top of page

Đối mặt với con rồng: Đấu tranh chống lại sự kiêu ngạo cá nhân và tâm linh



CHƯƠNG 2: MÔ HÌNH NGUYÊN MẪU CỦA CUỘC CHIẾN TÂM LINH


Khao khát thực hiện một điều điên rồ luôn đeo đuổi ta suốt cuộc đời. Có ai đứng cùng người khác bên bờ vực thẳm hay trên đỉnh tháp cao mà chưa từng bất chợt nảy ra ý nghĩ muốn đẩy kẻ kia xuống? Và tại sao ta lại làm tổn thương những người ta yêu thương, dù biết rằng hối hận sẽ bám theo sau? Toàn bộ sự tồn tại của con người chẳng qua chỉ là một cuộc chiến chống lại những thế lực tăm tối bên trong chính mình.


Sống là chiến đấu với yêu quỷ trong tim và trong hồn. Viết là tự ngồi vào chiếc ghế xét xử chính mình.


Henrik Ibsen


Khi đối mặt với cái ác, chúng ta bước vào lãnh địa của cuộc chiến tâm linh — một trong những chủ đề nguyên mẫu (archetypal themes) mạnh mẽ nhất trong lịch sử nhân loại. Sau vài lời nói về mối quan tâm của cá nhân tôi đối với chủ đề này, phần thảo luận dưới đây sẽ điểm lại một số hình ảnh từ nhiều truyền thống tôn giáo khác nhau, rồi từ đó xem xét động lực tâm lý (psychodynamics) ở các khía cạnh của cuộc chiến tâm linh.


Với tư cách là một nhà phân tích tâm lý học sâu (psychoanalyst) và là giáo sư về tâm lý học và tâm linh tại Chủng viện Thần học Chicago, mối bận tâm hàng đầu của tôi là tâm lý học và tôn giáo như những nguồn lực phục vụ cho quá trình hồi phục và chữa lành của con người. Suốt sự nghiệp của mình, tôi đã nghiên cứu lịch sử tôn giáo cũng như triết học so sánh từ cổ đại đến hiện đại. Vào giai đoạn bắt đầu trưởng thành về mặt trí tuệ, tôi đã trở thành một nhà tâm lý học theo trường phái Jung (Jungian), không phải vì tôi không biết gì khác, mà vì tôi quyết định rằng quan điểm của C.G. Jung là nền tảng tâm lý học đầy đủ và toàn diện nhất hiện có về con người. Ngày nay, tôi lại càng chắc chắn về điều đó hơn bao giờ hết.


Điều này không có nghĩa là người theo trường phái Jung không coi trọng các quan điểm khác, bởi họ có cách tiếp cận rất riêng trong việc đánh giá các trường phái và truyền thống tâm lý khác để tích hợp vào công việc của mình. Trong bối cảnh văn hóa và hành tinh hiện nay, quan điểm của Jung — theo đánh giá của tôi — là góc nhìn duy nhất có đủ quy mô toàn diện và độ phức tạp để giải quyết các vấn đề của con người theo một cách thức xuyên bộ tộc (pan-tribal) và hậu hiện đại. Tư tưởng của Jung sở hữu những tài nguyên tuyệt vời cho một đời sống tâm linh thực sự mang tính nhân văn và một phương pháp tiếp cận bao hàm toàn thể loài người đối với cả tâm trí (psyche) lẫn cộng đồng nhân loại. Thành thực mà nói, lối suy nghĩ của Jung về các vấn đề cá nhân lẫn xã hội là một trong số ít nguồn tài nguyên hiếm hoi hiện nay mang lại hy vọng thoát khỏi tình cảnh chính trị, văn hóa và toàn cầu đầy đáng sợ hiện tại — một tình cảnh vốn đang bị kích động bởi sự thiếu nhận thức về các động lực nguyên mẫu mà chúng ta đang cùng xem xét ở đây.


Do đó, dù bản thân là một giáo sư, tôi không coi chủ đề này chỉ đơn thuần mang tính học thuật. Nó có ý nghĩa tối quan trọng đối với chúng ta vì nhiều lý do. Một trong số đó — và hoàn toàn không kém phần quan trọng — là chỉ bằng cách nghiên cứu nguyên mẫu của cuộc chiến tâm linh, chúng ta mới có thể thực sự hiểu được sức mạnh của thiên hướng chiến tranh ở con người, cũng như những hàm ý tâm linh và đạo đức của bản năng đó (và tôi thực sự muốn dùng từ "bản năng"). Điều này rất quan trọng ở cấp độ xã hội - chính trị, và chúng ta cần nhìn nhận nó một cách sâu sắc.


Một khi bạn bắt đầu đối mặt và ứng phó với các năng lượng rồng trong cuộc sống của mình, bạn phải nghiêm túc nhìn nhận nguyên mẫu của cuộc chiến tâm linh cùng các tài nguyên tâm lý xung quanh nó. Nếu không có chút nhận thức nào về cuộc chiến đang diễn ra bên trong nội tâm ở cấp độ tâm lý, bạn sẽ ít có khả năng làm những gì cần thiết để giải phóng bản thân khỏi những điều đang kéo bạn xuống, giam cầm bạn và bóp nghẹt cuộc sống của bạn. Vì vậy, việc nghiên cứu nguyên mẫu của cuộc chiến tâm linh là điều quan trọng ở cả cấp độ xã hội lẫn cá nhân.


Chúng ta sẽ suy ngẫm về cuộc chiến tâm linh này trong bối cảnh hiểu biết của trường phái Jung về góc tối hay "bóng tối" (shadow) trong nhân cách con người. Chúng ta thường nói về "bóng tối" như một yếu tố trong sự phát triển của tâm trí cá nhân, nhưng phần thảo luận này sẽ xem xét một khía cạnh khác nữa: mối quan hệ giữa bóng tối cá nhân (personal shadow) và bóng tối nguyên mẫu (archetypal shadow).


CÁC TRUYỀN THỐNG TÔN GIÁO


Chúng ta bắt đầu bằng việc xem xét tôn giáo của các đạo sĩ (magi). Hỏa giáo (Zoroastrianism) là một trong những chủ đề thú vị nhất và ít được nghiên cứu nhất trong lĩnh vực lịch sử tôn giáo. Ngay cả những khoa nghiên cứu tôn giáo tốt nhất cũng hiếm khi có một khóa học về Hỏa giáo, vậy mà đó lại là một trong những truyền thống có ảnh hưởng lớn nhất, và nó vẫn còn sống động cho đến ngày nay. Nó là một truyền thống đang sống. Khi tôi ở Ấn Độ vào mùa hè năm ngoái, người Parsi — cách họ gọi những người theo Hỏa giáo ở Ấn Độ — hoạt động rất tích cực. Những "Tháp Im Lặng" (Towers of Silence) của họ, nơi họ phơi xác người chết cho kền kền rỉa sạch như cách họ diễn đạt, là một nét đặc trưng nổi bật trên khung cảnh của một số thành phố lớn ở Ấn Độ.


Để hiểu cách các truyền thống này tương tác với nhau, bạn có thể đã nghe nói rằng Hỏa giáo đã ảnh hưởng đến Do Thái giáo, Cuộn sách Biển Chết (Dead Sea Scrolls), và Kitô giáo sơ khai, đặc biệt là trong cách hình dung về một cuộc chiến tận thế vĩ đại giữa hai thực thể. Việc bạn gọi cả hai là thần hay không là tùy thuộc vào cách diễn giải, nhưng trong truyền thống Hỏa giáo, thực tại thần thánh được cấu thành từ hai thực thể, một thiện và một ác. Vị thần thiện là Ahura Mazda, một cái tên bắt nguồn từ những từ có liên quan đến ánh sáng. Đối thủ là Ahriman. Các nhánh truyền thống Hỏa giáo khác nhau có quan điểm khác nhau về kết cục cuối cùng của cuộc đấu tranh vũ trụ này.


Hỏa giáo coi cuộc chiến là liên tục diễn ra giữa Ahura Mazda, thần ánh sáng, và Ahriman, kẻ hoặc là một vị thần của cái ác và bóng tối, hoặc là một con quỷ vô cùng mạnh mẽ (daeva). Một số truyền thống đặt họ gần như ngang hàng về sức mạnh và cho rằng vị thần ác không bao giờ bị đánh bại, rằng cuộc đấu tranh cứ tiếp diễn mãi mãi. Các truyền thống khác lại gợi ý rằng vào thời khắc tận cùng của thời gian, Ahura Mazda sẽ đánh bại Ahriman, và cuộc chiến sẽ kết thúc với chiến thắng của cái thiện và ánh sáng trước cái ác và bóng tối. Bạn có thể thấy suy ngẫm về Đấng Cứu Thế trong Do Thái - Kitô giáo liên quan như thế nào đến điều này.


Người theo Hỏa giáo có cuộc đấu tranh mênh mông này. Họ nắm bắt được điều mà nhiều người Kitô giáo và Do Thái giáo sau này đã đánh mất: cảm nhận về sự đấu tranh tâm linh, hay tâm linh như một cuộc đấu tranh. Khi nghiên cứu về đời sống tâm linh ngày nay, bạn sẽ thấy nhiều vị gọi là "bậc thầy tâm linh" tự bán mình như những giáo chủ hướng tới sự bình yên. Không phải là hòa bình thế giới, mà là kiểu bình yên bảo bạn hãy thiền định và trở nên thư thái, tĩnh lặng. Kiểu bình yên này không có cảm nhận gì về tầm vóc to lớn của cuộc đấu tranh tâm linh ở con người. Nó dẫn dắt người ta đi sai đường, bởi vì về cơ bản, nó là một sự phủ nhận to lớn đối với những gì cần thiết để đạt tới quá trình cá nhân hóa (individuation).


Jung hiểu rõ hơn thế. Sự nhấn mạnh của ông giống như thế này: "Bạn không muốn đấu tranh? Vậy thì đừng bắt đầu bước vào con đường cá nhân hóa, bởi vì việc nỗ lực tiến tới sự cá nhân hóa sẽ là tất cả những gì bạn có thể gánh vác và thậm chí vượt quá khả năng của bạn." Nếu bạn không sẵn sàng đấu tranh, tốt nhất là bạn cứ để cho vỏ bọc nhân cách (persona) của mình thoái lùi phục hồi lại như cũ, cứ uống thuốc của bạn và quên nó đi, bởi vì đấu tranh mới là thực tại.


Khán giả: Một số nhóm Kitô giáo bảo thủ và nguyên thủy (fundamentalist), cùng một số nhóm có thể xếp vào dạng hệ phái, có ý niệm rõ ràng hơn về một cuộc chiến tâm linh nơi cái ác là một thế lực có thật.


Moore: Chính xác! Đó là một trong những điểm mạnh của họ, bởi vì bất kỳ ai không bị nhấn chìm bởi sự phủ nhận ồ ạt đều biết rằng đó là một cuộc đấu tranh. Những con người tỉnh thức và đang đối diện với cuộc sống của mình bằng con mắt không tô hồng đều biết rằng con người đang cuốn vào một cuộc đấu tranh to lớn. Họ có thể không có một nền giáo dục tốt hay một góc nhìn tâm lý học tinh vi, nhưng khi có ai đó đến với họ bằng những hình ảnh nắm bắt được cuộc đấu tranh trong trải nghiệm của con người, điều đó rất hấp dẫn đối với họ và nói lên trải nghiệm chân thực của họ.


Đó là lý do tại sao Hồi giáo lại có sức mạnh lớn như vậy ngày nay, bởi vì nó dựa trên khái niệm Jihad (tiếng Ả Rập có nghĩa là "nỗ lực" hoặc "đấu tranh"). Vấn đề với nó cũng chính là vấn đề mà những người Kitô giáo giáo điều gặp phải: hiện tượng chia tách (splitting). Bạn càng nguyên thủy và ở mức ranh giới (borderline) về mặt cảm xúc và phát triển, bạn càng có xu hướng chia tách các phần trong đời sống nội tâm của mình, điều đó có nghĩa là bạn sẽ có xu hướng đặt nhiều kẻ thù ra bên ngoài bản thân và nói: "Các người ở ngoài kia mới là vấn đề của tôi. Nếu không có các người, tôi đã chẳng có vấn đề gì."


Trong tất cả các chủ nghĩa giáo điều thuộc mọi tôn giáo, bạn càng mang tính giáo điều, bạn càng tham gia vào cơ chế tâm lý gọi là chia tách này, có nghĩa là: "Tôi tốt, còn bạn xấu. Chúng tôi là người của Chúa, còn các bạn là người của Satan. Chúng tôi là những người trung thành, còn các bạn là kẻ dị giáo." Sự chia tách tạo ra một tâm lý thập tự quân. Điều mang tính quỷ dữ ở các cuộc Thập tự quân là người Hồi giáo cũng vận hành từ cùng một kiểu vận hành nông cạn, thoái lùi của cấu hình nguyên mẫu này như người Kitô giáo. Vì vậy, bạn có những hiệp sĩ Hồi giáo dũng cảm, tuyệt vời chiến đấu với những hiệp sĩ Kitô giáo dũng cảm, tuyệt vời, giết hại lẫn nhau, tất cả đều dưới cùng một cấu hình nguyên mẫu.


Khán giả: Ông có nghĩ rằng đánh giá này về một tôn giáo nơi người ta chia tách mọi thứ sẽ được chứng minh qua kiểm tra tâm lý các cá nhân trong nhóm không? Ông dường như đang mô tả một điều gì đó khác với cách mà các nhóm đó tự mô tả, nhưng nếu ông kiểm tra họ ở cấp độ cá nhân thì sao?


Moore: Đó là một câu hỏi hay cho nghiên cứu khoa học thực nghiệm. Tôi đưa ra giả thuyết rằng bạn sẽ tìm thấy nhiều người được chẩn đoán là nhân cách ranh giới (borderline personalities) trong các nhóm giáo điều có cường độ cao hơn là trong các tổ chức tôn giáo khác sử dụng cách chẩn đoán tinh vi hơn. Tuy nhiên, về mặt thống kê, nó sẽ không phải là tỷ lệ một-đối-một, bởi vì hiện tượng chia tách này cũng xảy ra ở những người cấp tiến cực đoan. Đó chỉ là câu hỏi về việc ai sẽ là người hứng chịu sự chiếu phóng hình ảnh quỷ dữ (demon projection). Ronald Reagan và những người bảo thủ gánh điều đó cho phe tả, còn những người cấp tiến gánh điều đó cho những người giáo điều. Vì vậy, về mặt chẩn đoán tâm lý, cũng như diễn giải tâm linh, bạn phải xem xét tần suất người ta đặt kẻ thù của mình ra bên ngoài nhóm của họ.


Điều này không có nghĩa là nghi ngờ rằng những kẻ thù bằng xương bằng thịt không thực sự tồn tại "ở ngoài kia", nhưng kẻ thù cũng ở "trong này", bên trong mỗi người. Trong chừng mực bạn từ chối thừa nhận kẻ thù bên trong mình, về mặt cảm xúc, bạn phải chiếu nó ra nơi khác. Theo thuật ngữ của Jung, bạn từ chối thừa nhận: "Vâng, tôi có một bóng tối, và đó là một phần vấn đề của tôi, và đó là một phần vấn đề của bạn, và tôi đang cố gắng xử lý nó một cách tốt nhất có thể." Một trong những động lực ranh giới dẫn đến kết quả là bạn phải tống xuất sự xấu xa của mình lên người khác. Bạn có thể làm cả một nền tâm lý học về tính bộ tộc tôn giáo bằng cách nhìn vào những người phủ nhận sự xấu xa bên trong chính họ và cố gắng trút hết nó lên người khác. Đó là một trong những động lực then chốt trong cách thức nguyên mẫu của cuộc chiến tâm linh vận hành.


Tuy nhiên, như một số người theo trường phái Jung thường nói, sẽ là không đủ nếu cho rằng tất cả cái ác đều ở bên trong, và bất kỳ rắc rối nào tôi gặp với bạn chỉ là vì tôi có nó trong bóng tối của mình: "Nếu tôi có thể tích hợp bóng tối của mình thì tôi sẽ thấy bạn là một con người tuyệt vời, hoàn hảo, trọn vẹn." Điều đó cũng không đúng. Một vị thế như vậy nếu đẩy đến cực đoan sẽ gợi ý rằng nếu người Do Thái tích hợp bóng tối của họ vào cuối những năm ba mươi, thì Adolf Hitler sẽ giống như một anh chàng dễ thương. Điều đó không thể đúng được. Dù người dân trong các khu tập trung Do Thái (ghettoes) có tích hợp bóng tối Do Thái của họ đến đâu, Hitler vẫn là một thực tại khách quan ở ngoài kia trong thế giới thực đang tìm cách giết họ. Hãy nhớ câu nói đùa cũ: "Chỉ vì bạn hoang tưởng không có nghĩa là họ không săn đuổi bạn." Điều đó cũng đúng trong tâm lý học.


Khán giả: Một số nhóm như EST và Silva Mind Control hình như nói rằng: "Tất cả là ở thái độ của bạn," nhưng họ dường như không cân nhắc đến thực tế của những điều như nạn đói ở Ethiopia.


Moore: Đúng vậy. Đó là một ví dụ chính xác: toàn bộ ý tưởng cho rằng tất cả các vấn đề của thế giới chỉ ở trong bạn. Điều đó tất nhiên là không đúng. Tất cả các vấn đề của thế giới không chỉ ở trong bạn. Ý tưởng cho rằng các vấn đề của tôi đủ lớn để gây ra tất cả các vấn đề của thế giới thể hiện một sự ngông cuồng (grandiosity) tràn lan. Tất cả chúng ta đều có những ảo tưởng ngông cuồng về sự toàn năng của riêng mình, nhưng ảo tưởng đó thật vô lý!


Truyền thống Hỏa giáo tiếp cận điều mà triết học gọi là thuyết nhị nguyên (dualism): hai thực thể, một thuộc về ánh sáng và thiện lành, và một thuộc về bóng tối và cái ác. Khi nghiên cứu các truyền thống trên thế giới, thật kinh ngạc khi thấy mức độ mà bạn tìm thấy khái niệm này được hình dung ở khắp mọi nơi trong suốt lịch sử và trên toàn thế giới. Một số truyền thống không biến lực lượng đối lập thành một vị thần hoàn chỉnh, nhưng họ có thể khắc họa nó như một con rồng lớn hoặc một con quỷ rất mạnh.


Trong Do Thái giáo và nhiều truyền thống khác, ít nhấn mạnh hơn vào một đối thủ độc ác mang tầm vóc thần thánh. Kinh thánh Hebrew khắc họa Thiên Chúa Yahweh cố gắng mang lại điều thiện và sự công chính trên mặt đất, trong khi dân Israel thường không công chính, không trung thành với Yahweh, và không giữ phần ước cựu của họ, do đó thất bại trong sứ mệnh của mình. Đồng thời, người Canaan cũng làm nhiều điều không công chính trong mắt Yahweh, nhưng các truyền thống Cựu Ước không nâng họ lên hàng đối thủ thần thánh có nguồn gốc siêu việt trong một thực tại độc ác mang tính siêu hình nào đó.


Dù sao đi nữa, truyền thống Hebrew vẫn mang lại cho bạn cảm nhận về đời sống tôn giáo như một cuộc chiến tâm linh. Toàn bộ ý tưởng về việc chiếm lấy đất Israel từ những người chủ trước đó gắn liền với việc Thiên Chúa Yahweh dẫn dắt các tướng lĩnh chiến binh trần thế tuyệt vời của Ngài như Moses, Joshua, Deborah và David. Cuộc chiến đôi khi là chống lại những kẻ thù độc ác mang tính thần thoại như Leviathan hay Behemoth.


Để hiểu cách nguyên mẫu của cuộc chiến tâm linh vận hành trong Do Thái giáo, bạn phải bắt đầu với David và thấy tầm quan trọng của ông đối với đời sống tâm linh Do Thái. David là tướng lĩnh chiến binh nguyên mẫu dẫn dắt các đạo quân Israel vào trận chiến chống lại kẻ thù của Israel. Hình ảnh thời trẻ của David chiến đấu với Goliath, chẳng hạn, cho thấy cuộc chiến tâm linh ở dạng nguyên mẫu nhất của nó, nơi vị anh hùng nhỏ bé chạm trán một sinh vật độc ác to lớn, nhưng chiến thắng vì mang theo sự phước lành của thần thánh.


Nhiều truyền thống khác cũng có cùng môtíp về một vị anh hùng chiến đấu trong một trận chiến nguyên mẫu chống lại cái ác. Các anh hùng có thể không mạnh bằng những đối thủ độc ác của họ, nhưng với một trái tim đúng đắn, họ có thể nhận được sự trợ giúp ngay cả từ động vật và những cuộc chạm trán dường như ngẫu nhiên, cho họ một ưu thế quyết định để giành chiến thắng ở phút cuối.


Một số nhà nghiên cứu cho rằng từ Pharisee (Pharisêu) có liên quan đến từ Parsi, vốn chỉ những người Hỏa giáo Ba Tư đã chạy trốn sang Ấn Độ vào thế kỷ thứ tám để thoát khỏi sự đàn áp. Bằng chứng này có thể chỉ ra ảnh hưởng của Hỏa giáo đối với các truyền thống gắn liền với những người Pharisêu.


Các cuộn sách Biển Chết cũng có thể cho thấy ảnh hưởng của Hỏa giáo trong thời kỳ giữa hai Ước (intertestamental period), vì chủ đề lớn của chúng là cuộc chiến tâm linh. Nhóm người Do Thái mang tính giáo phái nhỏ này tin vào một cuộc chiến tâm linh vĩ đại. Họ tin rằng họ biết cuộc chiến sẽ xảy ra ở đâu, rằng Người Thầy Công Chính (Teacher of Righteousness) của chính họ sẽ dẫn dắt họ trong trận chiến, và rằng họ sẽ nhận được những trang bị cần thiết để giành chiến thắng vĩ đại trước các thế lực tăm tối. Họ không phải là người Kitô giáo, nhưng một số nhà nghiên cứu thấy những điểm tương đồng giữa cộng đồng của họ và các cộng đồng Kitô giáo sơ khai dạy về Chúa Jesus. Ý tưởng về một Người Thầy Công Chính sẽ đến và dẫn dắt cộng đồng đến chiến thắng trong một trận chiến cuối cùng vĩ đại dường như rất gần với những hình ảnh định hình trong một số văn bản Kitô giáo sơ khai xuất hiện vài năm sau đó.


