top of page

Các Mô Hình Hệ Klein Về Sự Hình Thành Nhân Cách Thời Ấu Thơ




Nhận thức sớm nhất của trẻ sơ sinh về mẹ:


Nếu xuất phát từ thực tế rằng một đứa trẻ đã dành chín tháng đầu đời để sống bên trong người mẹ, thì việc đứa trẻ thực sự ghi lại những ký ức về trải nghiệm ở trong bụng mẹ trong những tháng cuối thai kỳ là điều hoàn toàn hợp lý. Đứa trẻ hẳn phải làm quen với nhịp tim, dáng đi và phong cách vận động thể chất của mẹ, cao độ và nhịp điệu giọng nói, phong cách phản ứng cảm xúc cũng như các phản ứng nội tiết đối với những cảm xúc đó, cùng nhiều biến số khác vượt ngoài trí tưởng tượng của chúng ta.


Có rất nhiều nghiên cứu về trẻ sơ sinh đã chứng minh rằng khi đã ra ngoài tử cung, đứa trẻ nhận ra những người mà nó từng tiếp xúc thông qua giọng nói hoặc tiếng hát khi còn ở trong bụng mẹ. Một số nghiên cứu trong số này được thực hiện liên quan đến việc nhận diện người cha sau khi sinh, bên cạnh một vài nghiên cứu thực hiện với người mẹ. Vì vậy, bài học cốt lõi – và là điều không thể bàn cãi – là đứa trẻ đã biết mình từng ở bên trong ai, ngay sau khi nó bước ra ngoài thế giới lạnh lẽo và nghiệt ngã này.


Thực tế này, tức là sự quen thuộc và sự kết nối cảm xúc của trẻ sơ sinh với mẹ (và những người đã ở xung quanh nhiều trong thời thai kỳ), phải có cơ sở từ lịch sử tiến hóa được di truyền theo phát sinh chủng loại (phylogenetically inherited evolutionary history) vốn là nền tảng của chúng ta trên Trái Đất. Nó có giá trị sinh tồn! Nhưng đó cũng là lý do tại sao sự tách biệt, và phản ứng cảm xúc đối với nó, có lẽ là vấn đề cảm xúc nguyên sơ nhất đối với đứa trẻ.


Tính trung tâm của vấn đề "Sự tách biệt" (Separateness):


Trẻ sơ sinh dành phần lớn năng lượng cảm xúc khi thức cho vấn đề tách biệt này. Từ khi sinh ra trở đi, tất cả trẻ sơ sinh đều bị tác động sâu sắc bởi sự chia tách khỏi người mẹ. Vấn đề là ở chỗ, khi sự tác động này có tiềm năng gây hại lớn nhất cho đứa trẻ – tức là trong những ngày, những tuần và những tháng đầu tiên của năm đầu đời – thì mắt người thường nếu không được đào tạo sẽ không thể quan sát trực tiếp được, ngoại trừ các biểu hiện phái sinh (chẳng hạn như sự thay đổi trong thói quen ngủ hoặc ăn uống).


Khi mức độ "nhận thức" của vỏ não tiến bộ hơn trong thời thơ ấu, nhận thức về "sự tách biệt" như một khái niệm mới trong ý thức sẽ trở nên quan trọng căn cốt. Thay vì "phân tách" (splitting off) để giải quyết vấn đề, đứa trẻ có xu hướng trực tiếp bộc lộ phản ứng của mình đối với các sự chia tách. Một mục tiêu lớn trong thời thơ ấu là bắt đầu phát triển năng lực thừa nhận và học cách dung nạp các sự chia tách và sự tách biệt mà không bị vượt quá giới hạn để rồi trở nên "tự cung tự cấp" thái quá (tức là phủ nhận việc bạn quan tâm đến việc cần cha hoặc mẹ). Năng lực giữ cho mình "tách biệt" trong khi vẫn cho phép bản thân quan tâm đến mối quan hệ với người khác tự thân nó đã là một thành tựu phát triển khổng lồ. Điều này có lẽ ít phổ biến ở người trưởng thành hơn mức chúng ta muốn tin.


Trên thực tế, "sự tách biệt" là một vấn đề sẽ mang tính trung tâm trong suốt cả cuộc đời, và có lẽ đại diện cho một trong những trạng thái tâm trí tiến hóa nhất cần đạt được khi một người trưởng thành. Ngược lại, một nhận thức quá sớm và thái quá về sự tách biệt có thể là gốc rễ của một số rối loạn phát triển cực đoan nhất, mà chứng tự kỷ nghiêm trọng ở trẻ em có lẽ là ví dụ cực đoan nhất.


Mẹ tôi thường kể rằng khi còn là một đứa trẻ chập chững biết đi, tôi luôn khăng khăng bắt bà phải ở chính xác nơi tôi biết mình có thể nhìn thấy hoặc tìm thấy bà, nhưng sau đó tôi sẽ đi làm việc chơi đùa của mình, hoàn toàn lờ bà đi, và tôi sẽ ổn miễn là tôi biết mình có thể tiếp cận bà một cách an toàn khi cần. Thực tế, nếu trải nghiệm của tôi với tư cách là một nhà trị liệu hôn nhân có thể chứng minh cho điều gì, thì tôi chẳng tin có lúc nào đó trong đời mà "sự chia tách" và "sự tách biệt" lại không phải là những vấn đề có ý nghĩa cảm xúc trung tâm đối với mọi người.


Thực tế thời thơ ấu và Sự tách biệt:


Cường độ của ý nghĩa cảm xúc này ở một cá nhân cụ thể dường như có khả năng tương quan với một vài vấn đề. Điều rõ ràng nhất sẽ là những sự chia tách sớm khỏi mẹ mang tính sang chấn. Ý tôi muốn ám chỉ các sự chia tách chồng chéo lên bước chuyển dịch đột ngột, khổng lồ đầu tiên với sự kiện đứa trẻ được sinh ra.


Vấn đề thứ hai là tác động từ việc nhận ra – tôi đoán là sau khi sinh (nhưng có thể ngay cả khi còn trong tử cung) – rằng một người phải chia sẻ người mẹ quý giá này với những kẻ xâm nhập khác, rõ rệt nhất là cha và các anh chị em. Việc nhận ra mình phải chia sẻ mẹ dẫn đến, cùng với các thứ khác, cảm xúc mà chúng ta gọi là sự ghen tị (jealousy), thứ tôi sẽ mô tả chi tiết ở phần tiếp theo.


Vấn đề thứ ba tôi muốn chi tiết hóa đã được mô tả một cách hùng hồn bởi một đứa trẻ sáu tuổi khi hỏi một câu hỏi để đời: "Mẹ ơi, con là của mẹ, hay con là của con?". Nói cách khác, khi một đứa trẻ nhận ra mình không sở hữu mẹ và bắt đầu thừa nhận sự tách biệt của bà, nó phải đối mặt với một sự mất mát đau đớn. Nếu người mẹ thực sự tận tụy làm mẹ của đứa trẻ, thì nhận thức này và cảm giác mất mát đi kèm sẽ diễn ra một cách dần dần, không gây sang chấn khi đứa trẻ tiếp tục phát triển đến độ tuổi có thể đối mặt và chấp nhận thực tế cuộc sống này.


Nhưng điều gì xảy ra khi một người mẹ không thể tận tậm đủ để trở thành một "người mẹ đủ tốt" (good enough mother), như bác sĩ nhi khoa kiêm nhà phân tâm học người Anh Donald Winnicott thường nói? Về bản chất, điều gì sẽ xảy ra nếu thực tế về "sự tách biệt" bị cưỡng ép lên một đứa trẻ trước khi nó được trang bị đầy đủ về mặt cảm xúc để đối phó với thực tại đó? Câu trả lời tất yếu là đứa trẻ sẽ bị đẩy vào một phương thức thao túng nào đó để đối phó với nỗi đau khổ, cho dù đó là sự phủ nhận vấn đề, một sự phát triển quá mức của tính "tự cung tự cấp", hay con bài tủ cuối cùng – đi ngược vào bên trong người mẹ, trong tưởng tượng vô thức, để trở thành một "đứa trẻ chưa sinh ở bên trong".


Tóm tắt:


Sự chia tách luôn là cảm xúc chiếm ưu thế và quan trọng phổ quát ở cấp độ lõi của lõi đứa trẻ trong nhân cách. Khi trải nghiệm của đứa trẻ về nỗi đau chia tách quá lớn, nó sẽ tìm đến các thao túng để đối phó với nỗi đau đó.


Nếu đứa trẻ "hướng về" (turning toward) mẹ, nó sẽ nỗ lực để duy trì sự tiếp xúc với bà. Cảm giác tiếp xúc mang lại sự trấn an đó có thể đạt được – như trường hợp thường thấy – bằng việc đứa trẻ chỉ bằng lòng khi được bế đi quanh nhà trong một chiếc địu "áp sát" vào ngực của cha hoặc mẹ.


Cực đoan hơn nhưng ít biểu hiện ra bên ngoài hơn, đứa trẻ có thể đi ngược vào bên trong mẹ thông qua một tưởng tượng về việc trở thành một "đứa trẻ chưa sinh ở bên trong". Tưởng tượng này có lẽ luôn hoạt động một cách phổ biến ở mọi đứa trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ, đặc biệt là khi gặp đau khổ. Thao túng này dễ trở nên nan giải khi được sử dụng như một phương thức liên tục để đối phó với cuộc sống sau thời kỳ thơ ấu – khi nó vẫn cần thiết để đối phó với cuộc sống bên ngoài tử cung. Vấn đề trở nên ngày càng nan giải hơn khi một người lớn lên, bởi vì điều đó đồng nghĩa với việc người đó không phát triển các tập hợp kỹ năng để trở thành một "người trưởng thành độc lập, tách biệt".


Ngược lại, nếu một đứa trẻ đối phó với nỗi đau chia tách bằng cách "quay lưng" (turning away) khỏi mẹ, thì nó có thể mút ngón tay cái, hành xử như thể mình hoàn toàn không cần mẹ, và thậm chí có thể "trở thành mẹ" trong tưởng tượng vô thức, thường là bằng cách đảo ngược vai trò. Có lẽ những phiên bản cực đoan nhất của các thao túng này được nhìn thấy ở những đứa trẻ chập chững biết đi hoặc: (1) hoàn toàn bị bao bọc bởi chứng tự kỷ ở trẻ em, hoặc (2) "đứa trẻ hoàn hảo" không có nhu cầu hay lời phàn nàn nào, kẻ được định sẵn sẽ trở thành một kẻ tâm thần phân liệt thời thơ ấu. Nằm ở giữa các cực đoan này là tính tự cung tự cấp quá mức như được thấy trong "sự toàn năng giai đoạn hậu môn", các nhân cách ái kỷ, v.v.


Hệ quả đối với Nhà trị liệu:


Bởi vì sự chia tách chi phối rất nhiều đời sống cảm xúc ở cấp độ lõi trẻ thơ, mọi nhà trị liệu cần phải xem xét mọi sự chia tách thực tế trong thực tại bên ngoài để giám sát phản ứng cảm xúc của bệnh nhân đối với nó và phương thức đối phó của họ với nó. Điều này có nghĩa là mỗi khi bắt đầu và kết thúc một buổi trị liệu, mỗi dịp cuối tuần, mỗi kỳ nghỉ, mỗi sự gián đoạn bất ngờ của công việc, v.v. đều sẽ khơi dậy một phản ứng ở cấp độ đứa trẻ. Nhà trị liệu nào thất bại trong việc chú ý đến điều này sẽ bỏ lại một trong những vấn đề cảm xúc cốt lõi trong cuộc sống mà không được phân tích. Hơn nữa, liên quan đến việc giữ chân bệnh nhân của một nhà trị liệu, khi không được giải quyết, sự chia tách có lẽ là vấn đề khiến hầu hết các ca đi đến một kết thúc không tốt đẹp và quá sớm.


Điều quan trọng cần lưu ý là sự chia tách chắc chắn sẽ là một vấn đề trung tâm cho tất cả các trẻ sơ sinh phải ra đời qua sớm. Vì vậy, ví dụ, sự chia tách sẽ là một vấn đề chiếm ưu thế ở tất cả các trẻ sinh "non" hoặc bị bỏ rơi để làm "con nuôi". Nó không nhất thiết phải là một vấn đề gây hại, nhưng nó sẽ luôn là một vấn đề đòi hỏi sự chú ý và thấu hiểu. Cha mẹ và các nhà trị liệu nhận thức được các khả năng này sẽ có nhiều khả năng nhận biết và phản hồi một cách mang tính xây dựng hơn khi có bằng chứng cho thấy sự chia tách đang trở thành một vấn đề đối với trẻ sơ sinh hoặc trẻ nhỏ. Sự thấu hiểu luôn tiếp thêm năng lực đối phó của một người ở bất kỳ độ tuổi nào.


Lưu ý về Từ khóa thời thượng mới "Sự chứa đựng" (Containment):


Việc coi sự "chứa đựng" các trạng thái tâm trí của bệnh nhân như một mục tiêu trị liệu cốt lõi đang trở nên ngày càng phổ biến hơn trong một số giới phân tâm học. Chẳng có gì sai khi nói rằng tất cả bệnh nhân đều cần cảm thấy rằng nhà trị liệu của họ có thể "chịu đựng" (bear) các trạng thái tâm trí đau đớn của bệnh nhân và có một sự quan tâm chân chính trong việc duy trì tiếp xúc với họ trong khi cố gắng thấu hiểu những trạng thái tâm trí đau đớn này.


Cũng đúng khi nói rằng có một giá trị trị liệu tích cực cho trải nghiệm này. Bệnh nhân có thể chưa từng gặp ai sở hữu năng lực hoặc sự quan tâm để có sự tiếp xúc sâu sắc như vậy với bệnh nhân khi họ còn là một đứa trẻ sơ sinh hay đứa trẻ nhỏ. Vì vậy, khi một nhà trị liệu thực hiện các chức năng như vậy trong bối cảnh điều trị, đó chắc chắn là một "trải nghiệm cảm xúc sửa đổi" (corrective emotional experience) như nhà phân tâm học người Mỹ Franz Alexander thường nói, vốn có giá trị trị liệu quan trọng.


Vấn đề với ý tưởng về sự chứa đựng là nó có thể bị "lý tưởng hóa" đến mức những thiếu sót của nó bị bỏ qua. Khó khăn cốt lõi là nó có nguy cơ trở thành một "phương thuốc chữa trị chỉ kéo dài chừng nào quá trình điều trị còn diễn ra". Nói cách khác, khi bệnh nhân có trải nghiệm được "chứa đựng" bởi nhà trị liệu này, bệnh nhân đó không nhất thiết phải đang phát triển một năng lực để tự thực hiện các chức năng đó cho chính mình, độc lập với nhà trị liệu. Đây là lúc vấn đề về "sự tách biệt" quay trở lại vị trí hàng đầu.


Trong quá trình lớn lên đúng đắn để bước vào tuổi trưởng thành, "phần trưởng thành của bản thân" (adult part of self) phát triển năng lực "dung nạp" các trạng thái tâm trí đứa trẻ vốn bị khuấy động và đang hoạt động trong các phần con trẻ của nhân cách. Nói cách khác, "cái tôi trưởng thành" sẽ chăm sóc cho "các phần con trẻ của bản thân" khi cá nhân đó gặp đau khổ, và thực hiện các chức năng mà hy vọng là cha mẹ đã thực thi khi người đó lớn lên.


