Những người có tuổi thơ bất hạnh kết hôn với nhau sẽ thế nào?
- Minh Đào
- 16 thg 7
- 26 phút đọc
Tác giả: Judith S. Wallerstein, Sandra Blakeslee
Sách: The Good Marriage: How and Why Love Lasts

PHẦN BA: HÔN NHÂN CỨU RỖI
CHƯƠNG 8: Helen Buckley
Từ trước đến nay, giống như hầu hết những người làm việc trong lĩnh vực sức khỏe tâm thần, tôi luôn tin rằng một tuổi thơ bất hạnh, cay đắng sẽ làm giảm đáng kể cơ hội đạt được một cuộc hôn nhân hạnh phúc của một người. Định kiến này vốn được củng cố mạnh mẽ bởi câu chuyện quá khứ của biết bao cặp vợ chồng ly hôn mà tôi từng tiếp xúc trong suốt sự nghiệp của mình.
Chính vì vậy, tôi đã vô cùng bất ngờ và vui mừng khi khám phá ra qua nghiên cứu này một nhóm những cuộc hôn nhân hạnh phúc bền vững, nơi mà một hoặc cả hai bên từng phải trải qua một tuổi thơ vô cùng kinh hoàng, nghiệt ngã. Họ từng bị bỏ rơi từ nhỏ, bị lạm dụng tình dục, bạo lực thể xác, có cha mẹ bị tâm thần nặng hoặc phải gánh chịu những tổn thương sâu sắc khác. Thật kỳ diệu, những bi kịch thời thơ ấu ấy không hề đặt một cái án tử lên cuộc hôn nhân của họ. Sau cùng, có tới một phần năm số cặp vợ chồng trong nghiên cứu thuộc mô hình mà tôi gọi là Hôn nhân cứu rỗi. Bất chấp những xuất phát điểm đầy giông bão, họ vẫn xây dựng được một mối quan hệ ngập tràn tình yêu và hạnh phúc với bạn đời và con cái. Người bạn đời được chọn, cùng với chính cuộc hôn nhân đơm hoa kết trái qua năm tháng, đã trở thành chiếc phao cứu sinh giúp họ bước ra khỏi bóng tối của những vết thương lòng thuở nhỏ.
Việc phát hiện ra những cuộc hôn nhân cứu rỗi lâu bền và viên mĩ này là một trong những phát hiện lớn nhất của công trình nghiên cứu này, một khám phá thắp lên ngọn lửa hy vọng cho biết bao nhiêu người. Tôi biết rất nhiều bạn trẻ ngày nay luôn sống trong nỗi sợ hãi mơ hồ rằng, vì bản thân từng bị bạo hành khi còn nhỏ, họ sẽ bị định mệnh nguyền rủa phải lặp lại chuỗi đau khổ đó trong các mối quan hệ tình cảm khi trưởng thành. Những minh chứng sống ở đây là câu trả lời đanh thép nhất: những người từng chịu tổn thương sâu sắc hoàn toàn có thể bỏ lại quá khứ ở phía sau để sở hữu một tổ ấm bình yên, hạnh phúc.
Thực ra, từ lâu tôi đã cảm thấy khiên cưỡng trước quan điểm cho rằng một tuổi thơ bất hạnh tất yếu sẽ dẫn đến một cuộc đời trưởng thành bi kịch. Tôi ý thức rất rõ một thực tế rằng, những người duy nhất mà các bác sĩ tâm lý tiếp cận thường chỉ là những bệnh nhân chủ động tìm đến điều trị. Thế nhưng, xung quanh chúng ta vẫn có biết bao con người kiên cường đã tự mình đứng dậy sau bi kịch tuổi thơ để kiến tạo nên một cuộc sống viên mãn.
Mọi cuộc hôn nhân tốt đẹp trên đời đều mang một quyền năng chữa lành. Chúng ta bước vào cuộc sống gia đình với niềm hy vọng rằng những nỗi buồn của mình sẽ được vỗ về, rằng một người bạn đời tràn đầy yêu thương sẽ bù đắp cho những tháng ngày cô độc, những ruồng rẫy và thất vọng trong đời. Thuở nhỏ, chúng ta phải sẻ chia cha mẹ với anh chị em, nhưng giờ đây ta có một mối quan hệ độc quyền, và ta hoàn toàn có quyền kỳ vọng nó sẽ bảo vệ, giúp ta vượt qua những giông bão cuộc đời. Và thực tế, một cuộc hôn nhân hạnh phúc hoàn toàn có thể mang lại những giá trị như vậy.
Tuy nhiên, trong những cuộc hôn nhân mà tôi sắp mô tả dưới đây, sự "cứu rỗi" không chỉ là một giá trị vô hình, mà nó là cốt lõi của mối quan hệ và hiển hiện rõ nét trong từng cử chỉ tương tác hằng ngày của cặp vợ chồng. Giống như câu chuyện về chú vịt con xấu xí, cuộc hôn nhân cứu rỗi đã hiện thực hóa giấc mộng thuở nhỏ rằng mọi bất hạnh đầu đời đều có thể được xóa nhòa bởi hạnh phúc của cuộc sống trưởng thành. Trong truyện cổ tích, chú vịt nhỏ trông lạc lõng giữa bầy, lớn lên trong sự kỳ thị, ghẻ lạnh, bị chế giễu và coi thường. Rồi một ngày nọ, từ một khoảng cách xa xăm của thế giới cổ tích, chú nhìn thấy một đàn thiên nga – những sinh vật mà chú cho là đẹp đẽ nhất trên đời. Khi soi bóng mình xuống mặt hồ trong vắt, chú ngỡ ngàng nhận ra mình cũng là một chú thiên nga, chưa bao giờ là một con vịt. Chú hạnh phúc gia nhập đàn, và những chú thiên nga khác đã dang rộng vòng tay đón nhận chú bằng tình yêu thương. Một câu chuyện tương tự trong Kinh Thánh cũng viết: viên đá bị những người thợ xây loại bỏ đã trở thành viên đá tảng góc tường của đền thờ. Những người trong các cuộc hôn nhân cứu rỗi viên mãn cũng được nếm trải cảm giác nhẹ nhõm và hạnh phúc tột cùng khi được đón nhận giống như chú vịt con xấu xí năm nào; họ nâng niu và biết ơn sự cứu rỗi ấy mỗi ngày trong đời.