Tài liệu này hiện có sẵn ở dạng sách bỏ túi, The Dead Sea Scriptures (Kinh sách Biển Chết), do Theodor Gaster biên tập (1964). Các đoạn tuyển chọn rất dễ đọc và thẳng thắn, và nhiều đoạn trong số đó là các văn bản cổ chưa từng được biết đến trước những năm 1950. Nhiều văn bản được bảo quản trong điều kiện tốt, và có thể còn những văn bản khác ngoài kia trên các ngọn đồi bên ngoài Jerusalem. Một người chăn cừu đã tìm thấy chúng trong các hũ gốm bên trong một hang động. Tài liệu trong đó thật kinh ngạc. Điểm tuyệt vời của nó đối với mục đích của chúng ta là bạn có thể đọc hình ảnh tận thế này dưới dạng nguyên bản, không bị suy chuyển: "Đây là trận chiến cuối cùng. Các thế lực kẻ thù đang tràn vào qua đằng kia. Chúng ta phải tổ chức theo cách này. Người Thầy Công Chính của chúng ta sẽ là tướng lĩnh của chúng ta." Nó vạch ra sự tổ chức của quân đội và tất cả những điều tương tự. Đó là tài liệu tận thế thật kinh ngạc.²


Khán giả: Nghe giống như những người mang biểu đồ và bản đồ của họ ra và nói về Trận chiến Armageddon. Rất nhiều mục sư giáo điều nói về lần tái lâm thứ hai của Chúa Christ khi Ngài sẽ trở lại với một thanh gươm lớn và giành chiến thắng vĩ đại trước cái ác.


Moore: Vâng, nó tương tự như vậy. Họ đến từ cùng một truyền thống. Có một cấu hình nguyên mẫu đằng sau tất cả kiểu suy nghĩ đó. Nguyên mẫu của cuộc chiến tâm linh xử lý các hình ảnh tận thế về cuộc chiến cuối cùng. Armageddon là một trong những hình ảnh đến từ truyền thống đó từ sớm.


Khán giả: Ông đề cập đến các truyền thống nhị nguyên nhưng sau đó là hai thực thể thần thánh. Là một người được đào tạo về triết học, tôi có thể suy nghĩ theo thuật ngữ về một sự chia tách thực sự giữa hai thực tại, như tâm trí và thể xác, hoặc tinh thần và thể xác, nhưng không phải giữa hai thực tại thần thánh, bởi vì điều đó đặt tinh thần ở ngoài kia, chẳng hạn, và cái ác ở trong này, và đó chẳng phải cũng là chia tách sao? Đó chẳng phải là nơi nhiều vấn đề nảy sinh trong Kitô giáo sao?


Moore: Đó là quan điểm Manichean đến từ sự chia tách này. Một số truyền thống biến hai thế lực đối lập thành hai vị thần khác nhau, trong khi các truyền thống khác biến một trong số đó thành Thiên Chúa, và một trong số đó thành Satan, như trong một số truyền thống Kitô giáo.


Kitô giáo dạy gì về Lucifer? Trong các huyền thoại, Lucifer là vị thiên thần có thứ hạng cao nhất trong tất cả các thiên thần. Tác phẩm hay nhất về điều đó là bộ bốn tập về lịch sử văn hóa và trí tuệ của khái niệm về Satan của Jeffery Burton Russell, một nhà lịch sử tại Đại học California, và ông ngẫu nhiên cũng đánh giá cao tư tưởng của Jung. Đó là một phần thưởng thêm. Tập đầu tiên là The Devil: Perceptions of Evil from Antiquity to Primitive Christianity (Quỷ dữ: Những nhận thức về cái ác từ thời Cổ đại đến Kitô giáo Sơ khai, 1977); tập thứ hai là Satan: The Early Christian Tradition (Satan: Truyền thống Kitô giáo Sơ khai, 1981); tập thứ ba là Lucifer: The Devil in the Middle Ages (Lucifer: Quỷ dữ thời Trung Cổ, 1984); và tập thứ tư có tên là Mephistopheles: The Devil in the Modern World (Mephistopheles: Quỷ dữ trong Thế giới Hiện đại, 1986). Nhà xuất bản Đại học Cornell đã xuất bản cả bốn tập, vì vậy bạn có thể truy nguyên ý tưởng về sự chống đối Thiên Chúa từ đầu truyền thống Do Thái - Kitô giáo cho đến tận ngày nay.


Bạn học được từ tác phẩm của Russell rằng lịch sử truyền thống Kitô giáo có nhiều điều về cuộc chiến tâm linh hơn là những gì bạn nghe thấy trong các nhà thờ hiện đại. Bạn có thể tìm thấy nó trong tác phẩm The City of God (Thành phố của Thiên Chúa) của Augustine (354-430), tác phẩm bày ra tất cả: "Đã có một cuộc nổi dậy, và Lucifer đã kéo theo mình cả một cánh quân thuộc các thế lực thần thánh trung thành với hắn" (Augustine 1950). Hàng ngũ thiên thần thời trung cổ này không được giảng dạy ở hầu hết các chủng viện ngày nay, ngay cả các chủng viện Công giáo. Bạn có thể trở thành một linh mục Công giáo ngày nay mà không cần biết nhiều về hàng ngũ thiên thần thời trung cổ cũ.


Các văn bản thời trung cổ cho thấy một hệ thống thứ bậc làm việc trong cuộc nổi dậy, giống như bộ phim Star Wars (Chiến tranh giữa các vì sao, 1977, do George Lucas viết kịch bản và đạo diễn). Mỗi nhóm trong hai nhóm thế lực đều có một đối trọng từ trên xuống dưới. Trong suốt học thuyết về thiên thần thời trung cổ, bạn đã có kiểu bố trí này của cuộc chiến tâm linh. Trong cả các truyền thống Kitô giáo sơ khai này và Hồi giáo, mỗi người đều có một con quỷ được chỉ định. Tất cả chúng ta đều biết truyền thống dân gian rằng mọi người đều có một thiên thần trông chừng họ, nhưng bạn có biết rằng bạn cũng có con quỷ cá nhân của riêng mình được chỉ định cho bạn không?


C. S. Lewis đã làm một điều tương tự trong The Screwtape Letters (Thư của quỷ Screwtape, 1942). Bạn có một con quỷ được chỉ định cho bạn để xem liệu nó có thể phá hỏng cuộc sống của bạn không, và bạn cũng có một thiên thần cuộc sống được chỉ định để cố gắng chống lại con quỷ. Trong văn hóa đại chúng của chúng ta, diễn viên hài Flip Wilson có một tiết mục xoay quanh câu nói "con quỷ đã bắt tôi làm điều đó." Chúng ta cũng có nghệ thuật hoạt hình đại chúng cho thấy một con quỷ nhỏ và một thiên thần nhỏ thì thầm với nhân vật chính để bắt họ làm một điều gì đó. Chúng ta nói đùa về điều đó, nhưng đó không phải là trò đùa trong các truyền thống này. Họ rất nghiêm túc về điều đó.


Khán giả: Đối với tông đồ Paul trong các tác phẩm của ông chắc chắn, đó là một vấn đề về "các thế lực và quyền lực," và các thế lực tâm linh luôn tranh chấp, và về việc người Kitô giáo khoác lên mình bộ giáp tâm linh.


Moore: "Toàn bộ bộ giáp của Thiên Chúa" và "tấm che ngực của sự công chính" (xem Ê-phê-sô 6:10-17). Các bức thư của Paul đưa ra nhiều hình ảnh như thế này dưới dạng thuật ngữ quân sự. Nếu không có một số bối cảnh lịch sử và văn cảnh, bạn sẽ không có một chút ý niệm nào về những gì Paul muốn nói qua "các quyền lực và thế lực," rằng cuộc đấu tranh tận thế liên quan đến các thế lực siêu nhiên. Cuộc chiến tâm linh, nói cách khác, vẫn sẽ diễn ra trong vũ trụ ngay cả khi hoàn toàn không có con người nào trong đó. Nó mang tính vũ trụ và xảy ra ở mọi cấp độ.


Khán giả: Madeleine L'Engle trong các cuốn sách bộ bốn Time Quartet của bà có xử lý điều đó.


Moore: Hãy kể cho chúng tôi nghe về bà ấy. Bà ấy viết tiểu thuyết khoa học viễn tưởng, hay tiểu thuyết kỳ ảo?


Khán giả: Bà ấy rất khó xếp loại. Madeleine L'Engle là một nghệ sĩ lưu trú tại Nhà thờ Thánh John the Divine ở New York, và bà ấy đã viết những cuốn sách giống như sách cho trẻ em, nhưng các nhà xuất bản đã không nhận chúng trong một thời gian dài vì chúng dường như quá giống khoa học viễn tưởng hoặc kỳ ảo. Nó không hoàn toàn phù hợp với các danh mục của họ. Nó quá nâng cao đối với trẻ em, và quá thanh thiếu niên đối với người lớn. Bà ấy có một nhóm chiến đấu với các thế lực vũ trụ thay mặt cho điều thiện, trong khi nhóm kia, những kẻ Echthroids, là các thế lực độc ác đe dọa phá hỏng sự sáng tạo.³


Moore: Tiểu thuyết kỳ ảo và khoa học viễn tưởng là những nơi duy nhất bạn có được sự thể hiện mạnh mẽ về ý tưởng này ngày nay, ngoài các hình thức tôn giáo giáo điều như những người Hồi giáo cực đoan hay cánh hữu Kitô giáo.


Khán giả: Và trong các phim hoạt hình sáng Thứ Bảy.


Moore: Đúng vậy. Bạn có nó được thể hiện rõ ràng ở đó. Tôi cũng nghĩ về cách Tolkien và C. S. Lewis xử lý cuộc chiến tâm linh trong khi viết từ góc nhìn tận thế nguyên mẫu.⁴ Có rất nhiều phê bình văn học về kiểu tiểu thuyết anh hùng Kitô giáo này.


THUYẾT NGỘ ĐẠO (GNOSTICISM)


Khán giả: Thuyết Ngộ đạo có rơi vào nhóm này không?


Moore: Thuyết Ngộ đạo ở một số mặt tương tự như Manicheanism, nhưng nó không phải là một hiện tượng đơn lẻ. Thuyết Ngộ đạo là một chủ đề phức tạp. Nó dựa trên ý tưởng rằng có một tri thức bí truyền (esoteric knowledge) không được chia sẻ bởi tất cả mọi người. Tri thức bí truyền này tiết lộ bản chất và nội dung của cuộc đấu tranh đang diễn ra trên thế giới, và những gì cần thiết để xử lý nó. Thuật ngữ gnosis (tiếng Hy Lạp, "tri thức") có nghĩa là sự sở hữu tri thức mạc khải đặc biệt cần thiết cho sự cứu rỗi hoặc sự biến đổi của bạn. Ngược lại, những người không được nhập môn đi lại mà không có tri thức họ cần để biết về những gì thực sự đang diễn ra trên thế giới. Các tác phẩm của Paul có một ý tưởng tương tự, bởi vì ông nói về việc bắt đầu cho bạn một lượng nhỏ tri thức sơ cấp, nhưng không phải là thức ăn trưởng thành: "Bây giờ anh em là những đứa trẻ sơ sinh, nhưng khi anh em sẵn sàng, tôi có thể cho anh em thức ăn rắn hơn tương đương với sự hiểu biết huyền học nâng cao, và sau đó anh em sẽ có thể thấy điều này là về cái gì."


Truyền thống Kitô giáo chính thống đã tuyên bố Thuyết Ngộ đạo là một dị giáo phần lớn vì nó làm cho thể xác và thế giới trở thành tồi tệ, và đó là một dị giáo. Thần học chính thống coi Chúa Jesus vừa là thần thánh hoàn toàn vừa là con người hoàn toàn, điều đó có nghĩa là Ngài thực sự có một thể xác và Ngài thực sự đã chết. Những người Ngộ đạo đã cố gắng nói: "Không, Ngài không thực sự có một thể xác, hoặc nếu Ngài có một thể xác, thì Ngài không thực sự chết." Điều đó đến từ truyền thống Manichean vốn coi thể xác là tồi tệ. Nó đã ảnh hưởng đến Augustine và gây ra nhiều sự thù oán đối với tính dục và thể xác trong truyền thống Kitô giáo.


Chìa khóa của Thuyết Ngộ đạo không phải là nguyên mẫu của cuộc chiến tâm linh mà là nguyên mẫu của sự nhập môn (initiation), như được thấy trong các nhóm huyền học Thời Đại Mới (New Age) cho thấy nhiều sự nhấn mạnh ngộ đạo ngày nay. Chủ đề chính của phong trào Thời Đại Mới là sự nhập môn, và nó làm dịu đi bất kỳ ý tưởng nào về cuộc chiến tâm linh (xem Moore 2001). Mặc dù việc sử dụng tinh thể Thời Đại Mới có vẻ liên quan đến hình ảnh ánh sáng và bóng tối, những người tín đồ của họ thực sự không muốn nói về góc tối của cuộc sống hay bất kỳ cuộc đấu tranh đe dọa tính mạng nào chống lại cái ác.


Ở đây quan điểm Thời Đại Mới khác biệt rất nhiều so với quan điểm của Jung. Những người Thời Đại Mới đôi khi tôn vinh Carl Jung theo một cách hời hợt, nhưng họ không thực sự là những người theo trường phái Jung khi họ từ chối đối mặt với góc tối của xã hội và nhân cách con người. Không một người theo trường phái Jung nào xứng đáng với cái tên đó, người cố gắng đứng trong truyền thống do Carl Jung tiên phong, lại đánh giá thấp sức mạnh của cái ác. Đó là một trong những món quà chính của ông. Chúng ta cần thu thập tất cả những gì Jung đã nói về cái ác vào một tập sách, bởi vì điều đó vẫn chưa được làm, và sau đó chúng ta có thể thấy rõ hơn ông đã đặt bao nhiêu tầm quan trọng vào việc xử lý nó, và những người theo trường phái Jung khác biệt như thế nào so với những người không coi trọng cái ác (xem Stein 1995).


Thuyết Ngộ đạo thực sự rút ra một số điều từ truyền thống Ba Tư, nhưng từ góc nhìn của Jung, bạn phải đặt câu hỏi ưu tiên: "Những cấu trúc nguyên mẫu nào trong tâm trí mà Thuyết Ngộ đạo rút ra?" Nó chắc chắn rút ra từ nguyên mẫu của cuộc chiến tâm linh, nhưng bạn sẽ cần biết nhiều về nó để thấy nó vận hành như thế nào. Nhiều người nói về Thuyết Ngộ đạo không biết nhiều về truyền thống cuộc chiến tâm linh này, bởi vì nó không rất phổ biến. Họ không muốn nói về những điều như vậy, bởi vì đó là những gì những người giáo điều nói đến.


Khán giả: Từ việc đọc The Gnostic Gospels (Các Phúc Âm Ngộ Đạo) của Elaine Pagels, bạn có được những điều như Chúa Jesus được trích dẫn nói rằng: "Nếu tôi nói cho bạn những gì bên trong tôi và đưa nó ra, thì điều đó sẽ cứu tôi, và nếu tôi không đưa ra những gì bên trong tôi, điều đó sẽ giết tôi." Nói cách khác, nó đặt mọi thứ vào bên trong, một bước ngoặt thú vị từ góc nhìn tâm lý học, bởi vì nó dường như giải quyết toàn bộ vấn đề bóng tối, nhưng nó có vẻ ngớ ngẩn đối với người gia bị trấn lột, hoặc bị đâm chết, rằng bất kỳ điều gì bên trong có thể là nguồn gốc của những loại vấn đề này.


Moore: Vâng, đó là ảo tưởng rằng bạn đã tự mang lại tất cả các vấn đề của mình. Chúng ta sẽ nói sau về những gì tất cả chúng ta có bên trong cần phải được đưa ra một cách có ý thức.


Có nhiều cách xử lý tốt về Thuyết Ngộ đạo. Cuốn sách của Elaine Pagels (1979) rất tuyệt vời, cũng như The Nag Hammadi Library (Thư viện Nag Hammadi), do James Robinson biên tập (1990). Hans Jonas đã viết The Gnostic Religion (Tôn giáo Ngộ đạo, 1958), đưa ra nhiều bối cảnh lịch sử từ thời kỳ giữa hai Ước. June Singer (1987) có một chương hay về Thuyết Ngộ đạo trong cuốn sách mà Murray Stein và tôi đồng biên tập về Jung's Challenge to Contemporary Religion (Thách thức của Jung đối với Tôn giáo Hiện đại, 1987).


Điều này đưa chúng ta đến việc cân nhắc bản chất của nhiệm vụ liên quan đến việc hiểu và xử lý kẻ thù trong cuộc chiến tâm linh. Sau đó chúng ta sẽ xem xét một số diễn giải tâm lý học về nhiệm vụ này và thảo luận về các khía cạnh cá nhân và nguyên mẫu của bóng tối, trước khi kết luận với một số quan sát về tính tương quan trị liệu của các thực tại nguyên mẫu này.


CHỨC NĂNG CHIẾN BINH (THE WARRIOR FUNCTION)


Truyền thống Nhật Bản nói một số điều thú vị về cuộc chiến tâm linh. Đối với những người đang nghiên cứu nguyên mẫu chiến binh, tôi muốn đề xuất một cuốn sách quản lý phổ biến có tên Waging Business Warfare (Tiến hành Chiến tranh Kinh doanh) của David Rogers (1988). Nó giải thích cách truyền thống Samurai thời trung cổ của Nhật Bản thể hiện sự mê hoặc của người Nhật với chiến tranh và chiến binh. Samurai là những hiệp sĩ Nhật Bản thời trung cổ, những người đã phát triển một hình thức đấu kiếm thành một môn võ thuật gọi là Kendo (Kiếm đạo) tập trung vào cuộc chiến tâm linh. Kendo có nghĩa là "con đường của kiếm," nhưng nó dạy rằng kẻ thù lớn nhất của các kiếm sĩ vĩ đại là kẻ thù bên trong, cái tôi (ego), và trước khi bạn chém bất kỳ ai hoặc bất kỳ điều gì khác, bạn phải chém cái tôi của chính mình. Tôi đã may mắn có một người bạn là cao thủ Kendo đai đen, người đã giúp tôi nhận ra cách võ thuật Nhật Bản thể hiện triết lý này.


Nhiều truyền thống khác cũng chứa đựng ý tưởng xử lý kẻ thù bên trong trước khi bạn xử lý kẻ thù bên ngoài. Hồi giáo, chẳng hạn, có khái niệm Jihad. Trái với những gì nhiều người nghĩ, Hồi giáo dạy rằng có hai Jihad, hai cuộc chiến tâm linh về cơ bản là giống nhau nhưng gắn kết với nhau từ bên trong. Mohammed được trích dẫn nói rằng Jihad nhỏ hơn là cuộc chiến chống lại cái ác và sự không công chính ở ngoài kia trên thế giới, trong khi Jihad lớn hơn là cuộc chiến chống lại cái ác bên trong, phần trong bạn cố gắng làm cho bạn không trung thành và không phải là một người tôi tớ trung thành của Allah, của sự thật và sự công chính.


Nhiều người thầy truyền thống đã có sự hiểu biết tinh vi rằng "đối mặt với con rồng" là một cuộc đấu tranh nội tâm nguyên thủy của đời sống tâm linh, mặc dù có nhiều biểu hiện ra bên ngoài. Nó không bao giờ chỉ đơn thuần là bên trong, không bao giờ chỉ đơn thuần là vấn đề "tích hợp bóng tối của bạn." Chúng ta cũng có nhiều việc phải làm ở thế giới bên ngoài.


Tất cả các bạn nên quen thuộc với nguyên mẫu người anh hùng và cách thức chức năng của nguyên mẫu người anh hùng được hình dung trong bối cảnh của một cuộc đấu tranh thảm khốc. Cuốn sách The Hero with a Thousand Faces (Người Anh Hùng Với Ngàn Gương Mặt) của Joseph Campbell (1949) là một cách xử lý tuyệt vời về huyền thoại anh hùng (xem thêm Miller 2000).


Những người theo trường phái Jung nói nhiều về người anh hùng như là nền tảng nguyên mẫu của cái tôi đang phát triển trong một nhân cách, cách người anh hùng đấu tranh vô cùng chống lại các thế lực của sự vô thức. Một số người nói người anh hùng trong tâm lý học nam giới đấu tranh chủ yếu chống lại lực kéo thoái lùi của phức cảm người mẹ (mother complex), nhưng đó là một cách suy nghĩ không hợp lý về điều đó, vì nó cũng liên quan đến lực kéo thoái lùi để ở lại trong "đám mây không biết" lớn và do đó phủ nhận các thế lực phá hoại cả bên trong lẫn bên ngoài.


Con người có một khao khát toàn diện là không muốn biết. Rất đau đớn khi biết. Nếu chúng ta làm một cuộc bầu chọn giữa tất cả các cơ chế phòng vệ, cơ chế phủ nhận (denial) sẽ chiến thắng dễ dàng. Đó là cơ chế phổ biến nhất. Sự vô thức rất khó xử lý, và phải mất một cuộc đấu tranh anh hùng trong tâm trí mới phát triển được một cái tôi mạnh mẽ. Chắc chắn bất kỳ điều gì giống như một chức năng cái tôi đầy đủ đều không tự động mà có. Nếu gần đây bạn có tự đánh giá chức năng cái tôi của chính mình, bạn sẽ biết rằng ngay cả sau nhiều trị liệu và đấu tranh, rất khó để làm cho bản thân tỉnh thức và duy trì sự tỉnh thức đó. Đây là thực tại sâu sắc nguyên thủy trong toàn bộ vấn đề cuộc chiến tâm linh này. Đó là một cuộc đấu tranh chống lại sự vô thức.