Khi cha mẹ không sẵn sàng hoặc không tương xứng với nhiệm vụ điều hòa nỗi đau của đứa trẻ, "phần trưởng thành của bản thân" sẽ không phát triển đầy đủ. Một nhà trị liệu (hoặc một hình tượng người lớn quan trọng) khi đó phải thực hiện chức năng này để "cách một người trưởng thành đúng đắn hành xử - proper adult functioning" được chứng kiến và phân biệt khỏi sự bắt chước "giả trưởng thành" (pseudo-adult) của nó trong các hình thức khác nhau của "sự toàn năng thời thơ ấu - infantile omnipotence" bị nhầm lẫn với việc làm một "người lớn - grown-up".


Vì vậy, cái khó của khái niệm 'sự chứa đựng' là ở chỗ: dù có giá trị nhất định nhưng tự thân nó chưa đủ. Nó dễ khiến người bệnh nảy sinh cảm giác hòa làm một với nhà trị liệu trong vô thức. Cái mã ngoài theo kiểu 'đã ổn định hơn' sẽ không phải là sự tiến triển bền vững, bởi lẽ 'phần trưởng thành bên trong' vẫn chưa học được cách thấu hiểu các trạng thái tâm thức con trẻ – thứ vốn rất dễ nhấn chìm 'phần con trẻ bên trong' họ. Vai trò người lớn đó thực chất đang do nhà trị liệu gánh vác; một khi nhà trị liệu không còn ở bên, 'phần trưởng thành bên trong' người bệnh sẽ không có đủ sự thấu hiểu để tự mình xoa dịu nỗi đau con trẻ mỗi khi nó trỗi dậy trong tâm tính.


Bài học cốt lõi ở đây là: phải có sự 'thấu suốt' vào các tưởng tượng, lo âu, chiến thuật tự vệ cùng nguồn gốc của chúng ở cấp độ con trẻ. Có như vậy mới nuôi dưỡng được 'năng lực trưởng thành' để nhận diện và biết cách đối phó với chúng một cách thông tuệ. 'Sự chứa đựng' chỉ là một phần trong tiến trình này, chứ không nên được coi là cốt lõi của toàn bộ vấn đề.


Dưới đây là bản dịch toàn bộ phần văn bản được trau chuốt theo văn phong thuần Việt, mượt mà và tự nhiên, giảm bớt sự nặng nề của cấu trúc câu tiếng Anh nhưng vẫn đảm bảo tính chuẩn xác của các thuật ngữ phân tâm học:


CÁC CẢM XÚC CỦA PHẦN CON TRẺ SƠ KHAI TRONG MỐI QUAN HỆ VỚI MẸ: SỰ GHEN TỊ (JEALOUSY)


Tổng quan:


Trước hết, hãy bắt đầu bằng một định nghĩa hữu ích về sự ghen tị.


1 – Đây là một mối quan hệ tay ba, mang tính hình tam giác, dựa trên các đối tượng toàn phần (tức là giữa con người với con người).


2 – Nó bắt rễ chủ yếu từ tình yêu – đây là một điểm mấu chốt.


3 – Tâm điểm trong "tam giác tình yêu" này là khao khát được người mình yêu đáp lại tình cảm, chứ không phải là đem tình cảm đó trao cho một người thứ ba.


Dù ghen tị có thể là một cảm xúc vô cùng đau đớn, nhưng chính việc nó gắn liền với tình yêu đã khiến nó trở thành một cảm xúc "chấp nhận được". Điều này hoàn toàn trái ngược với người chị em kế xấu xí và già dặn hơn của nó – sự đố kị (envy). Vì đố kị gắn liền với sự thù hận nhiều hơn, nên theo bản năng, người ta luôn cảm thấy nó là thứ không hay ho gì. Đây chính là gốc rễ của việc người ta thường gọi tên nhầm sự đố kị thành ghen tị. Chẳng hạn, với câu nói: "Tôi ghen tị với chiếc xe mới của bạn quá", người ta chỉ dùng như vậy chứ chẳng bao giờ nghe thấy điều ngược lại – tức là lấy từ ghen tị để chỉ sự đố kị thực sự!


Nguồn gốc sớm của sự ghen tị:


Hãy bắt đầu hành trình khám phá sự ghen tị bằng cách quay ngược về thời khắc chào đời, cùng với nỗi khó khăn khởi phát khi đứa trẻ không còn cảm thấy mình hòa làm một với người mẹ. Nếu việc sinh ra khiến sự chia tách trở thành một vấn đề nhãn tiền, thì sự ghen tị cũng bám theo ngay sau đó. Đứa trẻ – vốn có toàn bộ đời sống tinh thần ở giai đoạn này đều dính chặt vào hành tung và hoạt động của mẹ – không thể không chú ý mỗi khi mẹ đang bận tâm đến ai đó hoặc cái gì đó khác. Vì đứa trẻ này phụ thuộc hoàn toàn vào mẹ, nó sẽ ngày càng nhận thức rõ ràng rằng khi mình không nhận được sự chú ý từ bà, thì một ai đó khác có thể đang là người tận hưởng điều đó. Thêm vào đó, khi đứa trẻ dần nhận ra mình yêu mẹ nhường nào và khao khát được mẹ yêu lại ra sao, việc chứng kiến mẹ ở bên một người khác càng làm nỗi đau ấy nhân lên.


Vì người cha thường là người đầu tiên, ngoài mẹ, dành nhiều thời gian cho đứa trẻ, nên ông thường là "người khác" chính yếu trong cuộc đời của mẹ. Nếu việc trẻ sơ sinh có "khuynh hướng bẩm sinh" (predisposed) chờ đợi sự xuất hiện của một hình tượng người cha trong đời là đúng (mà Bion gọi là 'tiền khái niệm' – preconception, bắt nguồn từ di sản phát sinh chủng loại), thì điều đó càng làm tăng thêm nhận thức tiềm tàng về một "tình thế tay ba" – mảnh đất màu mỡ cho sự ghen tị nảy nở. Nói vậy không có nghĩa là người cha không thể là đối tượng cốt lõi của sự ghen tị. Cảm giác đó thường cũng sẽ phát triển, nhưng có lẽ là muộn hơn trong thời thơ ấu; bởi sau khi sinh, mẹ thường là đối tượng cốt lõi đầu tiên sau chín tháng nằm trong bụng mẹ, cùng với nhận thức sâu sắc đi kèm về sự hiện diện và các phẩm chất của bà.


Nếu chúng ta coi người cha/mẹ chính yếu là đối tượng của tình yêu và người cha/mẹ còn lại là tình địch, thì chúng ta đã chạm đến tình thế "Mặc cảm Oedipus" mà Sophocles đã khắc họa vô cùng tài tình trong các vở kịch của mình. Nói bên lề một chút, tôi luôn thấy kinh ngạc mỗi khi nghe một người thuộc giới phân tâm học tuyên bố rằng "Mặc cảm Oedipus" không hề tồn tại hoặc chẳng có gì quan trọng. Phải chăng người đó chưa từng là một đứa trẻ nhỏ? Nếu còn nghi ngờ, hãy thử làm cha mẹ: hãy đón người vợ/chồng của bạn vào giờ ăn tối khi họ đi làm về, hôn nhau trước mặt một đứa trẻ chập chững đang ngồi trên chiếc ghế ăn dặm cao, rồi hãy nhìn vào môi dưới của nó mà xem. Đứa trẻ sẽ mếu máo khóc chỉ trong vòng 1,39 giây!


Đối phó với sự ghen tị thời thơ ấu:


Thực tế này dẫn đến hệ quả là: nếu một đứa trẻ đang lớn phải trải qua quá nhiều trải nghiệm ghen tị đau đớn – dù là do thực sự mất đi sự chú ý của mẹ (chẳng hạn như có quá nhiều anh chị em sinh ra quá sát nhau) hay do bất kỳ nguyên nhân nào khác – nó sẽ tìm đến các chiến thuật tự vệ để né tránh nỗi đau.


– Chiến thuật rõ ràng nhất, dù hơi cực đoan, để đối phó với sự ghen tị là "tiết chế tình yêu" của mình dành cho bất kỳ ai.


– Hoặc ngược lại, giống như tôi từng thử hồi còn nhỏ, người ta có thể tìm cách "kiểm soát chiếm hữu" đối tượng yêu thương, khiến đối tượng đó không thể ở bên ai khác. Sự kiểm soát này có thể thực hiện từ bên ngoài đối tượng, hoặc bằng cách đi ngược vào bên trong đối tượng để trở thành một "đứa trẻ chưa sinh ở bên trong".


Một dạng phái sinh của tưởng tượng phía sau này thường được thấy ở giai đoạn muộn hơn trong đời, thông qua khao khát chế ngự của người đàn ông muốn thâm nhập vào cơ thể người phụ nữ bằng dương vật của mình, nhằm sở hữu và kiểm soát cô ấy. Tưởng tượng ngược lại từ phía người phụ nữ đối với người đàn ông cũng có thể xảy ra, nhưng có lẽ ít mang tính thúc đẩy về mặt sinh học hơn.


Sự cạnh tranh giữa anh chị em, Sự đố kị và Sự ghen tị hoang tưởng:


Sự kết hợp giữa đố kị và ghen tị chính là nguyên nhân lớn cấu thành nên tình thế cảm xúc mà chúng ta thường gọi là "sự cạnh tranh giữa anh chị em" (sibling rivalry). Đây là điều phổ biến trong mọi gia đình có từ hai con trở lên và thường có cường độ mãnh liệt hơn nhiều so với dự tính của các bậc cha mẹ, bởi người lớn thường đã mất kết nối với cảm xúc này sau khi bước qua tuổi vị thành niên. Nó vẫn âm thầm vận hành suốt cả cuộc đời, thường với cường độ mạnh mẽ y như thời thơ ấu, nhưng đã được hợp lý hóa hoặc phủ nhận, và vì thế người ta không nhận ra rằng nó thực chất là sự nối dài trực tiếp của lòng đố kị và sự ghen tị thời thơ ấu.


Trong những tình huống mà các anh chị em sinh ra quá sát nhau, sự cạnh tranh này thường biểu hiện thành sự khoảng cách và ghẻ lạnh kéo dài suốt cả cuộc đời giữa họ.


(Lưu ý: Nếu khoảng cách từ 24 đến 36 tháng là khoảng thời gian lý tưởng nhất giữa các lần sinh, thì sự ghen tị sẽ tăng lên rất dữ dội theo từng tháng thiếu hụt dưới mức 24 tháng, và sẽ biến thành một trận đại địa chấn ghen tị theo hàm số mũ với mỗi tháng thiếu hụt dưới mức 18 tháng).


Tạm gác lại chuyện cạnh tranh rõ rệt giữa anh chị em, bất cứ khi nào ta bắt gặp một sự ghen tị mãnh liệt đến mức bất thường, dù là ở thời thơ ấu hay giai đoạn muộn hơn trong đời, ta nên cân nhắc đến khả năng nó đã hòa lẫn với lòng đố kị vô thức từ thuở sớm; có điều lòng đố kị này không dễ gì bóc tách ra khỏi sự ghen tị. Thậm chí còn tồn tại một trạng thái gọi là "ghen tị hoang tưởng" (delusional jealousy) – thứ thực chất có thể là sản phẩm của lòng đố kị vô thức nhiều hơn, nhưng lại được người bệnh thêu dệt theo cách khiến nó trông như thể là chuyện ghen tị tình cảm.


Một trong những tác nhân góp phần tạo nên sự nhầm lẫn này là thực tế: khi ta dò tìm sự ghen tị ngược về thời thơ ấu sớm nhất, ranh giới của nó sẽ nhòa dần vào lòng đố kị. Điều này có thể được hình dung qua ý niệm rằng: hình thái sơ khai nhất của một mối quan hệ tay ba chính là đứa trẻ với hai bầu ngực mẹ, nơi đứa trẻ cảm thấy mình bị bỏ rơi bên ngoài một "bữa tiệc" mà hai bầu ngực đang rủ nhau tận hưởng. Trong tưởng tượng đó, đứa trẻ đang đố kị với những khoái cảm mà hai bầu ngực mang lại cho nhau nhiều hơn là đang ghen tị về tình yêu mà bầu ngực này dành cho bầu ngực kia.


Nếu lấy đó làm mô hình hay nguyên mẫu, ta có thể nhận ra rằng một số tình huống trong cuộc sống của người trưởng thành nhìn bề ngoài thì giống như ghen tị, nhưng thực chất lại thấm đẫm lòng đố kị vô thức hơn bất kỳ ai nhận biết được.


Tóm tắt:


Ghen tị là một trong những cảm xúc cốt lõi mà mọi đứa trẻ đều phải đương đầu trong mối quan hệ với người mẹ yêu dấu của mình, và ở mức độ thấp hơn – ít nhất là lúc ban đầu – với cả người cha nữa. Vì ghen tị gắn liền với một cảm xúc đáng ao ước xét theo tiến trình phát triển – đó là tình yêu – nên nó có thể đau đớn, nhưng vẫn nằm trong phạm vi của "sự lành mạnh". Nhìn chung, nó sẽ không leo thang đến mức trở thành vấn đề nan giải trừ khi các tình huống bên ngoài kích động nó một cách trầm trọng (ví dụ: khoảng cách giữa các lần sinh quá ngắn, trẻ ngủ chung phòng với bố mẹ, sự thiên vị của cha mẹ, v.v.).


Vậy bây giờ, hãy cùng chuyển sang một tình thế cảm xúc nan giải hơn vô số lần: Lòng đố kị vô thức.


Dưới đây là bản dịch toàn bộ phần văn bản về Lòng đố kị vô thức (Unconscious Envy) được trau chuốt theo văn phong thuần Việt, tự nhiên, mượt mà và giữ đúng tinh thần của hệ thuật ngữ phân tâm học Melanie Klein:


CÁC CẢM XÚC CỦA PHẦN CON TRẺ SƠ KHAI TRONG MỐI QUAN HỆ VỚI MẸ: LÒNG ĐỐ KỊ (ENVY)


Tổng quan:


Nếu như châu Phi tự hào với nhóm "Năm đại thú" (Big Five) gồm voi, sư tử, tê giác, báo và trâu rừng, thì Melanie Klein cũng có nhóm "Hai đại thể" (Big Two) của riêng bà – đó là lòng đố kị vô thức và các tiến trình phóng chiếu. Có thể nói, đây vừa là hai thành tố tinh thần nằm xa tầm nhận thức tỉnh táo của con người nhất, lại vừa là những yếu tố quan trọng nhất chi phối đời sống hàng ngày. Tình yêu – thứ dễ chạm đến bằng nhận thức hơn nhiều – là cảm xúc hoặc cơ chế duy nhất trong các mối quan hệ có tầm quan trọng tương đương để đặt lên bàn cân với chúng.


Trước tiên, hãy bắt đầu bằng một định nghĩa hữu ích về lòng đố kị:


1 – Đây là mối quan hệ giữa hai bên ở cấp độ "đối tượng một phần" (part-object) – tức là hướng vào một phần hoặc một khía cạnh nào đó của một con người.


2 – Nó bắt rễ từ sự thù hận nhiều hơn tình yêu – đây là một điểm cực kỳ mấu chốt, dẫu cho bên trong nó vẫn ngầm chứa một thành tố của sự ngưỡng mộ.