Mọi mối quan hệ gắn kết đều có sức mạnh làm thay đổi thế giới tâm lý của một con người. Trong mối quan hệ cha mẹ - con cái, một cuộc tình nồng nàn, một tình bạn tri kỷ, hay mối duyên thầy trò sâu sắc, mỗi người đều tác động lên người kia, khiến họ thay đổi cách suy nghĩ, cảm nhận và ứng xử. Trong sự gần gũi cả về thể xác lẫn tâm hồn của đời sống hôn nhân, những tác động qua lại này lại càng giữ vai trò trung tâm. Vợ và chồng sẽ thay đổi lẫn nhau để cùng ăn khớp vào một kịch bản chung – nơi chứa đựng cả những hy vọng và nỗi sợ hãi mà mỗi người mang theo.
Khi hai người có một xuất phát điểm bình yên kết hôn, mối quan hệ của họ sẽ có xu hướng phát triển hướng tới sự hòa hợp ngày một lớn hơn. Nếu một người luôn gửi đi thông điệp: "Trong mắt anh/em, em/anh là một người ấm áp, chu đáo và tử tế đúng như những gì anh/em hằng mong đợi và cần có", người kia sẽ bị thôi thúc một cách vô thức để vươn tới hình mẫu lý tưởng đó. Mỗi người đều dịch chuyển dần để suy nghĩ, cảm nhận và ứng xử hài hòa với "cái tôi lý tưởng" mà bạn đời kỳ vọng. Với món quà vô giá này nằm ở cốt lõi, một cuộc hôn nhân hạnh phúc có thể nuôi dưỡng lòng vị tha, sự gắn kết và nói theo một cách cổ điển, là nuôi dưỡng những đức hạnh của con người. Và tiến trình phát triển tâm lý ấy thực sự có thể tiếp tục thay đổi mỗi cá nhân suốt chiều dài chung sống. Trong mô hình hôn nhân cứu rỗi, những thay đổi tâm lý này lại càng hiện lên một cách ngoạn mục chính bởi biên độ và sức mạnh to lớn của nó.
Ý tưởng về việc "cứu rỗi lẫn nhau" giữ vai trò cốt lõi trong hôn nhân lần đầu tiên được gợi mở cho tôi qua các cuộc phỏng vấn với vợ chồng Helen và Keith Buckley. Tôi gặp Helen tại một cuộc họp do cô làm chủ tọa của một tổ chức vận động cộng đồng, chuyên giải quyết các nhu cầu y tế chưa được đáp ứng của trẻ em California. Hôm đó, tôi chia sẻ với nhóm về đề tài nghiên cứu những tác động dài hạn của ly hôn đối với con trẻ. Tôi cũng nói qua về dự án nghiên cứu những cuộc hôn nhân hạnh phúc mới được khởi động. Ngay ngày hôm sau, Helen đã gọi điện cho tôi để thông báo rằng cô đã bàn bạc với chồng, anh Keith, và cả hai rất hào hứng muốn tham gia vào dự án. Họ đã kết hôn với nhau từ năm 1954.
Không lâu sau đó, tôi đã có mặt tại văn phòng làm việc ở nhà của Helen tại San Mateo, California, thảnh thơi nhấp từng ngụm trà Earl Grey vào một chiều mưa tầm tã. Ngồi sau chiếc bàn làm việc bằng gỗ gụ lớn, cô diện một chiếc đầm len màu xám tro kết hợp cùng chuỗi vòng cổ bằng hổ phách, mái tóc điểm bạc dày dặn được giữ gọn gàng bằng những chiếc cặp tóc bằng bạc kiểu cổ. Ở tuổi năm mươi chín, Helen toát lên thần thái của một nữ doanh nhân thành đạt, đầy quyền lực nhưng cũng không kém phần cuốn hút. Cô có một ánh nhìn vô cùng kiên định và giọng nói rõ ràng, tự tin. Helen hiện đang điều hành một chuỗi các trường âm nhạc Yamaha, chuyên dạy vĩ cầm cho những em nhỏ từ ba, bốn tuổi. Dù hai bên có thể hẹn gặp nhau ở trung tâm thành phố, cô vẫn tha thiết mời tôi đến văn phòng tại nhà để hai người có một không gian hoàn toàn yên tĩnh, không bị làm phiền.
Tôi bắt đầu bằng câu hỏi quen thuộc: "Điều gì tốt đẹp nhất trong cuộc hôn nhân của anh chị?"
"Đó chính là tình bạn và tình yêu, một tình yêu luôn đi liền với sự sẻ chia," Helen trả lời một cách vô cùng quyết đoán. Cô ngẫm nghĩ một lát rồi nói tiếp: "Có quá nhiều thứ gắn kết chúng tôi lại với nhau, thật khó để biết nên bắt đầu từ đâu. Tôi và chồng là hai mảng màu hoàn toàn đối lập, và chính sự khác biệt ấy lại là một lực đẩy tích cực suốt những năm qua".