Hãy cân nhắc, tuy nhiên, nguyên mẫu người anh hùng khác với nguyên mẫu chiến binh như thế nào. Nguyên mẫu người anh hùng về cơ bản là một hình ảnh của tuổi vị thành niên và cuộc đấu tranh chống lại sự vô thức, vì vậy bạn sẽ không muốn người anh hùng chịu trách nhiệm về tất cả các đạo quân của mình. Anh ta có thể trở thành một nhà lãnh đạo tốt sau cuộc đấu tranh anh hùng của mình, nhưng trong chính cuộc đấu tranh đó, anh ta vẫn đang cố gắng đi đến sự trưởng thành. Người anh hùng hành trình hướng tới sự trưởng thành và trách nhiệm, nhưng cho đến khi anh ta đến đó, anh ta giống như nhân vật Tom Cruise trong bộ phim Top Gun (1986). Dù có tất cả các đặc điểm mạnh mẽ, anh ta không thể là một chỉ huy phi đội tốt cho không quân của bạn cho đến khi anh ta có được sự già dặn và hiểu biết, đối mặt với sự ngông cuồng của mình, và học hỏi thêm về sự hợp tác và làm việc nhóm.


Ngược lại, những chiến binh giỏi có quyền chỉ huy hoàn toàn các tài nguyên, quà tặng và khả năng của họ, và họ có thể huy động chúng, tổ chức chúng, định hướng chúng và dẫn dắt chúng để phục vụ các cam kết siêu cá nhân (transpersonal commitments) hướng tới các mục tiêu siêu cá nhân. Nghiên cứu lịch sử và thần thoại về thuật tướng lĩnh cũng cung cấp một cảm nhận về sự triển khai lực lượng và tài nguyên trưởng thành của chiến binh thực sự trong một cuộc đấu tranh ý nghĩa. Chiến binh thực sự đại diện cho chức năng cái tôi trưởng thành.


Nguyên mẫu chiến binh vận hành như thế nào trong tâm trí? Những người không có sự gắn kết vững chắc với chiến binh bên trong không thể triển khai bản thân tốt trong bất kỳ điều gì họ phải làm trong cuộc sống. Để có được sự rõ ràng về mặt tâm lý, họ đi vào vô số hành vi tự hủy hoại hiệu quả và gây hấn thụ động. Khi bạn gắn kết đầy đủ với chiến binh nguyên mẫu bên trong của mình, cho dù bạn là nam hay nữ, bạn sẽ hiệu quả hơn và ít gặp rắc rối hơn với sự trầm cảm. Tuy nhiên, những người khác có thể gặp nhiều rắc rối hơn với sự hung hăng của bạn!


Hãy thử điều này trên lâm sàng với những người bạn đang làm việc cùng. Hãy cố gắng giúp họ trong chức năng chiến binh của họ. Giúp họ tổ chức và tập trung, lập kế hoạch, giải quyết vấn đề, đưa ra các quyết định chiến lược và chiến thuật, và hành động theo chúng, và xem họ còn bị trầm cảm đến mức nào. Bạn sẽ lập tức nhận thấy họ ít bị trầm cảm hơn. Nhưng trong chừng mực người ta không thể hành động hoặc phối hợp hành động, họ sẽ bị trầm cảm, gây hấn thụ động, và lo âu.


Bạn có thể làm được nhiều điều bằng cách truy cập vào nguyên mẫu của chiến binh. Ví dụ, với sự giúp đỡ từ chiến binh bên trong, tâm trí con người luôn tìm cách tìm ra kẻ thù và huy động chống lại nó. Điều này rất quan trọng, bởi vì mọi người thường gặp khó khăn trong việc định vị nơi cuộc đấu tranh chính của họ thực sự diễn ra. Nếu bạn là một nhà tham vấn thực hành hoặc làm việc với mọi người, bạn sẽ thấy rằng rất nhiều người chưa từng dành thời gian để đặt câu hỏi: "Cuộc đấu tranh của tôi ở đâu?" Họ không rõ ràng về những gì họ muốn đấu tranh cho, hướng tới, hoặc chống lại.


Một số người ngày nay thậm chí còn gợi ý rằng bạn không cần phải đấu tranh, rằng bạn chỉ nên thư giãn, ngâm mình trong bồn nước nóng và tận hưởng. Đó là một nguyên mẫu khác, nguyên mẫu của người tình (lover), vốn muốn bạn vào bồn nước nóng, cởi quần áo, trở nên ấm áp và mờ ảo, và không quá định hướng nhiệm vụ. Rất khó để định hướng nhiệm vụ khi ở trong nguyên mẫu người tình. Mặt khác, rất nhiều người mang chiến binh vào đời sống tình yêu của họ và cố gắng định hướng nhiệm vụ ở đó, nhưng nó không hoạt động tốt lắm.


Một cách để hiểu chiến binh là kiểm tra những người bạn làm việc cùng và hỏi: "Họ có một vị tướng thực sự đang hoạt động ở đâu đó trong tâm trí của họ, trong cuộc sống của họ không?" Nếu không, họ có thể đang lùi bước qua cuộc sống trong một chế độ trầm cảm, gây hấn thụ động, và sẽ tiếp tục làm như vậy.


Khán giả: Ý ông là gì khi nói "một vị tướng đang hoạt động"?


Moore: Một người đứng ra đảm nhận trách nhiệm khi có nhu cầu rõ ràng, một người hiểu rõ địa hình, đưa ra các đánh giá về tài nguyên và nơi người ta nên mở một cuộc tấn công. Bạn không thể làm mọi thứ cùng một lúc. Bạn cần có khả năng đánh giá, sắp xếp thứ tự ưu tiên, tập trung, huy động, lượng giá và tập trung lực lượng. Tất cả những điều này đến từ nguyên mẫu của chiến binh và việc nghiên cứu tâm lý học về sự lãnh đạo. Tất cả các cuộc thảo luận về phẩm chất lãnh đạo đều rút ra từ nguyên mẫu của chiến binh và các nguyên mẫu hoàng gia về vua hoặc hoàng hậu. Chiến binh không nhất thiết phải có bất kỳ điều gì liên quan đến chiến tranh, mà là với cuộc đấu tranh nói chung, và khả năng tập trung vào các mục tiêu và hiệu quả.⁷


Khán giả: Điều này có bất chấp loại nhân cách không? Chẳng phải một người thuộc loại trực giác sẽ có một chế độ chiến binh khác với một người thuộc loại suy nghĩ sao?


Moore: Họ thường sẽ có một cách thể hiện nó khác nhau, hoặc không thể hiện nó, nhưng rất nhiều loại trực giác hướng nội không tiếp xúc với chiến binh của họ. Họ có xu hướng chờ đợi xung quanh, bởi vì họ kỳ vọng sẽ dùng trực giác để vượt qua các cuộc đấu tranh trong cuộc sống của họ. Bạn có thể có tri thức trực giác tuyệt vời, nhưng nó không thể thay thế cho hành động. Có nhiều điều trong cuộc sống, và đặc biệt là trong tiến trình cá nhân hóa, mà bạn đơn giản là không thể có được nếu không có hành động. Nếu bạn không hành động và đối mặt với các nhiệm vụ cá nhân hóa của mình, thì bạn có xu hướng chỉ ngồi đó và không làm gì cả, và do đó, bạn không có được sự biến đổi mà bạn cần.


Khán giả: Chẳng phải có những loại nhân cách vốn dĩ thấy một số điều nhất định dễ dàng hơn những điều khác sao?


Moore: Chắc chắn rồi, nhưng các loại cảm giác tiếp xúc nhiều hơn với điều này, và ESTJ của bạn có lẽ tự nhiên hơn, nhưng các loại này có giới hạn. Tôi nghi ngờ về phân loại học (typology) nói chung, bởi vì nó quá đơn giản. Con người không đơn giản như phân loại học dường như chỉ ra. Mỗi loại vẫn phải đối mặt với các cấu trúc nguyên mẫu khác nhau và thách thức để đạt được một sự tích hợp tối ưu hơn.


Khán giả: Nhưng mọi người có các loại nhân cách khác nhau.


Moore: Vâng, họ có, phần lớn được quyết định bởi cấu trúc của sự tích hợp nguyên mẫu trong nhân cách của họ. Nhưng họ cũng có các khả năng khác nhau để tiếp xúc với xung quanh và đưa ra các đánh giá chính xác, dựa trên thực tế. Những người hoang tưởng, hoặc có đánh giá tồi tệ, sẽ có xu hướng đọc sai thế giới xung quanh của họ. Bất kỳ nhân cách nào cũng có thể cải thiện sự tích hợp của mình thông qua một sự truy cập tối ưu vào chiến binh bên trong. Chúng ta phải tránh việc sử dụng phân loại học một cách đơn giản bởi vì một nhân cách được tích hợp tối ưu thường vượt qua các giới hạn của một loại cụ thể. Ví dụ, một nghiên cứu kỹ lưỡng về tiểu sử của các vị tướng xuất sắc trong lịch sử cho thấy họ có xu hướng rất trực giác, nhưng họ cũng có xu hướng là những người suy nghĩ tốt tiếp xúc với xung quanh của họ. Một chiến binh được tích hợp đầy đủ có một nhân cách trưởng thành mà bạn không thể kỳ vọng bị khóa vào một chức năng phân loại hẹp. Ngay cả một loại trực giác cũng có khả năng tốt hơn để đánh giá bóng tối của kẻ thù. Đó là một điều tinh vi. Thánh Augustine, chẳng hạn, dù bạn có thể nghĩ gì khác về ông, là một người vĩ đại, một nhà quản lý mạnh mẽ và một nhà lãnh đạo, nhưng ông cũng là một nhà huyễn học, trực giác và hướng nội. Các nhà lãnh đạo lịch sử mạnh mẽ đơn giản là không phù hợp với các danh mục phân loại gọn gàng.


Một vị tướng hạng nhất thường biết kẻ thù đang nghĩ gì, trong khi các vị tướng hạng hai thì không. Vị tướng Anh bị đánh giá quá cao Bernard Montgomery biết ông sắp làm gì, nhưng ông thường không thể nhận ra kẻ thù sắp làm gì. Đó là một trong những vấn đề lớn nhất với sự lãnh đạo của ông. Các nhà lịch sử quân sự đã đánh giá ông rất tệ về điểm đó. Một vị tướng giỏi dự đoán những gì kẻ thù đang nghĩ, và ông đưa điều đó vào xem xét như một phần của quá trình đưa ra quyết định của mình.


Bạn có thể thấy ý tưởng này thích nghi như thế nào. Điều đó có nghĩa là gì nếu bạn thực hiện nó? Điều đó có nghĩa là những người có một phần chiến binh phát triển trong nhân cách của họ sẽ ít ngông cuồng hơn. Họ có khả năng thấu cảm hơn với kẻ thù và dành cho họ sự tôn trọng thích đáng. Những vị tướng vĩ đại nhất luôn ngưỡng mộ các vị tướng ở phía bên kia. Có một câu thoại tuyệt vời trong bộ phim Patton (1970), mà bạn nên xem trong bối cảnh này. George C. Scott thật kinh ngạc trong vai Đại tướng Patton. Bạn có thể thấy sự chưa trưởng thành và bệnh lý ngông cuồng của Patton, nhưng bạn cũng có thể thấy một số điểm vĩ đại của ông. Trong một cảnh, ông vừa rời khỏi một trận chiến lớn nơi ông đối đầu với vị tướng Đức vĩ đại Erwin Rommel và quét sạch các xe tăng của Rommel. Ông dừng lại một chút, hạ ống nhòm xuống và nói: "Rommel, đồ tuyệt vời..., tôi đã đọc cuốn sách của ông!"


Một kẻ ngông cuồng thuần túy sẽ không bao giờ đọc cuốn sách đó, bởi vì anh ta không thể dành cho kẻ thù nhiều sự ngưỡng mộ và công trạng như vậy. Một chiến binh như Patton đã đạt đến cấp độ mà ông không bao giờ đánh giá thấp kẻ thù của mình, không bao giờ coi thường họ, mà học hỏi mọi thứ ông có thể về họ. Đánh giá thấp những gì bạn đang xử lý là một trong những dấu hiệu của sự ngông cuồng và chưa trưởng thành. Điều này thực sự quan trọng trong tâm trí con người và trong tâm lý trị liệu. Cả các nhà trị liệu và những người trong liệu pháp đều mắc sai lầm về điều này. Họ đánh giá thấp những gì họ đang xử lý và có những gì tôi gọi là "những chuyến trú vào sức khỏe" (flights into health). Chuyến trú vào sức khỏe là nơi người ta nói: "Bây giờ tôi hoàn toàn tốt hơn rồi, không còn triệu chứng nữa," và họ bỏ dở ngay tại thời điểm họ đang tiến bộ. Đó cũng là một kiểu đánh giá thấp sức mạnh và sự xảo quyệt của kẻ thù lớn bên trong.


Điều này đưa chúng ta đến một cuộc thảo luận về các khía cạnh cá nhân và nguyên mẫu của bóng tối, trước khi kết luận với một số quan sát về tính tương quan trị liệu của các thực tại nguyên mẫu này.


TÍCH HỢP BÓNG TỐI CÁ NHÂN (INTEGRATING THE PERSONAL SHADOW)


Khái niệm của Jung về bóng tối, và toàn bộ cuộc đấu tranh hướng tới sự tỉnh thức, là một sự tái chiếm hữu hiện đại của tất cả các hình ảnh ánh sáng và bóng tối trong các truyền thống tôn giáo và thần thoại. Jung sử dụng tốt hình ảnh này làm bối cảnh cho mục tiêu tăng cường nhận thức mang lại ánh sáng vào các góc khuất của nhân cách để chúng ta có thể thấy mối quan hệ giữa các khía cạnh khác nhau của nhân cách. Ông mô tả cuộc đấu tranh dữ dội đang diễn ra trong tâm trí bạn giữa bóng tối của bạn và nhân cách cái tôi của bạn, và cách bạn phải làm cho chúng ngừng chiến tranh và bắt đầu giao tiếp như những đối tác và anh em. Cuộc đấu tranh giống như các hình ảnh anh em sinh đôi của Cain và Abel, Jacob và Esau, tất cả đều phản ánh sự tẻ nhạt nội tâm và nhu cầu hòa giải.


Trong tâm lý học của Jung về bóng tối, mục tiêu của bạn là mang lại sự tôn trọng lẫn nhau và các cuộc đàm phán hòa bình trong cuộc nội chiến nội tâm trong tâm hồn bạn. Điều này chắc chắn đúng đối với các vấn đề phát triển cá nhân và việc chia tách nỗi đau và chấn thương thời thơ ấu. Toàn bộ ý tưởng về sự chữa lành có nghĩa là mang những cảm xúc và trải nghiệm bị phủ nhận này trở lại nhận thức, và không cho phép chúng chia tách chúng ta ngay ở giữa. Sự tích hợp bóng tối cá nhân mang lại hòa bình, sự hài hòa và sự tích hợp cho tâm trí. Đó là cách những người theo trường phái Jung xử lý cuộc đấu tranh thần thoại giữa ánh sáng và bóng tối. Nhiệm vụ tâm lý trong phân tích là giúp ánh sáng chiến thắng bằng cách bao hàm nhiều điều trước đây bị loại trừ. Bạn có thể đánh đồng ánh sáng với sự nhận thức.


Bóng tối của sự vô thức rất mạnh, nhưng ánh sáng của sự nhận thức đẩy nó lùi lại. Trong đạo đức nhận thức của Jung, cuộc đấu tranh cho sự cá nhân hóa là một cuộc đấu tranh cho ánh sáng, một cuộc đấu tranh để tỉnh thức, để đưa thêm trải nghiệm và nhân cách của bạn ra khỏi bóng tối để nó có thể được tôn trọng, yêu thương, chấp nhận và khẳng định. Thách thức là liên hệ một cách có ý thức với chiều sâu và độ phức tạp của con người bạn. Giống như Jean Bolen nói, bạn có thể có các cuộc tụ họp nội tâm nơi tất cả các thành viên gia đình đang chiến tranh của bạn có thể đến với nhau và có một cuộc họp hội đồng gia đình. Tất cả các phần khác nhau của bóng tối của bạn đến với nhau và nói chuyện với nhau, và nói: "Được rồi, tôi muốn điều này, và bạn muốn điều đó, bây giờ chúng ta có thể đồng ý về điều gì ở đây?" Điều này giống như cố gắng có được sự tôn trọng lẫn nhau và các cuộc đàm phán hòa bình xung quanh chiếc bàn tròn nội tâm của bạn. Tất cả điều đó đều đúng và rất quan trọng.


BÓNG TỐI NGUYÊN MẪU (THE ARCHETYPAL SHADOW)


Bóng tối nguyên mẫu là một ý tưởng khác chúng ta cần suy ngẫm. Bóng tối có phải là tất cả cá nhân hay không? Nói về bóng tối nguyên mẫu có nghĩa là gì? Bạn có thể phân biệt giữa bóng tối nguyên mẫu và bóng tối cá nhân không? Nhiều người theo trường phái Jung không đưa ra sự phân biệt đó, tất nhiên, nhưng tôi là một người theo trường phái Jung coi trọng các nguyên mẫu, cũng như sự phân biệt giữa tâm trí cá nhân và tâm trí khách quan, vô thức tập thể.


Hãy để tôi cho bạn một cảm nhận nhanh về những gì tôi muốn nói qua bóng tối nguyên mẫu. Tất cả những người theo trường phái Jung đã nghiên cứu tâm lý học phát triển đều biết cách một cấu hình nguyên mẫu có thể đến và tiếp quản một nhân cách và chiếm giữ nó. Điều này xảy ra luôn trong các nhân cách lệch nơi người đó đã bị tổn thương về mặt phát triển và cái tôi kết quả là yếu. Bạn càng bị tổn thương trong sự phát triển sớm của mình, cấu trúc cái tôi của bạn sẽ càng yếu, và một mô hình nguyên mẫu sẽ càng có khả năng xâm chiếm bạn và làm chệch hướng sự cá nhân hóa của bạn. Đó là một giả định cơ bản trong lý thuyết phân tích tâm lý tân Jung của tôi.


Jung dạy rằng các nguyên mẫu có hình dạng và thực tại tâm lý khách quan của riêng chúng. Nguyên mẫu người mẹ là nguyên mẫu người mẹ cho dù nó có chiếm giữ bạn hay không, và nguyên mẫu đứa trẻ là nguyên mẫu đứa trẻ cho dù nó có thể hiện rõ ràng trong tâm trí bạn ngay phút này hay không. Có bằng chứng thuyết phục rằng một số yếu tố nguyên mẫu của bóng tối không đơn giản là các trải nghiệm cá nhân bị chia tách, mà đại diện cho các trải nghiệm chung của con người mà các truyền thống tôn giáo gắn liền với một đối thủ nguyên mẫu, cho dù đó là Satan hay Iblis hay Ahriman.


Nghiên cứu về những sự e sợ của con người về cái ác là thú vị, bởi vì mọi người ở những nơi rất khác nhau có nhiều sự đồng ý về các nguyên tắc và động lực của nó, và cách nó vận hành. Tôi đã nghiên cứu lịch sử các hình ảnh của con người về cái ác ở chiều sâu lớn trong một thời gian dài, và tôi dạy các khóa học ở cấp độ tiến sĩ về các hình ảnh của cái ác trong văn hóa và tâm bệnh học. Điều này phức tạp, nhưng tôi có thể tóm tắt nó một chút. Cái ác rất chống lại cuộc sống. Nó đầy hận thù. Nó cố gắng phá hủy sự liên hệ. Nó sử dụng sự lừa dối, nói dối, và ảo tưởng. Thực tế, hầu như tất cả văn học dân gian đều khắc họa cái ác như sự lừa dối và nói dối và là một bậc thầy của ảo tưởng. Cái ác ghét ánh sáng, và thậm chí mất đi sức mạnh của nó khi có ánh sáng xung quanh. Cái ác không thể chịu đựng được việc bị phơi bày, và nó ghét cộng đồng con người vì lý do đó. Cái ác muốn đưa bạn vào sự cô đơn và cô lập bạn. Nó cũng muốn đưa bạn vào bóng tối.


Văn hóa đại chúng có sự hiểu biết sâu sắc tuyệt vời về điều này. Các bộ phim kinh dị phổ biến, chẳng hạn, rất tuyệt vời trong việc nắm bắt các môtíp này về các dấu hiệu của cái ác, và tất cả họ đều đồng ý. Cái ác muốn đưa bạn vào bóng tối, muốn đưa bạn vào sự cô đơn, muốn bạn nghĩ rằng nó không đến từ hướng đó, bởi vì ngay khi bạn nghĩ rằng nó không đến từ hướng đó, đó là hướng nó sẽ đến.


Một số bộ phim gần đây đưa ra một sự xử lý tuyệt vời về các chiều kích thần thoại nguyên mẫu này và sự đánh giá về cái ác. The Thing (1982) có sự tham gia của Kurt Russell. Một ví dụ khác là The Invasion of the Body Snatchers (1978), không phải phiên bản sớm mà là bản làm lại gần đây với Donald Sutherland. Hãy xem các bộ phim này. Đáng để xem chỉ để thấy Kurt Russell hay Donald Sutherland kịch tính hóa các thực tại tâm lý này.


Các bộ phim này cho thấy sự phá hoại độc ác vận hành nhất quán như nó làm trong Dracula và các bộ phim người sói và các câu chuyện dân gian, truyện cổ tích, và các truyền thống tôn giáo. Chúng ta không thể quy tất cả sự nhất quán này trở lại cho sự sáng tạo cá nhân. Một số trong đó phải đến từ một sự nhận thức trực giác trên toàn loài và mang tính nguyên mẫu.


Thế lực độc ác luôn đến từ bên ngoài nhưng ở bên trong bạn trước khi bạn biết điều đó. Bạn luôn nghĩ rằng nó ở ngoài kia đang gõ cửa, nhưng nó đã ở bên trong rồi. Điều đáng sợ nhất về "thứ đó" hay kẻ lạ mặt là bạn không thể biết ai có nó và ai không. Bạn thậm chí không biết liệu nó đã chiếm giữ bạn hay chưa. Mặc dù "thứ đó" đề cập đến các năng lượng ngông cuồng vô thức đe dọa phá hủy chúng ta, trong tưởng tượng thần thoại toàn bộ cuộc đấu tranh xảy ra dưới dạng hình ảnh ánh sáng - bóng tối tận thế. Bất cứ khi nào tối hơn, "thứ đó" tấn công. Bất cứ khi nào mọi người bị cô lập, nó bắt được họ.