3 – Tâm điểm của nó là sự so sánh giữa bản thân và người khác trên ba phương diện: (1) phẩm chất, (2) năng lực, hoặc (3) sự sở hữu. Khoảng cách chênh lệch mà một người cảm thấy giữa mình và người khác chính là nỗi đau mà chúng ta gọi là lòng đố kị.


Khi tôi nói ra điều này, có thể bạn sẽ không thấy ngay được tầm ảnh hưởng của nó, nhưng không nghi ngờ gì nữa, lòng đố kị vô thức chính là vấn đề gây tranh cãi và tốn nhiều giấy mực nhất trong toàn bộ lịch sử phân tâm học. Với nhiều người, thật là một ý nghĩ kinh khủng khi cho rằng một đứa trẻ vừa chui ra khỏi bụng mẹ đã có thể lập tức tuyên bố: "Mẹ ơi, tại sao mẹ lại được làm người lớn, có mọi thứ, biết mọi thứ và làm được mọi thứ; trong khi con lại phải làm đứa trẻ nhỏ bé, bất lực, người ngợm đầy phân thế này? Con ghét điều đó! Hay là mẹ làm em bé đi, còn con làm mẹ cho?"


Ý nghĩ đó đã dập tắt hoàn toàn sự lý tưởng hóa của chúng ta về tuổi thơ ấu như một quãng thời gian ngọt ngào và êm đẹp! Tôi nghĩ cái khó thực sự ở đây là mỗi người trong chúng ta đều phải đối diện với sự thù hận đố kị của chính mình – một phản ứng cảm xúc ở cấp độ con trẻ sơ khai mà chúng ta có nguy cơ phải gánh chịu hàng ngày, nếu không muốn nói là hàng giờ. Giải pháp cho phần góc khuất cốt lõi này trong bản tính con người (thứ mà tất cả chúng ta đều được trang bị dư dả khi chào đời) chính là: hãy làm điều đúng đắn và đổ hết tội lỗi lên đầu người mẹ! [Nói đùa]


Ý tôi muốn ám chỉ là điều này thường được thực hiện một cách vi tế hơn, dưới hình thức ngụy biện rằng phản ứng đố kị của đứa trẻ là một sự đáp trả đáng tha thứ trước sự tước đoạt (tức là do một người mẹ tồi tệ hoặc bỏ bê ép buộc đứa trẻ phải chịu đựng), tương tự như việc giết người có lý do chính đáng. Không còn nghi ngờ gì nữa, sự tước đoạt có thể làm tăng cường độ của lòng đố kị, nhưng nếu thế thì người ta sẽ kỳ vọng rằng việc bù đắp những gì đứa trẻ không nhận được thuở ban đầu sẽ giải quyết được vấn đề. Thế nhưng, điều đó gần như chẳng bao giờ ngăn được lòng đố kị tiếp tục tràn lan trong nét tính cách của cá nhân đó.


Bạn sẽ thấy ngay điều này khi nghiên cứu lối sống của giới siêu giàu và quan sát được hai điều. Thứ nhất, họ không bao giờ cảm thấy mình có đủ – dù là vật chất hay tiền bạc. Thứ hai, họ luôn so sánh mình với một ai đó khác mà họ tưởng tượng là đang có nhiều hơn họ một cái gì đó. Gốc rễ của những thái độ này luôn liên kết một phần với lòng đố kị sâu kín trong vô thức.


Lòng đố kị đó đã bắt đầu từ thuở lọt lòng, khi người mẹ có tất cả còn đứa trẻ cảm thấy mình chẳng có gì khi so với mẹ. Thái độ đó tiếp tục diễn tiến ở một cấp độ sâu thẳm trong vô thức suốt cuộc đời của người giàu có kia, nhưng đã được chuyển dịch từ người mẹ sang bất cứ thứ gì mà sau này người đó quyết định gán cho giá trị – dù là của cải, quyền lực, tầm ảnh hưởng, sự khét tiếng, hay việc quen biết những người giàu sang và nổi tiếng, v.v.


Tại sao Lòng đố kị lại là một Vấn đề Nhạy cảm đến thế?


Tại điểm này, tôi muốn làm nổi bật một vài lý do khiến chủ đề này trở nên quá khó để con người chấp nhận và muốn khám phá.


1 – Vấn đề trung tâm nhất là lòng đố kị vô thức có tiềm năng gây ra nỗi đau lớn đến mức nó gần như luôn bị xử lý ngay vào khoảnh khắc nó vừa được cảm nhận trong vô thức. Nghĩa là trước khi nó kịp chạm tới nhận thức tỉnh táo, nhân cách đã ra tay thực hiện các bước phòng vệ để ngăn chặn bất kỳ trải nghiệm đau đớn nào. Vì vậy, đây là một chủ đề hiếm khi được đề cập trực tiếp, kể cả trong trị liệu, cho đến khi nhà trị liệu chủ động khơi gợi cuộc thảo luận về nó. Ngay cả trong cuộc sống hàng ngày, khi mọi người tham gia vào các cuộc buôn chuyện nói xấu hoặc tranh luận thù địch về người khác (những hành vi mà lòng đố kị vô thức thực chất chính là nền tảng), từ "đố kị" cũng không bao giờ được nhắc đến trực tiếp. Tôi sẽ mở rộng điều này khi chúng ta thảo luận về các cơ chế phòng vệ chống lại trải nghiệm đố kị.


2 – Trở ngại lớn thứ hai khiến ta khó nhận thức được lòng đố kị như một khái niệm tỉnh táo là vì nguồn gốc của nó xuất hiện quá sớm trong đời, đến mức ta rất khó để hình dung ra được. Việc lòng đố kị bắt đầu từ phản ứng của đứa trẻ đối với mẹ ngay sau khi sinh là điều diễn ra sớm hơn rất nhiều so với bất kỳ ký ức nào mà chúng ta có thể nhớ lại một cách tỉnh táo khi đã lớn lên.


3 – Trở ngại thứ ba, vi tế hơn nhưng rất mạnh mẽ, gắn liền với xu hướng tự nhiên của con người là lý tưởng hóa tuổi thơ. Chúng ta dường như mặc định nhìn nhận tuổi thơ như một thời kỳ của sự ngây thơ và thánh thiện, điều này hóa ra lại hoàn toàn mâu thuẫn với khái niệm về lòng đố kị vô thức do Melanie Klein phát triển. Ý tưởng của bà là: chính "sự tốt lành và rộng lượng" thực tế của người mẹ mới là thứ đáng đố kị nhất trong số mọi đặc điểm cuộc sống liên quan đến mẹ.


Tôi từng nghe một vở kịch hài có nội dung chính rất tài tình nói về việc bị mẹ "quấy rối" vì bà "bắt tôi phải bú mớm suốt mấy tháng trời sau khi tôi sinh ra – tôi sẽ kiện mụ già đó ra tòa!". Nếu câu nói đó là chân thành, nó sẽ khắc họa một cách hoàn hảo bản chất sơ khai nhất của lòng đố kị vô thức.


4 – Biến chứng cuối cùng trong chương truyện cố gắng hình dung về lòng đố kị vô thức là: khi lòng đố kị được một cá nhân thừa nhận một cách tỉnh táo, và những hệ quả hủy hoại của các cơ chế phòng vệ mà họ từng sử dụng được nhìn nhận, thì có hai nguồn đau đớn khác sẽ lập tức hòa vào cuộc chơi. Thứ nhất là cảm giác tội lỗi nặng nề vì những tổn thương mình đã gây ra. Thứ hai là sự đau khổ khi nhận ra việc ngăn chặn sự tấn công ồ ạt của các phản ứng đố kị vô thức khó khăn đến nhường nào khi một người muốn cải thiện thái độ và hành vi của mình (điều này được minh chứng rất rõ trong các giấc mơ của họ). Khi anh ta cố gắng ngăn chặn sự biểu hiện của lòng đố kị ở vùng này, nó lại mọc lên ở một vùng khác. Giống như những cái đầu rắn của quái vật Hydra trong thần thoại Hy Lạp, bạn vừa chặt đứt một cái đầu thì hai cái đầu khác lại xuất hiện.


Nguồn gốc của Lòng đố kị từ Thuở Sơ khai nhất:


Tại điểm này, chúng ta nên mở rộng về những chiếc rễ nguyên thủy của lòng đố kị và sau đó mô tả các cơ chế phòng vệ chống lại mọi trải nghiệm về nó.


Để kiến tạo một mô hình cho nguồn gốc của lòng đố kị vô thức, tôi nghĩ cách tốt nhất là trước hết hãy bày ra những gì có khả năng là góc nhìn nguyên sơ của đứa trẻ khi chào đời. Tôi sẽ dùng từ ngữ để gọi tên cho những trải nghiệm vốn có thể bắt đầu dưới một hình thái vô định hình, không thể suy nghĩ và còn phôi thai. Đứa trẻ lập tức bắt đầu trải nghiệm một loạt các kích thích tràn ngập, nhiều cái gây đau đớn, và nó không có năng lực để thấu hiểu, kiểm soát hay quản lý toàn bộ tình huống đó.


Nó hoàn toàn bất lực, hoàn toàn bất tài (đôi khi ngay cả việc bú mớm cũng không xong), và chẳng hiểu một cái gì hết! Để làm trầm trọng thêm tình trạng sự việc đó, chúng ta phải thêm vào thực tế là nó hoàn toàn phụ thuộc và nằm dưới lòng thương hại của một ai đó khác, thường là người mẹ. Trái ngược với tình cảnh đau đớn tội nghiệp của đứa trẻ, người kia dường như – như tôi đã đề cập trước đó – có mọi thứ, biết mọi thứ và làm được mọi thứ.


Đối với nhiều đứa trẻ, một người mẹ đến giải cứu tại thời điểm đó là một tình huống chấp nhận được; và dù không quên trải nghiệm đó đau đớn ra sao, chúng vẫn tiến về phía trước và đẩy nhận thức về nỗi khổ sở trước đó sang một bên. Ý tôi muốn nói là nỗi đau của việc quá nhỏ bé, bất lực và phụ thuộc không hề biến mất hoàn toàn, và mọi con người đều sẽ nhớ phản ứng của mình đối với nó. Tuy nhiên, đối với một vài đứa trẻ, việc phải chịu sự bất lực như vậy là một sự xúc phạm vào lòng tự tôn của chúng nhiều hơn so với những đứa trẻ khác, và chúng không thể dễ dàng bỏ qua như vậy. Tôi đoán đây ít nhất là một phần, hoặc thậm chí phần lớn, là một phản ứng được di truyền về mặt sinh học.


Đây chính là gốc rễ của nhiều tranh cãi phân tâm học sau này; bởi không nghi ngờ gì nữa, một người mẹ không có khả năng xoa dịu nỗi đau cảm xúc của thời thơ ấu sẽ làm tăng tiềm năng đứa trẻ cảm thấy căm ghét trạng thái trẻ con của mình và thèm khát trạng thái đáng đố kị của người mẹ nhiều hơn nữa. Nhưng theo ấn tượng của tôi từ những cuộc tự khám phá sâu sắc về bản thân, về nhiều bệnh nhân và từ việc quan sát nhân loại nói chung, chiếc rễ quan trọng nhất của nó là do di truyền. Những ai đọc tiểu sử của các nhân vật lừng lẫy và khét tiếng nhất trong lịch sử sẽ nhận thấy lòng đố kị vô thức luôn là một mảng màu lớn trong bức tranh cuộc đời họ.


Đối với tôi và hầu hết những người khác, thành tố gây đau đầu nhất của lòng đố kị là nó thường xuất hiện nhất như một sự đáp trả đối với "sự tốt lành" của đối tượng bị đố kị. Tôi chợt nhớ đến câu châm ngôn "không có việc tốt nào mà không bị trừng phạt" và lời quan sát hóm hỉnh của Mark Twain rằng sự khác biệt cơ bản giữa con người và loài chó là một con chó sẽ không cắn bàn tay đang cho nó ăn. Lòng đố kị vô thức luôn là thủ phạm chính mỗi khi sự tốt lành và rộng lượng bị tấn công. Ý tưởng đi ngược lại trực giác này rất khó để hầu hết mọi người thấu hiểu ở cấp độ cảm xúc, ngay cả khi họ "nắm được lý thuyết của nó". Người ta phải quay lại trải nghiệm sự tốt lành này trong bối cảnh nỗi đau và sự thấp kém kinh khủng của đứa trẻ để nhận ra rằng: việc nhìn thấy người mẹ tràn đầy hạnh phúc, sự thỏa mãn và sẵn sàng chia sẻ nó một cách rộng lượng – thực chất lại là một điều quá đau đớn để có thể dung nạp.


Klein đã nỗ lực đưa điều này vào các thuật ngữ mang tính thực nghiệm lâm sàng khi bà mô tả mối quan hệ của đứa trẻ với bầu ngực: đứa trẻ trải nghiệm bầu ngực như nguồn cội của mọi thứ nó cần và ao ước. Sự mở rộng tự nhiên của điều đó sẽ là khao khát muốn có được tất cả các phẩm chất của bầu ngực (ví dụ: sự hạnh phúc và rộng lượng), các năng lực (ví dụ: tạo ra thức ăn, lưu trữ và cung cấp nó), và các thứ nó sở hữu (ví dụ: sữa và núm vú/dương vật để cung cấp sữa). Suy ngẫm về lòng đố kị ở cấp độ cực kỳ sớm và nguyên thủy này là một bài tập đòi hỏi một "bước nhảy của niềm tin" đối với hầu hết mọi người; và vì lý do đó, tôi thấy ích lợi khi cứ hiểu lý thuyết trước rồi đơn thuần chờ đợi bất kỳ dữ liệu nào từ các quan sát lâm sàng có thể làm sáng tỏ tư duy của mình.


Tuy nhiên, mô hình nguyên thủy này của lòng đố kị lại cực kỳ hữu ích trong việc giải thích một số hiện tượng trong phòng tham vấn và trong thế giới xung quanh chúng ta mà không một mô hình nào khác có năng lực giải thích thỏa đáng. Hãy lấy ví dụ về nữ văn sĩ nổi tiếng Virginia Woolf, người đã bắt trọn bản chất của lòng đố kị khi bà nói: "Mỗi khi nghe về thành công của một ai đó, một phần nhỏ bên trong tôi lại chết đi."


Tính Hủy hoại của các Cơ chế Phòng vệ Vô thức Chống lại Lòng đố kị:


Tại điểm này, chúng ta cần khám phá nửa sau lý do tại sao lòng đố kị vô thức lại là một "cú giáng kép" (double whammy) cho nhân loại. Nó không chỉ đau đớn đến mức không thể chịu đựng nổi, mà những phản ứng đối phó với nó còn mang tính hủy hoại rất nan giải, cho cả bản thân lẫn người khác. Bằng "các phản ứng đối phó với nó", ý tôi muốn nói là các chiến thuật tự vệ. Hệ quả là đối tượng của lòng đố kị thường bị tổn hại, và người có lòng đố kị cũng đánh mất luôn sự tốt lành của đối tượng bị tổn hại đó, cũng như đánh mất sự tốt lành của chính mình do đã hủy hoại đối tượng. Tôi sẽ thử đưa ra một danh mục khiêm tốn về các chiến thuật được sử dụng để né tránh trải nghiệm đố kị:


1 – Người ta có thể hủy hoại (spoil) đối tượng của lòng đố kị để nó không còn đáng đố kị nữa. Đây là một cách rẻ tiền, nhanh chóng, bẩn thỉu và hiệu quả để đối phó với lòng đố kị. Nó cũng rất nan giải, một phần vì nó lập tức tạo ra kỳ vọng vô thức về sự trả đũa, và nó tàn phá chính những phẩm chất "tốt đẹp" trong cuộc sống mà đáng ra người ta nên hy vọng sẽ học hỏi và có được vào một ngày nào đó.


