top of page

Làm sao để hôn nhân có thể chữa lành bạn

Tác giả: Judith S. Wallerstein, Sandra Blakeslee

Sách: The Good Marriage: How and Why Love Lasts



PHẦN BA: HÔN NHÂN CỨU RỖI

CHƯƠNG 9: Keith Buckley


Hai tuần sau đó, tôi quay trở lại San Mateo để gặp chồng của Helen, anh Keith. Anh đón tôi ngay tại cửa và nhanh chóng khiến tôi cảm thấy vô cùng thoải mái. Keith là một người đàn ông thân thiện, tốt bụng với nước da hồng hào, mái tóc chỉ còn lại một khía tóc muối tiêu quanh đầu, và sở hữu một bàn tay có các ngón vô cùng thanh mảnh. Tôi có thể dễ dàng mường tượng ra những ngón tay dài ấy đang lướt nhanh trên chiếc máy tính bấm tay đã sờn cũ trên bàn làm việc, khi anh miệt mài chuẩn bị các biểu mẫu thuế và bảng lương cho khách hàng của mình.


Trước đó, qua lời kể của Helen, tôi mới chỉ biết được một nửa câu chuyện. Tôi có thể hình dung ra bức tranh về những giá trị đạo đức và tôn giáo chung mà hai người chia sẻ, cũng như thế giới nội tâm đã thôi thúc Helen tìm kiếm một người đàn ông ấm áp, đáng tin cậy để giữ cô không bị rơi xuống vực thẳm. Nhưng còn vai trò của cô trong cuộc đời anh thì sao? Vì lý do gì mà anh lại chọn cô? Điều gì đã làm nên sức mạnh giúp cuộc hôn nhân này vững vàng theo năm tháng?


Khi tôi đặt câu hỏi quen thuộc về những điều tốt đẹp trong cuộc hôn nhân của mình, Keith khẽ trêu tôi: "Chà, làm sao cô biết chắc là cuộc hôn nhân của tôi tốt đẹp thế?" Anh khẽ cười khục khịch và lắc đầu, nhưng tôi cảm nhận được điệu cười ấy bắt nguồn từ sự rụt rè, bẽn lẽn chứ không phải vì quá tự tin. Phong thái của anh khá kiệm lời và kín đáo. Đây không phải là mẫu đàn ông dễ dàng phơi bày tâm tư hay cảm xúc của mình ra ngoài. Anh lại khẽ cười và nói: "Cô thực sự rất thích đưa ra những câu hỏi mở hóc búa đấy". Rồi anh bắt đầu trải lòng: "Cuộc hôn nhân của tôi rất tốt đẹp. Hai vợ chồng luôn tìm thấy rất nhiều niềm vui khi ở bên nhau". Anh suy nghĩ thêm một chút: "Mỗi khi cô ấy đi vắng, tôi đều thấy rất nhớ. Chúng tôi là hai con người hoàn toàn khác biệt".


"Anh có thể mô tả rõ hơn về những điểm khác biệt đó không?"


"Có thể coi tôi là một kẻ khá bảo thủ. Nhưng tôi lại rất thích những ý tưởng đầy tính thử thách và mới mẻ của cô ấy. Tôi là mẫu người của những chi tiết, số liệu; còn cô ấy lại là người của tư duy khái niệm, thích giải quyết các vấn đề lớn. Cô ấy có phần giống như một nàng Pollyanna lạc quan thái quá". Phải mất vài giây tôi mới nhận ra anh không hề có ý định chỉ trích vợ khi dùng từ đó. "Cô ấy lúc nào cũng tràn đầy năng lượng và lạc quan," anh giải thích. "Cô ấy luôn nhìn thấy phần chiếc bánh donut ngọt ngào, trong khi tôi chỉ chăm chăm nhìn vào cái lỗ trống ở giữa". Và rồi, chạm đúng vào phần cốt lõi, anh nói: "Cô ấy là một người vô cùng mạnh mẽ. Tuổi thơ của cô ấy đã phải trải qua biết bao nhiêu giông bão nghiệt ngã. Số phận của đứa trẻ lên hai ngày ấy hoàn toàn có thể đã rẽ sang một ngã rẽ tăm tối, bi kịch. Nhưng cô ấy đã dũng cảm chọn con đường hướng về phía ánh sáng thay vì đầu hàng bóng tối".


Tôi cảm giác Keith gánh vác và trân trọng những mảnh ký ức tuổi thơ của Helen chẳng kém gì ký ức của chính mình, dù anh hoàn toàn không có mặt trong những năm tháng ấy. Anh tỏ ra vô cùng thấu hiểu khi trò chuyện về quá khứ của vợ và say sưa kể lại những câu chuyện về gia đình nuôi của cô. Anh thậm chí còn bổ sung thêm một chi tiết mà Helen đã bỏ sót trước đó: suốt thời thơ ấu, cô luôn bị bủa vây bởi một giấc mơ lặp đi lặp lại, trong đó cô thấy mình bị xích chặt vào một cây cột. Keith nói bằng tất cả sự xúc động và trân quý về nỗi uất ức khi Helen bị mẹ đẻ ruồng rẫy. Anh biết cô đã khóc ròng rã thế nào khi mẹ lỗi hẹn trong ngày sinh nhật. Rồi anh tự hào kết luận: "Cô ấy đã vượt qua tất cả những điều đó".


"Anh lý giải thế nào về sức mạnh phi thường này của cô ấy?" Tôi hỏi.


"Tôi đoán chắc là do gien di truyền thôi."


Khi tôi hỏi về tuổi thơ của chính anh, Keith bắt đầu kể: "Mẹ tôi là một thủ thư, và nói theo cách ngày xưa, bà là một 'gái già lỡ thì'. Bà kết hôn khá muộn khi đã ngoài ba mươi, còn cha tôi thì kém bà vài tuổi. Một năm sau thì tôi chào đời. Trong ký ức của tôi, ngôi nhà dạo đó chưa bao giờ bình yên, bố mẹ cứ bới móc và cãi vã nhau suốt ngày. Bạn biết đấy, cha tôi là một người vô cùng cay nghiệt, ông thích dùng lời nói để làm tổn thương người khác. Còn mẹ tôi lại là một người phụ nữ vô cùng dịu dàng, dịu dàng đến mức không nỡ làm tổn thương cả một con ruồi".


Sắc giọng của Keith bỗng chốc đanh lại, anh di chuyển đôi bàn tay đang để mở trên bàn thành hai nắm đấm lỏng. Giọng anh cao lên đầy phẫn uất: "Cha tôi chưa từng một lần công nhận hay trân trọng những gì mẹ làm. Ông là một kẻ bủn xỉn, người đã biến cuộc sống của mẹ và tôi thành một chuỗi những tháng ngày ngột ngạt, khốn khổ". Anh cúi xuống nhìn đôi bàn tay của mình, chúng đang khẽ run lên bần bật. Anh nhìn chằm chằm vào chúng một lát, cố dùng lý trí để ép chúng phải bất động, nhưng hai bàn tay vẫn không thôi run rẩy. Tôi vô cùng kinh ngạc trước sức mạnh của cơn giận dữ đang cuộn trào bên trong anh. Phải mất một lúc sau, anh mới lấy lại được sự điềm tĩnh và nhìn tôi một cách nghiêm túc.


"Tôi dạo đó rất thần tượng mẹ mình. Bà đối xử với tôi vô cùng tốt. Tôi sẽ không bao giờ có thể trưởng thành và làm tốt mọi việc trong đời nếu không có tình yêu thương của bà. Nhưng mối quan hệ giữa tôi và cha thì hoàn toàn là một tấn bi kịch. Sự cay nghiệt của ông đã tàn phá sức khỏe của mẹ – bà bị mắc chứng bệnh viêm đại tràng mãn tính khiến cuộc sống vô cùng khổ sở. Năm tôi mười hai tuổi, tôi đã lấy hết can đảm để cầu xin cha hãy nới lỏng sự kìm kẹp, hãy bớt khắt khe và giúp đỡ mẹ nhiều hơn. Nhưng ông là kẻ cuồng kiểm soát, ông quyết không chịu nhượng bộ dù chỉ một phân. Ông là một người đàn ông ích kỷ, độc đoán và nhẫn tâm".