Rất nhiều sự nhất quán trong tất cả các truyền thống này làm tăng khả năng rằng các chiều kích nguyên mẫu này của sự phá hoại của con người vượt ra ngoài thực tế rằng ai đó đã có một người mẹ tồi. Các thất bại phát triển cá nhân, và các thất bại nuôi dưỡng, giống như mọi thứ khác về các gia đình, có thể đến từ các năng lượng nguyên mẫu mà các gia đình vô thức chào đón vào nhà theo một cách không được điều tiết. Các chấn thương cá nhân làm cho mọi người dễ bị tổn thương tại các thời điểm khác nhau trong cuộc sống của họ đối với sự chiếm giữ bởi các mô hình phá hoại nguyên mẫu nhất định có sự tổ chức và cơ quan riêng của họ và không bắt nguồn đơn giản từ việc làm cha mẹ kém hoàn hảo. Các thực tại tâm lý khách quan này xa lạ đối với lịch sử cá nhân và gia đình, nhưng lại phổ biến đến mức con người trên khắp thế giới nhận ra chúng khi đối mặt với chúng.


Freud, như một ví dụ không thuộc trường phái Jung, đã lâu nhận ra thanatos và eros như hai động lực đối lập trong cuộc sống con người, dựa trên các quan sát lâm sàng của ông. Ông sử dụng thanatos, từ tiếng Hy Lạp có nghĩa là cái chết, để mô tả một điều gì đó ông thường thấy ở người ta, không hoàn toàn là một "khao khát cái chết" theo nghĩa phổ biến đơn giản, mà giống như một bản năng hướng tới cái chết. Freud đã quan sát điều này và cố gắng giải thích nó, nhưng người ta nói với ông rằng nó nghe có vẻ quá huyền học, vì vậy ông đã bỏ nó, nhưng quan sát ban đầu của ông vẫn đứng vững. Ông đã thấy một điều gì đó ở người ta đẩy họ hướng tới sự phá hủy, cố gắng, theo thuật ngữ của chúng ta, làm cho họ rời khỏi trị liệu ngay khi họ đang tốt hơn, nhưng không củng cố các thay đổi tích cực của họ.


Nói cách khác, một điều gì đó dường như luôn can thiệp ngay phút bạn bắt đầu tiến bộ. Hãy cân nhắc, chẳng hạn, một người chưa bao giờ có một mối quan hệ đàng hoàng trong đời, và ngay khi anh ta tìm thấy đúng người trong một mối quan hệ có thể đi đến đâu đó, một người sẽ không lạm dụng anh ta mà thực sự yêu anh ta, đó chính xác là khi anh ta đưa ra một số lý do để không có bất kỳ điều gì thêm với người đó. Thật kinh ngạc. Tôi thấy điều này ở những người tôi đang làm việc cùng tất cả thời gian, và nếu bạn là một nhà trị liệu, bạn thấy nó ở những người bạn đang làm việc cùng.


Bây giờ nếu bạn chỉ thấy một vài người như thế này, bạn có thể nói nó đến từ các trải nghiệm duy nhất của họ với cha mẹ của họ, nhưng nếu bạn thấy nó vận hành theo cách này lặp đi lặp lại ở nhiều loại người khác nhau, thì nó có vẻ ít giống trải nghiệm cá nhân hơn và giống như tất cả họ đều đọc cùng một cuốn sách hướng dẫn về "Làm thế nào để không tồn tại," hoặc "Làm thế nào để không phát triển trong cuộc sống," hoặc "Làm thế nào để tự phá hủy." Nếu bạn làm việc với nhiều người lạm dụng chất, hoặc những người có mô hình tự ghét tồi tệ, và bạn nghiên cứu gia đình của họ, rất khó để giảm nó đơn giản bằng cách nói cha mẹ của họ đã mắc một số sai lầm tồi tệ và bây giờ chúng ta có cục thịt tự phá hủy siêu to này ở đây trong văn phòng đang kêu gào từ nỗi đau và cầu xin chúng ta giúp đỡ.


Một quan điểm khác về điều này đến từ các nhà lý thuyết quan hệ đối tượng Anh thuộc trường phái Fairbairn-Guntrip (xem Hazell 1995 và 1996). Họ nói về cái tôi chống-libido (anti-libidinal ego), mà có cả một học liệu cho nó. Cái tôi chống-libido nên được dịch là "cái tôi chống-cuộc sống." Một phần tâm trí của một người quyết tâm phá hủy cô ấy và không cho phép cô ấy có bất kỳ tình yêu nào, không cho phép cô ấy có bất kỳ sự tin tưởng nào, không cho phép cô ấy có bất kỳ sự biến đổi thành công nào về các mô hình liên hệ của cô ấy và các mô hình tương tác con người của cô ấy. Ngay phút cô ấy tham gia vào các mối quan hệ hy vọng hơn, thứ này huy động, trở nên xâm lược, và tìm cách phá hủy mối quan hệ mới. Điều đó đập vào tôi rằng có một nhu cầu suy ngẫm sâu sắc hơn về điều gì là cái được tích tụ này.


Điều này có một sự song song thú vị với các nghiên cứu về tâm lý học của huyền thoại về sự ra đời của người anh hùng, bởi vì mỗi khi đứa trẻ thần thánh được sinh ra, điều gì xảy ra? Quân đội của Herod hoặc Pharaoh được huy động, và họ tìm cách tấn công em bé. Điều đó mang tính nguyên mẫu và khách quan, và nó gợi ý rằng bất kỳ lúc nào có cuộc sống mới hoặc sự tiến bộ đang được thực hiện trong nhân cách, bạn có thể kỳ vọng một cuộc phản công không có liên quan gì đến chất lượng của cha mẹ. Rất có thể quân đội của Herod, hoặc quân đội của Pharaoh, hoặc quân đội quỷ dữ đã tấn công Buddha, hoặc quân đội của Ravana đã tấn công Rama trong sử thi Ramayana, rằng tất cả các quân đội đó đều đề cập đến cùng một thực tại nguyên mẫu, các thực tại tâm lý mang tính nguyên mẫu, không phải cá nhân, và đang tìm cách dừng bạn lại khi bạn bắt đầu tiến bộ.


Tất cả các truyền thống tôn giáo khác nhau đã được thuyết phục về thực tại này. Chúng ta những người hiện đại là những người duy nhất chưa chấp nhận nó, và chúng ta có bom và sự ô nhiễm để thay thế. Jung tin rằng khi chúng ta ngừng nói về quỷ dữ, chúng ta trở nên dễ bị tổn thương hơn đối với lực lượng phá hoại của chúng.⁹


Vì vậy, tôi muốn gợi ý rằng có nhiều điều hơn cho nguyên mẫu này của cuộc chiến tâm linh hơn chỉ đơn giản là tích hợp bóng tối cá nhân của bạn, hoặc chỉ đơn thuần là học cách yêu những phần bị phủ nhận đó của nhân cách bạn. Nó liên quan đến việc học cách phân biệt giữa bóng tối cá nhân đến từ trải nghiệm cá nhân của bạn, và các thế lực nguyên mẫu có sự truy cập vào tâm trí bạn từ bên trong, mà bạn không bao giờ có thể tích hợp, và tốt nhất là không nên cố gắng tích hợp. Jung thảo luận điều này trong tập tám của Collected Works trong sự phân biệt của ông giữa các phức cảm cá nhân và những gì ông gọi là "các phức cảm linh hồn" (spirit complexes).


HÌNH ẢNH SỰ TRỢ GIÚP SIÊU CÁ NHÂN (IMAGES OF TRANSPERSONAL ASSISTANCE)


Khán giả: Sự Phục Sinh phù hợp ở đâu trong điều này? Nó vượt ra ngoài cuộc chiến. Sự Phục Sinh cuối cùng đánh bại tất cả các thế lực của cái ác đã tham gia vào Cuộc Cổ Hình.


Moore: Vâng, đó là hình ảnh của các thế lực siêu cá nhân không để cái ác thắng. Trong hình ảnh đó, từ góc nhìn của cái tôi, bạn thua, và từ góc nhìn của cái tôi, chúng ta thua rất nhiều, chúng ta chết rất nhiều. Nếu bạn làm việc với mọi người ở bất kỳ chiều sâu nào, bạn biết họ là những cựu chiến binh mang sẹo trận mạc. Họ đã thua nhiều trận chiến, nhưng họ có các tài nguyên đến trợ giúp họ không chỉ là các tài nguyên cá nhân, mà là các thế lực siêu cá nhân, siêu-cái tôi. Đó là toàn bộ ý tưởng của Jung đằng sau Bản Thể (Self) với chữ "S" viết hoa. Nếu bạn hợp tác, Bản Thể với chữ "S" viết hoa sẽ thấy rằng bạn có những người giúp đỡ trong giờ đen tối nhất của bạn. Bạn sẽ không thoát khỏi hoàn toàn, nhưng trong giờ đen tối nhất của bạn, bạn sẽ có những người giúp đỡ.


Khán giả: Trong truyền thống Kitô giáo Cải Cách, chúng tôi gọi đó là "Ý trời" (Providence).


Moore: Ý trời song song với khái niệm đồng bộ (synchronicity) của Jung, ý tưởng rằng Vị Tướng vĩ đại của vũ trụ sẽ không để ai lại mà không có viện binh.


Khán giả: Đây là Chúa Thánh Thần.


Moore: Bạn có một Người Giúp Đỡ siêu cá nhân có sẵn cho bạn. Điều đó không có nghĩa là bạn có thể tránh những gì bạn phải làm, nhưng bạn không ở trong đó một mình. Đó là một phần thiên tài của Jung, và một trong những điều làm cho tâm lý học Jung trở thành một sự thay thế mạnh mẽ cho tất cả các tâm lý học khác, vì không có tâm lý học nào hoạt động từ giả định rằng cái tôi có sự giúp đỡ từ bên trong tâm trí.


Khán giả: Đây thực sự là một chủ đề trong Kinh Thánh, bởi vì nhiều lần các chiến binh đã nghĩ: "Đây là trận chiến mà tôi sắp bị đánh bại," nhưng sau đó một điều gì đó xảy ra để thay đổi diễn biến của trận chiến. Hoặc họ nghĩ: "Đây là một trận chiến chúng ta không thể thua," và sau đó họ ngã gục trên mặt họ.


Moore: Đúng vậy, và một trong những điều thú vị nhất là hình ảnh rằng kết quả của cuộc đấu tranh không đơn thuần là một vấn đề về số lượng, và do đó không phải là vấn đề về ai có vẻ có lực lượng vượt trội. Khi các điều nguyên mẫu này được tích tụ theo một cách nhất định, các thế lực yếu hơn có thể chiến thắng, giống như David chống lại Goliath, và có nhiều câu chuyện khác với cùng chủ đề.


Khán giả: Giống như chính Chúa Jesus trong sự sinh ra khiêm nhường của Ngài.


Moore: Vâng, tất cả các câu chuyện này đang cố gắng nói một điều gì đó với chúng ta. Bạn có thể nói, theo thuật ngữ của Jung, rằng miễn là cái tôi cá nhân không tự quay lưng lại khỏi sự hiện diện và sự dẫn dắt của Bản Thể nguyên mẫu, thì cho dù bạn có thể bị thương hay yếu đuối hay bị giam cầm đến đâu, và cho dù hình ảnh rắc rối của bạn có vẻ khó khăn và tuyệt vọng đến đâu đối với bạn, có những thực tại bền vững đến bên cạnh bạn và cho bạn một cơ hội để thành công trong cuộc đấu tranh của bạn.


CHƯƠNG 3: ĐIỀU TIẾT NĂNG LƯỢNG RỒNG


Thách thức của việc Nghi lễ hóa có ý thức


Ngày nay, nhiều người từ chối nhìn nhận mối liên hệ giữa tâm linh con người với các vấn đề lớn hơn như "chủ nghĩa bộ tộc bệnh lý" (pathological tribalism). Không phải vì họ thấy các chủ đề này thiếu thú vị hay không quan trọng, mà bởi vì đang có một sự phủ nhận quá lớn về tầm quan trọng mang tính quyết định của chúng đối với tương lai nhân loại. Nhiều trí thức dường như nghĩ rằng bất kỳ ai bàn về tâm linh con người — hay thậm chí cho rằng có tồn tại một thứ gọi là "tâm linh con người" — đều là những kẻ mộng mơ và xa rời thực tế.


Vì vậy, điều đầu tiên chúng ta cần thảo luận là: Tại sao việc giải quyết chủ đề này một cách hiệu quả lại mang tính cấp bách đến vậy trong thời đại hôm nay? Sau vài lời ngắn gọn về mối bận tâm của cá nhân tôi đối với chủ đề này, tôi sẽ phác thảo những thách thức lớn về tâm lý và tâm linh mà chúng ta đang phải đối mặt. Đồng thời, tôi sẽ giới thiệu một số nguồn lực mới hiện có giúp chúng ta tư duy một cách hệ thống và thực tế hơn khi gánh vác các nhiệm vụ này. Lần đầu tiên trong lịch sử, chúng ta có đủ tài nguyên để bắt đầu đối diện với những nhiệm vụ tâm linh căn bản của loài mình. Theo quan điểm của tôi, đây là điều mà trước đây chúng ta chưa từng làm được.


Cho phép tôi bắt đầu bằng một vài lời về bản thân và lý do tôi quan tâm đến chủ đề này. Tôi là một nhà phân tích tâm lý học sâu theo trường phái Jung (Jungian psychoanalyst), nhưng tôi cũng là một nhà phân tích theo trường phái Adler, và cuốn sách đầu tay của tôi lại viết về lý thuyết của Freud. Tôi vẫn tiếp tục nghiên cứu lý thuyết Freudian hiện đại thông qua trường phái "Tâm lý học Về Bản thể" (Self Psychology) theo truyền thống của Heinz Kohut. Dù vậy, hiện tại tôi tự nhận mình là một nhà tân-Jungian (neo-Jungian), và tôi rất tự hào về điều đó. Tôi tin rằng mô hình lý thuyết của Jung vượt trội hơn rất nhiều so với bất kỳ hệ thống tâm lý học nào khác. Điều này không có nghĩa là chỉ có duy nhất một "tâm lý học nguyên mẫu", nhưng tôi tin rằng tâm lý học Jung có thể và nên là một nền tâm lý học thực nghiệm, khoa học về các nguyên mẫu. Tôi muốn làm rõ rằng mình không theo trường phái của James Hillman; tôi là một nhà tân-Jungian. Có một sự khác biệt rất lớn giữa một nhà phân tích tâm lý tân-Jungian và một "nhà tâm lý học nguyên mẫu" hậu-Jungian. Các giả định lý thuyết thực sự đóng vai trò quan trọng khi chúng ta đưa ra những diễn giải tích hợp trong nghiên cứu liên ngành.


Tôi cũng là giáo sư về tâm lý học và tôn giáo tại Chủng viện Thần học Chicago, nơi tôi giảng dạy về tâm lý học, tôn giáo và tâm linh cho các đại rabbi (thầy tư tế Do Thái), linh mục, các tu sĩ khác và cả giáo dân. Tôi đã làm việc trong lĩnh vực này một thời gian dài. Mùa hè năm 1965, khi mới ở độ tuổi đôi mươi, một người giáo sư đã mở ra con đường này cho tôi bằng cách giới thiệu tôi với Alfred North Whitehead, Carl Jung, và Ludwig Von Bertalanffy — người sáng lập và là nhà lý thuyết chính của "Lý thuyết Hệ thống Tổng quát" (General Systems Theory). Trải nghiệm đó thực sự đã mở rộng tầm mắt tôi, và từ đó tôi không bao giờ còn như trước nữa. Tôi đã dành ra một lượng thời gian, tiền bạc, năng lượng, mồ hôi, nước mắt và cả máu để cố gắng hiểu được những hàm ý từ các nhà lý thuyết này đối với tâm lý học và đời sống tâm linh. Tôi không hề hối hận, và cảm thấy thật kinh ngạc khi nhìn lại tất cả những gì đã trải qua trong suốt quá trình làm việc.


Tôi cũng là biên tập viên cho loạt sách của Nhà xuất bản Paulist Press về Jung và tâm linh. Loạt sách này tạo ra một diễn đàn đưa các truyền thống tâm linh trên thế giới vào cuộc đối thoại, sử dụng phân tích tâm lý Jung làm "môi trường chứa đựng" (holding environment) — một không gian an toàn để tạo điều kiện cho các cuộc thảo luận sâu sắc giữa những người vốn dĩ sẽ không bao giờ ngồi lại đối thoại với nhau.


Một dự án dự kiến khác của Viện Tâm linh Thế giới (Institute for World Spirituality) là biên soạn "Danh mục Tôn giáo Thế giới Quốc tế". Ngay cả ngày nay, bạn vẫn không thể liên lạc với tất cả các lãnh đạo tôn giáo trên thế giới nếu muốn, vì chưa có một công trình tham khảo nào cho bạn biết họ là ai, ở đâu và làm cách nào để kết nối. Nếu dự án này thành công, lần đầu tiên trong lịch sử chúng ta sẽ có một tài liệu tham khảo để liên lạc với mọi nhóm tôn giáo trên Trái Đất.


Những dự án này biểu trưng cho một điều quan trọng đang diễn ra trên thế giới. Nếu Teilhard de Chardin đúng khi cho rằng một "nhận thức hành tinh" (planetary consciousness) đang bùng nổ, thì một hệ quả của nó phải là sự cải thiện trong giao tiếp. Chúng ta có thể sớm sở hữu tiềm năng giao tiếp lớn hơn rất nhiều giữa các tôn giáo khác nhau trên thế giới.


Tại sao việc giải quyết những vấn đề tâm lý và tâm linh này — những điều mà nhiều người cố tình phủ nhận — lại quan trọng đến vậy? Bởi vì chúng quá căn bản đối với sự tồn tại của con người; nếu không xử lý chúng một cách thỏa đáng, chúng ta có thể mất đi cơ hội để giải quyết bất kỳ vấn đề nào khác. Sự sống còn của loài người chúng ta và tất cả các sinh linh liên quới có thể đang ngàn cân treo sợi tóc.


Chúng ta phải cố gắng hiểu động lực tâm lý đằng sau lý do tại sao con người tránh né việc thảo luận về mối quan hệ giữa tâm linh và các hiểm họa như "chủ nghĩa bộ tộc bệnh lý". Có những lý do tâm lý rõ ràng cho sự né tránh này, nó liên quan đến tính ngông cuồng thơ dại (infantile grandiosity) trong tâm trí chúng ta. Khi bắt đầu nhìn vào những vấn đề to lớn mà nhân loại đang đối mặt, năng lượng ngông cuồng của chúng ta bị kích thích quá mức. Chúng ta trở nên vô cùng lo âu. Giống như có một con chó St. Bernard nặng 150 kg đang nhảy chồm chồm trong đầu bạn vậy. Các cơ chế phòng vệ của bạn đơn giản là tự đóng sập lại. Đây là một hiểu biết phổ biến trong ngành "Tâm lý học Về Bản thể" (self psychology). Điều gì sẽ xảy ra khi bạn bắt đầu cho phép bản thân cảm thấy đủ "vĩ đại" để giải quyết một số vấn đề thực sự lớn của con người? Điều này không có gì quá cao siêu, chỉ là tâm lý học bản thể cơ bản, nhưng chúng ta cần hiểu cách nó vận hành để không né tránh việc đối mặt với các vấn đề nhân loại quan trọng.


Tôi có một niềm tin chắc chắn rằng chúng ta phải can thiệp vào các động lực này để có thể đặt ra và giải quyết những câu hỏi lớn. Điều đó đòi hỏi chúng ta phải phát triển sự nhận thức để đối mặt với chúng và đề ra các chiến lược ứng phó hiệu quả.


Hiện tại, có rất ít sự quan tâm đến chủ đề tối quan trọng này vì sự phủ nhận đang diễn ra quá diện rộng. Chúng ta có một nỗi sợ hãi to lớn rằng mình sẽ bị đè bẹp bởi sự ngông cuồng, bởi "phức cảm cứu thế" (messianic complex) của chính mình, nên chúng ta lảng tránh nó. Chúng ta thà xem phim truyền hình dài tập hay làm một điều gì đó khác. Điều đó mang lại cảm giác dễ vỗ về bản thân hơn nhiều.


Đối với tôi, thế giới hiện đại đang đối mặt với một cuộc khủng hoảng mang tính quyết định. Trái ngược với những gì chủ nghĩa thế tục ngông cuồng muốn chúng ta tin tưởng, sự thế tục hóa không hề mang lại tiến bộ lớn nào cho tiên lượng lâu dài của nhân loại. Tất cả những gì bạn cần làm là nhìn nhận nghiêm túc các vấn đề sinh thái của hành tinh này, quan sát kỹ lưỡng — không phải qua các giả thuyết mơ hồ mà qua những dữ liệu thực tế — về những gì loài chúng ta đang gây ra cho các loài khác, và những gì sự thèm khát vô độ của tính vị kỷ (narcissism) con người đang tàn phá hành tinh này. Chúng ta đã có đủ thông tin, nếu mức độ phủ nhận không quá cao, để bất kỳ ai quan tâm cũng thấy rõ ràng rằng đây không thể chỉ là một chủ đề học thuật suông, một việc làm lúc rảnh rỗi để khỏa lấp sự chán nản. Đây là chuyện sống còn, một vấn đề sinh tồn cực kỳ nghiêm trọng.


Sự thất bại chung trong việc hiểu vấn đề này là dấu hiệu cho thấy một màn mê muội đang bao phủ lên hành tinh của chúng ta. Những ẩn dụ mà bạn cần để hiểu những gì đang xảy ra trong tâm thức con người ngày nay có thể tìm thấy trong các tác phẩm của J. R. R. Tolkien nhiều hơn là ở những nơi khác. Hành tinh của chúng ta đang sống dưới một đám mây u mê to lớn của tâm thức, một sự phủ nhận diện rộng mà Ernest Becker đã mô tả trong tác phẩm The Denial of Death (Sự phủ nhận cái chết, 1975). Tuy nhiên, nó nghiêm trọng hơn nhiều so với những gì Becker chỉ ra, bởi vì đó không chỉ là sự phủ nhận cái chết, mà là sự phủ nhận đủ loại vấn đề nghiêm trọng đang ngày một tồi tệ hơn. Sự phủ nhận của chúng ta về tình hình sinh thái là một vấn đề trung tâm, nhưng nhiều nhà phê bình xã hội có thiện chí lại từ chối nhìn vào bản chất tâm lý của những vấn đề đó. Một số người bạn của tôi trong các tổ chức hoạt động xã hội lại cho rằng phân tích tâm lý thực chất là "kẻ thù" của việc tìm kiếm giải pháp. Họ nghĩ bất kỳ ai quan tâm sâu sắc đến tâm lý học đều là kẻ "chỉ biết soi mói bản thân" (navel gazer), cố gắng trốn chạy khỏi các vấn đề của thế giới hơn là giải quyết chúng.


