng gọi từ cái tôi bên trong đã bắt đầu một tiến trình tái tổ chức, và vì vậy đã đến lúc cái tôi chân thật nhận được một chút sự chú ý. Cái tôi chân thật muốn vươn ra. Đó là một trong những điều tuyệt vời. Alice Miller không phải là một người theo phái Jung, nhưng bức tranh của bà thống nhất với góc nhìn của phái Jung về các triệu chứng. Bà nói cái tôi chân thật trong chúng ta luôn tiếp tục cố gắng. Bạn có thể im lặng và ngồi yên một chút, nhưng nó sẽ bắt đầu cố gắng làm cho sự hiện diện của nó được cảm nhận, dù yếu ớt đến đâu. Nó càng nhận được ít sự hỗ trợ khi bạn còn nhỏ, thì lực để gõ cửa của nó càng yếu, nhưng nó vẫn gõ.
Trong không gian linh thiêng của phân tích, bạn có thể cố gắng làm cho mọi thứ đủ yên tĩnh để cho phép những chất liệu này ngoi lên. Điều đó giải thích tại sao người ta lại đặt kính thiên văn xa khỏi các thành phố, để họ có thể nhận được những tín hiệu rõ ràng hơn mà không có quá nhiều tiếng nhiễu, không có quá nhiều sự can thiệp. Điều đó tương đồng với bối cảnh phân tích. Hãy suy ngẫm về nó. Không gian linh thiêng của phân tích là gì. Là nơi bạn cố gắng gạt bỏ càng nhiều tiếng nhiễu càng tốt, để bạn có thể lắng nghe tiếng cào xé từ đằng sau bức tường. Đó là đứa trẻ đang cố gắng thoát ra ngoài.
Khi bạn trở nên trí thức hóa quá mức trong việc phân tích bản thân, bạn có thể đang tạo khoảng cách rất lớn với cái tôi chân thật của mình. Chúng ta không bao giờ nên coi nhẹ việc phân tích các chất liệu này. Thật tốt cho bạn khi suy ngẫm về các vấn đề của mình và tư duy về chúng. Mặt khác, khi bạn thấy mình phân tích một cách lạnh lùng—hãy gạch chân từ lạnh lùng—bạn có thể đang chia rẽ khỏi cái tôi chân thật của mình. Cái tôi chân thật bộc lộ cả sự yêu thương lẫn sự giận dữ.
Khán giả: Tôi nghe nói rằng nếu một điều gì đó từ quá khứ xuất hiện trong giấc mơ, điều đó có nghĩa là bạn đã sẵn sàng xử lý nó. Ông có đồng ý với điều đó không?
Moore: Thực ra, rất nhiều điều xuất hiện trong giấc mơ báo hiệu cho công việc của cả năm tới hoặc lâu hơn. Điều đó có thể có nghĩa là bạn sẽ sẵn sàng xử lý nó trong tháng tới hoặc năm tới. Giấc mơ cho bạn một sự báo hiệu về địa hình và gợi ý công việc bạn có ở phía trước. Nếu bạn giữ các giấc mơ của mình trong nhật ký, và thỉnh thoảng xem lại chúng, bạn sẽ thấy những điều mà hai tháng trước bạn không thể nào thấy được cho dù bạn có cố gắng đến đâu. Hai năm sau, bạn sẽ nhìn vào một số giấc mơ của mình và nói: "Ôi Chúa ơi, nó nằm ngay đó! Đó là điều tôi vừa nhận ra hôm nay." Dĩ nhiên là nó đã nằm ngay trong giấc mơ đó từ hai năm trước. Giấc mơ đã báo hiệu sự trỗi dậy từ từ của nó.
Bình chứa phân tích là một nơi nhập môn nơi bạn được chứa đựng đủ tốt để vô thức của bạn cảm thấy bạn có thể được tin tưởng để đưa chất liệu này lên. Khi thân chủ nói: "Tôi khó chịu vì tuần này tôi không có giấc mơ nào cả," thái độ phân tích sẽ nói: "Có thể vô thức chưa sẵn sàng." Vô thức có thể chưa hoàn toàn tin tưởng bạn để nắm giữ chất liệu mới. Nó có thể nghĩ tuần này bạn sẽ quá hỗn loạn, vì vậy nó phải chờ đợi. Nhưng sau đó nó sẽ đưa lên. Sự chứa đựng càng tốt, hoặc như Langs nói, "khung trị liệu càng chặt chẽ", thì chất liệu ngoi lên càng sâu. Nó cũng sẽ đáng sợ hơn, nhưng điều đó không sao cả, chừng nào bình chứa luyện kim còn ở đó để chứa đựng nó.
