Giải mã tâm hồn bạn qua những cuốn sách tuổi thơ: Tại sao chúng ta lại mê Harry Potter?


Làm thế nào để có một cuốn sách lọt vào danh sách sách bán chạy của The New York Times? Đối với những người không ở trong ngành xuất bản, câu hỏi dường như quá hiển nhiên. Bạn lọt vào danh sách sách bán chạy nhất bằng cách nằm trong 10 quyển được nhiều người mua nhất trong thể loại của mình. Còn phải hỏi.


Với một số điều kiện nhất định, thì đây là câu trả lời đúng. (Một trong những điều kiện đó là bạn không thể ở trong top mãi mãi như Kinh Thánh: Kinh Thánh luôn đứng số 1 trong danh sách mỗi tuần.) Nhưng trả lời thế không khác gì khi hỏi: "Làm sao để được vào phòng nhạc danh giá Carnegie Hall biểu diễn?" thì bạn lại nói: "Bắt tàu điện Q đến đường 57." Đúng vậy, tất nhiên rồi. Nhưng tôi muốn biết làm thế nào mà bạn được họ mời lên sân khấu kia.


Vậy làm sao một cuốn sách có thể đạt được doanh số đủ lớn để lọt vào bảng xếp hạng? Đúng là có rất nhiều chiêu trò mà các nhà xuất bản và tác giả sử dụng để đẩy sales vào đúng thời điểm, hoặc đúng cách, để lên ngôi. Có rất, rất nhiều cuốn lọt vào danh sách chỉ đúng 1 hoặc 2 tuần rồi lại chìm, và không bao giờ có thể nổi trở lại. Đây chắc hẳn là những cuốn sách hưởng lợi từ một trong những thủ thủ thuật đó.


Nhưng có những cuốn sách có thể trèo lên đầu bảng xếp hạng và dường như cứ đứng đó. Bằng cách nào? Chẳng phải là nhờ mưu mẹo của nhà xuất bản. Cũng chẳng phải do bất cứ chiến dịch quảng cáo thông minh hay nhiều tiền nào có thể tạo ra được thành công tới mức đó. Những cuốn sách nằm trong danh sách bestseller nhiều tháng liền bởi vì người ta thực sự thích chúng.


Chúng được lợi rất lớn từ hiệu ứng truyền miệng. Albert Einstein từng nói rằng lãi kép là nguồn lực mạnh mẽ nhất trong Vũ trụ. Một nhà xuất bản hẳn sẽ phản đối. Truyền miệng mới là vũ khí mạnh mẽ nhất Vũ trụ này, bởi vì nó có thể tăng trưởng theo cấp số mũ: 1 người kể cho 3 người cuốn sách này hay như thế nào, và mỗi người lại nói tiếp cho 3 người khác, rồi lại nói cho 3 người khác nữa, và chỉ mấy chốc cuốn sách đã ngồi chễm chệ trên danh sách bestseller. Đó là cách bạn thực sự lọt vào top sách bán chạy.


Nhưng làm thế nào để viết một cuốn sách như thế? Chẳng ai biết cả.


À, có lẽ những nhà văn viết loại truyện trinh thám câu khách chuyên để đọc ở sân bay thì biết; họ dường như sản xuất hết cuốn sách đình đám này đến cuốn khác. Nhưng sách họ viết cũng như trò chơi điện tử Candy Crush Saga, mang lại cho người đọc cảm giác sung sướng mỗi khi vuốt ngón tay (hay giở trang sách, nếu bạn vẫn còn đọc sách giấy). Cũng giống như vài người hiếm hoi nói họ yêu Candy Crush, rất ít người bảo rằng họ thực sự yêu những cuốn sách kiểu đó. Làm đi làm lại một thứ không nhất thiết nghĩa là bạn yêu nó.


Với những ai cố gắng viết những cuốn tiểu thuyết độc đáo, mang tính văn chương, mà vẫn muốn sách bán chạy - những cuốn sách được mọi người nói đến vì họ thực sự yêu thích chúng - công thức để nấu món bestseller này vẫn là một bí ẩn lớn.


Bạn có biết còn gì là bí ẩn nữa không? Con gái tôi. Khi chào đời, nó là một ẩn số. Một sinh vật mềm mại mỏng manh mà không ai hiểu được. Tuy nhiên, đến 4 tháng tuổi, cô bé bắt đầu giao tiếp rất hiệu quả. Khi đói, bé sẽ thét lên như một con chim lợn báo sự chết chóc. Khi mệt, bé cũng thét. Khi chán hay cảm thấy trong người khó chịu, bé cũng thét. Bé không khóc. Bé thét, và tiếng thét ngày to hơn, cao hơn và đột ngột hơn bất cứ âm thanh nào mà tôi từng nghe loài người tạo ra. Tiếng thét khiến người nghe phải đau tai và đau tim, vì vậy nó là một phương tiện truyền thông vô cùng hiệu quả.