Cô mô tả cách hai vợ chồng nhìn nhận thế giới xung quanh. "Anh ấy là mẫu người tỉ mỉ, tư duy toán học. Là một kế toán viên công chứng, anh ấy là một kẻ cuồng sự ngăn nắp, lúc nào cũng giữ mọi thứ vào đúng trật tự. Còn tôi thì hướng ngoại hơn, tư duy theo thiên hướng khái niệm, trực giác và có phần táo bạo hơn".
Cô nói sâu hơn: "Tôi cần anh ấy để giữ mình đi đúng hướng. Còn anh ấy lại cần tôi để thêm một chút phiêu lưu, gia vị vào cuộc đời," cô mỉm cười.
"Điều gì sẽ xảy ra nếu anh ấy không giữ cô đi đúng hướng?"
Một vệt buồn thoáng qua gương mặt cô: "Anh ấy giữ tôi không bị rơi xuống những vực thẳm sâu hoắm mà nếu không có anh, tôi đã có thể sa chân vào".
Vực thẳm? Đó là một từ ngữ mang sắc thái rất nặng nề. Rõ ràng, cuộc hôn nhân này rất khác biệt so với những cuộc hôn nhân lãng mạn mà tôi từng chứng kiến trước đó. Hình ảnh về những nơi tối tăm, nguy hiểm và không đáy ấy quá ám ảnh, khiến tôi quyết định sẽ chưa vội đào sâu vào nó ngay lập tức. Chúng tôi cần xây dựng một sợi dây tin tưởng vững chắc trước khi bước vào những vùng ký ức nhạy cảm hơn.
Tôi hỏi: "Cô và chồng đã gặp nhau như thế nào?"
"Chúng tôi đã làm bạn tốt của nhau suốt hai năm trời trước khi chính thức yêu nhau thời đại học," cô kể, lấy lại phong thái tự tin vốn có. Tôi chú ý thấy cô không dùng từ "người tình". "Hồi đầu những năm năm mươi, hai đứa cùng sinh hoạt trong một nhóm thanh niên ở nhà thờ. Nhóm dạo đó toàn là con trai, chỉ có đúng hai đứa con gái, nhưng tất cả chơi với nhau vô tư như một hội anh em vậy. Tôi vừa từ vùng nông thôn trung tâm Bắc Carolina đến Chapel Hill, mọi thứ đối với tôi đều quá mới mẻ, còn các anh chàng trong nhóm thì ra dáng sành điệu và luôn muốn bảo vệ tôi, tôi thấy điều đó rất tuyệt. Keith là người đầu tiên tôi hẹn hò trong nhóm, nhưng rồi sau đó hai đứa có một thời gian rẽ theo những lối đi riêng. Tôi học Đại học Bắc Carolina ở Chapel Hill, còn Keith thì sang học bên Đại học Duke ở Durham".
"Vậy anh ấy là người đàn ông đầu tiên trong cuộc đời cô."
"Anh ấy là người đàn ông duy nhất mà tôi từng biết. Không lâu sau khi hai đứa quay lại hẹn hò, Keith đã thổ lộ rằng anh yêu tôi và muốn cưới tôi làm vợ ngay sau khi tốt nghiệp. Lúc đó tôi đã hoàn toàn bàng hoàng, bàng hoàng thực sự. Tôi tự ty về mọi thứ, đặc biệt là nỗi sợ hãi mơ hồ đối với việc kết hôn, đến mức tôi đã từ chối nhận chiếc nhẫn cầu hôn của anh. Và thế là suốt chín tháng trời, từ tháng Chín khi anh ngỏ lời cho đến tận tháng Năm năm sau, tôi kiên quyết yêu cầu hai đứa chỉ được phép trò chuyện về những chủ đề triết học. Và chỉ sau chuỗi thảo luận đó, tôi mới chấp nhận đeo chiếc nhẫn của anh".
Tôi vô cùng thích thú trước sự kiêu hãnh và "chiến thuật trì hoãn" của cô gái mười chín tuổi ngày ấy. Làm thế nào mà cô có thể duy trì những "cuộc thảo luận triết học" suốt chín tháng trời với một chàng trai đang yêu say đắm? Tôi đoán dạo đó họ hoàn toàn chưa có chuyện chăn gối. Hơi thận trọng, tôi hỏi: "Hai người đã trò chuyện về những gì vậy cô?"
"Chúng tôi bàn về những mục tiêu, giá trị sống, về quan điểm nuôi dạy con cái sau này..." Giọng cô khẽ chùng xuống một nhịp, rồi như một dòng nước vỡ bờ, những lời tâm sự tuôn ra: "Bạn thấy đấy, Judy, tôi xuất thân từ một gia đình lao động nghèo, học vấn thấp. Còn gia đình anh ấy lại có học thức rất cao. Tôi đến từ một vùng quê nghèo khó, một mái nhà tan vỡ và tuổi thơ đầy sự bỏ mặc. Tôi luôn hoài nghi không biết liệu tâm lý của mình có ổn định hay không. Nhưng hai đứa có những điểm chung cốt lõi. Cả hai đều được nuôi dạy dưới giáo lý nghiêm khắc của nhà thờ Lutheran và có chung nhiều nền tảng niềm tin. Và rồi tôi đã thú nhận với anh nỗi sợ hãi lớn nhất của đời mình – tôi sợ mình sẽ mang cái gien lăng loàn giống như mẹ và bà ngoại, sợ một ngày nào đó mình sẽ nhẫn tâm vứt bỏ chồng con".