Một trong những thân chủ của tôi đã có một giấc mơ về việc làm nhân viên bán hàng trong một cửa hiệu sách. (Tôi đã được sự cho phép để kể giấc mơ này.) Có một tiếng động phát ra từ phía sau cửa hàng, và anh ấy nhìn về phía sau thì thấy một cái lỗ ở một trong những kệ sách, và chỉ cảm thấy thắc mắc về nó. Một người phụ nữ đi đến bên anh ấy và nói: "Thưa ông, có một người đàn ông ở đằng sau muốn ông nói chuyện với ông ấy. Người thường xuyên nói chuyện với ông ấy không có ở đây. Ông có thể vào trong trò chuyện với ông ấy một phút được không?" Vì vậy, thân chủ của tôi nói: "Vâng, được rồi, tôi đoán là tôi sẽ vào." Vì vậy, anh ấy đi vào phía sau cửa hiệu sách, và ở đằng sau một cái lỗ cắt ra trên kệ sách là một người đàn ông gầy giuộc. Anh ấy nhìn lại, và rõ ràng đó là một kiểu phòng giam. Người đàn ông ở bên trong nói: "Ông không thả tôi ra khỏi đây sao?" Thân chủ của tôi đáp: "Tôi không có thẩm quyền để thả ông ra khỏi đó." Vì vậy, người đàn ông nói: "Ồ, được rồi," và ông ấy đưa tay ra bắt tay, để lại thân chủ của tôi trong sự bối rối và buồn bã.
Còn cần phải nói gì thêm về câu chuyện này? Người đàn ông đằng sau kệ sách là một hình ảnh về cái tôi chân thật của người được phân tích của tôi, nằm đằng sau Mặt Nạ trí thức của anh ấy được đại diện bởi những cuốn sách. Anh ấy chưa sẵn sàng đối mặt với phần này của bản thân. Tại sao? Bởi vì người đàn ông ở phòng sau hoàn toàn không phải là một nhà trí thức, mà là một người rất phi trí thức. Điều này rất phổ biến. Cái tôi giả tạo thường là một kẻ thể hiện thực sự xuất sắc. Nó thể hiện đỉnh cao, để làm hài lòng các thế lực đương quyền.
Vì vậy, bình chứa của sự phân tích là nơi mà dần dần cái tôi chân thật có thể trỗi dậy và bắt đầu tìm thấy sự chấp nhận. Bạn có thể nghĩ về tiến trình này trong bất kỳ tình huống nào như một tiến trình nhập môn. Có một cái gì đó có thể trỗi dậy ở đó, một sự thật nào đó có thể trỗi dậy, và cũng như với các sự nhập môn của bộ tộc, nó hầu như luôn mang theo cảm xúc lớn, cảm xúc mãnh liệt. Đó là một trong những cách bạn có thể nhận biết trong tiến trình chữa lành của chính mình liệu có điều gì ý nghĩa đang xảy ra hay không. Khi bạn cảm nhận được những cảm xúc mà trước đây bạn chưa từng nhận thức được, có lẽ bạn đang có sự tích hợp quan trọng diễn ra trong tiến trình chữa lành của mình. Nếu bạn chỉ phân tích mọi thứ một cách trí thức, có lẽ bạn không có quá nhiều điều đang diễn ra.
Khán giả: Điều này làm cho việc tự phân tích có vẻ rất khó khăn.
Moore: Tôi đồng ý. Có việc đọc các cuốn sách tự lực, mà tôi nghĩ là một ý tưởng tốt. Tôi không gạt bỏ các cuốn sách tự lực, bởi vì có rất nhiều điều, sự khôn ngoan thực tế, đã được chắt lọc và có thể được viết trong một cuốn sách và có thể giúp con người ta với các cơ chế phòng thủ của Cái Tôi và sự thích nghi của Cái Tôi. Rất nhiều cuốn sách tự lực đó chứa đựng một số sự khôn ngoan quan trọng. Tuy nhiên, nếu bạn đang mang những tổn thương ái kỉ nặng nề từ thời thơ ấu, và sâu thẳm bên trong bạn cảm thấy như thể mình hoàn toàn vô giá trị, thì tất cả các cuốn sách tự lực trên đời mà bạn đọc về việc "tự chủ cuộc đời", và "bầu trời là giới hạn", cùng các cơ hế phòng thủ hưng cảm tương tự, sẽ không giúp ích gì cho bạn. Tại sao? Bởi vì chất liệu mà bạn đang dồn nén quá mạnh mẽ và quá dễ nổ đến mức chừng nào bạn còn ở ngoài đó một mình, bạn phải giữ nó trong tầm kiểm soát. Bạn phải giữ cho chất liệu vô thức nguy hiểm đó dưới sự kiểm soát, dưới sự dồn nén.