2 – Người ta có thể phủ nhận (deny) rằng mình không hề có chút đố kị nào. Điều này tiêu tốn nhiều nỗ lực vô thức hơn mức nhìn thấy trước mắt và làm cạn kiệt các nguồn lực cũng như chính cuộc sống của một người. Đó là tấm vé một chiều dẫn đến một cuộc đời hạn hẹp; và trong trường hợp cực đoan, sự phủ nhận có thể dẫn đến định kiến, sự cứng nhắc và/hoặc sự nhạt nhẽo.


3 – Người ta có thể phóng chiếu (project) "năng lực cảm thấy đố kị" của chính mình vào một ai đó khác – điển hình là cha mẹ, anh chị em hoặc người phối ngẫu – để người kia bị nhìn nhận như một kẻ đố kị và hủy hoại xấu xa.


4 – Người ta có thể phóng chiếu "phần con trẻ bên trong vốn đang đau đớn vì sự nhỏ bé và đố kị" vào người khác bằng cách phô trương một cách lộ liễu – giống như một con công đực – những gì rất đáng đố kị ở bản thân. Điều này tương tự như việc một người đàn ông đi vào một lớp học mẫu giáo, lôi dương vật của mình ra và khoe khoang kích thước của nó. Nó thường hiệu quả trong việc khiến người khác cảm thấy đố kị, nhưng không hề chữa lành được lòng đố kị của chính mình.


5 – Người ta có thể dung nạp (tolerate) lòng đố kị và tự nuôi dưỡng bản thân lớn mạnh lên bằng cấp độ của đối tượng. Tôi thấy thật nhún nhường khi phải thừa nhận rằng tôi từng dạy cả một khóa học về lòng đố kị mà không hề nghĩ đến khả năng này, cho đến khi một học viên đặt câu hỏi về nó. Tôi đã quá quen với việc bản thân sử dụng bốn chiến thuật trước đó đến nỗi không nhận ra một khả năng mang tính xây dựng về mặt cảm xúc. Và, như bạn có thể nhận thấy, dung nạp nhận thức về sự tốt lành của một ai đó gần như đồng nghĩa với việc bạn nói rằng bạn ngưỡng mộ họ.


(Lưu ý: Học phần Bốn chứa đựng một cuộc thảo luận chi tiết hơn về lòng đố kị vô thức).


Tác động của Lòng đố kị Vô thức lên Cuộc sống Hàng ngày:


Với tất cả những điều trên làm phông nền, bây giờ tôi muốn thử đưa ra một ý tưởng để xem bạn nghĩ thế nào. Sẽ ra sao nếu hầu hết những gì mang tính hủy hoại xảy ra trên hành tinh Trái Đất này hóa ra đều có liên quan đến lòng đố kị vô thức? Tôi không thể chứng minh điều đó là đúng, nhưng đó là một góc nhìn phản biện cực kỳ hữu ích. Tôi nghi ngờ đố kị là một trong những thành tố chính của nhiều cuộc chiến tranh trong suốt chiều dài lịch sử nhân loại. Bất cứ nơi nào một nhóm người được nhìn nhận là có sự giàu có hoặc đặc quyền, một nhóm người khác sẽ thèm khát nó và khơi mào chiến tranh vì nó, thậm chí đến mức diệt chủng.


Trước khi Hoa Kỳ tống khứ Saddam Hussein ra khỏi Kuwait vào đầu những năm 1990, tôi nghi ngờ lý do đằng sau việc người Iraq phóng hỏa các mỏ dầu của Kuwait là vì, bên cạnh những thứ khác, người Kuwait quá đáng đố kị, và Hussein muốn hủy hoại hạnh phúc và sự mãn nguyện của họ. Ở Rwanda vào những năm 1990, người Hutu đố kị với người Tutsi (cái tên theo nghĩa đen có nghĩa là "giàu trâu bò"), và hệ quả là cuộc tàn sát kinh hoàng đối với tất cả mọi người, bao gồm cả phụ nữ và trẻ em.


Đây là điểm mấu chốt: Bản thân lòng đố kị vô thức không phải là thứ mang tính hủy hoại, dù cho nó có thể nằm trong số những cảm xúc đau đớn nhất của con người. Chính các cơ chế phòng vệ chống lại mọi trải nghiệm về lòng đố kị mới là thứ gây ra nhiều tổn hại và tàn phá đến thế. Có thể mất nhiều năm để xây dựng một tòa nhà tráng lệ, nhưng nó có thể bị biến thành đống đổ nát trong vài giây bằng những khối thuốc nổ được đặt cẩn thận. Chỉ mất vài giờ để đánh sập tòa tháp đôi của Trung tâm Thương mại Thế giới, hủy hoại mạng sống của hàng ngàn người và ảnh hưởng tiêu cực đến cuộc sống của hàng triệu người khác.


Vì vậy, hãy quay lại với thời khắc chào đời và cái tình cảnh có thể tồi tệ nhường nào khi làm một đứa trẻ túng thiếu, bất lực. Như tôi đã gợi ý trước đó, một vài đứa trẻ – vì những lý do bẩm sinh, có lẽ do di truyền – chỉ ghét việc một ai đó khác sở hữu và là nguồn cội của mọi sự tốt lành. Sau một bài giảng tôi từng thực hiện về các biểu hiện lâm sàng của lòng đố kị vô thức, một bác sĩ tâm thần – người đã dành cả sự nghiệp của mình để làm việc với các bệnh nhân tâm thần phân liệt tại một bệnh viện tâm thần công – đã tiến lại gần tôi với vẻ vô cùng hào hứng. Bà nói rằng bà luôn nghĩ rằng nếu có một "gen" khiến ai đó dễ mắc bệnh tâm thần phân liệt, thì đó sẽ là gen quy định "lòng đố kị". Bà tiếp tục mô tả cách mà hầu như tất cả các cá nhân phải nhập viện mãn tính tại cơ sở của bà dường như đều bị bủa vây một cách phổ biến bởi cảm xúc đó. Bà đã giữ ấn tượng đó cho riêng mình cho đến khi nghe bài giảng này.


Có một vấn đề cố hữu cho bất kỳ ai muốn tìm kiếm bằng chứng về tầm ảnh hưởng của lòng đố kị khi quan sát một đứa trẻ sơ sinh. Cái oái oăm là bạn phải thực hiện nhiều năm theo dõi để xem liệu những nghi ngờ của bạn về lòng đố kị, như một vấn đề trung tâm của đứa trẻ đó, có được chứng minh theo thời gian hay không. Tôi từng thấy những trẻ sơ sinh hoặc trẻ chập chững từ chối cho phép người mẹ làm một số việc cho chúng, thậm chí từ chối gọi bà là mẹ mà thay vào đó gọi mẹ bằng tên khai sinh của bà.


Vậy làm thế nào người ta biết được liệu điều này có phải là do lòng đố kị vô thức hay không, ngay cả khi đó dường như là giả thuyết tốt nhất? Câu trả lời cần có thời gian, và thường bạn phải đợi cho đến giai đoạn muộn hơn trong đời mới quyết định được. Tôi từng có một bệnh nhi gặp phải những bất ổn rất nghiêm trọng. Suốt bảy năm trời, tôi đã đưa ra vô số lời diễn giải về lòng đố kị, nhưng chưa bao giờ nhận được bất kỳ sự xác nhận trực tiếp nào. Vài năm sau khi đã dừng các buổi trị liệu của chúng tôi, cậu quay lại thăm và nhận xét vào thời điểm đó, giờ đã ở độ tuổi giữa hai mươi, rằng cậu tự nghĩ về bản thân như một "người đố kị nhất mà cậu từng biết". Điều đó rất buồn, nhưng vẫn là một trải nghiệm "mở mang tầm mắt" đối với tôi.


Lòng đố kị Vô thức trong Bối cảnh Lâm sàng:


Lòng đố kị vô thức đặt ra một số vấn đề độc nhất vô nhị cho nhà lâm sàng. Trước hết, nó sẽ không bao giờ xuất hiện trong liệu pháp cho đến khi nhà trị liệu chủ động khơi mở chủ đề này. Đôi khi, một cách khá kinh ngạc, sau khi nhà trị liệu giới thiệu nó như một vấn đề rất đỗi con người, bệnh nhân sẽ nắm lấy cơ hội và tự mình đào sâu nó suốt nhiều năm trời. Nhưng phổ biến hơn, công việc trị liệu sẽ giải quyết các vấn đề vốn dễ tiếp cận hơn với nhận thức tỉnh táo của bệnh nhân, đại diện cho những phần việc dễ xơi trước mắt của liệu pháp (the low-hanging fruit of the therapy). Tôi đã thường thấy phải mất từ năm năm trở lên trước khi lòng đố kị vô thức xuất hiện như một ranh giới cuối cùng còn sót lại của các vấn đề quan trọng cần được sửa đổi bằng liệu pháp.


Đôi khi, cách duy nhất lòng đố kị vô thức xuất hiện là dưới hình thức một "phản ứng trị liệu tiêu cực" (negative therapeutic reaction). Về bản chất, đây là nơi bệnh nhân vạch ra một lằn ranh vô hình và tuyên bố trong vô thức: "Tôi từ chối tiến bộ thêm nữa, bởi vì ông sẽ được hưởng công trạng cho công việc tốt đẹp của mình, và tôi không thể dung nạp được điều đó." Họ thường bỏ cuộc tại thời điểm đó, mặc dù có thể vẫn ở lại trong quá trình điều trị một thời gian rất dài trong trạng thái tương đương một thế bế tắc trị liệu.


Manh mối để nhận ra vấn đề này là: bệnh nhân có thể hiểu rất sâu sắc về bản thân khi trò chuyện, nhưng cuộc sống thực tế của họ lại chẳng tiến bộ được bao nhiêu. Đây là một bài toán cực kỳ đau đầu đối với các nhà trị liệu. Dù vậy, việc trang bị mô hình về lòng đố kị vô thức ít nhất cũng là một công cụ sắc bén giúp chúng ta nhìn thấu và tháo gỡ những ca dậm chân tại chỗ như thế này.


Tóm tắt:


Lòng đố kị vô thức bắt nguồn từ thuở ấu thơ, gắn liền với người mẹ cùng sự tốt lành của bà, và thường là một thứ cảm giác vô cùng bóp nghẹt, khó lòng chịu đựng nổi. Những cơ chế phòng vệ được dựng lên để né tránh nỗi đau này lại nằm trong số những tác nhân gây hủy hoại cuộc đời con người nhất. Cách dễ nhất để trốn chạy khỏi nó là phá hoại và làm hoen ố đối tượng bị đố kị; thế nhưng, điều đó cũng đồng nghĩa với việc từ nay về sau, người đó phải đi qua cuộc đời mà không còn nhận được bất kỳ 'sự tốt lành' nào từ những hình tượng người lớn mà mình cần tựa nương. Chưa kể, những lo âu hoang tưởng nảy sinh sau đó sẽ khiến họ luôn nơm nớp lo sợ rằng chính mình cũng sẽ trở thành đối tượng bị kẻ khác đố kị. Nỗi sợ này kìm hãm, không cho họ được sống hết mình và phát huy trọn vẹn tiềm năng trong đời. Lựa chọn duy nhất còn sót lại lúc này là chấp nhận làm một thủ thư phẳng lặng trong bộ trang phục màu be rộng thùng thình.


Đối với nhà trị liệu, nhận diện và làm việc với lòng đố kị vô thức không phải là một nhiệm vụ dễ dàng. Như tôi đã được dạy, việc thay thế từ "lòng đố kị vô thức" bằng từ "sự thù hận" thường mang lại hiệu quả cao. Bệnh nhân thường có thể cảm nhận nó dễ dàng hơn khi bạn nói: "Một phần trong bạn thù hận tôi vì tôi quá quan trọng đối với bạn" thay vì "một phần trong bạn đang đố kị với tôi vì tôi quá quan trọng đối với bạn". Ngược lại, nếu nhà trị liệu lúc nào cũng ra rả nói rằng: "Bạn đố kị cái này hoặc cái kia", từ ngữ đó sẽ mất đi phần lớn sự kết nối cảm xúc của nó, và bệnh nhân chỉ đơn thuần cảm thấy bị chỉ trích và tuyệt vọng. Thực sự có cả một nghệ thuật để làm việc với lòng đố kị, và điều đó có lẽ cuối cùng đòi hỏi một người phải nhìn thấy nó trước tiên, một cách chi tiết, ở chính bản thân mình.


Lõi Trẻ Thơ của Nhân cách trong Mối quan hệ với Người mẹ: Lo âu, Tội lỗi và Trầm cảm


Tổng quan:


Phần này rất khó để diễn đạt một cách rõ ràng nếu không giải quyết ngay một số điểm dễ gây nhầm lẫn. Vì vậy, trước khi bắt đầu thảo luận, tôi muốn điểm qua một vài khía cạnh dễ gây bối rối này.


1. Khi quay ngược về giai đoạn sơ sinh đầu đời, các trạng thái tâm thần và thể chất hòa quyện vào nhau chặt chẽ đến mức khó có thể tách bạch rõ ràng giữa cảm xúc và các trạng thái sinh lý. Điều này đặc biệt đúng với tất cả các tình huống mà người ta hay dùng từ “lo âu”.


2. Melanie Klein có những quan sát lâm sàng vô cùng sắc sảo, nhưng bà lại không mấy bận tâm đến việc các lý thuyết của mình đang làm biến đổi cách dùng thông thường của thuật ngữ phân tâm học, hay việc chúng có phần mâu thuẫn nội tại với chính những bài viết trước đó của bà. Điều này đặc biệt đúng với thuật ngữ “trầm cảm” (depressive) theo cách dùng của Klein, và từ “trầm cảm” (depression) được dùng phổ biến trong tài liệu phân tâm học. Cách chọn thuật ngữ chuyên ngành độc lạ của bà gây rắc rối nhất là ở cụm từ “đồng hóa phóng chiếu” (projective identification), và lát nữa tôi sẽ cố gắng bóc tách sự nhầm lẫn này để bảo vệ cho một thuật ngữ đơn giản hơn là “các quá trình phóng chiếu”.


3. Freud từng nói rằng mỗi “bản năng” đều có “nguồn gốc, mục đích và đối tượng”, và “đối tượng” của ông, nhìn chung, là những hình mẫu ở thế giới bên ngoài. Klein đã cố gắng sử dụng các thuật ngữ của Freud nhưng chúng không còn phù hợp nữa khi bà đi xa hơn lý thuyết bản năng của ông để xây dựng một mô hình về “thế giới nội tâm vô thức” nơi con người sinh sống, thứ mà bà gọi là “thực tại tâm trí” để đối lập với “thực tại bên ngoài”. Sự phân biệt này trở nên cực kì quan trọng khi chúng ta nói về một cảm giác được cảm nhận là đang đến từ bên ngoài “bản thân”. Nó có thể đến từ thế giới bên ngoài của “thực tại ngoại tại”. Tuy nhiên, thông thường thì Klein đang ám chỉ một cảm giác được cảm nhận là đến từ một hình mẫu bên trong “thực tại nội tại”. Nói cách khác, một thứ gì đó xuất phát từ phiên bản của cha hoặc mẹ trong thực tại tâm trí đang nhắm vào chính bản thân đứa trẻ. Những hình mẫu này trở thành “các đối tượng nội tại” trong tài liệu của trường phái Klein và nó tương đương với “siêu ngã” (super-ego) của Freud.