Một số người trong đó tin rằng các vấn đề của thế giới sẽ biến mất nếu họ có thể dịch tất cả các khái niệm tôn giáo sang thuật ngữ Mark và biến mọi người thành người theo chủ nghĩa xã hội. Họ giả định rằng người Marxist sẽ không bao giờ dính dáng đến buôn bán cocaine, rằng một quốc gia Marxist sẽ không bao giờ phải xử bắn các tướng lĩnh vì buôn lậu cocaine, và người Marxist sẽ không bao giờ hành quyết những người khao khát tự do. Bạn có biết điều đó không? Chúng ta sẽ không phải hành quyết sinh viên, hay bắn họ trên đường phố, nếu chúng ta là người Marxist. Bạn có thể tiếp tục diễn giải như thế, và nó làm tôi cảm thấy ngao ngán, bởi vì nó thể hiện một sự ngây thơ đến khó tin về thực tế cuộc sống. Họ cần đọc các tác phẩm kinh điển của Reinhold Niebuhr về động lực của sự kiêu ngạo ở con người — thứ hiện diện trong mọi hệ tư tưởng dù thuộc tả ngạn hay hữu ngạn (Niebuhr 1941–1943). Tình cảnh khốn khổ của con người không xuất phát từ việc chọn sai hệ tư tưởng.


Nhiệm vụ của chúng ta ngày nay là từ bỏ lối tiếp cận "ngây thơ" đối với tình cảnh con người. Robert Bly (1973, 1990) từng chỉ ra những điều kinh hoàng đang diễn ra ngoài kia thế giới khiến nhiều người khó chịu. Theo một cách có ý nghĩa, thơ ca, văn học dân gian và thần thoại đã luôn chỉ ra những điều này cho chúng ta, bất kể hệ tư tưởng là gì. Con người luôn tìm cách bóp méo mọi thứ vì những mục đích vị kỷ, chống đối xã hội. Sự lan rộng của những vấn đề này làm cho việc diễn giải theo tâm lý học sâu và sự suy ngẫm theo trường phái Jung trở nên đặc biệt quan trọng để hiểu được bản chất vấn đề và tìm ra các giải pháp tiềm năng.


Một số người nghĩ rằng chúng ta cần quay trở lại các hình thức và văn hóa bộ tộc tiền hiện đại để tìm giải pháp, nhưng họ lại bất đồng về một điều: nên quay lại bộ tộc nào. Chúng ta có những người muốn quay lại với người Hopi, người Mayan, người Dagara, người Navaho, v.v. Tôi nhận được thư từ những người thuộc tất cả các bộ tộc này, họ muốn viết sách về bộ tộc của mình cho bộ sách Jung và Tâm linh. Số lượng các bộ tộc tâm linh khác nhau ngoài kia là vô cùng lớn.


Trước tiên, bạn phải cảm nhận được văn hóa bộ tộc là như thế nào. Đối với một bộ tộc trong thế giới tiền hiện đại, bản thân bộ tộc đó chính là "loài người". Bất kỳ ai ngoài bộ tộc đều không phải là con người. Bộ phim Little Big Man (1970) đã thể hiện điều này bằng cách dịch tên ngôn ngữ của người Anh-điêng dùng để chỉ các thành viên trong bộ tộc là "con người", gián tiếp ám chỉ rằng những người ngoài bộ tộc không phải là "con người". Đây là một điểm cực kỳ quan trọng, bởi vì quan điểm như vậy chỉ có thể chấp nhận được chừng nào bộ tộc của bạn không có tiếp xúc với các bộ tộc khác. Khi một bộ tộc khác xuất hiện, xung năng diệt chủng (genocidal impulse) sẽ bộc phát.


Gần đây tôi có xem bộ phim Lost Horizon (1937). Mảnh đất Shangri-La — một thiên đường Tây Tạng nhỏ bé nằm sâu trong dãy Himalaya — là nơi bạn không thể tự ý đi tới. Bạn có thể bị bắt cóc, phi công của bạn có thể chết, bạn có thể gặp tai nạn và rơi xuống đó, nhưng nó được bao bọc bởi núi non, bão tuyết, và bình thường bạn không thể từ thế giới bên ngoài bước vào. Chủ nghĩa bộ tộc ở Shangri-La thì không sao, vì người dân ở đó không phải giao thiệp với bất kỳ ai từ bên ngoài.


Đây từng là tình trạng của nhiều bộ tộc trong một thời gian dài. Chúng ta vẫn tìm thấy những bộ tộc trong rừng rậm không có tiếp xúc với các bộ tộc khác. Vì vậy, họ không có rắc rối thần học nào về việc: "Còn những người khác thì sao?" Giống như câu hỏi: "Con cái của Adam và Eve đã tìm ai để kết hôn?"


Tuy nhiên, sự tiếp xúc gia tăng giữa các bộ tộc khác nhau đã làm cho xung đột trở thành một vấn đề ngày càng nghiêm trọng và phức tạp. Hãy chú ý cách các thần thoại bộ tộc xung đột với nhau đang tiếp thêm nhiên liệu cho bạo lực và chủ nghĩa khủng bố ở Trung Đông.


Dù vậy, lịch sử chiến tranh của loài người cho thấy những xung đột như thế không phải lúc nào cũng dẫn các bộ tộc đến sự tàn phá và chiến tranh vô độ. Một số người có thể coi đây là tin xấu, hoặc thậm chí là không thể chấp nhận được, rằng tất cả con người đều có nguyên mẫu chiến binh (warrior archetype) bên trong mình; nhưng nó nằm ở "phần cứng" sinh học, chứ không phải ở "phần mềm" văn hóa. Bất kể chiến binh nhìn thấy gì, nó hoặc là muốn chiến đấu, hoặc là muốn bảo vệ. Đó là những gì chiến binh làm. Điều đó luôn đúng với con người. Nhưng các văn hóa bộ tộc tiền hiện đại đã có các nghi lễ được thiết kế để giới hạn sự xâm lược. Các nghi lễ chiến tranh có một mục đích: hạn chế, chứa đựng và kiểm soát chiến tranh.


Chiến tranh hiện đại thì hoàn toàn không phải là một sự cải tiến. Sự hiện đại hóa công nghệ trong chiến tranh liên tục làm giảm mức độ nhận thức về việc nghi lễ hóa. Ngày nay, bạn không thể đến Học viện Chiến tranh và tìm thấy một khóa học mang tên "Nghi lễ hóa Chiến tranh 301". Không có nơi nào trong chương trình giảng dạy ghi rằng: "Đây là những nghi lễ chúng ta thực hiện để đảm bảo không giết quá nhiều kẻ thù". Đó là lý do tại sao sự gia tăng vũ khí hạt nhân lại diễn ra đến mức độ như vậy. Chúng ta không hài lòng với việc chỉ giết tất cả kẻ thù của mình một lần; chúng ta muốn có khả năng giết họ càng nhiều lần càng tốt. Kiểu điên rồ này là kết quả của việc bị xâm chiếm bởi các năng lượng nguyên mẫu vô thức.


Lịch sử chiến tranh và sự nghi lễ hóa trong chiến tranh cho thấy chúng ta đang có một cách tiếp cận lệch lạc như thế nào đối với vấn đề này. Loài của chúng ta đang ở trong một trạng thái gần như loạn thần về điều đó. Trong thời kỳ bộ tộc, chúng ta có thể ra trận với các nghi lễ giúp bản thân lên tinh thần. Chúng ta biết cách tạo ra các chiến binh. Chúng ta vẽ lên người họ, làm cho họ reo hò, đánh tất cả những chiếc trống đó, tạo ra tất cả những tiếng động chiến tranh, tạo ra tất cả năng lượng chiến binh đó! Những bộ tộc bản địa này không chỉ nhảy múa cho vui. Đó là một quá trình nghi lễ trang nghiêm được thiết kế để tạo ra sự nhận thức cần thiết cho mục đích nghiêm túc là tiến hành một cuộc chiến tranh có giới hạn.


Khi giao chiến với kẻ thù, họ thường không có ý định tiêu diệt toàn bộ bộ tộc đối phương. Họ thường chỉ muốn đột kích và bắt một số tù binh cho các mục đích nghi lễ. Một số người Mỹ bản địa gọi đây là "lập chiến công" (counting coup). Nếu bạn là một chiến binh ưu tú, bạn có thể muốn cưỡi ngựa sang phía bên kia, chạm vào con ngựa của chiến binh giỏi nhất bên đó, rồi cưỡi trở lại phe mình mà không ai bị thương. Không phải lúc nào bạn cũng giết kẻ thù của mình.


Tôi muốn nhấn mạnh ở đây rằng "phần mềm nghi lễ" trong các văn hóa bộ tộc đã đặt ra những giới hạn lớn đối với tính tàn phá của các xung năng chiến tranh. Họ cũng có các cấu trúc nghi lễ tự giới hạn để điều tiết sự tiêu thụ. Một số người trong các bạn có thể biết nhiều hơn tôi về điều này. Bạn có thể cho tôi một ví dụ về cách các văn hóa bộ tộc điều tiết sự tiêu thụ không? Bạn có biết ví dụ nào về điều đó không? Họ đã điều tiết chủ nghĩa vật chất như thế nào?


Khán giả: Tự nhiên là một bộ điều tiết vĩ đại.


Moore: Đúng vậy, tự nhiên theo một nghĩa nào đó chắc chắn là bộ điều tiết cuối cùng, nhưng tôi đang nói về các bộ điều tiết văn hóa hoặc nghi lễ. Bạn đã bao giờ nghe nói về tục Potlatch chưa? Nó là gì? Có ai có thể định nghĩa nó không?


Khán giả: Chẳng phải đó là một lễ ban tặng vĩ đại, nơi mọi người từ khắp nơi đến và bạn cho đi những gì bạn có, để thể hiện bạn giàu có, quyền lực, hào phóng như thế nào, v.v.?


Moore: Đúng vậy, đó là một dịp nghi lễ quan trọng. Bạn tích lũy được một số của cải, bạn có rất nhiều ngựa hoặc heo, hoặc bất cứ thứ gì, nhưng đến một lúc bạn không muốn tiếp tục tích trữ nữa, nên bạn tổ chức một bữa tiệc để cho đi phần dư thừa. Chúng ta vẫn còn một chút điều đó trong việc tổ chức tiệc tùng ngày nay. Để tổ chức một bữa tiệc tốt, bạn cần có một chút năng lượng nguyên thủy của việc tặng quà trong tâm trí mình. Chúng ta chưa biết đủ về tâm lý học cổ xưa của việc tặng quà, nhưng nó liên quan đến chủ đề nguyên mẫu này. Nếu nhìn một cách hời hợt, nó có vẻ như một hành động ngông cuồng, kiêu ngạo, nhưng sẽ không phải vậy nếu bạn hiểu nền tảng nghi lễ và nguyên mẫu của nó. Đó là điều phải làm để kiến tạo một thế giới, kiến tạo một vũ trụ (cosmos). Nó thể hiện sự hào phóng của vị vua và hoàng hậu nguyên mẫu. Tất cả điều này liên quan đến nguyên mẫu của vua và hoàng hậu.


Tóm lại, các văn hóa tiền hiện đại thường sử dụng việc "nghi lễ hóa có ý thức" để đặt giới hạn cho những hành vi xâm lược và tích trữ — những hành vi vốn đang bùng nổ ngày nay mà không có bất kỳ giới hạn nào. Một số nghi lễ trong văn hóa bộ tộc đã giới hạn sự xâm lược, và các nghi lễ khác giới hạn sự tiêu thụ và tích trữ phô trương. Ngược lại, văn hóa hiện đại ngày nay không có nghi lễ hiệu quả nào để giới hạn sự xâm lược, và không có nghi lễ hiệu quả nào để giới hạn sự tiêu thụ và tích trữ phô trương.


Con người luôn thực hiện việc nghi lễ hóa, dù là vô thức hay có ý thức. Ý tôi muốn nói về nghi lễ là việc ai đó nhận trách nhiệm có ý thức để dẫn dắt một nhóm làm những việc cần phải làm. Sự lãnh đạo nghi lễ có ý thức là một điều hoàn toàn khác với việc "bộc phát hành vi" (acting out) hay giả-nghi lễ hóa. Nhiều hình thức nghi lễ bộc phát nguyên mẫu này không có sự có ý thức hay kiểm soát. Nghĩa là, các nhà lãnh đạo có thể tuân theo một số hành vi mang tính nghi lễ mà không hiểu mục đích nghi lễ của những gì họ đang làm.


Ví dụ, các nhà lãnh đạo của chúng ta trong Chiến tranh Việt Nam đã giới hạn sự xâm lược theo một cách nhất định, nhưng họ không biết mình đang làm gì theo bất kỳ giác quan nghi lễ tâm lý có ý thức nào. Các quyết định không ném bom một số khu vực nhất định không được đưa ra trên cơ sở các đánh giá nghi lễ, mặc dù chúng có thể bắt nguồn từ một sự nhận thức vô thức nào đó.


Tâm lý học Jung nhấn mạnh nhu cầu liên hệ một cách có ý thức với các mô hình và năng lượng nguyên mẫu. Tư tưởng Jung đòi hỏi một "đạo đức của sự nhận thức" (an ethic of

awareness). Sẽ là không đủ nếu chỉ thực hiện các nghi lễ ám ảnh, cưỡng chế. Những cấu hình nguyên mẫu mà chúng ta không nghi lễ hóa một cách có ý thức, chúng ta buộc phải bộc phát chúng một cách vô thức. Đó là một tiền đề căn bản trong toàn bộ công việc của tôi hiện nay, và nó có những hàm ý xã hội, chính trị và đạo đức to lớn đối với văn hóa toàn cầu.


Trong một bản thảo chưa xuất bản có nhan đề The Last Rite (Nghi lễ cuối cùng), Douglas Gillette và tôi tranh luận rằng có một áp lực nguyên mẫu vô thức hướng tới chiến tranh tổng lực mà thế giới sẽ bộc phát trừ khi một nhận thức tâm linh hành tinh mới được phát triển và can thiệp để xử lý áp lực đó. Một cuộc thanh tẩy và biến đổi tâm linh lớn của Trái Đất dường như được đảm bảo bởi áp lực ngày càng tăng của các năng lượng ngông cuồng trong tâm trí con người. Chúng tôi thấy hai khả năng thay thế: (a) loài người sẽ bộc phát các năng lượng ngông cuồng của mình và bị "thanh tẩy" trong một quả cầu lửa lớn, một cuộc Chiến tranh Thế giới thứ ba, hoặc (b) chúng ta sẽ học cách hy sinh tính ngông cuồng thơ dại của mình một cách có ý thức và nhận trách nhiệm có ý thức để thực hiện những thay đổi cần thiết nhằm đạt được một sự biến đổi tâm linh vĩ đại. Ở đây, những người theo chủ nghĩa giải cấu trúc (deconstructionists) là đồng minh của chúng ta bằng cách đặt giới hạn cho tính nghĩa đen, vì chúng ta không được hiểu theo nghĩa đen nhu cầu thiêu hủy và xâu xé loài người. Sự hăng hái của những người giáo điều đối với trận chiến Armageddon chỉ là một sự hiện thực hóa nghĩa đen vô thức đối với mệnh lệnh biến đổi.


Huyền thoại tận thế dựa trên các nguyên mẫu dai dẳng về cái chết và sự tái sinh mà bạn tìm thấy trong giấc mơ của trẻ em trên toàn thế giới. Huyền thoại về một cuộc đại hỏa hoạn xuất hiện trong mọi truyền thống lớn của thần thoại thế giới. Phần phụ lục cho bản thảo của chúng tôi đưa ra 50 trang trích dẫn từ các huyền thoại về một ngọn lửa lớn này.


Những người làm việc và suy nghĩ trong một khuôn khổ JUng không thể lờ đi các mệnh lệnh nguyên mẫu này trong tâm trí. Thần thoại đối với một nhà lý thuyết JUng không giống như thần thoại đối với một số nhà thần thoại học học thuật. Những người theo trường phái Jung biết rằng các huyền thoại này có tác động tâm lý dù có ai nhận ra hay không, dù có ai thích hay không. Bạn không thể tránh khỏi ảnh hưởng của các nguyên mẫu, bởi vì chúng nằm trong "phần cứng" của bạn. Bạn chỉ có hai lựa chọn: liên hệ với chúng một cách có ý thức và trách nhiệm, hoặc bộc phát chúng một cách vô thức. Đó là giả định cơ bản của tôi. Nếu chúng ta chọn cách sau, những người giáo điều sẽ dẫn dắt chúng ta vào vực thẫm.


Ngay cả những phần của các nghi lễ bộ tộc gây ra sự ghê tởm cho chúng ta ngày nay cũng từng có một vai trò quan trọng trong việc giới hạn sự xâm lược và tàn phá. Người hiện đại chúng ta có thể nhíu mày về mặt đạo đức khi biết họ đã hiến tế tù binh và ăn thịt họ, chẳng hạn, nhưng đó thường chỉ là một vài người, và sau đó họ sẽ không thực hiện thêm cuộc đột kích nào trong một thời gian. Họ thường không đi vào trạng thái phải tiêu diệt tất cả các thành viên của bộ tộc đối phương. Hận thù đã được chứa đựng ở một mức độ nào đó. Dù sao đi nữa, các sự hiến tế nguyên thủy vẫn có vẻ vượt trội về mặt đạo đức so với các hành vi diệt chủng tàn bạo và quái đản của chiến tranh hiện đại. Cái tôi hiện đại dường như khó đối mặt với thực tế rằng trong các cuộc chiến tranh của chúng ta, chúng ta tham gia một cách vô thức vào việc hiến tế người trên quy mô lớn.


Khán giả: Khi ông nói về tầm quan trọng của việc nghi lễ hóa có ý thức, điều đó có nghĩa là nghi lễ hóa với sự hiểu biết không?


Moore: Vâng, nghi lễ phải có ý thức và được dẫn dắt bởi một trưởng lão về nghi lễ. Trước tiên, chúng ta cần một sự hiểu biết về cách thức hệ thống tâm thức con người hoạt động, và cách nó dẫn vào các mối quan hệ xã hội, giữa các nhóm, giữa các tôn giáo và quốc tế. Sau đó, chúng ta phải có sự lãnh đạo nghi lễ có ý thức.


Khán giả: Nhưng làm thế nào có thể nghi lễ hóa với sự hiểu biết trong thế giới tiền hiện đại? Ông không cổ xuy cho việc quay trở lại kiểu nghi lễ hóa tiền hiện đại đó, đúng không? Tôi đang cố gắng hiểu sự khác biệt.


Moore: Được rồi, hãy để tôi nói thêm về điều đó. Đây là một trong những điều mà các nhà nghiên cứu về các văn hóa bộ tộc tiền hiện đại đã phát hiện ra — điều mà các nhà nhân học Kitô giáo sơ khai không hiểu, khi họ giả định rằng Kitô giáo vượt trội hơn các văn hóa bộ tộc về mọi mặt. Tất nhiên, điều đó ngày nay nghe có vẻ như một sự kiêu ngạo đáng kinh ngạc đối với chúng ta, bởi vì họ thực sự không hiểu chút nào về các bộ tộc đó. Họ không nhận ra sự tinh vi đáng kinh ngạc của các trưởng lão nghi lễ bộ tộc và các quá trình nghi lễ của họ, cũng như mối quan hệ của họ với sự nhận thức.


Hầu hết các văn hóa bộ tộc, trên thực tế, đã đi trước chúng ta nhiều năm ánh sáng trong sự hiểu biết của họ về mối quan hệ giữa việc nghi lễ hóa và sự nhận thức. Rất ít nhà tâm lý học và nhà phân tích tâm lý ngày nay biết bất kỳ điều gì về nó. Chỉ một nắm người trên thế giới đang nghiên cứu cách nghi lễ liên quan đến các quá trình tâm lý, như trong công trình của Victor Turner. Một số nhà tâm lý học tinh vi chỉ mới bắt đầu nhận ra rằng sự chuyển di (transference) thực sự có thể là một hiện tượng nghi lễ, và nhà phân tích tâm lý là một trưởng lão nghi lễ trong một quá trình biến đổi. Quan điểm Freud cổ điển cho rằng bất kỳ ai tham gia vào nghi lễ đều chỉ là bị điên. Thật là xấu hổ khi chúng ta lại ngây thơ về điều này.


Dù sao đi nữa, điểm đột phá trong lý thuyết phân tích tâm lý ngày nay là hiểu rằng các quá trình nghi lễ hóa có ảnh hưởng đến tâm trí con người. Bước ngoặt lớn xảy ra khi Erik Erikson bắt đầu chỉ ra việc nghi lễ hóa trong tâm trí. Chúng ta đã có nhiều tiến bộ kể từ đó, nhưng không nhiều so với những gì cần phải làm. Phần lớn công việc của chính tôi là trong lĩnh vực này.


Hãy lấy thôi miên làm ví dụ, một hiện tượng nghi lễ cổ xưa. Sự thù oán của Kitô giáo hiện đại đối với phép thuật dựa trên việc một số nhà nhân học sơ khai không hiểu gì về phép thuật. Phép thuật không gì khác hơn là việc hiểu mối quan hệ giữa những gì bạn làm trong nghi lễ và loại nhận thức phát ra từ đó. Nếu bạn là một thầy thuốc bộ tộc cổ xưa và bạn nhận ra đã đến lúc cho một nhóm chiến binh ra trận, bạn biết nghi lễ để tạo ra một chiến binh. Khi tất cả các chiến binh trẻ trở về nhà, bạn biết nghi lễ để biến những chiến binh đó trở lại thành những người chăn gia súc. Bạn phải dạy họ cách chăm sóc tất cả những con ngựa mà họ đã cướp được trong chiến tranh!