Ví dụ, giả sử bạn là một giáo viên, hoặc một thợ máy, hoặc một phi công, và bạn đang làm công việc của mình, và đột nhiên bạn nhận ra những gì đã xảy ra với bạn khi còn là một đứa trẻ. Khi các cảm xúc bị dồn nén bắt đầu quay trở lại, nghĩa là khi các thử thách nhập môn bắt đầu, sự chịu đựng trở nên dữ dội đến mức, và sự tan biến của những gì bạn từng nghĩ là thực tại của mình trở nên lớn đến mức, bạn cần một điểm trung tâm để bám vào, và cực kỳ khó để làm điều đó một mình. Thay vì một mối quan hệ trị liệu nào đó, điều mà nhiều người làm để "giữ cho mọi thứ không bị rời ra" là cầu nguyện rất nhiều. Đó chắc chắn là một ý tưởng tốt. Nếu bạn cầu nguyện nhiều, nó sẽ giữ cho bạn hoạt động bình thường khi không còn điều gì khác làm được. Việc viết lách, viết nhật ký, cũng có thể giúp ích rất nhiều để chứa đựng. Những kỹ thuật này và các kỹ thuật khác có thể giúp chứa đựng sự hỗn loạn, nhưng chúng không thể thay thế đầy đủ cho một bình chứa luyện kim phân tích—một trường quan hệ có khả năng chuyển hóa.
Đối mặt với nhiều sự thật về sự chịu đựng thời thơ ấu của bạn là một trải nghiệm rất ăn mòn đối với phức cảm hoặc hệ thống Cái Tôi. Nó giống như luyện kim nơi mọi thứ tan biến vào một dung dịch, và không còn lại mấy cấu trúc. Đó là một công việc rất dữ dội, giống như bất kỳ tiến trình sâu sắc nào thường có. Nó đáng sợ đến mức bạn thực sự cần ai đó khác để bám vào trong một thời gian. Không phải lúc nào cũng phải là một nhà phân tích, nhưng thường cần phải là một người khác.
Rất nhiều thời gian người ta xoay xở để bám vào Chúa. Nhiều nghiên cứu về sự phát triển đức tin cho thấy rằng mối quan hệ đối tượng tốt nhất mà nhiều người từng có là với Chúa, đó chỉ là một cách nói khác rằng mối quan hệ cá nhân tốt nhất mà họ từng có là với Chúa. Nhiều người trong chúng ta ngày nay tin rằng hình ảnh Thiên Chúa trong tâm trí thực sự vận hành theo một cách tương đồng, về mặt cảm xúc, như một mối quan hệ với một con người. Vì vậy, bạn có thể suy nghĩ nhiều về bản chất của đức tin và cách nó vận hành ở đây.
Tuy nhiên, tôi muốn kiên quyết ở đây và nói rằng bạn cũng có thể sử dụng lời cầu nguyện như một sự trốn tránh. Trốn tránh khỏi cái gì? Đôi khi bạn có thể chỉ cầu nguyện tất cả những gì bạn muốn và nói với Chúa những gì bạn muốn Chúa nghe, và bạn có thể không cho Chúa nhiều cơ hội để nói ngược lại với Cái Tôi của bạn. Bạn thiết lập một mối quan hệ một chiều với Chúa và do đó tránh rủi ro dấn thân vào một mối quan hệ chữa lành với Chúa hoặc với một con người khác.
Khán giả: Ông đã sử dụng cụm từ "bám vào Chúa". Cũng có thể có tình huống mà cụm từ thích hợp là Chúa bám vào bạn.
