Khi mục đích của hôn nhân là một sự đồng hành
- Minh Đào
- 16 thg 7
- 37 phút đọc
Tác giả: Judith S. Wallerstein, Sandra Blakeslee
Sách: The Good Marriage: How and Why Love Lasts

CHƯƠNG 13: Kit Morgan
Giống như bao người mẹ khác, tôi không lúc nào thôi lo lắng cho các con, dù giờ đây chúng đều đã khôn lớn, có gia đình hạnh phúc, sự nghiệp vững vàng và đang nuôi dạy những đứa cháu của tôi thật khỏe mạnh, ngoan ngoãn – tôi hoàn toàn có quyền tự hào chứ nhỉ? Điều khiến tôi trăn trở là cả con trai lẫn con dâu, con gái lẫn con rể đều đang phải gồng mình, dốc hết quỹ thời gian và năng lượng mỗi ngày để vừa hoàn thành tốt công việc, chăm sóc con cái, vun đắp hôn nhân, lại vừa phải quán xuyến việc nhà, duy trì các mối quan hệ bạn bè cùng hàng tá áp lực vô hình khác.
Con trai tôi hiện là giảng viên tại một trường đại học lớn. Vợ nó là một nghệ sĩ, công việc đòi hỏi phải sống gần các trung tâm nghệ thuật và phòng triển lãm tranh. Vì thế, tụi nhỏ chọn định cư tại một khu đô thị sầm uất, nơi không may thay lại có hệ thống trường công lập đang xuống cấp. Sau nhiều lần đắn đo, vợ chồng nó quyết định cho con học trường tư, đồng nghĩa với việc mỗi ngày phải mất nhiều giờ đồng hồ tự lái xe đưa đón. Con trai tôi quay cuồng với việc viết bài nghiên cứu và bay đi tham dự các hội nghị khoa học trên khắp thế giới; con dâu tôi thì làm bán thời gian để có thêm thu nhập phụ giúp gia đình. Dù bận rộn, cả hai đều đặt trách nhiệm làm cha mẹ lên hàng đầu và luôn cố gắng dành những khoảng thời gian trọn vẹn nhất cho hai đứa con. Việc đi chợ, nấu nướng, dọn dẹp đều do hai vợ chồng cùng san sẻ – nhưng con dâu tôi vẫn phải gánh vác phần nhiều, nhất là việc dọn dẹp nhà cửa và đưa đón con cái. Vì ban ngày dành quá ít thời gian cho niềm đam mê nghệ thuật (vốn là hơi thở cuộc sống của nó), con dâu tôi thường phải lầm lũi thức dậy từ lúc năm giờ sáng để tự giam mình trong phòng vẽ một đến hai tiếng trước khi cả nhà thức giấc. Thật may là tụi nhỏ lúc nào cũng tràn đầy năng lượng. Tôi nhìn chúng mà lòng đầy ngưỡng mộ. Nhưng đồng thời, tôi cũng tự hỏi – dù chưa bao giờ dám hỏi thành tiếng – liệu hai vợ chồng chúng có còn chút thời gian riêng tư nào dành cho nhau hay không.
Con gái tôi, cũng là một học giả, từng gọi điện cho tôi để tâm sự về một tình huống tiến thoái lưỡng nan mà rất nhiều cặp vợ chồng trẻ ngày nay đang phải đối mặt. Nó hào hứng khoe vừa đến khảo sát tại một trường đại học lớn, nơi có khoa nghiên cứu hàng đầu trong lĩnh vực của nó. Môi trường, đồng nghiệp và các chương trình ở đó hoàn toàn trùng khớp với định hướng phát triển của nó. Thậm chí, vị Trưởng khoa còn khẳng định nó là ứng viên sáng giá nhất cho vị trí biên chế chính thức (tenured vị trí giảng dạy lâu dài) tại đây.
"Nhưng mà —" tôi vừa mới mở lời.
"Con biết mẹ định nói chữ 'nhưng' gì rồi," nó cắt lời tôi với giọng hờn dỗi. "Nhà con (Ed) bảo anh ấy sẵn sàng chuyển đi cùng con trong một năm. Nhưng công việc hiện tại của anh ấy ở đây lại đang tiến triển rất tốt. Khoản tài trợ nghiên cứu lớn mà anh ấy theo đuổi bao lâu nay cuối cùng cũng vừa được phê duyệt." Ed cũng là một học giả tài năng và đang trên đà thăng tiến rất nhanh.
"Đúng vậy," tôi ôn tồn nói. "Nhưng năm ngoái, nếu mẹ nhớ không lầm, anh ấy đã phải bay đi bay về vùng Vịnh liên tục chỉ để phỏng vấn xin việc đấy thôi."
"Mẹ ơi," con gái tôi thở dài giải thích, "dù vợ chồng con luôn hướng tới sự bình đẳng, nhưng thực tế có những thứ vẫn được 'ưu tiên' hơn những thứ khác. Khi một người phụ nữ có ý định chuyển cả nhà đi nơi khác vì sự nghiệp của mình, cô ấy sẽ ngay lập tức nghĩ đến việc điều đó làm xáo trộn cuộc sống của chồng con ra sao. Phụ nữ luôn tự mang vác trách nhiệm đối với hạnh phúc của mọi thành viên và sẽ tự trách mình nếu làm đảo lộn cuộc sống của họ." Nó lại thở dài. "Con biết điều đó chẳng công bằng chút nào, nhưng sự thật là vậy. Đàn ông thì khác, họ luôn mặc định rằng vợ con sẽ phải tự thích nghi với những thay đổi trong công việc của họ. Và thực tế là phụ nữ chúng con thường sẽ thỏa hiệp."
"Vậy cuối cùng con định tính sao?" tôi hỏi, thừa biết rằng một năm qua nó đã cảm thấy bị cô lập về mặt chuyên môn và đang khao khát cơ hội này đến nhường nào.
Nó than thở: "Cái khó nhất là những chuyện như thế này chẳng có một công thức nào đúng hoàn toàn mẹ ạ. Cũng không có bất kỳ quy tắc nào quy định rõ ai phải nhường ai hay vì lý do gì."
Hai mẹ con hẹn sẽ nói chuyện lại sau vài ngày rồi cúp máy. Tôi ngồi thẫn thờ nghĩ về cuộc đời mình. Ba năm sau khi kết hôn, chồng tôi nhận được lời mời làm việc tại Phòng khám Menninger ở Topeka, bang Kansas. Lúc đó, tôi thậm chí còn chẳng biết Topeka nằm ở chỗ nào trên bản đồ, nhưng trong đầu tôi chưa từng mảy may nghi ngờ việc chuyển đi là đúng hay sai. Bổn phận của tôi đơn giản là đi theo và thích nghi. Đó là luật bất thành văn của thế hệ chúng tôi, một thời kỳ rất khác. Nhưng thử nghĩ xem, nếu ngày ấy tôi phản đối, khóc lóc hoặc từ chối thẳng thừng thì sao. Liệu cuộc hôn nhân của chúng tôi sẽ đi về đâu?
Mô hình hôn nhân thứ ba xuất hiện từ nghiên cứu này chính là hôn nhân bạn đồng hành (companionate marriage). Đây là hình thức mới nhất và cũng là kiểu hôn nhân khó gìn giữ nhất, như những gì các con tôi đã trải nghiệm. Sinh ra từ làn sóng thay đổi xã hội mạnh mẽ của hai thập kỷ qua, hôn nhân bạn đồng hành hiện là lựa chọn phổ biến nhất của giới trẻ, phản ánh những góc nhìn phức tạp về mặt đạo đức và lối sống mà xã hội Mỹ đương đại đặt lên vai họ. Trong số các cặp đôi tham gia nghiên cứu kết hôn vào những năm 1950, không có một ai theo mô hình này. Ngược lại, có tới 40% những người kết hôn vào những năm 1970 hoặc đầu những năm 1980 đã cùng nhau xây dựng tổ ấm theo xu hướng này. Họ là thế hệ trưởng thành vào những năm 1960 – thời kỳ bùng nổ của các phong trào phản chiến, đòi quyền dân sự, phong trào nữ quyền và cuộc cách mạng giải phóng tình dục. Nhiều người vợ từng là thành viên tích cực trong các hội nhóm nâng cao nhận thức phụ nữ, và những người chồng cũng hoàn toàn ủng hộ tư tưởng nữ quyền.