Với ba vấn đề trên trong tâm trí, hãy cùng tiếp tục khám phá các cảm xúc của trẻ sơ sinh trong mối quan hệ với người mẹ ở giai đoạn đầu đời. Chúng ta có thể bắt đầu với những cảm xúc dễ nhận biết nhất khi quan sát trẻ nhỏ. Charles Darwin, trong các nghiên cứu về tiến hóa của mình, đã quan sát biểu cảm khuôn mặt của các loài khác nhau để tìm ra những điểm chung. Như đã mô tả trong cuốn sách xuất bản năm 1872 “Biểu cảm cảm xúc ở người và động vật”, Darwin đã đúc kết ra sáu trạng thái cảm xúc cơ bản: Hạnh phúc (hoặc vui sướng), ngạc nhiên, sợ hãi, ghê tởm, tức giận và buồn bã.


Nhà phân tâm học theo trường phái Klein là Wilfred Bion lại chọn một cách tiếp cận hơi khác khi suy ngẫm về thế giới cảm xúc của con người. Ông gợi ý rằng ở một cấp độ rất nguyên thủy – và ông dùng từ “đam mê/ham muốn mãnh liệt” (passions) thay vì cảm xúc – người ta có thể giản lược các phản ứng của con người về những thành tố cơ bản nhất là: yêu, ghét và tò mò. Những yếu tố này có vẻ gần gũi với “bản năng sống và bản năng chết” của Freud và phần bổ sung của Melanie Klein về “bản năng ham hiểu biết”.


Cả hai cách tiếp cận này đều không thể né tránh được vấn đề khi nhìn vào trải nghiệm của một sinh thể chưa có ngôn ngữ và các trải nghiệm còn rất hỗn độn, chưa định hình. Hai yếu tố mang tính định hình này buộc chúng ta phải suy đoán xem đứa trẻ đang trải qua điều gì. Hơn nữa, chúng ta sẽ giới hạn phạm vi tập trung vào các phản ứng cảm xúc của trẻ trong mối quan hệ với người mẹ. Theo lẽ tự nhiên, các phản ứng này sẽ rất sơ khai. Do đó, những nỗ lực mô tả và phân loại chúng của chúng ta sẽ phải sử dụng ngôn ngữ và góc nhìn từ chức năng tâm trí “người lớn” phát triển và tinh vi hơn – điều này vô tình áp đặt một trật tự hệ thống vốn có thể chưa hề tồn tại ở đứa trẻ.


Và cuối cùng, tôi sẽ chủ động nhấn mạnh vào những trạng thái cảm xúc mà tôi cho là hữu ích nhất để hiểu được sự phát triển tâm lý và chức năng tâm thần của trẻ. Những phản ứng cảm xúc như sự ngạc nhiên và ghê tởm của Darwin sẽ bị bỏ qua dù chúng có liên quan đến trải nghiệm con người. Trong điều kiện bình thường, chúng chỉ đóng vai trò thứ yếu trong sự phát triển của trẻ sơ sinh. Điều này đặc biệt đúng khi so sánh với các vấn đề cốt lõi mang tính phổ quát như: tình yêu, sự chia ly, đố kỵ, ghen tị, lo âu, tội lỗi và trầm cảm trong mối quan hệ đang phát triển giữa đứa trẻ và người mẹ.


Sinh lý học đối chọi với Tâm lý học:


Bây giờ tôi muốn quay trở lại vấn đề phân biệt các phản ứng sinh lý với cảm xúc. Đố kỵ, ghen tị, tội lỗi và trầm cảm dễ dàng được nhận diện chủ yếu là các trạng thái tâm trí/cảm xúc kéo theo một số hệ quả sinh lý, nhưng người ta sẽ không bao giờ đặt trọng tâm đầu tiên vào yếu tố sinh lý.


Hãy so sánh điều đó với “lo âu chia ly” (separation anxiety) – thuật ngữ vốn đã ngầm chứa một trạng thái sinh lý ngay trong tên gọi. Tương tự như vậy, “sợ hãi” hầu như luôn gắn liền với hệ thần kinh sinh lý định hình nên nó. Nó thậm chí còn có một cấu trúc não giữa riêng biệt gắn liền với nó – đó là hạch hạnh nhân (amygdala). Trong phạm vi cuộc thảo luận này, tôi sẽ giới hạn sự tập trung vào bối cảnh các cảm xúc của trẻ sơ sinh nằm trong mối quan hệ với người mẹ.


Có những trạng thái sinh lý mang một vài thành tố cảm xúc nhưng bản chất không lấy người mẹ làm đối tượng hướng tới. Chúng bao gồm các trạng thái thể chất của sinh thể như đói, khát, buồn nôn, mệt mỏi, buồn ngủ, nhiễm độc, v.v. và các phản ứng nói chung đối với kích thích bên ngoài. Dù quan trọng đối với sự phát triển thể chất, chúng sẽ chỉ có tác động sâu sắc trong các hoàn cảnh như chết đói, người mẹ nghiện ngập lúc mang thai, trẻ bị bỏ rơi hoặc ngược đãi nghiêm trọng trong giai đoạn chu sinh, v.v. chứ không nằm trong trải nghiệm của một thời thơ ấu bình thường.


Vậy làm thế nào để chúng ta có thể định nghĩa một cách tổng quát về cảm xúc sao cho phù hợp với cuộc khám phá này? Robert Plutchik, trong cuốn sách xuất bản năm 1962 “Cảm xúc: Sự thật, Lý thuyết và Một Mô hình Mới - The Emotions: Facts, Theories, and a New Model”, đã đưa ra một định nghĩa mà tôi thấy hữu ích: “Một cảm xúc có thể được định nghĩa là một phản ứng có tính khuôn mẫu của cơ thể nhằm phá hủy hoặc tái tạo, đồng hóa, định hướng, bảo vệ, tái hòa nhập, chối bỏ hoặc khám phá, hoặc là sự kết hợp của những điều này, được kích hoạt bởi một kích thích.” Định nghĩa này phải mất một hai phút mới có thể hình dung và thấu hiểu được.


Theo cách hiểu của tôi về định nghĩa của Plutchik, nó dường như muốn bao hàm bất kỳ sinh vật nào trong vương quốc động vật có đủ vỏ não để nảy sinh một phản ứng cảm xúc sơ khai – một phản ứng vượt lên trên một phản hồi bản năng dưới vỏ não thuần túy đối với kích thích. Cách diễn giải này giúp bắc cầu nối cho khoảng cách giữa sinh lý học và cảm xúc.


Điều tôi đặc biệt tâm đắc là định nghĩa này vừa rộng, vừa cho phép giải thích hàng loạt các phản ứng tâm trí/thể chất cụ thể một cách mơ hồ trước cảm xúc, vốn đã được Klein lập danh mục rất chi tiết. Chúng ta sẽ xem xét kỹ lưỡng những điều đó ở nửa sau của học phần này, khi chúng ta khám phá các biện pháp “ứng phó/phòng vệ” của trẻ sơ sinh để chế ngự các trạng thái cảm xúc của mình. Ngoài ra, định nghĩa của Plutchik sẽ tỏ ra hữu ích rõ rệt hơn khi chúng ta bàn về sự phủ nhận, các quá trình phân tách, và đặc biệt là các quá trình phóng chiếu.


Quay trở lại vấn đề về sự phân tách mập mờ giữa tâm trí và thể chất để cố gắng định nghĩa thuật ngữ “lo âu” – liệu nó là một cảm xúc hay là một yếu tố sinh lý đi kèm của cảm xúc? Từ điển Webster của tôi đưa ra định nghĩa như sau: “Một trạng thái bất an hoặc lo lắng về những điều có thể xảy ra.” Nghe có vẻ hữu ích, nhưng nó vẫn buộc chúng ta phải chấp nhận rằng “lo âu” nằm ở ranh giới giữa sinh lý và cảm xúc, đến mức chúng ta sẽ phải coi nó là cả hai.


Đây là nỗ lực của tôi nhằm đưa ra một định nghĩa về lo âu: Lo âu về cơ bản là một phản ứng sinh lý khó chịu đi kèm với trải nghiệm về một trạng thái tâm trí cảm xúc tiêu cực. Trải nghiệm này có thể mang tính ý thức, nhưng thường thì chỉ là vô thức.


Những nỗi lo âu cốt lõi theo Klein:


Định nghĩa này giờ đây có thể dẫn chúng ta vào thế giới khám phá của Klein về những trạng thái cảm xúc nguyên thủy nhất mà bà đã quan sát được trong quá trình làm việc lâm sàng với trẻ nhỏ. Giống như mọi đứa trẻ sơ sinh và trẻ chập chững biết đi, chúng có những biến động cảm xúc cực đoan và tuân theo các khuôn mẫu có thể nhận biết được khi chúng liên tục dao động giữa những cảm xúc tích cực mãnh liệt và tiêu cực dữ dội, đặc biệt là trong mối quan hệ với mẹ của mình.


Quan sát then chốt của Klein là những trạng thái tâm trí này tạo ra một trạng thái phản ứng chung cả về mặt cảm xúc lẫn sinh lý theo các khuôn mẫu có thể phân biệt được. Những khuôn mẫu phản ứng này liên quan đến tính chất (hướng tích cực hay tiêu cực) của cảm xúc và nguồn gốc xuất phát của nó.


Nếu cảm xúc chủ đạo là thù địch, đứa trẻ sẽ tưởng tượng rằng đối tượng hướng tới cũng đang thù địch lại mình. Nếu phản ứng cảm xúc gắn liền với tình yêu thương, thì đối tượng cũng được tưởng tượng là đang yêu thương lại nó. Chúng ta có thể kết hợp hai điều này để tạo ra tình huống thứ ba: khi đứa trẻ vô tình nảy sinh lòng thù địch nhất thời đối với người mà nó yêu thương. Điều này tạo thêm một tầng cảm xúc lẫn lộn đối với cùng một đối tượng và tạo ra một trạng thái có thể được đặc trưng là sự mâu thuẫn nội tâm (ambivalence).


Klein phát hiện ra rằng những phản ứng cảm xúc nguyên thủy này gắn liền không thể tách rời với những gì trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ tưởng tượng rằng chúng đang làm với mẹ. Ngược lại, những tưởng tượng (phantasies) này về những gì đứa trẻ và người mẹ đang làm với nhau lại mang tính cụ thể, liên quan đến những gì chúng đang "lấy đi từ" nhau và/hoặc "áp đặt vào" nhau. Nói theo thuật ngữ chuyên ngành, những tưởng tượng này kết nối với các quá trình phóng chiếu (projective) và nội nhập (introjective) mà trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ sử dụng để lèo lái các mối quan hệ hàng ngày của chúng với người mẹ cũng như với tất cả những người khác.


Klein bắt đầu nhận thấy các khuôn mẫu phản ứng cảm xúc mang tính cốt lõi, phổ quát và luôn kết nối với các tưởng tượng phóng chiếu và nội nhập cụ thể này. Tôi sẽ làm nổi bật các khuôn mẫu đó như sau:


1. Việc trục xuất các trạng thái tâm trí/thể chất không mong muốn dẫn đến một tưởng tượng rằng thế giới bên ngoài bản thân hiện đang chứa đựng những yếu tố không mong muốn đó, và trở thành nguồn gốc của nỗi lo âu rằng những yếu tố này sẽ trả đũa và gây hại lại cho mình bằng cách nào đó. Klein đặt tên cho trạng thái tâm trí tổng quát này là “lo âu bị bức hại” (persecutory anxiety). Ý niệm ngầm ở đây là một thứ gì đó đã bị phóng chiếu ra bên ngoài bản thân và giờ đây đang quay trở lại tấn công chính mình với nguyên vẹn tính chất và động cơ của lần phóng chiếu ban đầu, thậm chí còn với mức độ dữ dội hơn. (Lưu ý: Xem các phần tiếp theo về Vị thế Hoang tưởng - Phân liệt và Đồng hóa Phóng chiếu để biết thêm chi tiết về điểm này).


2. Khi trẻ lớn dần lên và có thể giữ được cả cảm xúc tích cực lẫn tiêu cực đối với cùng một người, trẻ sẽ rơi vào những tình huống mà nhất thời nó cảm thấy mình thật “tồi tệ” với một người và muốn làm tổn thương họ, nhưng ngay sau đó lại nhận ra rằng mình yêu thương người đó và vì vậy ước ao được sửa chữa những tổn thương trong tưởng tượng do sự tồi tệ của mình gây ra. Klein đã đặt cho trạng thái này một cái tên khá đáng tiếc là “lo âu trầm cảm” (depressive anxiety). Nó không liên quan đến bệnh trầm cảm. Ngược lại, đây là một trạng thái tâm trí rất có tính xây dựng, trong đó sự quan tâm đến hạnh phúc của người khác sẽ dẫn đến những thôi thúc yêu thương, mang tính xây dựng và hàn gắn. (Lưu ý: Xem phần tiếp theo về Vị thế Trầm cảm để biết thêm chi tiết về điểm này).


Với những khái niệm này, Klein đã tạo ra hai yếu tố định tính mà giờ đây có thể được sử dụng trong bất kỳ tình huống cảm xúc nào để phân biệt: (1) liệu các cảm giác được cảm nhận là đến từ bên trong hay bên ngoài bản thân, và (2) liệu chúng được cảm nhận là tích cực/mang tính xây dựng hay tiêu cực/mang tính hủy hoại.


Sự phân biệt mới này rất hữu ích trong phạm vi của một cảm xúc cực kỳ quan trọng – cảm giác tội lỗi, chia nó thành: (1) cảm giác tội lỗi bị bức hại (persecutory guilt), và (2) cảm giác tội lỗi trầm cảm (depressive guilt). (Lưu ý: Cả hai điều này đều được đề cập chi tiết trong các phần về Vị thế Trầm cảm và Các cơ chế phòng vệ hưng cảm).


  • “Cảm giác tội lỗi bị bức hại” mang lại cảm giác như thể một người đang bị tấn công từ bên ngoài bởi một ai đó muốn chúng ta phải cảm thấy tội lỗi. Nó thường đi kèm với niềm tin rằng tình huống này theo cách nào đó rất bất công, và thường có cảm giác rằng cảm giác tội lỗi này có thể né tránh được bởi “bản thân” nếu như không có ai đó đang đổ lỗi từ bên ngoài.

  • “Cảm giác tội lỗi trầm cảm” thì gần gũi hơn với cảm giác tội lỗi theo đúng nghĩa của nó. Nó hàm chứa nhiều hơn sự tự nhận thức và chịu trách nhiệm đối với bất kỳ tổn hại nào được tưởng tượng là đã gây ra cho đối tượng – đối tượng mà giờ đây đang cần được hàn gắn để khôi phục lại trạng thái lành mạnh, đúng đắn ban đầu.