Moore: Có câu chuyện về hai bộ dấu chân, và sau đó chỉ còn một bộ dấu chân, và đó không phải là của bạn, đó là Chúa đang bế bạn. Chắc chắn đó là một trải nghiệm mà nhiều người trong chúng ta từng có. Nhưng điều khiến tôi bận tâm với tư cách là một nhà tâm phân học là mọi người thường sử dụng ngôn từ tâm linh để tránh một cơ hội chữa lành sâu sắc nào đó. Họ sẽ sử dụng các nguồn lực tâm linh như một bộ phận giả để vượt qua một thời điểm tồi tệ, và họ quả thực có thể vượt qua thời điểm tồi tệ đó. Nhưng đây thường là điều mà Jung gọi là "sự phục hồi thoái lùi của Mặt Nạ" (regressive restoration of the persona). Đó là một cụm từ quan trọng cần lưu ý: sự phục hồi thoái lùi của Mặt Nạ. Đó là khi một người nhận được tiếng gọi, nhưng họ thực sự không muốn đi qua toàn bộ trải nghiệm chết đi và tái sinh, vì vậy họ lấy một số cây nạng. Họ nằm xuống cho đến khi sự thôi thúc hướng tới sự chuyển hóa thực sự qua đi. Nói cách khác, họ cầu nguyện hoặc đi chùa/nhà thờ cho đến khi sự thôi thúc đối mặt với "con quái vật" bên trong dịu xuống. Đó là mặt tối của thực hành tâm linh mà tôi lo ngại. Tôi không nói đó luôn là trường hợp xảy ra, nhưng với tư cách là một nhà phân tích, tôi nghĩ nó xảy ra rất nhiều. Chúng ta muốn nhận thức được khả năng rằng tâm linh có thể được sử dụng như một sự trốn chạy khỏi sự thật.
Khán giả: Thế còn khi tổn thương không phải của ông, mà xảy ra với một trong những anh chị em của ông?
Moore: Một tổn thương hoặc bi kịch cho một người anh chị em sẽ ảnh hưởng đến những người khác. Ví dụ, một người được phân tích mà tôi biết không thể hiểu tại sao cô ấy không bao giờ hạnh phúc trong đời. Cô ấy không thể hiểu tại sao cô ấy không bao giờ cảm thấy như mình có thể hòa hợp với mẹ mình. Sau đó, sau một thời gian phân tích, cô ấy tình cờ lần đầu tiên nhắc đến một người chị gái đã mất. Điều đó dường như không quan trọng với cô ấy, nhưng khi cô ấy cuối cùng bắt đầu nhận ra tầm quan trọng của nó, cô ấy bắt đầu nhận ra điều gì đã xảy ra với mình. Mặc dù người mẹ sinh ra cô ấy sau người chị này, để lấp vào vị trí của người chị, cô ấy không bao giờ cảm thấy được chào đón hay chúc phúc bởi người mẹ. Không ai trong nhà chịu nói về điều đó. Nói về sự dối trá của gia đình! Không ai trong nhà từng nói về người chị đã mất, và sự im lặng này đã tạo ra một nhà giam cho người được phân tích. Cô ấy không chỉ phải xử lý nỗi đau thương về người chị của mình, mà còn với sự thật về những gì công việc xử lý đau thương dở dang của người mẹ đã làm đối với cuộc đời cô ấy. Cô ấy phải đối mặt với sự giận dữ của mình về điều đó.
Alice Miller chỉ ra rằng bạn thực sự cần phải để sự giận dữ thoát ra ngoài. Nó không xóa bỏ tổn thương, nhưng nó cho phép bạn đau thương vì nó, để nó trở thành quá khứ. Nếu bạn không đối mặt với sự giận dữ của mình, bạn giống như người phụ nữ trẻ trong cảnh quán bar đó. Chừng nào bạn không đối mặt với sự giận dữ của mình, và người mà nó thực sự hướng tới, và những gì nó thực sự là về, thì bạn bị kết án vào sự cưỡng ép lặp lại, diễn hoạt nó trong hiện tại với những kẻ đóng thế, với những người thực sự không phải là mục tiêu của sự giận dữ. Phần lớn thời gian trong các mối quan hệ, các mô thức làm nản lòng và từ chối người khác và đảm bảo rằng chúng ta bị từ chối chính là kiểu lặp lại vô thức này của sự giận dữ sớm này. Theo Alice Miller, một khi sự giận dữ được hướng tới đối tượng thực sự của sự giận dữ, và một khi bạn thừa nhận nó và cảm nhận nó, bạn có thể ngừng làm tù nhân của thời thơ ấu của mình. Tuy nhiên, những gì được yêu cầu còn hơn cả một sự biết về mặt trí thức. Người ta phải có một "tri thức trải nghiệm" (gnosis) về sắc thái cảm xúc của phức cảm vốn đã bị giấu khỏi Cái Tôi cho đến thời điểm này trong tiến trình phân tích.