Cốt lõi của một cuộc hôn nhân bạn đồng hành là niềm tin tuyệt đối rằng nam nữ bình đẳng trong mọi khía cạnh của cuộc sống, và vai trò của vợ hay chồng trong gia đình hoàn toàn có thể hoán đổi cho nhau. Cả hai đều có thế giới riêng và sự nghiệp quan trọng bên ngoài xã hội. Dù có những giai đoạn người vợ chấp nhận tạm lui về phía sau để chăm sóc con nhỏ, cô ấy vẫn không hề từ bỏ hoài bão sự nghiệp của mình.
Thực ra, kiểu hôn nhân này không mới, nó đã tồn tại từ lâu trong giới quý tộc hoặc tầng lớp tri thức tinh hoa ở phương Tây. Tuy nhiên, các cặp đôi ngày nay đã thổi vào đó một luồng sinh khí mới, chủ động lồng ghép thế giới quan hiện đại về hôn nhân và vai trò giới vào cuộc sống thường nhật của xã hội Mỹ.
Tôi không có ý nói rằng các cặp đôi này đang cố nâng tầm cuộc hôn nhân của mình thành một tuyên ngôn chính trị. Phần lớn họ đều là những con người bình thường, đang quá bận rộn với vòng xoáy cơm áo gạo tiền, nuôi dạy con cái và dựng xây tổ ấm – họ chỉ đang cố gắng đứng vững trong một xã hội hối hả. Thế nhưng, dù muốn hay không, những giá trị xã hội thay đổi của hai thập kỷ qua, bao gồm cả triết lý giải phóng phụ nữ, đã thấm sâu vào huyết mạch cuộc sống của họ. Hệ quả là, sợi dây liên kết giữa chồng và vợ đã thay đổi một cách sâu sắc.
Giá trị cốt lõi làm nên một cuộc hôn nhân bạn đồng hành bền vững là tình bạn, sự tin tưởng và ý thức trách nhiệm ngang nhau trong mọi việc lớn nhỏ. Họ cùng nhau gánh vác áp lực kinh tế, cùng san sẻ việc nuôi dạy con cái, và cởi mở trong việc bày tỏ cũng như đáp ứng nhu cầu tình dục của nhau. Họ hiểu và chấp nhận rằng, khi con cái còn quá nhỏ và sự nghiệp đang ở giai đoạn nước rút, cái "tôi" và sở thích cá nhân đôi khi phải tạm gác lại phía sau. Họ cũng hiểu rằng hai con người sống chung dưới một mái nhà không thể tránh khỏi những va chạm, và cách duy nhất là đối mặt, giải quyết chúng một cách thẳng thắn. Trên tất cả, họ ý thức được rằng sự cam kết và đồng lòng chính là chất keo gắn kết hôn nhân.
Khác với các mô hình khác, hôn nhân bạn đồng hành được giữ lửa từ bên trong, được nuôi dưỡng mỗi ngày bằng sự tự nguyện và các giá trị chung của hai vợ chồng. Lối sống này đòi hỏi mỗi người phải có sự tự tin, lòng tin tưởng, thấu hiểu bản thân cực kỳ lớn và khả năng kiềm chế những ham muốn cá nhân vì đại cục.
Chúng ta không nên xem nhẹ tính chất mang tính cách mạng của sự thay đổi này. Hôn nhân bạn đồng hành buộc người ta phải định nghĩa lại hoàn toàn hai chữ "làm chồng" và "làm vợ". Đây không đơn thuần là cuộc tranh luận tủn mủn xem ai nấu cơm, ai đi chợ, ai trả tiền nhà, ai thay tã hay ai đổ rác. Có một thứ lớn lao hơn nhiều đang được đặt cược trong kiểu hôn nhân mới này – một mô hình đã quay ngoắt 180 độ so với truyền thống. Không giống như những người tôn thờ hôn nhân lãng mạn, hôn nhân cứu rỗi hay hôn nhân truyền thống, các cặp đôi bạn đồng hành luôn có tâm thế của những người mở đường. Họ chủ động khước từ những lối mòn từ thế hệ đi trước hoặc những định kiến cũ kỹ ngoài xã hội. Họ chấp nhận dấn thân, nỗ lực hết mình để cùng nhau tạo ra một mối quan hệ công bằng, mới mẻ và ngập tràn niềm vui.
Các cặp đôi này luôn nhắc về nhau như những người bạn tri kỷ, họ nhấn mạnh vào sự tôn trọng lẫn nhau và quyền tự chủ của mỗi người. "Hôn nhân của tôi được xây dựng trên nền tảng tình bạn," một người chồng chia sẻ. "Tình dục thì bạn có thể tìm thấy ở bất kỳ ai. Nhưng tôi kết hôn là vì sự đồng điệu, sự tôn trọng và trên hết là vì một người bạn đồng hành thực sự." Một người vợ tâm sự: "Thú thật, việc kết hôn từng nằm ngoài kế hoạch cuộc đời tôi. Tôi bị ảnh hưởng nặng nề bởi tư tưởng nữ quyền và luôn sợ rằng phụ nữ trong hôn nhân chỉ như một món tài sản phụ thuộc của đàn ông." Một người chồng khác tự hào nói về vợ: "Cô ấy là một người rất cứng rắn và cực kỳ nghiêm túc với sự nghiệp. Đương nhiên chẳng ai có thể mặn nồng với nhau từng giây từng phút, nhưng bản chất của hôn nhân chính là sự chấp nhận và thấu hiểu đó." Và một người vợ khác khẳng định: "Được sống là chính mình đối với tôi là điều tối thượng. Tôi không bao giờ có thể sống cam chịu như mẹ tôi ngày xưa, càng không thể chịu cảnh phụ thuộc hoàn toàn vào chồng giống như bà đã từng phụ thuộc vào bố tôi."
Phần thưởng của mô hình này vô cùng lớn, nhưng cái giá phải trả cũng không hề rẻ. Người đàn ông chấp nhận từ bỏ vị thế "trụ cột kinh tế độc tôn" để đổi lấy cơ hội được tự tay chăm sóc con cái từ thuở lọt lòng, gánh vác thiên chức làm cha thiêng liêng không kém gì người mẹ. Điều này sẽ thay đổi thế giới quan và kỳ vọng sống của anh ấy ra sao? Liệu nó có làm tổn hại đến bản lĩnh đàn ông của anh ấy? Liệu anh ấy có trở nên kém hấp dẫn về mặt tình dục trong mắt phụ nữ hơn những gã đàn ông gia trưởng, đậm chất "đàn ông đại trượng phu" (macho) ngoài kia? Anh ấy có bị thụ động đi không? Liệu anh ấy có đang tự giới hạn cơ hội thăng tiến và cống hiến trí tuệ của mình cho xã hội? Hay ngược lại, anh ấy sẽ trở thành một người đàn ông tốt hơn, văn minh hơn, một người đàn ông biết bao dung và trân trọng cả phần mềm mỏng, nhạy cảm bên trong con người mình?