Giọng nói, sắc mặt và từng cử chỉ của Helen đã thay đổi hoàn toàn. Hai bên thái dương khẽ giật liên hồi, cô cố nuốt nước bọt khi những ký ức đau đớn ùa về. "Mẹ bỏ rơi tôi khi tôi mới lên hai tuổi. Suốt quãng thời gian tôi lớn lên, bà chỉ đến thăm tôi vỏn vẹn vài lần. Tôi không bao giờ biết khi nào bà sẽ xuất hiện vì bà chẳng bao giờ gọi điện báo trước". Nước mắt lấp lánh trong mắt cô khi chạm vào một vết thương lòng cụ thể. "Nhưng có một lần bà có gọi. Bà hứa sẽ đến thăm tôi vào ngày sinh nhật mười tuổi. Ngày hôm đó, tôi đã diện bộ váy đẹp nhất, háo hức ngồi chờ mẹ suốt cả ngày trời. Nhưng bà đã không đến..." Giọng Helen khẽ nghẹn lại, cô lại cố nuốt nước mắt vào trong.
"Tôi chưa đầy hai tuổi khi bà bỏ đi. Bà là một kẻ nghiện rượu, giống hệt như bà ngoại tôi vậy. Bà cứ thế bước ra khỏi đời tôi vào một ngày nọ và không một lần ngoảnh đầu nhìn lại. Bà ly hôn với bố tôi – đó là cuộc hôn nhân đầu tiên của bà – rồi sau đó còn kết hôn và ly hôn thêm hai lần nữa". Helen lấy khăn giấy khẽ lau đi những giọt nước mắt. "Bố tôi cũng đi bước nữa tới ba lần".
Nỗi đau lòng của cô khi khơi lại những trải nghiệm này vẫn vẹn nguyên sức tàn phá, dù bao nhiêu năm tháng đã trôi qua. "Nhưng ai đã nuôi dưỡng cô?" Tôi hỏi. "Lúc đó cô mới lên hai".
"Bố gửi tôi vào một gia đình nhận nuôi trẻ. Dạo đó ông vừa bị phá sản. Ông luôn hứa hẹn một ngày nào đó sẽ đón tôi về, nhưng đến khi ông vực dậy được kinh tế thì tôi đã lên năm, lên sáu; và lúc đó ông lại đang bận rộn chuẩn bị lấy vợ mới nên không muốn có tôi bên cạnh. Người vợ kế của ông ghét cay ghét đắng trẻ con. Tôi dạo đó đã rất muốn được về sống với bố, nhưng một đứa trẻ thì làm gì có chút quyền lực nào để thay đổi số phận. Ông bảo tôi sống với bố mẹ nuôi sẽ tốt hơn, vì đó là những người cha người mẹ duy nhất mà tôi biết từ nhỏ".
Tôi hỏi về mái nhà nuôi của cô.
"Bố mẹ nuôi của tôi sống ở một trang trại cách Durham ba mươi dặm". Helen bám chặt lấy hai bên thành ghế bằng gỗ vững chãi, như thể đang tìm kiếm một chỗ dựa kiên cố trước một thế giới đang chao đảo. "Mẹ nuôi nhận tôi khi bà đã năm mươi bảy tuổi, còn bố nuôi đã sáu mươi hai".
Cô khẽ hắng giọng: "Mẹ nuôi tôi là một người hoang tưởng, tâm thần bất ổn. Bà luôn tự gọi mình là một hồn ma già, và mỗi khi nổi trận lôi đình với tôi, bà lại đe dọa: 'Nếu mày không biết điều, tao sẽ tống mày vào trại trẻ mồ côi, ở đó người ta sẽ đánh mày bầm da tím thịt'. Còn bố nuôi thì gần như ngó lơ sự tồn tại của tôi suốt thời gian qua. Ông bị bạo bệnh sau một tai nạn máy cày và mất đi một phần chân, nhưng điều đó không ngăn được tài năng của ông. Ông vẫn tự tay làm ra những nhạc cụ dây tuyệt đẹp trong xưởng gỗ sau nhà".
Helen khẽ chạm ngón tay vào chiếc sáo cổ đặt trên bàn: "Chính tại căn xưởng đó, tôi đã bén duyên với âm nhạc. Tôi đã tự mày mò học cách chơi đàn dulcimer. Đó là những lúc tôi không đi lang thang trong rừng – việc mà tôi làm phần lớn thời gian. Tôi đã dành rất nhiều thời gian cô độc một mình". Cô khẽ khụ khị, lấy lại sự điềm tĩnh. "Tôi đã phải tự lập từ khi còn rất nhỏ.
"Tôi nhớ mình thường tự chuẩn bị đồ ăn trưa rồi thực hiện những chuyến đi bộ lang thang cả ngày trời. Từ năm mười tuổi cho đến năm mười sáu tuổi, tôi đã một mình rảo bước qua những vùng đất hoang vu, hẻo lánh suốt nhiều dặm xung quanh. Thời nay, các bậc cha mẹ chắc chắn sẽ phát điên vì lo lắng nếu để một đứa trẻ đi bộ một mình như vậy. Nhưng ngày ấy, chẳng ai thèm hỏi han hay có ý định bảo vệ tôi cả. Tôi đã học được cách làm bạn với sự tĩnh lặng ngay từ khi còn nhỏ".
Bàn tay Helen siết chặt chiếc sáo nhưng cô vẫn cố giữ cho giọng mình không run rẩy. Tôi có thể mường tượng ra hình ảnh cô bé kiên cường ngày ấy, một mình đơn độc bước đi giữa đất trời bao la. Câu nói đầy ẩn ý của cô về "sự tĩnh lặng" chính là chìa khóa cho sự sinh tồn. Rất nhiều đứa trẻ bị bạo hành chọn cách tê liệt cảm xúc, nhưng có lẽ Helen đã bảo vệ thế giới nội tâm của mình bằng cách tự làm bạn với chính mình.