Vấn đề xác định nguồn gốc của nỗi lo âu liên quan đến các quá trình phóng chiếu có thể có thêm một tầng phức tạp khác, điều này rất khó khăn cho những chuyên gia sức khỏe tâm thần mới vào nghề phân định rõ ràng. Tôi đã tuyên bố rằng lo âu bị bức hại được trải nghiệm là đến từ bên ngoài bản thân. Nhưng điều đó không nhất thiết có nghĩa đen là nó đến từ bên ngoài cơ thể của cá nhân đang cảm thấy bị bức hại. Dù đúng là các phóng chiếu thường được đưa vào một đối tượng bên ngoài cơ thể vật lý của một người, nhưng chúng cũng có thể được đưa vào một đối tượng ở bên trong cơ thể người đó, nằm trong thế giới nội tâm, tâm trí, vô thức của chính họ.


Hãy nhớ lại ở Học phần Một, chúng ta đã thảo luận về một mô hình cấu thành thế giới nội tâm vô thức, vốn được hình dung một cách hữu ích là nơi trú ngụ của một vài cặp mối quan hệ cố định khá lâu dài. Những mối quan hệ này được tưởng tượng là giữa một phần của bản thân với (phần lớn là) một phiên bản tốt hoặc xấu của cha hoặc mẹ.


Theo thuật ngữ của Freud, những phiên bản cha mẹ này tạo nên cái mà ông gọi là “siêu ngã” (super-ego). Theo Klein, dù không được mô tả một cách rõ ràng như vậy, những phiên bản cha mẹ này lại hình thành nên “các đối tượng nội tại” (internal objects) của một người. Vì vậy, tầng phức tạp mà chúng ta có thể thêm vào là: trẻ sơ sinh hoặc trẻ nhỏ có thể phóng chiếu vào những hình mẫu vốn không phải là “bản thân” nhưng lại ở “bên trong” cơ thể của trẻ, nằm trong cấu trúc thực tại tâm trí nội tại – “thế giới nội tâm vô thức” – hay dùng một thuật ngữ phổ biến khác là “thực tại tâm trí” (psychic reality).


Do đó, khi Freud nói ai đó có một “siêu ngã khắc nghiệt”, chúng ta có thể dịch nó sang ngôn ngữ của Klein rằng người đó có “các đối tượng nội tại mang tính bức hại”. Nói cách khác, cảm giác tội lỗi không đến từ chính bản thân họ, mà đến từ các phiên bản cha mẹ đã được nội nhập hóa – chứ không phải từ một hình mẫu bên ngoài ngoài đời thực, ở bên ngoài cơ thể vật lý của họ.


Cho đến nay, chúng ta phần lớn đã coi lo âu là bản sao sinh lý, nguyên thủy của các tình huống cảm xúc phức tạp hơn. Chúng ta đã phân biệt các nỗi lo âu sao cho những nỗi lo ở bên ngoài bản thân không nhất thiết phải ở bên ngoài cơ thể, vì các phóng chiếu có thể đi vào các đối tượng ở thế giới bên ngoài và/hoặc vào các đối tượng trong thế giới tâm trí nội tại.


Sau đó, chúng ta sử dụng sự phân biệt bên trong hay bên ngoài bản thân này để phân định nguồn gốc của cảm xúc tội lỗi là đến từ bên trong hay bên ngoài chính mình, trong đó vế trước đại diện cho cảm giác tội lỗi theo đúng nghĩa của nó. Cảm giác tội lỗi bị bức hại có thể có một phần cảm giác tội lỗi trầm cảm kết nối với nó, hoặc nó có thể liên quan nhiều hơn đến các cơ chế phòng vệ hưng cảm như sẽ được giải thích sau.


Điều này tạo bước chuyển sang chủ đề cuối cùng của phần này: Lo âu trầm cảm. Điều này đòi hỏi chúng ta phải phân biệt nó với thuật ngữ có liên quan nhưng thực chất lại mang ý nghĩa hoàn toàn trái ngược với ý của Klein, mặc dù cả hai đều có tên gọi nghe rất giống nhau.


Lo âu trầm cảm đối chọi với Bệnh trầm cảm:


Nếu Klein đã khơi ra một mớ bòng bong với cách dùng từ đáng tiếc “đồng hóa phóng chiếu” trong bài viết năm 1946 “Ghi chú về một số cơ chế phân liệt”, thì bà cũng tạo ra một sự hỗn loạn tương tự với lựa chọn thuật ngữ trước đó là “vị thế trầm cảm” (depressive position). Điều này gây nhầm lẫn nhiều hơn là phức tạp.


Vấn đề đầu tiên là ý định sử dụng từ “trầm cảm” (depressive) của Klein là tốt, và không nên nhầm lẫn nó với trạng thái cảm xúc của bệnh trầm cảm (depression) – thứ vốn là bằng chứng cho thấy có điều gì đó đã đi chệch hướng và trở nên bất ổn. Khi Klein dùng từ thuộc tính trầm cảm – ví dụ như trong thuật ngữ “vị thế trầm cảm” – bà muốn nói đến một ý niệm gần hơn với “sự quan tâm đến hạnh phúc của đối tượng”.


Điều này sẽ được thảo luận chi tiết trong phần tiếp theo về Vị thế Trầm cảm. Điều cần làm rõ ở đây là: nếu một người quan tâm đến hạnh phúc của các đối tượng của mình, dù chúng ở thế giới bên ngoài hay được đại diện trong thế giới tâm trí nội tại, việc chăm lo cho hạnh phúc của họ và cố gắng hàn gắn – nếu cảm thấy họ đã bị tổn hại bởi suy nghĩ, cảm xúc hoặc hành động của mình – điều này không dẫn đến bệnh trầm cảm.


Sự chăm lo này có thể dẫn đến cảm giác tội lỗi theo đúng nghĩa của nó (tức là cảm giác tội lỗi trầm cảm của Klein), và cảm giác tội lỗi đó có thể rất đau đớn, nhưng nó không giống với bệnh trầm cảm. Trầm cảm là một chủ đề lớn và phức tạp, nhưng đối với mục đích của chúng ta trong phần này, nó có thể được đơn giản hóa theo một cách mà tôi thấy hữu ích về mặt lâm sàng. Bất cứ khi nào gặp một người bị trầm cảm, tôi giả định rằng điều đó ít nhất một phần là do sự thất bại trong việc khơi dậy niềm quan tâm đến hạnh phúc của đối tượng hoặc mối quan hệ được cảm nhận là đã bị tổn hại. Theo thuật ngữ của Klein, đó là sự thất bại trong việc chuyển dịch sang một thái độ quan tâm đến hạnh phúc của đối tượng, một sự thiếu hụt niềm bận tâm trầm cảm mang tính xây dựng.


Nguyên nhân của sự thất bại này có thể mang tính lịch sử, nằm sâu trong vô thức và phức tạp. Nhưng điểm cốt lõi là có một hoặc nhiều mối quan hệ và/hoặc cá nhân trong thế giới nội tâm của người đó đang ở trong trạng thái bị bỏ mặc, bị tổn hại hoặc bị hủy hoại hoàn toàn mà không được đối diện hoặc xử lý một cách có tính xây dựng. Tôi sẽ cố gắng phân loại một vài tình huống như vậy để luận điểm này trở nên dễ nhận biết hơn:


1. Đôi khi đây là một sự kiện tổn thương mang tính phát triển từ thời thơ ấu sơ khai không được nhận biết, nhưng lại để lại một dấu ấn buồn bã hoặc tiêu cực vĩnh viễn lên nhân cách do phản ứng đặc biệt của cá nhân đó đối với tình huống. Sinh non, được nhận nuôi, chứng đau bụng co thắt ở trẻ (colic), việc cai sữa mẹ quá sớm, một người em được sinh ra quá sớm sau đứa con đầu, và sự chia ly sớm với mẹ hoặc người mẹ bị trầm cảm, v.v. tất cả đều có thể đại diện cho các tình huống mà trẻ sơ sinh có thể cảm thấy mình đã làm tổn hại đối tượng của mình và không thể sửa chữa được tổn thất đó. Đứa trẻ có thể không hề có ý niệm gì trong ý thức về cách suy nghĩ về các trạng thái tâm trí của mình, chứ đừng nói đến việc nhận ra và cố gắng khắc phục tổn hại mà nó gây ra cho một đối tượng.


Điều quan trọng cần lưu ý là tất cả các tình huống đề cập ở trên đều có thể dẫn đến một cảm xúc nào đó khác chứ không phải trầm cảm. Chúng có thể dẫn đến sự buồn bã, hoặc tội lỗi, hoặc các nỗi lo âu khác nhau mà không có trầm cảm. Chính những tưởng tượng của từng đứa trẻ về tình huống đó và phản ứng đối với những tưởng tượng đó mới là điều quan trọng.


2. Mặc dù các tình huống liệt kê trên là những sự kiện xảy ra rất sớm, bất kỳ điều nào trong số chúng đều có thể khiến nhân cách dễ mắc trầm cảm mà không thực sự dẫn đến trầm cảm trong thời thơ ấu. Đôi khi, một sự kiện xảy ra muộn hơn sẽ khơi lại mớ bòng bong thuở trước vốn đã bị kìm giữ bất chấp tiềm năng trở nên bất ổn của nó. Vì vậy, các sự kiện như cha mẹ ly hôn khi cá nhân đó đã lớn hơn, cái chết của cha mẹ hoặc anh chị em ở giai đoạn sau của tuổi thơ, một vụ ly hôn hoặc mất việc làm khi trưởng thành, cái chết của cha mẹ hoặc anh chị em khi đã lớn, v.v. có thể làm bề mặt nổi lên vấn đề xưa cũ chưa bao giờ được giải quyết thỏa đáng.


Điểm thiết yếu cần được nhấn mạnh ở đây là: Klein đã chỉ ra rằng bất kỳ sự kiện khó khăn hay tổn thương nào xảy ra muộn hơn trong cuộc sống sẽ chồng lấp và đánh thức lại tất cả các vấn đề tương tự trước đó. Việc giải quyết thành công tình huống hiện tại sẽ đòi hỏi phải chú ý và giải quyết ít nhất là một phần các vấn đề cũ.


3. Các rối loạn cảm xúc nghiêm trọng hơn đều có một điểm chung: Sự hung tính/bạo lực trong phản ứng cảm xúc của trẻ sơ sinh. Xu hướng bạo lực đó trở thành một kẻ tấn công bất cứ điều gì. Nó hướng vào mọi nơi, vào đối tượng, vào chính bản thân, và thậm chí vào chính bộ máy tâm trí có khả năng trải nghiệm tất cả những điều đó.


Điều này đưa chúng ta đến một loại trầm cảm là kết quả của tính hủy hoại, cho dù là do thiếu sự dung nạp với nỗi thất vọng, do sự đố kỵ vô thức, hay bất cứ điều gì có thể khiến thế giới nội tâm của cá nhân đó chứa đầy những hình mẫu bị tổn hại không được hàn gắn. Đây là phạm vi của chứng trầm cảm mãn tính nghiêm trọng, trầm cảm loạn thần, hành vi giết người và tự sát.


Ở mức độ nhẹ hơn, bất kỳ điều nào trong số này đều có thể xảy ra ở một cá nhân bình thường hơn, thường là kết quả của một mối quan hệ với cha mẹ hoặc anh chị em chưa được giải quyết hoặc sửa chữa, và có thể có thêm một thành tố đáng kể từ hành vi vô lý hoặc bất ổn của người kia.


Tóm lại, sự bận tâm trầm cảm của Klein đối với hạnh phúc của đối tượng sẽ dẫn đến những thái độ và hành vi mang tính xây dựng, không mang lại một tình huống nội tâm nơi tổn hại đã xảy ra nhưng bị ngó lơ và không được hàn gắn. Trầm cảm là tình huống hoàn toàn ngược lại. Tổn hại được tưởng tượng hoặc thực sự đang xảy ra nhưng không được thừa nhận, không được đối diện và không được hàn gắn. Thế giới nội tâm khi đó sẽ chứa đựng những đối tượng bị tổn hại, gây áp bức và tình huống này đã chín muồi cho một chứng trầm cảm lâm sàng.


Dưới đây là bản dịch thuần Việt, tự nhiên và giữ đúng tinh thần, hệ thống thuật ngữ phân tâm học học thuật của bài viết:


Hệ thống giá trị sớm nhất về “Lợi ích cá nhân” của trẻ sơ sinh: Vị thế Áp thị - Phân liệt


Giới thiệu về nhiệm vụ đầu đời của thời thơ ấu:


Trẻ sơ sinh bước ra thế giới bên ngoài trong một thực tại mà người ta vẫn hay gọi là “bể khổ”. Chúng hoàn toàn bất lực, phụ thuộc và hầu như không hiểu bất cứ điều gì đang diễn ra xung quanh. Tất cả những gì chúng có là xu hướng di truyền và hy vọng có được những người chăm sóc yêu thương, lý tưởng nhất là một người mẹ tốt. Đứa trẻ có một nhiệm vụ khổng lồ phía trước, vậy phải bắt đầu từ đâu?


Có vẻ như trẻ sơ sinh vừa sinh ra đã sẵn sàng ngậm mút núm vú nhờ phản xạ “tìm kiếm” mang tính di truyền. Đồng thời, chúng có khả năng trục xuất bất cứ thứ gì mình không mong muốn thông qua việc đại tiện, tiểu tiện, nôn trớ, khóc lóc, hắt hơi, v.v. Tất cả những điều này diễn ra trong một vũ trụ mà về cơ bản được tạo nên từ người mẹ. Như nhà phân tâm học theo trường phái Klein là Donald Meltzer từng nói: “Bản đồ tưởng tượng của trẻ sơ sinh chính là cơ thể của người mẹ, cả bên trong lẫn bên ngoài.” Do đó, nếu đứa trẻ tống khứ những thứ tồi tệ vào chính cái nơi mà nó phải ăn, điều đó sẽ tạo ra một mớ hỗn độn lớn và đầy hoang mang. Vì vậy, đứa trẻ cần nhanh chóng thiết lập một chút trật tự cho sự hỗn loạn này, nếu không nó có thể bị nuốt chửng và nhấn chìm.


Hóa ra, hầu hết trẻ sơ sinh đều khá giỏi trong việc mang lại trật tự cho sự hỗn loạn. Chúng làm điều đó bằng cách cố gắng bám giữ lấy mọi thứ được trải nghiệm là tốt lành, đồng thời xua đuổi và tống khứ mọi thứ bị cảm thấy là tồi tệ hoặc không mong muốn. Điều này tương đương với việc trục xuất bất cứ thứ gì gây khó chịu hoặc đau đớn, và giữ lại những gì mang lại khoái cảm.


Đứa trẻ cần phải giữ cho những thứ tốt đẹp này tách biệt khỏi những thứ tồi tệ, nếu có thể thì tách biệt vĩnh viễn. Vì vậy, điều nó làm trong tưởng tượng (phantasy) một cách hoàn toàn tự động là đẩy những thứ tồi tệ – bao gồm cả người mẹ vốn là nguồn cơn của sự tồi tệ đó và phần bản thân đã trải nghiệm nỗi đau – ra càng xa càng tốt khỏi những thứ tốt đẹp. Về cơ bản, quá trình tổ chức này tạo ra hai vũ trụ song song: một vũ trụ có người mẹ tốt trong mối quan hệ tốt với phần bản thân tốt, và một vũ trụ được cấu thành từ người mẹ xấu cùng phần bản thân đã phải trải nghiệm nỗi đau.


Vì quá trình này loại bỏ bất kỳ điều gì xấu xa, nó để lại phía sau một phiên bản được thanh lọc, một phiên bản có thể được coi là “lý tưởng”. Kết quả không chỉ đơn thuần là phân chia mọi thứ thành tốt và xấu, mà cái tốt thậm chí còn được gạn lọc đến mức hoàn hảo, nói cách khác là được “lý tưởng hóa” (idealized). Điều này sẽ tỏ ra vô cùng quan trọng trong sự phát triển về sau.