Keith lại nhìn xuống hai bàn tay đang nắm chặt của mình và nói: "Tôi ghét cha tôi. Tôi rời bỏ ngôi nhà ấy ngay khi có lệnh nhập ngũ, và sau khi xuất ngũ trở về, tôi đã cố gắng tìm cách hòa hợp với ông, nhưng mọi nỗ lực đều bất thành. Ông luôn dành cho tôi những lời lẽ lăng nhục, cay đắng nhất; ông khẳng định tôi là đứa vô tích sự và sẽ không bao giờ tìm nổi một công việc ra hồn. Ông lúc nào cũng tìm cách vùi dập và hạ bệ tôi. Ông luôn tràn đầy năng lượng tiêu cực và độc hại".


Khi Keith chia sẻ rằng anh hoàn toàn không có bất kỳ ký ức nào trước năm mười tuổi, tôi hỏi liệu thực sự không có một sự việc nào đọng lại trong tâm trí anh hay sao.


"Tôi chỉ nhớ duy nhất một lần cả nhà cùng đi nghỉ mát. Tôi ngồi ở băng ghế sau của xe ô tô, và suốt cả chuyến đi dài, hai người họ không ngừng bới móc, cãi vã nhau. Tôi nhớ mẹ đã khóc nức nở và nói: 'Có lẽ chúng ta nên ly hôn đi', và cha tôi lạnh lùng đáp lại đầy giận dữ: 'Phải, có lẽ nên như thế'."


"Lúc đó anh cảm thấy thế nào?"


"Rất kinh khủng," Keith đáp, hai nắm đấm lại siết chặt trên mặt bàn. "Tôi uất hận ông ấy, nhưng đồng thời lại vô cùng sợ hãi trước viễn cảnh gia đình ly tán".


"Mẹ anh dạo đó có kéo anh về phía bà để tìm kiếm một đồng minh không?"


Anh khẽ hít một hơi thật sâu: "Mẹ tôi là một người phụ nữ vô cùng phi thường. Bà dành phần lớn thời gian để động viên, vỗ về, giúp tôi tự tin vào bản thân mình. Tôi nhớ những lần hai mẹ con cùng đi dạo bên nhau, khi lòng tôi đầy rẫy những hoài nghi và sợ hãi. Thế nhưng, tuyệt nhiên bà chưa một lần ca thán hay nói xấu về những gì cha đã đối xử với bà. Bà là một người có lòng tự trọng cao quý và là một con chiên vô cùng ngoan đạo của nhà thờ Lutheran".


Keith khẽ chùng nét mặt xuống khi nói về mẹ. "Suốt những năm tháng khôn lớn, tâm nguyện duy nhất của tôi là có thể che chở và giúp đỡ được cho bà".


"Anh đã làm được điều đó chứ?"


Giọng anh khẽ chùng xuống: "Tôi chưa bao giờ thực hiện được tâm nguyện đó. Bà qua đời năm tôi mười bảy tuổi".


Giống như Helen, Keith bước vào cuộc sống trưởng thành với một gánh nặng tâm lý vô cùng lớn; cha anh là một kẻ độc tài, bạo chúa đối với anh và hoàn toàn nhẫn tâm với mẹ anh. Nhưng khác với Helen, ít nhất anh còn có một người mẹ để yêu thương, kính trọng và sẻ chia niềm đồng cảm sâu sắc. Thế nhưng, anh lại phải mang một nỗi đau đáu khôn nguôi vì đã hoàn toàn bất lực không thể giải thoát bà khỏi đau khổ. Tình yêu anh dành cho Helen và sự thấu hiểu sâu sắc trước những bất hạnh của cô thực chất được nuôi dưỡng từ chính tình yêu và niềm thương cảm anh dành cho người mẹ quá cố của mình.


Làm thế nào mà Keith có thể tránh được vết xe đổ thất bại mà người cha đã nguyền rủa lên anh? Làm thế nào anh không trở thành một kẻ cay nghiệt, bạo lực giống như cha mình? Và trên hết, làm thế nào mà Helen và Keith có thể cùng nhau kiến tạo nên một cuộc hôn nhân viên mĩ đến nhường ấy?


Những người từng phải trải qua một tuổi thơ đầy rẫy những tước đoạt và tổn thương không bao giờ hoàn toàn từ bỏ niềm khát khao có được tình yêu và hạnh phúc khi trưởng thành. Đúng là trong thâm tâm, họ luôn bị bủa vây bởi nỗi lo sợ rằng các mối quan hệ mới rồi sẽ lại lặp lại chuỗi bi kịch cũ. Suy cho cùng, cuộc sống trước giờ của họ vốn là như vậy; có lý do gì để nó thay đổi đâu? Thậm chí, việc sống trong một kịch bản đau khổ đôi khi lại mang đến một cảm giác "an tâm" kỳ lạ chỉ vì sự đau khổ đó quá đỗi quen thuộc: ít nhất thì cuộc đời còn có một phần nằm trong tầm dự đoán, dù là dự đoán về nỗi buồn. Thế nhưng, bất kỳ ai, kể cả những người chịu tổn thương sâu sắc nhất, vẫn luôn âm thầm nuôi dưỡng một niềm hy vọng ngược lại: hy vọng rằng tương lai sẽ không phải là tấm gương phản chiếu quá khứ. Họ luôn giằng xé giữa hai thái cực, một mặt tin rằng bi kịch sẽ lặp lại và mặt khác tha thiết mong mỏi điều ngược lại. Chính niềm hy vọng vào sự thay đổi này là động lực đưa những con người tổn thương tìm đến các văn phòng tư vấn tâm lý.


Rất nhiều đứa trẻ lớn lên trong những gia đình bất hạnh đã tự xây dựng cho mình một thế giới mộng tưởng độc lập để tự cứu rỗi bản thân. Một người phụ nữ trong nghiên cứu này, có cha mẹ cãi vã, bạo lực suốt thời thơ ấu, kể lại: "Khi còn là một cô bé, tôi thường đi bộ lang thang qua các khu phố xa lạ chỉ để tìm kiếm những ngôi nhà trông bề thế và bình yên. Tôi sẽ đứng trước hiên nhà, ước ao với tất cả sức mạnh của con tim rằng giá như mình được thuộc về nơi đó". Cô bé ngày ấy hoàn toàn không biết điều gì thực sự diễn ra sau những cánh cửa đóng kín kia, nhưng chính mộng tưởng ấy đã nâng đỡ cô đi qua giông bão.


Con người hoàn toàn có khả năng duy trì những hình ảnh tinh thần vô cùng phong phú và tươi đẹp ngay giữa những điện ngục đau khổ. Hồi đầu sự nghiệp, tôi từng làm việc với những đứa trẻ Do Thái mồ côi bước ra từ trại tập trung của phát xít Đức. Nhiều em đã phải trực tiếp chứng kiến cảnh cha mẹ mình bị sát hại dã man. Có một cậu bé sống nhiều năm trong các trại tị nạn luôn khăng khít ôm chặt bên mình một cuốn sách giáo khoa hóa học rách nát mà cậu thậm chí còn chưa biết đọc – một vật cầu may giúp cậu giữ vững niềm hy vọng và ước mơ sau này sẽ trở thành một nhà khoa học giống như người cha quá cố của mình. Và Helen, trong những chuyến đi bộ lang thang cô độc ngày ấy, thực chất đang tự vỗ về bản thân bằng những hình dung về một cuộc sống hạnh phúc hơn, nơi không còn đòn roi và sự ghẻ lạnh.


Từ nghiên cứu về những cuộc hôn nhân cứu rỗi này, tôi ngày càng thấm thía sức mạnh to lớn của các mối quan hệ, đặc biệt là ở giai đoạn đầu của tuổi trưởng thành, trong việc đánh thức những hy vọng thầm kín ấy. Khi niềm hy vọng được thắp lên gặp gỡ một sự ăn khớp hoàn hảo về mặt tâm lý – nơi những nhu cầu và khát khao của hai bên hòa quyện vào nhau như trường hợp của Helen và Keith – con người hoàn toàn có khả năng bứt phá ra khỏi quá khứ để kiến tạo nên một tương lai với những kỳ vọng tốt đẹp. Tất nhiên, nguy cơ trượt chân vào những vết xe đổ cũ luôn hiện hữu, nhưng những cuộc hôn nhân cứu rỗi hạnh phúc này là minh chứng rõ nét cho một hiện tượng chưa từng được khám phá sâu sắc trong các tài liệu tâm lý học – đó chính là quyền năng chữa lành của một cuộc hôn nhân hạnh phúc.