"Tôi nhớ có lần mình trèo qua một hàng rào chạy xuyên qua vườn cây ăn quả sau nhà," cô kể. "Tôi không nhớ việc đó có bị cấm hay không, nhưng chắc là có. Mẹ nuôi lôi xồng xộc tôi về phòng, ngày ấy giường của tôi vẫn là một chiếc cũi em bé. Nghĩ cũng lạ đúng không, khi bắt một đứa trẻ bốn tuổi phải ngủ trong cũi? Bà túm lấy tóc tôi, kéo giật ngược lên cầu thang rồi tống xà phòng vào miệng tôi để tẩy rửa".
"Bà phạt cô vì lỗi gì vậy?"
"Tôi cũng không biết nữa," cô lắc đầu. "Tôi không nhớ mình đã làm gì sai trái cả".
"Cô đã luôn là một đứa trẻ ngoan."
"Đúng vậy, tôi rất ngoan. Nhưng tôi không bao giờ quên được mùi vị xà phòng ngày hôm đó. Đó là xà phòng hiệu Lava. Nó đắng ngắt và đầy những hạt cát sạn. Tôi đã súc miệng bao nhiêu lần cũng không trôi hết cái vị kinh tởm ấy. Sau này khi tôi kể cho các con nghe về tuổi thơ của mình, chúng đã khóc vì thương mẹ. Nhưng biết đâu đấy, trong cái rủi lại có cái may. Sự hoang tưởng của mẹ nuôi đã đập tan cảm giác an toàn của tôi, nhưng chính điều đó lại buộc tôi phải học cách tự dựa vào bản thân mình từ sớm".
Tôi không chủ động khơi sâu thêm để Helen kể tiếp, bởi những ký ức ấy quá đỗi đau đớn, nhưng cô dường như rất muốn trút hết nỗi lòng, kể cả bức chân dung đầy kinh hoàng về người mẹ nuôi của mình. "Bà lúc nào cũng sống trong nỗi sợ hãi rằng có kẻ đang tìm cách hãm hại mình. Bà luôn thủ sẵn một khẩu súng săn trong bếp và thi thoảng lại nã đạn thẳng ra ngoài cửa vào ban đêm mỗi khi nghe thấy tiếng động lạ trong bóng tối. Tôi đã luôn sống trong nỗi sợ hãi tột cùng rằng bà sẽ giết chết một ai đó, hoặc một đêm nào đó bà sẽ súng thẳng vào tôi nếu tôi lỡ đi chơi về muộn. Có một đêm bà đã bắn về phía tôi thật, dù sau đó bà thanh minh rằng mình đã chủ ý lệch hướng".
"Bà có hay bạo hành thể xác cô không?"
"Về đòn roi," cô nói, "tôi không bị đánh đòn kiểu răn đe, mà là bị bạo lực thực sự. Tôi nhớ có lần bà phang thẳng chiếc vỉ đập ruồi vào mặt tôi. Lần khác, bà ném một viên gạch sượt qua đầu tôi. Bà rít lên rằng tôi là đứa hỗn láo, nhưng tôi không nhớ mình đã làm gì sai. Lúc đó tôi đang ở tuổi dậy thì, nên có lẽ tôi cũng có chút bướng bỉnh của tuổi mới lớn. Nhưng điều tàn nhẫn nhất bà làm chính là việc luôn lăng nhục ngoại hình của tôi. Bà suốt ngày chê tôi là một đứa to béo, thô kệch và trông xấu xí như một con lợn bướu. Bà bảo tôi có mái tóc xơ xác như rơm, một cái mông hộ pháp và đôi môi thô dày cục mịch".
Helen khẽ bật cười: "Tôi đã lớn lên với niềm tin tuyệt đối rằng mình là một đứa béo phì gớm ghiếc, dù thực tế tôi rất gầy. Sau này, các con tôi tìm thấy một bức ảnh tôi chụp năm mười lăm tuổi đứng trước nhà, chúng đã thốt lên: 'Nhìn mẹ xem, ngày xưa mẹ cao và gầy khẳng khiu giống hệt tụi con bây giờ nè'. Nhưng ngày ấy, mẹ nuôi luôn cố tình nhấn mạnh rằng tôi chẳng có nét nào giống mẹ đẻ cả. Như bạn chắc cũng đoán ra, mẹ đẻ của tôi là một người phụ nữ vô cùng xinh đẹp, có sức hút ma mị đối với đàn ông. Đàn ông cứ gọi là vây quanh bà. Nhưng bà lại là một người vô cùng lăng loàn. Chính vì vậy, ngay từ khi còn nhỏ, tôi đã lập một lời thề sắt đá rằng cuộc đời mình sẽ chỉ chung thủy với một người đàn ông duy nhất và chỉ quan hệ tình dục sau khi đã kết hôn".
Đến lúc này, ý nghĩa của hai chữ "vực thẳm" đã được phơi bày ra ánh sáng. Helen luôn sống trong nỗi sợ hãi tột cùng, như cô đã chia sẻ, rằng mình sẽ đi vào vết xe đổ đầy tội lỗi của người mẹ. Tôi hỏi: "Hiện giờ cô có thông tin gì về mẹ đẻ của mình không?"
"Mẹ tôi là một kẻ kiên cường, và tôi cũng vậy. Bà mang trong mình những góc tối bệnh tật nhưng cũng đã gặt hái được những thành tựu lớn trong đời," Helen điềm tĩnh nói. "Đúng vậy, bà là một kẻ nghiện rượu và trải qua ba đời chồng. Nhưng bà cũng từng là chủ tịch của một chi hội phụ nữ danh giá và tham gia tổ chức những giải golf từ thiện lớn của các tập đoàn".