Ngược lại, hãy suy ngẫm về những gì đã xảy ra với các cựu chiến binh Chiến tranh Việt Nam của chúng ta. Các bệnh viện của chúng ta trên khắp đất nước đầy những chiến binh trẻ, giờ không còn trẻ nữa, bởi vì chúng ta đã thất bại với họ. Họ được biến thành chiến binh bởi những trưởng lão nghi lễ không đủ năng lực, những người điếc về mặt nghi lễ — một lũ trung sĩ huấn luyện chỉ biết cách biến người ta thành "chiến binh bóng tối", những người không biết trách nhiệm đạo đức của một chiến binh thực sự. Khi các chiến binh trẻ trở về nhà, chúng ta đã thất bại trong việc tập hợp họ lại cho một điệu nhảy nơi họ có thể nhảy múa để thoát khỏi việc làm chiến binh và trở lại làm những người chăn gia súc. Thay vào đó, chúng ta phân tán họ vào các bệnh viện cựu chiến binh trên khắp đất nước. Chúng ta biết cách biến họ thành những kẻ sát nhân, nhưng chúng ta không biết cách nhảy múa để đưa họ trở thành những người dân thường có thể xử lý hiệu quả các vấn đề của mình, có gia đình và xây dựng cộng đồng.


Những người trẻ tuổi này biết rằng có điều gì đó không ổn. Nếu bạn từng làm việc với bất kỳ ai trong số họ hoặc quen biết họ, bạn sẽ thấy rằng họ biết mình đã bị phản bội bởi các nhà lãnh đạo của mình. Bi kịch lớn là chúng ta đã không làm đủ việc về tâm linh và nghi lễ để hiểu chúng ta đã phản bội họ như thế nào. Trong số nhiều cách khác nhau, chúng ta đã phản bội họ bằng sự thiếu hiểu biết của mình về quá trình nghi lễ.


Khán giả: Điều này có xảy ra sau Thế chiến II không, và nếu không, sự khác biệt lúc đó là gì?


Moore: Điều này xảy ra sau mỗi cuộc chiến tranh hiện đại, nhưng có một số điểm khác biệt. Sau Thế chiến II, chúng ta vẫn còn một số tàn tích của một trật tự tôn giáo ít nhiều được giữ nguyên, và các binh sĩ trẻ có thể trở về với cảm giác họ đã chiến đấu trong một cuộc chiến có đạo đức, dù điều đó có đúng hay không. Họ vẫn có thể trở về trong một vũ trụ (cosmos) còn nguyên vẹn một phần, tức là một thế giới có trật tự. Nói cách khác, sau Thế chiến II, nước Mỹ ở một mức độ nào đó vẫn có một "mái che linh thiêng" (sacred canopy). Sau Chiến tranh Triều Tiên, nó bắt đầu sụp đổ, và đến thời Chiến tranh Việt Nam, chúng ta không còn một mái che linh thiêng thần thoại nào hoạt động nữa. Trong quá trình hiện đại hóa, mái che linh thiêng của thần thoại đã sụp đổ, và điều đó có nghĩa là chúng ta không có gì để trở về nhà.


Ngày nay chúng ta không còn ngay cả một vũ trụ bộ tộc. Điều này giống như người Anh-điêng có vũ trụ bộ tộc sụp đổ, không còn lại gì ngoài việc sử dụng rượu, ma túy và cờ bạc mang tính tự hủy hại. Tuy nhiên, sự sụp đổ này đang xảy ra với tất cả chúng ta ngày nay, không chỉ với người Anh-điêng. Tất cả chúng ta đều đang nghiện việc tự uống thuốc, cái mà tôi gọi là những "bí tích quỷ dữ" (demonic sacraments).


Khán giả: Một cách để điều tiết sự tiêu thụ của chúng ta thông qua nghi lễ có thể là Tổng thống Bush cung cấp cho Ba Lan một số giám đốc điều hành Fortune 500 của chúng ta trong vài năm để hồi sinh nền kinh tế Ba Lan.


Moore: Có nhiều cách có thể để hình dung về nghi lễ. Việc tham gia vào sự suy ngẫm sáng tạo về nhiệm vụ chung quan trọng này là hữu ích và mang tính hướng dẫn. Những người thông thái ở khắp mọi nơi nên cân nhắc xem những hành động và sự nghi lễ hóa cụ thể mới nào sẽ giúp đạt được nhận thức tâm linh toàn cầu nhằm giới hạn sự xâm lược và tiêu thụ.


Giả sử, chẳng hạn, bạn thuộc một nhóm động não (brainstorming group) đang tìm kiếm các giải pháp tiềm năng, và tôi nói với bạn: "Được rồi, cả đội, nhiệm vụ của chúng ta bây giờ là đề ra một chiến lược mới để phát triển nhận thức và hành vi của con người trong các lĩnh vực rắc rối này. Bạn sẽ đề xuất những nghi lễ cụ thể nào để tạo ra một sự nhận thức toàn cầu mới nhằm giới hạn sự xâm lược và tiêu thụ?" Tôi nghĩ đây là một nhiệm vụ quan trọng có ưu tiên cao nhất cho tương lai nhân loại. Nếu mọi người thực sự muốn làm một điều gì đó cụ thể để giải quyết các vấn đề nghiêm trọng này, họ không chỉ phải nhìn vào lý thuyết kinh tế và chính trị, mà còn vào những gì họ có thể đóng góp cá nhân hướng tới sự lãnh đạo biến đổi tâm linh.


Khán giả: Thể thao chuyên nghiệp như bóng đá Mỹ có chức năng gì? Điều đó có phải là một sự nghi lễ hóa không?


Moore: Vâng, thể thao là một sự nghi lễ hóa vô thức để kiềm chế sự xâm lược. Các môn thể thao bạo lực, xâm lược nhất của chúng ta là những sự nghi lễ hóa vô thức. Chúng thực sự là hành vi bộc phát (acting out), nhưng chúng còn tốt hơn là không có gì, bởi vì nếu bạn đóng cửa thể thao chuyên nghiệp ở đất nước này trong một năm, sự gia tăng khổng lồ về bạo lực và tội phạm bạo lực sẽ làm bạn kinh ngạc, có thể theo nghĩa đen.


Khi các nhà lãnh đạo văn hóa quên cách nhảy múa, hoặc quên cách tổ chức một điệu nhảy, chúng ta sẽ tìm đến đâu? Điều tốt nhất chúng ta có ngày nay là Grateful Dead và Willie Nelson. Họ vẫn biết cách tổ chức một điệu nhảy, và nó có hiệu quả trong một thời gian, nhưng nó không hoạt động theo cách chúng ta cần. Chúng ta cần sự lãnh đạo nghi lễ có ý thức, hiệu quả, giải quyết tình cảnh con người toàn cầu của chúng ta. Bất kỳ điều gì ít hơn thế đều chỉ là "sắp xếp lại các ghế nằm trên tàu Titanic".


Khán giả: Ông nghĩ gì về Paul Ricoeur?


Moore: Cách tiếp cận của Ricoeur là quan trọng về mặt giải-nghĩa-đen (deliteralization), nhưng tôi không nghĩ ông ấy đưa ra nhiều giải pháp cho các vấn đề lớn mang tính cấp bách, bởi vì công trình của ông không có nhiều tài nguyên cho các vấn đề sự chứa đựng nghi lễ (ritual containment). Tôi là một người thực tế. Vâng, tôi là một giáo sư, nhưng tôi cũng là một nhà phân tích và tư vấn. Tôi xử lý những con người thực và các vấn đề thực. Tôi không nghĩ một phương thức phân tích thuần túy học thuật sẽ giải quyết được các vấn đề của hành tinh. Phân tích tâm lý chỉ giới hạn trong phòng tư vấn cũng sẽ không giải quyết được các vấn đề. Đơn giản là không có đủ thời gian để chúng ta đào tạo đủ nhà phân tích, cũng như không đủ tiền để đưa mọi người vào phân tích, nhằm giải quyết cuộc khủng hoảng nhân loại mà chúng ta đang gặp phải hiện nay.


Trong khi tôi đang nói về những gì sẽ không hoạt động, chủ nghĩa giải cấu trúc (deconstructionism) cũng sẽ không hoạt động. Ngày nay có nhiều sự mê hoặc với chủ nghĩa giải cấu trúc và chủ nghĩa hậu hiện đại, những xu hướng mới nhất trong phê bình và phân tích. Tôi đồng ý rằng chúng ta cần vượt qua tính văn chương (literalism), nhưng hầu hết những người theo chủ nghĩa giải cấu trúc không bao giờ xử lý vấn đề làm thế nào để nói một điều gì đó có ý nghĩa và biến đổi, và đặt mọi thứ trở lại với nhau. Chúng ta cần kiến tạo một vũ trụ (cosmos), một môi trường sống cho nhân loại và các sinh linh liên quan.


Dưới đây là bản dịch chương 7, được trau chuốt theo văn phong tiếng Việt tự nhiên và bám sát nguyên tác:


CHƯƠNG 7: Huyền thoại về cuộc chiến và Kẻ thù nguyên mẫu


Carl Jung tin chắc chắn rằng cái ác là có thật và là một thế lực ác tính mạnh mẽ trong cuộc sống con người. Bất kỳ nền tâm linh nhân loại nào đủ sức nặng cũng phải giải quyết thực tại của cái ác tận rễ (radical evil), chứ không chỉ riêng bóng tối cá nhân. Chúng ta bắt đầu với những biểu hiện xuyên văn hóa của huyền thoại về cuộc chiến chống lại cái ác. Tâm lý học về cái ác không chỉ bắt nguồn từ một truyền thống tâm linh duy nhất, mà từ một nền thần thoại học so sánh về cái ác mà lần đầu tiên trong lịch sử, chúng ta có quyền tiếp cận. Những người theo trường phái Jung đặc biệt tìm kiếm sự tiếp nối giữa các hệ thống thần thoại xuyên văn hóa này với các vấn đề về bệnh lý và sức khỏe của con người.


Như đã trình bày ở chương trước, việc tôi giải mã các cấu trúc của Bản thể nguyên mẫu đã vạch ra bốn cặp đôi nội tâm ngự trị trên các không gian tâm lý bên trong khác nhau: nhà vua và hoàng hậu, các chiến binh, các pháp sư, và những người tình. Xuyên suốt lịch sử, các nhà thần thoại học luôn đặt cái ác vào vùng chiến sự cùng với các chiến binh — những người, xét theo nguyên mẫu, luôn luôn chiến đấu với kẻ thù.


Neil Forsythe không theo trường phái Jung, nhưng ông ấy hoàn toàn có thể được coi là như vậy, bởi vì cuốn sách của ông, The Old Enemy: Satan and the Combat Myth (Kẻ thù xưa cũ: Satan và Huyền thoại về cuộc chiến, 1987), đã mang lại những bước tiến vượt bậc trong việc thấu hiểu tính phổ quát của huyền thoại về cuộc chiến. Ông có một biểu đồ chỉ ra bố cục xuyên văn hóa của huyền thoại này và lập bản đồ chiến trường của cuộc chiến tranh nguyên mẫu, cái mà tôi gọi là "bình nguyên của sự đấu tranh" (plain of struggle) (Moore và Gillette 1992; Moore 1996). Cuốn sách Faces of the Enemy (Những gương mặt của Kẻ thù, 1986) của Sam Keen mô tả cách con người luôn phi nhân tính hóa và ác quỷ hóa những người mà họ coi là kẻ thù.


Lập luận của tôi là huyền thoại về cuộc chiến mang tính nguyên mẫu. Nó nằm trong "phần cứng" của mỗi chúng ta. Nó thuộc về cặp đôi thứ hai trong bốn cặp đôi. Nó ở bên trong tất cả chúng ta, và chúng ta phải đối mặt với nó. Khi bạn ở trong chế độ chiến binh, một thứ gì đó sẽ bị ác quỷ hóa, dù vô tình hay cố ý. Khi bạn không hiểu cách tâm trí nguyên mẫu liên hệ với cái tôi (ego), bạn sẽ phóng chiếu hình ảnh của kẻ thù nguyên mẫu lên một con người "khác". Đó có thể là Reagan, hay Bush, hay "Đế quốc Tà ác", hay người Do Thái, hay người Hồi giáo. Trong mọi trường hợp, bạn đang bộc phát một sự phóng chiếu bóng tối nguyên mẫu. Một khi bạn ác quỷ hóa ai đó, bạn gán cho người đó một nguồn năng lượng thần thánh mang tính quỷ dữ (demonic numinous energy).


Có một hiện tượng song song rất thú vị. Vì bạn đã được "lập trình sẵn" cho kẻ thù nguyên mẫu này, nên khi bạn đồng nhất hóa bản thân với nó, bạn sẽ bị nó nô dịch. Đây không phải là bóng tối cá nhân mà tất cả chúng ta được kỳ vọng phải tích hợp, mà là kẻ thù nguyên mẫu. Bạn bắt đầu hiện thân hóa nó vào thế giới thực.


Khán giả: Bạn có thể nghĩ đến ai trên thế giới ngày nay có thể đang đồng nhất hóa với cái bóng của kẻ thù nguyên mẫu, với chính cái ác nguyên mẫu không? Hitler?


Moore: Vâng, dĩ nhiên Hitler nghĩ hắn là một dạng vị cứu tinh của dân tộc mình. Hắn mô phỏng lực lượng SS theo tổ chức Dòng Tên (Jesuits). Điều đó đã được làm rõ qua các nghiên cứu lịch sử. Tôi không có ý đả kích Dòng Tên, bởi vì chính tôi cũng có một nhân cách Dòng Tên bên trong mình. Tôi không phải là người Công giáo La Mã, nhưng tôi có nhân cách Dòng Tên nội tâm này luôn quấy rầy tôi. Một nhà sử học đã viết một công trình tiểu sử và lịch sử gọi Hitler là "vị Chúa rối loạn nhân cách" (psychopathic God) và ghi chép lại các nghi lễ của hắn, cách hắn có thánh đường riêng, vân vân (Waite 1977). Sự đồng nhất hóa của hắn với một vị vua cứu thế là một khía cạnh của sự tự cao (inflation), và khi kết hợp với nhiều khía cạnh tiêu cực khác của sự ngông cuồng của hắn, nó đã mang lại những hậu quả quỷ dữ. Sự ngông cuồng được trải nghiệm một cách vô thức tạo thành một "phức cảm Lucifer" hóa thân ngay trong chính ngôi nhà và cộng đồng của chúng ta cũng như trong các vấn đề thế giới. Chúng ta trở thành những kẻ thù thực sự của vũ trụ hay của trật tự sáng tạo.


Các nhóm thờ Satan thực sự có ý thức đồng nhất hóa bản thân với Chúa tể của Thế giới Ngầm. Gần đây, một người phỏng vấn đã hỏi một nhóm thanh thiếu niên ở một thành phố lớn: "Tại sao các em lại thờ phụng Satan?" Chúng trả lời: "Ngày tận thế đã cận kề, trận chiến cuối cùng đang đến rất gần, và chúng em muốn ở phe chiến thắng." Vì vậy, chúng dốc sức tìm hiểu và phát triển tất cả những truyền thuyết có thể tìm thấy về Satan.


Nếu bạn nghiên cứu những cuốn sách của Jeffrey Burton Russell về lịch sử thần thoại của Satan, rồi nghiên cứu tâm lý học về những rối loạn của tính vị kỷ (narcissism), bạn sẽ hiểu tại sao rất nhiều người lại bị Satan thu hút. Những người gặp khó khăn trong việc làm bạn với năng lượng ngông cuồng của mình một cách có ý thức và lành mạnh thường có xu hướng ngưỡng mộ và đồng nhất hóa bản thân với Satan. Rất nhiều thần thoại cổ xưa mô tả việc Satan muốn được công nhận là đẹp đẽ. Đó cũng chính xác là những gì chúng ta muốn.


Các nghiên cứu phân tích tâm lý học gần đây đã giúp chúng ta thấu hiểu nỗi khao khát này với sự đồng cảm lớn hơn. Có một phần lành mạnh trong chúng ta luôn muốn được coi là đẹp đẽ và muốn được tán dương. Nhiều truyền thống đã dành trọn mọi "vinh quang" cho Thiên Chúa — điều này dĩ nhiên là rất tuyệt đối với Thiên Chúa, nhưng sẽ ra sao nếu bạn cũng muốn được coi là đẹp đẽ? Sẽ ra sao nếu bạn thực sự cần và xứng đáng có được một chút vinh quang đó? Đây chính là điều mà Matthew Fox (1991) giải quyết thông qua khái niệm "Tâm linh Sáng thế" (Creation Spirituality) của ông, rằng mọi vật thọ tạo cũng đều sở hữu vinh quang. Nếu bạn nghiên cứu về vương quyền thiêng liêng, bạn sẽ thấy rằng một vị vua thực sự hay một hoàng hậu thực sự luôn chia sẻ vinh quang. Thực chất, họ là cội nguồn của sự vinh hiển. Họ ban phước cho bạn. Đó chính là sự vinh hiển. Đó là thứ giúp bạn tỏa sáng như một con người. Nó làm bạn tỏa sáng trong bản chất con người tuyệt vời, đẹp đẽ và cốt lõi của mình. Đó là điều Matthew Fox đang cố gắng chỉ ra, và ông ấy đã đúng.


Các tôn giáo đã vô tình tiếp thêm sức hấp dẫn cho cái ác khi dạy rằng, để trở nên tâm linh hơn, con người phải hạ thấp và thu nhỏ tính người, đặc biệt là tính nữ. Sai lầm phổ biến này đã thổi bùng lên cả chủ nghĩa phân biệt giới tính lẫn thảm họa sinh thái hiện tại của chúng ta. Nhà triết học và thần học vĩ đại Paul Tillich đã phản bác lại thứ chủ nghĩa Mani liên tôn giáo đang thịnh hành này bằng cách khẳng định rằng vinh quang thần thánh hiện diện trong mọi biểu hiện của vạn vật theo một cách thức mang tính bí tích.


Nếu chúng ta mặc định rằng việc khao khát tỏa sáng là của quỷ dữ, thì hầu hết mọi người sẽ muốn trở thành quỷ dữ. Nhưng Kohut đã đạt được một bước tiến lớn khi làm rõ rằng các năng lượng ngông cuồng không nhất thiết là ác quỷ hay tồi tệ. Sự điên rồ của bạn không xuất phát từ việc bạn sở hữu những năng lượng ngông cuồng, mà là do bạn chưa học được cách hiện thân hóa chúng theo một cách có ý thức và lành mạnh nhằm giúp bạn trở thành một cá nhân rạng rỡ với lòng tự trọng khỏe mạnh. Chúng ta còn rất nhiều việc phải làm trong lĩnh vực này (xem Lee và cộng sự 1991).


Khán giả: Ông có nhắc đến việc phóng chiếu lên người khác chính những điều mà chúng ta ghét ở bản thân mình, nhưng đó chẳng phải chỉ là một hiện tượng tâm lý học nói chung, rằng bạn sẽ trở thành chính thứ mà bạn ghét sao? Nói cách khác, đó chẳng phải là lý do tại sao các đặc vụ CIA lại sử dụng các phương pháp của KGB để hoàn thành công việc của họ sao? Hay tại sao chúng ta ủng hộ các nền dân chủ cho đến khi họ đi theo con đường xã hội chủ nghĩa, như ở Chile hay Guatemala, và rồi đột nhiên chúng ta không còn ủng hộ dân chủ nữa? Hoặc chúng ta không cho phép việc đốt cờ và do đó tự hủy bỏ chính cái giá trị mà lá cờ đó tượng trưng? Nói cách khác, đó là biến thành chính thứ mà mình ghét.


Moore: Đúng vậy. Gần đây tôi thấy một tấm biển có dòng chữ: "Sự thù hận của bạn trở thành chính bạn." Giờ đây bạn thấy điều này xảy ra rất nhiều ở Israel. Một ngày nào đó chúng ta sẽ phải đối mặt với những gì đang diễn ra ở Israel. Việc chỉ trích quân đội Israel sử dụng vũ lực quá mức đối với người Palestine không phải là bài trừ Do Thái (anti-Semitic). Chúng ta cần giải quyết vấn đề đó. Chúng ta thường ngó lơ và không giải quyết nó nhiều, nhưng nó cũng là cùng một loại hiện tượng. Toàn bộ cuộc xung đột ở Trung Đông đang được tiếp lửa bởi sự tự cao chiến binh ở cả hai phía, dẫn đến chủ nghĩa bộ tộc ác tính (malignant tribalism). Thật không may, điều này rất "con người" theo khía cạnh nguyên mẫu. Con người bộc phát sự tự cao nguyên mẫu này mọi lúc, nhưng nó không phải là một biểu hiện có ý thức và nghiêm túc về mặt đạo đức. Tôi rất ngạc nhiên trước những người cho rằng tư tưởng của Jung không đề cập đến các vấn đề đạo đức, bởi vì toàn bộ nền tâm lý học của ông luôn nhấn mạnh thách thức đạo đức căn bản của sự nhận thức, và thách thức của việc thu hồi lại các sự phóng chiếu nguyên mẫu này. Chúng ta phải thức tỉnh và thu hồi lại những thứ này. Nếu không thức tỉnh, chúng ta sẽ không bao giờ có thể trở nên thực sự người hơn và nhân đạo hơn trong cách cư xử với nhau, với các giống loài khác, hay với môi trường.


ĐỐI MẶT VỚI CON RỒNG VĨ ĐẠI


Chúng ta phải nhận ra rằng thực tại nội tâm này sẽ trở thành một con quái vật đáng sợ nếu ta không đối diện với nó một cách có ý thức, cùng ý chí và thiện niệm. Nó mang tính nguyên mẫu chứ không phải con người. Nó không nằm ở ngoài kia, mà ở ngay trong này. Nó thường được hình tượng hóa thành một gã khổng lồ, một con quái vật hay một con rồng. Trong nhiều thần thoại, bạn phải tiêu diệt con quái vật này. Có một con quái vật nào đó mà bạn cần phải hạ gục. Trong chế độ phụ hệ, nó thường được khắc họa là một nữ quái. Thật thú vị là đàn ông thà giết một con nữ quái còn hơn là một nam quái. Luôn luôn dễ dàng hơn khi giải quyết vấn đề của giới tính kia và trút tất cả những sự phóng chiếu bóng tối của mình lên họ. Đó chính là bản chất của khái niệm Oedipus. Nếu bạn đọc lý thuyết Oedipus của Freud và đào sâu vào nó, bạn sẽ thấy xu hướng đứa bé trai muốn kết hôn với nữ thần. Đây là thần thoại Attis. Lật đổ vị thần. Chiếm lấy vị trí của vị thần. Nói cách khác, có một sự tự xưng làm thần lẩn khuất trong cậu bé. Bé gái lại muốn kết hôn với vị thần và thay thế nữ thần. Đây là sự tự xưng làm nữ thần ẩn giấu ở bé gái. Nếu không được giải quyết, những sự đòi hỏi ngông cuồng này sẽ luôn dẫn đến sự tàn phá.