Mặc dù quá trình phân chia thành lý tưởng và tồi tệ này ban đầu giúp mang lại trật tự, nhưng khoảng cách chia tách không được phép quá rộng. Nếu có nỗi lo âu quá mức rằng cái xấu sẽ áp đảo cái tốt, thì hai thế giới này sẽ phải được giữ cách xa nhau một cách rộng hơn và cứng nhắc hơn nhiều. Về mặt phát triển, việc thu hẹp khoảng cách phân tách này sẽ sớm trở nên cần thiết để tích hợp vũ trụ thành một chỉnh thể ít bị chia cắt mang tính phép thuật hơn, từ đó phát triển một thế giới quan thực tế hơn.


Bất cứ khi nào gặp một ai đó lý tưởng hóa quá mức mọi thứ trong cuộc sống, tôi lập tức có phản ứng rằng ở cấp độ em bé, người này hẳn đang khiếp sợ việc cái “xấu” trong đời có nguy cơ áp đảo và hủy hoại cái “tốt”. Cái xấu đó thông thường chính là những cảm xúc thù hận đố kỵ trong vô thức của chính họ, thứ đang đe dọa phá nát tất cả những gì được cảm nhận là tốt đẹp. Những cá nhân như vậy tự tạo ra thêm một vấn đề cho chính mình: nếu họ cố gắng tạo ra một thế giới “hoàn hảo” cho bản thân, họ đang tạo ra các đối tượng lý tưởng hóa vốn sẽ đòi hỏi sự hoàn hảo ở người khác – một vũ trụ rất khó để sống chung.


Về lý thuyết vị thế hoang tưởng - phân liệt, Donald Meltzer mô tả quá trình thanh lọc mọi thứ này là “phân tách và lý tưởng hóa” (splitting-and-idealization). Đó là nhiệm vụ ban đầu của trẻ sơ sinh và nó cần thiết để mang lại trật tự cho thế giới của trẻ. Bây giờ hãy nghĩ về nó từ một góc độ hơi khác. Trong quá trình này, đứa trẻ quyết định giữ lại một trải nghiệm nhất định mang lại khoái cảm và tốt đẹp. Đồng thời, nếu có bất cứ điều gì trong trải nghiệm đó gây khó chịu và tồi tệ, bản năng lập tức của trẻ là trục xuất nó ra thế giới bên ngoài. Meltzer gọi nửa sau của vị thế hoảng tưởng - phân liệt này là “phân tách và đồng hóa phóng chiếu” (splitting-and-projective identification).


Rủi ro trong tình huống này, dĩ nhiên, là những thứ tồi tệ sẽ quay trở lại tấn công bạn, và điều đó tương đương với một nỗi lo âu hoảng tưởng (paranoid anxiety - lo âu bị bức hại). Như vậy, chúng ta có một tình huống mà đứa trẻ đang phân tách thế giới của mình, và từ ngữ chúng ta có thể dùng cho trạng thái bị chia cắt này là “phân liệt” (schizoid). Nỗi lo âu rằng những thứ tồi tệ bị phân tách có thể quay lại tấn công ta có thể được gọi là “hoang tưởng” (paranoid). Vì vậy, chúng ta có thể gọi nhiệm vụ đầu tiên của trẻ sơ sinh là “vị thế phân liệt - hoang tưởng”, sử dụng niên đại của hai nhiệm vụ để khiến chúng tuân theo một trình tự logic.


Klein có lẽ nên sử dụng cái tên đó, và tôi chỉ có thể suy đoán lý do tại sao bà không làm vậy. Tôi nghĩ mấu chốt có thể là do một nhà phân tâm học ở Scotland tên là Ronald Fairbairn đã đặt ra thuật ngữ “vị thế phân liệt” (schizoid position) trước đó, và nếu bà sử dụng từ phân liệt để đặt tên cho quá trình này, bà sẽ phải nhường “quyền tác giả đầu tiên” cho ông. Nếu bà đảo từ “hoang tưởng” lên trước một cách phi logic, bà có thể sở hữu thuật ngữ này.


Dù sao đi nữa, nhiệm vụ đầu tiên của “phân tách và lý tưởng hóa” này – vốn nhất thiết bao gồm việc tống khứ trải nghiệm tồi tệ không mong muốn bằng cách “phân tách và đồng hóa phóng chiếu” – chính là ý nghĩa của thuật ngữ do Klein đặt ra: “Vị thế Hoang tưởng - Phân liệt” (Paranoid-Schizoid Position).


Một thế giới của các đối tượng tốt và xấu:


Với nguyên lý tổ chức này, đứa trẻ chia thế giới thành một bên là những gì đáng khao khát, mang lại khoái cảm, tốt đẹp và tạo ra một thế giới thứ hai nơi mọi thứ không đáng mong đợi, đau đớn và tồi tệ. Điều này có nghĩa là sự thất vọng của chính trẻ và phần bản thân có khả năng chịu đựng sự thất vọng đó bị thanh trừng, cùng với phiên bản người mẹ gắn liền với sự thất vọng đó. Hai vũ trụ riêng biệt được tạo ra. Đây là một thế giới bị chia rẽ cao độ, hoàn toàn đối lập với một thế giới tích hợp.


Trẻ sơ sinh càng có nhiều lo âu rằng cái xấu sẽ tràn ngập và hủy hoại cái tốt, thì hai thế giới càng phải được giữ cách xa nhau một cách rộng hơn và cứng nhắc hơn. Có một nguyên lý bất dịch là: bất kỳ ai có nhu cầu lý tưởng hóa mọi thứ trong cuộc sống đều đang chiến đấu với một nỗi lo âu vô thức rằng họ sẽ không thể giữ chặt lấy những điều tốt đẹp trong đời. Đây là một khiếm khuyết nghiêm trọng trong cuộc sống vì nó tạo ra những ranh giới cứng nhắc, phi thực tế – thứ vốn là sản phẩm của định kiến hơn là sự kiểm định thực tế đúng đắn. Nó cũng kéo theo nhiều hệ lụy phức tạp khác.


(Nói thêm một chút, cũng cần lưu ý rằng việc diễn giải sự lý tưởng hóa như một phần cần thiết mang tính phát triển của thời sơ sinh đầu đời, nhưng về bản chất là một cơ chế phòng vệ, hoàn toàn mâu thuẫn với ý tưởng phát triển của nhà phân tâm học người Mỹ gốc Áo Heinz Kohut, người cho rằng lý tưởng hóa là một phần bình thường kéo dài suốt đời của sự phát triển. Tôi không đủ kiến thức về tình trạng hiện tại của lý thuyết đó để bàn về vị thế của nó trong self-psychology).


Một hệ thống giá trị của “Lợi ích cá nhân”:


Đây là một thế giới cứng nhắc, lý tưởng hóa và bị chi phối bởi lợi ích cá nhân của chính đứa trẻ. Đây là một nhiệm vụ và giai đoạn phát triển cần thiết. Nó phù hợp với lứa tuổi và đi theo chức năng vỏ não còn hạn chế tồn tại trong những tháng đầu đời sau khi sinh. Nhưng nó tạo ra một thế giới sẽ không thể duy trì được khi não bộ phát triển và người ta nhận ra rằng mình không hề có hai người mẹ – một tốt và một xấu – mà chỉ có duy nhất một người mẹ mà ta có thể có những cảm xúc trái ngược nhau cùng một lúc.


Klein quan sát thấy thế giới cứng nhắc này dường như nhường chỗ một cách tự nhiên cho sự phát triển khi trẻ tiến dần đến giữa năm đầu đời. Về mặt lâm sàng, tôi thấy hữu ích khi hình dung rằng các năng lực tâm trí và vỏ não cần thiết cho vị thế trầm cảm dường như phát triển sau tháng thứ tư hoặc thứ năm sau khi sinh. Điều này tương ứng với giai đoạn “nở vỏ” (hatching) ra khỏi khía cạnh “cộng sinh” (symbiotic) của quá trình “chia tách - cá nhân hóa” (separation-individuation) theo nhà lý thuyết phát triển người Mỹ Margaret Mahler.


Bởi vì giai đoạn này cần thiết và đáng mong đợi về mặt phát triển, chúng ta nên coi nó là một giai đoạn của lòng vị kỷ “lành mạnh”. Nếu thái độ “vì bản thân mà gây tổn hại cho người khác” đó tiếp tục kéo dài suốt cuộc đời, chúng ta sẽ gọi đó là ái kỷ bệnh lý (pathological narcissism). Trong tình huống đó, lợi ích cá nhân phù hợp với sự phát triển đã thất bại trong việc nhường chỗ cho một hệ thống giá trị trưởng thành hơn – nơi vừa có vị kỷ lành mạnh, vừa có năng lực phát triển niềm bận tâm đến hạnh phúc của người khác.


Tại sao lại là “Vị thế” Áp thị - Phân liệt?


Khi Klein mô tả ban đầu về các vị thế hoang tưởng - phân liệt và trầm cảm, bà đã chủ ý không gọi chúng là các “giai đoạn” (phases). Bà muốn chúng được nhìn nhận vừa như các nấc thang phát triển, vừa như các tâm thế được cấu thành từ một tập hợp các thái độ. Suy nghĩ của bà là ở bất kỳ độ tuổi nào, một người đều có thể bị chi phối ở mức độ nhiều hay ít bởi các thái độ và hành vi bắt nguồn từ một trong hai vị thế này.


Điều này tiềm ẩn mối liên quan lâm sàng rất lớn vì vị thế có mức độ tích hợp thấp hơn có thể được quay trở lại khi những nỗi đau của vị thế trầm cảm tích hợp hơn trở nên quá lớn (ví dụ: một tình huống tội lỗi không thể chịu đựng được). Mặt khác, việc thất bại trong việc trưởng thành để bước vào vị thế trầm cảm, với năng lực biết bận tâm đến người khác, sẽ để lại một cá nhân ích kỷ cứng nhắc và về cơ bản là mắc chứng ái kỷ đầy bất ổn.


Trong những thời điểm căng thẳng, tôi tin Klein đã hình dung rằng các cá nhân ở bất kỳ độ tuổi nào cũng có thể “thoái lùi” (regress) trở lại vị thế áp thị - phân liệt. Tôi nghĩ có những mô hình tốt hơn để hiểu những gì người ta nhìn thấy ở một sự thoái lùi phát triển muộn hơn, thay vì mô tả nó như một sự quay trở lại vị thế áp thị - phân liệt. Tôi sẽ nói rõ hơn về điều đó ở cuối phần tiếp theo về Vị thế Trầm cảm và bàn chi tiết trong phần “Phòng vệ hưng cảm”.


Tóm tắt:


Chúng ta có một giai đoạn bình thường và cần thiết về mặt phát triển, trong đó tâm thế vị kỷ, với nhiệm vụ mang lại trật tự cho thế giới của mình, chi phối đứa trẻ trong bốn đến sáu tháng đầu đời. Điều này dần nhường chỗ cho một niềm bận tâm cân bằng hơn cho cả bản thân và người khác. Để đạt được trật tự cho thế giới của mình, đứa trẻ cố gắng tách biệt trải nghiệm khoái cảm/tốt đẹp khỏi trải nghiệm khó chịu/tồi tệ. Cái tốt được giữ lại và cái xấu được phóng chiếu vào thế giới bên ngoài, điều này đại diện cho yếu tố phân tách hay “phân liệt” (schizoid) trong tên gọi. Kết quả là đứa trẻ tưởng tượng ra hai thế giới song song, một thế giới được thanh lọc đến mức “lý tưởng” và thế giới còn lại thì “hoàn toàn xấu”. Cả bản thân và đối tượng đều bị chia cắt theo cách này một cách song song. Vì cái xấu được cảm nhận là ở bên ngoài bản thân, nó có thể quay lại làm tổn thương trẻ, nên toàn bộ quá trình này có xu hướng đồng thời vừa tạo ra trật tự, vừa tạo ra những nỗi lo âu áp thị về việc cái xấu quay trở lại để trả đũa.


Hệ thống giá trị trưởng thành về Niềm bận tâm dành cho Người khác: Vị thế Trầm cảm


Giới thiệu:


Melanie Klein đã trải qua một cuộc đời nhiều cơ cực về nhiều mặt. Bà mất chị gái năm lên bốn, mất cha năm mười tám tuổi, và mất anh trai ngay sau đó không lâu. Klein cũng có một mối quan hệ không mấy êm đẹp với mẹ mình. Bà từng yêu thương tất cả những người thân đã khuất này. Khi bước vào độ tuổi năm mươi, bà lại mất đi con trai trong một tai nạn leo núi, và rất có thể đã phải đấu tranh với chứng trầm cảm; sau đó, bà đã viết hai bài luận kinh điển về sự tang chế và các trạng thái hưng-trầm cảm.


Tôi có ấn tượng rằng chính những suy tư của cá nhân bà về những mất mát này cùng phản ứng của bà trước chúng đã giúp bà nhận ra: sinh thể người khó khăn đến nhường nào trong việc dung nạp cảm xúc yêu thương và sự bất định mong manh về việc liệu đối tượng mình yêu thương có tiếp tục sống hay không. Do đó, những nỗi lo âu đi kèm với sự chia ly và mất mát, khi cộng thêm nỗi đau của sự đố kỵ, ghen tị và cảm giác tội lỗi, đã khiến cho việc phát triển và duy trì năng lực yêu thương trở thành một nỗ lực thực sự.


Vậy ngay từ đầu, làm thế nào để chúng ta phát triển được năng lực yêu thương? Nếu chúng ta cứ mãi ở trong các trạng thái tâm trí lý tưởng hóa vốn tràn ngập trong vị thế phân liệt - hoang tưởng, chúng ta có thể né tránh được cảm giác tội lỗi, bởi vì chúng ta không cần phải bận tâm đến việc mình đối xử tệ bạc với một đối tượng xấu – kẻ đáng phải chịu mọi bất hạnh do chúng ta gây ra. Chúng ta cũng có thể dành tình yêu cho đối tượng lý tưởng miễn là nó đáp ứng được các nhu cầu của ta và không biến thành đối tượng xấu. Nhưng đó sẽ là một thế giới của lợi ích cá nhân và lòng ái kỷ, và bất kỳ tình yêu nào tồn tại khi đó cũng sẽ thuộc kiểu “thương mại” mang tính trẻ con: tôi làm điều gì đó cho bạn và kỳ vọng nhận lại một thứ có giá trị tương đương hoặc lớn hơn.


Điều Klein quan sát được là trẻ sơ sinh dường như trải qua một sự thay đổi vào khoảng giữa năm đầu đời. Chúng bắt đầu thể hiện năng lực biết bận tâm đến hạnh phúc của người khác chứ không chỉ nghĩ cho riêng mình. Bước phát triển tiến hóa này trong đời sống của trẻ sơ sinh dường như song hành với nhận thức ngày càng rõ nét của trẻ rằng: người mẹ mà nó yêu thương khi cảm thấy nhu cầu được đáp ứng, cũng chính là người mẹ mà nó căm ghét khi bị thất vọng, v.v.