Đàn ông thời nay đang thảo luận rất nhiều về những thay đổi này. Một người chồng trong nghiên cứu bộc bạch: "Tôi yêu vợ tôi, nhưng thú thật đó không phải là kiểu tình yêu sét đánh. Cô ấy là một người theo chủ nghĩa nữ quyền tiến bộ, và tôi đã phải chật vật rất nhiều để rũ bỏ những định kiến cố hữu của mình. Tôi từng nghĩ hôn nhân mặc định là chồng cày cuốc bên ngoài, vợ lo việc bếp núc, bởi vì mẹ tôi ngày xưa chưa từng đi làm. Là con một, tôi từng là báu vật của mẹ và lớn lên với suy nghĩ mặc định rằng phụ nữ sau này cũng phải chiều chuộng tôi như cách mẹ đã làm. Mẹ lo cho tôi từ chân tơ kẽ tóc, lo cho bố tôi cũng vậy. Thế nên khi bước vào cuộc hôn nhân này, việc phải tự tay làm việc nhà đối với tôi ban đầu là một cú sốc. Tôi đã phải học cách lật ngược lại toàn bộ những tư duy cũ kỹ của mình."
Dù đàn ông chịu tác động rất lớn từ sự chuyển dịch của xã hội, nhưng sự lột xác thực sự trong nhận thức của họ lại diễn ra ngay trong chính mối quan hệ. Nhiều người phụ nữ ngày nay sẵn sàng "ra điều kiện" ngay từ đầu: "Nếu anh muốn có được em, anh phải chấp nhận chúng ta là hai cộng sự bình đẳng." và đàn ông hiểu họ phải tuân thủ luật chơi. Rất nhiều người đã phải tự đấu tranh với chính thói quen từ nhỏ của mình để bảo vệ cuộc hôn nhân bạn đồng hành. Với thế hệ con trai tôi, điều đó có vẻ tự nhiên hơn, nhưng bảo là dễ dàng thì hoàn toàn không.
Tương tự, người mẹ chọn tiếp tục đi làm cũng phải định nghĩa lại bản sắc của chính mình. Thế nào là một người mẹ vừa đi làm vừa chăm con? Việc san sẻ bớt quyền nuôi dạy con cho chồng sẽ mang lại cho cô ấy điều gì? Câu trả lời chắc chắn là một sự nghiệp vững vàng, sự độc lập về tài chính và một niềm kiêu hãnh mới. Cô ấy nắm giữ một đặc quyền mà thế hệ mẹ mình không có: không bao giờ phải khúm núm hay quỵ lụy vào ai về cả mặt kinh tế lẫn vị thế xã hội. Cô ấy được tự do theo đuổi đam mê, khẳng định năng lực chuyên môn và dấn thân kiến tạo cộng đồng. Nhưng đổi lại, cô ấy không còn sự bao bọc tuyệt đối từ nguồn tài chính của người chồng. Cô ấy cũng mất đi đặc quyền được toàn quyền chăm bẵm con nhỏ và vị trí trung tâm độc tôn trong thế giới tình cảm của đứa trẻ. Đây là một sự mất mát vô cùng đau đớn, một khoảng lặng thường bị ngó lơ trong các cuộc tranh luận nảy lửa về nữ quyền.
Dù chọn đi làm hay ở nhà, người mẹ nào cũng phải trải qua những dằn vặt nội tâm và cảm giác tội lỗi. Tất nhiên, có nhiều người bắt buộc phải bươn chải bên ngoài vì gánh nặng cơm áo gạo tiền. Nhưng cuộc chiến tư tưởng giữa việc "đi làm" hay "ở nhà" luôn khuấy động những xung đột sâu sắc trong lòng phụ nữ thuộc mọi tầng lớp, bất kể họ có quyền lựa chọn hay không. Nhiều người mẹ đi làm có con nhỏ tự vấn về quyết định của mình mỗi ngày. Họ thấp thỏm lo âu không biết sự vắng mặt của mình sẽ ảnh hưởng thế nào đến tâm lý của con, đến bản thân và hạnh phúc gia đình.
"Tôi yêu công việc của mình, nhưng lòng tôi lúc nào cũng như lửa đốt – liệu mình làm thế này có nhẫn tâm với con quá không?" một người mẹ nghẹn ngào. Người khác buồn bã nói: "Tôi cảm thấy mình đang bỏ lỡ những năm tháng ngây thơ và đẹp đẽ nhất của con. Tụi nhỏ lớn nhanh quá, ngoảnh đi ngoảnh lại đã khác rồi." Một người khác lại ước ao: "Điều tôi khao khát nhất là có thể ở nhà mở rộng cửa đón con mỗi khi chúng tan trường. Nhưng thời buổi này kiếm đâu ra một công việc linh hoạt như vậy? Nghĩ đến thôi đã thấy nhói lòng."
Những cảm xúc này – nỗi đau vì không thể ở nhà chăm con toàn thời gian và sự bất an thường trực về những người giữ trẻ thay thế – là hoàn toàn có thật và vô cùng nghiêm trọng. Các nghiên cứu vĩ mô có thể đưa ra những con số thống kê khô khan để so sánh sự phát triển giữa trẻ được nuôi dạy tại nhà và trẻ gửi nhà trẻ. Nhưng không một nghiên cứu nào có thể cho bạn biết điều gì là tốt nhất cho chính đứa con của bạn. Câu hỏi liệu đứa trẻ hai tuổi như Jimmy hay đứa bé chưa đầy một tuổi như Ann cần gì, chỉ có cha mẹ – những người hiểu rõ cá tính của con và hoàn cảnh của gia đình – mới có thể đưa ra câu trả lời chính xác nhất.
Ở chiều ngược lại, nhiều người mẹ chấp nhận ở nhà chăm con cũng không khỏi chạnh lòng, tự hỏi liệu nếu mình có một sự nghiệp riêng thì cuộc sống có rực rỡ hơn không. Bên nào cũng có những nỗi niềm góc khuất riêng. Hai đứa con gái của tôi đã chọn hai con đường hoàn toàn trái ngược; đứa nào cũng gặt hái được quả ngọt từ lựa chọn của mình nhưng cũng không ít lần khóc thầm cho những gì bản thân đang bỏ lỡ. Tuy nhiên, khi được hỏi, không đứa nào muốn đổi chỗ cho đứa kia, chúng rất thẳng thắn về điều đó.
Điểm hấp dẫn nhất của hôn nhân bạn đồng hành – cảm giác tự do và được làm chủ vận mệnh của chính mình – lại chính là thứ khiến nó trở nên mong manh và khó gìn giữ nhất. Mọi quyết định lớn, chẳng hạn như việc có nên sinh con hay không, đều đòi hỏi hai vợ chồng phải ngồi lại cân nhắc một cách nghiêm túc; không còn chuyện "trời sinh voi trời sinh cỏ" như thế hệ trước. Sự nghiệp của ai sẽ được ưu tiên? Chúng ta sẽ luân phiên hy sinh vì nhau như thế nào? Ai sẽ là người quản lý chi tiêu? Nên lập tài khoản ngân hàng chung hay tiền ai nấy giữ? Liệu người vợ có giữ lại họ thời con gái của mình không, và nếu có thì con cái sẽ theo họ ai? Tất cả những câu hỏi của đời sống hôn nhân hiện đại đều được phơi bày một cách sòng phẳng trên bàn cân. Chúng được xem xét kỹ lưỡng và giải quyết dựa trên các nguyên tắc thép về sự bình đẳng và tính công bằng. Một người vợ chia sẻ: "Hôn nhân của chúng tôi có những chủ đề muôn thuở. Hai vợ chồng không ngừng đối thoại về hai chữ 'thân mật'. Thỉnh thoảng thấy tôi khơi chuyện, nhà tôi lại đảo mắt kiểu 'lại nữa rồi'. Nhưng chúng tôi vẫn kiên trì ngồi lại giải quyết ổn thỏa mọi chuyện. Đó là một hành trình liên tục và có lẽ sẽ chẳng bao giờ có điểm dừng cuối cùng."