Tôi không có ý định cổ súy cho quan điểm rằng hôn nhân có thể thay thế hoàn toàn cho các liệu pháp tâm lý đối với những người bị tổn thương nghiêm trọng thuở nhỏ. Khác với Helen và Keith, nhiều người có quá khứ sang chấn nặng nề sẽ không thể thực hiện những bước đi đầu tiên để thay đổi cuộc đời nếu thiếu đi sự can thiệp của các chuyên gia điều trị, và ngay cả khi đó thì kết quả cũng không phải là điều chắc chắn. Nhiều cặp vợ chồng ngày nay, kể cả những người trong hôn nhân cứu rỗi, vẫn chủ động tìm đến liệu pháp tâm lý tại những bước ngoặt cụ thể của cuộc sống. Điều làm nên sự khác biệt của mô hình hôn nhân cứu rỗi không phải là việc họ tự mình vượt qua mọi chuyện mà không cần trợ giúp, mà là việc họ đã phục hồi một cách vô cùng thành công, trong đó chính cuộc hôn nhân đóng vai trò như một chất xúc tác tối quan trọng.


Trong một cuộc hôn nhân cứu rỗi, sự chuyển biến tâm lý được khởi đầu khi hai con người với quá khứ đầy rẫy những tổn thương bị thu hút bởi nhau, bất chấp nỗi sợ hãi sâu kín rằng mình sẽ lại bị tổn thương một lần nữa. Nếu niềm hy vọng của họ đủ lớn, họ sẽ trao cho nhau sự tin tưởng để cùng xây dựng một tầm nhìn chung cho tương lai. Mỗi người sẽ trở thành chỗ dựa vững chắc cho người kia trong nỗ lực ngăn chặn sự lặp lại của những kịch bản đen tối cũ. Họ xoa dịu nỗi sợ của nhau và có được một cảm giác tự tin mà bấy lâu nay họ chưa từng biết đến. Mối quan hệ ấy dạy cho họ hiểu rằng họ hoàn toàn có quyền đóng cánh cửa quá khứ lại để hiện thực hóa những hy vọng sâu kín nhất của mình. Sức mạnh của bước chuyển mình ấy có thể mang lại một sự bừng tỉnh vô cùng lớn lao.


Keith và Helen bắt đầu cuộc sống chung với một sự ăn khớp hoàn hảo về mặt tâm lý xét trên những gì họ mong đợi và cần có ở đối phương. Helen, khi vô thức áp đặt những hình bóng đáng sợ của quá khứ và nỗi sợ bị tổn thương lên người đàn ông đang cầu hôn mình, đã vô cùng hoảng sợ trước lời đề nghị của Keith. Nhưng đồng thời, cô cũng mang theo những hình dung mạnh mẽ về hành trình tìm kiếm tình yêu và sự tử tế – những giá trị có thể đã được soi sáng từ chính giáo lý nhà thờ. Cảm thấy hoàn toàn an toàn khi ở bên Keith, cô đã tìm thấy lòng can đảm để bày tỏ những ước vọng thầm kín nhất của đời mình. Khát khao cháy bỏng bấy lâu nay của cô – vượt qua nỗi sợ hãi để trở thành một người vợ thủy chung, đức hạnh – đã khơi dậy một phản ứng vô cùng nồng hậu từ Keith, người vốn không mong muốn gì hơn là được làm một người chồng thủy chung, mẫu mực, luôn cận kề để bảo vệ cô không bị rơi xuống vực thẳm.


Tương tự, Keith từng rất sợ hãi thất bại và luôn chuẩn bị tâm lý cho sự từ chối khi tiếp cận Helen, bởi hình ảnh bản thân kém cỏi mà người cha độc đoán đã bủa vây lên anh. Nhưng anh đã gom hết lòng can đảm để thách thức tiếng nói tiêu cực vô thức ấy. Anh cũng đồng thời gửi gắm vào Helen nhu cầu về một người phụ nữ mạnh mẽ, hoạt bát – người sẽ giúp anh có được sự tự tin để trở thành người đàn ông tử tế mà anh hằng khát khao. Trong việc giúp anh vượt qua cảm giác tội lỗi cắn rứt bấy lâu nay vì đã không thể giải cứu được mẹ mình, Helen đã đáp ứng trọn vẹn nhu cầu đó và trở thành nguồn động viên lớn nhất trong cuộc đời anh. Helen và Keith đã cùng nâng đỡ nhau thay đổi một cách vô cùng yêu thương mà không hề ý thức hay phân tích về những lực lượng tâm lý mạnh mẽ đang vận hành phía sau. Đối với cả hai, nhiệm vụ tối thượng là phải giữ cho bản thân không trở thành những con người mà họ hằng sợ hãi. Họ đã nỗ lực suốt chiều dài hôn nhân để bứt phá ra khỏi những hình bóng nội tâm độc hại của cha mẹ mình.


Mặc dù những bóng ma của quá khứ đã dần mất đi quyền lực theo năm tháng, quyền năng chữa lành trong mối quan hệ của Keith và Helen vẫn cần có những sự củng cố liên tục. Hai người đã bắt đầu tiến trình này bằng trực giác ngay từ khi vừa bước vào cuộc sống chung, như thể họ tự hiểu rằng việc tách ly khỏi những hình mẫu đáng sợ, xây dựng niềm tin, cho phép sự thân mật và kiến tạo gắn kết sẽ là một thử thách vô cùng nặng nề đối với họ. Những con quỷ dữ rất mạnh mẽ và cạm bẫy thì luôn chực chờ. Họ buộc phải áp dụng những biện pháp đặc biệt để gia cố cho bức tường hôn nhân của mình.


Khi mô tả về những năm đầu sau ngày cưới, Helen khẽ khoanh hai tay một cách rất mực quy củ: "Sau tất cả những kế hoạch và sự chuẩn bị kỹ lưỡng, việc sống chung đối với tôi dễ dàng như trở bàn tay. Bạn phải hiểu là dạo đó tôi đã hạ một quyết tâm sắt đá rằng mình tuyệt đối không được phép lặp lại chuỗi ly hôn và bất hạnh bủa vây khắp gia đình mình. Tôi nghĩ cách tốt nhất là tập trung vào việc giao tiếp. Hai vợ chồng phải trò chuyện với nhau về mọi thứ.


"Bạn thấy đấy, tôi đã phải tự mình mày mò và định hình mọi thứ vì bản thân không hề có một hình mẫu tốt đẹp nào để học theo. Chính vì vậy, suốt năm năm đầu tiên của cuộc hôn nhân, hai vợ chồng duy trì một quy tắc: mỗi tuần một lần, hai đứa sẽ ngồi lại với nhau, Keith sẽ nói ra tất cả những điều làm anh ấy không thoải mái về tôi, và tôi cũng sẽ nói ra những điều không thoải mái về anh ấy. Tôi là người kiên quyết bắt anh ấy phải làm việc đó. Thực ra phần lớn thời gian tôi chẳng có gì để phàn nàn cả, vì anh ấy làm gì có thói hư tật xấu nào. Tôi mới là đứa đầy rẫy những thói quen không tốt. Nhưng sau khi đứa con đầu lòng chào đời, cuộc sống bận rộn khiến chúng tôi không thể duy trì việc đó một cách bài bản được nữa nên đã từ bỏ. Nhưng đến lúc đó, hai đứa đã học được cách dàn xếp hầu hết mọi chuyện. Việc trò chuyện đã trở thành một phản xạ tự nhiên bện chặt vào khuôn mẫu của cuộc hôn nhân".


Tôi vô cùng ấn tượng trước việc một người phụ nữ trẻ tuổi dạo đó lại có thể tự mình thiết lập nên một diễn đàn trò chuyện hiệu quả, khuyến khích người chồng rụt rè của mình bước ra gặp cô ở nửa đường. Những buổi thảo luận có kế hoạch, được bắt đầu từ thời tán tỉnh, tiếp tục được duy trì sau ngày cưới cho đến khi, theo lời của Helen, "khuôn mẫu giao tiếp được định hình vững chắc". Trong những buổi gặp đó, cô luôn khuyến khích Keith chỉ ra những thiếu sót của mình, trong khi cô luôn khẳng định anh là người hoàn hảo không có điểm gì đáng chê trách.