Điều này dẫn đến một sự thức tỉnh rằng những cảm giác căm ghét vốn nhằm mục đích hủy hoại hoặc xua đuổi người mẹ xấu xa, gây thất vọng kia, thực chất lại đang đồng thời gây tổn hại cho người mẹ tốt đẹp mà nó yêu thương. Điều này gây ra nỗi sợ hãi mất mát cùng cảm giác tội lỗi, và thôi thúc một khao khát được khôi phục mối quan hệ yêu thương với người mẹ tốt, được yêu kính. Klein đã mô tả tuyệt đẹp tình huống này trong bài viết năm 1929 “Các tình huống lo âu thời thơ ấu được phản chiếu trong một tác phẩm nghệ thuật và trong xung năng sáng tạo”, sử dụng một vở nhạc kịch ngắn của Maurice Ravel để làm nổi bật các trạng thái tâm trí này.


Các điểm cốt lõi trong Hệ thống giá trị mới của Trẻ sơ sinh:


1. Định hướng phát triển mới này được mở ra nhờ các năng lực phát triển về giải phẫu thần kinh, đồng thời được đáp ứng bởi một sự chu cấp môi trường đủ tốt (theo thuật ngữ của Donald Winnicott). Nghĩa là thời điểm diễn ra của nó gắn liền với sự gia tăng năng lực của vỏ não, đặc biệt là thùy trước trán, trong việc kết nối các trải nghiệm rời rạc lại với nhau theo một cách ngày càng phức tạp và có tổ chức hơn.


Tuy nhiên, một số trẻ sơ sinh không bao giờ đạt được mức độ tích hợp này, do đó sự phát triển giải phẫu thần kinh tự thân nó là chưa đủ. Những trẻ sống trong một môi trường bất ổn hơn, bao gồm sự thiếu thốn và/hoặc tổn thương kéo dài, sẽ ở lại lâu hơn trong phương thức vận hành phân liệt - hoang tưởng. Đối với phương thức này, chúng bổ sung thêm các cơ chế phòng vệ hưng cảm vốn có thể được phát triển và sử dụng để đối phó với nỗi đau tâm trí nhờ vào các năng lực não bộ đang phát triển.


2. Vị thế Trầm cảm của Klein đại diện cho những thái độ tiến bộ và đáng mong ước nhất về các mối quan hệ nhân sinh mà sinh thể người có thể đạt được. Tuy nhiên, chúng có thể được hoàn thiện và gạn lọc tinh tế hơn theo tuổi tác và kinh nghiệm. Nói một cách đơn giản, điều này có nghĩa là chăm sóc người khác tốt như chính mình, và ước ao được đền bù, sửa chữa khi mình gây tổn hại cho người khác.


Vấn đề thực sự là cuộc sống con người rất phức tạp. Việc học hỏi và phát triển mạng lưới thần kinh liên tục không làm tăng năng lực yêu thương của đứa trẻ. Thay vào đó, nó nâng cao năng lực đối phó với những nỗi đau cảm xúc đi liền với tình yêu, đáng chú ý nhất là sự ghen tị và cảm giác tội lỗi. Thực ra, nếu suy ngẫm kỹ, các kỹ năng ngôn ngữ ngày càng tăng, v.v. chỉ làm tăng khả năng nói dối và bóp méo với chính mình về những gì mình cảm thấy hoặc đã làm. Như Wilfred Bion đã có câu nói nổi tiếng, và tôi xin phép diễn ý lại: “Ngôn ngữ phù hợp cho việc nói dối hơn là phơi bày sự thật.”


3. Tất cả con người sẽ đều là những kẻ dã man nếu không có vị thế trầm cảm. Đó là vì vị thế trầm cảm kích hoạt một cảm xúc duy nhất ngăn loài người trở nên mọi rợ – CẢM GIÁC TỘI LỖI! Tôi luôn đồng tình với câu nói hài hước rằng “con người văn minh” là một từ tự mâu thuẫn (oxymoron).


Ngờ đâu, như chúng ta sẽ thấy khi bàn về các cơ chế phòng vệ hưng cảm chống lại nỗi lo âu trầm cảm, con người sử dụng năng lực não bộ phi thường của mình cho việc né tránh nỗi đau tâm trí nhiều hơn là đối diện với nỗi đau nhằm xử lý nó một cách có tính xây dựng. Nỗi sợ bị trừng phạt bởi pháp luật và cảm giác tội lỗi thực sự là hai thứ duy nhất giữ cho phần trẻ con trong chúng ta không nổi loạn làm càn.


Như bạn có thể thấy, chúng ta không thể nhấn mạnh đủ tầm quan trọng của bước đi này trong sự phát triển của trẻ sơ sinh, và việc cảm giác tội lỗi – khi không quá mức và không đến mức không thể chịu đựng được – là động lực quý giá nhất cho sự phát triển có tính xây dựng như thế nào, bởi vì nó gắn liền với tình yêu. Tôi luôn ngạc nhiên khi nghe ai đó nói rằng tội lỗi là một cảm xúc xấu – sai lầm! Cảm giác tội lỗi phi lý, tội lỗi quá mức, tội lỗi đặt sai chỗ, v.v. đều là những vấn đề bất ổn, nhưng bản thân cảm giác tội lỗi lại rất đáng trân quý ở chỗ nó kích hoạt khao khát được chăm sóc ai đó mà chúng ta đã làm tổn thương.


4. Việc sửa chữa, hàn gắn (repair) đúng nghĩa cho một người mà chúng ta đã gây tổn thương đòi hỏi ba điều cơ bản:


  • 1) Tự nhận thức và/hoặc chịu trách nhiệm về việc hành vi của chính mình đã gây tổn thương cho bên bị hại.

  • 2) Thừa nhận toàn bộ mức độ của tổn thương và tác động của nó đối với người bị hại.

  • 3) Nỗ lực hết sức để khôi phục hoàn toàn cho bên bị hại, nếu có thể, trở về trạng thái trước khi bị tổn thương.

5. Trong tài liệu của trường phái Klein, người ta thường xuyên thấy nhắc đến “những nỗi lo âu trầm cảm” (depressive anxieties). Về cơ bản, đây là sự ám chỉ đến vị thế trầm cảm và ngầm hiểu rằng, trong bất kỳ bối cảnh nào được đưa ra, người đó tại thời điểm đó đang bận tâm đến hạnh phúc của đối tượng tốt của mình và sợ hãi việc mất đi hoặc gây tổn hại cho đối tượng đó. Những nỗi lo âu trầm cảm nằm trong phạm vi của sức khỏe tâm thần, và việc nhắc đến chúng thường ngầm ý một niềm bận tâm về việc gìn giữ sự hài hòa nội tâm và sức khỏe tâm trí.


Những yếu tố này tạo nên điều mà Klein muốn nói qua thuật ngữ “sự hàn gắn” (reparation). Chính sự nhận thức về tình yêu của một người dành cho đối tượng đã khiến cho khao khát sửa chữa trở nên vô cùng mạnh mẽ. Chính tình yêu này – và cảm giác tội lỗi mà nó có thể kích hoạt – sẽ bị tấn công bởi “các cơ chế phòng vệ hưng cảm” chống lại nỗi lo âu và niềm bận tâm trầm cảm.


Sự gián đoạn trong phát triển Vị thế Trầm cảm:


Có một vài điểm cần được làm rõ ở đây:


1. Nỗi đau tâm trí quá mức thời sơ sinh sẽ làm quá tải năng lực chịu đựng và cố gắng điều chỉnh nỗi đau đó của trẻ. Đứa trẻ bị thôi thúc bởi sự quá tải này để né tránh nỗi đau hoàn toàn, điều này làm suy yếu sự phát triển vì nó ép buộc một sự sử dụng quá mức các thao tác toàn năng (omnipotent maneuvers) để ứng phó, thường dưới dạng phủ nhận và phóng chiếu. Theo định nghĩa, các thao tác này không tương thích với những thái độ của vị thế trầm cảm, nơi người ta đang tự nhận trách nhiệm hoàn toàn về nỗi đau tâm trí của mình.


2. Về mặt lý thuyết, việc phát triển có thể thất bại trong việc trưởng thành vượt thoát khỏi vị thế phân liệt - hoang tưởng. Điều này ngầm ý rằng tư duy của đứa trẻ vẫn mang tính cụ thể, có xu hướng sống trong một vũ trụ trắng đen rạch ròi nơi những sắc xám không được thừa nhận, dựa dẫm quá mức vào các quá trình phóng chiếu, v.v. Rõ ràng, đây là thế giới của lối tư duy hạn hẹp vốn rất phổ biến trong định kiến và lòng cuồng tín.


Vì vậy, mặc dù chúng ta có thể thấy các yếu tố của vị thế phân liệt - hoang tưởng, nhưng nó không thực sự giống với tình huống phát triển bình thường ban đầu. Lý do quan trọng nhất cho sự khác biệt này là sự phát triển não bộ tiếp diễn sau vài tháng đầu đời. Đứa trẻ không còn bị giới hạn nhiều trong nhận thức về thực tại bên ngoài nữa. Nó không phải đơn thuần đối diện với nỗi đau của sự tổn hại hay hoàn toàn chạy trốn khỏi nó.


Đứa trẻ, với nhận thức ngày càng tăng về thực tại bên ngoài, giờ đây có thể sử dụng một loạt các thao tác và mánh khóe để tránh trải nghiệm trọn vẹn cảm giác tội lỗi – từ đó mở ra vũ trụ của “các cơ chế phòng vệ hưng cảm”.


3. Có một giả định hữu ích là sự thoái lùi trở lại vị thế phân liệt - hoang tưởng không diễn ra sau giữa năm đầu đời. Nó thực chất là một sự tiến dịch (progression) rời xa các nỗi đau của vị thế trầm cảm để đi vào vũ trụ của các phòng vệ hưng cảm.


Bion nổi tiếng với các biểu đồ theo phong cách phương trình đại số, một trong những biểu đồ quen thuộc nhất là chữ “PS” in hoa và chữ “D” in hoa với các mũi tên đi theo cả hai hướng giữa chúng. Điều này thường được diễn giải là đại diện cho một nhân cách con người đi qua đi lại, trong sự tiến dịch và thoái lùi, giữa vị thế phân liệt - hoang tưởng và vị thế trầm cảm.


Không rõ liệu Bion có thực sự muốn nó được hiểu theo nghĩa đen như vậy hay không, hay ông muốn nói rằng con người đi qua đi lại giữa việc đối diện với thực tại bằng một thái độ đôi khi bận tâm chăm sóc, và chạy trốn khỏi thực tại bằng các thao tác toàn năng mang tính phép thuật vào những lúc khác. Dù sao thì, tôi tin rằng một biểu đồ hữu ích hơn sẽ bao gồm chữ “MD” (Phòng vệ hưng cảm - Manic Defenses) in hoa và chữ “D” in hoa với các mũi tên đi theo cả hai hướng. Điều này phản ánh chính xác hơn những gì xảy ra trong từng khoảnh khắc với con người trong cuộc sống hàng ngày của họ.


Trong một khoảnh khắc khi nỗi đau tâm trí trở nên lớn hơn mức một cá nhân có thể hoặc sẵn lòng chịu đựng, các thao tác phòng vệ sẽ can thiệp để giải quyết tình huống theo một cách toàn năng mang tính phép thuật. Đối với nỗi đau của cảm giác tội lỗi, các thao tác này thường được rút ra từ kho vũ khí của các thao tác “hưng cảm” kinh điển.


Như chúng ta sẽ thấy sau này, chúng sẽ bao gồm các sự sửa chữa giả tạo đối với đối tượng bị tổn hại mà không tự nhận trách nhiệm cảm xúc đúng nghĩa đối với tổn hại đã gây ra, nhằm né tránh một trải nghiệm trọn vẹn về cảm giác tội lỗi. Klein đã đặt cho điều này một cái tên rất phù hợp là “sự hàn gắn hưng cảm” (manic reparation). Các thao tác này bao gồm một nhóm thái độ kinh điển đối với đối tượng ban đầu nhằm mục đích tránh niềm bận tâm trầm cảm đối với hạnh phúc của đối tượng và “những nỗi lo âu trầm cảm” đi kèm. Nhóm thái độ này được đúc kết thành bộ ba phòng vệ hưng cảm kinh điển: “Khinh miệt, kiểm soát và chiến thắng” (Contempt, control, and triumph).


Mặc dù tôi sẽ chưa đi sâu vào chi tiết ngay lúc này, các thao tác phòng vệ này đều liên quan đến một sự biến đổi trong mối quan hệ cảm xúc và thực tế của một người đối với thực tại bên ngoài và thực tại tâm trí nhằm phủ nhận các cảm xúc của vị thế trầm cảm. Chúng ta có thể đưa ra một mô tả ngắn gọn cho điều này bằng cách nói rằng “các cơ chế phòng vệ hưng cảm chủ yếu nhằm vào sự phủ nhận thực tại tâm trí.” (Lưu ý: Xem phần Phòng vệ hưng cảm ở phần tiếp theo).


Tóm tắt về Vị thế Trầm cảm:


Sự tăng trưởng về cảm xúc và giải phẫu thần kinh của trẻ sơ sinh, khi bước vào giữa năm đầu đời, đã mở ra một sự thay đổi cực kỳ quan trọng ở trẻ. Trẻ tiến dịch từ một hệ thống giá trị của “lợi ích cá nhân” sang một hệ thống giá trị mà giờ đây bao hàm thêm một phần tương đương của “niềm bận tâm dành cho người khác”. Điều này dựa trên tình yêu của trẻ dành cho các đối tượng ban đầu của mình.


Khi nhận ra rằng mình chỉ có một người mẹ – chứ không phải hai người riêng biệt (tức tốt và xấu), và người mà nó yêu thương cũng chính là người mà nó căm ghét và mong điều tồi tệ xảy đến khi tức giận và thất vọng, đứa trẻ liền phát triển một thái độ mới. Điều này dựa trên cảm giác đau đớn nhưng lành mạnh của “cảm giác tội lỗi” vì đã làm tổn hại đối tượng yêu thương của mình. Điều này mở ra một loạt “những nỗi lo âu trầm cảm” mới, bên cạnh cảm giác tội lỗi, xoay quanh nỗi sợ hãi mất đi đối tượng yêu thương. Khi kết hợp lại, chúng dẫn dắt đứa trẻ ước ao được sửa chữa tổn hại đã gây ra và khôi phục đối tượng của mình trở về trạng thái tốt đẹp, chưa bị tổn hại trước đó. Klein gọi động lực sửa chữa này bằng thuật ngữ “sự hàn gắn” (reparation).


Khi đứa trẻ tiếp tục tiến trình phát triển của mình, nó bổ sung vào kho vũ khí các thao tác giúp phòng vệ chống lại nỗi đau tâm trí. Chúng bao gồm các thao tác phòng vệ mới quan trọng chống lại các cảm xúc đặc biệt đau đớn của nỗi sợ mất đi đối tượng yêu thương và của cảm giác tội lỗi, cả hai đều có vai trò trung tâm trong vị thế trầm cảm. Klein gọi tập hợp các thao tác này bằng thuật ngữ “các cơ chế phòng vệ hưng cảm”.


Các cơ chế phòng vệ hưng cảm lấy dấu ấn đặc trưng là sự phủ nhận thực tại tâm trí và bao gồm một bộ ba thao tác: “Khinh miệt, kiểm soát và chiến thắng”. Đồng thời, các cơ chế phòng vệ hưng cảm bao gồm một phiên bản hàn gắn giả tạo vốn né tránh cảm giác tội lỗi và do đó được gọi là “sự hàn gắn hưng cảm”.



 
 
 

Bình luận


bottom of page