Chính vì không có bất kỳ khuôn mẫu truyền thống nào để bấu víu, hôn nhân bạn đồng hành đòi hỏi các cặp đôi phải cực kỳ linh hoạt, phải không ngừng dò dẫm để hiểu rõ giới hạn chịu đựng của đối phương, xem người kia có thể đi xa đến đâu và bản thân mình có thể lùi lại nhường nào. Sự chuyển dịch không ngừng này đòi hỏi hai vợ chồng phải luôn thấu cảm và chú ý đến nhau từng chút một. Rõ ràng, không phải ai cũng đủ kiên nhẫn – hoặc muốn – sống một cuộc đời như vậy.
Tôi biết đến vợ chồng Kit Morgan và Beth McNeil qua lời kể của đứa con gái út của tôi, nó đã chơi thân với họ vài năm. Nó luôn dành sự ngưỡng mộ đặc biệt cho tổ ấm của họ và hai đứa nhỏ – vốn là bạn nối váy với con của nó. Kit và Beth nhanh chóng nhận lời tham gia phỏng vấn, họ hào hứng nói rằng rất vinh hạnh được đóng góp một phần vào nghiên cứu về hôn nhân hạnh phúc này.
Năm nay cả hai đều bước sang tuổi bốn mươi hai và đã gắn bó bên nhau được mười năm. Kit đang giảng dạy môn toán tại một trường cao đẳng cộng đồng, còn Beth là một điều dưỡng thực hành cao cấp (nurse practitioner) tại một phòng khám tư, đồng thời cô cũng làm việc tại một trung tâm chăm sóc giảm nhẹ (hospice) ở Oakland. Ngoài ra, cô còn tích cực tham gia vào một dự án cộng đồng hỗ trợ bệnh nhân AIDS.
Khi đánh xe dừng trước cửa nhà họ, đập vào mắt tôi là đồ chơi, đồ chơi ở khắp mọi nơi. Lối đi nhỏ trước sân tràn ngập xe đạp, một quả bóng bầu dục bằng xốp, một chiếc xe đẩy búp bê cũ kỹ và một chiếc thùng carton khổng lồ được khoét các ô cửa sổ, cửa ra vào trông như một pháo đài nhỏ. Các bậc thềm được trang trí bằng vài quả bí ngô, trên cửa dán đầy hình thù rùng rợn của lễ hội Halloween, nổi bật nhất là một bộ xương phát quang trông rất ngộ nghĩnh.
Tôi bấm chuông cửa và tự hỏi liệu có ai nghe thấy tiếng chuông giữa một không gian đang náo loạn bởi tiếng cười đùa, đuổi bắt bên trong hay không. Một lúc sau, tiếng Kit vọng ra: "Chờ tôi một chút. Ra ngay đây." Anh mở cửa, một tay vuốt lại mái tóc đang rối bù, tay kia cố vuốt phẳng bộ đồ thể thao nhăn nhúm một cách vô vọng.
"Chào bác, mời bác vào nhà," anh nói với giọng lịch sự và ấm áp. Anh giới thiệu tôi với hai đứa nhỏ – bé Martha bảy tuổi và cu Sam bốn tuổi – chúng vẫn đang cười ngặt nghẽo sau trận vật lộn với bố trên sàn nhà. Kit nhanh chóng xin phép gọi điện cho người hàng xóm đối diện để gửi tụi trẻ sang chơi một lát trong lúc chúng tôi trò chuyện. Hôm nay Beth bận đi công tác vắng nhà.
Ngôi nhà đang ồn ào bỗng chốc trở nên yên ắng khi Kit tiễn hai đứa nhỏ ra cửa vài phút sau đó. Với gương mặt cạo râu nhẵn nhụi, cặp kính gọng kim loại và mái tóc đã bắt đầu hói, Kit mang đậm phong thái của một thầy giáo dạy toán thông minh, tư duy sắc sảo. Anh rót cho tôi một ly rượu sherry và tôi vui vẻ nhận lời.
Câu trả lời của anh cho câu hỏi mở đầu của tôi vô cùng thẳng thắn và dễ mến. "Thật khó để biết nên bắt đầu từ đâu. Tôi chỉ muốn nói rằng cuộc hôn nhân của chúng tôi hạnh phúc trọn vẹn trên mọi phương diện. Beth chính là hình mẫu người vợ lý tưởng mà tôi từng mơ ước thời thiếu niên, và cũng là người tôi muốn được ở bên cạnh khi bước vào tuổi xế chiều. Và tôi đã tìm thấy cô ấy." Ánh mắt anh ngời lên niềm hạnh phúc. "Chúng tôi có chung quan điểm sống, chung lý tưởng chính trị và thích những hoạt động giống nhau. Cả hai luôn ủng hộ đam mê riêng của đối phương. Chúng tôi có một đời sống tình dục hòa hợp và cùng nhau nuôi dạy con cái rất tốt. Vai trò của mỗi người trong gia đình được phân định rõ ràng, nhưng tuyệt đối không theo lối mòn truyền thống. Chúng tôi đã phải cùng nhau trải nghiệm và đối thoại rất nhiều để tìm ra xem ai phù hợp với việc gì."
Giống như nhiều người chồng trong nghiên cứu này, Kit vô cùng tự hào vì vợ mình chính là hiện thực hóa của những giấc mộng thời trai trẻ. Anh không ngần ngại chia sẻ về đời sống gối chăn viên mãn và sự đồng lòng trong việc nuôi dạy con cái. Nhưng ngay sau đó, anh nhấn mạnh một điểm rất mới. Ngay từ những phút đầu tiên, anh đã hướng cuộc trò chuyện vào bản chất phi truyền thống của mối quan hệ, vào những vai trò mới mà anh và Beth đã tự tay thiết kế để phù hợp với hệ giá trị của riêng mình. Anh đang ngầm nói với tôi rằng: họ đang bước đi trên một vùng đất hoàn toàn mới.
Tôi gợi chuyện: "Anh có thể kể cụ thể hơn về cách anh chị phân chia việc nhà được không?"
"Tôi đảm nhận việc bếp núc và sửa sang nhà cửa vì tôi thích làm mấy việc đó hơn cô ấy," anh giải thích. "Chúng tôi chỉ thực sự phải ngồi lại bàn bạc đối với những việc mà cả hai cùng ghét." Anh nở một nụ cười hóm hỉnh. "Chẳng hạn như việc lau dọn nhà cửa. Beth không phải là người mắc bệnh sạch sẽ quá mức, nhưng cô ấy thích nhà cửa gọn gàng hơn tôi. Vì cô ấy là người bận tâm về chuyện đó nhiều hơn, nên ban đầu tôi nghĩ cô ấy nên tự mình lo liệu." Anh cười lớn. "Nhưng ngặt nỗi cô ấy cũng chẳng thích dọn dẹp gì cho cam, thế là cô ấy bắt đầu cằn nhằn vì tôi không chịu đỡ đần. Sau đó tôi chợt nhận ra mình đang nghiễm nhiên hưởng một đặc quyền rất ích kỷ. Tôi được sống trong một ngôi nhà sạch sẽ mà chẳng phải động móng tay vào làm gì. Như thế là quá bất công. Vì vậy, bây giờ chúng tôi cùng nhau dọn dẹp."
Kit đã nhận ra một sự thật mà rất nhiều ông chồng thường vô tình ngó lơ – đó là, chỉ vì bạn có khả năng chịu bừa, chịu bẩn tốt hơn vợ mình, không có nghĩa là bạn được phép đùn đẩy toàn bộ trách nhiệm dọn dẹp cho cô ấy. Kit hiểu anh không thể trốn tránh sau cái cớ "anh thấy thế này có sao đâu" để mặc vợ đầu tắt mặt tối. Thay vào đó, anh hành động vì một lý do rất văn minh: mong muốn sự công bằng.