Thế nhưng, Keith lại nhìn nhận những buổi trò chuyện ấy dưới một lăng kính hoàn toàn khác, không phải là cơ hội để anh trách phạt vợ vì những thói quen xấu của cô. "Chúng tôi đã dành hàng giờ, hàng đêm để trò chuyện về mối quan hệ của hai đứa," anh kể. "Chúng tôi thảo luận về những gì đang diễn ra và hai đứa nên ứng xử thế nào trước sự việc này hay sự việc khác. Bạn biết đấy, Helen luôn bị bủa vây bởi nỗi lo sợ vì gia đình cô ấy có quá nhiều vụ ly hôn, cô ấy cứ hãi hùng không biết liệu điều đó có xảy ra với mình hay không. Chính cô ấy là người đã thuyết phục và kéo tôi vào việc trò chuyện".


Anh dừng lại và nhìn ra ngoài cửa sổ. "Việc trò chuyện đối với tôi là một thử thách cực kỳ khó khăn," anh thẳng thắn tâm sự, "đặc biệt là khi phải nói về chính bản thân mình. Bình thường tôi không bao giờ làm thế. Nhưng hai đứa đã cùng nhau mổ xẻ mọi chuyện suốt nhiều đêm liền. Vợ tôi cần có một sự cam kết chắc chắn để tin rằng cô ấy sẽ không kết thúc cuộc đời giống như mẹ hay các dì của mình. Cô ấy đã giúp tôi cởi mở hơn, biết suy nghĩ xem bản thân thực sự cảm thấy thế nào trước mọi sự việc – điều mà trước đây tôi chưa từng làm. Mọi chuyện phát triển đến mức tôi thực sự thấu hiểu vì sao mình lại có những cảm xúc sâu sắc như vậy dành cho cô ấy, và tôi có thể nói ra cho cô ấy hiểu. Đó là một bước chuyển mình vô cùng lớn đối với cuộc đời tôi. Trước đây tôi vốn là kẻ không có thói quen gọi tên cảm xúc hay suy nghĩ sâu sắc về chúng".


"Và anh đã có thể nói ra cho cô ấy hiểu chứ?"


"Vâng, tôi luôn cố gắng," anh chân thành đáp.


Keith cẩn trọng lựa chọn từng từ ngữ: "Bạn biết không, hồi mới cưới, vì cha tôi quá nhiều lần khẳng định tôi là đứa thất bại nên trong thâm tâm, tôi luôn đinh ninh rằng mình chắc chắn sẽ làm hỏng bét cả công việc lẫn cuộc hôn nhân này. Nhưng cô ấy chưa một lần hoài nghi tôi. Cô ấy chưa bao giờ đánh mất niềm tin vào tôi". Anh nở một nụ cười vô cùng rạng rỡ.


Việc một cuộc cuộc hôn nhân cứu rỗi đi đến bến bờ hạnh phúc hay kết thúc trong bi kịch phụ thuộc hoàn toàn vào những động lực tâm lý vận hành bên trong nó. Trong sự hòa quyện của những nhu cầu chung, vợ và chồng sẽ thay đổi lẫn nhau theo những cách mà chính họ cũng không thể dự đoán trước. Và thực tế, với nền khoa học hiện tại, chúng ta chưa thể đưa ra một công thức chính xác để tiên lượng thành công hay thất bại. Khúc ca đôi này có thể kết thúc bằng một cái kết viên mãn hoặc một bi kịch đau đớn.


Để có được quả ngọt, cuộc hôn nhân phải cho phép mỗi người tự chữa lành những vết thương lòng của tuổi thơ bằng cách nâng đỡ niềm hy vọng vào một mối quan hệ khăng khít, ngập tràn yêu thương. Sự nâng đỡ này được nuôi dưỡng từ chính sự thấu hiểu sâu sắc của hai tâm hồn chung một số phận kiên cường, và từ tính bổ khuyết của các nhu cầu có ý thức lẫn vô thức. Tìm thấy sự bình yên và sức mạnh trong vòng tay an toàn của mối quan hệ mới, mỗi người sẽ có đủ lòng can đảm để khơi dậy những hình dung tốt đẹp, bao dung. Dù những nỗi lo âu không hoàn toàn biến mất, nhưng chúng không còn quyền lực để chi phối cuộc đời họ nữa.


Trong mô hình hôn nhân này, khái niệm về người đàn ông và người phụ nữ có sự khác biệt rõ rệt so với nhóm hôn nhân lãng mạn – nơi tình dục và sự nồng nàn giữ vị trí độc tôn. Cuộc hôn nhân cứu rỗi trước hết đòi hỏi các đối tác phải có một sự đồng cảm sâu sắc với nhau, một sự thấu hiểu lớn đến mức họ cảm giác như hai người đang sẻ chia chung một cuốn nhật ký quá khứ. Khi tôi hỏi Keith về tuổi thơ của mình, phản xạ đầu tiên của anh là kể về những bất hạnh của Helen. Những cặp vợ chồng này có một sự ý thức vô cùng mãnh liệt không chỉ về những nỗi đau của bản thân mà còn về những chật vật của bạn đời, như thể sợi rễ của sự gắn kết đã cắm sâu vào lòng đất quá khứ của cả hai người. Danh tính của mỗi người đã mở rộng để bao trọn lấy người kia, gần như hòa quyện làm một.


Nhiều cặp vợ chồng chia sẻ: "Cả hai chúng tôi đều là những kẻ kiên cường sống sót". "Hai đứa đã trải qua cả thời niên thiếu trong trạng thái trầm cảm". "Nếu không có người kia thì ai thèm rước chúng tôi cơ chứ? Cả hai đứa đều bước ra từ những gia đình thực sự điên rồ".


Cuộc hôn nhân cứu rỗi cũng dựa trên thực tế rằng mỗi người đều trở thành một biểu tượng tối quan trọng cho người kia, một hình bóng hoàn toàn đối lập với những nhân vật đáng sợ thời thơ ấu. "Anh ấy sở hữu đôi mắt ấm áp, nhân hậu nhất trên đời," một người phụ nữ từng bị cha đẻ bạo hành suốt thuở nhỏ xúc động chia sẻ. "Sự rõ ràng, hoàn toàn minh bạch là những gì bạn có được từ cô ấy," một người chồng kể lại, tương phản sự lý trí của vợ với sự nhu nhược điên rồ của mẹ mình – người từng bênh vực quyền được đánh đập vợ của cha anh.


Trong mối tương tác phức tạp này, mỗi người đều gửi gắm vào bạn đời hình ảnh của một nhân vật đức hạnh, bao dung – hoàn toàn trái ngược với những hình bóng chuyển di đáng sợ của tuổi thơ. Và mỗi người sẽ khơi gợi những ứng xử ở đối phương sao cho khác biệt hoàn toàn với kẻ bạo hành năm xưa, hài hòa với ước vọng được chữa lành và cứu rỗi của mình. Lý thuyết lâm sàng thường xu hướng tiên lượng rằng Helen sẽ có hành vi tìm kiếm một người đàn ông đối xử với cô giống như cách người cha lạnh lùng, bỏ rơi cô từng làm. Trải nghiệm đau đớn ấy vẫn luôn là một vết thương lòng rỉ máu bên trong cô. Những ký ức sống động về sự ngược đãi của mẹ nuôi hiển hiện rõ nét không chỉ qua lời nói mà qua từng cử động của cơ mặt và cơ cổ khi cô mô tả về đòn roi năm nào. Chắc chắn cô hoàn toàn có nguy cơ sa chân vào mối quan hệ với một kẻ "yêu qua đường rồi bỏ chạy", củng cố thêm cho kỳ vọng bi kịch của mình.


Thế nhưng, trong những cuộc hôn nhân cứu rỗi thành công này, mỗi người đối với nửa kia vừa là một chỗ dựa thực tế, vừa là một biểu tượng mang tính truyền cảm hứng. Helen trong mắt Keith chính là hiện thân của lòng quả cảm, của một chiến binh đã chiến thắng nghịch cảnh một cách phi thường. Dù người mẹ tội nghiệp của anh đã bị gục ngã trước số phận, nhưng Helen thì có thể vượt qua. Ngược lại, anh trong mắt cô là một hình bóng kiên định, người mà cô có thể hoàn toàn tin tưởng rằng sẽ luôn ở đó chứ không biến mất đột ngột như cha mẹ cô ngày trước. Trong một vài cuộc hôn nhân, một người sẽ gánh vác vai trò đặt ra ranh giới đạo đức cho cả hai. "Chồng tôi luôn là người biết phân biệt rạch ròi giữa cái đúng và cái sai," một người phụ nữ có cha đẻ từng phải vào tù vì tội tham nhũng chính trị chia sẻ.