Chỉ thừa nhận và nói: "Tôi thực sự tức giận với cha mẹ tôi, tôi thực sự tức giận với mẹ tôi, hoặc tôi thực sự tức giận với cha tôi" là chưa đủ. Bạn quả thực có thể "biết điều đó", nhưng chỉ đơn thuần "biết điều đó" chẳng giải quyết được mấy vấn đề. Bạn phải cảm nhận các cảm xúc và chia sẻ chúng với ai đó trong một bình chứa nơi nó sẽ không dẫn đến một Hiroshima cá nhân. Ví dụ, tôi biết một phụ nữ trẻ đang xử lý người mẹ nghiện rượu của mình. Khi còn là một cô bé, cô ấy không bao giờ có thể đoán trước được mẹ mình sẽ làm gì. Giờ đây cô ấy đang giải quyết các cảm xúc của mình về điều này, nhưng cô ấy nói với nhà trị liệu phái Jung của mình: "Tôi không thể cảm nhận điều đó, tôi không thể để bản thân cảm nhận điều đó." Nhà trị liệu hỏi: "Tại sao không?" "Chà," cô ấy nói, "nếu tôi để bản thân cảm nhận điều đó, tôi không biết mình có thể làm gì." Nhà phân tích hỏi: "Cô có thể làm gì?" Cô ấy trả lời: "Tôi có thể đập vỡ cửa sổ của ông."
Bình luận từ khán giả: Tôi từng nghe điều đó từ mọi người. Họ sẽ nói: "Nếu tôi thực sự nói cho ông biết tôi đang cảm thấy thế nào, hoặc nếu tôi thực sự diễn hoạt nó ra, tôi có thể xé nát toàn bộ căn phòng này. Tôi có thể đâm ông."
Moore: Đúng vậy, nhưng bạn có nghĩ thực sự là bạn mà họ muốn đâm không? Dĩ nhiên, họ cảm thấy rằng thực sự là bạn mà họ có thể đâm, nhưng đó là sự chuyển dịch.
Bình luận từ khán giả: Tôi đang làm việc với một phụ nữ thường xuyên làm điều đó. Sau một buổi trò chuyện, cô ấy nói: "Tôi muốn đâm ông," hoặc "Tôi muốn làm tổn thương ông."
Moore: Điều đó thật nặng nề. Bạn đang xử lý một số điều rất nặng nề ở đó. Việc bạn có thể ngồi đó và giữ lấy điều đó là rất quan trọng. Một số nhà trị liệu có một bao đấm ở phòng sau của họ, và khi mọi người đến điểm này, họ chỉ cần vào đó và đấm túi bụi vào bao đấm đó, và điều đó dường như thực sự hữu ích cho họ. Nhưng các cảm xúc vẫn cần được diễn đạt bằng lời nói.
Bình luận từ khán giả: Bản thân tôi cũng làm điều đó. Tôi cũng có một cái bao đấm! Tôi đấm cho nó ra trò luôn!
Moore: Thật tốt khi có thể làm điều đó, bởi vì cơ thể phải tham gia vào điều này theo một cách nào đó. Để có sự nghi lễ hóa đầy đủ, cơ thể phải có khả năng diễn đạt một số ảnh hưởng này.
Khi bạn suy nghĩ về điều này dưới góc độ thần học, thần học thực hành thực tế của rất nhiều người về điều này là gì? Họ tin vào một Thiên Chúa, nhưng Thiên Chúa của họ dường như quá yếu đuối để xử lý họ. Có thể Chúa của bạn yêu cầu bạn phải ngoan ngoãn và không được tức giận, không được là một đống hỗn độn. Khi mọi người đang cố gắng học cách cầu nguyện theo một cách thực tế, tôi luôn khuyên họ nên đọc Thi Thiên (Thánh Vịnh). Hãy làm quen với Vua Đa-vít, "người được Chúa yêu thương". Hãy học cách giống như Vua Đa-vít trong đời sống tâm linh của bạn. Hãy học cách chân thật và dữ dội trong đời sống cầu nguyện và đam mê của bạn như Đa-vít đã làm. Một khi bạn có thể cầu nguyện như Đa-vít, thì bạn có thể diễn đạt sự tin tưởng của mình rằng Chúa là một Thiên Chúa đủ tốt, giống như một người mẹ đủ tốt, rằng Chúa có thể chứa đựng bạn và ôm lấy bạn. Cho đến khi bạn đạt đến nơi bạn tin rằng Chúa có thể chịu đựng được việc bạn biểu lộ Phần Bóng của mình trước mặt Chúa, thì Chúa của bạn thực sự không phải là một Người Mẹ, hay Người Cha đủ tốt.