Bởi vì các vai trò trong hôn nhân bạn đồng hành có thể linh hoạt hoán đổi, câu chuyện "ai làm việc gì" trở thành chủ đề thảo luận thường xuyên của các cặp đôi. Một lời nhắc nhở quen thuộc kiểu như: "Nhớ nhé, tuần trước em lau bếp rồi. Tuần này đến lượt anh xin nghỉ làm một buổi để đưa cu Jimmy đi khám định kỳ đấy."
Một điểm chung trong tất cả các cặp vợ chồng theo mô hình bạn đồng hành tham gia nghiên cứu này – phần lớn họ không thuê người giúp việc – là người vợ vẫn luôn gánh vác phần nhiều công việc gia đình. Có thể vì phụ nữ khéo léo và quán xuyến tốt hơn, nhưng lý do cốt lõi là họ luôn có một "bộ rada" thường trực trong đầu để lo liệu cho nhu cầu của chồng con. Tôi đã chứng kiến điều này rất rõ trong cuộc sống của các con tôi và bạn bè chúng. Như con gái tôi từng tâm sự, nó tự nhận gánh trách nhiệm kết nối và chăm lo cho thế giới cảm xúc lẫn thể chất của cả nhà. Nó gần như không có lúc nào được "tan ca" đúng nghĩa.
Những người chồng trong mô hình này dù rất nỗ lực san sẻ việc nhà, và một số người tỏ ra cực kỳ thuần thục trong việc đi chợ, hút bụi hay nấu nướng. Nhưng để được như vậy, họ đã phải chật vật rũ bỏ những thói quen cũ để học lại từ đầu. Ngay cả những người trẻ như con trai Mike của tôi, dù lớn lên trong một gia đình tiến bộ, cũng không thể quen với việc nhà một cách nhanh chóng như cách nó học lập trình máy tính. Và không giống như vợ mình, đàn ông thỉnh thoảng vẫn cho phép mình "tan ca".
Tuy nhiên, câu chuyện sẽ đảo ngược nếu người chồng chấp nhận lui về làm hậu phương. Trong số các cặp đôi tham gia nghiên cứu, có hai gia đình người chồng là người chăm sóc chính. Họ đều là những nghệ sĩ có tài và đã có danh tiếng nhất định. Nhưng vì đặc thù công việc tự do, không bị gò bó giờ hành chính và thu nhập không đều đặn, vợ họ đã trở thành trụ cột kinh tế chính. Những người chồng này cáng đáng hầu hết việc chăm con, cơm nước và dọn dẹp. Thỉnh thoảng, họ cũng chạnh lòng, hờn trách những ngày làm việc kéo dài của vợ và xót xa vì thấy người phụ nữ của mình phải bươn chải quá vất vả ngoài xã hội. Điều này chứng minh một sự thật: những xung đột giữa công việc và gia đình không phụ thuộc vào giới tính, mà phụ thuộc vào vai trò mà mỗi người chấp nhận gánh vác trong tổ ấm của mình.
Các cặp đôi bạn đồng hành khẳng định: sự công bằng về mặt cảm xúc quan trọng hơn nhiều so với việc cân đo đong đếm chính xác ai làm việc gì. Họ không ngồi ghi sổ xem hôm nay ai rửa bát, ai lau nhà; họ chỉ cố gắng cùng nhau hoàn thành mọi việc trước khi mệt nhoài ngã lưng xuống giường. Nhưng họ có sự quan sát và ghi nhận nỗ lực của đối phương. Nhiều người vợ sẵn sàng làm nhiều việc nhà hơn vì thấu hiểu lịch trình làm việc dày đặc của chồng. Điều này thực sự là một thử thách khắc nghiệt đối với những người mẹ vừa phải đi làm vừa có con nhỏ. Chỉ cần người phụ nữ cảm thấy chồng đang tâm lý, đang nỗ lực hết sức trong khả năng của anh ấy để đỡ đần, cô ấy sẽ luôn thấy mọi sự hy sinh là xứng đáng và công bằng. Ngược lại, nếu anh ấy tỏ ra lười biếng, thờ ơ trong khi cô ấy đã kiệt sức, sự uất hận và rạn nứt là điều tất yếu.
Những bất đồng về việc nhà có thể làm gia tăng căng thẳng, nhưng bản thân chúng chưa bao giờ là nguyên nhân cốt lõi khiến một cuộc hôn nhân đổ vỡ. Những tranh cãi tủn mủn đó chỉ là bề nổi của một tảng băng chìm; chúng chỉ thực sự nguy hiểm khi là giọt nước tràn ly phản ánh sự cô đơn, cảm giác bị bỏ rơi về mặt cảm xúc hoặc bị đối phương lợi dụng. Trong suốt hai mươi lăm năm làm công tác tư vấn ly hôn, tôi chưa từng thấy một cặp đôi nào ra tòa chỉ vì phân chia việc nhà không đều. Nhiều phụ nữ ngày nay đang phải gánh vác "ca làm việc thứ hai" đầy mệt mỏi khi về nhà, nhưng chỉ riêng điều đó không đủ để khai tử một cuộc hôn nhân.
Kit đã biết san sẻ việc nhà, nhưng tôi muốn đào sâu hơn xem giữa họ còn điều gì cần phải thương lượng nữa không. Tôi hỏi: "Chắc hẳn giữa anh và Beth còn rất nhiều chuyện phải cùng nhau bàn bạc và đưa ra quyết định?"
Anh gật đầu tán thành. "Chúng tôi nói với nhau đủ thứ chuyện trên đời. Từ tình hình chiến sự ở Iraq cho đến những khúc mắc cá nhân. Chúng tôi tranh luận, phản biện và luôn trân trọng góc nhìn của nhau."
Tôi để ý thấy anh lại nhắc đến tình hình chính trị thế giới trước khi nói về chuyện riêng của hai vợ chồng. Đoán được sự tò mò của tôi, anh giải thích: "Điều tuyệt vời trong cuộc hôn nhân này là cả hai đều có mối quan tâm lớn đến thế giới xung quanh và quan tâm đến nhau, nhờ vậy chúng tôi luôn có những cuộc trò chuyện bất tận."
"Vậy nếu tôi hỏi Beth, cô ấy sẽ nói điều gì làm cô ấy hạnh phúc nhất trong cuộc hôn nhân này?"
"Tôi nghĩ cô ấy sẽ nói rằng chúng tôi yêu nhau sâu sắc và là những người bạn tri kỷ thiết cốt nhất của nhau. Cô ấy cũng sẽ thấy hạnh phúc vì được ở bên một người đàn ông mà cô ấy không cần phải gồng mình lên để bảo bọc. Trước khi đến với tôi, Beth từng trải qua vài mối tình với những người đàn ông rất bất ổn, nơi cô ấy luôn phải đóng vai người mẹ để che chở và vỗ về cảm xúc cho họ." Giống như bao người chồng hạnh phúc khác, Kit luôn thấu hiểu và ghi khắc những tổn thương trong quá khứ của vợ.
"Còn các cháu thì sao? Chúng sẽ nói gì về gia đình mình?"
"À, bé Martha bảy tuổi rồi, con bé là một đứa trẻ cực kỳ hoạt bát và ngập tràn năng lượng hạnh phúc. Cu Sam mới bốn tuổi, còn quá nhỏ để diễn đạt thành lời, nhưng mọi hành động của con đều cho thấy con đang được sống trong sự yêu thương." Kit cười mắt híp lại khi nhớ về "một giấc mơ tuyệt vời" mà con gái anh vừa kể gần đây. Nghe anh kể, tôi hiểu giấc mơ ấy không chỉ thắp sáng tâm hồn đứa trẻ mà còn là niềm tự hào vô bờ bến của người cha. "Trong mơ, con bé phát hiện ra mình có thể bay. Nó bay lượn tung hoành khắp sân sau, nhưng lúc nào cũng phải giữ ngôi nhà trong tầm mắt, vì nó bảo ngôi nhà chính là nguồn năng lượng tối thượng giúp nó cất cánh." Anh nhìn thẳng vào tôi, ánh mắt long lanh. "Bác thấy giấc mơ đó có kỳ diệu không?"