Một phần không thể thiếu trong hành trình cứu rỗi lẫn nhau chính là việc sinh con và cùng nhau nuôi dạy các con thật tốt. Những cặp vợ chồng này đã nỗ lực gấp bội trong vai trò làm cha mẹ để tuyệt đối tránh lặp lại những sai lầm từ chính đấng sinh thành của mình. Việc nuôi dạy nên những đứa trẻ hạnh phúc, biết yêu thương và kính trọng cha mẹ mang một ý nghĩa vô cùng thiêng liêng đối với tất cả những ai từng bị ruồng rẫy thuở nhỏ. Cảm giác giống như vòng nghiệp chướng độc hại đã hoàn toàn bị đập tan bởi chính thành tựu làm cha mẹ của họ.


Bằng cách định hình lại các vai trò cũ, điều chỉnh kỳ vọng và vươn tới tính bổ khuyết, con người hoàn toàn có khả năng bước ra khỏi bóng tối của quá khứ nghiệt ngã để kiến tạo nên một mối quan hệ tràn đầy hy vọng. Chúng ta bước đến tuổi trưởng thành như những tác phẩm còn dang dở, và hôn nhân, với vị thế là mối quan hệ trung tâm của cuộc đời trưởng thành, chính là cái trục giúp con người chuyển mình và khôn lớn.


Tuy nhiên, những nỗ lực xây dựng cuộc hôn nhân cứu rỗi cũng hoàn toàn có nguy cơ thất bại. Một kịch bản thất bại mà tôi thường xuyên chứng kiến chính là mô hình hôn nhân "tìm kiếm nơi trú ẩn" (gimme shelter), nơi hai người trẻ tuổi lao vào nhau chỉ để chạy trốn khỏi cha mẹ và trốn tránh những trách nhiệm nặng nề của cuộc sống trưởng thành (như tìm kiếm việc làm, học hành, hay thanh toán các hóa đơn đúng hạn). Thông thường, sau khi tuần trăng mật khép lại, mỗi người bắt đầu nhìn nhận đối phương là kẻ phải chịu trách nhiệm trước thực tế phũ phàng của cuộc sống. Họ bắt đầu ép đối phương phải đóng đúng vai trò của người phụ huynh mà họ đang tìm cách trốn chạy. "Cô ấy suốt ngày cằn nhằn, hạch sách, chẳng khác nào mẹ đẻ của tôi," người chồng trẻ càu nhàu. "Anh ấy lúc nào cũng kỳ vọng tôi phải chuẩn bị sẵn sàng mọi thứ, trong khi bản thân chỉ ngồi ôm lấy cái tivi," người vợ trẻ ấm ức. Khi họ vô tình tái hiện lại chính cha mẹ mình ở người bạn đời, họ lại muốn bỏ chạy khỏi chính tạo vật do mình tạo ra, và cuộc hôn nhân tan vỡ.


Đáng buồn hơn nữa, ngay sau ngày cưới, người bạn đời có thể bị lăng kính vô thức nhìn nhận như hiện thân của một nhân vật đáng ghét trong quá khứ – chính bản thân mình trong vai trò nạn nhân, người anh chị em ích kỷ, hoặc người cha mẹ bạo hành, loạn luân. Trong trường hợp đó, thay vì mang lại sự chữa lành, cuộc hôn nhân lại trở thành một địa ngục tái diễn lại, nơi hai người hành hạ nhau để tái diễn lại những bi kịch cũ. Hoặc giả, một người bước vào hôn nhân với khát khao được cứu rỗi nhưng lại ích kỷ không có nhu cầu chăm sóc, bù đắp ngược lại cho đối phương. Họ trút mọi uất hận tuổi thơ lên đầu bạn đời, trừng phạt bạn đời vì những lỗi lầm của kẻ bạo hành năm xưa, kỳ vọng bạn đời phải bù đắp cho tất cả những tước đoạt của quá khứ. Đây chính là điệu nhảy của quỷ dữ. Sẽ không bao giờ có hồi kết cho những tấn bi kịch mà con người có thể tái diễn một cách mù quáng, hoàn toàn không hay biết rằng những tổn thương thúc đẩy họ tấn công bạn đời thực chất đã diễn ra từ rất lâu trước khi hai người gặp gỡ. Một cuộc hôn nhân như vậy hoàn toàn có thể kéo dài suốt đời, được gắn kết bởi thứ keo đặc biệt làm từ sự thù hận lạc chỗ, cảm giác tội lỗi và nỗi sợ hãi bủa vây. Hoặc nó sẽ vỡ tan. Nhưng ngay cả khi mối quan hệ đã khép lại, cơn thịnh nộ vẫn không thôi âm ỉ.


Một cuộc hôn nhân cứu rỗi cũng có thể thất bại khi rơi vào trạng thái đồng phụ thuộc (codependent), vô tình dung túng và làm trầm trọng thêm vấn đề của đối phương. Thông thường, trong một mối quan hệ đồng phụ thuộc, những biểu hiện bệnh lý nghiêm trọng của một người sẽ vô tình được duy trì hoặc dung túng bởi người kia. Ví dụ điển hình nhất là người vợ của một kẻ nghiện rượu, bất chấp những ý định tốt đẹp ban đầu, cách cô ứng xử lại vô tình tạo điều kiện cho thói nghiện ngập của chồng tiếp diễn và tự tay bóp nghẹt những nhu cầu chính đáng của bản thân. Không có một sự cứu rỗi đích thực nào trong mối quan hệ đồng phụ thuộc. Ở đó không có sự trưởng thành, không có bước đột phá nào để bước ra khỏi bóng tối tuổi thơ. Thay vào đó chỉ là sự đồng lõa độc hại, dẫn đến sự thụt lùi hoặc đóng băng các triệu chứng bệnh lý chứ không phải là giải quyết vấn đề và xoa dịu nỗi đau. Trong những cuộc hôn nhân cứu rỗi thành công mà tôi nghiên cứu, các đối tác luôn vô cùng tỉnh táo để không tự biến mình thành những kẻ tử vì đạo hay hoàn toàn đánh mất bản sắc cá nhân vào người kia. Họ không tự hủy hoại bản thân để giải cứu đối phương, không đóng vai trò dung túng cho các thói hư tật xấu của bạn đời, cũng không đơn thuần ngồi sùng bái dưới chân người mình yêu.


Vào năm thứ mười của cuộc hôn nhân, Helen và Keith đã phải đối diện với một bóng ma vô cùng mạnh mẽ bước ra từ quá khứ của Helen, một thế lực đe dọa tàn phá cuộc hôn nhân và gây tổn thương sâu sắc đến con cái. Khi vực thẳm mà Helen hằng sợ hãi nhất đột ngột mở hoác ra ngay trước mắt cô, chính Keith đã dũng cảm cứu rỗi cô khỏi chính bản thân mình và khỏi di sản bi kịch của gia đình cô. Nhưng chính nền móng vững chắc của cuộc hôn nhân mới là thứ làm nên điều kỳ diệu ấy.


"Mọi chuyện diễn ra một cách vô cùng kỳ lạ," Helen kể lại. "Khi hai đứa vừa kỷ niệm mười năm ngày cưới, hai vợ chồng không hề có bất kỳ cãi vã hay rạn nứt nào, nhưng tự nhiên trong đầu tôi lóe lên một ý nghĩ thôi thúc rằng mình phải ly hôn. Ý nghĩ đó ập đến hoàn toàn tự nhiên như từ trên trời rơi xuống, không vì một lý do cụ thể nào cả".


"Không vì lý do gì sao? Cô lý giải thế nào về điều này?"


"Chính tôi cũng không biết nữa. Dạo đó con trai tôi lên sáu, còn con gái vừa tròn hai tuổi".