Khán giả: Có chỗ nào cho một phương pháp nhẹ nhàng hơn đối với loại điều này không, hoặc có lẽ là một phương pháp chậm hơn, giống như khi bạn giả vờ như bạn đang chuyển từ nhà này sang nhà khác? Bạn nhìn lại và bạn nhìn về phía trước, cho đến khi mọi thứ gắn kết lại với nhau ở một mức độ nào đó. Điều đó có hợp pháp không?
Moore: Có, điều đó xảy ra rất nhiều. Trên thực tế, đó có lẽ là chuẩn mực diễn ra hầu hết thời gian. Trong chừng mực mà bạn cởi mở với những sự thôi thúc của Bản Thể, tiến trình này thường dịu đi một chút. Những thay đổi dữ dội thường xảy ra sau khi bạn đã tham gia vào sự dồn nén nặng nề. Sự dồn nén mà bạn có khi còn nhỏ càng nặng nề bao nhiêu, thì mọi thứ càng bị chia rẽ bấy nhiêu, và các thay đổi sẽ càng có vẻ hỗn loạn hơn khi chúng đến.
Khán giả: Vậy có suy ra rằng bạn càng có thể sở hữu bản thân một cách có ý thức bao nhiêu thì bạn càng ít phải diễn hoạt bấy nhiêu không?
Moore: Đó sẽ là một nguyên tắc chung. Điều đó cũng liên quan đến trục Cái Tôi - Bản Thể, bởi vì bạn càng phát triển mối quan hệ của mình với Bản Thể, hoặc theo thuật ngữ Kitô giáo, với Chúa, và bạn càng lắng nghe những sự thôi thúc đó mọi lúc, thì lớp vỏ cứng càng ít hình thành trên nhận thức của bạn. Bạn sẽ có thể lắng nghe và thực hiện các thay đổi trước khi áp lực tích tụ đến mức nó đánh nát các cơ chế phòng thủ của bạn thành từng mảnh. Đó là hình tượng Núi St. Helens. Nếu bạn từ chối lắng nghe những sự thôi thúc của Bản Thể, áp lực sẽ dần dần tích tụ, và cuối cùng nó sẽ thổi bay đỉnh của bạn. Ngược lại, khi bạn vun đắp đúng đắn trục Cái Tôi - Bản Thể của mình, bạn có đài ra-đa quét và lắng nghe mọi lúc, vì vậy ngọn núi bên trong của bạn không cần phải thổi bay đỉnh của nó để có được sự chú ý của bạn. Đây là tình huống tối ưu hơn mà một nhà phân tích muốn thấy ở giai đoạn hậu phân tích, với thân chủ tiến xa hơn trong tiến trình cá nhân hóa thông qua việc vun đắp đời sống tâm linh của họ, thực hành tâm linh và nghi lễ của họ.
Cái tôi chân thật cất tiếng nói từ nhà giam bên trong, và cái tôi chân thật biết sự thật. Đó là điều đẹp đẽ. Ngay cả khi cái tôi chân thật bị khóa chặt, nó vẫn ở trong đó chừng nào con người đó vẫn còn thở. Phần buồn là chúng ta quá kém trong việc giúp mọi người tìm thấy nó. Chúng ta không làm việc đủ chăm chỉ cho điều đó. Nhưng cái tôi chân thật ở trong đó và nó không bỏ cuộc. Tôi thuyết phục rằng nó không bỏ cuộc ngay cả ở những người rất bệnh tật.