"Một giấc mơ quá đỗi ngọt ngào," tôi mỉm cười. "Anh nghĩ sao về điều đó?"
"Gia đình chính là bệ phóng, là nguồn sức mạnh để con bé tự tin bay cao vào đời. Và bản thân tôi cũng đang bay bằng chính nguồn năng lượng đó," anh cười rạng rỡ. "Hôn nhân của chúng tôi rất hiếm khi xảy ra xung đột lớn. Ý tôi là bát đũa còn có lúc xô, nhưng ngòi nổ duy nhất thường chỉ là do cả hai đứa đều bận rộn đến mức điên cuồng. Chúng tôi chỉ dễ nổi cáu khi có việc gì đó bị tồn đọng hoặc quên chưa làm. Bác biết đấy, đó là thực tế phũ phàng của cuộc sống đô thị Mỹ thời nay – có quá nhiều việc phải hoàn thành mà quỹ thời gian thì eo hẹp đến đáng thương. Đôi khi nó khiến người ta uất ức phát điên! Nhất là khi bạn đang nuôi con nhỏ."
"Áp lực đè nặng mỗi ngày."
"Chính xác là vậy. Nhưng tôi hiểu những áp lực đó là do thời cuộc, chứ không phải do cuộc hôn nhân này. Dù tôi có kết hôn với ai đi nữa thì những lo toan đó vẫn tồn tại. Đó là bản chất của hôn nhân trong những năm 1990. Đó là 'cuộc hôn nhân dưới áp lực'. Đặc biệt là khi có con."
Khi nghe Kit nói câu đó, tôi bỗng giật mình nhận ra một sự thật: suốt hai mươi lăm năm qua, những gì tôi lắng nghe, phân tích từ các cặp đôi kiệt quệ tìm đến tôi, chính là những "cuộc hôn nhân dưới áp lực" này.
Sự khác biệt cốt lõi giữa một cặp đôi hạnh phúc và một cặp đôi đang dắt nhau ra tòa nằm chính ở tư duy của Kit. Anh không ảo tưởng về một cuộc sống màu hồng; anh hiểu rằng để duy trì một mái ấm, một sự nghiệp vững vàng đòi hỏi hai vợ chồng phải cùng nhau thực hiện một màn tung hứng điêu luyện mỗi ngày. Ngược lại, nhiều người vội vã ly hôn vì ích kỷ đổ lỗi cho bạn đời là nguyên nhân gây ra mọi áp lực cuộc sống, họ ngây thơ nghĩ rằng đổi một người tình mới hoặc sống độc thân thì áp lực sẽ tự động biến mất. Đó chỉ là một giấc mơ hão huyền. Bạn có thể bỏ một người chồng, một người vợ, nhưng bạn không bao giờ trốn thoát khỏi những lo toan của cuộc sống hiện đại.
"Từ khi gặp Beth, mất bao lâu để anh quyết định đi đến hôn nhân?" tôi hỏi.
"Bố mẹ tôi ngày xưa có một cuộc hôn nhân rất tồi tệ," anh trầm giọng. "Bác nghe có vẻ lạ, nhưng từ thuở thiếu niên tôi đã không có chút thiện cảm nào với hôn nhân, thậm chí là dị ứng. Ý nghĩ về việc lập gia đình đối với tôi từng là một nỗi ám ảnh. Beth cũng có nỗi sợ tương tự nhưng vì những lý do khác. Cả hai đứa tôi từng là những kẻ tôn thờ chủ nghĩa độc thân."
"Lúc nhỏ, xung quanh tôi chẳng có lấy một hình mẫu gia đình nào êm ấm để nhìn vào cả," anh tiếp tục. "Quan điểm của tôi về hôn nhân lúc đó, và phần nào là cả bây giờ, là lời thề 'cho đến khi cái chết chia lìa' nghe thật sáo rỗng. Làm sao ai có thể dám chắc tình cảm của mình sẽ kéo dài được ngần ấy năm? Điều quan trọng là bạn tìm được một người hiểu mình và yêu thương mình. Nhưng nếu một ngày mọi thứ không còn vận hành được nữa, tốt nhất là giải thoát cho nhau. Thật nực cười khi một người ở tuổi đôi mươi lại đi đưa ra một lời thề ràng buộc định đoạt cả phần đời còn lại. Làm sao bạn biết được năm sáu mươi tuổi mình sẽ cảm thấy thế nào? Tôi không tin vào hôn nhân theo nghĩa tâm linh, định mệnh đó."
Như đoán trước được sự thắc mắc của tôi, anh cười nói: "Bác chắc chắn sẽ hỏi: 'Vậy thì tại sao hai đứa lại kết hôn?' đúng không?" Anh bật cười. "Đơn giản là vì cả hai chúng tôi đều nhận ra một điều rõ ràng: chúng tôi muốn đi cùng nhau đến hết cuộc đời, và chúng tôi muốn trịnh trọng tuyên bố điều đó với những người thân yêu của mình."
Kit đã trả lời một trong những câu hỏi búa rìu của cuộc đời bằng một sự giản dị đến kinh ngạc, dù nghe qua có vẻ hơi mâu thuẫn với định kiến ban đầu của anh. Trong hôn nhân bạn đồng hành, mọi thứ đều là những câu hỏi mở – không chỉ là chuyện phân chia việc nhà hay có sinh con không, mà ngay cả giá trị của việc kết hôn cũng bị đem ra mổ xẻ. Ngày nay, ngày càng có nhiều bạn trẻ ở Mỹ và Tây Âu chọn sống chung mà không đăng ký kết hôn. Thế hệ trẻ ngày nay tự dò dẫm tìm câu trả lời cho riêng mình sau khi đã nếm trải qua vài mối tình đổ vỡ.
Mỗi lần phỏng vấn các cặp đôi trẻ, tôi lại không khỏi ngỡ ngàng trước sự tương phản thế hệ. Những cột mốc lớn mà thời của tôi coi là điều hiển nhiên như hơi thở thì giờ đây đối với họ lại là những đề tài phải đấu tranh tư tưởng. Tôi và bạn bè ngày xưa chưa từng nghi ngờ việc mình sẽ lấy chồng, sinh con. Chúng tôi chưa bao giờ mảy mảy nghĩ đến việc chồng sẽ không nuôi nổi mình. Chúng tôi cũng chưa từng mơ về một sự nghiệp đỉnh cao có thể xung đột trực tiếp với hoài bão của chồng. Chúng tôi chưa bao giờ phải điên đầu với những câu hỏi mang tính bản chất mà giới trẻ ngày nay đang đối mặt. Và tôi phải thừa nhận một sự thật lòng mình: thế hệ chúng tôi ngày ấy không có được sự thẳng thắn và lòng dũng cảm như chúng.
Bất chấp những định kiến nhuốm màu u tối về hôn nhân, Kit cuối cùng đã chọn dừng chân vì anh đã tìm thấy một người phụ nữ xứng đáng để anh trao gửi cả cuộc đời. Anh muốn có một buổi lễ để phân định rõ mối quan hệ thiêng liêng này với những cuộc tình thoảng qua trước đó. Nhưng anh hạ quyết tâm phải xây dựng một gia đình khác hoàn toàn, một phiên bản đối lập với bố mẹ mình.
"Anh có thể chia sẻ thêm về gia đình lớn của mình không, Kit? Tuổi thơ của anh đã diễn ra như thế nào?"