Ý nghĩ thôi thúc muốn dứt áo ra đi của Helen xảy ra đúng vào thời điểm con gái cô tròn hai tuổi – chính là số tuổi của cô ngày trước khi bị mẹ đẻ nhẫn tâm bỏ rơi. Helen hoàn toàn không hề nhận thức được mối liên hệ vô thức giữa hai sự việc này.


"Đột nhiên tôi bị bủa vây bởi một xung năng mạnh mẽ từ hư không, thúc ép tôi phải bỏ chồng, ký đơn ly hôn và bỏ lại các con mà đi".


"Lúc đó cô đã làm gì?"


"Tôi đã tìm đến chồng và thẳng thắn trò chuyện với anh về ý định đó," cô nói. "Anh ấy bảo tôi rằng đó hoàn toàn không phải là một quyết định sáng suốt".


Phản ứng của Keith trước một tin tức động trời như vậy là vô cùng điềm tĩnh và kiềm chế.


"Tôi dạo đó đã khăng khăng đòi ra đi cho bằng được. Anh ấy đã trò chuyện với tôi bằng giọng nói điềm đạm, lý trí quen thuộc, rồi đưa ra lời khuyên rằng nếu tôi thực sự cảm thấy ngột ngạt, tôi có thể đi du lịch một vài ngày để khuây khỏa tâm lý; hai vợ chồng sẽ cùng nhau sắp xếp việc chăm sóc các con trong thời gian anh đi làm. Ký ức của tôi về sự việc dạo đó có phần hơi mờ nhạt, nhưng tôi đã rời đi trong vòng ba ngày. Và tôi trở về nhà đúng như lịch hẹn của hai vợ chồng".


"Và thế là mọi chuyện được giải tỏa sao cô?" Tôi nhận ra nỗ lực tái diễn lại kịch bản bỏ rơi của quá khứ đã hoàn toàn bị chặn đứng nhờ vào việc cô chủ động tìm đến chồng và nhờ vào phản ứng vô cùng khôn khéo, điềm tĩnh của Keith.


"Đúng vậy. Kể từ khi trở về, ý nghĩ thúc ép muốn bỏ chồng bỏ con trong đầu tôi hoàn toàn biến mất". Helen khẽ chớp mắt. "Con gái tôi, lúc đó mới hai tuổi, sau này kể lại rằng con bé vẫn nhớ dạo đó mẹ đột nhiên biến mất và nó đã hoảng sợ thế nào vì không biết mẹ đi đâu. Dù Keith dạo đó ngày nào cũng về nhà ngay sau giờ làm để chăm con, tôi biết anh đã phải trải qua cảm giác vô cùng khủng hoảng. Con gái tôi sau biến cố ba ngày đó trở nên vô cùng bất an, lúc nào cũng bám chặt lấy mẹ không rời. Con bé không cho phép cha thay tã hay làm bất cứ điều gì cho mình nữa, lúc nào cũng đòi đích thân tôi phải làm. Cháu đã gặp phải những bất ổn tâm lý sau sự việc đó, và vợ chồng tôi đã phải tìm đến các chuyên gia tư vấn để học cách xoa dịu con. Phải mất hơn một năm trời, cháu mới thoát khỏi nỗi sợ hãi mơ hồ rằng mẹ sẽ đột ngột biến mất. Sau đó cháu đã phục hồi hoàn toàn".


Câu chuyện của Helen là một minh chứng kinh điển cho những gì mà giới tâm lý học gọi là Hiệu ứng kỷ niệm (anniversary effect). Nhiều người từng phải chịu đựng những mất mát lớn lao thuở nhỏ dường như luôn có một chiếc đồng hồ vô hình đếm ngược trong tâm thức, và chiếc chuông báo thức sẽ đột ngột reo vang vào đúng ngày kỷ niệm xảy ra biến cố năm xưa. Bản thân người đó có thể không hề nhận thức được sự trùng hợp về mặt ngày tháng, nhưng họ bỗng dưng cảm thấy lòng mình trĩu nặng buồn bã mà không hiểu vì sao. Thậm chí, họ còn bị thôi thúc đưa ra những hành vi nguy hiểm và mang tính tự hủy hoại – những hành động có mối liên kết vô hình mang tính biểu tượng với vết sang chấn nguyên sơ. Đôi khi, người đó cảm thấy bị thôi thúc phải tái diễn lại chính trải nghiệm đầu đời ấy, nhưng dưới vai trò của kẻ bạo hành/kẻ bỏ rơi chứ không còn là nạn nhân nữa. Đó chính là thế lực vô thức mạnh mẽ bủa vây sau ý nghĩ "từ trên trời rơi xuống" của Helen, thúc ép cô phải nhẫn tâm bỏ lại đứa con gái hai tuổi và người chồng của mình.


Thế nhưng, thay vì giận dữ tuyên bố với chồng rằng cuộc hôn nhân này đã kết thúc rồi thu dọn đồ đạc ra đi, cô đã chủ động tìm đến anh, và hành động đó chính là một lời cầu cứu. Thay vì nghi kỵ, cáo buộc vợ đang có một mối tình vụng trộm hay đang đổ đốn giống như người mẹ lăng loàn của cô, Keith đã dùng sự dịu dàng và lý trí của mình để giúp cô vượt qua cơn khủng hoảng. Dù không hề thấu hiểu nguyên do sâu xa phía sau xung năng đột ngột của vợ, anh vẫn kịp thời giữ cô lại, không để cô tự tay đặt dấu chấm hết cho cuộc hôn nhân. Anh đã vô cùng khôn khéo khi đồng ý cho cô rời đi, nhưng là rời đi trong một điều kiện an toàn và nằm trong tầm kiểm soát của cả hai người. Vợ chồng họ cùng nhau lên kế hoạch chăm sóc các con trong ba ngày cô vắng nhà. Tình yêu anh dành cho cô và niềm tin tuyệt đối rằng cô sẽ trở về đúng hẹn chưa một giây phút nào lung lay.


Ví dụ xúc động này về việc những biến cố đau buồn thời thơ ấu đột ngột trỗi dậy một cách đầy cực đoan sau nhiều năm bộc lộ một giá trị cốt lõi: một cuộc hôn nhân cứu rỗi hoàn toàn có thể ngăn chặn sự tái diễn của những hành vi phá hoại và tự hủy hoại bản thân. Tôi tin chắc rằng cả Helen lẫn Keith dạo đó đều không thể nhận ra họ vừa mới cùng nhau đi qua lằn ranh sinh tử của hạnh phúc gia đình một cách suýt soát đến nhường nào.


Một lúc sau, tôi hỏi Helen về chuyện chăn gối của hai vợ chồng.


"Mọi thứ vẫn ổn," cô nói. "Nhưng trước giờ nhu cầu của tôi luôn thấp hơn Keith". Cô khẽ nhún vai. "Thực ra khi tuổi tác ngày một lớn, tôi thấy mình hoàn toàn có thể sống mà không cần chuyện đó cũng được. Tôi vẫn thích, nhưng tôi không có nhiều khao khát như anh ấy. Đối với tôi, cảm giác được ôm ấp, vỗ về dường như quan trọng hơn".


"Khi hai người còn trẻ và mọi chuyện đang tiến triển tốt đẹp, chuyện ấy có ý nghĩa thế nào với cô?"


"Nó không giữ vị trí quá cốt lõi với tôi như với anh ấy. Tôi cũng có những lần thăng hoa nhưng chắc chắn là không phải lúc nào cũng vậy".


"Liệu những lo lắng, những nỗi sợ hãi về việc đi vào vết xe đổ của mẹ có làm cho chuyện chăn gối trở nên khó khăn hơn với cô không?"


Thay vì đưa ra câu trả lời trực tiếp, cô khẽ chia sẻ: "Nỗi ám ảnh và sự kìm nén bấy lâu nay luôn hiện hữu. Tôi vẫn nhớ mình đã phải ngủ chung phòng với bố mẹ nuôi cho đến năm mười hai tuổi, trước khi cuối cùng cũng có được một không gian riêng của mình".


Sau đó, khi tôi đem câu hỏi này đến gặp Keith, anh chậm rãi trải lòng: "Chuyện đó vô cùng quan trọng đối với tôi, nhưng với cô ấy thì không hẳn, đặc biệt là dạo gần đây. Tôi nghe người ta bảo điều này khá phổ biến ở phụ nữ khi họ bước sang tuổi xế chiều. Vợ chồng tôi hầu như không bao giờ thảo luận về chuyện giường chiếu, và tôi thấy thế cũng tốt. Hai đứa lúc nào cũng thay đồ một cách vô cùng kín đáo. Việc đó giúp giữ lại một chút gì đó bí ẩn, bạn biết không? Và khi không đem nó ra mổ xẻ, chuyện ấy sẽ không bị biến thành một thứ gì đó quá dung tục, tầm thường".