Cô nói tiếp: "Đôi khi tôi thấy mình có nhiều nét tính cách rất giống mẹ, dù bà đã bỏ rơi tôi từ khi còn quá nhỏ. Cả hai đều là những người phụ nữ hoạt bát, có tầm ảnh hưởng trong các hoạt động cộng đồng. Nhưng hệ giá trị sống của tôi hoàn toàn được soi sáng bởi những giáo lý nhà thờ".
"Bao lâu thì cô gặp lại bà?"
Cô bình thản đáp: "Đã nhiều năm nay tôi không có tin tức gì của bà. Thực lòng tôi cũng không biết giờ này bà còn sống hay đã mất".
Nếu ai đó muốn thiết kế một môi trường sống tồi tệ nhất, hủy hoại hoàn toàn lòng tự trọng của một đứa trẻ, đập tan niềm tin của nó vào con người và biến thế giới thành một nơi điên rồ, bất công, thì môi trường đó chính là tuổi thơ của Helen. Một đứa trẻ bị cha mẹ bỏ rơi sau một vụ ly hôn, bạo bệnh hay sự thờ ơ khi còn quá nhỏ để thấu hiểu lý do sẽ phải gánh chịu những tổn thương tâm lý vô cùng sâu sắc. Nó không chỉ cảm thấy cô độc, sợ hãi, mà gần như luôn tự đưa ra những kết luận cay đắng: "Mình là đứa trẻ không đáng được yêu thương. Mình không có giá trị gì nên cha mẹ mới bỏ rơi mình," hoặc "Nếu mình ngoan ngoãn hơn, bố mẹ đã không bỏ đi. Mình là đứa hư hỏng, mình không xứng đáng có được hạnh phúc". Không một lời giải thích hay vỗ về nào của người lớn có thể xóa nhòa hoàn toàn vết thương lòng ấy. Sự bỏ rơi từ sớm có thể gây ra những di chứng tâm lý kìm hãm suốt cả quá trình phát triển của một con người. Thế nhưng, đối với Helen, ngoài việc bị cha mẹ đẻ ruồng rẫy, cô còn phải lớn lên trong một gia đình nhận nuôi bạo lực, điên rồ; cô đã phải sống trong nỗi sợ hãi bị ngược đãi suốt nhiều năm trời.
Đối với một người có quá khứ đầy rẫy những sang chấn như vậy, bước chuyển mình sang thế giới của người trưởng thành thường vô cùng đau đớn, chật vật. Nhiều người phải gánh chịu chứng trầm cảm dai dẳng suốt đời, luôn sống trong trạng thái khát khao tình cảm nhưng đồng thời lại tin rằng mình không xứng đáng được yêu. Mang tâm lý cam chịu rằng mọi chuyện rồi sẽ chẳng đi đến đâu, họ tự tay đánh đổ hết cơ hội này đến cơ hội khác, càng làm trầm trọng thêm cảm giác thất bại của bản thân. Rất nhiều người vô tình sa chân vào những mối quan hệ độc hại, vô thức tái diễn lại chính kịch bản bạo hành thời thơ ấu của mình. Số khác, vì quá sợ hãi cảm giác bị từ chối, chọn cách đóng chặt cánh cửa lòng, quay lưng lại với mọi lời đề nghị gắn kết.
Thế nhưng, khi Keith cầu hôn, Helen đã không đẩy anh ra xa. Cô đã đứng vững trên ranh giới của mình với một sự kiêu hãnh và ngọt ngào cao quý, bảo anh rằng: "Chúng ta hãy chờ thêm một thời gian. Hãy cùng nhau trò chuyện về những gì hai đứa mong muốn cho tương lai. Hãy xem giữa chúng ta có thực sự có những giá trị chung hay không. Chúng ta cần cân nhắc thật kỹ lưỡng xem đây có phải là sự lựa chọn đúng đắn cho cả hai người hay không".
Chính chín tháng thảo luận nghiêm túc ấy – một chặng đường tán tỉnh mang màu sắc hiệp sĩ đầy thuần khiết và tôn trọng – đã trở thành không gian để hai người cùng trải lòng về những nỗi đau quá khứ và những kỳ vọng về một tương lai tươi sáng hơn. Bất chấp một xuất phát điểm đầy rẫy những tước đoạt và nỗi sợ hãi, việc Helen có thể tự tin đặt câu hỏi: "Chúng ta có thực sự thuộc về nhau?", rồi tự tay kiến tạo nên câu trả lời trong chính quá trình tìm kiếm, là một thành tựu phi thường của lòng quả cảm, và nó đã đặt một viên gạch nền móng vững chắc cho cuộc hôn nhân của họ.
Làm thế nào mà những con người bước ra từ đống đổ nát của tuổi thơ lại có thể tìm thấy nhau và đưa ra sự lựa chọn đúng đắn đến vậy? Chúng ta không thể chọn cha mẹ, cũng không thể chọn con cái, nhưng chúng ta hoàn toàn có quyền chọn người sẽ cùng mình đi suốt cuộc đời. Vậy mà ngoài kia, biết bao nhiêu người vẫn đưa ra những sự lựa chọn sai lầm. Trong số những cặp vợ chồng hạnh phúc mà tôi từng trò chuyện, phần lớn họ đều đến từ những thế giới hoàn toàn khác biệt; chỉ có duy nhất một cặp đôi là lớn lên chung một khu phố. Vậy mà họ đều đã chọn đúng người. Họ đã làm điều đó bằng cách nào?