"Bố mẹ tôi gần như không dành thời gian cho nhau, và cứ mỗi lần ở gần là nhà cửa lại dậy sóng. Không lúc nào yên ổn. Bố tôi là một người đàn ông đa nghi, ích kỷ. Suốt những năm tháng tôi lớn lên, điệp khúc ly thân rồi tái hợp cứ lặp đi lặp lại như một trò hề. Thú thật, tôi không thể tìm nổi một cặp đôi nào xung quanh mình, từ họ hàng thân thích cho đến người quen, có thể coi là một hình mẫu gia đình hạnh phúc. Hoàn toàn không có."
"Ký ức đầu đời của tôi năm lên hai hay ba tuổi là một nỗi ám ảnh. Đó là một ngày mùa đông lạnh giá. Mẹ để tôi ngồi lại một mình trong xe để chạy vào cửa hàng mua đồ. Ở độ tuổi nhỏ nhoi đó, tôi đã tin chắc rằng mình là một đứa trẻ hư nên mới bị mẹ bỏ rơi mãi mãi. Tôi đã khóc nức nở, khóc đến mức hơi ấm của nước mắt làm mờ mịt cả kính xe. Đó là một cảm giác kinh hoàng tột độ, cảm giác như thế giới đã sụp đổ và mình là kẻ bơ vơ không thuộc về bất kỳ đâu. Sau này lớn lên, mỗi lần chứng kiến bố mẹ xách vali ly thân rồi lại dắt nhau về, cảm giác thế giới sụp đổ ấy lại hiện về vẹn nguyên."
Kit ngả người về phía trước, đưa tay vuốt tóc. "Kể cho bác nghe chuyện này để bác hiểu vì sao ngày cưới lại là một trong những khoảnh khắc thiêng liêng và xúc động nhất cuộc đời tôi. Đó là ngày chúng tôi được ở giữa những người bạn thực sự. Đương nhiên buổi lễ đó không theo kiểu truyền thống. Không đời nào tôi chấp nhận làm lễ trong nhà thờ, đứng trước một vị mục sư xa lạ để nghe ông ta rao giảng những giáo điều sáo rỗng về một thứ ông ta chẳng hề thấu hiểu. Vợ chồng tôi tự viết một lời thề đơn giản, chân thành. Chúng tôi chỉ mời bố mẹ và những người bạn tri kỷ nhất. Đêm đó, chúng tôi đã khiêu vũ, khiêu vũ quên trời đất. Tôi nghĩ chưa bao giờ trong đời mình – hay cả Beth – lại hạnh phúc đến thế. Cả hai đứa đã khóc vì quá đỗi vui sướng."
Anh tiếp tục: "Bằng một cách kỳ diệu nào đó, dù lớn lên trong tổn thương, bên trong tôi vẫn luôn lung linh một hình ảnh về một tổ ấm đích thực. Đó có lẽ là cái lý tưởng nguyên bản mà tạo hóa ban tặng cho mỗi con người. Chỉ là tôi chưa từng được thấy ai ngoài đời thực hiện được nó. Nhưng tôi tự hứa sẽ làm khác đi. Tôi luôn tin rằng phụ nữ có quyền có sự nghiệp riêng và đàn ông không có quyền định đoạt cuộc đời họ. Từ sâu thẳm lòng mình, tôi là một người ủng hộ nữ quyền. Một phần là vì tình yêu và sự xót xa dành cho mẹ, phần khác là nhờ làn sóng thức tỉnh của thời đại."
"Đối với anh, chủ nghĩa nữ quyền có ý nghĩa cụ thể như thế nào?" tôi hỏi.
"Gói gọn trong hai từ: sự tôn trọng và tính công bằng. Đó là những gì tôi từng khao khát mẹ mình có được. Bố tôi là kẻ rất cần mẹ, nhưng ông chưa bao giờ dành cho bà một sự trân trọng tối thiểu. Ông ấy chỉ biết có bản thân mình. Còn mẹ tôi thì quá cam chịu, bà chưa bao giờ biết phản kháng. Đó là lý do tôi muốn vợ mình phải khác. Beth là một người phụ nữ tuyệt vời. Tôi luôn dành sự kính trọng lớn cho các nữ đồng nghiệp và bạn bè của mình. Tôi nghĩ một xã hội văn minh là nơi mọi người, không phân biệt giới tính, đều có cơ hội ngang nhau để theo đuổi đam mê. Tôi cũng đang dạy con gái mình như vậy. Mấy hôm trước quan sát con bé chơi ở sân trường, tôi thấy một đứa trẻ khác cố tình chen hàng và đẩy con bé ra. Tôi đã rất tự hào khi thấy con bé thẳng thắn đẩy ngược lại để đòi lại vị trí của mình."
Anh tiếp tục: "Bố tôi là người cổ hủ, ông không bao giờ chấp nhận ly hôn, mẹ tôi cũng vậy. Bà đã cắn răng chịu đựng suốt hai mươi lăm năm cho đến khi kiệt sức hoàn toàn mới nhận ra mình đã phí hoài cuộc đời vì một lựa chọn sai lầm."
"Họ đã ở bên nhau bao lâu trước khi đường ai nấy đi?"
"Hai mươi lăm năm bác ạ. Khi quyết định bước ra khỏi cuộc hôn nhân đó, mẹ tôi đã phải dằn vặt với cảm giác tội lỗi ghê gớm, dù bà đã cố đợi cho đến khi tôi tốt nghiệp đại học và rời nhà được một năm rưỡi."
"Điều đó ảnh hưởng thế nào đến cái nhìn của anh về việc ly hôn?"
"Tôi hoàn toàn ủng hộ ly hôn," Kit trả lời không một chút đắn đo. "Tôi tin hai vợ chồng phải nỗ lực hết sức để cứu vãn mối quan hệ. Tôi biết khi có con cái ràng buộc, mọi chuyện sẽ phức tạp hơn rất nhiều, nhưng tôi cực kỳ bài trừ quan điểm cố đấm ăn xôi, kéo dài một mối quan hệ độc hại, đầy đọa nhau nhân danh 'vì con cái'." Anh dừng lại một chút. "Nếu phải tìm một ví dụ điển hình nhất cho một cuộc hôn nhân bất hạnh, gia đình của bố mẹ tôi chắc chắn sẽ đứng đầu bảng."
Sự gay gắt của Kit khi nhắc về việc thiếu đi một hình mẫu gia đình để noi theo là một vấn đề rất đáng để suy ngẫm. Nỗi uất hận đối với bi kịch của bố mẹ, vốn rất dễ chuyển hóa thành thái độ bất mãn với thiết chế hôn nhân truyền thống, chính là nền tảng tâm lý tạo nên cái gọi là "văn hóa ly hôn" thời nay. Tất cả những người chọn mô hình bạn đồng hành mà tôi phỏng vấn đều dứt khoát tuyên bố: họ không bao giờ muốn đi vào vết xe đổ của thế hệ trước. Sinh ra vào những năm 1950, họ không còn bị lừa dối bởi những hình ảnh gia đình kiểu mẫu, hạnh phúc giả tạo trên truyền hình; họ nhìn thấu qua cái bọc hào nhoáng của những ngôi nhà vùng ngoại ô để thấy sự ngột ngạt, cô đơn được che đậy một cách tinh vi.
Có những người lớn lên giữa sự độc ác và sự bỏ rơi của đấng sinh thành; có những người lại chứng kiến nỗi cô đơn và sự bất lực kéo dài của mẹ hoặc bố mình. Một người vợ tâm sự: "Suốt tuổi thơ, tôi chưa từng thấy một cặp vợ chồng nào thực sự hòa hợp và hạnh phúc. Nhiều lúc tôi cảm thấy mình như một đứa trẻ lớn lên trên đảo hoang. Đối với tôi, những khái niệm như 'thân mật cảm xúc' hay 'hòa hợp tình dục' giống như một thứ ngôn ngữ của người ngoài hành tinh." Nhưng thay vì buông xuôi, đến một thời điểm, họ tự gieo vào lòng mình quyết tâm phải làm khác đi.