Cô bé chỉ hét để thông báo bốn điều - con mệt, con đói, con khó chịu, con chán. Vì vậy, tôi phải tự suy đoán xem đời sống nội tâm của bé như nào. Khi tôi bế bé giơ lên trước gương, bé nghĩ gì? Khi nhìn lên bầu trời, bé sẽ xử lý tất cả những thông tin trước mắt mình ra sao? Và khi bé hét cực kì to, bé có phải đang bực mình hơn không? Hay bé chỉ đang thử nghiệm các cách giao tiếp khác nhau?


Tôi không nghĩ mình sẽ có lúc nào tìm thấy câu trả lời cho những câu hỏi này. Nhưng may thay, tâm lý của bé sẽ trở nên ngày càng rõ ràng hơn cùng với thời gian, bởi vì mỗi tháng bé sẽ trở nên ngày càng quan tâm hơn tới các cuốn sách. Gu sách của ta, từ thuở nhỏ đến cuối đời, chính là cửa sổ dẫn đến tâm hồn ẩn giấu. Và lũ trẻ, lứa tuổi (mà vì mục đích sinh tồn) sẽ cảm nhận rõ những ham muốn và động lực của mình nhất, có thể tiết lộ về đời sống tinh thần của mình nhiều nhất khi kể tên cuốn sách muốn đọc.


Sigmund Freud nói rất nhiều thứ điên rồ, nhưng một trong những khám phá hấp dẫn của ông đó là coi tâm trí giống như thành phố Rome. Mỗi độ tuổi đều có kiểu trúc riêng, tượng đài riêng, được xây dựng trên nền móng của những thế hệ trước. Thay vì đập bỏ cái cũ và thay thế chúng, tâm trí bảo tồn tất cả cảnh quan. Một số, như đấu trường Colosseum, thì phô trương hơn, trong khi những cái khác lại ẩn giấu trong bóng tối như Đồi Palatine. Thậm chí còn được gìn giữ tốt hơn Rome, mỗi người trưởng thành đều bảo quản cảnh sắc tuổi thơ của mình nguyên vẹn. Nếu bạn muốn biết về tuổi thơ của ai đó, nền móng mà từ đó người ta xây dựng cuộc đời, hãy hỏi cuốn sách ưa thích nhất của bạn khi còn nhỏ là gì?


Khi còn là một cậu bé, tôi rất thích truyện Hạt cà rốt (The Carrot Seed, 1945), được viết bởi Ruth Krauss và minh họa bởi Crockett Johnson. Nội dung của nó đơn giản tới mức tôi có thể trích cả cuốn sách tại đây:


Một cậu bé ươm một hạt cà rốt.


Mẹ cậu nói: "Mẹ e là nó sẽ không lớn đâu."


Ba cậu nói: "Ba e là nó sẽ không lớn đâu."


Và anh trai cậu nói: "Nó sẽ không lớn đâu."


Mỗi ngày cậu bé lai nhổ cỏ xung quanh chiếc hạt và tới nước xuống đất.


Nhưng không có gì mọc lên.


Và không có gì mọc lên.


Ai cũng luôn miệng nói nó sẽ không lớn đâu.


Nhưng cậu vẫn nhổ cỏ quanh chiếc hạt mỗi ngày.


Và tưới nước xuống đất cho nó.


Và rồi một ngày


Củ cà rốt xuất hiện.


Giống như cậu bé biết trước rằng nó sẽ xuất hiện.


Tôi bị ám ảnh với cuốn truyện này từ khi còn nhỏ. Tôi đòi mọi người đọc đi đọc lại cho nghe nhiều hơn bất kì cuốn sách nào. Không khó để tìm ra lý do tại sao. Lời văn rất đơn giản và tinh tế. Ví dụ, câu nói cộc lốc của người anh 'Nó sẽ không lớn đâu' nghe thật đau lòng. Bởi vì tôi không có em đến khi 5 tuổi, tôi nhớ mình gán lời nói đó cho cha. Trong tâm khảm tôi, ông đã nói hai lời tổn thương, lần sau cứa mạnh hơn lần đầu.