Chúng ta gần như chẳng bao giờ đi đến hành động tiêu diệt thực sự, ngoại trừ có lẽ trong câu chuyện "Jack và Cây Đậu Thần", nhưng bằng trực giác, bạn nhận thấy nhu cầu phải "tiêu diệt" gã khổng lồ hoặc con rồng cùng giới với mình, bởi vì nó đại diện cho sự hiện diện ngông cuồng bên trong. Dù vậy, thứ duy nhất có thể bị tiêu diệt là một cấu trúc cái tôi đã vô thức hòa lẫn với con rồng vĩ đại. Bản thân con rồng vĩ đại không thể bị giết. Chúng ta phải thiết lập mối quan hệ với nó một cách có ý thức (xem Edinger 1999). Bất kể bạn bao nhiêu tuổi, bạn sẽ chưa thực sự là người lớn cho đến khi bạn tiêu diệt được sự đồng nhất hóa vô thức với sự hiện diện ngông cuồng bên trong mình. Đó chính là ý nghĩa của quá trình thụ lễ/nhập môn (initiation) ở con người. Nhập môn là cái chết. Phải có một nghi lễ giết chết con quái vật cụ thể này.


Chúng ta rất thích bảo người khác đi tiêu diệt quái vật của họ. Dù chủng tộc của tôi là gì, tôi luôn thích thúc giục bạn tiêu diệt quái vật của chủng tộc bạn. Dù tôn giáo của tôi là gì, tôi cũng thích bảo bạn đi tiêu diệt quái vật của tôn giáo bạn, nhưng chưa chắc tôi đã muốn tiêu diệt con quái vật của chính mình. Dù giới tính của tôi là gì, tôi muốn giới tính kia đi tiêu diệt quái vật của họ, mặc dù tôi trốn tránh đối mặt với quái vật của mình. Đó là cách mọi thứ vận hành.


Khán giả: Tôi cứ nghĩ đến câu chuyện thời sự khủng khiếp về việc một đám thiếu niên tấn công cô gái trẻ trong Công viên Central Park. Đó chẳng phải cũng là cùng một dạng hiện tượng sao? Bởi vì chúng đuổi theo cô ấy, nhưng tất cả những gì chúng nói chỉ là chúng đang "làm loạn" (wilding). Đó là lời biện hộ của chúng.


Moore: Đúng vậy, có những vị vua nhí, những vị thần vô thức bé nhỏ, thứ mà tôi gọi là "những cậu bé quái vật". Đáng buồn thay, sự ngông cuồng vô thức là một "nhà tuyển dụng mang lại cơ hội bình đẳng" (equal opportunity employer). Nó tấn công người thiểu số, người nghèo cũng như những kẻ đặc quyền và giàu có. Nếu bạn hiểu điều này, bạn sẽ hiểu tại sao chúng ta lại chứng kiến sự lo âu và các hành vi chống đối xã hội lan rộng và gia tăng ở mọi tầng lớp và mọi vị thế xã hội trong văn hóa đương đại. Những vị thần vô thức không có giới hạn nào trong những ảo tưởng của mình. Đây là biểu hiện mang tính Satan của Hình ảnh Thiên Chúa (God image). Xung năng Satan luôn luôn không có giới hạn. Nó là dấu hiệu của một phức cảm Lucifer khi bạn không có ranh giới nào đối với hành vi hay những sự đòi hỏi của bản thân. Điều này lan rộng, không chỉ ở nam giới, mà đặc biệt là ở nam giới. Đó là kiểu chiến binh tự cao mất kiểm soát, kẻ chiến binh hiếp dâm và cướp bóc, chiến binh Darth Vader, bởi vì không có một vị vua chân chính và đức độ nào mà kiểu chiến binh này sẵn sàng phục tùng và phụng sự. Điều này đòi hỏi chúng ta phải nghiên cứu về lịch sử của vị vua thiêng liêng và các giá trị trong vương quyền thiêng liêng. Toàn bộ sự tồn tại của nhà vua là để tạo ra công lý, bảo vệ người nghèo, và bảo vệ kẻ yếu. Vị vua thiêng liêng mang những chuẩn mực đạo đức và công lý cốt lõi đáng kinh ngạc được gắn liền vào trách nhiệm của mình (Moore và Gillette 1991). Những hiệp sĩ phụng sự vị vua thiêng liêng có trách nhiệm duy trì những giá trị đó và gây chiến với bất kỳ kẻ nào bất công, tức là bất kỳ ai cố gắng gieo rắc sự hỗn loạn vào thế giới.


Tuy nhiên, vị vua nhí, hay chiến binh nhí, sẽ sử dụng hỏa lực AK-47 khổng lồ mà chúng có và chĩa nó vào chính cộng đồng của mình cũng như vào nền văn minh. Đó là sự khác biệt giữa vị vua bóng tối hay chiến binh bóng tối, so với một vị vua đích thực hay chiến binh chân chính. Sự hỗn loạn (Chaos) và Vũ trụ (Cosmos) luôn luôn chiến tranh với nhau trong các thần thoại. Chiến binh chân chính chiến đấu cho Vũ trụ, còn chiến binh bóng tối muốn sự hỗn loạn. Bất cứ khi nào hai người rơi vào xung đột, chúng ta sẽ tự động kích hoạt (constellate) thiên hướng va chạm và chia tách của con người. Luôn luôn là người kia mới là kẻ ủng hộ sự hỗn loạn, trong khi tôi là kẻ thuần khiết đang chiến đấu cho trật tự đúng đắn của Vũ trụ. Vì vậy, chúng ta chia phe và bộc phát điều này, mỗi người gánh lấy những sự phóng chiếu bóng tối của người kia. Đây là lịch sử bi thảm của giống loài chúng ta trên trái đất.


Trong các sự vụ của con người, nếu bạn nghiên cứu lịch sử, đó là một cuộc tàn sát (holocaust). Đó không chỉ là một cuộc tàn sát. Nếu bạn nghiên cứu lịch sử của tuổi thơ, đó là một cuộc đại tàn sát. Lịch sử của phụ nữ là một cuộc đại tàn sát. Bạn càng biết nhiều về lịch sử, bạn sẽ càng ít mang tính lãng mạn, ngây thơ theo kiểu một nhà tâm lý học nhân văn Thời Đại Mới. Những người như Giáo sư Don Browning (1987) tại Đại học Chicago khi đánh đồng Jung với những nhà tâm lý học nhân văn lạc quan tếu (Pollyanna) là hoàn toàn sai lầm (xem thêm Sanford 1987). Lý do Jung gặp rắc rối với Victor White là vì ông tin rằng học thuyết privatio boni (cái ác là sự khiếm khuyết của cái thiện) không giải quyết thỏa đáng thực tại và sức mạnh của cái ác tận rễ (xem Lammers 1994). Jung tin rằng cái ác tận rễ là có thật, hung hãn và cơ hội. Nó là một khối u ác tính của tâm trí, dẫn đến những trạng thái bị ám (possession states) nơi cái tôi con người vô thức bị xâm chiếm và đô hộ bởi các năng lượng nguyên mẫu mà chính cái tôi ấy không tin là thực sự tồn tại, hoặc diễn giải nó dưới một lăng kính tôn giáo bộ tộc, giáo điều.


Chúng ta phải phân biệt giữa phức cảm Lucifer và bóng tối cá nhân. Là một con người, bạn có thể tích hợp bóng tối cá nhân của mình một cách phù hợp. Nếu thứ bạn gọi là bóng tối của mình chỉ là phần muốn tỏa sáng trong bạn, thì bạn cần tích hợp tiềm năng tâm lý đó và trở nên rạng rỡ hơn. Tuy nhiên, việc cái tôi vô thức đồng nhất hóa với phức cảm Lucifer lại thể hiện một tình huống hoàn toàn khác. Jung từng đề cập đến "các phức cảm tâm linh" (spirit complexes) mà bạn không thể tích hợp và không được cố gắng tích hợp. Nếu bạn cố gắng một cách đơn giản hóa để tích hợp bản thân với phức cảm Đấng Christ, bạn sẽ trở nên loạn thần. Nếu bạn đồng nhất với phức cảm Satan và bắt đầu hiện thân hóa nó, bạn sẽ trở thành một kẻ rối loạn nhân cách chống đối xã hội (sociopath). Các mô hình hành vi chống đối xã hội rất giống nhau, bởi vì chúng không mang tính cá nhân mà mang tính nguyên mẫu trong cách biểu hiện của chúng.


Những ví dụ khác về các kẻ thù cổ xưa là gì? Yahweh và ai nữa? Baal. Hỏa giáo có Ahura Mazda — đấng sáng tạo nên trái đất, bầu trời và con người, và kẻ thù của ngài là Ahriman — linh hồn hủy diệt.


Còn sử thi Ramayana của Ấn Độ giáo thì sao? Có ai biết về thần thoại Indonesia và Ấn Độ giáo không? Gần đây tôi có đi du lịch ở Indonesia, và nó thật sự rất hấp dẫn. Họ không có nhiều kênh truyền hình, nhưng khi có, đó thường là vở diễn Ramayana. Khi bạn đến các ngôi làng vào tối thứ Bảy, tất cả thanh thiếu niên sẽ ra ngoài, và họ có nhà hát để diễn vở Ramayana. Ramayana trình bày một cuộc đấu tranh sử thi vĩ đại này, hơi giống với Beowulf, giữa vị Chúa tể vĩ đại đồng thời là hiện thân của Thần có tên là Rama — vị Chúa tể chân chính, và kẻ thù của ngài, ác quỷ Ravana. Hắn thường được khắc họa với chiếc mặt nạ màu đỏ tươi rực rỡ. Tôi có một chiếc mặt nạ Ravana rất đẹp, và một khi bạn nhìn qua đó, bạn sẽ cảm nhận được sức mạnh của bóng tối nguyên mẫu. Còn ai khác nữa không?


Khán giả: Dionysus?


Moore: Dionysus thường không được coi là một hiện thân của cái ác tận rễ.


Khán giả: Mars?


Moore: Mars là vị thần chiến tranh, nhưng bạn không thấy một sự chia tách quá rõ ràng ở đó. Các thần thoại nguyên thủy hơn là một chuyện, nhưng người Hy Lạp đã trải qua nhiều giai đoạn khác nhau trong việc tinh lọc hệ thống thần thoại của họ. Bạn cần phải quay lại một số huyền thoại rất cổ xưa. Bạn sẽ thấy sự hiện diện nhị nguyên của thiện và ác càng rõ ràng hơn khi các tư liệu thần thoại càng cổ xưa.


Ví dụ, người ta thỉnh thoảng nói với tôi: "Thế còn Phật giáo thì sao? Trong Phật giáo không có cái ác." Họ không nghiên cứu thần thoại Phật giáo mà chỉ nghiên cứu triết học Phật giáo. Các triết gia không đi sâu vào chuyện này quá nhiều vì nó quá rắc rối, nhưng trong thần thoại Phật giáo, Đức Phật rõ ràng phải chiến đấu với chúa tể của bầy quỷ. Rất ít người nghiên cứu về mối liên hệ của Đức Phật với vương quyền thiêng liêng. Có một câu chuyện thú vị về Đức Phật — vị vua chân chính, và Ma Vương (Mara) — vua của loài quỷ. Đang ngồi dưới cội Bồ đề, Đức Phật gần như đã sẵn sàng cho sự giác ngộ của mình thì Mara tấn công cùng với toàn bộ binh đoàn của cái ác. Ngay lúc chúng chuẩn bị đè bẹp Đức Phật, ngài với tay chạm xuống mặt đất, và đột nhiên bọn quỷ tan biến. Chẳng phải điều đó rất thú vị khi soi chiếu vào những gì chúng ta đang thảo luận sao?


Khán giả: Tôi đang tự hỏi ông nghĩ gì về các cặp đôi. Tôi vừa đọc xong cuốn The Chalice and the Blade của Riane Eisler. Tôi nghĩ bà ấy đang nói rằng Baal đại diện cho nữ thần và tính nữ, còn Yahweh — kẻ chinh phục du mục — sẽ coi đó là cái ác, mặc dù thực sự không phải vậy.


Moore: Vâng, đúng vậy. Tôi không nói rằng những thứ này thực sự là ác quỷ, mà tâm trí con người có xu hướng phân chia và phân cực. Điều tôi muốn không đồng tình ở đây là tôi nghĩ quan điểm của Eisler đại diện cho một sự tự cao mang tính nữ: "Nếu chúng ta có thể quay trở lại với nữ thần, mọi chuyện sẽ ổn, bởi vì không có những nữ thần kiêu ngạo. Chỉ có các nam thần mới kiêu ngạo." Đó chỉ là sự ngông cuồng của nữ giới. Tất cả con người và mọi giới tính đều có xu hướng tự cao. Tất cả họ đều phải vật lộn với cám dỗ của chính mình trong việc cố gắng trở thành trung tâm. Vì vậy, tôi không đồng tình lắm với cuốn sách của Eisler. Nó chỉ là một sự đảo ngược của vấn đề phụ hệ.


Khán giả: Ngay cả khi bà ấy ưu tiên sự hợp tác hơn là sự thống trị sao?


Moore: Vâng, bởi vì Eisler đã ác quỷ hóa tính nam trong cuốn sách đó. Hơn ai hết, tôi không phải là người sẽ ủng hộ việc ác quỷ hóa tính nam. Tính nam không phải là quỷ dữ. Đàn ông có thể trở nên tự cao và hành xử một cách quỷ dữ hệt như phụ nữ vậy. Tôi đồng ý rằng sự hợp tác là một ý tưởng then chốt, nhưng tôi không cho rằng cuốn sách của Eisler có khả năng thúc đẩy nhiều cho sự hợp tác.


Khán giả: Trong một thế giới phi nhị nguyên, như một số triết học hoặc thần học Phật giáo và Phương Đông, người ta có thể vươn lên "vượt qua thiện và ác" như Nietzsche không?


Moore: Có, nhưng Nietzsche không phải là một ví dụ tốt, bởi vì ông ta đã vươn lên "vượt qua thiện và ác" để đi vào một sự tự cao loạn thần. Khi ai đó nói rằng họ đã vươn lên "vượt qua thiện và ác", điều đó thường cho thấy một sự ngông cuồng vô thức. Một pháp sư (magus) nếu đã đạt đến cảnh giới đó sẽ không bao giờ nói về nó, ngoại trừ bên trong một cộng đồng nội bộ mang tính bí truyền. Điều này cũng đúng với nhiều dạng chủ nghĩa thần bí Thời Đại Mới. Họ tự cao một cách đáng kinh ngạc. Họ không có cách nào để đối phó với cái bóng của chính mình, vì vậy bạn sẽ thấy những màn bộc phát hành vi khổng lồ này, chẳng hạn như vị lãnh đạo Phật giáo "vĩ đại" gần đây mắc bệnh AIDS và vô tư lây nhiễm cho nhiều đệ tử của mình. Không phải là họ tệ hơn những người theo đạo Thiên Chúa, Do Thái hay Hồi giáo. Chỉ là họ chưa giải quyết được vấn đề. Chỉ ngồi xung quanh và thiền định không tự động giúp bạn có khả năng đối mặt với cái bóng ngông cuồng của mình.


Khán giả: Ông chỉ ra rằng thông qua việc có một mối quan hệ với một Đấng Tối Cao, về mặt lý thuyết, người ta sẽ bớt ngông cuồng hơn và trở nên có tính người hơn, nhưng ông cũng ngụ ý rằng người ta cần có mối quan hệ giữa người với người để kéo mình trở lại mặt đất.


Moore: Tôi tin rằng bạn cần cả hai. Các năng lượng ngông cuồng hiện diện và mạnh mẽ đến mức trong cuộc đời mỗi người, bạn cần có cả hai nguồn lực. Một là sự kết nối với một trung tâm nguyên mẫu hoặc siêu cá nhân tích cực, và hai là sự tham gia vào các mối quan hệ con người. Cả hai đều nhắc nhở bạn về những giới hạn của cái tôi, rằng bạn chỉ là một tạo vật.


Jung đã đúng về điều này. Nếu không có những mối quan hệ chân thực và vững chắc, bạn có thể dễ dàng trở nên hơi điên rồ, bởi vì bạn không có ai để thách thức sự tự cao của mình. Tuy nhiên, bản thân các mối quan hệ con người rõ ràng là không đủ, bởi vì hầu hết những người trong các mối quan hệ vẫn còn phải vật lộn vô cùng lớn với sự ngông cuồng của mình. Bạn cần hình thành một kết nối nội tâm có ý thức với thứ mà những người theo trường phái Jung gọi là Bản thể cô mẫu (archetypal Self) như một trung tâm vượt ra ngoài cái tôi. Điều này giúp cái tôi bắt đầu bước xuống khỏi ngai vàng của nó.


Chúng ta cần nghiên cứu cụ thể hơn về điều này. Mọi người đang quá mơ hồ về nó. Mọi người quá mơ hồ về cầu nguyện, quá mơ hồ về cách tương đối hóa cái tôi, quá mơ hồ về cách thiết lập và duy trì trục cái tôi-Bản thể (ego-Self axis). Rốt cuộc thì những thứ này là gì? Bạn có thể nói cho tôi biết chúng là gì không? Chúng chỉ là những ý tưởng? Hay chúng là một điều gì đó có thật?


Khán giả: Liệu mọi người có thể tìm ra những cách thức cá nhân để thách thức sự tự cao của chính mình không? Phải chăng nó luôn là hệ quả của một tình huống liên quan đến các mối quan hệ?


Moore: Tôi nghĩ bạn hoàn toàn có thể tự thách thức nó, và việc bạn thách thức nó cũng mang tính quan trọng và cần thiết. Hãy để tôi lấy một ví dụ từ chính cuộc đời mình. Tôi có xu hướng tự cao trong chế độ chiến binh. Nghiện công việc luôn là khó khăn của tôi. Tôi biết điều đó và tôi vật lộn với nó. Tôi sử dụng đủ mọi cách để đối phó, bao gồm nhiều đợt trị liệu và phân tích hơn cả mức tôi muốn nhớ tới. Tôi đã tốn bao nhiêu tiền chỉ để cố gắng bước xuống khỏi chiếc ghế cao ngạo đó! Nhưng cũng rất hữu ích khi có một người bạn đời cảnh báo tôi trước khi tôi nhận thêm một buổi hội thảo nào nữa, một người sẽ hỏi tôi: "Anh không nghĩ mình cần nghỉ ngơi một chút sao?"


Tóm lại, có một con rồng ngông cuồng to lớn bên trong chúng ta, và việc không ý thức được sự thật đó sẽ tạo ra một kẻ thù rất thực ngay trong chính mình. Đây là một cuộc chiến thực sự của con người và một trận Armageddon thực sự, không phải để chống lại những con người khác mà là chống lại việc bị nuốt chửng bởi con rồng lớn của sự ngông cuồng vô thức. Cuộc chiến của chúng ta là nhằm chống lại sự ngông cuồng thơ dại mang tính bệnh lý đang tìm cách tiêu diệt loài người.


Nhân vật truyện tranh Pogo từng nói: "Chúng ta đã gặp kẻ thù, và hắn chính là chúng ta," nhưng phân tích tâm lý học cho phép chúng ta làm rõ điều đó. Tôi rất muốn ngồi xuống và nói chuyện với Pogo về vấn đề này. Tôi muốn nói: "Pogo này, tôi không nghĩ bản thể con người đích thực của chúng ta là kẻ thù. Cái tôi gắn liền với thực tại và mang tính thụ tạo của con người không phải là kẻ thù. Kẻ thù chính là sự ngông cuồng vô thức bên trong, thứ luôn không ngừng cố gắng thuyết phục chúng ta quên đi những giới hạn của mình và quên rằng mình cần sự giúp đỡ, quên rằng mình cần những người khác, hay như cách những người Mỹ bản địa vẫn nói, để quên rằng chúng ta đều có quan hệ mật thiết và tất cả đều thuộc về một gia đình."


Tin xấu là mỗi một con người đều có con rồng này ở bên trong, nhưng thậm chí còn có một tin tồi tệ hơn thế, thực tế là một tin tệ hơn rất nhiều so với những gì những người theo trường phái Freud muốn bạn tin. Nếu siêu tâm lý học (metapsychology) nền tảng của tôi theo trường phái Kohut thay vì Jung, tôi có thể lún vào ảo tưởng rằng mình sẽ được chữa khỏi căn bệnh ngông cuồng. Bạn có thể sẽ nghe tôi nói rằng tôi có thể được chữa khỏi giá như tôi tìm được đúng nhà phân tích, hoặc giá như tôi có đủ thời gian, hoặc có lẽ giá như tôi có thể được chính Heinz Kohut phân tích. Tôi có thể ôm ấp ảo tưởng về một trong những cuộc phân tích mà các nhà tâm lý học bản thể từng viết, trong đó sự ngông cuồng được cho là sẽ được biến đổi, chuyển hóa, nội tâm hóa và bồi đắp thành một bản thể người đích thực, đến mức xét trên mọi mục đích thực tiễn thì về cơ bản nó đã biến mất. Tất nhiên, họ không thực sự tuyên bố rằng mọi sự ngông cuồng đều đã biến mất. Họ sẽ không bao giờ khẳng định như vậy, nhưng họ sẽ nói: "Bạn phải kết nối với sự ngông cuồng, và bạn phải chuyển hóa cũng như nội tâm hóa nó," một kiểu hình ảnh thuần hóa. Giống như thể bạn có một con bò tót hoang dã, và cuối cùng bạn cũng thu phục được kích thước của nó để đưa nó vào chuồng, rồi bước vào đó chải lông cho nó, vân vân, những hình ảnh về việc đưa nó vào vòng kiểm soát. Hãy nghĩ về Minotaur, con quái vật trong thần thoại Hy Lạp. Đưa được Minotaur vào chuồng sẽ là một hình ảnh thuần hóa ấm áp.