"Liệu tôi có đúng không khi đoán rằng chuyện chăn gối dường như vẫn luôn là một vết gợn nhỏ chưa được giải quyết giữa hai người?" Tôi nghi ngờ rằng việc thay đồ kín đáo và né tránh thảo luận về tình dục thực chất là nỗ lực khéo léo để che đậy một vấn đề chưa tìm được tiếng nói chung.


Keith ngay lập tức lên tiếng để bảo vệ vợ: "Cô ấy vừa phải gánh vác cả một sự nghiệp kinh doanh, vừa bận rộn với hàng tá công việc tình nguyện, lại còn phải chu toàn nhà cửa, chăm lo cho tôi và lo liệu vô số việc không tên khác".


Sự gắn kết được kiến tạo ở đây mang một màu sắc khác biệt hoàn toàn so với tổ ấm của Matt và Sara – nơi tình dục và ngọn lửa nồng nàn giữ vị trí độc tôn. Với Helen và Keith, sợi dây "chúng tôi" được bện chặt từ sự ổn định, nền tảng đạo đức và lòng nhân hậu. Cả hai đều hiểu giá trị của chuyện chăn gối trong việc tưới tắm cho mối quan hệ, nhưng Helen thích những cử chỉ ôm ấp, vuốt ve hơn là sự đụng chạm thể xác đơn thuần.


Cuộc hôn nhân của Keith và Helen không thể xóa nhòa hoàn toàn quá khứ, cũng không thể giải quyết triệt để mọi bất ổn tâm lý mà họ mang theo từ thuở nhỏ. Nỗi sợ hãi hằn sâu về việc lặp lại lối sống phóng đãng của mẹ đẻ đã kìm hãm, khiến Helen khó lòng tận hưởng một cách trọn vẹn những khoái cảm chăn gối của người trưởng thành. Và bất chấp việc Keith luôn trân quý sự hoạt bát, nhạy cảm của vợ, bản thân anh vẫn mãi là một người đàn ông kín kẽ và đầy sự kìm nén.


Suốt nhiều năm qua, các nhà tâm lý học luôn trăn trở về sự khác biệt trong năng lực phục hồi (resiliency) của những đứa trẻ. Điều gì đã làm nên sức mạnh giúp một số đứa trẻ có thể kiên cường đi qua những trải nghiệm kinh hoàng trong khi những đứa khác phải mang theo những vết sẹo tâm lý tàn tật suốt đời? Điều gì giúp một số em giữ vững được sự chính trực, niềm hy vọng và lòng tin vào con người trong khi những em khác ngập chìm trong trầm cảm hay kết thúc cuộc đời trong tuyệt vọng?


Những cuộc hôn nhân cứu rỗi thành công đã soi cái nhìn quý giá vào vấn đề cốt lõi này, bởi những con người bước ra từ đó đều sẻ chia một vài nét tính cách vô cùng đặc biệt. Ngay từ khi còn rất nhỏ, có khi mới lên sáu lên bảy, họ đã sớm ý thức được một thực tế rằng cha mẹ hay những người nuôi dưỡng mình là những người có vấn đề về tâm lý. Bằng trực giác, họ tự thiết lập một khoảng cách an toàn với gia đình và dành phần lớn thời gian tuổi thơ để tự làm bạn với chính mình. Helen chọn những chuyến đi bộ lang thang cô độc giữa thiên nhiên và học cách chung sống với sự tĩnh lặng.


Một người phụ nữ khác trong nghiên cứu tên là Robin kể lại, năm cô lên tám, người mẹ bị tâm thần phân liệt đã nhìn cô và nói: "Robin đã chết rồi, bây giờ mày là Joan". Khi Robin phản kháng, khăng khít khẳng định mình chưa chết, người mẹ đã trừng phạt bằng cách ấn mạnh đầu cô dìm xuống bồn nước đầy. Robin đã học được bài học rất nhanh: cô chủ động đóng vai "Joan" trước mặt mẹ, nhưng sâu trong thâm tâm chưa bao giờ tin vào điều đó. Nhờ vậy, ngay từ khi còn nhỏ, Robin, Helen cũng như nhiều đứa trẻ kiên cường khác đã chủ động lựa chọn cách thỏa hiệp, phối hợp với người nuôi dưỡng khi cần thiết để bảo vệ mạng sống của mình. Nhưng họ luôn giữ được một lăng kính thực tế vô cùng tỉnh táo, cất giữ những cảm nhận và suy nghĩ của mình vào một vùng ranh giới tĩnh lặng bên trong. Họ không hề đánh mất thế giới nội tâm độc lập của mình; họ có năng lực đứng vững một mình cả về mặt thể xác lẫn tâm hồn.


Khi bước vào độ tuổi dậy thì, phần lớn họ đều đi đến kết luận rằng cục diện gia đình sẽ không bao giờ thay đổi, nhưng họ hạ một quyết tâm sắt đá rằng cuộc đời mình sẽ phải rẽ sang một hướng hoàn toàn khác. Đôi khi, họ nhận được sự thức tỉnh này từ chính một người thân. Có người cha đã nhìn đứa con gái vừa trở về nhà sau năm nhất đại học và nghẹn ngào bảo: "Đừng quay lại đây nữa con ạ. Cha bất lực rồi, cha không thể bảo vệ con khỏi mẹ con được nữa". Nhưng phần lớn họ đều tự đưa ra quyết định độc lập rằng mình phải rời khỏi ngôi nhà ấy càng sớm càng tốt. Họ dành rất nhiều thời gian và tâm sức để chắp vá, lý giải một cách mạch lạc về cuộc đời mình, không ngừng mơ mộng về những kế hoạch và hy vọng cho tương lai. Quãng thời gian tự lập, khép kín ấy chính là bước chuyển mình quan trọng giúp họ bứt phá ra khỏi sự đồng hóa (identification) với những sai lầm của cha mẹ.


Những đứa trẻ thông minh với một nhãn quan thực tế sắc sảo này có khả năng nhận diện rất rõ những hành vi quái đản, lệch lạc của cha mẹ hay người nuôi dưỡng để tuyệt đối không học theo. Họ quan sát rõ những gì xảy đến với mình, trước những va đập diễn ra giữa cha và mẹ, từ đó đưa ra một quyết định tỉnh táo cho tương lai. Một người phụ nữ nhớ lại lời hứa cô tự nói với bản thân năm sáu tuổi: "Mình sẽ không bao giờ cho phép bất kỳ người đàn ông nào đối xử với mình tệ bạc như cách cha đã đối xử với mẹ". Thật phi thường khi cô bé ấy không đợi đến năm hai mươi mốt tuổi mới nhận ra vấn đề. Cô đã chủ động nới lỏng sợi dây ràng buộc cảm xúc với gia đình ngay từ cái tuổi mà hầu hết trẻ con vẫn còn đang thần tượng và học theo mọi hành vi của cha mẹ.


Những con người này đồng thời giữ gìn được năng lực cảm nhận của tâm hồn. Dù rất uất hận trước những bất công mình phải gánh chịu, họ vẫn giữ được sự bao dung, trân quý và biết ơn trước bất kỳ sự giúp đỡ nào nhận được từ thế giới bên ngoài, dù là nhỏ nhất. Việc luôn kết nối được với cảm xúc của bản thân, đặc biệt là những cơn thịnh nộ chính đáng, là một nét tính cách vô cùng đặc biệt và quan trọng. Trong rất nhiều hồ sơ về lạm dụng trẻ em, các nạn nhân thường rơi vào trạng thái tê liệt cảm xúc (numbing), chứ không giữ được một thế giới nội tâm sống động như những nhân vật trong nghiên cứu này. "Mẹ tôi ư?" một người phụ nữ trẻ thẳng thắn chia sẻ. "Mẹ tôi chẳng khác nào một bạo chúa". Sự bộc lộ uất hận, cay đắng đi liền với một chút hài hước châm biếm ấy chính là biểu hiện rõ nét nhất cho thấy tâm hồn họ không hề bị tê liệt. Một cô gái khác, dạo nhỏ từng bị người cha dùng như một người "đưa thư" tội nghiệp để chuyển dịch những bức thư tình qua lại giữa ông và vô số nhân tình, đã dứt áo rời nhà từ năm mười sáu tuổi và không một lần ngoảnh lại. Dù là một người theo chủ nghĩa nữ quyền mạnh mẽ, cô vẫn quyết định đổi sang họ chồng ngay sau ngày cưới "để hoàn toàn cắt đứt mọi mối liên hệ dính dáng đến cha mẹ đẻ".