Minh họa của cuốn truyện cũng vô cùng xuất sắc. Khi củ cà rốt cuối cùng cũng mọc lên, phần cuống lá màu xanh của nó còn lớn cả cậu bé, và cậu phải đặt nó lên xe đẩy bởi vì nó còn to hơn cả cậu, và (nếu định luật vật lý được áp dụng trong cuốn truyện tranh này) nó phải nặng ít nhất là 22 kg. Không chỉ gia đình cậu đã sai khi nghi ngờ, chiến thắng của cậu cũng cực kì vĩ đại.


Tôi sẽ bỏ qua lời diễn giải của Freud cho rằng củ cà rốt là biểu tượng của dương vật, mặc dù về hình dáng, màu sắc và nơi mọc lên, thật dễ để liên tưởng đến nó - đặc biệt là cuốn sách ra đời trong văn hóa xuất bản của thành phố New York cùng năm với bộ phim Spellbound mang đậm chất Freud của Alfred Hitchcock.


Dù vậy, còn thú vị hơn cả củ cà rốt hình dương vật là chi tiết gia đình không tái xuất hiện để chứng kiến sự thành công của cậu bé. Không như các phim Mỹ phổ biến, khi tất cả những kẻ hoài nghi phải nhìn thấy thành công của người anh hùng, và dù thế nào cũng sẽ đứng vỗ tay (thử xem tất cả những bộ phim kết thúc với một sự kiện thể thao hoặc một buổi prom xem), nhân vật chính trong truyện Hạt cà rốt không cần gia đình mình nói cho cậu biết rằng củ cà rốt đã mọc. Tự cậu biết là như thế. Nó rất to, hơi ngả tím, và còn to hơn nhiều củ cà rốt...của cha cậu. Nếu bạn hiểu ý tôi nói là gì.


Vậy điều gì có thể suy ra về tôi từ việc tôi đã yêu cuốn sách này tới mức luôn giữ một bản sao bên mình trong những năm đại học, công việc đầu tiên, lần chuyển việc thứ nhất (sang nghề viết), và giờ khi đã làm phụ huynh?


Bố của tôi, cho dù lại 1 người đàn ông sáng suốt và tốt bụng, dường như không thể không cạnh tranh với tôi, đứa con cả. Mẹ tôi nói rằng chuyện này bắt đầu ngay từ khi tôi sinh ra, giây phút mà quyền lực trong nhà của ông bị đe dọa. Tôi tất nhiên rất yêu cha mình, và ông cũng vậy. Chúng tôi chơi cùng nhau. Ông cổ vũ tôi trong các môn thể thao - một trong những điểm không mạnh của ông. Nhưng bất cứ kiến thức nào tôi học được và chia sẻ phải hoặc là bị ông chỉ ra là sai hoặc là sẽ bị lái sang chủ đề khác. Em trai tôi, từ khi ra đời, luôn nhận được câu trả lời 'Đúng, về mặt nào đó'. Còn với tôi, mọi thứ lúc nào cũng có vẻ chưa hoàn thiện. Thậm chí kể cả khi tôi nhắc lại từng chữ mà ông đã dạy tôi.


Khi em tôi đủ lớn, 3 "chàng trai" trong gia đình sẽ chơi trò Monopoly. (Mẹ tôi không muốn chơi bởi vì bà cứ muốn cho em tôi nhiều tiền hơn, một điều mà tôi và cha không thể chấp nhận). Chiến lược dài hạn khả dĩ duy nhất trong Monopoly là thu mua mọi loại tài sản chiếm được, để ngăn không cho đối thủ trở thành ông trùm độc quyền. Và sau khi mọi của cải đã được phân chia, nếu không ai ở thế độc quyền, trò trơi sẽ hoặc kéo dài bất tận, hoặc những người chơi sẽ phải đồng ý thỏa thuận giao dịch.


Nhưng ba chàng trai đều sợ thua tới mức chúng tôi sẽ đàm phán thương mại tới 30, 40 phút, và thậm chí cả giờ. Thường, những cuộc thương thảo sẽ kết thúc bằng những dòng nước mắt của em tôi hoặc tôi. Chỉ chốc lát, tình trạng bế tắc sẽ đè nén tới mức chúng tôi đều đồng ý ngừng chơi. Nhiều năm sau, khi tôi 15 và cha tôi 56, tôi ngồi cùng xe ông. Tôi nói với cha: 'Có lẽ chúng ta nên cùng chơi Monopoly lại với nhau.' Ông đáp: 'Để làm gì con? Chẳng ai giành được chiến thắng cả.' Tôi đáp: 'Mục đích là ở bên nhau.' Ông nhìn qua tấm kính chắn gió một lúc. Tôi chờ đời câu trả lời của ông. Cuối cùng, ông nói: 'Con biết đấy, ta chưa từng nghĩ như thế bao giờ.'