Ví dụ, tôi đã nhận được một chiếc thiệp Halloween ngày hôm qua từ một thanh niên, một người mắc chứng tâm thần phân liệt mà tôi đã kết bạn sáu hoặc tám năm trước khi tôi đang làm nghiên cứu thực địa phỏng vấn các tín đồ giáo phái. Cậu ấy đang vươn ra với tôi, muốn nói chuyện với tôi về những gì cậu ấy có thể làm để cố gắng nhận được một số trị liệu chiều sâu hơn. Cậu ấy đang trong quá trình duy trì bằng thuốc. Tôi nhớ đã đi cùng thanh niên đó—đây là một ví dụ về trị liệu dân gian—tôi đã đi cùng cậu ấy đến gặp một nhà trị liệu huyền học ở một trong những vùng ngoại ô của Chicago. Tôi đã quan sát ông lão này, người là một thầy chữa lành huyền học, làm việc với cậu ấy. Thanh niên này cao khoảng một mét chín, nặng hơn một trăm cân, và tôi đã e ngại khi đi xem điều này. Thầy chữa lành dân gian huyền học đã thực hiện trị liệu chữa lành bằng thôi miên thoái lùi với người tâm thần phân liệt trẻ tuổi này, và tôi ngồi quan sát. Rồi sau tất cả những năm này, cậu ấy gọi cho tôi. Những người theo phái Jung chúng tôi có xu hướng chú ý đến những điều này. Bạn nhận được một bức thư như thế từ quá khứ của bạn, và bạn nghĩ: "Chà, điều đó thực sự là một cái gì đó." Cậu ấy chỉ là không bỏ cuộc. Cậu ấy biết mình bệnh nặng như thế nào, nhưng cậu ấy chỉ là không bỏ cuộc. Cậu ấy tiếp tục cố gắng. Cậu ấy đã tìm và tìm cho đến khi tìm thấy tôi.
Bây giờ tôi sẽ gọi cho cậu ấy và tôi sẽ nói chuyện với cậu ấy, và xem chúng tôi có thể tìm ra điều gì về việc giúp cậu ấy nhận được một số trị liệu thêm. Đó là một điều khác về một góc nhìn phái Jung đích thực. Chúng tôi có xu hướng cảm thấy rằng bạn phải tiếp tục cố gắng trong những điều này và hy vọng cậu ấy sẽ cá nhân hóa nhiều nhất có thể. Đó là điều tối thiểu chúng tôi có thể làm.
Khán giả: Điều gì đã khiến điều này xảy ra?
Moore: John Giannini nói về thái độ đồng bộ (synchronistic attitude). Đó thực sự là những gì tôi muốn nói về điều đó, rằng tôi chú ý đến tính đồng bộ. Tôi giả định rằng có một lý do nào đó sâu xa hơn những gì Cái Tôi của tôi biết về lý do tại sao thanh niên này lại cất công tìm tôi sau từng ấy năm. Tôi không phải là nhà trị liệu của cậu ấy, và tôi không phải là mục sư của cậu ấy. Tôi là một nhà nghiên cứu phỏng vấn những người tham gia vào các nhóm huyền học, và tôi đã tình cờ gặp cậu ấy trong một nhóm huyền học và dành thời gian cho cậu ấy. Tôi luôn cố gắng thiết lập các mối quan hệ thực sự khi thực hành quan sát tham gia. Thông qua cậu ấy, tôi đã hiểu được thực sự có bao nhiêu sự chữa lành diễn ra trong các nhóm tôn giáo nhỏ này. Tôi đã nghĩ đến cậu ấy khi tôi viết bài báo đó về sự chữa lành dân gian và trị liệu dân gian như một tiến trình nhập môn và nghi lễ. Bây giờ tôi sẽ cố gắng giúp cậu ấy tìm một cách để thúc đẩy sự cá nhân hóa của cậu ấy. Tôi nghe thấy tiếng gọi của Bản Thể đang biểu lộ ở đây.
Khán giả: Một phần việc ông làm điều đó thừa nhận rằng tất cả cuộc sống đều có ý nghĩa.
Moore: Đúng vậy, niềm tin của phái Jung vào tính đồng bộ là tương đương về mặt tâm lý với niềm tin của Kitô giáo vào Ý Chúa. Nếu bạn thực sự là một tín đồ Kitô giáo, hoặc thực sự đứng trong truyền thống thần học Kitô giáo - Do Thái giáo - Hồi giáo, bạn cũng sẽ tin rằng mọi sự kiện đều có ý nghĩa. Dĩ nhiên, rất nhiều nhà tâm lý học thế tục hóa sẽ giả định một tư tưởng loạn thần nếu bạn tuyên bố rằng Chúa đang tác động trong cuộc đời bạn. Ví dụ, tôi trêu chọc các nhà thần học phái Barth vốn là các nhà thần học Tin Lành Kitô giáo tốt lành, và một số nhà thần học Công giáo, bằng cách nói: "Nhìn xem, cách các ông nói về sự tác động của Chúa trong cuộc đời các ông sẽ bị nhiều nhà tâm lý học coi là tư tưởng loạn thần." Họ cũng sẽ nhìn nhận quan điểm của phái Jung về tính đồng bộ theo cách tương tự.