Một người vợ trẻ khác xúc động kể về khoảnh khắc cô nhận ra mình và chồng tâm đầu ý hợp đến thế nào khi mới gặp nhau. Cô nói: "Nhìn lại bố mẹ tôi ngày xưa mới thấy xót xa, họ sống chung một nhà nhưng chẳng có nổi một điểm chung nào cả." Một người khác bộc bạch: "Mẹ tôi cả đời không biết mình muốn gì, thích gì. Cả thế giới của bà chỉ xoay quanh việc phục dịch bố tôi, trong khi ông ấy thì chưa từng mảy may cần đến sự hiện diện của bà."
Giống như Kit, rất nhiều người chồng trong nghiên cứu này có mối quan hệ rạn nứt với cha mình. Họ dùng những từ ngữ như "vắng bóng", "xa cách", "khắt khe", "độc đoán" hay "luôn hạ thấp con cái" để miêu tả về người cha của mình.
Trong các cuộc phỏng vấn, các cặp đôi này thừa nhận họ đối thoại về chuyện ly hôn một cách rất thẳng thắn. Một người vợ kể lại: "Khi tôi sinh đứa con đầu lòng, hai người chị gái của tôi cũng đang đồng thời trải qua những vụ ly hôn vô cùng căng thẳng. Đối với tôi đó là một cú sốc lớn. Chị cả của tôi – người có một cuộc hôn nhân mười lăm năm viên mãn theo quy chuẩn, hai đứa con ngoan, nhà lầu, xe hơi, một chú chó ngoan – tóm lại là một bức tranh hoàn mỹ kiểu Mỹ – đùng một cái ra tòa. Thời điểm đó, vợ chồng tôi đã phải ngồi lại nói chuyện rất nghiêm túc. Chúng tôi thỏa thuận rằng nếu một ngày một trong hai không còn cảm thấy hạnh phúc, chúng tôi sẽ không bao giờ ép buộc nhau phải ở lại. Nhưng ít nhất, hãy dành cho nhau sự tôn trọng tối thiểu để nói rõ sự thật cho người kia biết."
"Ly hôn là điều không ai muốn, nhưng cuộc sống là một canh bạc và bạn phải chấp nhận rủi ro," một người vợ có bố mẹ ly hôn năm cô mười ba tuổi (bố mẹ chồng cô cũng ly hôn khi anh mới lên ba) chia sẻ. Dù khẳng định hai vợ chồng đang rất hạnh phúc, cô vẫn thành thật thú nhận thỉnh thoảng cô vẫn nảy sinh ý định đi gặp luật sư để tham khảo cách bảo vệ tài sản cá nhân phòng trường hợp bất trắc. "Vợ chồng tôi hiện tại rất mặn nồng," cô chắc với tôi, và thực tế quan sát cũng cho thấy họ đang vận hành gia đình rất tốt. Nhưng cặp đôi trẻ này đã đưa ra những quyết định khá táo bạo: con cái sẽ được giáo dục theo tôn giáo của bố nhưng lại mang họ của mẹ. Giờ đây, chính người vợ lại đang sống trong lo âu. "Nếu sau này chẳng may ly hôn, liệu anh ấy có bớt trách nhiệm chu cấp cho con chỉ vì đứa trẻ không mang họ cha không? Tôi có đem chuyện này hỏi xin lời khuyên của bố, nhưng ông chỉ gạt đi bảo tôi nghĩ ngợi vớ vẩn."
Câu chuyện của người vợ trẻ này là một minh chứng sống động cho thấy trong một cuộc hôn nhân bạn đồng hành, tất cả mọi thứ – từ những việc vụn vặt cho đến những chuyện hệ trọng như tín ngưỡng hay họ tên của con – đều phải mang ra thương lượng và giải quyết bằng sự đồng thuận. Biết rõ truyền thống tôn giáo lâu đời của gia đình cô, tôi chắc chắn rằng ông bà ngoại đã rất đau lòng khi thấy các cháu mình không theo đức tin của dòng họ. Câu chuyện cũng cho thấy cái giá bằng sự bất an và lo âu mà những người trẻ này phải trả khi họ dũng cảm rẽ lối đi riêng. Làm người tiên phong thì thật kiêu hãnh, nhưng cũng thật đáng sợ khi bạn không có gì đảm bảo cho tương lai, nhất là khi bóng ma ly hôn từ cả hai bên gia đình lớn vẫn đang lở vở đâu đó.
Có một hiểm họa luôn rình rập các cuộc hôn nhân bạn đồng hành: chính vì quá đề cao cái "tôi" và sự tự chủ của mỗi người, họ rất dễ vô tình bỏ bê việc vun đắp cho cái "chúng ta". Khi quần áo ai nấy giặt, tài khoản ai nấy giữ, việc nhà chia đôi sòng phẳng, người ta rất dễ rơi vào ảo tưởng rằng mình là một cá thể hoàn toàn độc lập, không cần gắn kết. Lịch trình của hai vợ chồng dày đặc, họ có những buổi tụ tập bạn bè riêng vào những tối khác nhau, và những chuyến công tác dài ngày luôn được ưu tiên hơn thời gian dành cho gia đình. Nhìn vào, họ giống như hai đường thẳng song song sống chung một nhà. Trong hoàn cảnh đó, việc tạo dựng và bảo vệ một lõi cảm xúc gắn kết, bền chặt là một thử thách cực kỳ gian nan.
Tôi hỏi Kit: "Với một núi công việc phải thương lượng và lịch trình bận rộn như vậy, có khi nào anh chị cảm thấy mình bị mất kết nối với nhau không?"
Anh mỉm cười: "Để tôi trả lời chuyện này dưới hai góc độ. Thứ nhất, tôi nghĩ khi cuộc sống càng xô bồ và bất định, sợi dây kết nối vô hình giữa hai vợ chồng lại càng trở nên thiêng liêng. Chính cuộc hôn nhân này đã dạy cho tôi biết thế nào là sự thấu cảm, cách mở lòng với một người và cách chung sống hòa hợp ngày qua ngày. Ngoài xã hội, Beth là một phụ nữ sắc sảo, tháo vát, một người có thể thét ra lửa. Nhưng khi về nhà, cô ấy sẵn sàng lột bỏ lớp giáp đó để hiện nguyên hình là một người phụ nữ mềm yếu, đầy tổn thương trước mặt tôi. Tôi là người duy nhất được biết về khía cạnh đó của cô ấy. Và tôi trân trọng cả hai con người đó. Tôi ngưỡng mộ hoài bão thay đổi thế giới của cô ấy. Nhưng việc cô ấy cần đến sự che chở của tôi mỗi khi mệt mỏi chính là thứ khiến tôi cảm thấy tự tin và tự hào nhất về bản lĩnh đàn ông của mình."
"Còn góc độ thứ hai, bác thử nghĩ xem có bao nhiêu người vợ sẵn sàng chủ động giục chồng gác lại mọi việc để về chăm sóc người mẹ chồng đang sắp chết? Khi mẹ tôi lâm bệnh nặng ở Portland, dù Beth cũng đang ngập đầu trong công việc toàn thời gian và hai con còn quá nhỏ, cô ấy đã dứt khoát bảo tôi hãy dọn về bên mẹ vài tháng để phụng dưỡng bà những ngày cuối đời. Cô ấy bảo điều đó tối quan trọng đối với mẹ, đối với tôi và cho cả linh hồn của cuộc hôn nhân này. Ba tháng đó đối với Beth là một chuỗi ngày kiệt quệ và hy sinh không lời nào tả xiết. Nhưng đó là nguyên tắc ứng xử mà chúng tôi luôn đồng lòng. Cô ấy đã đúng bác ạ. Sau biến cố đó, chúng tôi chưa bao giờ thấy gần nhau đến thế."
Bình luận