Một người bạn thân của tôi có cuốn sách yêu thích thuở nhỏ là Chú thỏ bỏ trốn (The Runaway Bunny, 1942), viết bởi Margaret Wise Brown, minh họa bởi Clement Hurd. Trang sách đầu tiên viết:


Ngày xửa ngày xưa, có 1 chú thỏ con muốn bỏ nhà đi trốn. Cậu nói với mẹ của mình: "Con bỏ trốn đây."


"Nếu con bỏ trốn," mẹ cậu nói, "Mẹ sẽ đuổi theo con. Bởi con là chú thỏ con của mẹ.'


Ở mỗi trang tiếp theo, chú thỏ nhỏ mơ về những cách khác nhau chú có thể dùng để thay hình đổi dạng và trốn khỏi mẹ mình. Nhưng như một trò chơi kéo-búa-bao, với mỗi chiêu thức biến hình mà thỏ con đưa ra, thỏ mẹ có một cách đối phó. “Nếu mẹ đuổi theo con… con sẽ biến thành một chú cá dưới khe và bơi xa khỏi mẹ.” “Nếu con biến thành một chú cá dưới khe,” thỏ mẹ nói, “mẹ sẽ biến thành một người câu cá và câu được con.”


Trò chơi cứ tiếp diễn như vậy, cho đến khi cuối cùng chú thỏ quyết định biến thành một chú bé và chạy vào trong nhà. “Nếu con biến thành một chú bé và chạy vào trong nhà… mẹ sẽ biến thành mẹ con và bắt được con rồi ôm choàng lấy.” Đến đây thì chú thỏ trả lời: “Ôi… Thế thì con ở lại đây để làm chú thỏ con của mẹ vậy.”


Tôi chưa bao giờ nghĩ về ý nghĩa của Chú thỏ bỏ trốn cho tới khi biết được đó là cuốn sách mà khi còn nhỏ bạn tôi thích nhất, thích đến mức không có cuốn nào bằng, thích đến mức đòi đọc khi đi ngủ mỗi tối. Và lúc đó tôi đã bật cười. Vì chẳng có cuốn sách nào hợp với cậu ấy hơn thế. Bất cứ chuyện gì liên quan tới mẹ cậu, cậu đều nổi loạn. Một lần nọ, khi cậu bị đuổi về phòng chịu phạt, cậu dừng ở đầu cầu thang và gào lên với mẹ: “Con có dương vật còn mẹ thì không!” Khi còn là một thiếu niên, rất lâu trước khi cậu đủ tuổi lái xe, cậu đã “mượn” xe của bố mẹ giữa đêm và lái từ ngoại ô vào thành phố New York.


Gần đây, vào dịp Ngày Của Mẹ, cậu tặng mẹ một chiếc thiệp có viết: “Con không cần phải tặng mẹ quà gì vì con biết mẹ sẽ luôn luôn yêu con.” Mẹ cậu oà ra khóc vì cảm kích. Dù bạn nghĩ gì về một tấm thiệp như thế cho Ngày Của Mẹ (nếu tôi mà là mẹ cậu ta thì tôi đã rất muốn cho cậu một cái tát), quan hệ mẹ con trong Chú thỏ chạy trốn miêu tả khá chính xác quan hệ giữa bạn tôi và mẹ cậu.


Cuốn sách là một tấm bản đồ, tất nhiên không hoàn chỉnh, của mối quan hệ với mẹ của cậu ấy nhiều năm về sau.


Nói cho đúng thì tôi không bảo rằng tính cách của một người có thể giải thích hoàn toàn bằng cách nhìn vào sách người đó đọc thời thơ ấu nhé. Nhưng thường thì ta có thể, cẩn trọng thôi, học được vài điều về tính cách một người khi phân tích những cuốn sách họ yêu thích hồi nhỏ. Cẩn trọng hơn nữa, ta cũng có thể mở rộng phân tích này để trả lời câu hỏi: Làm sao để một cuốn sách lọt vào và ở lại trong danh sách bestseller? Điều gì làm hàng nghìn người yêu một cuốn sách đến độ khởi xướng cái quá trình kỳ diệu gọi là hiệu ứng truyền miệng ấy, đẩy một cuốn sách vào danh sách và giữ nó ở đó? Có lẽ đó là cuốn sách chạm vào cảnh quan tâm hồn của hàng đám trong số công chúng Mỹ.