Bên cạnh sự thu hút về mặt thể xác – yếu tố tất yếu và vô cùng quan trọng trong tình yêu – ở một tầng sâu hơn, con người luôn vô thức tìm kiếm một sự ăn khớp hoàn hảo nhất về mặt tâm lý với một người khác. Mối duyên ban đầu thường khởi nguồn từ những điểm chung rõ rệt: cùng chung sở thích, đam mê, công việc, hay có chung một hệ giá trị về chính trị, đạo đức và tôn giáo. Helen và Keith cùng sinh hoạt chung một nhóm nhà thờ, cùng có một cái nhìn nghiêm túc, có phần bảo thủ về giá trị của gia đình. Và rồi, khi thời gian trôi qua, họ nhận ra cả hai đều mang trong mình một tuổi thơ không hạnh phúc. Đúng như một người chồng trong nghiên cứu đã đúc kết: "Chúng tôi tìm thấy nhau qua những điều hai đứa cùng trân trọng và cả những điều hai đứa cùng muốn tránh xa". Hai con người có thể gắn kết vì một quá khứ tương đồng: "Cả hai chúng tôi đều bước ra từ đống đổ nát của cuộc hôn nhân đầu tiên và đều là những kẻ kiên cường sống sót", hoặc vì một tầm nhìn chung cho tương lai: "Cả hai đều ước mơ về một cuộc sống bình yên ở một thị trấn nhỏ để nuôi dạy các con". Hoặc giả: "Chúng tôi cùng muốn cứu rỗi thế giới", hay đơn giản là: "Cả hai đều thèm khát một ốc đảo bình yên".
Có những khi, thứ đưa họ lại gần nhau lại chính là sự cô đơn. Tất cả chúng ta đều tìm kiếm một nửa kia từ nỗi khát khao khỏa lấp sự trống trải, thèm khát một sự gắn kết, một người bạn đồng hành và chuyện chăn gối. Nhưng với một số người, cảm giác phải đối diện với sự cô độc sau khi rời xa vòng tay cha mẹ là một điều quá đáng sợ; họ cần một người luôn đứng sẵn ở cánh gà để nâng đỡ mình. Có những mối duyên được thắp lên từ chính nỗi lo âu chung: đây có thể là cơ hội cuối cùng, cơ hội duy nhất của đời mình rồi, mình phải nắm chặt lấy nó chứ không thể chần chừ thêm nữa.
Con người bị thu hút bởi nhau còn vì những hình ảnh nội tâm, hay chính là hiện tượng chuyển di, có liên quan sâu sắc đến cha mẹ hoặc những hình bóng quan trọng trong quá khứ. Khi bước vào độ tuổi trưởng thành, các sự chuyển di này đã được bện chặt thành một "bản hướng dẫn tổng thể" chi phối toàn bộ những gì ta kỳ vọng ở bản thân và ở người khác. Như tôi đã chia sẻ, những hình bóng này có tầm ảnh hưởng vô cùng lớn lao đến mô hình hôn nhân mà một người kỳ vọng xây dựng. Sự ra đi của cha tôi khi tôi mới lên tám là một biến cố định hình toàn bộ cuộc đời tôi, và nó có mối liên hệ mật thiết đến sự nghiệp học thuật của tôi – giúp đỡ những đứa trẻ vượt qua nỗi đau mất mát. Nhưng việc tôi lựa chọn Robert làm chồng chắc chắn chịu ảnh hưởng lớn từ những ký ức ấm áp, đẹp đẽ về cha tôi. Niềm tin tuyệt đối từ thuở nhỏ rằng mình là một đứa trẻ vô cùng quan trọng và được yêu thương đã nhào nặn nên kỳ vọng ở tuổi trưởng thành của tôi: rằng mình có quyền lựa chọn và chắc chắn sẽ tìm được một người đàn ông yêu thương mình hết lòng. Vì những lý do tương tự, Sara Turner cũng mang trong mình những kỳ vọng tự tin như thế.
Bên cạnh những điểm tương đồng, con người còn bị hút nhau bởi chính những nét khác biệt: ta luôn tìm kiếm ở bạn đời những phẩm chất mà bản thân còn thiếu thốn. Đúng như Matt đã thốt lên: "Ở bên Sara, tôi mới thấy mình trọn vẹn". Do đó, hành trình tìm kiếm một sự ăn khớp hoàn hảo thực chất là nỗ lực khỏa lấp những khoảng trống trong chính tâm hồn mình. Cơ chế kết hợp những khác biệt tâm lý giữa bản thân và người khác để tạo nên một chỉnh thể hoàn thiện hơn được gọi là Tính bổ khuyết (complementarity).
Những cặp đôi nổi tiếng nhất trong văn học chính là hiện thân kinh điển cho tính bổ khuyết này. Chàng Đôn Ki-hô-tê mơ mộng, hoang tưởng luôn bị thu hút bởi gã giám mã Xan-sô Pan-xa thực tế, kẻ chỉ quan tâm xem bữa ăn tiếp theo của họ ở đâu. Vị tướng lĩnh Othello thô ráp, phong trần lại si mê nàng Desdemona dịu dàng, thánh thiện; bởi ở nơi anh, nàng tìm thấy những cuộc phiêu lưu hào hùng và sự táo bạo mà cuộc sống khuê các của nàng không bao giờ có được.
Trong cuộc sống thực tại, con người luôn tìm kiếm một người có sự ăn khớp hoàn hảo, nhưng cơ chế này sâu sắc hơn việc đơn thuần khỏa lấp những khoảng trống bề nổi. Tính bổ khuyết cho phép chúng ta tìm thấy ở bạn đời những khía cạnh của chính mình mà bấy lâu nay ta đã vô tình kìm nén hoặc chối bỏ vì sợ hãi hay định kiến, nhưng sâu thẳm bên trong vẫn luôn khát khao được thể hiện ra ngoài.