Không phải tất cả những người trưởng thành kiên cường này đều may mắn có được một hình bóng nâng đỡ, chở che thuở nhỏ. Keith còn có một người mẹ yêu thương, nhưng Helen thì hoàn toàn bơ vơ không một ai để nương tựa. Dù cô có học theo niềm đam mê nhạc cụ từ cha nuôi, ông chưa bao giờ là một người cha biết bảo vệ hay là một người thầy tinh thần đúng nghĩa cho cô. Thực tế, không một nhân vật nào trong nhóm nghiên cứu này nhắc đến sự xuất hiện của một người cố vấn (mentor) trong đời.


Đối với một số người, các tổ chức xã hội lại là cứu cánh. Nhà thờ và những giáo lý của nó giữ vai trò vô cùng thiêng liêng đối với cuộc đời của Helen và Keith. Nhưng cả hai đều không nhắc đến một mối duyên đặc biệt với một cá nhân cụ thể nào trong nhà thờ.


Phần lớn họ đều phải tự dựa vào nguồn nội lực của chính mình từ khi còn là những đứa trẻ. Họ chắt chiu từng nguồn động viên nhỏ nhoi nhất nhận được từ người lớn và đáp lại bằng tất cả sự nồng hậu của con tim. Thật phi thường khi họ có thể tự nuôi dưỡng tâm hồn mình từ những nguồn dinh dưỡng ít ỏi đến thế. Khả năng nhận diện rằng không phải tất cả người lớn đều là những kẻ bạo hành đã giúp họ thắp lên và giữ vững niềm hy vọng về một mối quan hệ tốt đẹp hơn, về một cuộc đời tươi sáng hơn ở tương lai.


Khi cuộc phỏng vấn với Helen khép lại, tôi nhìn cô và nói: "Những gì cô đã xây dựng được thực sự là một điều phi thường. Tôi vô cùng khâm phục bản lĩnh của cô và biết ơn sự cởi mở khi cô sẵn sàng chia sẻ những mảng ký ức nhạy cảm này với tôi. Tôi rất muốn biết cô cảm thấy mình đã đúc kết được bài học xương máu nào để có thể sẻ chia với những người khác".


Cô trầm ngâm đáp: "Tôi hiểu ra rằng bản thân mình luôn cần một sự cân bằng, cần sự cẩn trọng. Nếu không, cá tính bốc đồng của tôi sẽ tự rước về rất nhiều rắc rối. Và anh ấy chính là người mang lại sự cân bằng đó. Keith không phải là một kẻ thích phiêu lưu. Tôi là người thêm gia vị cho cuộc đời anh. Tôi luôn muốn những giải pháp nhanh chóng và có xu hướng lao về phía trước. Còn anh ấy thì chậm rãi hơn trong cả suy nghĩ lẫn hành động. Tôi đã học được cách kiên nhẫn, học cách lùi lại để chờ đợi anh ấy cùng cân nhắc đưa ra quyết định. Đó chính là cơ chế vận hành trong cuộc hôn nhân của chúng tôi.


"Tôi biết rất nhiều người xung quanh đang ly hôn, và tôi nhận thấy hai điều," cô tiếp tục trải lòng. "Thứ nhất, con người ta luôn có xu hướng đòi hỏi từ bạn đời nhiều hơn những gì bản thân họ sẵn sàng trao đi. Thứ hai, họ đã đánh mất khả năng trò chuyện với nhau. Tôi thực lòng tin rằng, nếu bạn trao đi nhiều hơn những gì mình kỳ vọng nhận lại, bạn sẽ gặt hái được những quả ngọt hạnh phúc vượt xa mọi sức tưởng tượng của con tim".


"Cô sẽ mất đi điều gì nếu một ngày nào đó không còn Keith bên cạnh?"


Đôi mắt cô khẽ nhòe lệ: "Tôi sẽ mất đi người bạn tri kỷ lớn nhất của đời mình. Chỉ có cái chết mới có thể chia lìa cuộc hôn nhân của chúng tôi".


Khi tôi đề nghị Keith đúc kết lại những gì anh đã học được từ cuộc hôn nhân này, anh bắt đầu: "Bạn thấy đấy, cô ấy giúp tôi nhận ra một sự thật rằng mình không hề cô độc trên đời. Điều đó có nghĩa là đôi khi tôi phải học cách thực hiện những việc ngay cả khi bản thân không thực sự muốn. Tôi phải học cách cho đi một phần bản thân mình. Phản xạ tự nhiên trước đây của tôi luôn là rút lui vào thế giới vỏ ốc của riêng mình. Tôi nghĩ thử thách lớn nhất là việc phải thức tỉnh để hiểu rằng thế giới ngoài kia còn có những con người khác ngoài mẹ, cha và tôi. Tôi chỉ thực sự bớt quy ngã, bớt ích kỷ kể từ khi bước chân vào giảng đường đại học, dạo hai đứa đang hẹn hò".


"Vào cô ấy đã thay đổi cuộc đời anh?"


"Cô ấy thay đổi mọi thứ. Nếu chỉ dựa vào ý muốn của mình, tôi đã không bao giờ chọn con đường này. Những niềm vui, sự hụt hẫng và cả những cơn thịnh nộ bấy lâu nay đều nằm ngoài mọi sự dự đoán. Mọi thứ đều đến một cách vô cùng bất ngờ. Phần tuyệt vời nhất của cuộc hôn nhân này chính là cảm giác an tâm khi biết rằng mình sẽ không bao giờ phải cô độc một mình. Nếu cô ấy không luôn kéo tôi về phía trước, tôi đã tự chôn vùi cuộc đời mình trong một thế giới của sự câm lặng".


"Điều gì sẽ xảy ra nếu anh mất đi Helen?"


"Ôi bạn ơi," nét mặt anh bỗng thoáng một nỗi đau đớn. "Tôi từng không ít lần nghĩ về viễn cảnh đáng sợ đó, và tôi biết mình sẽ mất đi tất cả. Điều tôi nhớ nhất chắc chắn là những thử thách và những ý tưởng tươi mới mà cô ấy mang lại. Cô ấy luôn là người gợi mở những điều mới mẻ, luôn bảo tôi tại sao không đi thử nơi này, trải nghiệm việc kia, hay làm cái này xem sao".


Một nỗi buồn tĩnh lặng khẽ bao phủ lấy Keith. "Nếu thiếu vắng cô ấy, tôi biết mình sẽ phải chật vật đấu tranh rất nhiều để không biến thành một kẻ ẩn dật cô độc. Nếu không có cô ấy, tôi sẽ thấy mình thực sự đã già".


 
 
 

Bài đăng gần đây

Xem tất cả
Dám Là

CHƯƠNG 1. HIỆN HỮU VÀ LÒNG DŨNG CẢM Theo đúng tôn chỉ của Quỹ Terry rằng chuỗi bài giảng này sẽ bàn về "tôn giáo dưới ánh sáng của khoa học và triết học", tôi đã chọn một khái niệm nơi các vấn đề thần

 
 
 
Dũng cảm chuyển hóa cuộc đời bạn

Phần 1 1. Lời mở đầu: Tầm vóc của Carl Jung và Paul Tillich Chào mừng tất cả các bạn. Tôi là Robert Moore, người sẽ đồng hành và cùng các bạn suy ngẫm về những chủ đề ngày hôm nay. Việc chúng ta nỗ lự

 
 
 
Những nghi thức chuyển giao tự tạo

Virginia Hine Vài năm trước khi qua đời vào năm 1982, Virginia Hine—Thạc sĩ, nhà nhân học xã hội đồng thời là tác giả của các tác phẩm People, Power, Change (1970), Lifeway Leap (1973) và Last Letter

 
 
 

Bình luận


bottom of page