Tâm lý học bản thể khá mập mờ về vấn đề này. Họ không công bố rõ ràng vì chính họ vẫn chưa chắc chắn về nó. Rốt cục chuyện này là thế nào? Chúng ta có gạt bỏ được sự ngông cuồng của mình hay không? Chúng ta có chuyển hóa và nội tâm hóa sự ngông cuồng của mình vào trong cái tôi con người, vào trong bản thể con người — một bản thể con người khỏe mạnh hay không? Đó có phải là những gì chúng ta làm? Ở khía cạnh đó, nếu bạn trải qua đủ số lần phân tích tâm lý, liệu bạn có thể chạm đến một điểm mà bạn sẽ không bao giờ gặp vấn đề với chứng ngông cuồng bệnh lý nữa không? Họ mang một ảo tưởng rằng việc loại bỏ hoàn toàn sự ngông cuồng như vậy là khả thi. Có thể họ không thừa nhận hay nói về nó, nhưng họ thực sự mang ảo tưởng đó.


Một người theo trường phái Jung thì không bao giờ nên có ảo tưởng đó. Một người theo trường phái Jung nên biết rằng sẽ luôn có một Bản thể vĩ đại (Great Self) bên trong không bao giờ hoàn toàn được chuyển hóa và nội tâm hóa. Nó luôn ở đó, và đây là tin xấu: nó sẽ luôn chực chờ để chiếm quyền kiểm soát. Điều này giải thích tại sao sau khi bạn làm việc với ai đó một thời gian, họ sẽ nói với bạn rằng họ vẫn đang gặp phải vấn đề này. Nhưng họ đang gặp phải thứ gì cơ chứ? Thật là ảo tưởng hão huyền khi nghĩ rằng bạn có thể biến đổi các năng lượng ngông cuồng của mình đến mức chúng không bao giờ quyến rũ bạn nữa, rằng bạn có thể ngăn cản sự ngông cuồng của mình trở nên đầy cám dỗ. Đôi khi người ta nghĩ rằng nếu chỉ cần cầu nguyện đủ nhiều, hay tham dự đủ các thánh lễ, thì sự ngông cuồng sẽ không còn cám dỗ họ nữa. Hoặc nếu họ trở thành một hồng y, một giám mục, hay một mẹ bề trên, thì nó sẽ không còn cám dỗ nữa. Tất nhiên, sự thật lại hoàn toàn ngược lại, vì bạn càng thành công thì sự ngông cuồng càng trở nên cám dỗ. Càng mang nhiều chấn thương và bi kịch trong đời, sự ngông cuồng sẽ càng tấn công bạn dữ dội. Nó có thể nói với bạn rằng việc bạn vẫn còn sống thật ấn tượng làm sao, hoặc nó có thể chì chiết đẩy bạn vào chỗ trầm cảm bằng cách xúi giục bạn thà đi tự tử còn hơn. Rất nhiều ý nghĩ tự sát xuất phát từ chủ nghĩa hoàn hảo ngông cuồng.


Do đó, quan điểm của Jung về vấn đề này cảnh giác hơn nhiều so với góc nhìn của Freud. Bạn sẽ không bao giờ chạm đến được cái điểm mà bạn không còn bị tổn thương trước sức mạnh thần thánh mang tính nguyên mẫu của Bản thể nguyên mẫu. Jung đã nói rất rõ điều này. Ông nói: "Nghe này, Bản thể rất nguy hiểm." Rất nhiều người theo trường phái Jung không hiểu điều này. Họ nghĩ Bản thể nguyên mẫu luôn thân thiện, luôn cố gắng giúp đỡ. Họ lấy ý tưởng đó từ đâu thì tôi không rõ, nhưng họ không lấy nó từ Jung. Bản thể nguyên mẫu, nếu bạn không tỉnh táo, sẽ nuốt chửng bạn sống. Jung nói rõ rằng bạn phải giữ một lập trường đạo đức trong cái tôi để chống lại áp lực của Bản thể nguyên mẫu. Bạn phải tương tác với nó và quyết định xem những lời xúi giục nào của nó bạn sẽ dung nạp vào cái tôi của mình, và những lời nào thì không. Chúng ta đã không nói về điều này đủ nhiều.


Các truyền thống phân định tâm linh vô cùng quan trọng, bởi vì bạn luôn phải lắng nghe những giọng nói vang lên trong đầu mình và tự quyết định xem đâu là những giọng nói của sự tự cao quỷ dữ đang cố giết bạn hoặc khiến bạn giết người khác, và đâu là những giọng nói của một trung tâm đang cố gắng thiết lập trật tự công lý trong tâm trí bạn cũng như trên thế giới. Chúng không phải là cùng một giọng nói. Tiếng nói của một vị vua chân chính và một hoàng hậu chân chính trong tâm trí luôn là một tiếng nói ban phước và yêu thương, một tiếng nói mang lại sự bình an và sức mạnh cho nhân cách. Những tiếng nói trong tâm trí bạn mà không mang lại cho bạn sự bình an, sức mạnh, tình yêu và niềm vui đều xuất phát từ những khía cạnh quỷ dữ của tâm trí nguyên mẫu — thứ căm ghét bạn vì bạn không hoàn hảo, hoặc vì bạn quá hoàn hảo. Sự đố kỵ có liên quan trực tiếp đến tất cả những điều này. Sự đố kỵ trào dâng trực tiếp từ Bản thể ngông cuồng.


Khán giả: Hôm qua ông có nói về việc phóng chiếu phức cảm nam thần hay nữ thần lên người khác.


Moore: Nam hoặc nữ. Bạn có thể phóng chiếu nó lên một trong hai hoặc cả hai.


Khán giả: Theo cách tôi hiểu thì ông phóng chiếu những kỳ vọng nào đó lên người khác mà họ không thể kiểm soát, và một trong số đó là việc không có giới hạn. Còn những yếu tố cơ bản nào khác nữa không?


Moore: Lấy ví dụ, khi bạn rơi vào tình yêu với một người và không có bất kỳ hiểu biết nào về những động lực này, nó có thể biến thành một trạng thái ám ảnh/chiếm hữu quá mức. Có những người đến gặp tôi và nói: "Tôi không thể sống thiếu người này. Nếu họ rời bỏ tôi, tôi sẽ chết." Giống như thể bạn vừa gặp Astarte — nữ thần sinh sản của người Phoenicia, hoặc Isis — nữ thần của người Ai Cập, và bạn bị mê hoặc như một kẻ bề tôi của họ; rồi đột nhiên, sự tự chủ và tính chủ động của bạn biến mất, ý thức về giá trị bản thân cũng bốc hơi. Bạn sẽ thấy điều này liên tục xảy ra ở cả hai giới. Đây là một sự phóng chiếu lý tưởng hóa quá mức của nguồn năng lượng ngông cuồng được hướng ra bên ngoài, hay nói cách khác là năng lượng thần thánh (god-energy).


Việc đưa ai đó lên bệ thờ là một điều rất thú vị. Trong mười năm qua, tôi đã dành nhiều thời gian nghiên cứu về vương quyền thiêng liêng và hậu quyền thiêng liêng (xem Perry 1966; Moore và Gillette 1991). Khi bạn đưa một vị vua lên ngai vàng, bạn phải kiểm soát họ hoàn toàn. Đó là điều mà những người theo trường phái Kohut gọi là một sự chuyển di selfobject (selfobject transference). Điều đó có nghĩa là, nếu tôi vướng vào một sự chuyển di selfobject với bạn, bạn phải làm chính xác những gì tôi muốn bạn làm, và nếu bạn làm điều gì đó trái ý tôi, thì tôi sẽ nổi điên với bạn. Toàn bộ khái niệm về vương quyền, những động lực giữa nhà vua và dân chúng, thể hiện trực tiếp điều đó. Nhiều vị vua không bao giờ được phép bước ra khỏi túp lều của họ. Dân chúng hoàn toàn không bao giờ nhìn thấy nhà vua. Thậm chí tấm thảm đỏ hoàng gia của nhà vua cũng có một mục đích không ngờ tới: ngăn không cho nhà vua từng chạm chân xuống đất. Nhiều vị vua thiêng liêng cũng không được phép nhìn thấy mặt trời. Tại sao lại như vậy? Tại sao lại phải giữ nhà vua tránh khỏi ánh mặt trời? Hãy thử nghĩ về điều đó xem.


Việc tiếp xúc với ánh sáng mặt trời có thể tước đi sức mạnh (depotentiate) của nhà vua. Nếu "Vua Mặt Trời" nhìn thấy mặt trời thực sự, ngài có thể sẽ không còn cảm thấy mình giống như Vua Mặt Trời nữa, bởi vì ngài sẽ nhận ra rằng mình tỏa sáng chẳng thể nào sánh bằng mặt trời thật. Một khi lòng tự tôn của nhà vua tụt dốc, mùa màng sẽ không phát triển, bò cái sẽ không sinh bê con. Vậy thì chuyện gì sẽ xảy ra? Họ sẽ phải giết nhà vua. Nếu nhà vua trở nên quá trầm cảm, bạn phải giết ngài. Ngài phải được thay thế. Ngày nay, chúng ta gọi hiện tượng này là "sự giải-lý-tưởng-hóa gây chấn thương" (traumatic de-idealization).


Hiểu được điều này sẽ giải thích được rất nhiều về hành vi của tổ chức và chính trị xoay quanh vấn đề lãnh đạo. Chỉ cần một chút mùi máu rỉ ra trong vùng nước xung quanh vị giám đốc điều hành hay vị vua của bạn, những con cá mập sẽ bắt đầu tụ tập. Một khi nhà lãnh đạo tỏ ra yếu đuối, không thể gánh vác nổi sự thần thánh (numinosity), thì tâm trí con người sẽ nảy sinh một ham muốn mang tính nguyên mẫu là giết chết ông ta và loại bỏ ông ta để chúng ta có thể tìm một người khác không mang khiếm khuyết đó. Nếu nhà vua có khiếm khuyết, vương quốc không thể phồn thịnh. Đó là thần thoại cổ xưa về Vua Đánh Cá (Fisher King) bị thương, nhưng cũng có những Nữ hoàng Đánh Cá bị thương. Khi tôi thực hành tưởng tượng tích cực (active imagination) với các nhóm về vấn đề này, đôi khi tôi thấy một người có hoàng hậu khỏe mạnh, nhưng nhà vua lại ốm đau. Hoặc tôi thấy một người có nhà vua khỏe mạnh, nhưng hoàng hậu lại mắc bệnh. Sẽ rất thú vị khi nhìn vào điều đó nếu bạn nắm được các động lực nguyên mẫu. Hàng loạt sự việc diễn ra đều dựa trên các động lực nguyên mẫu này.


Khán giả: Joseph Campbell nói về sự sụp đổ của thần thoại nói chung, còn ông thì nói về sự sụp đổ của mái che linh thiêng. Từ điểm này, chúng ta sẽ đi về đâu? Campbell nói rằng chúng ta phải bước ra ngoài và tự mình tìm kiếm nó ở mức độ cá nhân, vì tập thể đang không làm điều đó. Vậy chúng ta tìm nó ở đâu?


Moore: Vâng, chúng ta cần giải quyết câu hỏi đó. Đóng góp của Campbell là việc chỉ ra: "Các bạn cần trở thành những học giả nghiên cứu thần thoại thế giới để làm phong phú thêm hiểu biết của mình về sự toàn vẹn của tính nam và tính nữ, cũng như sự phong phú của toàn bộ trải nghiệm con người. Thần thoại sẽ cung cấp cho bạn một hệ từ vựng, một ngôn ngữ để đàm đạo về những vấn đề của linh hồn." Campbell đã đúng về điều đó. Đã đến lúc chúng ta phải làm việc này. Chúng ta không thể cho phép mình bị lạc lối trong những thần thoại mang tính bộ tộc nữa. Chúng ta phải mở lòng với toàn bộ kho tàng biểu tượng, với khối tài sản biểu tượng chung của nhân loại.


Tuy nhiên, Joseph Campbell không phải là một nhà tâm lý học, và ông ấy cũng không cố tỏ ra như vậy. Một số người cố gắng biến ông thành một đạo sư (guru), nhưng ông không phù hợp làm một đạo sư vĩ đại. Lời khuyên "hãy nghe theo niềm hạnh phúc lớn lao của bạn" (follow your bliss) có thể nghe rất bùi tai, và bây giờ ai cũng nói về việc "nghe theo niềm hạnh phúc lớn lao của bạn", nhưng họ quên mất rằng Hitler cũng đang theo đuổi niềm hạnh phúc lớn lao của hắn. Nếu hắn có thể theo đuổi niềm hạnh phúc đó thêm một chút nữa, bản thân tôi có lẽ đã không có mặt ở đây hôm nay, bởi vì tôi mang trong mình đủ dòng máu Do Thái để có thể bị thiêu rụi trong những lò thiêu đó. Việc theo đuổi niềm hạnh phúc lớn lao của bạn có thể là một công thức dẫn đến sự tự cao cái tôi khổng lồ và sự tàn phá. Vì vậy, Campbell không có được thiên tài của Jung trong việc hiểu rõ kỷ luật đạo đức và tâm linh cần thiết để tạo lập và điều tiết trục cái tôi-Bản thể.


Tuy nhiên, Campbell thực sự đã trao cho chúng ta một mệnh lệnh là phải học ngôn ngữ thần thoại của con người. Đóng góp của ông là một bước tiến lớn hướng tới một Lễ Hiện Xuống (Pentecost) toàn cầu mới của nhân loại. Hình ảnh Lễ Hiện Xuống là một phép ẩn dụ chữa lành tuyệt vời nhằm đối trọng với hình ảnh của sự hỗn loạn trong Tháp Babel. Bạn nghe tất cả những ngôn ngữ khác nhau này, nhưng sau đó bạn bắt đầu suy nghĩ: "Bây giờ tôi có thể lắng nghe thần thoại Hồi giáo này và tìm ra ý nghĩa từ nó với tư cách là một con người." Điều này thật mới mẻ. Cùng với Campbell và Eliade, chúng ta đã đạt đến một cấp độ mới trong năng lực ngày một phát triển của mình để trở thành những người quản gia tốt của toàn bộ di sản biểu tượng nhân loại.


Tại sao điều này lại quan trọng đến vậy? Có một điều, chúng ta cần phải hiểu rằng hệ thống biểu tượng phụ hệ đang lan tràn trong nền văn hóa của chúng ta là hậu quả của việc bị mắc kẹt trong một dải băng hẹp thuộc quang phổ của trí tưởng tượng thần thoại thế giới. Tâm trí nguyên mẫu của sự coniunctio, cuộc hôn nhân thần thánh giữa nhà vua và hoàng hậu, được thể hiện trong tất cả các thần thoại trên thế giới, nhưng chỉ hiển lộ một phần ở mỗi thần thoại. Khi người ta nghĩ rằng họ có thể giải quyết các vấn đề của thế giới bằng một huyền thoại khác, họ chỉ đang đề nghị khiến bạn trở nên phiến diện theo một cách mới. Vấn đề cốt lõi là phải nhận ra rằng chúng ta cần tạo ra một bình chứa, một chiếc chén thánh (chalice hoặc grail), nơi ôm giữ với sự tôn kính toàn bộ di sản biểu tượng của nhân loại và cho phép chúng ta trân trọng tất cả những điều đó.


Khán giả: Niềm hạnh phúc lớn lao (bliss) giống như một từ tiếng Phạn là satchitananda, có nghĩa là "sự cực lạc" theo một cách thức rất đỗi thiêng liêng chứ không phải phàm tục, nhưng chúng ta lại có xu hướng "nghe theo niềm hạnh phúc lớn lao" của mình theo kiểu phương Tây. Ngoài ra, tôi cũng băn khoăn về bình luận của Jung cho rằng một người phương Tây không thể lĩnh hội được tư tưởng của một người phương Đông và ngược lại, do đó việc sở hữu một thế giới quan về thần thoại có thể là sai lầm đối với chúng ta, vì hệ thống kết nối nội bộ của chúng ta, có lẽ, sẽ là mạch A đối với người phương Tây và mạch B đối với người phương Đông.


Moore: Vâng, đó là phần mềm đến từ văn hóa, tức sự vô thức văn hóa, nhưng tâm trí nguyên mẫu không phải là phần mềm; sự vô thức tập thể là một đặc tính chung của toàn giống loài.


Khán giả: Làm sao ông biết được? Làm sao ông biết rằng nó không bị phân hóa?


Moore: Thứ nhất, vì tôi không phải là kẻ phân biệt chủng tộc, và thứ hai, vì ngày càng có nhiều bằng chứng khoa học cho thấy con người trên khắp thế giới về cơ bản đều là cùng một loài động vật linh trưởng. Nói vậy không có nghĩa là tôi không có những sự khác biệt tận gốc rễ bên trong chính mình. Tôi mang trong mình dòng máu Do Thái Nga, Công giáo Pháp Cajun, và Tin lành Scotland-Ireland, nên tôi có rất nhiều sự vô thức văn hóa bên trong mình, và tôi hiểu rất rõ rằng nó đến từ những dòng chảy rất khác nhau. Chúng ta cần nghiên cứu xem sự khác biệt sắc tộc và văn hóa tác động đến vô thức như thế nào. Chắc chắn là có tồn tại một sự vô thức văn hóa, nhưng trong khuôn khổ của Jung, sự vô thức văn hóa không giống với Bản thể nguyên mẫu hay vô thức tập thể. Vô thức tập thể mang tính bản năng là chung cho toàn bộ giống loài.


Về vấn đề này, tôi là một người theo trường phái tân-Jung. Không ai bắt buộc phải đồng tình với tôi về điều đó, nhưng tôi nghĩ sẽ ngập tràn hy vọng hơn nhiều nếu giả định có một vô thức nhân loại chung đóng vai trò nền tảng cho vô thức văn hóa, vô thức gia đình và vô thức cá nhân. Nó được phân tầng như vậy. Tôi tin chắc rằng bất kỳ hy vọng nào về sự thống nhất và hợp tác của người dân trên toàn thế giới đều phải được neo rễ trong sự khẳng định về một tâm trí sâu thẳm chung, từ đó chúng ta có thể chạm đến nhau. Đó chính là tầm quan trọng của Campbell, Eliade, Jung và những người khác đang thôi thúc chúng ta nhìn nhận các thần thoại trên thế giới như là khối tài sản biểu tượng của nhân loại.


Chúng ta sẽ không bao giờ đạt được sự toàn vẹn về mặt tâm trí bằng cách cộng tất cả các huyền thoại lại rồi chia cho một trăm. Đó là chủ nghĩa dung hợp (syncretism) cũ kỹ. Một quan điểm mang tính Jung đích thực thì khác với điều đó. Tâm lý học Jung trong những vấn đề này không phải là Thông thiên học (theosophy), hay thậm chí là nỗ lực tìm kiếm một "thần thoại duy nhất" (mono-myth). Thông thiên học cố gắng nghiên cứu mọi tôn giáo trên thế giới như thể về cơ bản chúng đều giống nhau, và sau đó cố gắng phát triển một hệ thống thần học hợp nhất tất cả. Cách tiếp cận đó không thuộc trường phái Jung. Sản phẩm của trí tưởng tượng rất đa dạng và khác biệt, và bất kỳ sản phẩm cụ thể nào của trí tưởng tượng — cho dù là một huyền thoại, một giấc mơ, một triết lý, một thần học, một tâm lý học hay bất kỳ điều gì khác — sẽ chỉ là một biểu hiện của Bản thể nguyên mẫu sâu thẳm thuộc về trạng thái sung mãn (pleroma), và nó sẽ có cấu trúc độc nhất, và nó sẽ chỉ mang tính bộ phận, không hề hoàn thiện để có thể bao trùm tất cả các biểu hiện.


Do đó, chúng ta cần tìm những cách khác để kết nối với tính toàn vẹn bên cạnh việc cộng gộp các thần thoại và tạo ra một nền Thông thiên học mới. Điều đó sẽ không mang lại hiệu quả. Đó cũng là một lý do khác giải thích vì sao Jung lập luận rằng người phương Tây không nên chiếm dụng các ý tưởng phương Đông quá vội vã, hay người phương Đông không nên chiếm dụng các tư liệu phương Tây. Tôi có đôi chút khác biệt với Jung về sự nhấn mạnh ở điểm này. Tôi cho rằng chúng ta phải yêu cầu mọi người nghiên cứu thần thoại của các nền văn hóa khác, ngay cả khi họ không muốn cải đạo sang chúng. Sẽ là tối thiết yếu để mọi người nghiên cứu và học hỏi từ các hệ thống biểu tượng và thần thoại của những đức tin và văn hóa khác ngoài nền văn hóa của chính mình. Tất cả những tư liệu này đều thuộc về khối tài sản biểu tượng của nhân loại, một phần thừa kế của mỗi đứa trẻ được sinh ra. Do đó, toàn bộ sự sung mãn mang tính biểu tượng này là một phần cực kỳ quan trọng trong đặc quyền tự nhiên của con người và phải được tất cả chúng ta quản lý một cách phù hợp. Khối di sản của Jung mang đến cho chúng ta một cách thức để giải quyết nhiệm vụ này một cách hiệu quả.



 
 
 

Bài đăng gần đây

Xem tất cả
Dám Là

CHƯƠNG 1. HIỆN HỮU VÀ LÒNG DŨNG CẢM Theo đúng tôn chỉ của Quỹ Terry rằng chuỗi bài giảng này sẽ bàn về "tôn giáo dưới ánh sáng của khoa học và triết học", tôi đã chọn một khái niệm nơi các vấn đề thần

 
 
 
Dũng cảm chuyển hóa cuộc đời bạn

Phần 1 1. Lời mở đầu: Tầm vóc của Carl Jung và Paul Tillich Chào mừng tất cả các bạn. Tôi là Robert Moore, người sẽ đồng hành và cùng các bạn suy ngẫm về những chủ đề ngày hôm nay. Việc chúng ta nỗ lự

 
 
 
Những nghi thức chuyển giao tự tạo

Virginia Hine Vài năm trước khi qua đời vào năm 1982, Virginia Hine—Thạc sĩ, nhà nhân học xã hội đồng thời là tác giả của các tác phẩm People, Power, Change (1970), Lifeway Leap (1973) và Last Letter

 
 
 

Bình luận


bottom of page