Mỗi chúng ta đều mang một "bộ rada tâm lý" để quét qua thế giới xung quanh nhằm tìm kiếm những gì mình cần. Thế nên, một cô gái yếu đuối, nhút nhát lại hay có xu hướng đổ gục trước những anh chàng mặc áo khoác da hầm hố để gián tiếp thỏa mãn khát khao được nổi loạn, nguy hiểm của mình trong khi bản thân vẫn giữ vẻ dịu dàng, ngoan ngoãn. Một người phụ nữ bốc đồng, thất thường lại thích những người đàn ông diện com-lê lịch lãm vì cô đang tìm kiếm một cảm giác an toàn, có tính dự đoán; mối quan hệ ấy sẽ giúp cô kiểm soát tốt hơn những bất ổn nội tâm của mình. Vì những lý do tương tự, một chàng trai nhút nhát lại dễ bị hớp hồn bởi một cô nàng diện váy ngắn da và giày gót nhọn kiêu kỳ – người sẽ thay anh sống cuộc đời nổi loạn mà anh không bao giờ dám cho phép bản thân thử sức; trong khi một chàng trai khác lại chỉ thích những cô gái diện đầm hoa nhẹ nhàng vì họ mang lại cho anh cảm giác thế giới này vô cùng ngăn nắp và dịu dàng.
Tính bổ khuyết là một cơ chế tâm lý vô cùng mạnh mẽ, có thể dẫn lối cuộc đời đến những bến bờ hạnh phúc hoặc những bi kịch đớn đau. Trong một cuộc hôn nhân hạnh phúc, sự hòa quyện của những khác biệt tâm lý mang một quyền năng chữa lành vô cùng lớn lao, đúng như những gì cuộc hôn nhân của nhà Turner đã chứng minh. Cảm xúc đến với Sara một cách vô cùng tự nhiên; cô đưa ra quyết định nhanh chóng, hiếm khi ngoảnh đầu hối tiếc và dễ dàng bị cuốn đi bởi những đam mê mãnh liệt. Matt, lớn lên dưới mái nhà khắt khe nơi cảm xúc bị bóp nghẹt, lại là một người đàn ông lý trí đến cực đoan. Cuộc hôn nhân đã trả lại sự tự do nội tâm cho anh và mang lại một bến đỗ bình yên cho cô. Bên nhau, họ cùng làm cho người kia trở nên hoàn hảo hơn.
Thế nhưng, tính bổ khuyết cũng có thể trở thành cái bẫy dẫn đến một cuộc hôn nhân đồng lõa độc hại (collusive marriage) – nơi hai người gắn kết với nhau vì những lý do bệnh lý hoặc những tổn thương chưa trưởng thành. Ví dụ, một người đàn ông có thể chọn một người vợ nuông chiều, dung túng cho anh ta mãi làm một đứa trẻ to xác ích kỷ. Đổi lại, trong vai trò một người mẹ và người quản lý, cô vợ cho phép chồng thỉnh thoảng phạm những lỗi lầm tai hại để cô có thể bao dung tha thứ, từ đó thỏa mãn mặc cảm quyền lực của mình. Có những cặp vợ chồng lại vô tình dung túng cho lối sống nông nổi, thiếu trách nhiệm của nhau trước thế giới, kiên quyết từ chối trưởng thành dù tuổi đời đã không còn trẻ.
Để có thể đưa ra một sự lựa chọn sáng suốt trong hôn nhân, một người trước hết phải học được cách đứng vững một mình, giống như cách Helen đã làm khi kiên quyết thiết lập chín tháng thử thách với người đàn ông cầu hôn mình. Bản lĩnh đứng vững một mình có nghĩa là bạn tự ý thức được mình có quyền lựa chọn và xứng đáng có được sự lựa chọn; rằng chắc chắn sẽ có ai đó trân trọng chọn bạn và bạn cũng có toàn quyền chọn lựa lại họ.
Việc đứng vững một mình không đơn thuần là việc bạn tự trả tiền thuê một căn hộ riêng sau khi ra trường. Nó có nghĩa là bạn sở hữu một bản sắc cá nhân độc lập vững vàng, đủ để bạn thanh thản đi bộ về nhà một mình sau một bữa tiệc tùng. Nó có nghĩa là bạn có đủ nội lực để tự đi qua những đêm trường cô độc. Nó có nghĩa là bạn không để cho nỗi trống trải, cô đơn giật dây đưa ra những quyết định sai lầm về việc mình sẽ cho phép ai bước chân vào cuộc đời mình. Theo kinh nghiệm của tôi, biết bao nhiêu cuộc hôn nhân bi kịch ngoài kia đều bắt nguồn từ nỗi sợ hãi phải đối diện với sự cô đơn, dù chỉ là trong một khoảng thời gian ngắn ngủi. Việc đứng vững một mình cũng giúp bạn mài giũa "bộ rada tâm lý" của mình nhạy bén hơn, từ đó thiết lập một hệ thống cảnh báo sớm giúp bảo vệ bản thân không bị tổn thương. Bất chấp một quá khứ đầy rẫy những sang chấn và nỗi sợ hãi bủa vây, Helen đã dũng cảm đứng vững, không vội nhận lời cũng chẳng phũ phàng từ chối, khi cô cùng người yêu từng bước một khám phá xem liệu họ có thực sự nên gắn bó trọn đời bên nhau hay không.
Bình luận