Những người từ một số góc nhìn tâm lý học sẽ gọi những khái niệm đó là "ý niệm quy chiếu" (ideas of reference). Họ coi sự hiện diện của "ý niệm quy chiếu" là một trong những yếu tố chẩn đoán để xác định bệnh loạn thần! Những người nghĩ rằng vũ trụ có ý nghĩa bị coi là bị loạn thần! Nhưng từ góc nhìn của phái Jung, nếu bạn không cảm thấy rằng các sự kiện có ý nghĩa đối với cá nhân bạn, bạn cũng có thể bỏ cuộc cho xong. Những suy ngẫm của John Giannini về thái độ đồng bộ đề cập đến cùng một truyền thống cổ xưa đó, nhưng từ góc nhìn tâm lý học. Một tín đồ Kitô giáo thực hành không cần phải biện minh cho nó theo cách đó. Bạn chỉ cần đề cập đến việc Chúa Thánh Thần đang tác động trong cuộc đời bạn, và có lẽ trong cuộc đời của thanh niên đó, để làm cho một điều gì đó xảy ra.
Khán giả: Việc cậu ấy đến gặp ông có thể phục vụ cho mục đích gì của ông?
Moore: Có lẽ nó đã giúp tôi hoàn thành cuốn sách của mình. Tôi thường tự hỏi tại sao mọi người lại đến gặp tôi. Có một câu ngạn ngữ cổ rằng khi học trò sẵn sàng, người thầy sẽ xuất hiện. Chà, điều ngược lại cũng đúng. Khi người chữa lành sẵn sàng, những người nhất định sẽ đến, những người cần làm việc với họ vào thời điểm đó. Người chữa lành có thể không bao giờ biết hoàn toàn tại sao. Tôi luôn giả định rằng nếu mọi người cất công tìm tôi, phải có một lý do nào đó vượt ra ngoài những gì hiện rõ ngay lập tức đối với cả hai chúng tôi.
Khán giả: Nhưng xét theo câu nói: "Ở đâu có hai người nhóm lại nhân danh Ta, thì Ta ở giữa họ", sự chứa đựng có thể là người điên ở cuối phố.
Moore: Đúng vậy, nhưng bạn phải hiểu về những người chữa lành này. Sự chứa đựng mà bạn tìm kiếm quả thực có thể là một người điên. Chúng ta có thể nói về điều này trong một khuôn khổ chuyên nghiệp, có trách nhiệm, chính thống, và sau đó chúng ta có thể nói về bản chất thực sự của mọi thứ. Dĩ nhiên, tôi sẽ không khuyên bạn đến gặp bất kỳ người điên nào để trị liệu. Tôi không thể làm điều đó và trở thành một chuyên gia có trách nhiệm. Tuy nhiên, thực tế vấn đề là trong lịch sử loài người, hàng trăm sự chữa lành đã xảy ra với những người kỳ lạ nhất vào những thời điểm kỳ lạ nhất và theo những cách kỳ lạ nhất.
Đây chỉ là một cách nói khác rằng Chúa, hay Tâm Linh, hay Bản Thể, có thể cung cấp những người giúp đỡ và người dẫn đường cho các thử thách của bạn theo những cách kỳ lạ nhất. Có thể người có những gì bạn cần để giúp bạn được chứa đựng, người có thông điệp bạn cần để giúp bạn trên hành trình của mình, chỉ là không thể xử lý được tâm trí hẹp hòi mà chúng ta gắn liền với "sự bình thường". Bộ phim Vua Ngư Phủ (1991) với Robin Williams đã khắc họa kiểu tình huống này.
Bạn đã bao giờ giúp ai đó một điều gì đó mà bạn không thể tự giúp mình, hoặc thậm chí không biết mình cần sự giúp đỡ chưa? Tôi đã giúp rất nhiều người được chữa lành về các vấn đề mà tôi lo lắng trong sâu thẳm trái tim mình liệu tôi có bao giờ tìm thấy sự chữa lành cho chính mình hay không. Đây là một điểm quan trọng. Bạn không muốn lý tưởng hóa vai trò này của bình chứa và người giúp đỡ quá mức, bởi vì họ không nhất thiết phải hoàn hảo.
Bình luận